1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

hoàn thiện chính sách tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH Minh Hoàng

100 181 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các mặt hàng về sản phẩm đá Granite, Basalt và các loại đá tự nhiên khác cũng là một trong những tâm điểm của lĩnh vực này.Để hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả thì các doanh ngh

Trang 1

Nền kinh tế nước ta đã và đang phát triển trên rất nhiều lĩnh vực, đáng kể đến đó là các ngành nghề sản xuất chế biến các mặt hàng xuất khẩu Chỉ số xuất siêu của nước ta ngày càng được gia tăng nhanh chóng Các mặt hàng về sản phẩm đá Granite, Basalt và các loại đá tự nhiên khác cũng là một trong những tâm điểm của lĩnh vực này.

Để hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả thì các doanh nghiệp cần phải luôn phấn đấu để nâng cao chất lượng sản phẩm, luôn đẩy mạnh công tác xuất khẩu, tìm kiếm thị trường mới… Đồng thời, sự cạnh tranh giữa các công ty, các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và khốc liệt Các doanh nghiệp luôn cố gắng, nỗ lực tìm cho mình một vị thế, chỗ đứng trên thị trường, liên tục mở rộng thị phần sản phẩm, nâng cao uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng, có như vậy mới tồn tại và phát triển được

Trong bối cảnh đó, công ty TNHH Minh Hoàng cũng gặp rất nhiều khó khăn để có thể tồn tại và phát triển Tuy hàng năm doanh thu của công ty vẫn tăng với tỷ lệ khá nhưng vẫn còn một số hạn chế trong việc tiêu thụ sản phẩm Đây là khâu cuối cùng của chu kỳ sản xuất kinh doanh và là khâu giúp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty, giúp Công ty có thể tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường

Nhận thấy tầm quan trọng đặc biệt của hoạt động tiêu thụ sản phẩm, kết hợp với việc phân tích đánh giá hoạt động sản suất của Công ty và những kiến

thức đã được tích lũy trong quá trình học tập, em đã chọn đề tài “Hoàn thiện

Trang 2

chính sách tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH Minh Hoàng” làm đồ án tốt nghiệp.

Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Phân tích chính sách tiêu thụ sản phẩm của Công ty TNHH Minh Hoàng

Đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách tiêu thụ sản phẩm của Công ty TNHH Minh Hoàng

Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp so sánh, thống kê, phân tích cụ thể để tìm hiểu thực tế, phát hiện những mặt còn tồn tại trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm ở Công ty TNHH Minh Hoàng, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện

Nội dung đề tài gồm có 3 phần:

Phần I: Cơ sở lý thuyết về tiêu thụ sản phẩm.

Phần II: Thực trạng chính sách tiêu thụ sản phẩm tại Công ty.

Phần III: Giải pháp hoàn thiện chính sách tiêu thụ sản phẩm.

Trong quá trình thực tập tại Công ty mặc dù bản thân em đã cố gắng nhiều, nhưng do kiến thức còn có hạn nên sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Mong được sự góp ý của thầy cô nhằm giúp em hoàn thiện bài làm của mình Em xin chân thành cảm ơn!

Qui Nhơn, tháng 4 năm 2014

SVTH

Nguyễn Thị Thu Xiêm

Trang 3

PHẦN I

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM

   1.1 Khái niệm, vai trò và ý nghĩa hoạt động tiêu thụ sản phẩm

1.1.1 Khái niệm tiêu thụ sản phẩm

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự mình quyết định ba vấn đề trung tâm cốt lõi trong hoạt động sản xuất kinh doanh đó là: sản xuất và kinh doanh cái gì? Sản xuất kinh doanh như thế nào? Và cho ai? Cho nên việc tiêu thụ sản phẩm hàng hóa là một vấn đề hết sức quan trọng Tiêu thụ sản phẩm

là hoạt động quyết định sự thành bại của một doanh nghiệp, để quá trình sản xuất diễn ra một cách liên tục thì các doanh nghiệp phải tiêu thụ được sản phẩm của mình đã sản xuất ra

Quản trị kinh doanh truyền thống: quan niệm tiêu thụ là hoạt động đi sau

sản xuất, chỉ được thực hiện khi đã sản xuất được sản phẩm Các doanh nghiệp quan niệm rằng mình “ bán những cái gì mà mình có” tức là hoạt động tiêu thụ chỉ được thực hiện sau khi đã sản xuất hoàn thành sản phẩm [1; 35]

Theo quan điểm hiện đại: thì tiêu thụ sản phẩm là một quá trình thực hiện

tổng thể các hoạt động có mối quan hệ lôgíc và chặt chẽ bởi một tập hợp các cá nhân, doanh nghiệp phụ thuộc lẫn nhau nhằm thực hiện quá trình chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì quan niệm về tiêu thụ sản phẩm cũng có những thay đổi để phù hợp với các nhân tố mới xuất hiện Doanh nghiệp không chỉ bán “cái mình có” mà còn phải bán ra những sản phẩm mà thị trường cần, điều này có nghĩa là hoạt động tiêu thụ không chỉ đơn thuần là hoạt động đi sau sản xuất nữa mà một số nội dung của tiêu thụ còn đi trước hoạt động sản xuất Trước khi sản xuất mặt hàng nào đó thì doanh nghiệp phải tiến hành công tác điều tra, nghiên cứu khả năng tiêu thụ của thị trường với sản phẩm đó, đây là cơ sở để doanh nghiệp lập

Trang 4

kế hoạch, chiến lược sản xuất kinh doanh Kế hoạch, chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả, khả thi hay không đều phụ thuộc vào tính đúng đắn, chính xác của việc điều tra nghiên cứu thị trường Đây là điều kiện quan trọng để doanh nghiêp có thể thực hiện quá trình sản xuất và tái sản xuất

có hiệu quả [1; 37]

Như vậy hoạt động tiêu thụ sản phẩm có vai trò rất quan trọng và nó quyết định hoạt động sản xuất của doanh nghiệp

1.1.2 Vai trò của hoạt động tiêu thụ sản phẩm

a Vai trò của hoạt động tiêu thụ sản phẩm đối với doanh nghiệp

Thứ nhất, tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò quan trọng trong việc tạo doanh thu, lợi nhuận cho doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện tăng thu nhập cải thiện đời sống người lao động, đồng thời tăng tích luỹ, thực hiện tái đầu tư nhằm tái sản xuất mở rộng

Thứ hai, tiêu thụ sản phẩm giúp cho sản phẩm của doanh nghiệp trở thành hàng hoá lưu thông trên thị trường, thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm Sản xuất sản phẩm là để bán Nếu sản phẩm của doanh nghiệp tạo ra cho vào nhập kho, bị tồn đọng, doanh nghiệp sẽ bị lâm vào tình trạng ứ đọng vốn, làm ăn thua lỗ Ngay cả khi doanh nghiệp tạo ra một sản phẩm tuyệt vời về mẫu

mã, chất lượng nhưng nó sẽ chẳng có tác dụng gì nếu không được lưu thông trên thị trường Tuy nhiên, với vai trò của tiêu thụ sản phẩm sẽ giúp cho doanh nghiệp đưa sản phẩm qua các kênh tiêu thụ, lưu thông trên thị trường và đến tay người tiêu dùng, tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp, tiến hành tái sản xuất mở rộng,

và phát triển doanh nghiệp Sản phẩm của doanh nghiệp sẽ cạnh tranh được với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, được người tiêu dùng chọn mua

Thứ ba, tiêu thụ sản phẩm gắn doanh nghiệp với môi trường ngành, môi trường quốc tế, tạo điều kiện cho doanh nghiệp củng cố và mở rộng thị trường

Để có thể tồn tại và phát triển được, doanh nghiệp cần sản xuất và tiêu thụ được

Trang 5

càng nhiều sản phẩm, không chỉ cho thị trường hiện tại, mà còn vươn ra cả các thị trường khác, đặc biệt là thị trường của đối thủ cạnh tranh, đồng thời tìm ra các thị trường mới để tiêu thụ sản phẩm Thị trường truyền thống của mỗi doanh nghiệp luôn là miếng mồi béo bở đối với các đối thủ cạnh tranh, do đó doanh nghiệp phải tìm mọi cách củng cố thị trường đó, kết hợp với xâm nhập, mở rộng

ra các thị trường mới

Thứ tư, tiêu thụ sản phẩm giúp cho nhà sản xuất, đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh của mình Đồng thời thông qua hoạt động tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp có thể tiến hành kiểm tra, kiểm soát các hoạt động tiêu thụ ở các kênh một cách thường xuyên, liên tục để kịp thời có sửa đổi nhằm thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm tốt hơn nữa

b Vai trò của hoạt động tiêu thụ sản phẩm đối với xã hội

Tiêu thụ sản phẩm thực hiện chức năng của doanh nghiệp với xã hội Hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp diễn ra thuận lợi, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tạo ra của cải vật chất cho xã hội, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, đào tạo đội ngũ lao động, nâng cao đời sống, thu nhập, góp phần ổn định xã hội Bởi vì: Các doanh nghiệp tồn tại trên thị trường không đơn độc, mà còn rất nhiều các mối quan hệ với các doanh nghiệp khác, nên mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều ảnh hưởng tới các doanh nghiệp khác và do đó cuối cùng là ảnh hưởng tới xã hội Nếu doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trôi chảy, làm ăn hiệu quả, doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng tới các nguồn lực đầu vào đòi hỏi doanh nghiệp phải mua của doanh nghiệp bạn, tạo ra một sự kích thích phát triển cho doanh nghiệp bạn, tạo hàng loạt các tác động dây chuyền liên tiếp nhau, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Nền kinh tế phát triển tạo điều kiện cải thiện đời sống của nhân dân, nâng cao dân trí

xã hội từ đó thúc đẩy xã hội phát triển

Trang 6

Tiêu thụ sản phẩm giúp cho doanh nghiệp trong việc cung cấp các sản phẩm hàng hoá dịch vụ cho xã hội, gắn sản xuất với tiêu dùng, đồng thời hướng dẫn, tư vấn tiêu dùng Doanh nghiệp sản xuất ra hàng hoá, dịch vụ, nhưng để đưa nó đến được với người tiêu dùng, với xã hội cần phải có hoạt động tiêu thụ sản phẩm Có hoạt động tiêu thụ sản phẩm thì người tiêu dùng, cũng như xã hội mới biết được vai trò, công dụng của hàng hoá dịch vụ đó.

Tiêu thụ sản phẩm có vai trò quan trọng trong việc cân đối giữa cung và cầu hàng hoá trên thị trường Tiêu thụ sản phẩm giúp cho cung và cầu sản phẩm hàng hoá dịch vụ cân bằng trên thị trường, tránh hiện tượng cung cầu chênh lệch nhau quá lớn gây bất ổn định thị trường cũng như xã hội

Như vậy, tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò to lớn đối với doanh nghiệp và xã hội, nên đòi hỏi doanh nghiệp phải làm sao để phát huy những ảnh hưởng to lớn

đó một cách tích cực với bản thân doanh nghiệp cũng như xã hội

1.1.3 Ý nghĩa của hoạt động tiêu thụ sản phẩm

Tiêu thụ sản phẩm hàng hóa là hoạt động thực tiễn sản phẩm được vận động từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng Đặc điểm lớn nhất của sản phẩm ở mỗi doanh nghiệp là nó được sản xuất ra và đem đi bán nhằm thực hiện các mục tiêu hiệu quả đã định trước, đó là:

Mục tiêu lợi nhuận: Lợi nhuận là mục đích của hoạt động sản xuất kinh

doanh của mọi doanh nghiệp hạch toán kinh doanh Nó là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh

Σ lợi nhuận = Σ doanh thu - Σ chi phí

Mục tiêu vị thế của doanh nghiệp: Vị thế doanh nghiệp biểu hiện ở phần

trăm doanh số hoặc số lượng hàng hóa được bán ra so với toàn bộ thị trường Tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa quyết định đến vị thế của doanh nghiệp trên thị trường Tiêu thụ mạnh làm tăng vị thế của doanh nghiệp trên thị trường

Mục tiêu an toàn: Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Sản

phẩm được sản xuất ra để bán trên thị trường và thu hồi vốn để tái sản xuất, quá

Trang 7

trình này phải được diễn ra liên tục, có hiệu quả nhằm đảm bảo sự an toàn cho doanh nghiệp.

Đảm bảo tái sản xuất liên tục: Tiêu thụ là một bộ phận hữu cơ của quá

trình tái sản xuất Do đó, nó có ý nghĩa quan trọng đảm bảo quá trình tái sản xuất được diễn ra liên tục, trôi chảy

1.2 Nội dung hoạt động tiêu thụ sản phẩm

1.2.1 Nghiên cứu thị trường

Nghiên cứu thị trường là quá trình thu thập xử lý và phân tích số liệu về thị

trường một cách hệ thống làm cơ sở cho các quyết định quản trị Đó là một quá trình nhận thức có khoa học, có hệ thống, mọi nhân tố tác động đến thị trường

mà doanh nghiệp phải tính đến khi ra các quyết định kinh doanh, từ đó doanh nghiệp tiến hành các điều chỉnh cần thiết trong mối quan hệ với thị trường và tìm cách ảnh hưởng tới chúng

b Mục tiêu của nghiên cứu thị trường

Xác định thực trạng của thị trường theo các tiêu thức có thể lượng hóa được

Giải thích các ý kiến về cầu sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp cũng như những lý do mà người tiêu dùng mua hay không mua sản phẩm, lý do về tính trội hơn trong việc cung cấp sản phẩm trong cạnh tranh

Xác định khả năng thị trường của doanh nghiệp và cơ hội mở rộng thị phần, các cơ hội kinh doanh để đưa ra các quyết định kinh doanh hợp lý Tuỳ

Trang 8

thuộc vào kết quả của việc nghiên cứu, doanh nghiệp đưa ra các quyết định kinh doanh phù hợp như: duy trì lượng sản phẩm sản xuất, hay tăng cường; thâm nhập thị trường bằng sản phẩm mới hay rời bỏ thị trường Kết quả của việc nghiên cứu này sẽ làm cơ sở cho việc thực hiện các hoạt động kế tiếp một cách hợp lý.

c Nội dung nghiên cứu thị trường

 Nghiên cứu cầu về sản phẩm:

Người tiêu dùng là người trả lương cho doanh nghiệp, quyết định sự sống còn của doanh nghiệp Do đó một điều rất quan trọng mà doanh nghiệp phải làm đầu tiên là xác định chính xác nhu cầu sản phẩm của khách hàng

Trước khi đi vào nghiên cứu cầu chúng ta cần phân biệt giữa các khái niệm nhu cầu, mong muốn và cầu Cầu chính là các mong muốn có kèm theo điều kiện thanh toán, đây chính là trọng tâm nghiên cứu của doanh nghiệp

Nghiên cứu cầu về sản phẩm là việc thu thập, xử lí, phân tích, báo cáo các

số liệu về cầu của các đối tượng có cầu về sản phẩm trong hiện tại cũng như dự báo trong khoảng thời gian tương lai xác định nào đó

Để thuận tiện cho việc nghiên cứu cầu thì người ta thường chia ra thành hai loại: Cầu về sản phẩm hàng hoá và cầu về dịch vụ Đối với cầu về sản phẩm hàng hoá thì lại chia ra thành cầu về tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất Cầu về dịch vụ lại chia thành các loại dịch vụ khác nhau và để nghiên cứu cầu thì phải tiến hành thông qua đối tượng có cầu, đó có thể là cá nhân, các hộ gia đình, các doanh nghiệp hoặc các tổ chức xã hội

Do nhu cầu của con người là luôn thay đổi, nó đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải tìm ra các nhân tố ảnh hưởng tới cầu về sản phẩm như: giá cả, thu nhập, giá cả của hàng hoá thay thế, giá cả của hàng hoá bổ sung, thị hiếu Trong đó phải chú trọng vào yếu tố giá cả của sản phẩm và phản ứng của các đối thủ cạnh tranh đối với các chính sách tiêu thụ của doanh nghiệp

 Nghiên cứu cung về sản phẩm:

Trang 9

Nghiên cứu cung là việc nghiên cứu số lượng các đối thủ cạnh tranh, các nhân tố có ý nghĩa trong hoạt động của các đối thủ cạnh tranh Đặc biệt là nhân

tố giá cả, chất lượng sản phẩm Nghiên cứu cung cũng phải nghiên cứu phản ứng của doanh nghiệp cạnh tranh trước biện pháp đẩy nhanh tiêu thụ của doanh nghiệp Nghiên cứu cung không chỉ giới hạn trong các đối thủ hiện tại mà còn phải chú ý đến các đối thủ sẽ xuất hiện trong tương lai, các doanh nghiệp có sản phẩm thay thế thông qua hệ số co dãn chéo

 Nghiên cứu mạng lưới tiêu thụ:

Để tiêu thụ sản phẩm có hiệu quả, nhanh chóng thì doanh nghiệp phải nghiên cứu, tổ chức mạng lưới tiêu thụ cho phù hợp với đặc điểm của sản phẩm, phụ thuộc vào chiến lược kinh doanh, phụ thuộc vào chính sách cũng như kế hoạch tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp

Mạng lưới tiêu thụ của doanh nghiệp được cấu tạo bởi các kênh tiêu thụ hoặc là kênh phân phối: Đó là tập hợp các công ty tự đảm nhận hay giúp việc chuyển giao quyền sở hữu một sản phẩm cụ thể hoặc dịch vụ cho người khác trên con đường từ nhà sản xuất cho đến người tiêu dùng Nội dung của nghiên cứu kênh tiêu thụ là phải chỉ ra ưu nhược điểm của từng kênh và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của từng kênh, lượng hoá từng nhân tố đó

d Các phương pháp nghiên cứu

 Nghiên cứu chung

Nghiên cứu chung bao gồm hai phương pháp sau: nghiên cứu chi tiết thị trường và nghiên cứu tổng thể thị trường

 Nghiên cứu chi tiết thị trường: Là việc nghiên cứu cụ thể từng bộ phận được giới hạn bởi không gian và các tiêu thức khác nhau Nghiên cứu chi tiết giúp cho người làm marketing giải thích được cơ cấu thị trường tại một thời điểm nào đó và phục vụ cho việc xác định cầu có khả năng và có hiệu quả hay không cũng như vấn đề có ý nghĩa đối với việc tiêu thụ và mở rộng tiêu thụ

Trang 10

 Nghiên cứu tổng hợp thị trường: Hình thức nghiên cứu này theo dõi diễn biến phát triển và thay đổi của toàn bộ thị trường đối với mỗi loại sản phẩm cụ thể Hình thức này giúp cho người nghiên cứu thị trường thấy được cái nhìn toàn cục về thị trường và chỉ ra những nguyên nhân của những thay đổi đồng thời diễn ra trên thị trường.

 Nghiên cứu cụ thể

Nghiên cứu cụ thể có thể tiến hành theo hai hình thức sau:

 Nghiên cứu trực tiếp: Trực tiếp tiếp cận thị trường để nghiên cứu thông tin qua các hình thức: điều tra tại chỗ, phỏng vấn, quan sát… nghiên cứu trực tiếp tiến hành qua các bước sau:

+ Xác định đối tượng nghiên cứu, phương tiện nghiên cứu, mẫu nghiên cứu trên cơ sở mục đích, nhiệm vụ, ngân quỹ dành cho công tác nghiên cứu

+ Chuẩn bị phương tiện nghiên cứu, các bảng hỏi, phiếu điều tra thị trường + Chuẩn bị lực lượng hướng dẫn nghiệp vụ

+ Triển khai lực lương điều tra

+ Xử lý số liệu điều tra và đưa ra các kết luận về thị trường

Phương pháp nghiên cứu trực tiếp tốn kém mà lại không đưa ra được các kết luận đại diện cho thị trường Phương pháp này được sử dụng để bổ sung cho phương pháp gián tiếp

 Nghiên cứu gián tiếp: Việc nghiên cứu gián tiếp có thể dựa trên cơ sở các

dữ liệu do doanh nghiệp tạo ra như: Số liệu của kế toán tài chính, tính chi phí kinh doanh, thống kê tiêu thụ sản phẩm, thống kê kết quả quảng cáo, báo cáo của các bộ phận bán hàng, phục vụ khách hàng… bên cạnh đó còn sử dụng các

dữ liệu có ở bên ngoài doanh nghiệp như số liệu của các cơ quan thống kê, các

số liệu công bố trên báo chí, tạp chí cũng như số liệu công bố của các hiệp hội kinh tế, các cơ quan nghiên cứu thị trường…

e Quy trình nghiên cứu thị trường

Quy trình nghiên cứu thị trường có thể chia thành các bước sau:

- Bước 1: Xác định vấn đề cần nghiên cứu

- Bước 2: Xác định thông tin cần thiết

Trang 11

- Bước 3: Nhận dạng nguồn dữ liệu.

- Bước 4: Xác định kỹ thuật thu thập dữ liệu

- Bước 5: Thu thập dữ liệu

- Bước 6: Phân tích dữ liệu

- Bước 7: Viết báo cáo và trình bày kết quả nghiên cứu

1.2.2 Kế hoạch hóa khâu tiêu thụ

a Kế hoạch hóa bán hàng

Mục tiêu là nhằm xác định doanh thu bán hàng theo từng loại hàng hoá khác nhau trên từng thị trường cụ thể ở thời kỳ kế hoạch Đồng thời chỉ ra được một số chính sách, các biện pháp để đạt được mục tiêu đó

Cơ sở để xác định kế hoạch bán hàng:

+ Doanh thu bán hàng của các kỳ trước

+ Năng lực sản xuất của doanh nghiệp

+ Chi phí kinh doanh cho hoạt động tiêu thụ

+ Các kết quả nghiên cứu thị trường cụ thể cũng như nghiên cứu các dự báo

có liên quan

Giữa kế hoạch tiêu thụ và kế hoạch sản xuất có mối quan hệ biện chứng vì vậy khi xây dựng kế hoạch tiêu thụ cần phải xem xét kế hoạch sản xuất từ đó đưa ra các phương án thích hợp nhằm đạt kết quả cao nhất

Để đưa ra các chính sách, các giải pháp tiêu thụ cho kỳ kế hoạch, doanh nghiệp cần phải tiến hành phân tích, đánh giá chính xác các giải pháp đã áp dụng trong hoạt động tiêu thụ Trong hoạt động tiêu thụ thì chính sách và giải pháp mới phải luôn mang lại hiệu quả cao

b Kế hoạch hóa Marketing

Là quá trình phân tích, lập kế hoạch, thực hiện và kiểm tra chương trình Marketing đối với từng nhóm khách hàng cụ thể với mục tiêu tạo ra sự hòa hợp giữa kế hoạch hóa tiêu thụ với kế hoạch hóa các giải pháp cần thiết

Để kế hoạch hóa Marketing có hiệu quả khi xây dựng cần tuân thủ một số bước sau:

Trang 12

+ Phân tích thị trường và kế hoạch Marketing hiện tại của doanh nghiệp.

+ Phân tích cơ may và rủi ro

+ Xác định mục tiêu Marketing

+ Thiết lập các chính sách Marketing – mix

+ Đề ra chương trình hành động và dự toán ngân sách

Quảng cáo là một khâu quan trọng trong chiến lược Marketing của doanh nghiệp

Mục tiêu của quảng cáo là nhằm mở rộng việc tiêu thụ toàn bộ hoặc một

bộ phận sản phẩm của doanh nghiệp Để quảng cáo đạt được mục tiêu trên, doanh nghiệp phải xác định một số vấn đề như: Hình thức quảng cáo, nội dung quảng cáo, chi phí quảng cáo tức là phải lập kế hoạch quảng cáo cụ thể

Trên thực tế hoạt động quảng cáo không mang lại giá trị cho sản phẩm Do vậy, các doanh nghiệp phải đánh giá hiệu quả của quảng cáo để tránh những chi phí không cần thiết làm mất tác dụng của quảng cáo Thông thường hiệu quả của quảng cáo được đánh giá qua doanh thu của sản phẩm với chi phí cho quảng cáo Ngoài ra còn xem xét việc hoàn thành các mục tiêu đã đặt ra cho quảng cáo Việc xác định chi phí cho quảng cáo cũng là một vấn đề quan trọng trong kế hoạch hoá quảng cáo Thực tế chi phí quảng cáo thường được xác định theo một tỷ lệ cố định trên doanh thu của kỳ trước hoặc là theo các tỷ lệ cố định phụ thuộc vào tình trạng kinh doanh của doanh nghiệp hoặc là theo mục tiêu quảng cáo

c Kế hoạch hóa chi phí kinh doanh tiêu thụ sản phẩm

Chi phí kinh doanh tiêu thụ sản phẩm được hiểu là mọi chi phí về lao động

và những chi phí vật chất xuất hiện gắn liền với hoạt động tiêu thụ như bán hàng, quảng cáo, nghiên cứu thị trường, vận chuyển bao gói lưu kho quản lý tiêu thụ

Chi phí kinh doanh tiêu thụ được hiểu là một bộ phận quan trọng của tổng chi phí kinh doanh, chi phí này thường khó quản lý và kiểm soát Do đó, để

Trang 13

quản lý tốt loại chi phí này cần tính toán và phân bổ chi phí theo từng điểm chi phí Chẳng hạn việc hình thành các điểm chi phí theo nhiệm vụ như lưu kho, quảng cáo, bán hàng, vận chuyển sự phân chia điểm chi phí kinh doanh tiêu thụ càng khoa học, sát với thực tế bao nhiêu càng tạo điều kiện cho việc tính toán và xây dựng chi phí kinh doanh tiêu thụ bấy nhiêu.

1.2.3 Chính sách tiêu thụ

a Chính sách sản phẩm

Chính sách sản phẩm là phương thức kinh doanh hiệu quả, dựa trên cơ sở bảo đảm thoả mãn nhu cầu của thị trường và thị hiếu của khách hàng trong từng thời kỳ kinh doanh của doanh nghiệp

Chính sách sản phẩm hàng hóa có vai trò quan trọng, được coi là xương sống của chính sách tiêu thụ Trình độ sản xuất càng cao, cạnh tranh càng gay gắt thì vai trò của chính sách sản phẩm hàng hóa càng trở nên quan trọng Chính sách sản phẩm không những chỉ bảo đảm cho hoạt động sản xuất kinh doanh đúng hướng mà còn gắn bó chặt chẽ giữa các khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu của chính sách tiêu thụ sản phẩm

Nội dung của chính sách tiêu thụ sản phẩm:

+ Chính sách thiết lập chủng loại: Giữ vị trí vốn có của sản phẩm trên thị trường bằng việc bảo vệ uy tín mà doanh nghiệp đạt được Chính sách này đòi hỏi doanh nghiệp phải nhận thức được các sản phẩm hiện có tương ứng với khúc thị trường nào và sản phẩm có phù hợp với sự đòi hỏi của khúc thị trường đó hay không Nếu đáp ứng được thiết lập chủng loại đó, giữ vị trí vốn có của sản phẩm đó trên khúc thị trường hiện có mà không thay đổi bất kỳ yếu tố nào có liên quan đến sản phẩm

+ Chính sách hoàn thiện sản phẩm: Cải tiến các thông số của chất lượng sản phẩm theo định kỳ, chiến lược này được thực hiện theo các phương án sau:

Trang 14

- Cải tiến về chất lượng nhằm làm tăng độ tin cậy, độ bền và các tính năng khác của sản phẩm.

- Cải tiến kiểu dáng sản phẩm bằng cách thay đổi màu sắc, thiết kế bao bì, kết cấu của sản phẩm

- Cải tiến các tính năng của sản phẩm, bổ sung thêm tính năng sử dụng của sản phẩm

+ Chính sách phát triển sản phẩm mới: Phát triển sản phẩm mới ngày càng trở thành yêu cầu tất yếu khách quan trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp Yêu cầu phải nghiên cứu sản phẩm mới xuất phát từ sự phát triển của khoa học kĩ thuật và cạnh tranh trên thị trường có xu hướng ngã sang cạnh tranh về chất lượng và dịch vụ, đòi hỏi các doanh nghiệp phải cải tiến, hoàn thiện các sản phẩm hiện có thì mới giành được lợi thế trong cạnh tranh Mặt khác, mỗi loại sản phẩm có chu kì sống nhất định, khi sản phẩm cũ đã bước sang giai đoạn suy thoái thì doanh nghiệp phải có sản phẩm mới thay thế nhằm đảm bảo tính liên tục của quá trình sản xuất kinh doanh

b Chính sách giá

Chính sách giá là đưa ra các loại giá cho một loại sản phẩm hàng hóa, tương ứng với thị trường, tương ứng với từng thời kỳ để bán được nhiều nhất và lãi cao nhất

Mức giá doanh nghiệp đưa ra phải đảm bảo tối đa hóa lợi nhuận nhưng lại phù hợp với người tiêu dùng và người tiêu dùng chấp nhận được Mức giá đó sẽ thay đổi theo chu kỳ sống của sản phẩm, vì thế doanh nghiệp cần nhận thức một cách chính xác để có thay đổi hợp lí nhất Mặc dù trên thi trường hiện nay, cạnh tranh bằng giá đã nhường vị trí cho cạnh tranh bằng chất lượng và dịch vụ nhưng giá cả vẫn có vai trò quan trọng nhất định Giá cả vẫn còn quan trọng trong việc xác định lợi ích kinh tế giữa người bán và người mua Nếu chính sách sản phẩm định hướng cho việc sản xuất thì chính sách giá cả định hướng cho việc tiêu thụ

Trang 15

Chính sách giá có mối quan hệ mật thiết với chính sách sản phẩm hàng hóa Chính sách sản phẩm dù rất quan trọng và đã được xây dựng một cách chu đáo

sẽ không đem lại hiêụ quả cao nếu không có chính sách giá hoặc chính sách giá mang nhiều thiếu sót

Các doanh nghiệp mới thành lập hay thâm nhập thị trường mới thường áp dụng chiến lược giá cả để thu hút khách hàng về phía mình để chiếm lĩnh một phần thị trường Đối với thị trường Việt Nam, thu nhập dân cư còn thấp, yêu cầu

về chất lượng sản phẩm chưa cao thì cạnh tranh bằng chiến lược giá vẫn còn là

vũ khí lợi hại Tuy nhiên không nên quá lạm dụng vào việc cạnh tranh bằng giá

vì nó có thể phản tác dụng gây tổn hại cho doanh nghiệp

Giá của một sản phẩm là sự biểu hiện bằng tiền mà người bán dự định thu được từ người mua Việc xác định giá cả của một sản phẩm là rất khó khăn bởi

vì nó gặp mâu thuẫn lợi ích giữa người mua và người bán, người mua muốn mua được nhiều hàng hoá hơn với chất lượng cao hơn nhưng chỉ phải trả ít tiền hơn còn người bán thì ngược lại, họ lại muốn thu được nhiều tiền hơn với cùng một đơn vị hàng hóa Để dung hoà được lợi ích giữa người mua và người bán thì doanh nghiệp cần phải xác định xem mức giá như thế nào là hợp lí Một mức giá hợp lí sẽ thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp

Việc xác định giá thì có rất nhiều phương pháp nhưng thông thường người

ta hay sử dụng các phương pháp sau:

+ Phương pháp định giá dựa vào chi phí:

Giá bán = Giá thành + % lãi/giá thành+ Phương pháp định giá dựa vào chi phí biến đổi bình quân:

Giá bán ≥ AVCmin+ chi phí vận chuyển/sản phẩmTrong đó: AVCmin là chi phí biến đổi/sản phẩm

+ Phương pháp định giá dựa vào phân tích hòa vốn: giá bán ≥ giá hòa vốn

Trang 16

+ Phương pháp định giá dựa vào người mua: Doanh nghiệp phân chia người mua ra thành các nhóm khác nhau theo một tiêu chí nào đó và định giá cho từng nhóm.

+ Phương pháp định giá dựa vào giá của đối thủ cạnh tranh

 Các doanh nghiệp thường có các chính sách giá sau:

+ Chính sách giá đối với sản phẩm đang tiêu thụ trên thị trường hiện có và thị trường mới

+ Chính sách giá đối với sản phẩm mới, sản phẩm đã cải tiến và hoàn thiện trên thị trường hiện tại và thị trường mới

+ Chính sách giá đối với sản phẩm tương tự

+ Chính sách giá đối với sản phẩm mới hoàn toàn

 Chính sách giá cả ở các thị trường khác nhau có thể khac nhau:

+ Chính sách giá cả ở thị trường cạnh tranh, độc quyền

+ Chính sách giá cả đối với sản phẩm mới, thị trường mới

+ Chính sách giá cả đối với doanh nghiệp đa sản xuất

c Chính sách phân phối

Phân phối sản phẩm của các doanh nghiệp được coi là hoạt động quan trọng bao trùm lên các quá trình kinh tế, các điều kiện tổ chức có liên quan đến dòng sản phẩm của doanh nghiệp từ người sản xuất đến người tiêu dùng Dựa vào những nét đặc trưng của sản phẩm và của thị trường tiêu thụ, doanh nghiệp xây dựng cho mình mạng lưới phân phối và lựa chọn phương thức phân phối phù hợp với đặc những điểm riêng Để chính sách phân phối có hiệu quả thì trước tiên doanh nghiệp phải xác định xem sản phẩm của doanh nghiệp được đưa tới tay người tiêu dùng theo phương thức nào là hợp lý nhất

Phương thức phân phối rộng khắp là phương thức sử dụng tất cả các kênh

phân phối để vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất tới tay người tiêu dùng

Phương thức phân phối độc quyền là việc sử dụng một loại phân phối duy

nhất trên một thị trường nhất định

Phương thức phân phối có chọn lọc là chọn một số sản phẩm tới tận tay

người tiêu dùng Mạng lưới tiêu thụ của doanh nghiệp được thành lập từ một tập hợp các kênh phân phối với mục đích tiêu thụ sản phẩm

Trang 17

Tuỳ thuộc vào sự tham gia của các trung gian Marketing mà người ta chia thành kênh phân phối trực tiếp hay kênh phân phối gián tiếp.

 Kênh phân phối trực tiếp

Kênh phân phối trực tiếp là hình thức tiêu thụ mà ở đó doanh nghiệp bán thẳng sản phẩm của mình cho người tiêu dùng cuối cùng không qua các khâu trung gian hoặc thông qua các tổ chức đại lý môi giới Theo hình thức này các doanh nghiệp công nghiệp trực tiếp chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm tới tay người tiêu dùng, thực hiện tiêu thụ theo kênh này cho phép doanh nghiệp thường xuyên tiếp xúc với khách hàng và thị trường, nên biết rõ nhu cầu thị trường, mong muốn của khách hàng và doanh nghiệp thu được những thông tin phản hồi

từ phía khách hàng từ đó doanh nghiệp đề ra các chính sách hợp lý Tuy nhiên theo phương thức này tốc độ chu chuyển vốn chậm vì phân phối nhỏ lẻ

Hình 1.1: Kênh tiêu thụ trực tiếp

Nguồn: Phòng kế hoạch – kĩ thuật.

 Kênh phân phối gián tiếp

Là hình thức tiêu thụ mà ở đó doanh nhiệp công nghiệp bán sản phẩm của mình cho người tiêu dùng cuối cùng thông qua một số trung gian marketing, ở hình thức này quyền sở hữu sản phẩm được chuyển qua các khâu trung gian từ

đó các khâu trung gian chuyển cho khách hàng, tức là việc thực hiện mua đứt bán đoạn, có ưu điểm là thu hồi vốn nhanh, tiết kiệm chi phí quản lý, thời gian tiêu thụ ngắn, tuy nhiên nó có nhược điểm là làm tăng chi phí bán hàng, tiêu thụ

và khó kiểm soát được các khâu trung gian

Hình 1.2: Kênh tiêu thụ gián tiếp

Người tiêu dùngNhà SX

Nhà

sản

Người tiêu Người bán

Trang 18

Nguồn: Phòng kế hoạch – kĩ thuật.

Do sự phụ thuộc và độc lập tương đối giữa các thành viên trong kênh nên thường xảy ra mâu thuẫn và xung đột trong kênh Để tổ chức và quản lý kênh có hiệu quả doanh nghiệp phải định rõ vai trò, vị trí, nhiệm vụ của các thành viên dựa trên năng lực của họ, từ đó chọn cách tổ chức kênh theo hệ thống marketing

d Chính sách xúc tiến hỗn hợp

Đây là một trong 4 nhóm công cụ chủ yếu của marketing-mix mà doanh nghiệp có thể sử dụng để tác động vào thị trường mục tiêu nhằm đạt mục tiêu kinh doanh của doanh ngiệp Bản chất của các hoạt động xúc tiến chính là tuyên truyền thông tin về sản phẩm của doanh nghiệp tới khách hàng để thuyết phục

họ mua, vì vậy có thể gọi đây là các hoạt động truyền thông marketing Hoạt động xúc tiến bán hàng gồm 5 công cụ chủ yếu:

 Quảng cáo: Thực chất của quảng cáo là thông tin đến công chúng, người

tiêu dùng về sản phẩm và doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm đó Mục tiêu của quảng cáo là đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ cũng như làm tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, lôi kéo ngày càng nhiều khách hàng về phía doanh

Người bán buôn

lẻ

Người bán buôn

Người bán lẻ

Trang 19

nghiệp, tạo lập uy tín cho doanh nghiệp Quảng cáo nhằm giới thiệu những sản phẩm mới hoặc những sản phẩm được cải tiến cho khách hàng, làm cho khách hàng biết được những điểm khác biệt tốt hơn của doanh nghiệp, góp phần tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ Hiện nay các doanh nghiệp thường sử dụng những phương tiện quảng cáo bên trong mạng lưới kinh doanh và những phương tiện quảng cáo bên ngoài mạng lưới kinh doanh thương mại

Những phương tiện quảng cáo bên trong mạng lưới kinh doanh bao gồm:

+ Biển đề tên cơ sở kinh doanh

+ Tủ kính quảng cáo

+ Quảng cáo qua người bán hàng

+ Quảng cáo trên bao bì hàng hoá

Bên cạnh các phương tiện quảng cáo bên trong mạng lưới kinh doanh, hệ thống phương tiện quảng cáo bên ngoài mạng lưới cũng đóng một vai trò quan trọng Hệ thống phương tiện quảng cáo bên ngoài mạng lưới kinh doanh thương mại bao gồm:

+ Quảng cáo bằng Pano, áp phích

+ Quảng cáo qua bưu điện

 Quảng cáo có 3 nhóm mục tiêu:

+ Mục tiêu thông tin

+ Quảng cáo nhằm để thuyết phục

+ Quảng cáo nhằm để nhắc nhở

Trang 20

 Marketing trực tiếp: Trong marketing trực tiếp, người ta sử dụng thư, điện

thoại và những công cụ liên lạc gián tiếp khác để thông tin một cách trực tiếp cho khách hàng hoặc yêu cầu họ có phản ứng đáp lại tại bất kỳ một địa điểm nào

 Những công cụ trực tiếp của marketing trực tiếp:

+ Marketing bằng catalogue

+ Marketing bằng thư trực tiếp

+ Marketing qua điện thoại

+ Thương mại điện tử

+ Marketing trực tiếp tổng hợp

 Khuyến mãi: Là hành vi của doanh nghiệp nhằm xúc tiến việc bán hàng, cung

ứng dịch vụ trong phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp bằng cách dành những lợi ích nhất định cho khách hàng

 Khuyến mãi được thực hiện dưới những hình thức:

−Thi cá cược trò chơi

−Phần thưởng cho các khách hàng thường xuyên

+ Thêm hàng hoá cho khách mua hàng với lượng hàng hoá nhất định

Khi tổ chức thực hiện một chương trình khuyến mãi, cần tổ chức theo các nội dung chủ yếu sau:

Trang 21

+ Xác định mục tiêu của đợt khuyến mại.

+ Xác định ngân sách cho khuyến mãi

+ Lựa chọn công cụ khuyến mãi

+ Xây dựng chương trình khuyến mãi

+ Tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá kết quả khuyến mãi

 Mở rộng quan hệ với quần chúng và tuyên truyền: Là một công cụ

marketing quan trọng khác nữa Công ty không những phải có quan hệ tốt với khách hàng, người cung ứng các đại lý của mình, mà còn phải có quan hệ đông đảo với quần chúng có quan tâm

Công chúng là nhóm người có quan tâm hay ảnh hưởng thực tế hay tiềm

ẩn đến khả năng công ty đạt được những mục tiêu của mình

Mở rộng quan hệ với công chúng bằng nhiều hoạt động khác nhau

 Bán hàng trực tiếp: Là hành vi thương mại của doanh nghiệp, là sự giao

tiếp trực tiếp giữa người bán hàng với khách hàng tiềm năng Trong đó, người bán hàng có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu cho người mua và nhận tiền Doanh nghiệp thương mại sử dụng nhiều hình thức bán hàng khác nhau: Bán hàng theo nhóm khách hàng trọng điểm; bán hàng trao tay; bán hàng qua điện thoại; bán hàng qua Internet; bán hàng qua siêu thị… Dù bán hàng theo hình thức nào đi nữa quan hệ giữa người bán và khách hàng là không thể thiếu được.Người bán hàng dù ở cương vị nào cũng phải hoàn thành tốt nhiệm vụ của một nhân viên bán hàng vì:

+ Nhân viên bán hàng là cầu nối trực tiếp công ty với khách hàng

+ Nhân viên bán hàng có nhiệm vụ cung cấp cho công chúng những thông tin cần thiết về sản phẩm cũng như về doanh nghiệp cho khách hàng

+ Nhân viên bán hàng phải có đủ năng lực, hiểu biết về nghệ thuật bán hàng như giao tiếp, bày bán sản phẩm, giới thiệu, giải đáp thắc mắc cho khách hàng

Vì vậy, tổ chức, tuyển chọn, đào tạo, quản lý, động viên lực lượng bán hàng là một công việc mà công ty phải dành một sự quan tâm thoả đáng

Bán hàng trực tiếp là một hoạt động trung gian, nó nằm trong khâu lưu

Trang 22

thông phân phối của quá trình tái sản xuất sản phẩm, nó là hoạt động quan trọng trong xúc tiến bán hàng, nó là hình thức giao tiếp mang tính chọn lọc cao Hoạt động bán hàng trực tiếp thúc đẩy sự tương tác giữa người bán và người mua để dẫn tới một giải pháp có hiệu quả và tiết kiệm thời gian cho cả người mua và người bán Để chiến thắng trong cạnh tranh thì mỗi doanh nghiệp cần phải thu thập thông tin phản hồi chính xác và nhanh chóng từ phía thị trường

và người tiêu dùng

1.2.4 Tổ chức hoạt động tiêu thụ và sau tiêu thụ

a Xác định hệ thống kênh phân phối

Tổ chức hệ thống kênh phân phối phù hợp có tác dụng thúc đẩy hoạt động tiêu thụ trong doanh nghiệp công nghiệp Trước tiên phải xác định tính chất của từng loại sản phẩm mà doanh nghiệp chuẩn bị sản xuất hoặc đang sản xuất, phải xác định xem nó là hàng hoá tiêu dùng hay hàng hoá tư liệu sản xuất hoặc hàng hoá xa xỉ, nếu là hàng hoá tiêu dùng thì doanh nghiệp nên chọn kênh phân phối gián tiếp, trao quyền cho các nhà phân phối công nghiệp Với hàng hoá là tư liệu sản xuất và hàng hoá xa xỉ thì các doanh nghiệp thường tổ chức kênh phân phối trực tiếp, nhằm tiếp xúc trực tiếp với khách hàng để giới thiệu sản phẩm và thu nhập thông tin về phía cầu

Sau khi thiết lập được hệ thống kênh phân phối, doanh nhiệp phải thực hiện các biện pháp thích hợp nhằm duy trì và phát huy tác dụng của kênh để mang lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp Vấn đề cốt lõi là việc giải quyết các mâu thuẫn và xung đột trong kênh như thế nào để vừa bảo toàn, duy trì được kênh vừa giải quyết thoả đáng lợi ích của mỗi thành viên Do vậy doanh nghiệp phải

có chế độ khuyến khích và xử phạt hợp lý để hoà hợp lợi ích giữa doanh nghiệp với các thành viên và lợi ích giữa các thành viên với nhau từ đó tạo ra sự bền vững, lòng trung thành của các thành viên trong kênh với doanh nghiệp

b Tổ chức hoạt động bán hàng

Để tổ chức hoạt động bán hàng tốt cần xác định số trang thiết bị bán hàng

Trang 23

cần thiết, số lượng nhân viên phục vụ cho công tác bán hàng, do đặc điểm của công tác bán hàng là hoạt động giao tiếp thường xuyên với khách hàng nên việc lựa chọn nhân viên bán hàng là hoạt động quan trọng nhất Người bán hàng cần

có đầy đủ những điều kiện về phẩm chất kỹ năng cần thiết, nghệ thuật ứng xử đồng thời doanh nghiệp cần có chính sách về tiền lương, tiền thưởng và các chính sách khuyến khích thích hợp với nhân viên nhằm nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng Công việc bán không chỉ đòi hỏi có trình độ kỹ thuật và phải có tính nghệ thuật cao, phải bố trí sắp xếp trình bày hàng hoá kết hợp với trang thiết bị sao cho khách hàng dễ nhìn, dễ thấy phù hợp với từng nhóm khách hàng

c Tổ chức hoạt động dịch vụ sau bán hàng

Đây là hoạt động không thể thiếu nhằm duy trì, củng cố và mở rộng hoạt động tiêu thụ sản phẩm, thị trường của doanh nghiệp, nó bao gồm các hoạt động chính sau: Lắp đặt, hướng dẫn sử dụng, bảo hành cung cấp các dịch vụ thay thế phụ tùng, sửa chữa, cùng với việc duy trì mối quan hệ thông tin thường xuyên với khách hàng để thu nhập ý kiến phản hồi và sự thay đổi trong nhu cầu của khách hàng

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp

1.3.1 Các nhân tố chủ quan

a Chất lượng sản phẩm

Khi nói đến chất lượng sản phẩm hàng hóa là nói đến những đặc tính nội tại của sản phẩm được xác định bằng những thông số có thể đo được hoặc so sánh được, phù hợp với điều kiện hiện tại và thoả mãn được những nhu cầu hiện tại nhất định của xã hội

Người tiêu dùng khi mua hàng trước hết nghĩ tới khả năng hàng hóa thoả mãn nhu cầu của họ, tới chất lượng mà nó có Trong điều kiện hiện tại chất lượng là yếu tố quan trọng bậc nhất mà các doanh nghiệp lớn thường sử dụng trong cạnh tranh vì nó đem lại khả năng “chiến thắng vững chắc” Đây cũng là

Trang 24

con đường mà doanh nghiệp thu hút khách hàng và tạo dựng, giữ gìn chữ tín tốt nhất Bất kỳ một sản phẩm hàng hóa nào được chào bán trên thị trường đều chứa đựng một giá trị sử dụng nhất định, các sản phẩm đồng loại nhưng được sản xuất

từ các doanh nghiệp khác nhau sẽ có chất lượng khác nhau và sản phẩm của doanh nghiệp nào có chất lượng cao hơn sẽ thu hút được nhiều khách hàng về mình Khi khách hàng biết đến chất lượng sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp và tin vào chất lượng thì họ sẽ mua hàng của doanh nghiệp Điều đó cho thấy doanh nghiệp không chỉ bán được hàng, duy trì được thị trường truyền thống mà còn mở rộng được thị trường mới, củng cố thêm vị trí của doanh nghiệp trên thị trường Mục tiêu cao nhất của doanh nghiệp là mục tiêu lợi nhuận nhưng để đạt được lợi nhuận thì doanh nghiệp phải tiêu thụ được hàng hóa và thu tiền về tức là được khách hàng chấp nhận Muốn vậy ngoài yếu tố giá cả doanh nghiệp phải chú trọng tới yếu tố chất lượng, chính chất lượng sản phẩm có thể tạo nên vị thế vững chắc của sản phẩm trên thị trường Đồng thời chất lượng sẽ thu hút khách hàng lâu dài, bền vững và làm cho khách hàng trung thành với sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp

đó sẽ bán được nhiều hàng hóa, tăng doanh số bán hàng cho doanh nghiệp mình Hơn nữa giá cả phải được điều chỉnh linh hoạt trong từng giai đoạn kinh doanh, từng thời kỳ phát triển hay chu kỳ kinh doanh để nhằm thu hút khách hàng và kích thích sự tiêu dùng của họ, làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp

Trang 25

Giá cả ảnh hưởng mạnh tới hoạt động tiêu thụ do vậy nó cũng được sử dụng như một vũ khí trong cạnh tranh nhất là trong điều kiện thu nhập của người dân còn thấp Tuy nhiên trong cạnh tranh nếu lạm dụng vũ khí giá cả nhiều thì

có thể không những không thúc đẩy được tiêu thụ mà còn bị thiệt hại Do đó phải hết sức thận trọng trong việc cạnh tranh bằng giá, việc định hướng, xây dựng kế hoạch đúng đắn về giá cả là một điều kiện quan trọng cho việc tăng tốc

độ tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của các doanh nghiệp hiện nay

c Mạng lưới kênh phân phối

Tổ chức tốt kênh phân phối sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của các doanh nghiệp, kênh phân phối bao gồm mạng lưới bán buôn, bán lẻ, đại lý được tổ chức một cách hợp lý khoa học sẽ chiếm lĩnh được không gian thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng và kích thích hơn nữa nhu cầu của họ Doanh nghiệp thường sử dụng ba loại kênh tiêu thụ sau:

Kênh cực ngắn: Đây là kênh phân phối trực tiếp giữa doanh nghiệp và

người tiêu dùng không qua trung gian, doanh nghiệp tự tổ chức tiêu thụ qua các cửa hàng bán lẻ của mình

Kênh ngắn: Là kênh trong đó doanh nghiệp sử dụng một người trung gian

là người bán lẻ

Kênh dài: Là kênh có từ hai người trung gian trở lên trong phân phối.

Thiết lập mạng lưới kênh tiêu thụ cần căn cứ vào chiến lược tiêu thụ mà doanh nghiệp đang theo đuổi, vào nguồn lực của doanh nghiệp, vào đặc tính của khách hàng, thói quen tiêu dùng và các kênh của đối thủ cạnh tranh

Để làm tốt việc phân phối doanh nghiệp cần đảm bảo văn minh lịch sự, đúng hẹn trong giao dịch, tạo mọi điều kiện có lợi nhất cho khách hàng tới mua hàng Hơn nữa phải linh hoạt mềm dẻo trong phương thức thanh toán, giao nhận hàng hóa đảm bảo hai bên cùng có lợi tránh tình trạng gây khó khăn cho khách hàng

d Chính sách xúc tiến bán hàng

Trang 26

Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt hiện nay, một chính sách xúc tiến có hiệu quả sẽ có vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm hàng hóa Mục đích cuối cùng nhằm đem sản phẩm tới gần hơn với người tiêu dùng và kích thích nhu cầu của họ.

Hoạt động xúc tiến bán hàng gồm 5 công cụ chủ yếu: Quảng cáo bán hàng, marketing trực tiếp, khuyến mãi, quan hệ công chúng và bán hàng trực tuyến

f Công tác tổ chức tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ sau bán hàng

Công tác tổ chức tiêu thụ sản phẩm bao gồm hàng loạt các khâu khác nhau

từ việc tổ chức mạng lưới tiêu thụ đến hoạt động hỗ trợ và cuối cùng là việc khẩn trương thu hồi tiền bán hàng Nếu việc tổ chức tiêu thụ không được phối hợp nhịp nhàng, ăn ý thì sẽ ảnh hưởng không chỉ đến hoạt động tiêu thụ mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình kinh doanh của doanh nghiệp Nếu như tổ chức công tác tiêu thụ tốt, doanh nghiệp sẽ tiêu thụ được nhiều sản phẩm, doanh thu lớn tốc độ quay vòng vốn nhanh, giảm chi phí lưu thông Do vậy doanh nghiệp phải lựa chọn và tổ chức các kênh tiêu thụ cho hợp lý dựa trên các đặc thù của ngành, đặc tính của sản phẩm và qui mô sản xuất Bên cạnh đó doanh nghiệp phải tổ chức tốt công tác hỗ trợ như: Quảng cáo, khuyếch trương, yểm trợ bán hàng, các dịch vụ trước, trong và sau bán hàng để làm cho khách hàng thêm hiểu biết và gắn bó với doanh nghiệp hơn nữa

Ngoài ra những dịch vụ sau bán hàng cũng góp phần đảm bảo cho khách hàng khi mua sắm hàng hóa có niềm tin và yên tâm hơn khi quyết định tiêu dùng

Trang 27

sản phẩm của doanh nghiệp và do vậy hàng hóa bán sẽ ổn định và có thể nhiều hơn làm tăng việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp

 Chính trị - pháp luật

Đó là những yếu tố thuộc về nhà nước pháp luật cũng như chính sách khuyến khích hay hạn chế xuất nhập khẩu, các qui định về chống độc quyền, các chính sách về thuế, các luật về bảo vệ môi trường, các ưu đãi của chính phủ và các điều khoản luật pháp khác Đây cũng là những nhân tố có thể tạo ra những

cơ hội cũng như các nguy cơ đối với doanh nghiệp Những định hướng xã hội chủ nghĩa tạo ra hành lang pháp luật để các doanh nghiệp thực hiện kinh doanh

Do đó doanh nghiệp phải nghiên cứu pháp luật để đẩy mạnh tiêu thụ các sản phẩm được nhà nước khuyến khích

 Môi trường tự nhiên

Môi trường tự nhiên bao gồm hệ thống các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng nhiều mặt đến các nguồn lực đầu vào cần thiết cho các nhà sản xuất kinh doanh Tình trạng ô nhiễm môi trường, điều kiện khí hậu thời tiết, sự thiếu hụt nguồn nguyên liệu thô, sự gia tăng chi phí năng lượng đang ngày càng trở nên nghiêm

Trang 28

trọng Xu thế này buộc các nhà sản xuất phải tập trung nghiên cứu sử dụng các nguyên liệu mới thay thế cùng với việc áp dụng khoa học công nghệ hiện đại trong quá trình sản xuất nhằm bảo vệ môi trường vì lợi ích chung của toàn xã hội

 Công nghệ kỹ thuật

Môi trường công nghệ kỹ thuật bao gồm các nhân tố ảnh hưởng tác động đến công nghệ mới, sáng tạo sản phẩm và cơ hội thị trường mới Đây cũng là nhân tố quan trọng tạo ra những cơ hội cũng như các nguy cơ cho doanh nghiệp Những phát minh mới đã làm thay đổi những tập quán và tạo xu thế mới trong tiêu dùng, nhiều sản phẩm với những tính năng ưu việt thay thế các sản phẩm

cũ Công nghệ sản xuất sản phẩm càng hiện đại thì càng tiết kiệm được nhiều chi phí, nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm Bên cạnh sự phát triển như vũ bão của khoa học trên thế giới, đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng thu thập thông tin về khả năng ứng dụng các công nghệ mới vào sản xuất để nâng cao được khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, đồng thời thu được các khoản lợi nhuận mục tiêu

 Văn hóa xã hội

Các nhân tố này tác động mạnh đến qui mô, cơ cấu thị trường Một số nhân

tố này còn trở thành các tiêu thức quan trọng cho việc nghiên cứu phân đoạn thị trường Trong nhóm này gồm: Phong tục tập quán, phong tục sống, trình độ dân trí, cơ cấu giới tính, thu nhập, thói quen và tâm lý mua hàng của người dân Để nâng cao hiệu quả hoạt động tiêu thụ, doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ lưỡng nhóm nhân tố này để có những đối sách phù hợp, việc thay đổi nhóm nhân tố này là rất khó khăn, đòi hỏi phải có thời gian

b Môi trường vi mô

 Đối thủ cạnh tranh

Hoạt động trong cơ chế thị trường đòi hỏi doanh nghiệp phải quan tâm tới các yếu tốcạnh tranh Đối thủ cạnh tranh bao gồm các đối thủ trong ngành, các

Trang 29

đối thủ tiềm ẩn có khả năng tham gia và nhập ngành trong tương lai Đối thủ cạnh tranh sẽ là người nắm giữ một phần thị trường sản phẩm mà doanh nghiệp đang kinh doanh và luôn có ý thức mở rộng thị trường, thậm chí còn lôi kéo khách hàng của doanh nghiệp Vì vậy doanh nghiệp phải nắm bắt và phân tích các thông tin về đối thủ cạnh tranh một cách kịp thời như: Điểm mạnh, điểm yếu, cơ cấu tổ chức, tài chính, công nghệ sản xuất để từ đó có các đối sách kịp thời.

Đối thủ cạnh tranh hiện tại: Là nhà sản xuất đang cung cấp các sản phẩm dịch vụ tương tự của doanh nghiệp Họ là người đang chiếm một thị phần và luôn có ý định mở rộng thị trường Đây là đối thủ mà doanh nghiệp phải quan tâm nhiều nhất

Đối thủ cạnh tranh tiềm năng: Là những doanh nghiệp có thể và có khả năng tham gia sản xuất, cung cấp dịch vụ, sản phẩm hàng hoá giống của doanh nghiệp Những doanh nghiệp này thường có khả năng về công nghệ, vốn lớn, và thường có những sản phẩm thay thế ưu việt hơn sản phẩm của doanh nghiệp đang sản xuất

 Người cung cấp

Người cung cấp là các doanh nghiệp và các cá nhân đảm bảo cung ứng yếu

tố cần thiết cho công ty và các đối thủ cạnh tranh để có thể sản xuất ra hàng hoá

và dịch vụ nhất định Các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất thường chủ yếu lấy từ thị trường nguyên vật liệu, thị trường công nghệ, thị trường vốn, thị trường thông tin Số lượng các nhà cung ứng các yếu tố nói trên có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng lựa chọn tối ưu đầu vào của doanh nghiệp Bất kỳ có sự thay đổi nào từ các nhà cung cấp cũng đều ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất

kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp

 Khách hàng

Khách hàng là đối tượng phục vụ và là yếu tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp Qui mô khách hàng tạo nên qui mô thị trường và

Trang 30

quyết định đến nhu cầu hàng hoá và dịch vụ Nó là yếu tố quan trọng trong việc tiến hành hoạch định kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Để nâng cao hiệu quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm thì doanh nghiệp phải duy trì và phát triển các mối quan hệ với khách hàng cũ, lôi cuốn, tạo niềm tin với khách hàng mới Muốn vậy doanh nghiệp phải luôn luôn quan tâm, tìm hiểu, phân tích sự biến động nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của khách hàng và tìm cách đáp ứng nhu cầu đó

PHẦN II THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI

CÔNG TY TNHH MINH HOÀNG

   2.1 Tổng quan về Công ty TNHH Minh Hoàng

2.1.1 Tên và địa chỉ của Công ty

 Tên công ty : Công ty trách nhiệm hữu hạn Minh Hoàng

 Tên giao dịch : Công ty TNHH Minh Hoàng

 Tên viết tắt : MINHHOANGCO

 Trụ sở chính : Lô 20 - đường Lê Xuân Trữ - thành phố Quy Nhơn - tỉnh Bình Định

Trang 31

Bình Định là một tỉnh có nền kinh tế đang trên đà phát triển, tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên phong phú, trong đó đá Granite và các lại đá có chất lượng cao, đa hình, đa dạng, có thể chế biến thành các loại sản phẩm khác nhau

để xuất khẩu thu hút ngoại tệ, là một ngành đang được tỉnh thành đầu tư

Căn cứ vào chính sách khuyến khích đầu tư của các thành phần kinh tế, những cơ chế mới thông thoáng trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự bình đẳng trong các thành phần kinh tế quốc dân và sự kêu gọi phát huy nội lực, khả năng sẵn có của chính phủ trong thời kì đổi mới để thúc đẩy nền kinh tế nước nhà đi lên Với nhiệt huyết và khả năng sẵn có, Công ty TNHH Minh Hoàng ra đời trên cơ sở chung sức chung lòng và góp vốn của các thành viên.Công ty TNHH Minh Hoàng được sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Bình Định cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh số 3502000036, cấp ngày 21 tháng 8 năm 2000 Công ty TNHH Minh Hoàng chính thức đi vào hoạt động kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh và các văn bản khác có liên quan Mặt dù mới thành lập nhưng những thành viên tham gia sáng lập Công ty đều đã

và đang trải qua nghành khai thác, sản xuất và kinh doanh đá trong nhiều năm

Có đội ngũ công nhân lành nghề cùng đội ngũ cán bộ có nhiều kinh nghiệm trong việc điều hành, quản lí và tiếp cận thị trường, tìm kiếm khách hàng

Công ty TNHH Minh Hoàng có đầy đủ tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, có tài khoản mở tại ngân hàng Trụ sở chính đặt tại Lô 20 - đường Lê Xuân Trữ - thành phố Quy Nhơn - tỉnh Bình Định Ngành nghề kinh doanh chính là sản xuất, chế biến các sản phẩm đá để xuất khẩu và tiêu thụ nội địa Sản phẩm chính là các loại đá ốp lát, đá xây dựng và đá mỹ nghệ

Công ty TNHH Minh Hoàng ra đời trong bối cảnh nền kinh tế đất nước còn kém phát triển, công nghệ kĩ thuật còn lạc hậu, bước đầu tiên Công ty còn gặp nhiều khó khăn và bỡ ngỡ Song với nỗ lực của cán bộ công nhân viên cùng với

sự tiến bộ trong công nghệ khoa học kĩ thuật, ngày nay Công ty đã đạt được những thành quả đáng khích lệ trên con đường phát triển

Trang 32

Từ năm 2001 đến nay, Công ty đã chuyển đổi cơ cấu sản xuất, chuyên sản xuất các sản phẩm đá xuất khẩu và được Công ty quan tâm đầu tư đúng mức, quy mô của Công ty đã không ngừng lớn mạnh, sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao đã đáp ứng được nhu cầu trong và ngoài nước, giữ được uy tín với khách hàng.

Với phương châm lấy uy tín và chất lượng làm hàng đầu nên hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty ngày càng phát triển, các mặt hàng xuất khẩu của Công ty rất đa dạng về mẫu mã, kích cỡ, chủng loại, rất được thị trường thế giới

ưa chuộng

Công ty đã thu hút được nhiều khách hàng trên thế giới như: Châu Á, Châu

Âu, Châu Úc ngày càng rất ưa chuộng các sản phẩm đá granite tại Bình Định, không những chất lượng tốt mà còn cả về màu sắc, độ tinh xảo của các sản phẩm qua sự chế biến gia công của các công nhân và các nghệ nhân của Công ty

 Quy mô hiện tại của Công ty

Công ty TNHH Minh Hoàng là một doanh nghiệp vừa sản xuất, vừa kinh doanh

 Hình thức sở hữu vốn: Công ty TNHH

 Lĩnh vực kinh doanh: Sản xuất, thương mại, dịch vu

 Nghành nghề kinh doanh: Sản xuất, chế biến sản phẩm đá

 Tổng số vốn kinh doanh:

 Vốn điều lệ ban đầu: 15.000.000.000 đồng

 Tổng tài sản tính đến cuối năm 2013: 29.475.350.540 đồng

 Tổng số lao động tính đến năm 2013 là: 210 người, trong đó:

 Nhân viên văn phòng: 14 người

 Công nhân máy: 50 người

 Công nhân thủ công: 146 người

Trang 33

Như vậy ta có thể kết luận rằng Công ty TNHH Minh Hoàng có quy mô vừa, hoạt động với nhiều chức năng khác nhau và thực hiện sản xuất kinh doanh

có hiệu quả, ổn định

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Công ty

a Số cấp quản lý của Công ty

Hiện nay Công ty TNHH Minh Hoàng đang có 3 cấp quản lý cơ bản, mỗi cấp quản lý có chức năng và nhiệm vụ khác nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau để hoàn thành một cách tốt nhất các kế hoạch sản xuất kinh doanh:

- Ban giám đốc

- Các phòng, ban

- Tổ, bộ phận

b Mô hình tổ chức cơ cấu bộ máy quản lý của công ty

Công ty TNHH Minh Hoàng có cơ cấu tổ chức quản lý được thiết lập theo kiểu trực tuyến - chức năng

Hình 2.1: Mô hình tổ chức cơ cấu bộ máy quản lý

Phòng TC-HC

Phân xưởng sản xuất

Phòng bảo vệ

Trang 34

Nguồn: Phòng tổ chức - hành chính.

c Chức năng, nhiệm vụ cơ bản của các bộ phận quản lý

 Ban Giám Đốc: Bao gồm Giám đốc và Phó giám đốc

Giám đốc: Là người có quyền lực cao nhất ở Công ty, có nhiệm vụ lãnh

đạo chung toàn bộ sản xuất kinh doanh của Công ty Và là người xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch theo đúng pháp luật, đưa ra các quyết định một cách đúng đắn linh hoạt phù hợp với nhiệm vụ nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong sản xuất kinh doanh và đời sống của cán bộ công nhân viên trong công ty Các Phòng ban chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc

Phó giám đốc: Là ngươì hỗ trợ đắc lực cho Giám đốc, là người có quyền

quyết định các vấn đề mà Giám đốc giao phó, đồng thời có quyền tham mưu vào các vấn đề quan trọng trong kế hoạch sản xuất kinh doanh Ngoài ra Phó giám đốc uỷ quyền làm chủ tài khoản thứ hai để giải quyết khi Giám đốc đi vắng, phụ trách công tác nghiệp vụ, theo dõi tiến độ sản xuất và hoàn thành các công tác đã ký kết hợp đồng với các doanh nghiệp khác

 Phòng kế toán tài chính: Có nhiệm vụ xây dựng các kế hoạch tài chính quản lý, giám sát, và theo dõi tình hình thu, chi, tình hình vật tư, tài sản tình hình chi phí của Công ty Tổ chức ghi chép, phản ánh kịp thời, đầy đủ chính xác

Ghi chú:

Quan hệ trực tuyến Quan hệ chức năng

Quan hệ phối hợp

Trang 35

mọi hoạt động kinh tế phát sinh, tổng hợp báo cáo cho Giám đốc về tình hình tài chính, lập báo cáo về tình hình chi phí và doanh thu cho Công ty.

 Phòng kế hoạch kỹ thuật: Xây dựng kế hoạch tháng, quí, năm sát với thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh, lập kế hoạch sản xuất về khối lượng công việc, vật tư sản xuất, sửa chữa và xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm phục vụ sản xuất, đưa ra kế hoạch lập phương án tìm nguồn, giá, vật tư để xây dựng kế hoạch cung ứng và tiêu thụ sản phẩm đảm bảo lợi ích cho Công ty Chịu trách nhiệm trong công tác lưu trữ ghi chép và sử dụng các hoá đơn chứng từ đảm bảo đúng nội dung rõ ràng và đúng qui định của nhà nước ban hành quản lý và lưu trữ tất cả các tài khoản, biên bản, bản đồ hồ sơ thiết kế Kiểm tra kho vật tư, nắm

số lượng tồn kho có kế hoạch bổ sung kịp thời

 Phòng tổ chức - hành chính: Quản lý và định mức lao động, tiền lương, tham mưu cho Phó giám đốc về công tác tổ chức cán bộ quản lý, phổ biến đến người lao động các chế độ chính sách của nhà nước, tính toán và lập thi đua khen thưởng tháng, quí, năm Quản lý về nhân sự, ký kết HĐLĐ, theo dõi và sắp xếp lương cho cán bộ công nhân viên, quản lý và tham gia công tác đối ngoại, đối nội của công ty, lưu trữ hồ sơ lý lịch, các HĐLĐ, các quyết định văn hoá, chế độ chính sách và các tài liệu có liên quan đến công tác tổ chức lao động, tiền lương

 Phân xưởng sản xuất: Chịu sự lãnh đạo của cấp trên, sản xuất các loại đá

để tạo thành sản phẩm hoàn thành theo đúng kế hoạch và được triển khai để giao hàng theo đúng hợp đồng

 Phòng bảo vệ: Có trách nhiệm bảo vệ tài sản của Công ty, đề phòng trộm cắp

2.1.4 Giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ hiện tại của Công ty

Việt Nam là một đất nước có nhiều tài nguyên khoáng sản, đặc biệt là các loại đá như đá granite, đá basalt… nên các ngành khai thác và chế biến các sản phẩm từ đá tương đối phát triển Nhằm định hướng khai thác lợi thế của đất

Trang 36

nước và của tỉnh nhà Bình Định, Công ty TNHH Minh Hoàng đã tiến hành sản xuất, chế biến sản phẩm từ đá có chất lượng cao, mẫu mã đa dạng đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Hiện nay Công ty TNHH Minh Hoàng sản xuất các mặt hàng từ đá chủ yếu sau: Các loại đá slab, đá kerb, đá cubes… Sản phẩm của công ty đa dạng về mẫu

mã, chủng loại, đã đáp ứng được nhu cầu và cung cấp được các loại sản phẩm cho các khách hàng khó tính, sản phẩm của Công ty có mặt tại các thị trường Châu

Á, Châu Âu Châu Úc…

 Đá slab: Dùng để ốp lát Có rất nhiều loại khác nhau có kiểu dáng và màu sắc khác nhau, tiêu chuẩn kĩ thuật khác nhau tùy thuộc vào mục đích sử dụng

 Đá kerb: Dùng để ngăn, lê đường…

 Đá cubes: Dùng để lát nền quảng trường, đường đi…

Ngoài các mặt hàng sản xuất đá granite ốp lát, đá granite làm tay, đá basalt… Công ty đã mở rộng sang các loại sản phẩm mới như: bàn, gế, vật dụng trang trí trong vườn Và hiện nay các mặt hàng này cũng đã tạo được chỗ đứng trên thị trường trong và ngoài nước

Hình 2.2: Một số sản phẩm công ty sản xuất

Đá granite ốp lát:

MHG002 - White / Trắng MHG003 - Red / Đỏ

Trang 37

Đá granite làm tay:

Nguồn: Phân xưởng sản xuất

2.1.5 Quy trình sản xuất một số mặt hàng chủ yếu của Công ty

a Giới thiệu quy trình công nghệ sản xuất

Trong xu thế phát triển chung của nền kinh tế thế giới như hiện nay, yếu tố khoa học kỹ thuật đóng vai trò quan trọng quyết định đến chất lượng sản phẩm Đặc biệt là trong giai đoạn khoa học - công nghệ đạt tới đỉnh cao cùng với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì chúng ta có thể nói rằng: “Khoa học - công nghệ là chìa khóa mở ra con đường tồn tại, phát triển và vươn tới thành công của các doanh nghiệp”

Đối với một đơn vị sản xuất, muốn sản xuất ra các loại sản phẩm có chất lượng cao, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng thì điều đầu tiên là phải hoàn chỉnh bộ máy quản lý, nâng cao trình độ lao động Bên cạnh đó cần trang

bị máy móc và dây chuyền công nghệ tiên tiến thì mới có thể đạt tới mục tiêu lớn của doanh nghiệp là nâng cao chất lượng, giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm và có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp khác

Xuất phát từ những yêu cầu đó, Công ty TNHH Minh Hoàng đã không ngừng trang bị cho mình những dây chuyền công nghệ hiện đại Nguyên liệu

MHG-001 - Granite block shape MHG-004 - Granite cubic shape

(dạng khối) (dạng khối)

Trang 38

chính cung cấp cho quá trình sản xuất là đá Quy trình công nghệ sản xuất có nhiều nét tương đương với nhau, chỉ khác nhau ở một số ít công đoạn như thời gian gia công, khối lượng nguyên vật liệu theo yêu cầu của từng loại sản phẩm Dây chuyền công nghệ của Công ty là một quy trình liên tục, đảm bảo sự chặt chẽ giữa các khâu, không đi ngược chiều hoặc chồng chéo lên nhau Sau đây là các sơ đồ quy trình công nghệ của Công ty:

Trang 39

Nguồn: phân xưởng sản xuất.

b Giải thích nội dung cơ bản của quy trình

• Đá nguyên liệu: Đá nguyên liệu ở dạng khối với kích thước lớn nhất là 2,5m x 3m x 2m được khai thác từ mỏ đá của Công ty hoặc mua ngoài, loại lớn dùng cho cưa dàn, loại nhỏ dùng cho cưa đĩa

• Cưa xẻ thành tấm lớn: Khâu chế biến này do máy cưa dàn và máy cưa đĩa thực hiện Đá block được máy cẩu đưa lên bàn đỡ của máy cưa để xẻ thành từng tấm lớn

• Mài thô: Sau khi xẻ, đá tấm lớn được vận chuyển đến máy mài để mài thô Máy mài ở Công ty có một đầu mài, trước khi mài công nhân kê chính tấm

đá rồi tiến hành mài thô

• Cắt quy cách: Sau khi mài thô đá được hệ thống con lăn cẩu kẹp đưa sang bàn máy quy cách để cắt tạo thành sản phẩm có cạnh thẳng vuông góc

• Đánh bóng: Sản phẩm đá cắt xẻ được xe nâng đưa ngược lại tới hệ thống mài để đánh bóng cho thật nhẵn, sau đó nhờ cẩu kẹp đưa các tấm đá sang

hệ thống vận chuyển bằng con lăn để đưa đá vào băng tải của máy mài bóng

Trang 40

• Mài bóng: Đây là khâu cuối cùng của quy trình chế biến đá, là khâu quan trọng và nó quyết định đến chất lượng sản phẩm Yêu cầu của khâu này là

đá phải thật phẳng và không tý gợn, điều kiện của xuất khẩu là độ bóng phải đạt

từ 70% - 80% so với mặt kính nếu tiêu thụ nội địa thì độ bóng phải đạt từ 70% - 75%

• Sau cùng đá thành phẩm được kiểm tra đóng kiện bao bì và nhập kho thành phẩm

c Kết cấu sản xuất của Công ty

Công tác quản lý sản xuất đảm nhận một vai trò khá quan trọng trong việc

tổ chức sản xuất, sử dụng và bảo quản nguyên vật liệu, sử dụng tài sản cố định, định mức tiêu hao nguyên vật liệu… nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp

Sản phẩm của Công ty không mang tính đồng nhất Sử dụng cùng một loại nguyên liệu nhưng tùy thuộc vào yêu cầu của khách hàng mà sản xuất ra những sản phẩm khác nhau

Hình 2.4: Sơ đồ quy trình hoạt động của các phân xưởng sản suất

Kho nguyên liệu

Bộ phận phục vụ sản

xuất

Tổ đứng máyKho vật tư

Phân xưởng sản xuất

Tổ vận chuyển, bốc

vác

Ngày đăng: 01/06/2016, 12:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2]. Trường Đại học Kinh tế quốc dân - Giáo trình Quản trị và nghiệp vụ bán hàng - NXB Giáo dục 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trị và nghiệp vụ bán hàng
Nhà XB: NXB Giáo dục 2009
[3]. Th.S. Nguyễn Tiến Dũng - Giáo trình Marketing căn bản - NXB Giáo dục Việt Nam 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Marketing căn bản
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam 2012
[4]. TS. Nguyễn Thị Huyền - Giáo trình Quản Trị Marketing - NXB Giáo dục Việt Nam 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản Trị Marketing -
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam 2012
[5]. PGS.TS Ngô Kim Thanh - Giáo trình Quản trị chiến lược - NXB Đại học Kinh tế quốc dân 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trị chiến lược
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế quốc dân 2011
[7]. PGS.TS Trương Đoàn Thể - Giáo trình Quản trị sản xuất và tác nghiệp - NXB Đại học Kinh tế quốc dân 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trị sản xuất và tác nghiệp
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế quốc dân 2007
[6]. Ths. Trương Thị Ngọc Thuyên - Trường Đại học Đà lạt - Giáo trình Quản trị chất lượng Khác
[8]. Th.S Nguyễn Huyền Trang - Trường Đại học Quy nhơn - Bài Giảng Phân Tích Hoạt Động Kinh Tế Doanh Nghiệp Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Mô hình tổ chức cơ cấu bộ máy quản lý - hoàn thiện chính sách tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH Minh Hoàng
Hình 2.1 Mô hình tổ chức cơ cấu bộ máy quản lý (Trang 33)
Hình 2.3: Quy trình tổ chức sản xuất đá - hoàn thiện chính sách tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH Minh Hoàng
Hình 2.3 Quy trình tổ chức sản xuất đá (Trang 38)
Hình 2.4: Sơ đồ quy trình hoạt động của các phân xưởng sản suất - hoàn thiện chính sách tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH Minh Hoàng
Hình 2.4 Sơ đồ quy trình hoạt động của các phân xưởng sản suất (Trang 40)
Bảng 2.2: Giá bán một số sản phẩm cùng loại ở thị trường trong nước của - hoàn thiện chính sách tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH Minh Hoàng
Bảng 2.2 Giá bán một số sản phẩm cùng loại ở thị trường trong nước của (Trang 45)
Bảng 2.3: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh - hoàn thiện chính sách tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH Minh Hoàng
Bảng 2.3 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Trang 46)
Bảng 2.6: Doanh thu bán hàng theo sản phẩm - hoàn thiện chính sách tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH Minh Hoàng
Bảng 2.6 Doanh thu bán hàng theo sản phẩm (Trang 49)
Hình 2.5: Sơ đồ biểu diễn kênh phân phối trong nước - hoàn thiện chính sách tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH Minh Hoàng
Hình 2.5 Sơ đồ biểu diễn kênh phân phối trong nước (Trang 51)
Bảng 2.7: Doanh thu tiêu thụ qua các kênh phân phối - hoàn thiện chính sách tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH Minh Hoàng
Bảng 2.7 Doanh thu tiêu thụ qua các kênh phân phối (Trang 52)
Hình 2.6: Sơ đồ biểu diễn kênh phân phối nước ngoài - hoàn thiện chính sách tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH Minh Hoàng
Hình 2.6 Sơ đồ biểu diễn kênh phân phối nước ngoài (Trang 52)
Bảng 2.8: Doanh thu bán hàng ở thị trường trong nước - hoàn thiện chính sách tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH Minh Hoàng
Bảng 2.8 Doanh thu bán hàng ở thị trường trong nước (Trang 53)
Bảng 3.1: Bảng định mức tiêu hao NVL/1m 3  thành phẩm năm 2013 - hoàn thiện chính sách tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH Minh Hoàng
Bảng 3.1 Bảng định mức tiêu hao NVL/1m 3 thành phẩm năm 2013 (Trang 78)
Bảng 3.3: Bảng định mức tiêu hao NVL/1m 3  sau khi đã điều chỉnh theo giải - hoàn thiện chính sách tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH Minh Hoàng
Bảng 3.3 Bảng định mức tiêu hao NVL/1m 3 sau khi đã điều chỉnh theo giải (Trang 80)
Bảng 3.4: Doanh thu và chi phí thực tế 2012, 2013 – Dự kiến kế hoạch của - hoàn thiện chính sách tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH Minh Hoàng
Bảng 3.4 Doanh thu và chi phí thực tế 2012, 2013 – Dự kiến kế hoạch của (Trang 84)
Bảng 3.6: So sánh doanh thu và chi phí theo kế hoạch và giải pháp 2014 - hoàn thiện chính sách tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH Minh Hoàng
Bảng 3.6 So sánh doanh thu và chi phí theo kế hoạch và giải pháp 2014 (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w