1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Điều tra thành phần mọt hại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu qua cảng Quy Nhơn và nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của loài mọt thuốc lá Lasioderma serricorme Fabricius

70 729 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 2,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đề tài thạc sỹ nông nghiệp Điều tra thành phần mọt hại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu qua cảng Quy Nhơn và nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của loài mọt thuốc lá Lasioderma serricorme Fabricius

Trang 1

KHOA NÔNG HỌC 

    KHÓA LUẬN 

 Giáo viên hướng dẫn: Trần Đăng Hòa 

 Bộ môn: Bảo vệ thực vật 

 

Trang 2

NĂM 2016  

Trang 3

Để thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này ngoài sự cố       

gắng và nổ lực của bản thân, tôi còn nhận được nhiều sự quan tâm và       

giúp đỡ của các cá nhân và tập thể Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn       

sâu sắc đến:  Quý thầy cô giáo khoa Nông học, trường đại học Nông Lâm Huế       

đã giảng dạy truyền đạt những kiến thức cơ bản về lý luận và thực tiễn       

cho tôi trong suốt thời gian qua.  Thầy giáo  PGS.TS Trần Đăng Hòa –  người đã trực tiếp hướng            

dẫn tận tình và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian thực tập và       

hoàn thành khoá luận này, người đã giảng dạy cho tôi rất nhiều kiến       

thức không chỉ những kiến thức chuyên ngành mà còn có cả những       

kiến thức về kỹ năng sống và kỹ năng làm việc.  Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do bước đầu làm quen với       

nghiên cứu khoa học, trình độ chuyên môn và điều kiện thực tập còn       

hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong được sự góp       

ý của giáo viên hướng dẫn, các thầy cô giáo trong Khoa Nông học và       

nhà trường để tôi hoàn thiện bản thân mình hơn nữa.  Huế, ngày 20 tháng 05 năm 2016  Sinh viên    NGUYỄN TIẾN       HOÀNG  

 

Trang 6

4.1 Thành phần và mức độ phổ biến của mọt gây hại trên nguyên liệu       thức ăn chăn nuôi nhập khẩu 

4.1.1 Thành phần và mức độ phổ biến của mọt gây hại trên nguyên       

Trang 7

DANH MỤC VIẾT TẮT   

Từ viết tắt  Chú giải 

KDTV  Kiểm dịch thực vật KNNK  Kim ngạch nhập khẩu SVGH  Sinh vật gây hại BVTV  Bảo vệ thực vật 

Trang 8

1.1. Đặt vấn đề 

Nước ta có điều kiện khí hậu, đất đai thuận lợi cho sản xuất nông       

nghiệp Trong những năm qua, sản phẩm nông nghiệp không những đáp       

ứng nhu cầu trong nước mà còn được xuất khẩu Nhiều mặt hàng xuất khẩu       

như gạo, cà phê, tiêu, điều đã đưa nước ta vào các nước xuất khẩu trên thế       

giới.  Việt Nam là một nước đang phát triển, kinh tế chủ yếu dựa vào sản        

xuất nông nghiệp, tuy là nước đứng thứ 2 về xuất khẩu gạo với lượng gạo       

xuất khẩu đạt xấp xỉ 4 triệu tấn nhưng hằng năm phải tốn trên 4 tỷ USD để       

nhập các loại nguyên liệu cho ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi Số tiền để       

mua nguyên liệu nhập khẩu này cao hơn nhiều lần so với số tiền thu về từ       

xuất khẩu gạo Theo Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam, năm 2013, cả       

nước phải chi khoảng 4,5 tỷ USD để nhập 9,2 triệu tấn nguyên liệu thức ăn       

chăn nuôi.  Cảng Quy Nhơn là một cảng lớn của khu vực miền Trung Tây       

Nguyên Theo số liệu thống kê của Chi cục KDTV Vùng IV (Cục Bảo vệ       

thực vật) thì lượng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập qua cửa khẩu Quy       

nhơn được kiểm tra, kiểm dịch ngày càng gia tăng lần lượt là 4320,471 tấn       

(năm 2012), 7627,953 tấn (năm 2013), sáu tháng đầu năm 2014 đã kiểm       

dịch đến 28026,374 tấn Dự kiến đến cuối năm 2014 hàng loạt nhà máy chế       

biến thức ăn chăn nuôi mới được xây dựng trên địa bàn tỉnh Bình Định sẽ       

lắp ráp xong dây chuyền công nghệ và đi vào hoạt động Hiện nay cảng       

thường nhập khẩu các mặt hàng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi như: Bã ngô       

từ Mỹ, khô đậu nành từ Trung Quốc, cám gạo, ngô hạt, khô hạt cải từ Ấn       

Độ, lúa mì từ Uruguay và Úc, bột đậu nành lên men, bột ngô lên men từ       

Đài Loan…  Chính việc nhập khẩu các loại thức ăn chăn nuôi từ nhiều nước như       

vậy đã tạo điều kiện cho các đối tượng sinh vật gây hại trên sản phẩm thực       

vật xâm nhập vào nước ta Một trong những nhóm sinh vật gây hại ảnh       

hưởng rõ rệt nhất đến chất lượng sản phẩm là do sâu mọt gây ra Sâu mọt       

gây hại mang tính tiềm ẩn, chúng xuất hiện, phát triển và gây hại trong quá       

trình bảo quản, vận chuyển và trong thương mại quốc tế.   Trong nhóm sâu mọt gây hại hiện nay, loài mọt thuốc lá  Lasioderma  

serricorne Fabricius (Coleoptera: Anobiidae) là loài xuất hiện thường       

Trang 9

xuyên trong quá trình kiểm tra kiểm dịch, đây là một đối tượng nằm trong       

danh sách kiểm dịch của nước ta, mức độ tổn thất của chúng cũng khá lớn.       

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về đối tượng này nhưng ở       

Việt Nam còn rất hạn chế, nhất là trên các loại thức ăn chăn nuôi khác       

nhau Do đó việc nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau đến       

đặc điểm sinh học của loài mọt thuốc lá là rất cần thiết Đây sẽ là cơ sở       

khoa học quan trọng để đưa ra các biện pháp phòng trừ mọt có hiệu quả,       

hạn chế thấp nhất những tổn thất do mọt hại gây ra.Xuất phát từ những vấn       

đề cấp thiết đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thành phần mọt hại       

nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu qua cảng Quy Nhơn và ảnh       

hưởng của các loại thức ăn đến một số đặc điểm sinh học của loài mọt       

thuốc lá   Lasioderma serricorne  Fabricius”.    

1.2. Mục đích của đề tài    ­ Xác định được thành phần sâu mọt hại nguyên liệu làm thức ăn chăn       

nuôi nhập khẩu qua cảng quy nhơn.  ­ Nắm được một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài mọt       

thuốc lá  Lasioderma serricorne  Fabricius.  ­ Xác định được ảnh hưởng của các nhiệt độ khác nhau đến đặc điểm       

sinh học của chúng.  1.3.Yêu cầu của đề tài  ­ Nắm rõ phương pháp điều tra thành phần loài.  ­ Bố trí thí nghiệm hợp lý.  ­ Theo dõi thí nghiệm hàng ngày.  ­ Sử dụng công cụ thống kê hợp lý để xử lý số liệu.  1.4.Ý nghĩa của đề tài  1.4.1. Ý nghĩa khoa học  ­ Bổ sung danh mục thành phần sâu mọt hại trên nguyên liệu thức ăn       

chăn nuôi trong kho bảo quản sau khi nhập khẩu tại cảng Quy Nhơn.  ­ Bổ sung thêm những dẫn liệu khoa học về đặc điểm sinh học và hình       

thái học của loài mọt  Lasioderma serricorne  Fabricius.  ­ Phát hiện kịp thời loài sâu mọt thuộc danh mục dịch hại kiểm dịch thực       

vật (KDTV) của Việt Nam làm cơ sở dữ liệu của ngành KDTV.  1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn  ­ Cung cấp các dẫn liệu để đề ra biện pháp phòng trừ thích hợp đế       

quản lý dịch hại kiểm dịch thực vật của Việt Nam nói chung, sâu mọt hại       

Trang 10

nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nói riêng một cách khoa học, góp phần phục       

vụ công tác xuất nhập khẩu. 

­ Xác định ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau đến một số đặc       

điểm sinh học của mọt thuốc lá  L serricorne làm cơ sở cho công tác dự            tính dự báo. 

­ Làm cơ sở để đưa ra biện pháp quản lý giúp tăng hiệu quả bảo quản, đảm       bảo chất lượng nông sản phẩm trong kho. 

 

Trang 11

PHẦN 2    TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 

 

2.1   Tình hình nhập khẩu thức ăn chăn nuôi & nguyên liệu trong nước       

tháng 11/2015 và 11 tháng đầu năm 2015  Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu TĂCN và       

nguyên liệu trong tháng 11/2015 đạt 233 triệu USD, giảm 12,72% so với       

tháng trước đó và giảm 4,25% so với cùng tháng năm ngoái Tính chung,       

11 tháng đầu năm 2015, Việt Nam đã chi hơn 3 tỉ USD nhập khẩu TĂCN       

và nguyên liệu, tăng 2,43% so với cùng kỳ năm trước.     Trong 11 tháng đầu năm 2015, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên       

liệu của Việt Nam từ một số thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh, thứ       

nhất là Áo với hơn 108 triệu USD, tăng 7.343,03% so với cùng kỳ; đứng       

thứ hai là Tây Ban Nha với gần 35 triệu USD, tăng 226,38% so với cùng       

kỳ; Hà Lan với hơn 24 triệu USD, tăng 49,6% so với cùng kỳ, sau cùng là       

Anh, với hơn 2 triệu USD, tăng 33,83% so với cùng kỳ.     Các thị trường chính cung cấp TĂCN và nguyên liệu cho Việt Nam       

trong tháng 11/2015 vẫn là Achentina, Hoa Kỳ, Áo Trong đó, Achentina       

là thị trường chủ yếu Việt Nam nhập khẩu mặt hàng này với 98 triệu USD,       

giảm 20,26% so với tháng trước đó và giảm 11,83% so với cùng tháng năm       

ngoái, nâng kim ngạch nhập khẩu TĂC       N và nguyên liệu từ nước này trong       

11 tháng đầu năm 2015 lên gần 1,3 tỉ USD, chiếm 42,5% tổng kim ngạch       

nhập khẩu mặt hàng, tăng 8,14% so với cùng kỳ năm trước – đứng đầu về       

thị trường cung cấp TĂCN và nguyên liệu cho Việt Nam Kế đến là thị       

trường Hoa Kỳ với kim ngạch nhập khẩu trong tháng 11 đạt gần 30 triệu       

USD, tăng 17,27% so với tháng 10/2015 nhưng giảm 29,83% so với cùng       

tháng năm ngoái Tính chung, 11 tháng đầu năm 2015, Việt Nam đã nhập       

khẩu TĂCN và nguyên liệu từ thị trường này đạt hơn 400 triệu USD, tăng       

6,9% so với cùng kỳ năm trước.     Kim ngạch nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu từ Achentina tăng mạnh       

trong 11 tháng đầu năm 2015, do nguồn nguyên liệu từ thị trường này dồi       

dào – thị trường TĂCN và nguyên liệu tiềm năng của Việt Nam.    Đứng thứ ba về kim ngạch nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu trong tháng        

11/2015 là Áo với trị giá 19 triệu USD, tăng 9,21% so với tháng trước đó       

Trang 12

và tăng 6.003,09% so với cùng tháng năm ngoái, nâng tổng kim ngạch       nhập khẩu 11 tháng đầu năm 2015 lên 108 triệu USD, tăng 7.343,03% so       với cùng kỳ năm trước. 

   Ngoài ba thị trường kể trên, Việt Nam nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu       

từ các thị trường khác nữa như: Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan và       Indonesia với kim ngạch đạt 256 triệu USD, 168 triệu USD, 101 triệu USD;       

Trang 13

2.2.Tình hình nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi qua cảng Quy       

Nhơn  Thực hiện chiến lược phát triển chăn nuôi Việt Nam đến năm 2020 của        

Thủ tướng Chính phủ, trong những năm qua ngành chăn nuôi đã phát triển       

mạnh theo hướng trang trại, công nghiệp nên thúc đẩy ngành công nghiệp       

chế biến thức ăn chăn nuôi (TACN) trên địa bàn tỉnh phát triển nhanh       

chóng, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006­2010 đạt 56%/năm và       

giai đoạn 2011­2015 đạt đến 88%/năm Trong thời gian tới, dự báo ngành       

này tiếp tục tăng trưởng nhanh Qua quá trình hình thành và phát triển, đến       

nay trên địa bàn tỉnh hiện có 12 nhà máy chế biến TACN (năm 2010 là 5       

nhà máy) với tổng công suất đạt trên 2 triệu tấn/năm (năm 2010 là 245.000       

tấn/năm), tổng vốn đầu tư 2.300 tỷ đồng, diện tích xây dựng các nhà máy       

khoảng 78 ha đều được đưa vào hoạt động sản xuất, giải quyết việc làm ổn       

định cho 1.000 lao động với mức thu nhập bình quân đạt 4,5 triệu       

đồng/người/tháng (năm 2010 là 360 lao động với thu nhập 3,5 triệu đồng).  Ngành công nghiệp chế biến TACN tỉnh Bình Định phát triển nhanh do        

có nhiều thuận về các điều kiện hạ tầng, phục vụ đầu tư sản xuất, kinh       

doanh TACN; đường Quốc lộ 1A đi qua nối với các tỉnh Bắc và Nam của       

cả nước, Quốc lộ 19 nối cảng Quy Nhơn với các tỉnh phíabắc Tây nguyên;       

cảng Quy Nhơn thuận lợi nhập khẩu nguyên liệu với số lượng lớn và Bình       

Định cũng là cửa ngõ đón nguồn nguyên liệu bắp, sắn… với trữ lượng lớn       

từ các tỉnh Tây nguyên.  2.3. Những nghiên cứu về mọt hại kho nước ngoài   2.3.1. Những nghiên cứu trong công tác kiểm dịch thực vật  Nhiều quốc gia như : Úc, Newzeland, Mỹ, Nhật đã có sự quan tâm rất        

lớn đến công tác KDTV, nhất là vấn đề về dịch hại ngoại lai Các quốc gia       

này đã thực hiện theo chế độ KDTV toàn bộ, các loài sinh vật còn sống đều       

không được nhập vào Các mặt hàng thực vật khi nhập vào nếu có sinh vật       

gây hại (SVGH) đều phải xử lý bằng biện pháp khử trùng xông hơi thuốc       

hoá học Nếu không thực hiện tốt công tác KDTV, khi để lọt sâu hại còn       

sống đã tạo nên những dịch hại nguy hiểm cũng như gây thiệt hại đáng kể       

cho nền sản xuất nông nghiệp và ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế của các        quốc gia đó. 

Trang 14

Đến năm 1996 đã có 123 nước tham gia vào các tổ chức thương mại       

thế giới WTO, các thành viên đã ký kết hiệp định về vệ sinh an toàn thực       

phẩm và KDTV: Quy định ngăn cấm những loài côn trùng, nấm bệnh, và vi       

trùng bị lây nhiễm qua các hàng hoá nông sản xuất nhập khẩu giữa các       

nước thành viên.Việc công bố những loài sinh vật thuộc dịch hại KDTV là       

một trong những điều cần thiết đối với công tác quản lý xuất nhập khẩu       

hàng hoá thuộc diện KDTV, do vậy các nước đã đề ra những quy định riêng       

của mình.  Trung Quốc: Đã đưa ra 84 loài sinh vật thuộc diện dịch hại KDTV,       

trong đó có 24 loài côn trùng Liên Bang Nga công bố 75 loài sinh vật       

thuộc diện dịch hại KDTV, trong đó có 52 loài côn trùng Indonexia công       

bố: 164 loài sinh vật thuộc diện dịch hại KDTV, trong đó có 52 loài côn       

trùng Ở mỗi quốc gia công tác KDTV còn có nhiệm vụ xác định những       

vùng có dịch hại nguy hiểm, từ đó đưa ra những quyết định cụ thể nhằm       

ngăn chặn, tránh để lây lan ra những vùng lân cận.  2.3.2. Nghiên cứu về côn trùng gây hại nông sản lưu trữ trên thế giới  Tổng kết sự có mặt và gây hại của côn trùng, tác giả RL Semple, J.       

V Lozara và Casterman cho rằng trên thế giới có khoảng trên 100 loài côn       

trùng liên quan đến các sản phẩm kho Trong đó bộ cánh cứng chiếm tỷ lệ       

60% và bộ cánh vảy chiếm 8­10%.  Hầu như ở đâu có sự tồn trữ và lưu trữu, ở đó xuất hiện các loài sinh       

vật gây hại Nhiều khi chỉ cần sau vài tuần, sinh vật gây hại đã phát triển       

thành quần thể với số lượng lớn và gây ra những “vụ cháy ngầm”, tiêu hủy       

một phần hoặc hoàn toàn hàng hóa bảo quản ở trong kho (Bùi Công Hiển,       

1995) Sự phá hoại của côn trùng hại kho có thể nói là rất đa dạng và phổ       

biến.  Côn trùng vượt qua tất cả các loài dịch hại khác về số lượng cá thể và       

số lượng loài, chúng cạnh tranh với con người về nguồn cung cấp lương       

thực, lan truyền dịch bệnh cho con người, cho cây trồng và gia súc của họ.       

Đặc điểm nổi bật của dịch hại là chúng thích nghi cao với điều kiện cuộc       

sống trên trái đất, điều này có nghĩa là chúng có thể tồn tại và hoạt động       

trong cả điều kiện khô hạn (Van der Laan, P.A., 1981).  Trên thế giới đã có nhiều những nghiên cứu về côn trùng hại kho,       

trước nhất và chiếm đa số là những nghiên cứu về thành phần loài Có thể       

kể đến trước hết là danh mục côn trùng gây hại sản phẩm ngũ cốc và hạt dự       

Trang 15

trữ của Cotton (1937); danh mục dịch hại sản phẩm bảo quản của Cotton và       

Wilbur (1974); thành phần côn trùng ở Úc của Anonymous (dẫn theo       

Snelson J.T., 1987); côn trùng hại hạt và sản phẩm hạt dự trữ của Cotton       

R.T (1963) [21]; thành phần côn trùng trên thóc và gạo dự trữ ở Thái Lan       

của Hiroshi Nakakita  et al  (1991); thành phần côn trùng gây hại trên thóc            

gạo ở Indonesia của Hall P.W  et al (1961) Bên cạnh đó còn có các công            

trình nghiên cứu đã công bố về thành phần loài như: Nghiên cứu về sinh       

thái học côn trùng trên hạt đóng bao của Graham (1970), Smith (1963),       

Prevett (1964); sinh thái học côn trùng trong các kho ngũ cốc của Richards       

và Woodroffe (1968); hoặc dẫn liệu về côn trùng hại kho của nông dân của       

Markham (1981) (dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995).  Qua thống kê của Matheson, & O.C (1996) và Vũ Quốc Trung       

(1978): Trên thế giới ước có khoảng 1.000.000 loài côn trùng, trong đó có       

900.000 loài đã biết tên, chiếm khoảng 78% trong tổng số 1.150.000 loài       

động vật đã biết.Bhadriraju và Wilbur (1996), thống kê được số lượng loài       

sâu mọt gây hại trong các kho bảo quản và dự trữ trên thế giới gồm 43 loài,       

trong đó có 19 loài gây hại chủ yếu và 24 loài gây hại thứ yếu (Snelson,       

1987).  Bhadriraju và David (1996) cho rằng: Số lượng côn trùng hại kho       

thuộc bộ cánh cứng (Coleoptra) có khoảng 250.000 loài, trong đó có nhiều       

loài gây hại quan trọng Có khoảng 40 họ thuộc bộ cánh cứng có liên quan       

tới sản phẩm trong kho Nghiên cứu thành phần sâu mọt hại gây hại dược       

liệu: Grabnervaf Schidt (1992) đã đưa ra nhận xét: Có 14 loài sâu mọt hại       

trên sản phẩm dược liệu được bảo quản, trong đó có 9 loài thuộc bộ cánh       

cứng và 3 loài thuộc bộ cánh vảy xuất hiện trong kho hàng thuộc tỉnh       

Berlin­ Liên bang Đức Có 33 loài sâu mọt trên sản phẩm dự trữ của tư       

nhân, những loài sâu mọt phổ biến nhất trong kho dự trữ và trong kho hàng       

đó là: Họ ngài đêm(  Ephestia elutella Hbn) và mọt thuốc bắc( Stegobium    

panoceum  L.).  Về đặc điểm sinh thái của mọt thuốc lá và mọt thuốc bắc tác giả       

Gunasekaran, Baskaran, & Rajendran (2003), cho biết: Mức độ ảnh hưởng       

của mọt thuốc bắc  Stegobium panoceum, mọt thuốc lá  Lasioderma    

serricone phụ thuộc vào thành phần và mức độ axits uric có trong cây, hạt       

rau Mùi, rễ cây Nghệ Có hơn 1.000 loài bọ gặm nhấm được mô tả Phần đa       

là mọt đục thân gỗ Nhưng có hai loài là mọt thực phẩm (mọt thuốc bắc­       

Trang 16

Stegobium panoceum L.) (được biết tới ở Anh là mọt bánh qui) và mọt        

thuốc lá  Lasioderma serricone : Chúng tấn công các sản phẩm được bảo        

quản.  Sâu mọt hại các sản phẩm được bảo quản gây ra thiệt hại khổng lồ       

cho các sản phẩm sau thu hoạch và hạt giống, các sản phẩm đóng gói kể cả       

các sản phẩm có nguồn gốc động vật và thực vật [30].   Nhiệt độ, độ ẩm ảnh hưởng trực tiếp tới điều kiện sống của sâu mọt       

nói chung trong đó có mọt thuốc bắc và mọt thuốc lá Nghiên cứu về sự       

phụ thuộc các yếu tố môi trường tác giả Cox & Simms (1978): Có 24 loài       

côn trùng bao gồm:  Ahasverus advena, Cryptolestes frrugineus, Ephestia      

elutella , Lasioderma serricorne, Plodia ỉnterpunctella, Ptinus tectus,      

Stegobium panoceum  được tìm thấy trên bột đậu nành Khi độ ẩm đạt        

70% và nhiệt độ 25°C hoặc30°C là điều kiện tốt nhất để côn trùng sinh       

sống và trưởng thành.  Cũng Theo Cox & Simms (1978): So sánh ở hai mức độ ẩm, ở mức       

80% các loài sâu mọt phát triển trên các loại thức ăn, còn ở mức 70% phát       

triển ít hơn Điều này có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của một số loài.       

Đánh giá trên số lượng con trưởng thành và các pha Các loài có thể tấn       

công vào bột đậu nành và dược liệu ở trong điều kiện nhiệt độ môi trường       

như:  Stegobium panoceum, Ptinus tectus, Tineola bisslliella, Ephestia      

cautella và  Lasioderma serricome .Theo Cotton và Wilbur (1974), côn        

trùng gây hại hạt dự trữ trong kho trên thế giới gồm 43 loài được chia làm 2       

nhóm: Nhóm côn trùng gây hại chủ yếu gồm 19 loài và nhóm côn trùng       

gây hại thứ yếu nhưng thường xuyên xuất hiện trên hạt dự trữ gồm 24 loài       

(dẫn theo Nelson, J.T., 1987).  Christoph Reichmuth (2000) đã ghi nhận được 55 loài côn trùng trên       

sản phẩm bảo quản ở Đức Hiroshi Nakakita (1991) đã ghi nhận được 36       

loài côn trùng thuộc 17 họ và 2 bộ gây hại trong thóc và gạo bảo quản ở       

Thái Lan năm 1991 Kỹ thuật bảo quản nông sản sau thu hoạch ngày một       

phát triển cùng với sự thay đổi về các điều kiện sinh thái, điều kiện môi       

trường và nguồn thức ăn của côn trùng hại kho cũng luôn thay đổi, do vậy       

thành phần, mật độ các loài côn trùng trong kho cũng luôn có sự thay đổi       

cho phù hợp Cho đến nay việc nghiên cứu về thành phần loài côn trùng hại        kho vẫn đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm. 

2.3.3. Một số nghiên cứu về  loài Lasioderma serricorne . 

Trang 17

Mọt thuốc lá là loài gây hại chính trong các kho bảo quản nông sản       

nói chung và nguyên liệu thuốc lá bảo quản nói riêng Fabricius là người       

đầu tiên quan sát và mô tả về chúng vào năm 1972 Mọt thuốc lá đã được       

ghi nhận vào năm 1848 tại Pháp, tại Hoa Kỳ năm 1886 (Ryan, 1999) Mọt       

thuốc lá  L serricorne thuộc Bộ Cánh cứng (Coleoptera), họ Anobiidae            

(Howe, 1957; Ashworth, 1993; CABI, 2006; Wikipedia, 2010a).  Hiện nay, mọt thuốc lá  L serricorne phân bố rộng khắp trên thế giới            

và được coi là loài phổ biến trong các kho bảo quản nông sản, được tìm       

thấy chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (Howe, 1957; Sannino,       

1980; Snelson, 1987; Harwalkar  et al ., 1995, Christian, 1999) Mọt thuốc lá          

L serricorne không chỉ phá hại lá và thuốc lá đã chế biến, chúng còn tấn        

công cả rau quả khô như thảo mộc, bánh làm từ hạt có dầu, ngũ cốc, ca cao,       

lạc nhân và chủ yếu là do sâu non gây ra (Carvalho  et al., 2000; Zhu  et        

al.,  2000).  Ryan (1999) đã đề cập đến khả năng lựa chọn thức ăn của mọt thuốc       

lá rất phong phú, chúng tấn công trên 50 loại sản phẩm nông sản khác       

nhau.Theo Arbogast  et al 2002, mọt thuốc lá là loài đa thực, chúng có phổ          

thức ăn rộng, có thế ăn nhiều loại sản phẩm của cây trồng và được coi là       

loài dịch hại nguy hiểm đối với kho bảo quản nông sản nói chung và kho       

nguyên liệu thuốc lá nói riêng   Theo mô tả của Ryan (1999), trưởng thành mọt thuốc lá dài 2,0 –       

3,7mm, có màu nâu sáng, trọng lượng cơ thể từ 1,6 ­ 4,4 mg Kích thước       

của mọt phụ thuộc chủ yếu vào thức ăn, nhiệt độ và độ ẩm trong quá trình       

phát triển Thông thường trưởng thành cái thường lớn hơn trưởng thành       

đực Phân biệt trưởng thành đực và trưởng thành cái thông qua mấu lồi của       

bộ phận sinh dục Con cái thường có mấu lồi hình chữ V, con đực có mấu       

lồi hình chữ U.  Arbogast  et al., 2002 đã mô tả mọt thuốc lá là loài có kích thước từ          

2­3 mm Trưởng thành có màu nâu đỏ, thân hình tròn hoặc bầu dục Mọt       

trưởng thành có thể bay xa tới 3 km, điều này giải thích khả năng xâm hại       

và phát tán của chúng trong các kho bảo quản Chúng thường bay vào buổi       

chiều muộn hoặc ban đêm khi có ánh sáng, đặc biệt bay mạnh khi chúng đẻ       

trứng (Ryan, 1999) Theo kết quả nghiên cứu của Sannino (1980), hoạt       

động sinh sản của mọt thuốc lá  L serricome có liên quan chặt đến nhiệt độ            

Ở nhiệt độ 15°Ccon cái sẽ giao phối sớm hơn ở nhiệt độ 29°C.Theo kết quả       

Trang 18

nghiên cứu của Howe (1957), vòng đời của mọt thuốc lá phụ thuộc vào       

nhiệt độ và thức ăn, nhưng chúng thường kéo dài 40 ­ 90 ngày.  Theo Koehler (1994) (dẫn theo Trần Văn Nguyên, 2007), mọt trưởng       

thành trong điều kiện bình thường chúng có thể sống được 3­4 tuần, trưởng       

thành cái đẻ tới 100 trứng Trứng thường nở sau khi đẻ 6­10 ngày tuỳ theo       

nhiệt độ Thời gian một vòng đời (từ trứng tới trưởng thành và đẻ quả trứng       

đầu tiên) là 2­3 tháng, trong điều kiện ấm áp chúng có thể có 5­6 lứa trong       

một năm.  2.4. Một số nghiên cứu trong nước  2.4.1. Một số nghiên cứu trong công tác kiểm dịch thực vật  Với chính sách mở cửa, việc buôn bán giữa Việt Nam với các nước       

ngày càng phát triển nên lượng hàng hoá thuộc diện KDTV nhập khẩu vào       

nước ta với số lượng ngày càng tăng, đa dạng về chủng loại, xuất xứ từ       

nhiều vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới Hàng triệu tấn hàng thuộc diện       

KDTV nhập khẩu vào Việt Nam nhằm phục vụ sản xuất trong nước, mặt       

khác vói chủ trương đi tắt đón đầu về công nghệ, đa dạng hoá cây trồng,       

chúng ta đã và đang tích cực đưa các loại giống cây trồng chủ đạo có năng       

xuất cao vào thay thế dần các giống cây trồng cũ trong nước.  Theo thống kê của cơ quan KDTV: Hàng triệu tấn hàng thuộc diện       

KDTV nhập khẩu vào Việt Nam nhằm phục vụ sản xuất trong nước, mặt       

khác với chủ trương đi tắt đón đầu về công nghệ, đa dạng hoá cây trồng,       

chúng ta đã và đang tích cực đưa các loại giống cây trồng chủ đạo có năng       

xuất cao vào thay thế dần các giống cũ trong nước Các mặt hàng thuộc       

diện KDTV được nhập khẩu từ Trung Quốc vào nước ta khá lớn, tạo điều       

kiện thuận lợi cho sinh vật gây hại nói chung, sâu hại nói riêng xâm nhập,       

lây lan.  Những năm qua, tình hình SVGH xuất hiện trên hàng nhập khẩu có       

diễn biến tương đối phức tạp, thành phần rất đa dạng như nấm bệnh, côn       

trùng, cỏ dại, tuyến trùng, vi khuẩn, virus Hầu hết các lô hàng nông sản       

đều bị nhiễm SVGH nhưng với mức độ và tính chất khác nhau, nguồn gốc       

đa dạng phong phú.  Việc nghiên cứu thành phần SVGH nói chung và sâu mọt gây hại nói       

riêng trên các sản phẩm thuộc nông sản xuất nhập khẩu của ngành BVTV       

cho thấy: Từ năm 1998 đến năm 2002 đã phát hiện hơn 40 loài côn trùng,       

gần 30 loài nấm bệnh, 58 loài cỏ dại, hàng chục loài tuyến trùng, vi khuẩn,       

Trang 19

virus là dịch hại thuộc diện KDTV Trong đó đã nhiều lần phát hiện dịch       

hại thuộc diện KDTV của Việt Nam như:  Radopholus similis; Ephilis      

oryzae; Trogoderma granarium; Trogoderma inclusum; Spongospora      

subterranea; Lolỉum temulentum; Zabrotes subfasciatus; Acanthoscelides      

obtectus  . 

Đặc biệt năm 2002: Toàn ngành đã phát hiện 531 lần dịch hại thuộc       

diện KDTV, một trong những dịch hại quan trọng đó là bệnh ghẻ bột khoai       

tây phát hiện tới 350 lần và 124 lần phát hiện  Trogoderma inclusion,  53 lần        

phát hiện  Trogoderma granarium  Trong những năm qua SVGH xuất hiện        

trên hàng thực vật nhập khẩu ngày càng tăng, đa dạng về loài; đặc biệt là       

các dịch hại thuộc diện KDTV bị phát hiện gần 900 lần Chúng có nguồn       

gốc xuất xứ từ nhiều vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới Những dịch hại       

trên đã được xử lý triệt để tại các cửa khẩu [5].  Việc phát hiện, nắm rõ thông tin khoa học và thành phần SVGH cũng       

như nguồn gốc xuất xứ của các lô vật thể thuộc diện KDTV làm cơ sở để       

phân tích, đánh giá nguy cơ dịch hại từ đó đề xuất những biện pháp xử lý       

và quản lý SVGH trên hàng nhập khẩu vào Việt Nam.  2.4.2. Một số nghiên cứu về mọt thuốc lá Lasioderma serricorne.  Theo Vũ Quốc Trung (1981): Mọt thuốc lá có tên khoa học       

Lasioderma serricorne  Fabricius thuộc họ Anobiidae, bộ Coleoptera.  * Phân bố và tác hại: Mọt thuốc lá phân bố khắp thế giới, trong       

đó có Việt Nam.  Hàng năm loài mọt này gây thiệt hại lớn tới thuốc lá Ngoài thuốc lá       

loài mọt này còn phá hoại chè, dược liệu, quả khô, cá khô, các loại hạt có       

dầu, tiêu bản động vật, tài liệu, sách báo, có khi còn gặp chúng trong các       

kho lương thực Mọt thuốc lá  L serricorne là loài sâu hại có tính ăn rộng,            

nó gây thiệt hại rất lớn cho thuốc lá và nhiều nông sản khác.  * Đặc điểm hình thái  (Vũ Quốc Trung, 1981):  ­ Trứng: Dài 0,4 ­ 0,5 mm, hình bầu dục dài, màu vàng trắng       

nhạt. Vỏ trứng hơi nhẵn, nhưng một đầu nhô lên.  ­ Sâu non: Khi mới nở đạt 0,55 mm, rất khác so vói sâu non khi        

đẫy sức, thân hình thắng và hoạt bát, khi hoạt động giảm dần và thân ngắn       

lại Sâu non đẫy sức thân dài 4,0 mm, thân cong lại và trở thành có hình       

chữ c, đường kính các đốt gần như nhau, thân màu vàng trắng nhạt, trên       

mình có nhiều lông rất nhỏ, dài Đầu màu vàng nhạt, không có mắt Trên       

Trang 20

mình có nhiều đường vân ngang Mảnh lưng ngực trước màu nâu, nở to,       

đốt bụng cuối cùng lượn cong Chân có 4 đốt, có 1 móng vuốt Lỗ thở dạng       

hình trứng.  ­Nhộng : Dài 3 mm, rộng 1,5 mm, màu trắng sữa, mặt lưng màu vàng       

nâu, có cánh, bụng to và mập.  ­Mọt trưởng thành : Mọt đực dài 2,5 mm; mọt cái dài 3 mm, hình bầu          

dục ngắn Chiều dài của thân gấp đôi chiều rộng Nếu nhìn chính diện, có       

dạng hình trứng, nhìn nghiêng có dạng hình lưng lạc đà.  Thân màu hồng nâu, có cánh, có nhiều lông màu nâu nhạt Mép sau       

ngực trước và gốc cánh cứng có gò rất rõ Đầu lớn hình bán cầu, rụt vào       

dưới ngực trước, vì vậy nếu nhìn từ mặt lưng không thấy đầu Râu đầu có       

11 đốt.  Nhìn phía lưng ngực trước thấy mép trước hình bán cầu, nhìn một bên       

thấy mép sau cao hơn phía trước, cong về phía sau, ngực trước cong úp lại.       

Cánh cứng khít với gốc ngực trước Nhìn mặt nghiêng của cánh cứng cao       

nối lên và thấp dần về phía đầu cánh Trên cánh cứng có nhiều điểm lõm       

nhỏ.  *Đặc điểm sinh học:  Mọt không thích ăn, ưa ánh sáng yếu, cường độ chiếu sáng khoảng       

50 Lux thu hút mọt rất mạnh, nó hoạt động ở ánh sáng mờ nhạt Ở điều       

kiện 25°C và độ ẩm 70%, con cái sống 31 ngày, con đực 28 ngày, chúng       

hoạt động mạnh vào lúc hoàng hôn và ban đêm (Vũ Quốc Trung, 1981).  Trưởng thành vũ hóa sau 3 ngày thì giao phối, đẻ trứng Ở 25°C đẻ ít       

nhất 103 trứng, nhiều nhất 120 trứng Với độ ẩm cao, thời gian trứng       

khoảng 6 ngày, sâu non lột xác 4 lần Thời gian từ tuổi 1 đến tuổi 5 trung       

bình 19,2 ngày và thời gian nhộng là 3,8 ngày Vòng đời là 29,1 ngày (Vũ       

Quốc Trung, 1981).  Trong điều kiện nước ta, mọt thuốc lá mỗi năm có 3­6 lứa Vòng đời       

của mọt là 44 ­ 70 ngày, thời kỳ Trứng và sâu non 30­50 ngày, nhộng 8­10       

ngày Mỗi con cái đẻ được 10 ­ 100 trứng, thường đẻ rải rác mọi nơi, đẻ       

trên đống lương thực, trong kẽ bao bì, trên gân thuốc lá hay kẽ lá Chúng       

thường hoạt động mạnh vào ban đêm và những ngày râm mát, những ngày       

nắng không hoạt động, mọt bay, bò và giả chết (Vũ Quốc Trung, 1981).  Theo Bùi Công Hiển (1995), mỗi con trưởng thành cái có thể đẻ từ 10       

­100 trứng, ở nhiệt độ dưới 20°C mọt cái thường không đẻ trứng Trong       

Trang 21

điều kiện khí hậu ở nước ta, mọt thuốc lá  L serricorne có thể sinh sản            

được 3­6 lứa một năm, vòng đời từ 44 ­70 ngày, thời kỳ trứng từ 6 ­ 10       

ngày, sâu non từ 30­50 ngày, nhộng từ 6 ­ 10 ngày.      2.5. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài  2.5.1 .Cơ sở lý luận  Bất cứ sinh vật nào nhân tố thức ăn được xem là nhân tố sinh thái rất       

quan trọng, đối với côn trùng cũng vậy Forbxom (1988) đã viết: “Trong tất       

cả các yếu tố môi trường xung quanh không có gì ảnh hưởng đến chúng       

một cách mạnh mẽ, phức tạp và sâu sắc như các yếu tố thức ăn, ngay cả       

thời vụ, khí hậu, đất đai và các yếu tố vô sinh khác thường ảnh hưởng đến       

động vật qua thức ăn ở mức độ như là trực tiếp” Thật vậy, số lượng và chất       

lượng thức ăn quyết định phần lớn đến tốc độ phát dục, đến hoạt tính, sức       

sinh sản, hiện tượng ngừng phát dục, tỷ lệ chết, ảnh hưởng đến sự phân bố       

phát tán của chúng Và mọt thuốc lá cũng không ngoại lệ, là đối tượng gây       

hại chủ yếu trên các nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nên thức ăn có vai trò       

đặc biệt quan trọng đối với sinh trưởng và phát triển của mọt Thời gian       

phát dục, vòng đời, tỷ lệ sống, khả năng đẻ trứng là không giống nhau trên       

các loại thức ăn Mọt thuốc lá chỉ phát dục và sinh sản tốt trên các loại thức       

ăn phù hợp Khi thức ăn không đủ và kém chất lượng thì thời gian phát dục       

của sâu non thường kéo dài, khả năng sinh sản ít và kích thước cũng chênh       

lệch.  Vì vậy, trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm sinh học của mọt thuốc lá       

trên các loại thức ăn khác nhau để từ có chế độ bảo quản phù hợp cũng như       

biện pháp phòng trừ mọt thích hợp cho mỗi loại thức ăn khác nhau.  2.5.2. Cơ sở thực tiễn  Cùng với sự phát triển của nông nghiệp nói chung và ngành chăn       

nuôi nói riêng thì việc nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi của nước       

ta ngày càng tăng cao Đối với nước ta là một nước đang phát triển và kinh       

tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp cho nên việc nhập khẩu thức ăn       

chăn nuôi để chế biết và cung cung cấp cho ngành chăn nuôi là rất quan       

trọng.   Cảng Quy Nhơn là một trong những cảng lớn của khu vực miền       

Trung Tây Nguyên nên lượng hàng nhập khẩu khá đa dạng và với số lượng       

Trang 22

khá lớn Chính vì sự giao lưu hàng hóa và tình hình nhập khẩu tại cảng Quy       Nhơn với lượng hàng nhập khẩu như thế nên không tránh khỏi được thành       phần sâu mọt hại cũng phong phú và đa dạng, với nhiều loài khác nhau, gây       khó khăn cho việc kiểm dịch và phòng trừ chúng Trong số đó nổi bật lên là       

loài  L serricorne , với mức độ phổ biến và gây hại khá cao Tuy nhiên việc          điều tra về thành phần loài và nghiên cứu về đặc điểm sinh học của các loài       sâu mọt này còn nhiều hạn chế . 

Chính vì vậy nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến một số đặc điểm       sinh học của loài L.serricorne ở trong phòng thí nghiệm là cơ sở hết sức       

quan trọng và  có ý nghĩa thực tiễn   Nghiên cứu nhằm xác định thành phần            sâu mọt hại trong kho bảo quản, ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau       

đến loài  L serricorne  giúp đề ra biện pháp phòng trừ đúng lúc, đúng giai          đoạn và trên từng loại thức ăn khác nhau đem lại hiệu quả cao và kinh tế.       Bên cạnh đó làm cơ sở và giúp cho công tác quản lý dịch hại kiếm dịch       thực vật của Việt Nam nói chung, sâu mọt hại nguyên liệu thức ăn chăn       nuôi nói riêng được thuận lợi hơn, góp phần phục vụ công tác xuất nhập       khẩu tại cảng Quy Nhơn.  

Trang 23

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

 3.1. Đối tượng vàvật liệu nghiên cứu 

3.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 

3.3.1. Thời gian 

      Đề tài được thực hiện từ 05/2015 đến 03/2016 

3.3.2. Địa điểm nghiên cứu 

Trang 24

Tại cảng Quy Nhơn và một số kho bảo quản của các đơn vị tham gia       nhập khẩu tại Bình Định. 

Tại phòng thí nghiệm côn trùng, bộ môn Bảo vệ thực vật, khoa Nông       học, trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế. 

­ Tại mỗi kho, bắt toàn bộ cá thể mọt tìm thấy trong hàng hóa, trên       bao bì và trên sàn kho, trong kẽ nứt tại điểm điều tra. 

­ Tiến hành sàn bằng các ngăn khác nhau để tách côn trùng từ hàng       

hóa, phân tích các loại côn trùng kho và loài mọt  L serricorne cho vào lọ            thu mẫu, ghi nhãn: Địa điểm thu thập, nhiệt độ, ẩm độ trong kho. 

­ Tất cả các mẫu thu thập được ở các địa điểm đều được đưa về       phòng thí nghiệm giám định lại bằng kính lúp soi nổi và chụp ảnh tại phòng       

kỹ thuật của Chi cục kiểm dịch thực vật vùng IV. 

❖ Xử lý mẫu côn trùng: 

Trang 25

­ Đối với côn trùng trưởng thành: Giết chết bằng lọ độc (KCN) sau       

đó sấy ở tủ định ôn ở nhiệt độ thấp rồi tăng dần nhiệt độ lên (sấy ở nhiệt độ       45­50 o C trong 3­4 ngày hoặc tăng lên 50­60       o C trong 7­10 ngày, tùy theo       kích thước của côn trùng) Sau đó cho vào lọ nút mài kín và để ở nhiệt độ       phòng, các lọ đều được dán nhãn đầy đủ. 

­ Đối với sâu non: Để cho sâu nhịn đói 1 ngày cho bài tiết sạch       bụng, sau đó cho vào ống nghiệm chứa khoảng 2­3 ml dung dịch KOH       hoặc NaOH 10% đun trên ngọn đèn cồn (vừa đun vừa lắc ống nghiệm)       không để sôi, cho đến khi khi sâu non dãn thẳng ra. 

❖ Bảo quản mẫu côn trùng : 

­ Đối với côn trùng trưởng thành: Sau khi sấy để nguội cho vào lọ       nút mài bảo quản nhiệt độ phòng, ở nơi khô ráo. 

­  Đối với sâu non, nhộng: Ngâm vào dung dịch Paml hoặc cồn 70%. Dung dịch Paml được pha chế theo tỷ lệ:  

+ Tính độ thường gặp của loài  Lasioderma serricorne F trong        thành phần mọt hại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu. 

Phương pháp tính toán : Tính độ thường gặp (%) để đánh giá mức độ       phổ biến của từng loài côn trùng theo không gian điều tra  

C (%) =  Na  x 100  (1) 

N Trong đó: Na: Số điểm điều tra có chứa loài a 

       N: Tổng số điểm điều tra  

   * Mật độ của loài được tính theo công thức: 

Mật độ mọt (con/kg) =       Tổng số con (con) 

Đơn vị lấy mẫu (kg) 

Trang 26

 Tỷ lệ thành phần các loài (%) =  Tổng số cá thể của mỗi loài x100 

Tổng số cá thể của các loài thu được Mức độ phố biến được chia thành 3 cấp: 

+: 1 ­ 25%: ít phổ biến; ++: 25 ­ 50%: phổ biến; +++: > 50%: rất phổ biến. 

3.5.2.Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học của mọt thuốc lá 

❖ Phương pháp nhân nuôi mọt thuốc lá làm vật liệu thí nghiệm 

Mẫu mọt thuốc lá được thu thập trong kho, xác định đúng loài       

Lasioderma serricorne  F Các giai đoạn của sâu non và giai đoạn trưởng            thành Sau khi thu thập ta tiến hành nuôi mọt trong các hộp nhựa (32 x       14cm), có lưới thông khí ở nắp (5 x 5cm) để đảm bảo độ thoáng khí Nuôi       thuần các pha (nuôi quần thể) trong tủ định ôn ở nhiệt độ 30       0 C, ẩm độ     70­75%, ánh sáng mờ 24h Thức ăn nuôi quần thể là bã ngô nhập khẩu từ       

Mỹ đã qua xử lý và làm sạch Khi mọt ăn vụn phần thức ăn và thức ăn giảm       

­ Tiến hành cắt trứng (sau kích đẻ 24h): Ta tiến hành cắt trứng trên       kính lúp soi nổi và cho vào đĩa peptri nhỏ (60 x 15mm) với số lượng một       trứng trên 1 đĩa petri Nếu số lượng trứng không đủ thì ta cắt ở đĩa của ngày       hôm sau cho đến khi đủ số trứng ta cần. 

­ Xếp đĩa petri đựng trứng thành từng chồng rồi cho vào hộp nhựa       (14 x 22cm, cao 7cm) Hộp nhựa đã được tạo độ ẩm bằng cách cho một lớp       nước mỏng ở dưới, đảm bảo cho độ ẩm 70­75% Đặt hộp nhựa vào tủ định       

ôn có ánh sáng mờ. 

­ Tiến hành theo dõi hằng ngày, khi trứng chuyển vàng sắp nở thì ta       cho vào một ít thức ăn, sau đó cứ 2­3 ngày ta tiến hành thay thức ăn một       lần để đảm bảo thức ăn không bị mốc. 

­ Các chỉ tiêu theo dõi: 

Trang 27

+ Thời gian phát dục: Là thời gian của từng giai đoạn của sâu non, nhộng,       trứng đến trưởng thành, thời gian sống của trưởng thành 

Pha nhộng: Tiếp tục theo dõi mỗi ngày một lần Ghi chép thời điểm       khi sâu non  tuổi cuối bắt đầu hóa nhộng và khi nhộng hóa trưởng thành. Vòng đời của mọt được tính từ khi trứng được đẻ ra đến khi mọt       trưởng thành đẻ quả trứng đầu tiên. 

Thí nghiệm với các pha phát dục được tiến hành ở 5 ngưỡng nhiệt đội       

là 22,5   0 C, 25   0 C, 27,5   0 C, 30   0 C, 32,5   0 C Với mỗi pha phát dục tiến hành       quan sát 30 cá thể Sau khi thu hoạch kết quả, so sánh thời gian phát dục       các pha và vòng đời của mọt với 5 ngưỡng nhiệt độ đó Mỗi công thức nhắc       lại 3 lần 

Thời gian phát dục trung bình của từng giai đoạn được tính theo công       thức sau:  

 Trong đó: X i : Thời gian phát dục của cá thể thứ i 

Trang 28

­ Khởi điểm phát dục (t 0 ) = ­b/a 

­ Tổng tích ôn hữu hiệu (DD) = 1/a   

3.6.Phương pháp xử lý số liệu 

­ Các số liệu được tính trung bình bằng phần mềm Microsoft Excel       

2010 và so sánh phương sai một nhân tố (One way ANOVA) bằng phần       mềm Statistix 9.0. 

 

 

Trang 29

 4.1 Thành phần và mức độ phổ biến của mọt gây hại trên nguyên liệu       

thức ăn chăn nuôi nhập khẩu 

4.1.1 Thành phần và mức độ phổ biến của mọt gây hại trên nguyên liệu      

thức ăn chăn nuôi nhập khẩu qua cảng Quy Nhơn  

Nguyên liệu làm thức ăn chăn nuôi được nhập khẩu từ các nước về       

cửa khẩu cảng Quy Nhơn chủ yếu là các loại như bột bã ngô; ngô hạt từ       

Mỹ; Bã đậu nành từ Trung Quốc, Mehico; cám gạo chiết ly; khô hạt cải từ       

ấn Độ; Cám mì từ Indonesia, Pakistan, lúa mì Uruguay, Úc; bột quả Minh       

Rhizopertha domonica   (Fabricius)  Mọt đục thân nhỏ  ++ 

Dinoderus minutus  (Fabricius)  Mọt đục tre  + 

Cryptolestes minutus  (Olivier)  Mọt râu dài  +++ 

Trang 32

30  Liposcelis  sp.  Rận sách  +++ 

Ghi chú:­: Không xuất hiện mọt.  + (1%­25%): Ít phổ         biến 

++ (>25%­50%): Phổ biến, thường gặp   +++ (> 50%): Rất phổ biến 

Bảng 4.1 cho thấy thành phần côn trùng kho hại nguyên liệu làm       thức ăn chăn nuôi qua cửa khẩu cảng Quy Nhơn gồm 30 loài nằm trong 17       

họ thuộc 3 bộ Trong đó, các loài rất phổ biến gồm:  Lasioderma serricorne    

(F . )  ;Cryptolestes minutus (O.) ; Sitophilus oryzae  (L.);  Sitophilus zeamay      

(M.);  Cryptophilus integer  (H.);  Ahasverus advena  (W.);  Tribolium       castaneum  (H.);  Plodia interpunctella  (H.); Liposcelis sp  Các loài phổ biến              

gồm: Rhizopertha domonia  (F.);  Cryptolestes ferugineus (S.);  Carpophilus       dimidiatus  (F.);  Oryzaephilus surinamensis  (L.);  Alphitobius diaperinus      

(P.);  Alphitobius laevigatus  (F.);  Sitotroga cerealella  (O.) Các loài ít phổ              

biến gồm:  Araecerus fasciculatus (D.); Dinoderus minutus (F.); Carcinop       pumilio (E.); Lathridius minutus (L.);  Typhae stercorea (L.);  Carpophilus       hemipterus (L.);  Palorus subdepressus (W.);  Corcyra cephalonica (S.) Các          

loài ít gặp gồm:  Trogoderma glabrum (H.);  Trogoderma sp.;  Latheticus     oryzea (W.);  Mesomorphus villiger  (B.);  Tenebroides mauritanicus;         Ephestia cautella  (W.).  

Tuy nhiên trong quá trình kiểm tra, lấy mẫu, chúng tôi nhận thấy 3       loại nguyên liệu là bã ngô Mỹ, cám gạo Ấn độ, khô dầu đậu tương Trung       Quốc được nhập nhiều và số lượng côn trùng theo 3 loại hàng này về cảng       Quy Nhơn cũng khá phong phú về số lượng loài (độ đa dạng), mật độ cá       thề trong từng loài cao (độ nhiều) và tỷ lệ % số lần bắt gặp một loài trong       

số lần kiểm tra lấy mẫu khá cao (độ thường gặp), vì vậy chúng tôi đã tiến       hành điều tra thành phần côn trùng gây hại trên 3 loại hàng đó. 

4.4.2.Thành phần thiên địch của mọt hại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi

nhập khẩu. 

Trong quá trình điều tra, chúng tôi nhận thấy bên cạnh những loài       côn trùng gây hại thì trong kho còn xuất hiện một số loài thiên địch Hoạt       động của các loài thiên địch là phần quan trọng trong mối quan hệ cạnh       tranh khác loài và có đóng góp trong việc điều chỉnh số lượng quần thể của       nhiều loài sâu mọt gây hại trong kho Trong quá trình điều tra, chúng tôi       

Trang 33

xác định được một số loài côn trùng là thiên địch của sâu mọt hại nguyên       

  Bộ Coleoptera  Bộ cánh cứng     

Anthicus floralis  Linnaeus  Cánh cứng bắt mồi  Anthicidae  + 

Anotylus  spp.  Cánh cứng bắt mồi  Staphalinidae  + 

Trang 34

++ (>25%­50%): phổ biến, thường gặp  +++ (> 50%): rất phổ biến 

Từ Bảng 4.2 chúng tôi nhận thấy: 

Có 8 loài côn trùng và nhện bắt mồi trong nguyên liệu thức ăn chăn       nuôi ở Trong đó có 6 loài côn trùng và 2 loài nhện bắt mồi Điều làm       chúng tôi quan tâm nhiều đó là ở những kho nguyên liệu thức ăn chăn nuôi       

có mật độ  Lasioderma serricorne F càng cao thì số lượng côn trùng ăn thịt        

Thaneroclerus buqueti L càng nhiều và để hiểu rõ chúng tôi muốn tiếp tục        nghiên cứu loài này trong những năm tiếp theo. 

4.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến một số đặc điểm sinh học của mọt       thuốc lá L.serricorne  

4.2.1  Thời gian phát dục của mọt thuốc lá L.serricorne ở các điều kiện       nhiệt độ khác nhau 

 Côn trùng là động vật biến nhiệt nên nhiệt độ cơ thể của chúng phụ       thuộc chặt chẽ vào điều kiện nhiệt độ môi trường Điều này có ý nghĩa       nhiệt độ môi trường quyết định chiều hướng và mức độ hoạt động sống của       côn trùng Mọt thuốc lá L.serricorre cũng không ngoại lệ, nếu điều kiện       nhiệt độ thích hợp thì thời gian phát dục và vòng đời của mọt ngắn lại, tỷ lệ       sống cao và hệ số nhân quần thể tăng Khi nuôi trên một loại thức ăn giống       nhau ở các điều kiện nhiệt độ khác nhau thì thời gian phát dục của mọt sẽ       khác nhau Vì vậy, qua việc nghiên cứu thời gian phát dục cũng như vòng       đời của chúng trên các mức nhiệt độ khác nhau sẽ biết được nhiệt độ thích       hợp cho mọt phù hợp cho công tác phòng trừ, hạn chế được sự gây hại của       mọt Kết quả nghiên cứ ảnh hưởng của nhiệt độ đến thời gian phát dục của       mọt được thể hiện qua Bảng 4.3. 

Bảng 4.3 Thời gian phát dục của mọt thuốc lá L serricorne ở các       điều kiện nhiệt độ khác nhau 

Trang 35

Tuổi 1  10,19 a ±08  7,43 b ±0,09  5,66 c ±0,03  5,06 d ±0,13  3,74 e ±0,1  0,29 

ở nhiệt độ 27,5       0 C là ( 7,12 ngày), ở nhiệt độ 25       0 C là (8,42 ngày) và ở nhiệt       

độ 22,5 0 C là (11,19 ngày) 

Giai đoạn mọt non trải qua 4 tuổi, Khi nuôi ở các điều kiện nhiệt độ       khác nhau thì thời gian trải qua mỗi giai đoạn phát dục là không giống       nhau, Thời gian phát dục của mọt ở tuổi 1 khi nuôi ở nhiệt độ 32,5       0 C là   ngắn nhất (3,74 ngày), dài hơn ở các mức 30       0 C (5,06 ngày), 27,5       0 C (5,66   ngày), 25   0 C (7,43 ngày) và dài nhất khi nuôi ở nhiệt độ 22,5 (10,19 ngày),       

Giữa các mức nhiệt độ có sự sai khác rất ý nghĩa về mặt thống kê ( P  <        

0,05), Không chỉ có tuổi 1 mà ở giai đoạn phát dục của tuổi 2 và 3 cũng có       

sự khác biệt ở các mức nhiệt độ khác nhau, trong đó thời gian phát dục ở       điều kiện nhiệt độ 32,5         0 C là ngắn hơn và sai khác có ý nghĩa so với 4 nhiệt       

độ 30   0 C, 27,5   0 C, 25   0 C và 22,5     0 C, Bước sang tuổi 4, là giai đoạn mọt ăn       

Ngày đăng: 01/06/2016, 15:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1.  Tình hình nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trong 11 - Điều tra thành phần mọt hại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu qua cảng Quy Nhơn và nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của loài mọt thuốc lá   Lasioderma serricorme   Fabricius
Bảng 2.1.  Tình hình nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trong 11 (Trang 12)
Bảng 4.2. Thành phần thiên địch của mọt hại nguyên liệu thức ăn chăn - Điều tra thành phần mọt hại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu qua cảng Quy Nhơn và nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của loài mọt thuốc lá   Lasioderma serricorme   Fabricius
Bảng 4.2. Thành phần thiên địch của mọt hại nguyên liệu thức ăn chăn (Trang 33)
Bảng 4.3. Thời gian phát dục của mọt thuốc lá L. serricorne ở các                             điều kiện nhiệt độ khác nhau - Điều tra thành phần mọt hại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu qua cảng Quy Nhơn và nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của loài mọt thuốc lá   Lasioderma serricorme   Fabricius
Bảng 4.3. Thời gian phát dục của mọt thuốc lá L. serricorne ở các                             điều kiện nhiệt độ khác nhau (Trang 34)
1. HÌNH ẢNH MỘT SỐ MỌT HẠI NGUYÊN LIỆU THỨC ĂN                     CHĂN NUÔI NHẬP KHẨU TẠI CẢNG QUY NHƠN - Điều tra thành phần mọt hại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu qua cảng Quy Nhơn và nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của loài mọt thuốc lá   Lasioderma serricorme   Fabricius
1. HÌNH ẢNH MỘT SỐ MỌT HẠI NGUYÊN LIỆU THỨC ĂN                     CHĂN NUÔI NHẬP KHẨU TẠI CẢNG QUY NHƠN (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm