1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

báo cáo thực tập tại Ngân hàng Thương mại cổ phần kỹ thương Pleiku

63 147 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI1.1 Tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại 1.1.1 Khái niệm về tín dụng t

Trang 1

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI1.1 Tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm về tín dụng trung và dài hạn

Trong nền kinh tế, nhu cầu tín dụng trung và dài hạn thường xuyên phát sinh bởi các DN luôn phải tìm cách phát triển mở rộng sản xuất, đổi mới kỹ thuật, tin học…Để củng cố và tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường

Muốn làm được điều này, đòi hỏi DN phải có một khối lượng vốn lớn với một thời gian dài Chính vì vậy, các DN tìm đến các ngân hàng thương mại và vay các NHTM khối lượng vốn lớn với thời gian dài bằng hình thức tín dụng trung và dài hạn

Tín dụng trung và dài hạn là hoạt động tài chính tín dụng cho khách hàng vay vốn trung và dài hạn nhằm thực hiện các dự án phát triển sản xuất kinh doanh, phục vụ đời sống Tùy theo từng quốc gia, từng thời kỳ mà có những quy định cụ thể của hoạt động tín dụng trung và dài hạn Ở Việt Nam hiện nay thời hạn của tín dụng trung và dài hạn được xác định như sau:

Tín dụng trung hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 5 năm Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án

có quy mô nhỏ với thời gian thu hồi vốn nhanh Bên cạnh đó, nó còn được dùng đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên của doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp mới thành lập

Tín dụng dài hạn có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối đa có thể lên tới 20-30 năm, một số trường hợp đặc biệt có thể lên tới 40 năm Tín dụng dài hạn được cấp để đáp ứng nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới…

[1, tr 20-22]

1.1.2 Các đặc trưng cơ bản của tín dụng trung dài hạn

Tín dụng trung và dài hạn là một loại hình tín dụng và nó được phân biệt với các loại hình tín dụng khác qua những đặc trưng cơ bản sau:

• Thời hạn cho vay

Giữa tín dụng trung dài hạn và tín dụng ngắn hạn có nhiều điểm khác biệt nhau, đầu tiên là thời hạn cho vay

Trang 2

- Tín dụng ngắn hạn: Thời hạn cho vay được xác định phù hợp với chu

kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng nhưng không quá

12 tháng

- Tín dụng trung dài hạn: Thời hạn cho vay được xác định phù hợp với thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và tính chất của nguồn vốn cho vay

• Đối tượng cho vay

Đối tượng cho vay trung dài hạn là toàn bộ các chi phí cấu thành trong tổng mức vốn đầu tư của các dự án xây dựng mới, mở rộng cải tạo công nghệ, đổi mới các phương tiện vận chuyển, kỹ thuật tin học

Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, đối tượng cho vay trung dài hạn là các doanh nghiệp đang đầu tư vào các dự án mà giá trị vật tư, máy móc, thiết

bị, công nghệ chuyển giao, chi phí nhân công, giá thuê mua các tài sản khác, chi phí mua bảo hiểm và các chi phí khá đòi hỏi vốn lớn, các công trình, hạng mục công trình hoặc các dự án đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản cố định của các đơn vị kinh tế có luận chứng kỹ thuật tốt, xác thực và tổng dự án đã được phê duyệt …[3, tr 316]

• Nguyên tắc và điều kiện vay vốn

Khách hàng muốn vay vốn của ngân hàng phải đảm bảo được 3 nguyên tắc tín dụng cơ bản sau:

- Sử dụng vốn đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng

- Phải hoàn trả tiền vay và lãi theo đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng

Các khoản tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc từ các khoản tiền gửi của khách hàng và các khoản ngân hàng vay mượn Ngân hàng phải có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi như đã cam kết Do vậy, ngân hàng luôn yêu cầu nguời nhận tín dụng phải thực hiện đúng cam kết này.Trên cơ sở nguyên tắc trên, mỗi ngân hàng sẽ đề ra các điều kiện ràng buộc, các quy định mang tính chất bắt buộc có thể thực hiện vốn vay của ngân hàng Các quy định này về cơ bản là giống nhau nhưng các điều khoản cụ thể thì khác nhau phụ thuộc vào mỗi ngân hàng và thời điểm lịch sử

Do các đặc trưng của tín dụng trung dài hạn nên thời gian thu hồi vốn là rất lâu, có khả năng gặp nhiều rủi ro trong quá trình sử dụng nên việc cho vay trung dài hạn phải tuân theo quyết định 367/QĐNH1 của Thống đốc NHNN Việt Nam về thể lệ tín dụng trung dài hạn như sau:

Trang 3

- Doanh nghiệp vay vốn phải là đơn vị sản xuất kinh doanh có lãi, có vốn tham gia tối thiểu bằng 20% tổng dự toán công trình đầu tư.

- Doanh nghiệp vay vốn phải chấp hành đầy đủ các quy định của Nhà nước về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản và thể lệ tín dụng trung dài hạn của ngân hàng

Hiện nay theo quy định mới của Chính Phủ, các đơn vị kinh doanh nếu chứng minh được mình làm ăn có hiệu quả thì sẽ có khả năng vay vốn mà không cần thế chấp …[3, tr 318-320]

1.1.3 Phân loại tín dụng trung dài hạn

• Căn cứ vào tính chất bảo đảm

- Tín dụng trung và dài hạn có bảo đảm: Là loại tín dụng khi cho vay bên cho vay đòi hỏi người vay phải có tài sản đảm bảo

- Tín dụng trung và dài hạn không có bảo đảm: Là loại tín dụng mà khi cho vay bên cho vay không đòi hỏi người vay phải có tài sản bảo đảm Việc cho vay được tiến hành trên cơ sở lòng tin, uy tín của bản thân khách hàng

• Căn cứ vào đồng tiền vay vốn

- Tín dụng trung và dài hạn bằng bản tệ: Là việc cho vay bằng đồng nội tệ

- Tín dụng trung và dài hạn bằng ngoại tệ: Là cấp tín dụng cho người vay

có nhu cầu thanh toán các công trình xây dựng cơ bản, mua máy móc thiết bị các khoản chi phí có liên quan đến nước ngoài bằng đồng ngoại tệ

• Căn cứ vào phương thức cho vay

- Cho vay theo dự án: Đây là hình thức cấp tín dụng dựa trên cơ sở dự án khi đã xem xét khẳng định tính hiệu quả, tính khả thi của dự án đó Hình thức cho vay theo dự án gồm:

+ Cho vay đồng tài trợ: Là quá trình cho vay của một nhóm tổ chức tín dụng (từ 2 tổ chức tín dụng trở lên) cho một dự án, do một tổ chức tín dụng làm đầu mối, phối hợp với các bên đồng tài trợ để thực hiện, nhằm phân tán rủi ro của các tổ chức tín dụng

+ Cho vay trực tiếp theo dự án: Đây là hình thức tín dụng trung và dài hạn phổ biến trong nền kinh tế thị trường NHTM tiến hành mọi hoạt động và

tự chịu trách nhiệm với từng dự án đầu tư của khách hàng mà họ đã lựa chọn

để tài trợ

- Tín dụng thuê mua: Là hình thức cho vay tài sản thông qua một hợp đồng tín dụng thuê mua, qua đó người cho thuê chuyển giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người đi thuê sử dụng và người thuê có trách nhiệm thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê và có thể được quyền sở

Trang 4

hữu tài sản thuê, được quyền mua tài sản thuê hoặc được quyền thuê tiếp theo các điều kiện đã được 2 bên thoả thuận …[1, tr 20-22]

1.1.4 Vai trò của tín dụng trung dài hạn

• Đối với Doanh Nghiệp.

Nền kinh tế hiện nay không ngừng vận động, hàng hoá sản xuất ngày càng nhiều và nhu cầu con người không ngừng nâng cao Một DN muốn tồn tại và phát triển thì phải biết nắm bắt nhu cầu và thoả mãn nhu cầu đó Vì thế,

DN cần phải mạnh dạn đầu tư để nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng sản xuất hay để xâm nhập vào thị trường mới Tuy nhiên, để làm được điều này các DN cần huy động một khối lượng vốn nhất định, lượng vốn này DN có thể tự tích luỹ qua lợi nhuận để lại nhưng thời gian tích luỹ có thể quá lâu, làm mất cơ hội kinh doanh DN cũng có thể huy động vốn trên thị trường chứng khoán hoặc vay vốn Ngân hàng Đối với DN, việc vay vốn trung và dài hạn từ Ngân hàng đôi khi đem lại nhiều thuận lợi hơn so với việc huy động vốn trên thị trường chứng khoán Về mặt kỳ hạn, DN có thể vay vốn Ngân hàng theo kỳ hạn phù hợp với yêu cầu kinh doanh Về thủ tục, thời gian thì nhanh chóng và ít phức tạp, hơn nữa không phải công ty nào cũng được quyền bán trái phiếu, cổ phiếu của mình trên thị trường chứng khoán, nhất là công ty mới thành lập hay quá nhỏ, chưa có tiếng tăm Ngoài ra với các khoản vay trung và dài hạn tại Ngân hàng vừa giúp Ngân hàng thực hiện chiến lược kinh doanh đem lại lợi tức cho DN mà không gia tăng sự kiểm soát của người bên ngoài đối với hoạt động kinh doanh của DN như trong trường hợp phát hành cổ phiếu

Tín dụng trung và dài hạn giúp doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả Trong thời hạn của khoản vay, ngân hàng thực hiện chức năng giám sát hoạt động sử dụng vốn với tư cách là chủ sở hữu vốn vay Do đó ngân hàng căn cứ vào các nguyên tắc tín dụng, hướng các doanh nghiệp sử dụng vốn có mục đích, hiệu quả Mặt khác, lãi suất tín dụng trung và dài hạn cao cũng là sức ép buộc các doanh nghiệp phải khai thác triệt để đồng vốn để kinh doanh có lãi, vừa đem lại lợi tức cho mình vừa để trả nợ ngân hàng Do vậy, lãi suất tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng là đòn bẩy thúc đẩy DN khai thác triệt

để đồng vốn để kinh doanh có lãi và thắng lợi trong cạnh tranh …[1, tr 207]

Như vậy, vay vốn trung và dài hạn từ Ngân hàng là biện pháp quan trọng

để các DN thực hiện được dự án của mình

• Đối với nền kinh tế

Trang 5

Hoạt động tín dụng trung và dài hạn đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế quốc dân, điều hoà lượng cung cầu về vốn trong nền kinh tế Hoạt động tín dụng làm nhiệm vụ chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu vốn, từ những nhà tiết kiệm sang nhà đầu tư, phục vụ phát triển nền kinh tế.

Do tập trung được vốn và điều hoà cung cầu vốn trong nền kinh tế, tín dụng trung và dài hạn góp phần đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng đầu

tư phát triển kinh tế, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ Các khoản cho vay cung cấp cho các ngành được thực hiện theo cả chiều sâu và chiều rộng, đầu tư có trọng điểm, hình thành các ngành sản xuất mũi nhọn, xây dựng cơ cấu hợp lý và khai thác triệt

để các nguồn lực để tập trung phục vụ sản xuất Một nền kinh tế chỉ có thể phát triển mạnh và bền vững nếu các hoạt động đầu tư được đẩy mạnh và có hiệu quả Tín dụng trung và dài hạn cho phép các tổ chức có được nguồn vốn lớn với thời hạn lâu dài đủ để đầu tư vào các dự án mang ý nghĩa chiến lược, phát huy được hiệu quả trong trung và dài hạn Việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn trung và dài hạn đối với các chính phủ sẽ giúp họ theo đuổi được các chính sách kinh tế vĩ mô, đảm bảo nền kinh tế phát triển bền vững trong dài hạn Nắm trong tay nguồn vốn lớn, lâu dài đã thúc đẩy tiến độ phát triển các công trình, các dự án, tạo được hiệu quả kinh tế bền vững, lâu dài góp phần thúc đẩy tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã định hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá

Bên cạnh đó các khoản cho vay trung và dài hạn có vai trò tạo nguồn vốn

để thực hiện xây dựng mới, hiện đại hoá trang thiết bị, công nghệ từng bước phát triển nền sản xuất trong nước Thúc đẩy sản xuất nâng cao chất lượng, mẫu mã, đa dạng về tính năng của sản phẩm để tiêu thụ trong nước và xuất khẩu Hàng hoá có tính chất cạnh tranh trên thị trường quốc tế sẽ thúc đẩy xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ cho quốc gia Cải thiện cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế …[1, tr 207-208]

• Đối với hoạt động Ngân hàng

Hoạt động của Ngân hàng trong cơ chế thị trường là hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay gắt và khốc liệt Để có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay đòi hỏi mỗi Ngân hàng phải thực sự quan tâm đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của chính mình Vì vậy, hoạt động tín dụng được xem là sự cần thiết để mang tính cạnh tranh của các Ngân hàng Trong những năm gần đây, nền kinh tế thị trường vận động trong điều kiện nền kinh tế mở với nhu cầu mở rộng quy mô, trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, tiến tới đổi mới toàn bộ nền kinh tế đã cho thấy nhu cầu vốn trung và

Trang 6

dài hạn là cần thiết và quan trọng Nguồn vốn này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đổi mới kỹ thuật, trang bị công nghệ mới, phương pháp sản xuất mới

để tạo ra hàng hoá mới Đây là điều kiện để Ngân hàng mở rộng phạm vi hoạt động của mình và ngày càng khẳng định vai trò và vị trí của Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường

Hơn nữa tín dụng trung và dài hạn còn là cách thức khả thi để giải quyết nguồn vốn huy động còn dư thừa tại mỗi Ngân hàng, đồng thời cũng là cách Ngân hàng huy động vốn từ nền kinh tế đáp ứng nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp cũng như cá nhân có nhu cầu vay vốn trung và dài hạn Vì vậy, tín dụng trung và dài hạn cần phải được tăng cường để các Ngân hàng có thể tham gia nỗ lực vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thông qua nghiệp vụ này Ngoài ra tín dụng trung và dài hạn còn là một nghiệp vụ mang lại lợi ích chủ yếu cho Ngân hàng Bởi lẽ tín dụng trung và dài hạn là những khoản tín dụng có quy mô lớn, lãi suất cao, linh hoạt và có thời gian dài nên lãi thu sẽ lớn và ổn định …[1, tr 208-209]

1.2 Chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại

1.2.1 Quan niệm về chất lượng tín dụng trung và dài hạn của NHTM

Chất lượng tín dụng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng phù hợp với

sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại, phát triển của các NHTM Chất lượng tín dụng trung và dài hạn chính là vốn cho vay trung và dài hạn của Ngân hàng được khách hàng đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ…để tạo ra một số tiền lớn thông qua đó Ngân hàng sẽ thu được cả gốc và lãi đúng thời hạn, bù đắp được chi phí và có lợi nhuận

Chất lượng tín dụng được thể hiện qua nhiều tiêu chí khác nhau như: Mức độ an toàn vốn tín dụng, mức độ thích nghi của NHTM với sự thay đổi của môi trường kinh tế, khả năng thu hút khách hàng, thủ tục đơn giản, thuận tiện Ngoài ra chất lượng tín dụng còn được thể hiện qua hiệu quả hoạt động của các dự án vay vốn sản xuất kinh doanh, tình trạng xoá đói giảm nghèo và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế

Trong một nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam thì nhu cầu tín dụng trung và dài hạn rất lớn Tuy nhiên nguồn vốn để tài trợ cho nhu cầu đó thì còn hạn hẹp do vậy mà chất lượng tín dụng trung và dài hạn luôn được các ngân hàng quan tâm [3, tr 315]

1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn của NHTM

Trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang từng bước chuyển sang nền

Trang 7

thương mại phải làm là nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn, nếu làm tốt điều này sẽ đưa lại nhiều lợi ích cho Ngân hàng, cho khách hàng và cho cả nền kinh tế

• Đối với Ngân hàng:

Chất lượng tín dụng trung và dài hạn tốt làm tăng khả năng cung cấp dịch vụ của các NHTM do tạo thêm nguồn vốn từ việc tăng được vòng quay vốn tín dụng và thu hút được nhiều khách hàng bởi các hình thức của sản phẩm, dịch vụ tạo ra một hình ảnh về biểu tượng và uy tín của Ngân hàng và

sự tồn tại lâu dài của Ngân hàng vì chất lượng tín dụng tốt tạo cho Ngân hàng

có nhiều khách hàng trung thành và những khoản lợi nhuận để bổ sung vốn đầu tư Bên cạnh đó, chất lượng tín dụng tốt giúp cho Ngân hàng củng cố các mối quan hệ xã hội bằng những điều kiện tốt nhất

Có thể nói, với những ưu thế trên việc củng cố và tăng cường chất lượng tín dụng trung và dài hạn của các NHTM là sự cần thiết khách quan vì sự tồn tại và phát triển lâu dài của các NHTM

• Đối với khách hàng:

Được đáp ứng kịp thời và đầy đủ nhu cầu vay vốn với thời gian và lãi suất hợp lý sẽ giúp cho doanh nghiệp thay đổi cơ chế mới, mở rộng hoạt động sản xuất, làm tăng doanh thu, tăng lợi nhuận của doanh nghiệp

• Đối với nền kinh tế:

Xét trên phương diện toàn nền kinh tế, hoạt động tín dụng trung và dài hạn của các Ngân hàng sẽ tác động tốt tới một số lĩnh vực kinh tế - chính trị -

xã hội Phát triển cho vay tín dụng trung và dài hạn sẽ giảm bớt đáng kể các khoản bao cấp từ ngân sách cho đầu tư sản xuất kinh doanh Tín dụng Ngân hàng còn góp phần đẩy mạnh quá trình tích tụ và tập trung lớn của nền kinh tế

Không những thế chất lượng tín dụng góp phần kìm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh tế, tăng uy tín quốc gia Ngoài ra tín dụng trung

và dài hạn của Ngân hàng còn đóng góp phần giải quyết nạn thất nghiệp và hạn chế các tệ nạn xã hội khác [3, tr 313-316]

Trang 8

1.2.3 Một số chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại

Trong bối cảnh hiện nay của hệ thống NHTM Việt Nam khi mà hoạt động kinh doanh chủ yếu vẫn là hoạt động tín dụng và lợi nhuận có được từ các nghiệp vụ tín dụng vẫn chiếm tỷ trọng khống chế trong toàn bộ lợi nhuận

có được trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Chất lượng tín dụng trung và dài hạn được phản ánh bằng tổng các chỉ tiêu vừa trừu tượng vừa cụ thể Các chỉ tiêu trừu tượng như chỉ tiêu phản ánh mức độ thoả mãn của khách hàng không thể lượng hoá được mà chỉ có thể kết luận chất lượng qua một thời gian dài và bằng những phương pháp xác định định tính, thường thì các ngân hàng dùng những chỉ tiêu mang tính định lượng để đánh giá chất lượng tín dụng trung và dài hạn vì nó dễ dàng tính toán và dễ lượng hoá được

1.2.3.1 Nhóm chỉ tiêu định lượng:

• Chỉ tiêu nợ quá hạn của tín dụng trung và dài hạn.

Tổng dư nợ quá hạn trung và dài hạn

Tỷ lệ NQH trung và dài hạn = ——————————————— * 100% Tổng dư nợ cho vay trung và dài hạn

Chỉ tiêu này cho thấy trong 100% dư nợ tín dụng trung và dài hạn thì có bao nhiêu % là nợ quá hạn Thể hiện tỷ lệ nợ không thanh toán đúng hạn trên tổng dư nợ Các Ngân hàng có chỉ số này thấp chứng tỏ chất lượng tín dụng cao Ở các nước có nền tài chính phát triển người ta quy định các Ngân hàng

có tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ ≤ 5% thì được coi là có chất lượng tín dụng tốt Ngược lại nếu vượt quá 5% thì có dấu hiệu xấu, hoạt động của Ngân hàng đó không an toàn và có nguy cơ rủi ro cao Để đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng ngân hàng nhà nước yêu cầu các ngân hàng thương mại phải thực hiện việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng; Theo quyết định số 493/2007/ QĐ-NHNN quy định việc phân loại nợ và trích lập dự phòng

• Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng trung và dài hạn.

Trang 9

vốn nhất định, nhưng do vòng quay vốn tín dụng nhanh nên ngân hàng đã đáp ứng được nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp, mặt khác ngân hàng có vốn để tiếp tục đầu tư vào các lĩnh vực khác Như vậy, hệ số này càng tăng phản ánh tình hình quản lý vốn tín dụng càng tốt, chất lượng tín dụng càng cao và khoảng thời gian tồn tại trung bình của các món vay ngắn.

• Tỷ suất lợi nhuận từ hoạt động tín dụng trung dài hạn

Lợi nhuận từ tín dụng trung và dài hạn

Tỷ lệ sinh lời trung và dài hạn = ———————————————— * 100%

Tổng dư nợ trung và dài hạn

Chỉ tiêu này phả ánh khả năng sinh lời của tín dụng trung dài hạn Nó cho biết một đồng dư nợ tín dụng trung dài hạn mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Bất kì một khoản tín dụng nào cũng sẽ không thể được đánh giá là có chất lượng cao nếu không đem lại lợi nhuận thực tế cho ngân hàng Tỷ lệ này càng cao chức tỏ chất lượng tín dụng trung dài hạn tại ngân hàng càng tốt, mang lại lợi nhuân cao cho cả ngân hàng Mỗi một ngân hàng có một cách đánh giá về chỉ tiêu này khác nhau song hầu như không có một con số chính xác cụ thể nào để làm căn cứ đưa ra so sánh, mà các ngân hàng dựa vào chỉ tiêu này của từng dự án cụ thể của từng năm để đánh giá chất lượng tín dụng trung dài hạn của Ngân hàng mình

• Chỉ tiêu mất vốn trung và dài hạn.

Tổng dư nợ quá hạn trung và dài hạn được xoá

Tỷ lệ mất vốn = ————————————————————— * 100%

Dư nợ bình quân năm

Chỉ tiêu này cho biết trong một đồng dư nợ hàng năm có bao nhiêu đồng

dư nợ quá hạn trung và dài hạn được xóa Rõ ràng tỷ tệ này càng cao thì chất lượng tín dụng càng thấp Nợ quá hạn được xoá có nguy cơ làm giảm lợi

Trang 10

nhuận của Ngân hàng và nếu có quá nhiều nợ quá hạn được xoá sẽ có thể làm cho Ngân hàng phá sản Các Ngân hàng đang cố gắng giảm đến mức tối đa các khoản nợ khó đòi để làm tăng chấtlượng tín dụng trung và dài hạn.

1.2.3.2 Quy trình nghiệp vụ tín dụng trung và dài hạn

Hoạt động tín dụng mang tính chất phức tạp và có nhiều rủi ro Để cho việc quản lý tín dụng một cách dễ dàng, giảm thiểu được rủi ro, các ngân hàng thương mại đều soạn thảo cho mình một quy trình tín dụng riêng áp dụng thống nhất toàn ngân hàng và các ngân hàng thương mại dựa vào đó để phân tích, thẩm định việc cấp tín dụng từ đó có được quyết định tín dụng đúng đắn, hoạt động tín dụng trung và dài hạn cũng phải tuân theo những quy trình chung đó, tuy nhiên do đặc điểm của tín dụng trung và dài hạn là có thời hạn dài, chứa đựng nhiều rủi ro, do vậy mà việc soạn thảo ra một quy trình tín dụng trung và dài hạn dựa trên quy trình tín dụng chung rất có ý nghĩa đem lại lợi ích cao cho ngân hàng

Quy trình tín dụng trung và dài hạn gồm 5 bước, các bước trong quy trình có quan hệ qua lại và hỗ trợ nhau, kết quả của bước trước là nền tảng, cơ

sở để bước tiếp theo thực hiện và tác động đến chất lượng của bước sau:

Bước 1: Lập hồ sơ yêu cầu cấp tín dụng

Cán bộ tín dụng hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn Xét về mặt kinh tế, mặc dù quan hệ tín dụng chưa hình thành, nhưng đây là bước chuẩn

bị những điều kiện cần thiết để quan hệ tín dụng được thiết lập lành mạnh Xét về mặt thủ tục hành chính, thì đây là bước hình thành đầy đủ giấy tờ, văn bản chứng tỏ khách hàng thực sự có nhu cầu về vốn tín dụng trung và dài hạn, cũng như chứng minh được tính hợp pháp về nhân thân khách hàng và tính tự nguyện xin cấp tín dụng cuả khách hàng Căn cứ vào việc phân tích các nguồn thông tin từ hồ sơ này và các nguồn liên quan mà Ngân hàng ra quyết định là

có cấp tín dụng hay không Ngân hàng thường yêu cầu khách hàng lập và trình cho Ngân hàng những giấy tờ:

- Giấy đề nghị vay vốn

- Giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân của khách hàng

- Phương án sản xuất kinh doanh và kế hoạch trả nợ, hoặc dự án đầu tư

- Báo cáo tài chính của thời kỳ gần nhất

- Các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh nợ vay

- Các giấy tờ liên quan khác nếu cần thiết.

Bước 2: Thẩm định tín dụng

Trang 11

Thẩm định tín dụng là thẩm định khả năng hiện tại và tiềm năng trả nợ của khách hàng Do tính chất phức tạp của tín dụng trung và dài hạn nên cán

bộ tín dụng và cán bộ thẩm định phải dựa vào các thông tin đã có từ khách hàng, đối tác kinh doanh hay CIC và tiến hành thẩm định một cách chặt chẽ các yếu tố phi tài chính (như phân tích, kiểm tra tính pháp lý của khách hàng,

uy tín của họ, mục đích của khoản vay ) và các yếu tố tài chính

Bước 3: Quyết định tín dụng

Đây là bước quan trọng nhất, nó phụ thuộc rất lớn vào trình độ của người cán bộ tín dụng, ở khâu này cán bộ tín dụng là người chịu trách nhiệm lớn nhất về việc ra quyết định của mình, khâu này nó không chỉ ảnh hưởng đến tiến trình hoạt động của khách hàng, mà còn ảnh hưởng đến cả uy tín của ngân hàng Kết thúc bước này được được đánh dấu bởi các văn bản thể hiện kết quả ra quyết định là từ chối cho vay (ngân hàng phải nêu rõ lý do) hay chấp thuận thông qua ký hợp đồng tín dụng

Bước 4: Giải ngân và kiểm soát trong khi cấp tín dụng

Sau khi hợp động tín dụng đã được ký kết, ngân hàng phải trách nhiệm cấp tiền cho khách như đã thoả thuận Kèm theo việc cấp tín dụng, ngân hàng kiểm soát khách hàng: Sử dụng tiền vay có đúng mục đích, đúng tiến độ hay không, quá trình sản xuất kinh doanh có những thay đổi bất lợi gì.Quá trình này cho phép ngân hàng thu thập thêm các thông tin về khách hàng Nếu các thông tin phản ánh chiều hướng tốt, cho thấy chất lượng tín dụng đang được đảm bảo Ngược lại, khi chất lượng khoản cho vay bị đe doạ, ngân hàng cần

có các biện pháp xử lý kịp thời Ngân hàng được quyền thu hồi nợ trước hạn, ngừng giải ngân, nếu bên vay vi phạm hợp đồng tín dụng Ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng bổ sung tài sản thế chấp, giảm số tiền vay khi thấy cần thiết để đảm bảo an toàn tín dụng Đối với ngân hàng đây là bước đi nguy hiểm Do vậy cho tài trợ gắn liền với kiểm soát khách hàng giúp ngân hàng ngăn chặn các ý đồ sử dụng tiền vay không đúng mục đích của khách hàng Đây cũng là quá trình ngân hàng thu thập thêm các thông tin bổ sung cho các thông tin ở bước 1 và ra các quyết định cụ thể nhằm ngăn chặn kịp thời các khoản tín dụng xấu

Bước 5: Thu nợ hoặc đưa ra phán quyết tín dụng mới

Quan hệ tín dụng kết thúc khi ngân hàng thu hồi hết gốc và lãi Các khoản tín dụng đảm bảo hoàn trả đầy đủ và đúng hạn là các khoản tín dụng an toàn Một số trường hợp, các khoản tín dụng đã không hoàn trả hoặc không hoàn trả đủ, đúng hạn Việc thanh toán nợ không đúng hạn cho ngân hàng cho thấy các “trục trặc” trong hoạt động của khách hàng Việc xem xét, tìm

Trang 12

nguyên nhân là rất quan trọng để giúp ngân hàng kịp thời đưa ra các quyết định mới liên quan đến tính an toàn của khoản tín dụng.

- Trường hợp khách hàng cố tình lừa đảo Ngân hàng, cố tình nợ nần dây dưa, hoặc làm ăn yếu kém không còn phương cách cứu vãn, Ngân hàng áp dụng phương án thanh lý, tức là sử dụng các biện pháp có thể được để thu hồi khoản

nợ, bao gồm phong toả và bán các tài sản thế chấp, tước đoạt các khoản tiền gửi

- Trường hợp khách hàng có khó khăn về tài chính, song vẫn kiên quyết tìm cách khắc phục để trả nợ, ngân hàng thường áp dụng phương án khai thác, bao gồm gia hạn nợ, giảm lãi hoặc cho vay thêm

- Trường hợp khách hàng không trả được nợ sẽ tiến hành thanh lý tài sản đảm bảo Tài sản đảm bảo được xử lý theo các phương thức mà các bên

đã thõa thuận trong hợp đồng, trường hợp các bên không xử lý được theo các phương thức đã thõa thuận thì Ngân hàng có các quyền hạn, chuyển nhượng tài sản cầm cố, thế chấp để thu hồi nợ

Các bước trên mang tính chất liên hoàn, theo một trật tự nhất định, đồng thời có quan hệ chặt chẽ và gắn bó với nhau Việc các cán bộ tín dụng thực hiện theo quy trình trên sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng trung và dài hạn [1, tr 44-45]

1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng thương mại

1.3.1 Các nhân tố bên ngoài

• Các nhân tố từ phía khách hàng

Các doanh nghiệp khi đến vay đều phải tính đến chất lượng hiệu quả sử dụng vốn vay Nếu họ thực hiện có hiệu quả dự án và có lợi nhuận thì có thể làm tăng hiệu quả của khoản vay Tuy nhiên, rất có thể trong quá trình khách hàng sử dụng vốn vay ngân hàng không đúng đối tượng kinh doanh, không đúng với phương án, mục dích khi xin vay thì sẽ không trả được nợ đúng hạn Ngân hàng chỉ có thể giảm thiểu rủi ro này bằng cách thẩm định chặt chẽ dự

án, quản lý sát sao việc thực hiện, nắm bắt kịp thời các thông tin để đưa ra những quyết định chính xác

Sự trung thực, thiện chí trả nợ của khách hàng ảnh hưởng lớn tới chất lượng tín dụng của Ngân hàng Nếu các doanh nghiệp vay vốn Ngân hàng không cung cấp các số liệu trung thực, vi phạm chế độ kế toán thống kê đã được ban hành thì sẽ gây khó khăn cho Ngân hàng trong việc nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh, cũng như việc quản lý vốn vay của khách hàng để

Trang 13

• Các nhân tố thuộc về môi trường.

Cho dù Ngân hàng thực hiện tốt các yêu cầu khi cung cấp và chủ đầu tư

có đủ khả năng cũng như đạo đức để thực hiện dự án thì khoản cho vay cũng vẫn có thể có hiệu quả thấp Đó là ảnh hưởng của các yếu tố môi trường, mà một trong những yếu tố đó là:

- Do sự thay đổi bất thường của các chính sách, do thiên tai bão lũ, do nền kinh tế không ổn định… khiến cho cả Ngân hàng và khách hàng không thể ứng phó kịp

- Do môi trường pháp lý lỏng lẻo, thiếu đồng bộ, còn nhiều sơ hở dẫn tới không kiểm soát được các hiện tượng lừa đảo trong việc sử dụng vốn của khách hàng

- Do sự biến động về chính trị - xã hội trong và ngoài nước gây khó khăn cho doanh nghiệp dẫn tới rủi ro cho Ngân hàng

- Ngân hàng không theo kịp đà phát triển của xã hội, nhất là sự bất cập

về trình độ chuyên môn cũng như công nghệ của Ngân hàng

- Do sự biến động của kinh tế như suy thái kinh tế, biến động tỷ giá, lạm phát gia tăng ảnh hưởng tới DN cũng như Ngân hàng

- Sự bất bình đẳng trong đối sử của một số cơ quan Nhà nước dành cho các NHTM khác nhau

- Chính sách Nhà nước chậm thay đổi hoặc chưa phù hợp với tình hình phát triển đất nước [3, tr 324-325]

1.3.2 Các nhân tố bên trong:

Ngân hàng là người quyết định mấu chốt của chất lượng tín dụng mà mình cung cấp cho khách hàng, do vậy mà các nhân tố thuộc về ngân hàng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng gồm:

• Thẩm định dự án:

Tín dụng trung và dài hạn được tiến hành chủ yếu trên các dự án đầu tư

và lượng vốn giải ngân cho một dự án thường rất lớn, với thời hạn dài vì vậy

mà rủi ro là rất lớn, thẩm định dự án đầu tư giúp cho ngân hàng hiểu biết rõ nhất về các thông tin liên quan đến dự án đầu tư như về chủ đầu tư và hiệu quả của dự án đầu tư từ đó rút ra các kết luận chính xác về tính khả thi, hiệu quả kinh tế, khả năng trả nợ, rủi ro của dự án để ra quyết định có cho vay hay không Cũng qua việc thẩm định, ngân hàng có thể tham gia góp ý cho chủ đầu tư, đồng thời làm cơ sở để xác định số tiền vay, thời hạn cho vay, mức độ thu nợ hợp lý, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả

Trang 14

Với mục đích quan trọng như vậy nên thẩm định là khâu phức tạp nhất

và là khâu hay mắc sai sót nhất của ngân hàng Làm tốt công tác thẩm định sẽ giúp cán bộ ngân hàng loại bỏ ngay từ đầu những dự án không khả thi tiết kiệm chi phí cho nền kinh tế, chọn được những dự án đầu tư tốt đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp cho ngân hàng và mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao, ngược lại nếu công tác thẩm định không được tiến hành thận trọng, bỏ qua các bước thẩm định thì dễ chọn phải những dự án không có tính khả thi, gây lãng phí tiền đối với doanh nghiệp, gây rủi ro cho ngân hàng

• Khả năng chuyên môn và kinh nghiệm của cán bộ tín dụng:

Trong mọi lĩnh vực, con người là yếu tố quyết định, đó là một chân lý song nói đến chất lượng nhân sự phải kể đến chất lượng của cán bộ tín dụng, cán bộ tín dụng hàng ngày phải xử lý nghiệp vụ có tính biến động nhưng liên quan đến nhiều lĩnh vực, ngành nghề kinh tế, gặp gỡ trực tiếp với nhiều loại khách hàng; đối mặt với nhiều loại cám dỗ, có nhiều cơ hội có thể thực hiện những hành vi để vụ lợi , chính vì vậy mà đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp cũng như kiến thức, trình độ nghiệp vụ cơ bản của người cán bộ tín dụng rất quan trọng, nếu cán bộ tín dụng mà có trình độ nghiệp vụ kém thì những quyết định về tín dụng có thể sai sót và gây ra rủi ro cho ngân hàng và khoản tín dụng đó có chất lượng tồi

• Chính sách tín dụng của Ngân hàng:

Mỗi một ngân hàng thương mại đều xây dựng một chính sách tín dụng riêng trong từng thời kỳ, phù hợp với mục tiêu, chiến lược của mình Chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh tài trợ của một ngân hàng, trở thành bản hướng dẫn cho cán bộ tín dụng đưa ra quyết định hợp lý, chính sách tín dụng tạo cho người cán bộ tín dụng ý thức về phương hướng và một khung tham chiếu xác định để theo đó xem xét cân nhắc một đơn vị vay nhất định Việc đánh giá chất lượng tín dụng cũng phải được dựa vào những định hướng chính sách tín dụng đưa ra như vậy một chính sách tín dụng tốt sẽ giúp cán bộ tín dụng có cơ sở vững chắc để quyết định việc cho vay những khoản vay an toàn hiệu quả

• Chính sách lãi suất:

NHTM là định chế tài chính trung gian thực hiện đi vay để cho vay với lãi suất cao hơn Do đó, phải có một chính sách lãi suất phù hợp làm cơ sở cho Ngân hàng nâng cao hiệu quả tín dụng trung và dài hạn tức là phải đảm bảo các điều kiện sau đây:

+ Bảo vệ lợi ích của người gửi tiền, ngoài tiền lãi còn có các lợi ích khác

Trang 15

+ Lãi suất cho vay phải bù đắp được chi phí về huy động vốn và bảo đảm mức thu nhập ròng hợp lý cho Ngân hàng.

+ Lãi suất phải được đổi theo cung - cầu thị trường nhưng sự biến đổi của nó luôn trong giới hạn ,

+ Lãi suất cho vay phải phù hợp với đối tượng của tín dụng có nghĩa là lãi suất cho vay dài hạn phải lớn hơn lãi suất ngắn hạn bởi cho vay dài hạn có mức độ rủi ro cao hơn

• Khả năng về nguồn vốn trung và dài hạn:

Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại nhất là hoạt động tín dụng thì vốn huy động là nguồn chủ yếu Tuy nhiên về nguyên tắc để cho vay trung và dài hạn các ngân hàng thương mại chủ yếu phải sử dụng nguồn huy động trung và dài hạn Việc sử dụng vốn huy động đúng chức năng, mục đích sẽ đảm bảo an toàn cho ngân hàng trong thanh toán Để tài trợ cho hoạt động tín dụng cần đòi hỏi về nguồn vốn ổn định, ngoài nguồn vốn tự

có, nguồn vốn huy động trung và dài hạn còn phải sử dụng thêm một lượng nhỏ nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn do đó nếu có một sự thay đổi nào đối với nguồn vốn tài trợ đều ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, có thể dẫn đến ngân hàng mất khả năng thanh toán vì giữa huy động vốn và sử dụng vốn không khớp với nhau về kỳ hạn

Thực tế các NHTM trong giai đoạn hiện nay về huy động nguồn vốn này

là hết sức nan giải Chính vì lẽ đó, để thực hiện được chiến lược đa dạng hoá,

đa phương hoá các phương thức, giải pháp huy động vốn từ mọi nguồn kể cả

nước ngoài Ngân hàng phải tạo được cơ cấu hợp lý

* Công tác tổ chức ngân hàng

Công tác tổ chức tác động tới mọi mặt của hoạt động ngân hàng đặc biệt tác động mạnh tới hoạt động tín dụng Công tác này thực hiện tốt được thể hiện bằng việc tổ chức khoa học trong việc phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng ban, có sự thống nhất đoàn kết nhất chí từ ban lãnh đạo đến cán bộ nhân viên sẽ đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng, giúp ngân hàng quản

lý sát sao các khoản cho vay Đây là cơ sở để tiến hành các nghiệp vụ tín dụng lành mạnh, nâng cao chất lượng tín dụng [3, tr 325-327]

Trang 16

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ THƯƠNG PLEIKU

2.1 Giới thiệu chung về Chi nhánh Ngân hàng Thương mại cổ phần kỹ thương Pleiku

Tên đầy đủ : Ngân hàng Thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam

Tên giao dịch quốc tế : Vietnam Technological and Commercial Joint- stock Bank

Tên gọi tắt: TECHCOMBANK

Chủ quản : Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Giấy phép đăng ký kinh doanh số : 055679

Mã số thuế : 0100230800

Logo của TCB:

Trang 17

 Quá trình hình thành và phát triển của Techcombank:

Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam với tên giao dịch quốc tế TECHCOMBANK (Technological and Commercial Joint Stock Bank) Được thành lập vào ngày 27 tháng 09 năm 1993 theo giấy phép hoạt động số 0040/NHCP ngày 06/08/1993 do thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp, giấp phép thành lập số 1543/QĐ của UBND Hà Nội cấp ngày 04/09/1993 và giấy phép kinh doanh số 055679 cấp ngày 07/09/1993 của hội

.Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam - TCB là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt Nam được thành lập trong bối cảnh đất nước đang chuyển sang nền kinh tế thị trường với số vốn điều lệ là 20 tỷ đồng và trụ sở chính ban đầu được đặt tại số 70 – 72 Bà Triệu, Hoàn Kiếm, Hà Nội TCB có cổ đông chiến lược là ngân hàng HSBC với 20% cổ phần Với mạng lưới hơn 300 chi nhánh, phòng giao dịch trên 44 tỉnh

và thành phố trong cả nước, dự kiến đến cuối năm 2012, Techcombank sẽ tiếp tục mở rộng, nâng tổng số Chi nhánh và Phòng giao dịch lên trên 360 điểm trên toàn quốc TCB còn là ngân hàng đầu tiên và duy nhất được Financial Insights tặng danh hiệu Ngân hàng dẫn đầu về giải pháp và ứng dụng công nghệ Hiện tại, với đội ngũ nhân viên lên tới trên 7.800 người, TCB luôn sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu về dịch vụ dành cho khách hàng TCB hiện phục

vụ trên 2,3 triệu khách hàng cá nhân, trên 66 000 khách hàng DN

Các cột mốc lịch sử

1994-1995

• Tăng vốn điều lệ lên 51,495 tỷ đồng

• Thành lập Chi nhánh Techcombank Hồ Chí Minh, khởi đầu cho quá trình phát triển nhanh chóng của Techcombank tại các đô thị lớn

• Trụ sở chính được chuyển sang Toà nhà TCB, 15 Đào Duy Từ, Hà Nội

• Thành lập Chi nhánh Techcombank Đà Nẵng tại Đà Nẵng

1999

• Techcombank tăng vốn điều lệ lên 80,020 tỷ đồng

• Khai trương Phòng giao dịch số 3 tại phố Khâm Thiên, Hà Nội

Trang 18

• Thành lập Phòng Giao dịch Thái Hà tại Hà Nội

2001

• Tăng vốn điều lệ lên: 102,345 tỷ đồng

• Ký kết hợp đồng với nhà cung cấp phần mềm hệ thống ngân hàng hàng đầu trên thế giới Temenos Holding NV, về việc triển khai hệ thống phần mềm Ngân hàng GLOBUS cho toàn hệ thống TCB nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng

2002

• Thành lập Chi nhánh Chương Dương và Chi nhánh Hoàn Kiếm tại Hà Nội

• Thành lập Chi nhánh Hải Phòng tại Hải Phòng

• Thành lập Chi nhánh Thanh Khê tại Đà Nẵng

• Thành lập Chi nhánh Tân Bình tại Thành phố Hồ Chí Minh

• Là Ngân hàng Cổ phần có mạng lưới giao dịch rộng nhất tại thủ đô Hà Nội Mạng lưới bao gồm Hội sở chính và 8 Chi nhánh cùng 4 Phòng giao dịch tại các thành phố lớn trong cả nước

• Tăng vốn điều lệ lên 104,435 tỷ đồng

• Chuẩn bị phát hành cổ phiếu mới để tăng vốn điều lệ TCB lên 202 tỷ đồng

• Đưa chi nhánh TCB Chợ lớn vào hoạt động

• Vốn điều lệ tăng lên 180 tỉ tại 31/12/2004

2004

• Ngày 09/06/2004: Khai trương biểu tượng mới của Ngân hàng

• Ngày 30/6/2004: Tăng vốn điều lệ lên 234 tỉ đồng

• Ngày 02/8/2004: Tăng vốn điều lệ lên 252,255 tỷ đồng

• Ngày 26/11/2004: Tăng vốn điều lệ lên 412 tỷ đồng

• Ngày 13/12/2004 Ký hợp đồng mua phần mềm chuyển mạch và quản

lý thẻ với Compass Plus

2005

Trang 19

• Thành lập các chi nhánh cấp 1 tại: Lào Cai, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, T.P Nha Trang (tỉnh Khánh Hoà), Vũng Tàu

• Đưa vào hoạt động các phòng giao dịch: TCB Phan Chu Trinh (Đà Nẵng), TCB Cầu Kiều (Lào Cai), TCB Nguyễn Tất Thành, TCB Quang Trung, TCB Trường Chinh (Hồ Chí Minh), TCB Cửa Nam, TCB Hàng Đậu, TCB Kim Liên (Hà Nội)

• Ngày 21/07/2005, 28/09/2005, 28/10/2005: Tăng vốn điều lệ lên 453 tỷ đồng, 498 tỷ đồng và 555 tỷ đồng Ngày 29/09/2005: Khai trương phần mềm chuyển mạch và quản lý thẻ của hãng Compass Plus

• Ngày 03/12/2005: Nâng cấp hệ thống phần mềm Globus sang phiên bản mới nhất Tenemos T24 R5

2006

• Nhận giải thưởng về thanh toán quốc tế từ the Bank of NewYorks, Citibank, Wachovia

• Tháng 2/2006: Phát hành chứng chỉ tiền gửi Lộc Xuân

• Tháng 5/2006: Nhận cúp vàng “Vì sự tiến bộ xã hội và phát triển bền vững” do Tổng liên đoàn lao động Việt Nam trao

• Tháng 6/2006: Call Center và đường dây nóng 04.9427444 chính thức

đi vào hoạt động 24/7

• Tháng 8/2006: Moody’s, hãng xếp hạng tín nhiệm hàng đầu thế giới đã công bố xếp hạng tín nhiệm của TCB, ngân hàng TMCP đầu tiên tại Việt Nam được xếp hạng bởi Moody’s

• Tháng 8/2006: Đại hội cổ đông thường niên thông qua kế hoạch 2006 – 2010; Liên kết cung cấp các sản phẩm Bancassurance với Bảo Việt Nhân Thọ

• Tháng 9/2006: Hoàn thiện hệ thống siêu tài khoản với các sản phẩm mới Tài khoản Tiết kiệm đa năng, Tài khoản Tiết kiệm trả lãi định kỳ

• Ngày 24/11/2006: Tăng vốn điều lệ lên 1.500 tỉ đồng

• Ngày 15/12/2006: Ra mắt thẻ thanh toán quốc tế TCB Visa

2007

• Tổng tài sản đạt gần 2,5 tỷ USD

• Trở thành ngân hàng có mạng lưới giao dịch lớn thứ hai trong khối ngân hàng TMCP với gần 130 chi nhánh và phòng giao dịch tại thời điểm cuối năm 2007

• HSBC tăng phần vốn góp lên 15% và trực tiếp hỗ trợ tích cực trong quá trình hoạt động của TCB

Trang 20

• Chuyển biến sâu sắc về mặt cơ cấu với việc hình thành khối dịch vụ khách hàng doanh nghiệp, thành lập Khối Quản lý tín dụng và quản trị rủi ro, hoàn thiện cơ cấu Khối Dịch vụ ngân hàng và tài chính cá nhân.

• Nâng cấp hệ thống corebanking T24R06

• Năm phát triển vượt bậc của dịch vụ thẻ với tổng số lượng phát hành đạt trên 200.000 thẻ các loại Trở thành ngân hàng Việt Nam đầu tiên và duy nhất được Financial Insights công nhận thành tựu về ứng dụng công nghệ đi đầu trong giải pháp phát triển thị trường

• Triển khai chương trình “Khách hàng bí mật” đánh giá chất lượng dịch

vụ của các giao dịch viên và điểm giao dịch của TCB

• Ra mắt hàng loạt các sản phẩm mới: như các chương trình Tiết kiệm dự thưởng “Gửi TCB, trúng Mercedes”, Tiết kiệm Tích lũy bảo gia, Tín dụng tiêu dùng, các sản phẩm dành cho doanh nghiệp như Tài trợ nhà cung cấp; các sản phẩm dựa trên nền tảng công nghệ cao như mailto:F@st i-Bank, sản phẩm Quản lý tài khoản tiền của nhà đầu tư chứng khoán mailto:F@st S-Bank và Cổng thanh toán điện tử cung cấp giải pháp thanh toán trực tuyến cho các trang web thương mại điện tử mailto:F@stVietPay

• Nhận giải thưởng “Thương mại Dịch vụ - Top Trade Services 2007” - giải thưởng dành cho những doanh nghiệp tiêu biểu, hoạt động trong 11 lĩnh vực Thương mại Dịch vụ mà Việt Nam cam kết thực hiện khi gia nhập WTO

do Bộ Công thương trao tặng

2008

• Tháng 02/2008: Nhận danh hiệu “Dịch vụ được hài lòng nhất năm 2008” do độc giả của báo Sài Gòn Tiếp thị bình chọn

• Tháng 03/2008: Ra mắt thẻ tín dụng TCB Visa Credit

• Tháng 05/2008: Triển khai máy gửi tiền tự động ADM

• Triển khai hàng loạt dự án hiện đại hóa công nghệ như: nâng cấp hệ thống phần mềm ngân hàng lõi lên phiên bản T24.R7, là thành viên của cả hai liên minh thẻ lớn nhất Smartlink và BankNet, kết nối hệ thống ATM với đối tác chiến lược HSBC, triển khai số Dịch vụ khách hàng miễn phí (hỗ trợ 24/7)

1800 588 822

• Tháng 06/2008: Tài trợ cuộc thi Sao Mai Điểm Hẹn 2008

• Tháng 08/08/2008: Ra mắt Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản TCB AMC

• Tháng 09/2008: Nhận giải thưởng Sao Vàng Đất Việt 2008 do Hội Doanh nghiệp trẻ trao tặng

Trang 21

• Tháng 09/2008: Tăng tỷ lệ sở hữu của đối tác chiến lược HSBC từ 15% lên 20% và tăng vốn điều lệ lên 3.165 tỷ đồng

• Tháng 09/2008: Ra mắt thẻ đồng thương hiệu TCB – Vietnam Airlines – Visa

• Ngày 19/10/2008: Nhận giải thưởng “Thương hiệu chứng khoán uy tín”

và “Công ty cổ phần hàng đầu Việt Nam” do UBCK trao tặng

2009

• Tháng 07/2009: Tăng vốn điều lệ lên 4.337 tỷ đồng

• Tháng 09/2009: Tăng vốn điều lệ lên 5.400 tỷ đồng

• Tháng 09/2009: Ký kết hợp đồng tài trợ vốn vay bắc cầu dự án 16 máy bay A321 với Vietnam Airlines

• Tháng 09/2009: Ra mắt sản phẩm Tiết kiệm Online…

• Nhận giải thưởng “Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2009” do Việt Nam Report trao tặng

• Nhận giải thưởng “Ngân hàng xuất sắc trong hoạt động thanh toán quốc tế” do ngân hàng Wachovina trao tặng

• Bắt đầu khởi động chiến lược chuyển đổi với sự hỗ trợ của nhà tư vấn hàng đầu thế giới McKinsey

2010

• Triển khai các chương trình chuyển đổi chiến lược tổng thể, công bố tầm nhìn sứ mệnh và các giá trị cốt lõi của TCB Đồng thời thực hiện việc tái cấu trúc mô mình kinh doanh và quản lý và chuyển đổi văn hóa doanh nghiệp

• Tháng 04/2010: Đạt giải thưởng “Ngôi sao quốc tế dẫn đầu về quản lý chất lượng” (International Star for Leadership in Quality Award) do BID – Tổ chức Sáng kiến Doanh nghiệp quốc tế trao tặng

• Tháng 05/2010: Nhận Danh vị “Thương hiệu quốc gia 2010”

• Tháng 05/2010: Nhận giải Ngân hàng Tài trợ Thương mại năng động nhất khu vực Đông Á do IFC, thành viên của Ngân hàng Thế giới trao tặng

• Tháng 06/2010: Nhận giải thưởng Ngân hàng Thanh toán quốc tế xuất sắc năm 2009 do Citi Bank trao tặng

• Tháng 6/2010: Tăng vốn điều lệ lên 6.932 tỷ đồng

• Tháng 7/2010: Nhận giải thưởng “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam 2010”

do tạp chí Euromoney trao tặng

• Tháng 8/2010: Nhận Giải thưởng “Sao Vàng Đất Việt 2010” do Hội doanh nhân trẻ trao tặng và Giải thưởng Thương hiệu Việt được ưu thích nhất năm 2010 do Báo Sài gòn Giải phóng trao tặng

2011

Trang 22

• 3/2011: Nhận giải thưởng “Tỷ lệ điện tín chuẩn” từ ngân hàng Bank of New York

• 4/2011: Được xếp hạng trong “top 500 doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam” từ tổ chức VNR 500 và nhận giải thưởng “Sản phẩm tín dụng của năm”

từ Thời Báo Kinh Tế Việt Nam

• 5/2011: Nhận giải “ Doanh nghiệp đi đầu” của tổ chức World confederation of businesses

• 6/2011 đến 8/2011: Nhận 8 giải danh giá của các tổ chức quốc tế uy tín, bao gồm:

• “The Best Bank in Vietnam”- Ngân hàng tốt nhất Việt Nam năm 2011;

“The Best Cash Management Bank in Vietnam” - Ngân hàng quản lý tiền tệ tốt nhất Việt Nam năm 2011 và “The Best Trade Bank in Vietnam” - Ngân hàng tài trợ thương mại tốt nhất Việt Nam năm 2011 do Tạp chí Finance Asia trao tặng

• “The Best Bank in Vietnam” - Ngân hàng tốt nhất Việt Nam năm 2011;

“The Best Cash Management Bank in Vietnam” - Ngân hàng quản lý tiền tệ tốt nhất Việt Nam năm 2011 và “The Best Trade Bank in Vietnam” - Ngân hàng tài trợ thương mại tốt nhất Việt Nam năm 2011 do Tạp chí Alpha South East Asia trao tặng

• “The Best FX provider in Vietnam” - Ngân hàng cung cấp ngoại hối tốt nhất năm 2011 do Tạp chí Asia Money trao tặng

• “Vietnam Retail bank of the year” do Tạp chí Asian Banking and finance trao tặng

• 12/2011: Nhận Giải “Best domestic bank in Vietnam” – Ngân hàng nội địa tốt nhất Việt Nam do Tạp chí The Asset trao tặng

Sau 15 năm phát triển, từ một ngân hàng nhỏ, TCB đã trở thành một trong những ngân hàng TMCP hàng đầu Việt Nam TCB hiện phục vụ hơn 400.000 khách hàng dân cư, gần 20.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ và các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân có quy mô lớn Với khách hàng cá nhân, TCB cung ứng trọn bộ các sản phẩm ngân hàng đáp ứng mọi nhu cầu có thể phát sinh của khách hàng bao gồm các sản phẩm tài khoản, tiết kiệm, tín dụng, thanh toán, thẻ, đầu tư, bảo lãnh, bảo quản tài sản trên nền tảng công nghệ hiện đại của hệ thống Globus, rất thuận tiện và có nhiều tiện ích và giá trị gia tăng cho khách hàng, trong đó trụ cột là các nhóm sản phẩm thẻ, tài trợ tiêu dùng và cho vay mua nhà trả góp Với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, TCB đang cung cấp “siêu thị dịch vụ tài chính trọn gói” hỗ trợ tối đa hoạt

Trang 23

gửi, tín dụng, đầu tư dự án, tài trợ xuất nhập khẩu, quản lý nguồn tiền, bao thanh toán, thuê mua, dịch vụ ngoại hối và quản trị rủi ro, các chương trình cho vay ưu đãi và hỗ trợ xuất nhập khẩu theo các thỏa thuận ký với các tổ chức quốc tế TCB hiện đang có giao dịch với gần 200 tổ chức tài chính trong

và ngoài nước TCB đang cung ứng các sản phẩm ngoại hối, giao dịch vốn, chiết khấu chứng từ có giá, các công cụ phái sinh và quản trị rủi ro cho rất nhiều khách hàng trong nước trên cơ sở hợp tác với các tổ chức quốc tế và sàn giao dịch lớn trên thế giới.Với sự tự tin, cam kết và lòng quyết tâm cao, mọi thành viên đại gia đình TCB đang nghĩ và hành động hướng tới mục tiêu phát triển ngân hàng nhằm đem lại nhiều hơn nữa lợi ích cho khách hàng, giá trị cho cổ đông: TCB đem lại “sự thân thiện đến tin cậy”

Là một ngân hàng thương mại đô thị đa năng, TCB cung ứng phong phú

và đa dạng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống cũng như các dịch

vụ mới với công nghệ hiện đại Phương châm hoạt động của TCB là

“Techcombank chăm lo để bạn thành công”

2.1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Chi nhánh Ngân hàng Thương mại cổ phần kỹ thương Pleiku

 Giới thiệu chung

Tên chi nhánh: Ngân hàng Thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam_Chi nhánh Pleiku

Tên giao dịch quốc tế: Vietnam Technological and Commercial Joint- stock Bank

Tên viết tắt: Techcomnak Pleiku

Mã số thuế : 010023080052

Địa chỉ chi nhánh: 16 - 18 Trần Phú ( Nối dài), Pleiku, Gia Lai

 Quá trình hình thành và phát triển của Chi nhánh

Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam – CN Pleiku đc thành lập từ tháng 08/2008 Trong kế hoạch 5 năm 2006 – 2010 TCB thành lập hàng loạt các chi nhánh trên cả nước, trong đó có Chi nhánh TCB Pleiku

Techcombank Pleiku là đơn vị trực thuộc Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam được thành lập theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 28 tháng 08 năm 2008, đặt tại 16 - 18 Trần Phú ( Nối dài), Pleiku, Gia Lai Một số các chi nhánh khác của TCB cũng được thành lập trong khoảng thời gian này như: chi nhánh Hoàn Kiếm, chi nhánh Hải Phòng, chi nhánh Thanh Khê Chi nhánh Tân Bình… trong chiến lược phát triển 5 năm 2005 – 2010 của NHTMCP Kỹ Thương Việt Nam TCB Chương Dương ra đời vào đúng giai đoạn phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Việt

Trang 24

Nam nói chung và của hệ thống ngân hàng Việt Nam nói riêng, đây là thử thách lớn dành cho TCB Pleiku Chi nhánh ra đời vào giai đoạn nền kinh tế phát triển, là yếu tố cần thiết cho mọi ngân hàng đi vào hoạt động một cách nhanh chóng, thuận lợi Tuy nhiên đây cũng là giai đoạn ngân hàng cả nước

mở rộng quy mô, thành lập hàng loạt chi nhánh, sở giao dịch TCB Pleiku có nhiều đối thủ cạnh tranh trực tiếp và gián tiếp, một số các ngân hàng lớn cũng

mở chi nhánh tại khu vực miền Trung – Tây Nguyên và đặc biệt là Gia Lai trong giai đoạn này như BIDV, SCB, Vietinbank, VIB… Song có chiến lược kinh doanh và được sự hỗ trợ của Hội sở chính nên chỉ sau một thời gian ngắn hoạt động TCB Pleiku đã nhanh chóng đi vào hoạt động ổn định

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Chi nhánh Ngân Thương mại cổ phần kỹ thương Pleiku

2.1.2.1 Lĩnh vực hoạt động chính của ngân hàng

Thực hiện các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan theo Luật các tổ chức tín dụng, theo điều lệ tổ chức hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam, theo quy chế tổ chức

và hoạt động do Hội đồng quản trị ban hành

2.1.2.2 Các sản phẩm, dịch vụ chính

 Hoạt động huy động vốn.

Đối với riêng nguồn tiền gửi thì đến nay, TCB không những luôn được biết đến là một trong những ngân hàng có lãi suất tiền gửi hợp lý mà còn là một ngân hàng có hoạt động nhận tiền gửi phát triển với nhiều hình thức đa dạng, phong phú như:

-Tiền gửi có kỳ hạn cố định

-Tiền gửi không có kỳ hạn

-Tiền gửi theo thời gian thực gửi

-Tiền gửi thanh toán

Những loại tiền gửi trên đã góp phần tạo điều kiện cho khách hàng chủ động trong việc sử dụng vốn mà vẫn được hưởng mức lãi suất hấp dẫn, đặc

biệt là hình thức Tiền gửi tiết kiệm theo thời gian thực gửi Khách hàng có

thể chủ động sử dụng tiền bất cứ lúc nào mình cần mà vẫn được hưởng mức

lãi suất cao gần tương đương với loại tiền gửi có kỳ hạn tương ứng

 Hoạt động tín dụng

Cung ứng tín dụng được coi là trọng điểm trong hoạt động kinh doanh của TCB Mặc dù bối cảnh kinh tế nói chung vẫn gặp nhiều khó khăn nhưng

Trang 25

Cùng với việc phát triển tín dụng, với mục tiêu năm 2000 là năm đổi mới công tác quản lý chất lượng tín dụng, TCB đã thực thi một loại các biện pháp hữu hiện, vì vậy hầu hết các khoản cho vay mới trong năm đều không phát sinh quá hạn, các khoản nợ cũ đang được xử lý từng bước Bên cạnh đó, TCB luôn chú trọng mở rộng hoạt động tín dụng với nhiều loại hình đa dạng trên cơ sở vận dụng các quy định của NHNN nhằm hỗ trợ ngày một tốt hơn đối với các doanh nghiệp trong quá trình đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh Các lĩnh vực kinh tế được ưu tiên là:

- Các doanh nghiệp hoạt động có liên quan đến xuất khẩu, đặc biệt

là sản xuất, khai thác và chế biến hàng xuất khẩu

- Các doanh nghiệp sản xuất nói chung

- Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại và cung cấp các dịch vụ

- Các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng

Để đáp ứng một cách linh hoạt nhu cầu vốn của khách hàng, TCB tiếp tục duy trì và hoàn thiện các sản phẩm tín dụng hiện có:

- Thẩm định, tài trợ các dự án trung và dài hạn

- Cho vay ngắn hạn bổ sung vốn lưu động

- Cho vay tiêu dùng như trả góp các vật dụng và phương tiện đi lại, cho vay mua nhà, sửa chữa và xây dựng nhà

- Các hình thức bảo lãnh vay vốn, dự thầu, thực hiện hợp đồng

Và phát triển các sản phẩm, dịch vụ mới:

- Cho vay luân chuyển

- Cho vay với đảm bảo hàng hoá thông qua Tổng công ty kho vận, Bên cạnh việc phát triển các sản phẩm mới, trong thời gian tới, TCB sẽ

áp dụng cài đặt các chương trình truyền tin và thanh toán điện tử tại trụ sở khách hàng nhằm tạo điều kiện cho khách hàng trong công tác thanh toán, tăng cường trao đổi thông tin giữa ngân hàng với khách hàng nhằm thúc đẩy tiến trình đi đến giải ngân các khoản tín dụng, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn kinh doanh cho các doanh nghiệp

 Hoạt động đầu tư.

Hoạt động đầu tư của TCB được thể hiện chủ yếu thông qua hoạt động mua bán chứng khoán và góp vốn mua cổ phần Đến cuối năm 2000, ngân hàng đã sở hữu 13,900 tỷ đồng tín phiếu kho bạc nhà nước và 212 triệu đồng công trái Bên cạnh đó, ngân hàng còn sở hữu nhiều cổ phần của các công ty khác

Trang 26

 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ

TCB trở thành thành viên của Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng từ năm

1998 và đến nay, ngân hàng đã có riêng một phòng kinh doanh ngoại tệ với đội ngũ nhân viên được đào tạo chuyên nghiệp và làm việc rất có hiệu quả

Kể từ khi ra đời cho đến nay, phòng kinh doanh ngoại tệ không chỉ đáp ứng kịp thời nhu cầu ngoại tệ phục vụ cho công tác thanh toán, duy trì tốt trạng thái ngoại hối của TCB một cách linh hoạt, tuân thủ quy định của NHNN mà còn tổ chức tốt hoạt động kinh doanh ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng Bên cạnh đó, phòng kinh doanh ngoại tệ còn phối hợp chặt chẽ với phòng kinh tế đối ngoại trong việc thu hút những nguồn kiều hối từ các nước Châu Âu, Bắc Mỹ, các nước thuộc khối ASEAN, chuyển về Việt Nam qua TCB

 Các dịch vụ ngân hàng.

Bên cạnh sự tăng trưởng đáng kể của dịch vụ thanh toán trong nước, hoạt động thanh toán quốc tế của TCB ngày càng được củng cố và phát triển Cùng với kinh doanh ngoại hối, dịch vụ thanh toán quốc tế cũng được coi là một thế mạnh của TCB với doanh số thanh toán đạt tới hàng trăm triệu đôla Mỹ mỗi năm Ngoài các Ngân hàng đại lý hiện có, trong năm 2000, TCB đã thiết lập thêm quan hệ đại lý với 4 ngân hàng lớn là Bank of NewYork, Citibank, Pusan Bank và Bank of Ukraina Mạng lưới các ngân hàng đại lý được mở rộng khắp toàn cầu đã giúp cho các hoạt động thương mại và thanh toán quốc

tế của khách hàng được thực hiện một cách nhanh chóng và thuận lợi Các sản phẩm dịch vụ đạt tiêu chuẩn quốc tế cho phép TCB đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng trong giao dịch ngoại thương như:

- Mở, thông báo, xác nhận, thanh toán, L/C trả ngay và trả chậm

- Các hình thức thanh toán D/A, D/P, T/Tr

Với sự hỗ trợ của công nghệ hiện đại, TCB còn thực hiện dịch vụ chuyển tiền rất nhanh chóng và chính xác Dù khách hàng có hay không có tài khoản tại ngân hàng, muốn chuyển tiền cho bất cứ ai, cá nhân hay tổ chức tại bất cứ nơi đâu trên toàn quốc, TCB đều có thể đáp ứng với thời gian nhanh nhất, đảm bảo sự chính xác, an toàn và mức phí dịch vụ hợp lý Bên cạnh đó, TCB còn áp dụng mức phí ưu đãi đối với những khách hàng chuyển tiền thanh toán

từ số dư tài khoản hiện có tại ngân hàng Đặc biệt, với dịch vụ chuyển tiền

nhanh toàn cầu Western Union mà TCB làm đại lý, khách hàng có thể nhận

Trang 27

được tiền của người thân hoặc đối tác từ nước ngoài chuyển về chỉ trong vòng một ngày và người nhận có thể nhận bằng tiền mặt ngoại tệ khi có yêu cầu.Tiếp tục khai thác các sản phẩm dịch vụ lợi thế cao nhất của TCB cụ thể các sản phẩm thẻ ATM, Visa, BSMS,VN pay, VN topup, thanh toán lương, v.v.

Ngoài ra, TCB còn là đại lý chấp nhận và thanh toán các loại thẻ tín dụng quốc tế thông dụng trên thế giới như Master Card, Visa Card, American Express, JCB, Khách hàng có thể nhận bằng tiền Việt Nam hay ngoại tệ với mức phí hợp lý

Với đội ngũ nhân viên lành nghề được đào tạo chu đáo và hệ thống kho tàng đáp ứng được các quy định về an toàn chặt chẽ nhất, TCB còn cung ứng các dịch vụ về ngân quỹ như:

- Dịch vụ kiểm đếm, phân loại, đóng gói các loại tiền mặt VND, tiền mặt ngoại tệ, ngân phiếu thanh toán, công trái

- Kiểm định ngoại tệ và cấp giấy chứng nhận ngoại tệ

- Thu đổi các loại ngoại tệ mạnh, séc du lịch

- Bảo quản, cất giữ các tài sản quý, giấy tờ quan trọng của khách hàng theo niêm phong với chi phí thấp

Trong những năm qua, với vai trò là thủ quỹ của các doanh nghiệp, nhà

tư vấn và thu xếp tài chính, TCB đã giành được sự tín nhiệm của các doanh nghiệp trong công tác hỗ trợ thẩm định và phân tích các dự án đầu tư, xây dựng các chương trình huy động vốn và gọi vốn đầu tư cũng như cung cấp các dịch vụ quản lý và điều hành tài chính cho các dự án, góp phần mang lại

sự thành công cho các dự án nói riêng và sự phát triển của các doanh nghiệp nói chung Với đội ngũ cán bộ có trình độ và giầu kinh nghiệm, trong thời gian tới, TCB đang nghiên cứu để có thể phát triển và mở ra nhiều dịch vụ tư vấn mới, đặc biệt là dịch vụ tư vấn chứng khoán, môi giới mua bán và lưu ký chứng khoán khi điều kiện cho phép nhằm thực hiện mục tiêu là người bạn đồng hành của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trên mọi lĩnh vực tài chính - tiền tệ

Bên cạnh các dịch vụ chính, TCB còn đảm nhận giúp khách hàng trong việc trả lương, thưởng, thù lao cho nhân viên hay các đại lý khác với mức phí thoả thuận với các hình thức sau:

Trang 28

- Uỷ nhiệm trích tài khoản của đơn vị tại TCB để trả tiền cho người hưởng bằng tiền mặt hoặc vào tài khoản cá nhân theo danh sách được cung cấp.

- Nhận tiền mặt của đơn vị (trường hợp không mở tài khoản) để trả trực tiếp hoặc chuyển vào tài khoản cho người hưởng

2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Chi nhánh Ngân hàng Thương mại

2.1.3.2 Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban

 Ban giám đốc: Bao gồm:

o Giám đốc: Chịu trách nhiệm điều hành mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng, là người chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị mình

 Phòng Quan hệ khách hàng Doanh nghiệp

* Mảng tín dụng :

- Tham mưu, đề xuất chính sách và kế hoạch phát triển khách hàng

Trang 29

- Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình Marketing tổng thể cho từng nhóm sản phẩm.

- Tiếp nhận, triển khai và phát triển các sản phẩm tín dụng, dịch vụ ngân hàng dành cho khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp của TCB Phối hợp với các đơn vị liên quan, đề nghị TCB hỗ trợ tổ chức quảng bá, giới thiệu với khách hàng

về những sản phẩm dịch vụ của TCB dành cho khách hàng, những tiện ích và những lợi ích mà khách hàng được hưởng

- Tư vấn cho khách hàng lựa chọn sử dụng các sản phẩm dịch vụ của TCB Phổ biến, hướng dẫn, giải đáp thắc mắc cho khách hàng về quy trình sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng với tính chuyên nghiệp cao

- Chịu trách nhiệm về việc bán sản phẩm, nâng cao thị phần của chi nhánh, tối ưu hoá doanh thu nhằm đạt mục tiêu lợi nhuận, phù hợp với chính sách

và mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng

- Chịu trách nhiệm theo dõi và quản lý khách hàng của chi nhánh

- Thực hiện các nghiệp vụ quản lý sau như: Kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột xuất, thông qua các kênh thông tin khác nhau để giám sát tình hình sử dụng vốn của khách hàng có đúng như cam kết hay không, đề ra các biện pháp xử lý các sai phạm của khách hàng

- Giải quyết các khiếu nại, thắc mắc của khách hàng trong phạm vi quyền hạn cho phép Duy trì, phát triển quan hệ giao dịch của khách hàng, thu hút khách hàng mới

* Mảng thanh toán quốc tế

- Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán quốc tế như mở L/C, thanh toán L/C, chuyển tiền quốc tế

- Phối hợp với bộ phận tín dụng để hoàn thành các công việc có liên quan

 Phòng Quan hệ khách hàng cá nhân ( bán lẻ )

- Triển khai các họat động bán hàng hàng ngày (Tìm kiếm, gặp gỡ, gọi điện khách hàng tiềm năng; tư vấn đầy đủ, chính xác; cung cấp thông tin nhằm duy trì khách hàng tiềm năng; thuyết phục khách hàng sử dụng dịch vụ sản phẩm của TCB) Tiếp nhận, kiểm tra, thẩm định sơ bộ hồ sơ khách hàng đảm bảo tính chính xác, phù hợp với quy định của TCB và pháp luật hiện hành

- Giải đáp nhanh chóng, kịp thời và chính xác những thắc mắc của khách hàng Bảo vệ lợi ích của ngân hàng bằng việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của TCB và các pháp luật liên quan đến lĩnh vực tài chính ngân hàng

 Phòng Dịch vụ khách hàng: Gồm những bộ phận trực thuộc chịu trách

nhiệm ở các công việc được giao

Trang 30

* Mảng dịch vụ khách hàng

- Trực tiếp quản lý tài khoản và giao dịch với khách hàng

- Thực hiện công tác phòng chống rửa tiền đối với các giao dịch phát sinh theo quy định của Nhà nước và của TCB; phát hiện, báo cáo và xử lý kịp thời các giao dịch có dầu hiệu đáng ngờ trong tình huống khẩn cấp

- Kiểm tra tính pháp lý, tính đầy đủ, đúng đắn của các chứng từ giao dịch Thực hiện quản lý thông tin khách hàng, kiểm soát thông tin khách hàng do

bộ phận khởi tạo hồ sơ thông tin khách hàng khai báo vào phân hệ CIF Được quyền chỉnh sửa, bổ sung, cập nhật một số thông tin khách hàng trên phân hệ CIF theo quy định Quét, quản lý, bảo mật chữ ký, mẫu dấu, hình ảnh (SVS), phê duyệt chữ ký mẫu dấu và cập nhật các thông tin vào hệ thống

- Thực hiện đầy đủ các biện pháp kiểm soát nội bộ trước khi hoàn tất một giao dịch với khách hàng; đảm bảo an toàn về tiền và tài sản của ngân hàng

và khách hàng

* Mảng khách hàng ưu tiên ( priority)

- Thực hiện chăm sóc và quản lý khối khách hàng Vip, khách hàng ưu tiên

- Xây dựng và đề xuất kế hoạch phát triển khối khách hàng ưu tiên trong phạm vi cho phép

- Thường xuyên cập nhật thông tin và khai thác khách hàng hiện hữu và tiềm năng

- Kiểm tra, giám sát, tổng hợp, báo cáo về việc chấp hành nội quy lao động, nội quy cơ quan như sử dụng tài sản công, trật tự, an toàn cơ quan, phòng cháy, chữa cháy.v.v

* Kiểm soát sau:

- Thu thập thông tin phục vụ công tác kế hoạch - tổng hợp

- Tham mưu, xây dựng kế hoạch phát triển và kế hoạch kinh doanh

- Tổ chức triển khai kế hoạch kinh doanh

- Theo dõi tình hình thực hiện kế hoạch kinh doanh

- Giúp việc GĐ quản lý, đánh giá tổng thể hoạt động kinh doanh của Chi

Trang 31

- Quản lý và thực hiện công tác hạch toán kế toán chi tiết, kế toán tổng hợp.

- Thực hiện công tác hậu kiểm đối với hoạt động tài chính kế toán của chi nhánh đồng thời quản lý, giám sát tài chính

- Đề xuất tham mưu với Giám đốc chi nhánh về việc hướng dẫn thực hiện chế độ tài chính, kế toán, xây dựng chế độ, biện pháp quản lý tài sản, quản

lý tài chính, tiết kiệm chi tiêu nội bộ, hợp lý và đúng chế độ

- Kiểm tra việc chấp hành chế độ, quy trình trong công tác kế toán, luân chuyển chứng từ và chi tiêu tài chính của chi nhánh

- Chịu trách nhiệm về tính đúng đắn, chính xác, kịp thời, hợp lý, trung thực của số liệu kế toán, báo cáo kế toán, báo cáo tài chính Phản ảnh đúng hoạt động kinh doanh của Chi nhánh theo đúng chuẩn mực kế toán và các quy định của nhà nước và của TCB

2.1.4 Kết quả kinh doanh trong những năm gần đây (2009-2012)

2.1.4.1 Tình hình huy động vốn

Nghiệp vụ huy động vốn là một trong những nghiệp vụ quan trọng của Ngân hàng thương mại, huy động vốn càng nhiều thì Ngân hàng càng có khả năng mạnh trong hoạt động tín dụng, nhất là thực hiện chức năng tạo tiền Đặc biệt việc thu hút được nguồn vốn đầu vào với lãi suất thấp sẽ càng tạo điều kiện thuận lợi cho Ngân hàng trong các hoạt động sử dụng vốn tín dụng, làm tăng thêm lợi nhuận của Ngân hàng, đồng nghĩa với việc nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng Nhận thức rõ vai trò quan trọng đó Ngân hàng

đã rất chú trọng, và dùng nhiều hình thức khác nhau như: tuyên truyền quảng

bá hình ảnh của ngân hàng, áp dụng nhiều mức lãi suất hấp dẫn, cam kết trả đúng hạn để có thể huy động được một cách tối đa các nguồn vốn nhàn rỗi Mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nhưng TCB Chi nhánh Pleiku đã xuất sắc hoàn thành chỉ tiêu về huy động vốn thể hiện qua bảng số liệu sau:

Ngày đăng: 01/06/2016, 12:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức và quản lý của Chi nhánh Techcombank  Pleiku - báo cáo thực tập tại Ngân hàng Thương mại cổ phần kỹ thương Pleiku
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức và quản lý của Chi nhánh Techcombank Pleiku (Trang 28)
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu cơ bản về tình hình huy động vốn của Chi  nhánh Ngân hàng Thương mại cổ phần kỹ thương Pleiku - báo cáo thực tập tại Ngân hàng Thương mại cổ phần kỹ thương Pleiku
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu cơ bản về tình hình huy động vốn của Chi nhánh Ngân hàng Thương mại cổ phần kỹ thương Pleiku (Trang 32)
Bảng 2.2: Tình hình dư nợ cho vay tại Techcombank Pleiku (2009-2012) - báo cáo thực tập tại Ngân hàng Thương mại cổ phần kỹ thương Pleiku
Bảng 2.2 Tình hình dư nợ cho vay tại Techcombank Pleiku (2009-2012) (Trang 35)
Bảng 2.3: Kết quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh - báo cáo thực tập tại Ngân hàng Thương mại cổ phần kỹ thương Pleiku
Bảng 2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh (Trang 39)
Bảng 2.4: Doanh số cho vay – thu nợ - dư nợ theo tín dụng tại  Chi nhánh ngân hàng Techcombank Pleiku (2009-2012) - báo cáo thực tập tại Ngân hàng Thương mại cổ phần kỹ thương Pleiku
Bảng 2.4 Doanh số cho vay – thu nợ - dư nợ theo tín dụng tại Chi nhánh ngân hàng Techcombank Pleiku (2009-2012) (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w