Lý thuyết bộ ba bất khả thi và việc thực hiện chính sách tiền tệ ở việt nam
Trang 1Đề tài:
LÝ THUYẾT BỘ BA BẤT KHẢ THI
VÀ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM
Nhóm thực hiện: nhóm 6
Trang 21.Lý thuyết bộ ba bất khả thi
Kinh tế là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định sự phát triển của một quốc gia,
và việc có thể đưa ra những chính sách vi mô hay vĩ mô hoàn hảo để nền kinh tế đạt hiệu quả cao nhất là mong muốn tất yếu Tuy nhiên trong thực tế không thể đạt đến sự hoàn hảo tuyệt đối đó đòi hỏi chúng ta phải đối diện với câu hỏi: Trong một giai đoạn cụ thể, để đạt được các mục tiêu cấp thiết nhât của mình liệu rằng sẽ được gì và mất gì? Tất cả như một canh bạc, chỉ cần có một bước đi sai lầm thì cơ hội sẽ vụt mất Thành công đi liền với khó khăn, thử thách và làm thế nào để vượt qua nó? Đó là trăn trở của mọi quốc gia và Việt Nam không là ngoại lệ Hội nhập chỉ vừa mới bắt đầu, để hòa vào dòng chảy đầy sôi động
và tiến xa khẳng định vị thế của mình hơn chắc chắn rằng Việt Nam phải có những chiến lược riêng để phù hợp với hoàn cảnh nhiều biến động của môi trường kinh doanh quốc tế hiện tại Trong số đó có thể nói tới một vấn đề nan giải mà không chỉ riêng Việt Nam mà các quốc gia cũng phải giải quyêt, đó chính là “bộ ba bất khả thi” với việc lựa chọn giữa ổn định tỷ giá, tự do hóa dòng vốn và giữ được chính sách tiền tệ độc lập
Trong kinh tế học, Lý thuyết bộ ba bất khả thi-The Impossible Trinity (hay Inconsistent Trinity/Triangle of Impossibility) một giả thuyết kinh tế cho rằng không thể thực hiện đồng thời ba chính sách gồm chế độ tỷ giá hối đoái cố định, chính sách tiền tệ độc lập để ổn định giá cả và tự do lưu chuyển vốn Chỉ có thể thực hiện đồng thời hai trong
ba chính sách này mà thôi Thuật ngữ này còn dùng để chỉ tình thế kinh tế dễ đổ vỡ khi mà một quốc gia cố tình thi hành ba chính sách trên cùng lúc
Sơ đồ nguyên tắc hoạt động của bộ ba bất khả thi
Trang 3Mỗi cạnh thể hiện cho các mục tiêu tốt nhất, lần lượt là: chính sách tiền tệ độc lập, sự ổn định của tỷ giá, và hội nhập tài chính hoàn toàn Đối nghịch với mỗi cạnh (hay mỗi mục tiêu) là các công cụ chính sách tại các đỉnh Mục tiêu hội nhập tài chính đối ngược với đỉnh kiểm soát vốn; mục tiêu ổn định tỷ giá đối ngược với đỉnh thả nổi hoàn toàn; mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập đối ngược với đỉnh liên minh tiền tệ Bất kỳ cặp mục tiêu nào cũng có thể đạt được bởi một đỉnh nằm giữa Ví dụ, mục tiêu chính sách tiền
tệ độc lập và tỷ giá ổn định đạt được bởi đỉnh kiểm soát vốn hoàn toàn.Mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập và hội nhập tài chính hoàn toàn có thể khả thi với đỉnh thả nổi hoàn toàn Cuối cùng, mục tiêu tỷ giá ổn định và hội nhập tài chính đạt được bởi đỉnh liên minh tiền
tệ Hoàn toàn không khả thi để đạt được đồng thời cả ba mục tiêu
Giả sử một nước cố gắng thực hiện cả ba chính sách trên đồng thời Khi kinh
tế tăng trưởng nhanh, vốn nước ngoài sẽ chảy vào trong nước gây ra áp lực tăng giá nội tệ Khi đó, ngân hàng trung ương (NHTW) muốn bảo vệ chế độ tỷ giá cố định thì phải thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng Song điều này có thể làm tăng lượng cung tiền trong lưu thông dẫn đến tăng tốc lạm phát Muốn lạm phát không tăng tốc, thì phải thực hiện chính sách thanh khoản đối ứng Song như thế thì vốn nước ngoài càng chảy vào nhiều Đây chính là nguyên nhân làm xuất hiện “bộ ba bất khả thi” Đầu thập niên 1990, một số nước châu Á đã cố gắng thực hiện đồng thời ba chính sách và hậu quả là rơi vào khủng hoảng
Vì vậy cần phải có sự lựa chọn, trong đó các trường hợp cụ thể là:
1 Nếu dòng vốn được tự do lưu chuyển đồng thời NHTW vẫn muốn duy trì chính sách tiền tệ độc lập, tỷ giá sẽ phải được thả nổi do NHTW không thể kiểm soát lượng vốn mà các chủ thể đầu tư sẽ rút (thêm vào) là nhiều hơn hay ít hơn số lượng tiền tệ mình
sẽ rút khỏi lưu thông khi nền kinh tế xảy ra lạm phát ở mức cao (thấp)
Trang 4Tiêu biểu cho cách lựa chọn này là Chính phủ Mỹ Mọi người Mỹ đều có thể dễ dàng đầu tư ra nước ngoài, đơn giản nhất là gửi tiền cho 1 quỹ đầu tư tương hỗ quốc tế và người nước ngoài có thể dễ dàng mua chứng khoán, trái phiếu tại Mỹ Mặt khác, Cục dự trữ liên bang FED cũng sử dụng chính sách tiền tệ để góp phần tạo việc làm và ổn định giá
cả Tuy nhiên, kết quả của quyết định này là sự bất ổn đối với giá trị của đồng đôla trên thị trường ngoại hối
2 Khi dòng vốn ra vào (tài khoản vốn) được tự do, nếu muốn giữ tỷ giá hối đoái
ổn định thì NHTW buộc phải giữ lãi suất trong nước tương ứng với lãi suất nước ngoài, hay tung đồng nội tệ mua đồng ngoại tệ trong trường hợp dòng tiền đi vào quá nhiều; ngược lại, một lượng ngoại tệ dự trữ sẽ phải bán bớt ra để thu về đồng nội tệ khi dòng vốn đảo chiều để đảm bảo trạng thái cân bằng trên thị trường ngoại hối Trong bối cảnh như vậy, tính độc lập của chính sách tiền tệ hay nói cách khác điều hành chính sách tiền tệ vì mục tiêu lạm phát sẽ không thể đảm bảo vì cung tiền không phải dựa vào diễn biến giá cả trong nền kinh tế mà do tỷ giá hay dòng tiền vào ra quyết định
Đây là con đường mà phần lớn các nước châu Âu đã chọn Bằng cách sử dụng đồng euro để thay thế cho đồng franc Pháp, mác Đức, lira Italia những nước này đã loại
bỏ những biến động tỷ giá hối đoái trong khu vực của họ Thêm vào đó, dòng vốn tự do di chuyển trong các quốc gia này Nhưng cái giá của sự lựa chọn này là việc từ bỏ khả năng
sử dụng chính sách tiền tệ NHTW châu Âu thiết lập lãi suất cho toàn bộ khu vực sử dụng đồng euro Nhưng nếu tình hình ở 1 nước nào đó – ví dụ Hy Lạp – xấu đi so với phần còn lại của khu vực, nước đó sẽ không thể sử dụng chính sách tiền tệ để giải quyết những vấn
đề của quốc gia mình
3 Khi NHTW muốn thi hành một chính sách tiền tệ độc lập, nếu nền kinh tế đang xảy ra tình trạng lạm phát, ngân hàng trung ương phải thu hẹp lượng cung tiền và tăng lãi suất, nhưng để giữ cho tỷ giá cố định, cùng lúc sẽ phải hạn chế lượng cung ngoại tệ, hay giảm lượng vốn vào nền kinh tế bằng các biện pháp kĩ thuật như thuế vốn, quy định của pháp luật Ngược lại khi lượng cung tiền tăng tương ứng với việc NHTW muốn thúc đẩy kinh tế phát triển, các nguồn vốn nước ngoài lại được thu hút mạnh, như vậy dòng vốn không được tự do lưu chuyển theo ý muốn của các chủ thể đầu tư mà phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của NHTW nước đó
Trung Quốc đang áp dụng lựa chọn này NHTW nước này thực hiện chính sách tiền tệ và duy trì kiểm soát chặt chẽ đối với giá trị trao đổi của đồng nhân dân tệ Đổi lại Trung Quốc phải hạn chế dòng vốn quốc tế, bao gồm cả việc hạn chế công dân Trung Quốc chuyển tài sản ra nước ngoài Nếu không có những hạn chế đó, tiền sẽ chu chuyển ra
và vào đất nước, khiến lãi suất trong nước bằng với mức lãi suất do các ngân hàng trung ương nước ngoài thiết lập
2.Chủ trương của NHTW trong việc điều hành chính sách tiền tệ ở Việt Nam
Bộ ba bất khả thi là một chính sách mà bất cứ nước nào cũng phải quan tâm và có ảnh hưởng rất lớn đến việc điều hành chính sách tiền tệ,đặc biệt là nước có nền kinh tế tăng
Trang 5trưởng nóng như Việt Nam.Trong phần này chúng ta sẽ nghiên cứu thực tiễn việc áp dụng các chính sách thuộc bộ ba bất khả thi như : Tự do hóa dòng vốn,chính sách tiền tệ độc lập
và ổn định tỷ giá trong 3 năm trở lại đây ở Việt Nam.(Tỷ giá ở đây ta sẽ tập trung vào tỉ giá USD/VND)
Chủ trương chính sách tiền tệ 2008: kiềm chế lạm phát và ổn định tỉ giá.
Do ảnh hưởng cuộc khủng hoảng kinh tế,chỉ số giá tiêu dùng tăng cao,giá trị đồng đôla giảm mà giá trị VND lại được neo vào đồng đôla,NHNN chủ trương kiềm chế lạm phát và ổn định tỉ giá Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng và tỷ giá một cách chặt chẽ, thận trọng và chủ động; sử dụng linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường để ổn định lãi suất, đảm bảo khả năng thanh toán cho các tổ chức tín dụng (TCTD), kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng,củng cố, lành mạnh hóa hệ thống TCTD
Điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu; điều chỉnh tăng từ 10,8%/năm lên 15%/năm đối với lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh
toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng để phù hợp với lãi suất tái cấp vốn và mặt
bằng lãi suất thị trường; NHNN quy định lãi suất vay vốn bằngVND giữa các TCTD trên thị trường liên ngân hàng không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do NHNN công bố (áp dụng từ 19/8/2008); điều chỉnh tăng tiền gửi dự trữ bắt buộc từ 1,2%/năm lên 3,6%/năm Nguồn cung tiền được thắt rất chặt để hạn chế lạm phát.Năm 2008,công cụ lãi suất được NHNN sử dụng một cách linh hoạt,theo sát diễn biến thị trường do đó mà sự lãi suất rất biến động trong thời gian này
Kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng chủ yếu thông qua điều tiết vốn khả dụng bằng VND của các TCTD bằng công cụ chính sách tiền tệ; đồng thời, hỗ trợ vốn thanh toán cho các NHTM thông qua nghiệp vụ thị trường mở và cho vay tái cấp vốn đối với các NHTM, đặc biệt là các NHTM cổ phần nhỏ nhằm đảm bảo duy trì và phát triển hệ thống ngân hàng an toàn, bền vững
Kiểm soát chặt chẽ các hoạt động thu đổi ngoại tệ nhằm chống tình trạng đầu
cơ và lũng đoạn thị trường tiền tệ
Chỉ đạo các NHTM tập trung vốn cho vay đối với các dự án sản xuất có hiệu quả, lĩnh vực xuất khấu, nhập khẩu hàng hoá thiết yếu, đặc biệt chỉ đạo các NHTM chủ động cân đối nguồn vốn tạo điều kiện và ưu tiên hạn mức tín dụng và cho vay mở L/C và nhu cầu vay vốn khác của các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu xăng, dầu một cách bình thường
Vào giữa tháng 6, thị trường có nhiều biến động đột biến, NHNN đã chủ động thực hiện các giải pháp kịp thời, đồng bộ, thực hiện từng bước các giải pháp chính sách, tập trung vào giai đoạn cuối tháng 6 Cụ thể:
Trang 6֟Điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng 2% để phản ánh sát hơn cung cầu thị trường
֟Mở rộng biên độ tỷ giá giao dịch USD/VND từ mức ±1% lên mức ±2% so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng do NHNN công bố
֟Tăng mạnh lãi suất cơ bản tập trung nguồn tiền đồng vào hệ thống ngân hàng, kiềm chế lạm phát và giảm áp lực lên tỷ giá
֟Công bố mức dự trữ ngoại hối Nhà nước, củng cố lòng tin thị trường
֟Tăng cường bán ngoại tệ cho các NHTM để đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế, đáp ứng tối đa các nhu cầu thiết yếu như nhập khẩu xăng dầu, thuốc chữa bệnh, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, thiết bị y tế, đồng thời hỗ trợ ngoại tệ cho các ngân hàng có phục vụ nhu cầu trả nợ vay hoặc thanh toán L/C đến hạn, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của cá nhân và hỗ trợ trạng thái cho các NHTM;
֟ Mở rộng biên độ tỉ giá giao dịch USD/VND từ mức 2% lên 3% so với tỉ giá bình quân liên ngân hàng do NHNN công bố (Quyết định số 2635/QĐ-NHNN ngày 6/11/2008)
Với các biện pháp đồng bộ của NHNN, thị trường ngoại hối đã ổn định trở lại
Tuy nhiên lãi suất lại biến động mạnh
Lãi suất tăng mạnh trong 6 tháng đầu năm,sau đó lại giảm mạnh vào cuối năm,trong đó lãi suất cơ bản biến động mạnh nhất Do lãi suất tăng cao và biến động thất
LS
TG
Trang 7thường,khả năng vay vốn của doanh nghiệp giảm,doanh nghiệp dè dặt trong việc vay vốn
để đầu tư,giảm đầu tư,sản xuất dẫn đến giảm mức độ tăng trưởng của nền kinh tế.Ước tính GDP năm 2008 tăng 6,23% so với năm 2007 thấp hơn tốc độ tăng 8.48% của năm 2007 và mục tiêu kế hoạch đã điều chỉnh là 7% Tốc độ tăng vốn đầu tư nước ngoài giảm mạnh so với năm 2007 từ 95,85% năm 2007 xuống còn 43,21% năm 2008.Việc cố gắng ổn định tỉ giá khiến cho VND được định giá cao so với USD dẫn đến xu hướng nhập khẩu tăng , nhập siêu ước tính đạt 17,5 tỉ đô tăng 24,1% so với năm 2007.Kết quả là tuy có giảm thiểu được mức độ lạm phát,và sự biến động về tỷ giá nhưng nền kinh tế lại có xu hướng tăng trưởng chậm lại
Chính sách tiền tệ năm 2009: nới lỏng có kiểm soát.
Năm 2009, một năm mà chính sách tiền tệ (CSTT) đã phải đối mặt với nhiều thách thức khó lường phát sinh từ những bất cập của nền kinh tế và tác động bất lợi của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế
Nhìn nhận một cách khách quan có thể thấy, lạm phát cao năm 2008, cùng với sự đảo chiều của vốn đầu tư nước ngoài và thâm hụt mạnh cán cân thương mại (12,783 tỷ USD) đã có tác động mạnh đến tâm lý các nhà đầu tư trên thị trường ngoại hối, gây những biến động khó lường đến tỷ giá
Thêm vào đó, giải pháp hỗ trợ lãi suất có tác động tích cực hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi sản xuất, làm khởi sắc TTCK, bất động sản và thị trường tín dụng, nhưng cũng gây sức ép tăng khối lượng tiền trong nền kinh tế, tín dụng tăng trưởng cao và áp lực giảm giá VND
Trước những tác động bất lợi như vậy, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thực thi CSTT một cách linh hoạt phối hợp đồng bộ với nhiều giải pháp khác để giữ bình ổn thị trường
-Thị trường tiền tệ từng bước được bình ổn, tuy nhiên 6 tháng đầu năm 2009, thị trường ngoại hối có những diễn biến không thuận lợi Do áp lực từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, lo ngại rủi ro biến động tỷ giá, các doanh nghiệp có tâm lý găm giữ ngoại
tệ
-Mặt khác do tác động phụ của chính sách hỗ trợ lãi suất cho vay bằng VND và việc điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản bằng VND, nhiều doanh nghiệp không muốn vay ngoại tệ mà chuyển sang vay VND để mua ngoại tệ, dẫn đến nhu cầu mua ngoại tệ tăng mạnh, tình hình cung cầu ngoại tệ trở nên căng thẳng
-Để tăng nguồn cung và ổn định thị trường ngoại tệ, NHNN đã triển khai quyết liệt nhiều giải pháp như mở rộng biên độ ấn định tỷ giá mua bán USD/VND của các ngân hàng thương mại từ +/-3% lên +/-5% so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng cùng phối hợp với các biện pháp điều tiết cung cầu ngoại tệ trên thị trường như bán ngoại tệ hỗ trợ nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu đảm bảo ổn định sản xuất và đời sống; điều hoà ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ trên ngân hàng
Trang 8-Đồng thời, trình Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính bán nguồn ngoại tệ thu được từ phát hành trái phiếu Chính phủ cho NHNN; đề nghị một số doanh nghiệp nhập khẩu lớn chuyển từ mua ngoại tệ sang vay bằng ngoại tệ; phối hợp chặt chẽ với Bộ Công thương trong việc kiểm soát nhập siêu và đáp ứng các nhu cầu ngoại tệ thiết yếu của nền kinh tế
-Các biện pháp chấn chỉnh hoạt động ngoại hối cũng được tăng cường như phối hợp với các bộ, ngành kiểm tra, xử lý vi phạm đối với các hành vi quảng cáo, niêm yết giá hàng hóa bằng ngoại tệ, mua, bán ngoại tệ trái phép; tăng cường kiểm tra hoạt động mua bán ngoại tệ của các ngân hàng thương mại và hoạt động của các đại lý đổi ngoại tệ, xử lý nghiêm các vi phạm
-Đặc biệt, áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế tâm lý găm giữ ngoại tệ của các doanh nghiệp và người dân như đẩy mạnh công tác tuyên truyền và công bố công khai, rộng rãi các thông tin về tình hình ngoại hối, tỷ giá; yêu cầu các NHTM nhà nước giảm lãi suất cho vay và huy động bằng ngoại tệ (lãi suất cho vay giảm từ mức 6-6,5%/năm xuống không quá 4%/năm kể từ ngày 15/4/2009 và giảm tiếp xuống mức không quá 3%/năm kể
từ ngày 01/6/2009, lãi suất huy động giảm xuống mức không quá l,5%/năm kể từ ngày 01/6/2009)
Tuy nhiên, diễn biến kinh tế những tháng cuối năm vẫn tiếp tục là thách thức cho thực thi CSTT như thâm hụt cán cân thương mại không được cải thiện mà vẫn tiếp tục gia tăng (theo số liệu của Tổng cục Hải quan 11 tháng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước đạt 113,6 tỷ USD, giảm 14,7% so với cùng kỳ năm 2008, trong đó, xuất khẩu là 51,33 tỷ USD, giảm 11,5% và nhập khẩu là 62,28 tỷ USD, giảm 17% Cán cân thương mại hàng hoá 11 tháng thâm hụt 10,95 tỷ USD bằng 21,3% xuất khẩu), nguồn bù đắp cho thâm hụt này suy giảm như nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm sút mạnh so với năm 2008, đầu
tư gián tiếp nước ngoài không tăng mà còn giảm; nguồn kiều hối cũng giảm do khủng hoảng kinh tế toàn cầu do vậy dẫn đến thâm hụt cán cân thanh toán, tình hình này tiếp tục gây bất lợi cho việc ổn định tỷ giá Thêm vào đó, thâm hụt ngân sách tăng cao, năm 2009 mức thâm hụt ngân sách ở mức 6,5% GDP buộc ngân sách phải vay nợ nhiều, qua đó mà gây áp lực giảm giá VND Trên thị trường tiền tệ xuất hiện những hiện tượng bất cập, mâu thuẫn nhau: Tốc độ tăng trưởng tín dụng cao, nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, VND vẫn khan hiếm, biểu hiện ở áp lực tăng lãi suất, thanh khoản VND mỏng manh Sự khan hiếm tiền đồng về mặt lý thuyết là làm cho VND lên giá Nhưng chính sách điều tiết vĩ mô thì lãi suất lại thấp (lãi suất cho vay hỗ trợ, trần lãi suất cho vay ) gây áp lực giảm giá VND, đồng thời kích thích nhu cầu sử dụng tiền đồng, tăng nhu cầu tín dụng, gây ra vòng xoáy khan hiếm tiền đồng, gây áp lực cho NHNN phải cung ứng thêm tiền đồng Điều này tiếp tục gây áp lực giảm giá VND Đồng thời, sự biến động mạnh của giá vàng cũng có những tác động bất lợi đến tỷ giá
-Trước tình hình này, ngày 26/11, NHNN đã kịp thời điều chỉnh tỷ giá, nâng tỷ giá công bố lên 17.980 đồng/usd, tăng 5,4% so với ngày trước đó, thu hẹp biên độ tỷ giá từ +/-5% xuống còn +/-3%, đồng thời yêu cầu các tổ chức tín dụng thực hiện nghiêm biên độ
tỷ giá
Trang 9-Bên cạnh đó, các tổ chức tín dụng có trạng thái ngoại tệ từ âm 5% trở xuống lại được NHNN bán ngoại tệ hỗ trợ nhằm đảm bảo hệ thống ngân hàng cam kết cung cấp đủ ngoại tệ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, đặc biệt ưu tiên những mặt hàng nhập khẩu phục vụ sản xuất
-Đồng thời với điều chỉnh tỷ giá, NHNN đã thực hiện nâng các mức lãi suất chỉ đạo lên thêm 1% Đây là giải pháp có tính đồng bộ, phù hợp với tình hình thực tế, vừa có tác dụng tiếp tục duy trì tăng trưởng của nền kinh tế đồng thời chủ động ngăn chặn nguy cơ lạm phát và ổn định thị trường ngoại hối
Năm 2009 mặc dù phải đối mặt với rất nhiều thách thức trong quá trình thực thi CSTT, nhưng với sự điều hành linh hoạt, sự ứng phó kịp thời với những biến động của tình hình, về cơ bản CSTT đã đạt được mục tiêu của năm 2009 là kiềm chế lạm phát từ mức 19,98% năm 2008 xuống còn 6,52%, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức 5,2% và CSTT
đã góp phần quan trọng vào ổn định kinh tế vĩ mô.Thực hiệncó hiệu quả các chính sách hỗ trợ lãi suất của Chính phủ; điều hành chính sách tiền tệ một cách thận trọng, linh hoạt theo nguyên tắc thị trường, đáp ứng mục tiêu tăng trưởng, kiềm chế lạm phát do Quốc hội đề ra.Ổn định thị trường ngoại hối, thị trường vàng trong nước; tăng cường năng lực, nâng cao chất lượng công tác thống kê, dự báo tiền tệ và cán cân thanh toán quốc tế; đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt; kiểm soát chặt chẽ nợ quá hạn, đảm bảo an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng GDP năm 2009 được xem là thấp nhất trong
10 năm qua
Trang 10Chính sách tiền tệ năm 2010 : cân bằng lạm phát và tăng trưởng.
Chủ trương không để lạm phát cao với mục tiêu không để chỉ số giá tiêu dùng năm 2010 vượt quá và tăng trưởng kinh tế đạt 6.5% trong năm 2010
Đầu tháng 2/2010,NHNN đã “bơm” 70000 tỉ đồng cho các NHTM nhằm đảm bảo thanh khoản và đáp ứng nhu cầu của khách hàng.Ngay sau đó vào tháng 3 NHNN đã nhanh chóng thu hồi số tiền 38600 tỉ đồng,do đó nền kinh tế vẫn phát triển mà mức lạm phát bắt đầu tăng chậm lại từ tăng 1,96% vào tháng 2 xuống 0,75% vào tháng 3 Năm 2010,NHNN thực hiện một mặt bằng lãi suất mới, nâng lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam lên 8%/năm(năm 2009 là 7%/năm) để thu hút nội tệ trong lưu thông về các NHTM,mặt khác giảm tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động chỉ còn 80% đối với ngân hàng,đối với các tổ chức tín dụng khác là 85% và tăng lãi suất tái cấp vốn lên 8%/năm,lãi suất tái chiết khấu lên 6%/năm,hạ lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc từ 3,6%/năm xuống còn 1,2%/năm,và duy trì mức lãi suất ổn định từ đầu năm đến nay.Những tháng đầu năm 2010,NHNN thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt.Từ đầu tháng 3,NHNN giảm “bơm” tiền qua kênh thị trường mở và chỉ duy trì mỗi ngày một phiên đấu thầu,do đó làm giảm khả năng cải thiện vốn khả dụng của các NHTM.Qua các hành động trên,NHNN đã hạn chế khả năng cấp tín dụng của các NHTM,nhờ đó tiền trong lưu thông giảm,giảm lạm phát.Nhưng nếu chỉ áp dụng biện pháp này sẽ gây tổn hại đến nền kinh tế do lãi suất cho