Bên cạnh những thành công, việcđảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm luôn là mục tiêu quan trọng của công ty đểđáp ứng nhu cầu ngày càng khắt khe của khách hàng.Với những lý do trên, c
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài: Trong những năm gần đây, trên lĩnh vực sản xuất kinh
doanh, chúng ta đã có những tiến bộ nhất định, hàng hóa phong phú đa dạng Một sốmặt hàng có sức cạnh tranh cao Tuy nhiên phần lớn chất lượng hàng hóa chưa theo kịpnhu cầu thị trường Đây là nhược điểm cần phải nhanh chóng khắc phục để các doanhnghiệp tồn tại và phát triển Như thủ tướng Phan Văn Khải đã từng nói tại hội nghị chất
lượng năm 1997 “Chúng ta phải chấp nhận cạnh tranh và hội nhập bằng con đường chất lượng”
Để tăng cường khả năng cạnh tranh, một mặt các đơn vị kinh tế phải nâng caohiệu quả hoạt động kinh doanh của mình, phải làm tốt công tác Marketing, mặt khácphải không ngừng hoàn thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm Chất lượng không tựnhiên sinh ra mà phải được quản lý, giám sát một cách chặt chẽ Chính vì vậy mà cạnhtranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường ngày càng trở nên gay gắt và quyết liệthơn, chất lượng sản phẩm đang trở thành một yếu tố cơ bản quyết định sự thành bạitrong cạnh tranh, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của từng doanh nghiệp nóiriêng cũng như sự tiến bộ hay tụt hậu của nền kinh tế nói chung
Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu của người tiêu dùng về sản phẩm ngày càngcao, sản phẩm không chỉ đẹp, rẻ, mà còn phải đạt chất lượng cao Đây chính là chiếnlược hàng đầu để các doanh nghiệp nổ lực phấn đấu trong quá trình tìm kiếm, phấnđấu, phát huy hết năng lực quản lý của mình cho việc sản xuất và cung ứng những sảnphẩm có chất lượng tốt để thỏa mãn kỳ vọng của khách hàng với giá thành hợp lý nhất
Do đó việc đảm bảo và nâng cao chất lượng đang là vấn đề quan trọng, mang tầm vĩ
mô Nó góp phần nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp vànâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tồn tại và pháttriển lâu dài trên thị trường
Trải qua 19 năm tồn tại và phát triển, ngày nay công ty cổ phần công nghệ gỗĐại Thành đã trở thành công ty chủ lực của tỉnh về sản xuất kinh doanh đồ gỗ trongnhà và ngoài trời Sản phẩm của công ty đã được thị trường chấp nhận, chất lượng sảnphẩm ngày càng tiến bộ, đặc biệt là hàng xuất khẩu của công ty sang các nước trên thế
Trang 2giới đã mang lại doanh thu không nhỏ cho công ty Bên cạnh những thành công, việcđảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm luôn là mục tiêu quan trọng của công ty đểđáp ứng nhu cầu ngày càng khắt khe của khách hàng.
Với những lý do trên, cùng với những trải nghiệm thực tế tại công ty, em đã chọn đề tài “ Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm tại công ty cổ phần công nghệ gỗ Đại Thành” với mong muốn được góp phần nhỏ công sức của
mình vào trong công ty bằng kiến thức đã học trên trường, để đưa ra một số quan điểm,biện pháp, phương hướng nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm của công ty, giúp chocông ty nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường
Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng
sản phẩm để tiến hành phân tích chất lượng của công ty trong thời gian qua và đưa ranhững nhận xét đánh giá về hoạt động này Trên cơ sở lý luận và những phân tích đánhgiá đó, tiến hành xây dựng các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng sảnphẩm với giá cả thấp nhất trong thời gian tới
Phạm vi nghiên cứu: tại công ty cổ phần công nghệ gôc Đại Thành I , trên địa
bàn thành phố Quy Nhơn, Tỉnh Bình Định
Phương pháp nghiên cứu: thông qua việc thống kê, tổng hợp số liệu để tiến
hành phân tích, so sánh, từ đó đưa ra những đánh giá và hệ thống các giải pháp nhằmhoàn thiện và nâng cao chất lượng sản phẩm tại công ty
Kết cấu của đề tài gồm có 2 chương
Chương I: Cơ sở lý luận về chất lượng sản phẩm của công ty cổ phần công nghệ
gỗ Đại Thành
Chương II: Thực trạng chất lượng sản phẩm tại công ty cổ phần công nghệ gỗ Đại
Thành.
Em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Bá Phước đã tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ em hoàn thành chuyên đề này Và toàn thể lãnh đạo, cán bộ công nhân viên củacông ty cổ phàn công nghệ gỗ Đại Thành đã tạo điều kiện cho em có nơi để thực tậphoàn thành chuyên đề này một cách hoàn chỉnh
Trang 3Tuy nhiên kiến thức còn hạn chế, thời gian thì có hạn nên chuyên đề thực tậpnày không thể tránh khỏi thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến, chỉdẫn của các thầy cô và ban lãnh đạo công ty, để em có thể hoàn thiện hơn bài báo cáonày.
Em xin chân thành cảm ơn!
Bình Định, ngày 29 tháng 03 năm 2014
Sinh viên thực hiện Đặng Thanh Tùng
Trang 4Khái niệm về sản phẩm theo Philip kotler ( môn marketing) thì sản phẩm là tất
cả những cái, những yếu tố có thể thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn được đưa ra chàobán trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng
Trong tiêu chuẩn ISO 9001:2000, phần thuật ngữ lưu ý: “ Sản phẩm cũng cónghĩa là dịch vụ” Quan niệm này các dịch vụ cũng là những sản phẩm đã tương đốithông dụng đối với giới kinh doanh ở các nước công nghiệp phát triển, nhưng vẫn cònnhiều ngỡ ngàng, xa lạ đối với một số nước có nền kinh tế chậm phát triển
1.1.2 Phân loại sản phẩm
Để tạo điều kiện dễ dàng trong công tác quản lý và tổ chức sản xuất kinh doanhtrên thị trường, người ta phân loại sản phẩm thành những nhóm khác nhau Trong mộtnền kinh tế có thể phân chia thành hai nhóm lớn là sản phẩm vật chất và sản phẩm dịchvụ
Trang 5 Nhóm sản phẩm vật chất: Là những vật phẩm mang các đặc tính lý, hóanhất định.
Nhóm sản phẩm dịch vụ: Là các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, tư vấn, thôngtin…
Có nhiều căn cứ khác nhau để phân loại sản phẩm, như phân loại theo chứcnăng, công dụng của sản phẩm, theo đặc điểm công nghệ sản xuất, theo nguyên liệu sửdụng, theo thành phần hóa học… dưới gó độ quản lý chất lượng, người ta chủ yếu xemxét cách phân loại căn cứ vào công dụng, chức năng của sản phẩm trong số những sảnphẩm có cùng công dụng, người ta lại có thể chia thành các nhóm sản phẩm dựa theomục đích, lĩnh vực, đối tượng, điều kiện và thời gian sử dụng… Sản phẩm được phânloại thành những nhóm nhỏ với những đòi hỏi cụ thể riêng biệt về giá trị sử dụng, yêucầu bảo quản, quản lý… Mỗi tổ chức phải có những giải pháp trọng tâm khác nhau đểđảm bảo cho sản phẩm sản xuất ra phù hợp với mục đích và yêu cầu của người sửdụng
1.1.3 Các thuộc tính của sản phẩm
Mỗi sản phẩm đều được cấu thành bởi rất nhiều các thuộc tính có giá trị sử dụngkhác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của con người Mỗi thuộc tính chất lượng của sảnphẩm thể hiện thông qua một tập hợp các thông số kinh tế - kỹ thuật phản ánh khả năngđáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Các thuộc tính này có quan hệ chặt chẽ với nhautạo ra một mức chất lượng nhất định của sản phẩm Những thuộc tính chung nhất phảnánh chất lượng sản phẩm bao gồm:
Nhóm thuộc tính kỹ thuật phản ánh chức năng công dụng của sản phẩm được
quy định bởi các chỉ tiêu kết cấu vật chất, thành phần cấu tạo và các đặc tính về cơ, lý,hóa của sản phẩm
Nhóm thuộc tính kỹ thuật công nghệ: Nhóm thuộc tính này rất đa dạng và
phong phú, các đặc tính về kỹ thuật có quan hệ hữu cơ với đặc tính công nghệ của sảnphẩm Đây là nhóm có tính chất quan trọng nhất trong việc thẩm định, lựa chọn, nghiêncứu, cải tiến, thiết kế sản phẩm mới Việc nghiên cứu thành phần hóa học của nguyênvật liệu, đến các tính chất cơ, lý, điện, hóa, sinh… giúp xây dựng quy trình chế tạo sản
Trang 6phẩm, xác định các phương pháp bảo quản, mặt khác các đặc tính về phương phápcông nghệ lại quyết định chất lượng của sản phẩm như: cấu trúc, kích thước, khốilượng các thông số kỹ thuật, độ bền, độ tin cậy…
Nhóm thuộc tính sinh thái: Sản phẩm phải đảm bảo các yêu cầu về môi
trường, không gây ô nhiễm môi trường khi sử dụng, phải đảm bảo tính an toàn, thuậntiện trong sử dụng, vận chuyển, bảo dưỡng… Ngoài ra, sản phẩm còn thể hiện tính phùhợp giữa sản phẩm với môi trường, với người sử dụng, đảm bảo vệ sinh cho người sửdụng sản phẩm
Nhóm thuộc tính thẩm mỹ đặc trưng cho sự truyền cảm, sự hợp lý về hình
thức, dáng vẻ, kết cấu, kích thước, tính cân đối, màu sắc, trang trí, tính thời trang
Thẩm mỹ là thuộc tính quan trọng, ngày càng được đề cao khi đánh giá chấtlượng sản phẩm Những tính chất thẩm mỹ phải biểu hiện:
Kiểu cách, kết cấu phù hợp với công dụng của sản phẩm, phù hợp với đốitượng sử dụng và với môi trường
Hình thức trang trí phù hợp với từng loại sản phẩm, cái đẹp của sản phẩmphải thể hiện được tính dân tộc, hiện đại, chống mọi kiểu cách bảo thủ, bắt chước
Tính thẩm mỹ của sản phẩm phải thể hiện sự kết hợp giữa giá trị sử dụng
và giá trị thẩm mỹ
Nhóm thuộc tính kinh tế - xã hội: Nhóm thuộc tính này quyết định mức độ
chất lượng của sản phẩm, phản ánh chi phí lao động xã hội cần thiết để chế tạo sảnphẩm, cũng như những chi phí để thỏa mãn nhu cầu Đây cũng là thuộc tính quan trọngkhi thẩm định thiết kế sản phẩm được thể hiện qua các chỉ tiêu như: chi phí sản xuấtthấp, giá cả hợp lý, chi phí bảo dưỡng, lợi nhuận cao, khả năng sinh lợi lớn trong khi sửdụng
Tuổi thọ của sản phẩm là yếu tố đặc trưng cho tính chất của sản phẩm giữ
được khả năng làm việc bình thường theo đúng tiêu chuẩn thiết kế trong một thời giannhất định trên cơ sở đảm bảo đúng các yêu cầu về mục đích, điều kiện sử dụng và chế
độ bảo dưỡng quy định
Trang 7 Độ tin cậy của sản phẩm được coi là một trong những yếu tố quan trọng nhất
phản ánh chất lượng của một sản phẩm và đảm bảo cho tổ chức có khả năng duy trì vàphát triển thị trường của mình
Độ an toàn của sản phẩm trong sử dụng, vận hành sản phẩm, an toàn sức
khỏe đối với người tiêu dùng và môi trường là yếu tố tất yếu, bắt buộc phải có đối vớimỗi sản phẩm trong điều kiện tiêu dùng hiện nay
Mức độ gây ô nhiễm của sản phẩm được coi là một yêu vầu bắt buộc các nhà
sản xuất phải xem xét khi đưa sản phẩm của mình vào thị trường
Tính tiện dụng phản ánh những đòi hỏi về tính sẵn có, tính dễ vận chuyển,
bảo quản, dễ sử dụng của sản phẩm và khả năng thay thế khi có những bộ phận hưhỏng
Ngoài những thuộc tính hữu hình có thể đánh giá cụ thể mức chất lượng sảnphẩm, còn có những thuộc tính vô hình khác không biểu hiện cụ thể dưới dạng vật chấtnhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng với khách hàng khi đánh giá chất lượng của mộtsản phẩm, chẳng hạn tên, nhãn hiệu, danh tiếng của sản phẩm
Hoặc một cách khác dưới góc độ kinh doanh có thể phân loại thành hai nhóm thuộc tính sau:
Thuộc tính công dụng – phần cứng (giá trị vật chất): Nói lên công dụng đích
thực của sản phẩm Các thuộc tính nhóm này phụ thuộc vào bản chất, cấu tạo của sảnphẩm, các yếu tố tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ Phần này chiếm khoảng 10 – 40%giá trị sản phẩm
Thuộc tính được cảm thụ bởi người tiêu dùng – phần mềm (giá trị tinh thần):
Xuất hiện khi có sự tiếp xúc, tiêu dùng sản phẩm và phụ thuộc vào quan hệ cung cầu,
uy tín của sản phẩm, xu hướng, thói quen tiêu dùng, đặc biệt là các dịch vụ trước vàsau khi bán Phần này chiếm khoảng 60 – 80% giá trị sản phẩm, thậm chí có thể lên tới90% giá trị sản phẩm
1.2 Khái quát về chất lượng sản phẩm
1.2.1 Khái niệm về chất lượng
Trang 8Chất lượng sản phẩm là một khái niệm đã xuất hiện từ lâu và được sử dụng rấtphổ biến trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người Đây là một phạm trù rất rộng vàphức tạp, phản ánh tổng hợp các nội dung kỹ thuật, kinh tế và xã hội Đứng ở nhữnggóc độ khác nhau và tùy theo mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh có thể đưa ranhững quan niệm về chất lượng xuất phát từ sản phẩm, từ người sản xuất hay từ đòi hỏicủa thị trường.
Quan niệm siêu việt cho rằng: Chất lượng là sự tuyệt vời và hoàn hảo nhất củasản phẩm Quan niệm nay mang tính trừu tượng, chất lượng sản phẩm không thể xácđịnh một cách chính xác
Theo quan niệm của các nhà sản xuất thì chất lượng là sự hoàn hảo và phù hợpcủa một sản phẩm hay dịch vụ với một tập hợp các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn: “Chấtlượng là tổng hợp những tính chất đặc trưng của sản phẩm thể hiện mức độ thỏa mãncác yêu cầu định trước cho nó trong điều kiện kinh tế, xã hội nhất định”
Tổ chức kiểm tra chất lượng châu Âu (European Organization for QualityControl) cho rằng: “Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu củangười tiêu dùng”
Theo W.E.Deming: “Chất lượng là sự phù hợp với mục đích hoặc sự sử dụng”.Những năm gần đây, một khái niệm chất lượng được thống nhất sử dụng khárộng rãi là định nghĩa trong tiêu chuẩn quốc tế ISO 8402:1994 do tôt chức Quốc tế vềtiêu chuẩn hóa đưa ra, đã được đông đảo các quốc gia chấp nhận (Việt Nam ban hànhthành tiêu chuẩn TCVN ISO 8402:1999): “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của mộtthực thể (đối tượng) tạo cho thực thể( đối tượng) đó khả năng thảo mãn những nhu cầu
đã nêu ra hoặc tiềm ẩn”
Theo ISO 9000:2000: “Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn
có của một sản phẩm, hệ thống hoặc quá trình thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng vàcác bên có liên quan”
1.2.2 Sự hình thành chất lượng sản phẩm
Trang 9Chất lượng là vấn đề tổng hợp, nó được hình thành qua nhiều giai đoạn và chịuảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau Chất lượng được tạo ra ở tất cả các giai đoạntrong chu trình khép kín của sản phẩm.
Chu trình sản phẩm là tập hợp các qua trình tồn tại của sản phẩm theo thời gian,
từ khi nảy sinh nhu cầu và ý đồ sản xuất ra sản phẩm cho đến khi kết thúc sử dụng sảnphẩm Chu trình sản phẩm được thể hiện qua vòng xoắn Juran
Chu trình sản phẩm có thể được chia thành các giai đoạn chính: thiết kế, sảnxuất, lưu thông và sử dụng sản phẩm các giai đoạn trong chu trình sản phẩm đều có ýnghĩa đối với sự hình thành chất lượng
Hình 1.1 Vòng xoắn Juran
Bán Dịch vụ
Giai đoạn nghiên cứu, thiết kế: Là giai đoạn giải quyết về mặt lý thuyết
phương án thỏa mãn nhu cầu Chất lượng thiết kế giữ vai trò quyết định đối với chấtlượng sản phẩm Chất lượng của thiết kế phụ thuộc vào kết quả nghiên cứu thị trường,nghiên cứu các yêu cầu của người tiêu dùng
Giai đoạn sản xuất: Là giai đoạn thể hiện các ý đồ, yêu cầu của thiết kế, tiêu
chuẩn lên sản phẩm Chất lượng ở khâu sản xuất kém sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất
Thỏa mãn nhu cầu
xã hội Nhu cầu xã hội
Trang 10lượng sản phẩm Do đó, cần phải tổ chức kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ khâu sản xuấttheo định hướng phòng ngừa sai sót.
Giai đoạn lưu thông và sử dụng sản phẩm: Quá trình này cũng có ảnh hưởng
lớn đến chất lượng sản phẩm Sự ảnh hưởng đó biểu thị ở các mặt sau đây:
Tổ chức lưu thông tốt sẽ giúp cho tiêu thụ sản phẩm nhanh chóng, giảm thờigian lưu giữ, giúp cho người tiêu dùng lựa chọn được sản phẩm phù hợp và tốt hơn
Sử dụng là giai đoạn đánh giá được một cách đầy đủ, chính xác chất lượngsản phẩm Để đảm bảo chất lượng một cách thật sự trong tay người tiêu dùng đòi hỏi tổchức phải có những hoạt động bảo hành, hướng dẫn sử dụng, sữa chữa, cung cấp phụtùng thay thế… đồng thời phải nghiên cứu sản phẩm trong sử dụng, tích cực thu thậpnhững thông tin từ người tiêu dùng, trên cơ sở đó điều chỉnh, cải tiến chất lượng sảnphẩm của mình
Như vậy, chất lượng được tạo ra ở tất cả các giai đoạn trong chu trình sản phẩm
Để có được sản phẩm chất lượng cao, để đảm bảo chất lượng đầu ra cần thực hiện việcquản lý trong tất cả các giai đoạn của chu trình sản phẩm, đặc biệt là từ giai đoạnnghiên cứu, thiết kế
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng có thể chia thành hai nhóm yếu tốchủ yếu , đó là nhóm yếu tố bên ngoài nà nhóm yếu tố bên trong tổ chức
1.2.3.1 Nhóm các yếu tố bên ngoài
Nhu cầu của nền kinh tế: Ở bất cứ trình độ nào, với mục đích sử dụng gì,
chất lượng sản phẩm bao giờ cũng bị chi phối, bị rang buộc bởi hoàn cảnh, điều kiện vànhu cầu nhất định của nền kinh tế được thể hiện ở các mặt: nhu cầu của thị trường,trình độ kinh tế, trình độ sản xuất, chính sách kinh tế của nhà nước
Gồm có:
+ Nhu cầu thị trường.
+ trình độ kinh tế, trình độ sản xuất.
+ Chính sách kinh tế.
Trang 11 Nhu cầu của thị trường: Có thể khẳng định nhu cầu thị trường là điểm xuất
phát của quá trình quản lý chất lượng Trước khi tiến hành thiết kế, sản xuất sản phẩm,cần phải tiến hành nghiêm túc, thận trọng công tác điều tra nghiên cứu nhu cầu thịtrường, phân tích môi trường kinh tế xã hội, nắm bắt chính xác những yêu cầu chấtlượng cụ thể của khách hàng cũng như những thói quen tiêu dùng, phong tục tập quán,văn hóa, lối sống, khả năng thanh toán của khách hàng… để có đối sách đúng đắn đểđịnh hướng cho cải tiến và hoàn thiện chất lượng sản phẩm
Trình độ kinh tế, trình độ sản xuất: Đó là khả năng kinh tế (tài nguyên, tích
lũy, đầu tư…) và trình độ kỹ thuật (chủ yếu là trang thiết bị công nghệ và kỹ năng).Đảm bảo chất lượng luôn là vấn đề nội tại của bản thân nền sản xuất, nhưng việc nângcao chất lượng không thể vượt ra ngoài khả năng cho phép của nền kinh tế Cho nên,muốn sản phẩm đầu ra có chất lượng thì phải trên cơ sở phát triển sản xuất, nâng caotrình độ sản xuất, trình độ kinh tế
Chính sách kinh tế: Hướng đầu tư, hướng phát triển, loại sản phẩm nào đó
cũng như mức thỏa mãn các loại nhu cầu được thể hiện trong các chính sách kinh tế cótầm quan trọng đặc biệt ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm
Sự phát triển của khoa học – kỹ thuật: Trong thời đại ngày nay, cùng với
đặc điểm là khoa học – kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thì trình độ chấtlượng của bất kỳ một sản phẩm nào cũng đều gắn liền và bị chi phối bởi sự phát triểncủa khoa học kỹ thuật hiện đại, đặc biệt là sự ứng dụng những thành tựu khoa học kỹthuật vào sản xuất Hướng chính của việc áp dụng các kỹ thuật tiến bộ hiện nay là:
Sáng tạo ra vật liệu mới hay vật liệu thay thế: Bằng nghiên cứu, ứng dụngnhững thành tựu khoa học kỹ thuật xác lập các loại vật liệu mới có thể (đặc biệt là từcác nguồn nguyên liệu có sẵn) hoặc thay thế cho sản phẩm cũ những duy trì được tínhchất cở bản của sản phẩm
Cải tiến hay đổi mới công nghệ: Với sản phẩm đã xác định, một công nghệnào đó chỉ cho phép đạt tới một chất lượng tối đa ứng với nó Công nghệ chế tạo càngtiến bộ, càng có khả năng tạo ra sản phẩm có chất lượng cao hơn
Trang 12 Cải tiến sản phẩm cũ và chế thử sản phẩm mới: Bằng cách áp dụng những kỹthuật tiến bộ, cải tiến, nâng cao tính năng kỹ thuật hay giá trị sử dụng của các sản phẩmhiện có, làm cho nó thỏa mãn mục đích và yêu cầu sử dụng một cách tốt hơn Tùy từngsản phẩm mà có nội dung cải tiến khác nhau, nhưng hướng chung là cải tiến nhằm ổnđịnh và nâng cao những chỉ tiêu cơ bản để đáp ứng những nhu cầu mới xuất hiện hoặcthỏa mãn những nhu cầu cao hơn.
Hiệu lực của cơ chế quản lý: Cơ chế quản lý vừa là môi trường, vừa là điều
kiện cần thiết tác động đến phương hướng, tốc độ cải tiến sản phẩm Thông qua cơ chế
và các chính sách quản lý vĩ mô của nhà nước tạo điều kiện thuận lợi và kích thích:
Tính độc lập, tự chủ, sáng tạo, trong việc cải tiến chất lượng sản phẩm của cácdoanh nghiệp
Hình thành môi trường thuận lợi cho việc huy động các nguồn lực, các côngnghệ mới, tiếp thu, ứng dụng những phương pháp quản lý chất lượng hiện đại
Hỗ trợ nguồn vốn đầu tư, thay đổi trang thiết bị công nghệ, tiếp thu và ứngdụng những phương pháp quản trị chất lượng hiện đại
Đảm bảo sự bình đẳng trong sản xuất kinh doanh của các tổ chức trong nước,tạo sự cạnh tranh lành mạnh, công bằng giữa các doanh nghiệp, xóa bỏ sức ỳ, xóa bỏtâm lý ỷ lại, không ngừng phát huy sáng kiến cải tiến hoàn thiện sản phẩm, , kiên quyếtloại bỏ những doanh nghiệp sản xuất hàng giả, hàng nhái
Nhà nước quy định các tiêu chuẩn về chất lượng tối thiểu mà các doanhnghiệp cần đạt được thong qua việc đăng ký chất lượng để sản xuất
Hiệu lực của cơ chế quản lý còn là đòn bẩy quan trọng trong việc quản lý chấtlượng sản phẩm, đảm bảo cho sự phát triển ổn định quá trình sản xuất, đảm bảo uy tín
và quyền lợi của nhà sản xuất và người tiêu dùng
Điều kiện tự nhiên: Điều kiện tự nhiên có thể làm thay đổi tính chất cơ lý, hóa,
của sản phẩm qua:
Khí hậu, các tia bức xạ mặt trời có thể làm thay đổi màu sắc, mùi vị của sảnphẩm hay các loại nguyên vật liệu để sản xuất ra sản phẩm
Trang 13Mưa, gió, bão có thể làm cho sản phẩm bị ố, mốc Độ ẩm cao và quá trình oxihóa mạnh gây ra rỉ sét… làm biến đổi hoặc giảm chất lượng của sản phẩm.
Vi sinh vật, côn trùng chủ yếu tác động vào quá trình lên men, độ tươi sống hay
an toán vệ sinh thực phẩm
Các yếu tố về phong tục, tập quán, thói quen tiêu dùng: Ngoài các yếu tố
mang tính khách quan vừa nêu trên, các yếu tố về phong tục tập quán, thói quen tiêudùng cũng ảnh hưởng mạnh đến chất lượng sản phẩm mà các nhà sản xuất phải cốgắng đáp ứng
Sở thích tiêu dùng của từng nước, từng dân tộc, từng tôn giáo, từng độ tuổi,không hoàn toàn giống nhau Do đó các doanh nghiệp phải tiến hành điều tra, nghiêncứu nhu cầu sở thích của từng thị trường cụ thể nhằm thỏa mãn những yêu cầu về sốlượng và chất lượng
1.2.3.2 Nhóm các yếu tố bên trong
Trong phạm vi một tổ chức, chúng ta đặc biệt chú ý đến 4 yếu tố cơ bản ảnhhưởng đến chất lượng sản phẩm (được biểu thị bằng quy tắc 4M), đó là:
Nguyên vật liệu (Materials): Nguyên vật liệu là một yếu tố tham gia trực tiếp
cấu thành thực thể của sản phẩm Những đặc tính của nguyên liệu sẽ được đưa vào sảnphẩm vì vậy chất lượng của nguyên liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của sảnphẩm sản xuất ra Muốn có sản phẩm đạt chất lượng (theo yêu cầu của thị trường, thiếtkế…) thì nguyên vật liệu để chế tạo ra sản phẩm phải đảm bảo những yêu cầu về chấtlượng Mặc khác, phải đảm bảo cung cấp cho cơ sở sản xuất những nguyên vật liệuđúng số lượng, đúng chất lượng, đúng kỳ hạn Như vậy cơ sở sản xuất mới chủ động
ổn định quá trình sản xuất và thực hiện đúng kế hoạch, chất lượng đã đề ra
Các yếu tố về kỹ thuật – công nghệ - thiết bị (Machines): Máy móc và công
nghệ luôn là một trong những yếu tố cơ bản có tác động mạnh mẽ nhất đến chất lượngcủa sản phẩm, nó quyết định đến việc hình thành chất lượng của sản phẩm Nhiềudoanh nghiệp đã coi công nghệ là chìa khóa của sự phát triển
Ngoài yếu tố kỹ thuật – công nghệ cần phải chú ý đến việc lựa chọn thiết bị.Kinh nghiệm từ thực tế đã cho thấy kỹ thuật và công nghệ được đổi mới nhưng thiết bị
Trang 14lạc hậu, cũ kỹ khó có thể tạo ra sản phẩm chất lượng cao phù hợp với nhu cầu củakhách hàng Cho nên nhóm yếu tố về kỹ thuật – công nghệ - thiết bị có mối quan hệtương quan khá chặt chẽ, không những góp phần vào việc nâng cao chất lượng sảnphẩm mà còn tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thương trường, đa dạng hóachủng loại nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng, tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao.
Các yếu tố phương pháp tổ chức quản lý (Methods): Quản trị chất lượng là
một trong những nhân tố cơ bản góp phần đẩy nhanh tốc độ cải tiến, hoàn thiện chấtlượng sản phẩm của các doanh nghiệp Trên cơ sở đó, các cán bộ quản lý tạo ra sự phốihợp đồng bộ nhịp nhàng giữa các khâu, các yếu tố của quá trình sản xuất nhằm mụcđích cao nhất là hoàn thiện chất lượng sản phẩm Trình độ của cán bộ quản lý sẽ ảnhhưởng đến khả năng xác định chính sách, mục tiêu chất lượng và cách thức tổ chức chỉđạo thực hiện chương trình kế hoạch chất lượng Cán bộ quản lý phải biết cách làm chomọi công nhân hiểu được việc đảm bảo và nâng cao chất lượng không phải là riêng của
bộ phận sản xuất mà còn là nhiệm vụ chung của toàn doanh nghiệp Đồng thời công tácquản lý chất lượng tác động mạnh mẽ đến công nhân sản xuất thông qua chế độ khenthưởng hay xử phạt để từ đó nâng cao ý thức lao động và tinh thần cố gắng hoàn thànhtốt nhiệm vụ được giao Vì vậy, chất lượng của hoạt động quản lý chính là sự phản ánhchất lượng hoạt động của doanh nghiệp
Nhóm yếu tố con người (Men): Đây là nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến
chất lượng của sản phẩm Dù trình đô công nghệ có hiện đại đến đâu thì nhân tố conngười vẫn được coi là nhân tố căn bản nhất tác động đến hoạt động quản lý và nângcao đến chất lượng sản phẩm Bởi người lao động chính là người sử dụng máy mócthiết bị để sản xuất ra sản phẩm, bên cạnh đó có rất nhiều tác động, thao tác phức tạpđòi hỏi kỹ thuật khéo léo, tinh tế mà chỉ có con người mới làm được
Đối với cán bộ lãnh đạo các cấp cần có nhận thức mới về việc nâng cao chấtlượng sản phẩm để có những chủ trương, chính sách đúng đắn về chất lượng sản phẩmthể hiện trong mối quan hệ sản xuất và tiêu dùng, các biện pháp khuyến khích tinh thầnvật chất, quyền ưu tiên cung cấp nguyên vật liệu, giá cả…
Trang 15 Đối với cán bộ công nhân viên trong một đơn vị kinh tế cần phải có nhânthức rằng việc nâng cao chất lượng sản phẩm là trách nhiệm của mọi thành viên, là sựsống còn, là quyền lợi của bản thân đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp vàcũng là chính bản thân mình.
Ngoài 4 yếu tố cơ bản trên, chất lượng còn chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố khácnhư Information (thông tin), Environment (môi trường), Measurement (đo lường),System (hệ thống)…
Sơ đồ 1.2 Các nhân tố bên trong ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
1.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm được phản ánh thông qua một hệ thống các chỉ tiêu cụ thể.Những chỉ tiêu chất lượng đó chính là các thông số kinh tế - kỹ thuật và các đặc tínhriêng của các sản phẩm, phản ánh tính hữu ích của sản phẩm Các chỉ tiêu này khôngtồn tại một cách độc lập mà có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
Khi đề cập đến chỉ tiêu chất lượng sản phẩm, người ta thường phân biệt ra hai hệthống chỉ tiêu chất lượng
Hệ thống chỉ tiêu xác định nghiên cứu, xác định chất lượng trong chiến lược phát triển kinh tế
năng lượng
(Machines)
Kỹ thuật, công nghệ
(Methods) Phương pháp tổ chức quản lý
Chất lượng sản phẩm
Trang 16Trong chiến lược phát triển kinh tế của doanh nghiệp, một trong những vấn đềchủ yếu phải xác định được chiến lược sản phẩm trong một thời gian nhất định, mà nộidung quan trọng là phải nghiên cứu một số chỉ tiêu chất lượng nhằm:
- Kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm
- Kéo dài thời gian cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong và ngoài nướcvới những sản phẩm cùng loại của doanh nghiệp khác
Trong hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu xác định chất lượng sản phẩm của chiếnlược phát triển doanh nghiệp thường có các nhóm chỉ tiêu sau:
Chỉ tiêu công dụng: Đó chính là những đặc tính cơ bản của sản phẩm đưa
lại những lợi ích nhất định về giá trị sử dụng, tính hữu ích của chúng đáp ứng đượcnhững đòi hỏi cần thiết của người tiêu dùng như: giá trị dinh dưỡng, độ bền, thời gian
sử dụng…
Chỉ tiêu công nghệ: Đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho quy trình chế tạo
sản phẩm có chất lượng cao, tiết kiệm nguyên vật liệu, giảm chi phí, hạ giá thành sảnphẩm…
Chỉ tiêu thống nhất hóa: Đặc trưng cho tính lắp ráp của các linh kiện, các
phụ tùng Nhờ có tác dụng thống nhất hóa mà các chỉ tiêu, các bộ phận, hình thành mộtcách ngẫu nhiên lộn xộn, trở thành những dãy thông số kích thước thống nhất, hợp lý
Chỉ tiêu độ tin cậy: Đặc trưng cho tính chất của sản phẩm, đảm bảo các
thông số kỹ thuật làm việc trong khoảng thời gian nhất định
Chỉ tiêu kích thước: Thể hiện sự gọn nhẹ, thuận tiện trong sử dụng, trong
vận chuyển
Chỉ tiêu về sáng chế và phát minh: Tôn trọng năng lực trí tuệ, khuyến khích
các hoạt động sang tạo, áp dụng có hiệu quả thành tựu khoa học kỹ thuật vào sự nghiệpphát triển của doanh nghiệp
Chỉ tiêu an toàn: Đảm bảo cho tính an toàn trong sản xuất cũng như khi sử
dụng sản phẩm, đảm bảo sức khỏe cũng như tính mạng của người tiêu dùng Đây là chỉtiêu đặc biệt quan trọng đối với sản phẩm
Trang 17 Chỉ tiêu về lao động học: Đặc trưng cho quan hệ giữa con người với sản
phẩm trong hoàn cảnh thuận lợi nhất
Các chỉ tiêu về tuổi thọ: Thể hiện thời gian tồn tại có ích của sản phẩm trong
quá trình đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng
Chỉ tiêu tiêu sinh thái: Thể hiện mức độ độc hại của việc sản xuất sản phẩm
tác động đến môi trường
Chỉ tiêu chi phí, giá cả: Đặc trưng cho hao phí xã hội cần thiết để tạo nên
sản phẩm
Chỉ tiêu tính dễ vận chuyển: Đó là khả năng bố trí, sắp xếp các container.
Tiêu chuẩn đảm bảo dễ vận chuyển bằng đường sắt, đường sông, đường hàng không,đường biển
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm trong sản xuất kinh doanh
Tùy theo mục đích sử dụng, chất lượng sản phẩm hàng hóa có thể chia làm 4nhóm cơ bản:
Nhóm chỉ tiêu sử dụng: Đây là nhóm chỉ tiêu chất lượng mà người tiêu dùng
khi mua hàng thường quan tâm, đánh giá chất lượng của sản phẩm hàng hóa
Nhóm chỉ tiêu sử dụng bao gồm:
+ Thời gian sử dụng (tuổi thọ, độ bền)
+ Mức độ an toàn trong sử dung
+ Khả năng sữa chữa, bảo dưỡng, thay thế các chi tiết
+ Hiệu quả sử dụng (sinh lợi, tiện lợi)
Nhóm chỉ tiêu kỹ thuật - công nghệ: Đây là nhóm chỉ tiêu mà cơ quan
nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, kinh doanh thường dùng để đánh giá giá trị dử dụng củasản phẩm hàng hóa Những chỉ tiêu này thường được quy định trong các văn bản tiêuchuẩn, hợp đồng gia công mua bán…
Nhóm chỉ tiêu hình dáng, trang trí thẩm mỹ: Nhóm này bao gồm các chỉ tiêu
về hình dáng sản phẩm, tính chất các đường nét, sự phối hợp của các yếu tố tạo hình,màu sắc, tính thời trang, tính thẩm mỹ
Trang 18 Nhóm các chỉ tiêu về kinh tế: Các chỉ tiêu về kinh tế bao gồm: chi phí sản
xuất, giá thành, chi phí cho quá trình sử dụng… đây là những chỉ tiêu có tính tổng hợpkhá quan trọng mà trước đây quan điểm “kỹ thuật thuần túy” thường ít chú ý kiểm trađánh giá chất lượng sản phẩm hàng hóa
Khi kiểm tra, xác định chất lượng của một sản phẩm hàng hóa chụ thể, cần căn
cứ vào các đặc điểm sử dụng và nhiều yếu tố tình hình sản xuất, quan hệ cung cầu, điềukiện của mỗi doanh nghiệp… mà chọn những chỉ tiêu chủ yếu và những chỉ tiêu bổsung thích hợp
1.2.5 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm
Mỗi loại sản phẩm cụ thể có những chỉ tiêu mang tính trội và quan trọng hơnnhững chỉ tiêu khác Vì vậy các doanh nghiệp càn phải quyết định lựa chọn những chỉtiêu nào quan trọng nhất để sản phẩm của mình mang được sắc thái riêng, dễ dàng phânbiệt được với những sản phẩm khác đồng loại trên thị trường Để đánh giá, phân tíchtình hình thực hiện chất lượng giữa các bộ phận, giữa các thời kỳ sản xuất ta còn có cácchỉ tiêu so sánh như sau:
Tỷ lệ sai hỏng để phân tích tình hình sai hỏng trong sản xuất:
Dùng thước đo hiện vật để tính, ta có công thức:
Số lượng sản phẩm sai hỏng
Tỷ lệ sai hỏng = x 100%
Số lượng sản Số lượng sản
phẩm sai hỏng + phẩm tốtTrong đó số sản phẩm sai hỏng bao gồm cả sản phẩm hỏng có thể sữa chữađược và sản phẩm hỏng không thể sữa chữa được
Nếu dùng thước đo giá trị để tính ta có công thức:
Chi phí về sản phẩm hỏng
Tỷ lệ sai hỏng = x 100%
Giá thành công xưởng của sản
Trang 19phẩm hàng hóaTrong đó chi phí sản phẩm hỏng bao gồm: Chi phí về sản phẩm hỏng sữa chữađược và chi phí về sản phẩm hỏng không sữa chữa được.
Trên cơ sở tính toán về tỷ lệ sai hỏng đó, ta có thể so sánh giữa kỳ này với kỳtrước hoặc năm này với năm trước Nếu tỷ lệ sai hỏng kỳ này so với kỳ trước mà nhỏhơn nghĩa là chất lượng kỳ này tốt hơn kỳ trước và ngược lại
Dùng thứ hạng chất lượng sản phẩm: Để so sánh thứ hạng chất lượng sản phẩm
của kỳ này so với kỳ trước ta căn cứ vào mặc công dụng, thẩm mỹ, và các chỉ tiêu vềmặc cơ, lý, hóa của sản phẩm Nếu thứ hạng kém thì được bán với mức giá thấp, cònnếu thứ hạng cao thì sẽ được bán với giá cao Để đánh giá thứ hạng chất lượng sảnphẩm ta có thể sử dụng phương pháp giá đơn vị bình quân
1
1
Trong đó: P: giá đơn vị bình quân
Pki: giá đơn vị kỳ gốc của thứ hạng iQi: số lượng sản phẩm sản xuất của thứ hạng iTheo phương pháp này, ta tính giá đơn vị bình quân của kỳ phân tích với kỳ kếhoạch Sau đó so sánh giá đơn vị bình quân của kỳ phân tích so với kỳ kế hoạch, nếugiá đơn vị bình quân kỳ phân tích cao hơn kỳ kế hoạch ta kết luận doanh nghiệp hoànthành kế hoạch chất lượng sản phẩm và ngược lại
1.3 Tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng sản phẩm
Nâng cao chất lượng sản phẩm là tăng uy tín của công ty, giữ được khách hàng
cũ, thu hút khách hàng mới, mở rộng thị trường, tạo sơ sở cho sự phát triển lâu dài củacông ty Nâng cao chất lượng sản phẩm đồng nghĩa với nâng cao tính hữu ích của sảnphẩm, thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng, đồng thời giảm chi phí trên một đơn vịsản phẩm nhờ hoàn thiện quy trình, đổi mới, cải tiến các hoạt động, giảm lãng phí vềphế phẩm hoặc sản phẩm phải sữa chữa
Trang 20 Nâng cao chất lượng sản phẩm còn làm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm,tạo điều kiện cho doanh nghiệp đi sâu, tìm tòi, nghiên cứu các tiến bộ khoa học kỹthuật và ứng dụng nó vào quá trình sản xuất kinh doanh Tạo uy tín cho công ty khithâm nhập thị trường, mở rộng thị trong nước và quốc tế, khắc phục được tình trạngsản xuất ra không tiêu thụ được dẫn đến trì truệ sản xuất, thiếu việc làm, đời sống côngnhân khó khăn Trên cơ sở đó, doanh nghiệp tiến hành đầu tư đổi mới công nghệ nhằmgiảm lao động sống, tiết kiệm nguyên vật liệu và nâng cao năng lực sản xuất Do vậy,giảm được chi phí, hạ giá thành sản phẩm, từ đó giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêukinh của mình là nâng cao lợi nhuận, đây đồng thời cũng là điều kiện để doanh nghiệptồn tại và phát tiển Khi công ty đạt được lợi nhuận cao có điều kiện để ổn định sảnxuất Khi sản xuất ổn định và lợi nhuận ổn định, công ty có điều kiện bảo đảm việc làmcho người lao động, tăng thu nhập cho họ, làm cho họ tin tưởng và gắn bó với công ty,đóng góp hết sức mình để sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng tốt , giúp công tysản xuất kinh doanh ngày càng có hiệu quả.
Hiệu quả kinh tế, sự thành công của một doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào
sự phát triển sản xuất có năng suất cao, tiêu thụ với khối lượng lớn mà còn được tạothành bởi sự tiết kiệm, đặc biệt là tiết kiệm nguyên vật liệu, thiết bị và lao động trongquá trình sản xuất Muốn làm được điều này, chỉ có thể thực hiện bằng cách luôn nângcao chất lượng sản phẩm với mục tiêu “Làm đúng ngay từ đầu” sẽ hạn chế được chiphí phải bỏ ra cho những phế phẩm Việc làm này không những đem lại lợi ích kinh tếcho doanh nghiệp mà còn tác động tích cực đến nền kinh tế của đất nước, thông quaviệc tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, giảm bớt những vấn đề về ô nhiễm môi trường
Chất lượng sản phẩm là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện chiến lược Marketing,
mở rộng thị trường, tạo uy tín và danh tiếng cho sản phẩm của doanh nghiệp Khẳngđịnh vị trí của sản phẩm đó trên thị trường Từ đó, người tiêu dùng sẽ tin tưởng vàonhãn mác của sản phẩm và sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp làm cơ sở cho sự tồntại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp, nếu có thể sẽ mở rộng thị trường ra nướcngoài Chính điều này đã tạo động lực to lớn buộc các doanh nghiệp ngày càng phảihoàn thiện để phục vụ khách hàng được tốt nhất
Trang 21 Chất lượng sản phẩm không chỉ làm tăng uy tín của nước ta trên thị trường quốc
tế mà còn là cách để tăng cường nguồn thu nhập ngoại tệ cho đất nước thông qua việcxuất khẩu sản phẩm đạt chất lượng cao ra nước ngoài
Đối với nền kinh tế quốc dân, việc tăng chất lượng sản phẩm đồng nghĩa vớiviệc người dân được tiêu dùng những sản phẩm có chất lượng tốt hơn với tuổi thọ lâudài hơn, góp phần làm giảm đầu tư chi phí cho sản xuất sản phẩm và hạn chế và đượcphế thải gây ô nhiễm môi trường Do vậy, chất lượng đã và luôn là yếu tố quan trọng
số một đối với cả doanh nghiệp và người tiêu dùng
CHƯƠNG II
Trang 22GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN
CÔNG NGHỆ GỖ ĐẠI THÀNH2.1 Giới thiệu chung về công ty cổ phần công nghệ gỗ Đại Thành
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển công ty cổ phần công nghệ gỗ Đại Thành
2.1.1.1 Tên và địa chỉ công ty
Tên công ty: Công ty cổ phần công nghệ gỗ Đại Thành
Tên giao dịch quốc tế: DaiThanh Furniture JSC
Trụ sở chính: 90 Tây Sơn – Phường Quang Trung – TP Quy Nhơn – TỉnhBình Định
Ngân hàng mở tài khoản: Ngân hàng Ngoại thương
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 3503000161 do Sở kế hoạch vàđầu tư tỉnh Bình Định cấp ngày 25/10/2007
2.1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty được thành lập và phát triển theo giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh số 3502000177 ngày 23/06/1995, do Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Bình Định cấpdưới loại hình công ty TNHH
Cùng với sự phát triển của công ty và tầm nhìn chiến lược, chủ doanh nghiệpquyết định chuyển từ công ty TNHH sang công ty cổ phần Công ty cổ phần công nghệ
gỗ Đại Thành chính thức ra đời với giấy phép kinh doanh số 3503000161 do sở kếhoạch đầu tư Bình Định cấp ngày 25/10/2007
Trang 23Công ty cổ phần công nghệ gỗ Đại Thành có đầy đủ tư cách pháp nhân Trụ sởchính đặt tại số 90 Tây Sơn, TP Quy Nhơn, Tỉnh Bình Định Ngành nghề kinh doanh.Ngành nghề kinh doanh chính sản xuất, chế biến gỗ và lâm sản khai thác để xuất khẩu
và tiêu thụ nội địa Sản phẩm chính là bàn, ghế các loại
Từ ngày thành lập cho đến nay, quá trình kinh doanh của công ty ngày càngphát triển, sản phẩm ngày càng đa dạng, chất lượng sản phẩm ngày càng được nângcao Khi mới thành lập, công ty chỉ có 150 lao động chính và thuê thêm lao động mùa
vụ, nhưng hiện nay công ty có 2762 cán bộ công nhân viên
Tổng vốn kinh doanh: 261.001.160.007 đồng
Trong đó: Vốn tự có: 46.160.876.868 đồng
Vốn đi vay: 214.840.283.139 đồngTổng tài sản: 261.001.160.007 đồng
Trong đó: tài sản ngắn hạn: 204.089.669.162 đồng
Tài sản dài hạn: 56.911.490.845 đồngBan đầu công ty chỉ có Đại Thành I chuyên sản xuất nội thất xuất khẩu.Cótổng diện tích khoảng 4.5ha, diện tích nhà xưởng 30.000m2, giải quyết trên 600 côngnhân trực tiếp sản xuất Dây chuyền, thiết bị máy móc hiện đại, nguyên liệu gỗ ổn định.Công suất thiết kế 50 cont 40 feet/tháng Chuyên sản xuất đồ gỗ trong nhà như: nội thấtphòng khách, phòng ăn, phòng ngủ…, với chất lượng cao về kết cấu kỹ thuật, thẩm mỹ
về kiểu dáng Với nguyên liệu gỗ như: gỗ Sồi Mỹ, Eu, gỗ Xoan Mộc Đồ gỗ trong nhàchủ yếu xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ, Úc, Châu Âu
Sau đó diện tích công ty đã mở rộng quy mô với việc xây thêm nhà máy ĐạiThành II ra đời vào tháng 02/2004 đặt tại dốc Ông Phật, thuộc khu công nghiệp PhúTài, TP Quy Nhơn, Tỉnh Bình Định Chuyên sản xuất đồ gỗ ngoài trời xuất khẩu Cótổng diện tích 10.5ha, diện tích nhà xưởng 60.000m2, giải quyết trên 1200 công nhântrực tiếp sản xuất Công suất thiết kế 100 cont 40 feet/tháng Trong mỗi nhà máy cónhiều phân xưởng, hệ thống sản xuất và kho thành phẩm
Công ty hiện là hội viên của hiệp hôi sản xuất – xuất nhập khẩu gỗ và lâm sảntỉnh Bình Định (thành lập ngày 24/09/1998), là hội viên chính thức của phòng Thương
Trang 24mại và Công nghệ Việt Nam ngày 10/10/2003, là thành viên mạng lưới kinh doanh lâmsản Việt Nam ngày 18/02/2008, là thành viên vủa hội Mỹ nghệ chế biến gỗ thành phố
Hồ Chí Minh
Bảng 2.1 Công ty đã được một số danh hiệu sau
2004 - 2007 Đạt danh hiệu “Doanh nghiệp xuất khẩu uy tín” bốn năm liên tiếp do
bộ trưởng bộ công thương trao tặng bằng khen và cúp
2007 - Hội mỹ nghệ và chế biến gỗ thành phố Hồ Chí Minh tặng giấy ghi
nhận những đóng góp tích cực cho các hoạt động năm 2007
- Đạt giải thưởng “ Doanh nghiệp hội nhập và phát triển”
2008 - Đạt danh hiệu “ Cúp vàng tóp 100 thương hiệu Việt hội nhập
WTO”, do liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam trao tặng
- Đạt biểu tượng vàng vì sự nghiệp văn hóa doanh nghiệp Việt Nam
Mục đích và phát triển
Hoạt động sản xuất và kinh doanh của công ty cổ phần công nghệ gỗ Đại Thànhphát triển về quy mô và đạt kết quả thiết thực là do sự nổ lực tâm huyết với nghề củatoàn bộ tập thể cán bộ công nhân viên trong công ty, dưới lãnh đạo điều hành của bantổng giám đốc thông qua việc nghiên cứu thị trường mạnh dạn đầu tư cả về chiều sâulẫn chiều rộng để tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, hạ giá thành… đồng thời đẩymạnh công tác tìm kiếm thị trường cho cả đầu ra lẫn đầu vào, nắm bắt nhu cầu chínhxác và hợp lý Khẩn trương xây dựng năng lực và tăng cường khả năng cạnh tranh, chủđộng đương đầu với những khó nhăn
Mục tiêu phát triển tiếp theo:
Nâng cao uy tín hơn nữa, trở thành đối tác tin cậy của khách hàng
Nâng cao năng lực điều hành quản lý, khoa học kỹ thuật… hướng đến pháttriển nguồn nhân lực chất lượng cao để hợp tác tốt hơn cho khách hàng
Xây dựng doanh nghiệp vững mạnh thông qua các chính sách ổn định, nângcao chất lượng cuộc sống và gia tăng thu nhập cho cán bộ, công nhân viên, củng cốtinh thần đoàn kết, tinh thần xây dựng, lòng nhiệt tình sáng tạo
Trang 252.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của công ty cổ phần công nghệ gỗ Đại Thành 2.1.2.1 Chức năng của công ty
Công ty tăng kim ngạch xuất khẩu hàng năm cho tỉnh nhà, đảm bảo lợi nhuậncho doanh nghiệp, góp phần công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Công ty cổ phần công nghệ gỗ Đại Thành được quyền sử dụng vốn, đất đai vàcác nguồn lực khác do các thành viên sáng lập đóng góp để đạt được mục tiêu kinhdoanh trên nguyên tắc phát triển và bảo toàn vốn
2.1.2.2 Nhiệm vụ của công ty
Để tồn tại và phát triển lâu dài trên thị trường, công ty phải có nghĩa vụ:
Tổ chức thực hiện kinh doanh theo đúng pháp luật và quy định của nhànước
Xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh và chịu tráchnhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
Quản lý đội ngũ cán bộ, công nhân viên, phân phối thu nập hợp lý, chăm lođời sống vật chất, tinh thần cho toàn thể cán bộ công nhân viên
Thực hiện nghiêm chỉnh về bảo vệ môi trường, an toàn về lao động
Thực hiện tốt về nghĩa vụ đối với nhà nước
Để cạnh tranh và phát triển trên thị trường trong điều kiện mới, ban lãnhđạo của công ty phải đề cao công tác tìm kiếm thị trường, phân tích đánh giá thị trường
để từ đó điều chỉnh, từng bước đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ lao động vàphương thức tổ chức quản lý kinh doanh để đạt được hiệu quả cao phù hợp với bốicảnh thị thị trường hiện tại, đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường và của khách hàng
Đồng thời nghiên cứu và sáng tạo các loại mẫu mã hàng hóa, nâng cao chấtlượng sản phẩm và áp dụng chính sách giá cả hợp lý để ngày càng nâng cao uy tín củakhách hàng
Công ty phải bảo tồn và phát triển nguồn vốn nhằm tạo hiệu quả cho quátrình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy tổ chức của công ty
2.1.3.1 Số cấp quản lý của công ty
Trang 26Sơ đồ 2.1 Mô hình tổ chức cơ cấu bộ máy quản lý
(Nguồn: phòng hành chính nhân sự)
Chú thích: : Quan hệ trực tuyến
: Quan hệ chức năng (phối hợp)
Công ty tổ chức bộ máy theo mô hình trực tuyến chức năng Theo mô hình này,tổng giám đốc là người chỉ huy trực tiếp xuống các bộ phận phòng ban như phó giámđốc, trưởng bộ phận kỹ thuật, kế toán Các phòng ban lại tham mưu lên xuống các cấp
Công ty được tổ chức theo 3 cấp quản lý:
Cấp cao: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, chủ tịch hội
đồng quản trị, tổng giám đốc, phó tổng giám đốc phụ trách các bộ phận
Cấp trung: Trưởng các bộ phận phòng ban chức năng của công ty.
Cấp thấp: tổ trưởng quản lý phân xưởng, nhà máy.
Trang 27Ưu nhược điểm của mô hình này
Ưu điểm: phát huy được năng lực chuyên môn của từng bộ phận, vừa đảm bảo
tính chủ động thống nhất, vừa bổ sung cho nhau để hoàn thành một cách tốt nhất Giảmthiểu áp lực về khối lượng công việc cho tổng giám đốc
Nhược điểm: Dễ phát sinh những ý kiến, đề xuất không thống nhất giữa các bộ
phận chức năng dẫn đến công việc nhàm chán và xung đột giữa các đơn vị
2.1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận
Hội đồng quản trị là cơ quan có quyền lực cao nhất, được quyền bổ nhiệm,miễn nhiệm, cách chức giám đốc (tổng giám đốc) Tất cả các quyết định của giám đốc(tổng giám đốc) về hoạt động chung của công ty phải thông qua hội đồng quản trị
Tổng giám đốc: Là người đại diện pháp nhân cho công ty, chịu trách nhiệm
trước pháp luật và các thành viên góp vốn và sáng lập Tổng giám đốc là người đưa raquyết định điều hành nhưng phải thông qua hội đồng quản trị và có nhiệm vụ đề xuấtcác ý kiến cho hội đồng quản trị
Phòng hành chính nhân sự: Giúp cho ban giám đốc sắp xếp tổ chức bộ máy
quản lý tổ chức lao động, theo dõi thực hiện các chế độ chính sách Thực hiện các côngviệc hành chính trong đơn vị như: tuyển dụng, tiếp khách, và chăm lo đời sống cho cáccán bộ công nhân viên Tổ chức và quản lý các bộ phận bảo vệ công ty, bảo vệ phânxưởng, kho bãi, các tài sản của công ty
Phòng kế toán: Có nhiệm vụ giúp giám đốc chỉ đạo, tổ chức thực hiện công
tác kế toán, thống kê của công ty Lập kế hoạch cân đối tài chính, tổ chức tốt công táchạch toán kế toán thu nhập, xử lý và trích cho các hoạt động kinh tế của toàn công ty.Lập các báo cáo kế toán theo chế độ hiện hành, báo cáo tài chính, tổ chức công táckiểm kê, quản lý, sử dụng vốn hợp lý Báo cáo lên giám đốc về kết quả hoạt động kinhdoanh của công ty một cách kịp thời
Phòng đầu tư và phát triển: Điều phối mọi hoạt động đầu tư mở rộng quy mô
của công ty
Phòng kế hoạch: Chịu trách nhiệm theo dõi, điều hành các hoạt động sản xuất
diễn ra theo đúng tiến độ và có hiệu quả, nhịp nhàng Phòng phải báo cáo và đề xuất ý
Trang 28kiến cho ban giám đốc và phòng kinh doanh ngay khi phát hiện trục trặc từ phía sảnxuất Những trục trặc có thể như: hàng hóa sản xuất chậm hơn so với tiến độ, chấtlượng sản phẩm thấp, số lượng sản xuất không đúng với yêu cầu sản xuất… phòng cónhiệm vụ lên các kế hoạch sản xuất và lệnh sản xuất theo theo những đơn đặt hàng màphòng kinh doanh và ban giám đốc đã ký kết với khách hàng và theo dõi những lệnhsản xuất này từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc.
Phòng kinh doanh – xuất nhập khẩu: Là bộ phận rất quan trọng trong công
ty, góp phần lớn trong sự thành công và phát triển của công ty Phòng có nhiệm vụ tìmkiếm các nguồn hàng, nhà cung cấp là đầu vào của sản phẩm như: gỗ, vít, đinh, keo…
và tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm, tính giá cả cho sản phẩm Ngoài ra phòng còn giúpcho ban giám đốc trong quá trình ký kết các hợp đồng kinh tế, mở rộng mạng lưới kinhdoanh và cùng với các phòng ban chức năng khác lập kế hoạch cho các bộ phận trựcthuộc để tổ chức kinh doanh cho hiệu quả
Phòng kiểm tra chất lượng sản phẩm: Có trách nhiệm kiểm tra đảm bảo kỹ
thuật sản phẩm, đảm bảo chất lượng sản phẩm
Phòng kỹ thuật vi tính: chịu trách nhiệm xử lý, kiểm tra hệ thống máy tính lắp
đặt tại công ty
2.1.4 Công nghệ sản xuất một số mặt hàng chủ yếu
2.1.4.1 Giới thiệu quy trình công nghệ sản xuất
Sơ đồ 2.2 Quy trình công nghệ sản xuất của công ty
thuốc
Trang 29(Nguồn: phòng kế hoạnh)
2.1.4.2 Giải thích các bước trong quy trình công nghệ
Gỗ tròn nhập: Đây là nguyên liệu chính cung cấp cho quá trình sản xuất, 60%
được nhập từ nước ngoài, bằng đường biểu qua cảng Quy Nhơn, còn lại là mua từ cácdoanh nghiệp trong nước, tất cả phải là gỗ FSC (gỗ mua từ rừng đã có chứng chỉ bềnvững) Gỗ được chuyển từ các đơn vị cung cấp về được nhập vào kho nguyên liệu bảoquản
Xẻ gỗ tròn: Gỗ tròn các loại được đưa vào cửa chuyên dùng để xẻ các loại gỗ
tròn với các máy cưa xẻ theo quy cách kỹ thuật khác nhau tùy theo từng loại chi tiết,từng loại sản phẩm Gỗ xẻ ra được đóng thành từng kiện, và được bắn thẻ kiện, trênmỗi thẻ kiện thể hiện rõ khối lượng, quy cách nguồn gốc xuất xứ của gỗ
Sấy và tẩm thuốc: Sau khi gỗ tròn đã xẻ vào vẫn còn tươi, ẩm, nên đưa vào lò
sấy (độ ẩm bắt buộc từ 1600C trở lên) để sấy cho khô tùy theo loại gỗ hay miếng gỗdày hay mỏng Khi gỗ khô ra lò cũng được bắn thẻ kiện để quản lý và đưa vào khonguyên liệu để bảo quản Bên cạnh đó, gỗ là loại nguyên liệu dễ bị mọt ăn nên phải tẩmthuốc để tránh mọt và bảo quản được lâu
Cắt phôi: Khi gỗ có độ ẩm nhất định thì đưa vào cắt phôi tạo thành phôi chi
tiết, tùy theo kích cỡ, quy cách của từng loại sản phẩm Khi phôi chi tiết được cắt xongthì được xếp vào palet chuyển vào kho để bảo quản
Tinh chế: Phôi chi tiết được đưa vào cưa lộng tạo cho phôi có những đường
cong lượn hay gợn sóng tùy theo yêu cầu của bản vẽ Sau đó nó được đưa vào máybào, máy cắt phay mộng, máy đục lỗ, soi rãnh để tạo ra chi tiết sản phẩm
Cắt phôi Tinh chế
Tổ ghép hoàn
thiện và làm màu
Trang 30 Tổ ghép hoàn thiện và làm màu: Sử dụng lao động thủ công, công nhân sẽ
chà nhám, làm nguội và lắp ghép các chi tiết thành sản phẩm hoàn chỉnh, rồi sau đóchuyển qua nhúng dầu, phun sơn… tùy theo yêu cầu
Đóng gói và bao bì: Sau khi hoàn thiện sản phẩm, cần phải kiểm tra lại màu
sơn, vật tư, kích thước sản phẩm, đảm bảo cho bề mặt nhẵn, kỹ thuật lắp ráp trong từng
bộ phận… sau khi đã kiểm tra xong Sản phẩm nào đạt yêu cầu sẽ chuyển đến khâu bao
bì và đóng gói Sản phẩm nào không đạt yêu cầu sẽ trở về khâu trước làm lại
Nhập kho thành phẩm: Sản phẩm nào đã được hoàn thiện dán mạc đồng, thẻ
treo, đóng gói bao bì sẽ được nhập vào kho và chờ xuất
Mỗi công đoạn đều có bộ phận kỹ thuật và cơ sở để kiểm tra chất lượng
2.1.5 Công tác quản lý sản xuất của công ty cổ phần công nghệ gỗ Đại Thành 2.1.5.1 Hình thức tổ chức sản xuất
Để duy trì và phát triển sản xuất, công ty đã sắp xếp và tổ chức sản xuất, cảitạo lại các nhà máy, dàn dần ổn định theo mô hình chuyên môn hóa, tập trung hóa, vừasắp xếp, vừa chuyển dịch cơ cấu sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm
Quá trình sản xuất các sản phẩm của công ty được tổ chức thực hiện ở hai nhàmáy chính đó là Đại Thành I và Đại Thành II
Đại thành I: chuyên sản xuất nội thất xuất khẩu Các loại sản phẩm đồ gỗtrong nhà chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ, Úc, Châu Âu
Đại Thành II: chuyên sản xuất đồ gỗ ngoài trời xuất khẩu Các loại sản phẩm
đồ gỗ ngoài trời chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Châu Á, Châu Âu, Hoa Kỳ…
Ngoài ra còn có một cơ sở Đại Thành ở quảng trị cũng chuyên sản xuất đồ gỗngoài trời xuất khẩu
2.1.5.2 Phương pháp lập kế hoạch sản xuất
Kế hoạch năng lực sản xuất
Sản phẩm chủ yếu của doanh nghiệp là các sản phẩm ngoài trời như các loạighế nằm, ghế ngồi, phục vụ chủ yếu là thị trường nước ngoài nên đơn đặt hàng chịuảnh hưởng của nhiều yếu tố thời tiết
Trang 31Hoạt động của công ty là sản xuất các loại sản phẩm đồ gỗ nên phụ thuộc rấtnhiều vào thời tiết và mùa Vào mùa hàng, ở những lúc cao điểm ( thường từ tháng 8đến tháng 2 năm sau) nhu cầu rất lớn, buộc công ty sẽ sản xuất tăng ca và làm thêm cảngày chủ nhật từ tháng 3 đến tháng 7 năm sau, do ảnh hưởng của thời tiết và mù vụnên nhu cầu về sản phẩm giảm, công ty tiến hành sản xuất dãn hoặc một số bộ phậntạm ngừng sản xuất.
Kế hoạch sản xuất tổng thể
Doanh nghiệp thường kết hợp các chiến lược bố trí lao động với nhau (nhưng
ít khi sử dụng chiến lược thuê gia công ngoài) với mục đích đáp ứng nhu cầu với chiphí thấp nhất
Kế hoạch công nhân trong xí nghiệp.
Số công nhân đầu năm là: 2.762 người
Lương giờ: 15.000đ
Chi phí làm thêm giờ: 120% giờ chính
Làm thêm giờ không quá 40% thời gian chính thức
Kế hoạch chỉ đạo sản xuất
Tùy theo từng giai đoạn trong năm mà số ca làm việc của mỗi bộ phận tạicông ty sẽ là 1,2, 3 ca/ngày, nhắm đảm bảo cung cấp và đáp ứng kịp thời sản phẩm chothị trường
Kế hoạch nhu cầu sản xuất
Hệ thống thu mua tồn kho
Để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải sử dụngnhiều loại nguyên vật liệu khác nhau Nguyên vật liệu chủ yếu là nhập khẩu từ nướcngoài về như Nam Phi, Uruquay, Myanma, Indonexia, Malaysia…và một số loại gỗ từtrồng rừng: bạch đàn, keo, lá tràm…
Để tổ chức tốt công tác quản lý và hạch toán nguyên vật liệu, đảm bảo sử dụng cóhiệu quả nguyên vật liệu trong sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp đã phân chia mộtcách chi tiết theo tính năng lý, hóa, theo quy cách, phẩm chất, theo nguồn gốc xuất xứcủa nguyên vật liệu
Trang 32 Kế hoạch máy móc thiết bị
Bảng 2.2 Máy móc thiết bị của công ty
Diện tích cho sản xuất và lưu trữ
Bảng 2.3 Quy mô nhà xưởng của công ty
Kế hoạch tiến độ sản xuất
Dựa vào đơn đặt hàng của khách hàng mà công ty sẽ bố trí lượng lao động và
số giờ làm sao cho phù hợp với tiến độ giao hàng
Kế hoạch nhu cầu tiến độ và kế hoạch sản xuất.
Bước 1: phân tích sơ đồ kết cấu sản phẩm.
Bước 2: tính tổng nhu cầu.
Bước 3: tính nhu cầu thực
Nhu cầu thực = tổng nhu cầu – dự trữ hiện có + dự trữ an toàn.
Trang 332.1.5.3 Các loại nguyên vật liệu dùng cho sản xuất
Nguyên liệu của công ty rất đa dạng và phong phú, tùy theo công dụng của nó
mà người ta chia thành nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, công cụ dụng cụ vànguyên vật liệu khác:
Nguyên vật liệu chính: Các loại gỗ tự nhiên như tràm, bạch đàn, xoan đào,
gỗ dâu… và các loại ván ghép khác…
Nguyên vật liệu phụ: Dầu màu, keo sữa, vecni, sơn bong, buloong, ốc vít,kéo dán, vải, nệm…
Công cụ dụng cụ và các nguyên vật liệu khác: Mũi khoan, lục giác 4, khóa
mỏ vịt, giấy nhám, lưỡi cưa, thước kẻ…
2.1.5.4 Định mức tiêu hao nguyên vật liệu.
Tùy thuộc vào mỗi loại nguyên vật liệu mà sử dụng phương pháp định mứckhác nhau
Đối với nguyên vật liệu mà có định mức tiêu dùng thì chỉ dùng phương pháp trực tiếp: lấy số lượng sản phẩm cần sản xuất x định mức tiêu hao nguyên vật
liệu cho 1 đơn vị sản phẩm
Đối với loại nguyên vật liệu chưa có định mức tiêu dùng thì chỉ dùng phương pháp gián tiếp: lấy mức tiêu hao kì trước làm gốc x tỷ lệ tăng sản lượng của kỳ kế