Giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn đinh vào mục đích sản xuất lâm nghiệp theo quy hoạch và kế hoạch là một chủ trương chính sách lớn của Đảng và Nhà nướ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
LĂNG THỊ NGA
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIAO ĐẤT
LÂM NGHIỆP CHO CÁC HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG
SƠN GIAI ĐOẠN 1995 - 2010
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN, NĂM 2012
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
LĂNG THỊ NGA
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIAO ĐẤT
LÂM NGHIỆP CHO CÁC HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG
SƠN GIAI ĐOẠN 1995 - 2010
Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Mã số : 60 85 01 03
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Khắc Thái Sơn
Thái Nguyên, năm 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa có ai công bố trong một công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2012
Tác giả
Lăng Thị Nga
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành tại Khoa Sau đại học - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên theo chương trình đào tạo Cao học Quản lý đất đai khoá 18, giai đoạn 2010 - 2012
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Khoa Đào tạo sau đại học cũng như của các thầy, cô giáo Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; UBND huyện Cao Lộc; Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện; Hạt kiểm lâm huyện; Phòng Nông nghiệp
và phát triển nông thôn huyện; Chi cục thống kê huyện; UBND các xã Cao Lâu, Xuất Lễ, Thạch Đạn, nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn về sự giúp
đỡ quý báu đó
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới PGS.TS Nguyễn Khắc Thái Sơn - người hướng dẫn khoa học đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập cũng như hoàn thành luận văn
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và các đồng nghiệp để công trình nghiên cứu này được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2012
Tác giả
Lăng Thị Nga
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn .ii
Mục lục iii
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt vii
Danh mục các bảng biểu viii
Danh mục các hình, biểu đồ .ix
MỞ ĐẦU 1 ĐẶT VẤN ĐỀ .1
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI .2
2.1 Mục tiêu tổng quát của đề tài 2
2.2 Mục tiêu cụ thể của đề tài .2
3 YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI .3
4 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI .3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1.1 Cơ cở lý luận của đề tài .4
1.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài .5
1.2 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TÁC GIAO ĐẤT LÂM NGHIỆP .7
1.2.1 Khái niệm đất lâm nghiệp và giao đất .7
1.2.2 Chính sách giao đất lâm nghiệp ở Việt Nam qua các thời kỳ 8
1.2.3 Thẩm quyền giao đất lâm nghiệp .15
1.2.4 Các quy định về giao đất lâm nghiệp 16
1.3 CÔNG TÁC GIAO ĐẤT LÂM NGHIỆP TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT NAM .23
1.3.1 Công tác giao đất lâm nghiệp tại huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang .23
1.3.2 Công tác giao đất, giao rừng tại tỉnh Tuyên Quang .25
1.3.3 Công tác giao đất, giao rừng tại xã Tam Hiệp, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang .26
Trang 61.3.4 Công tác giao đất lâm nghiệp tại tỉnh Lạng Sơn .28
1.4 HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC GIAO ĐẤT LÂM NGHIỆP .30
1.4.1 Hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp tại một số tỉnh .30
1.4.2 Hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp tại tỉnh Lạng Sơn .35
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU .37
2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 37
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU .37
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp .38
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 38
2.4.2.1 Chọn điểm nghiên cứu .38
2.4.2.2 Phương pháp điều tra .39
2.4.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý, phân tích và đánh giá số liệu .39
2.4.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi .39
2.4.4.1 Diện tích đất lâm nghiệp giao cho hộ gia đình, cá nhân .39
2.4.4.2 Diện tích đất mà hộ gia đình, cá nhân được giao và đang sử dụng .40
2.4.4.3 Mức độ đầu tư vào sản xuất lâm nghiệp .40
2.4.4.4 Hiệu quả sử dụng đất của hộ gia đình sau khi được giao đất 40
2.4.4.5 Ý kiến của người dân về chính sách giao đất 40
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN 41
3.1.1 Điều kiện tự nhiên .41
3.1.1.1 Vị trí địa lý .41
3.1.1.2 Đặc điểm địa hình .42
3.1.1.3 Khí hậu, thủy văn .42
3.1.1.4 Các loại tài nguyên 43
3.1.1.5 Thực trạng môi trường .44
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội .45
3.1.2.2 Thực trạng cơ sở hạ tầng .45
3.1.2.3 Các lĩnh vực văn hóa - xã hội 46
Trang 73.1.2.4 Tình hình dân số, lao động 47
3.1.3 Sơ lược tình hình quản lý đất đai của huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn .48
3.1.4 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn 50
3.1.5 Đánh giá chung tình hình cơ bản của huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn ảnh hưởng đến công tác giao đất lâm nghiệp 52
3.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIAO, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT LÂM NGHIỆP TẠI HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN 53
3.2.1 Kết quả giao đất lâm nghiệp của toàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn .53
3.2.2 Kết quả giao đất lâm nghiệp tại các xã điều tra .54
3.2.2.1 Khái quát về tình hình các xã điều tra 54
3.2.2.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất của 3 xã điều tra trước khi giao đất (năm 1995) 56
3.2.2.3 Kết quả điều tra về tình hình giao đất lâm nghiệp ở 3 xã sau khi giao đất (năm 2010) .59
3.2.2.4 Công tác quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp của các xã điều tra sau khi nhận đất (năm 2010) 64
3.2.2.5 Đánh giá chung về tình hình giao đất lâm nghiệp .71
3.3 HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC GIAO ĐẤT LÂM NGHIỆP TẠI HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN ĐẾN ĐỜI SỐNG NGƯỜI DÂN .72
3.3.1 Hiệu quả của công tác giao đất lâm nghiệp tại huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đến đời sống kinh tế của người dân .72
3.3.1.1 Kết quả đạt được .73
3.3.1.2 Hiệu quả kinh tế thu được từ một số mô hình trồng rừng 74
3.3.2 Hiệu quả của công tác giao đất lâm nghiệp tại huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đến đời sống xã hội của người dân .79
3.3.2.1 Củng cố tăng cường ý thức, vai trò trách nhiệm của người sử dụng đất đối với việc bảo vệ đất, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường .79
3.3.2.2 Giải quyết việc làm cho các lao động trong gia đình 80
3.3.2.3 Nâng cao ý thức kế hoạch hoá gia đình nhằm giảm áp lực của sự gia tăng dân số đến việc sử dụng đất trong tương lai .82
3.3.2.4 Nâng cao khả năng liên kết sản xuất nông, lâm nghiệp, cũng cố mối quan hệ đoàn kết cộng đồng, kích thích ý thức làm giàu của người dân 83
3.3.2.5 Hiệu quả của chính sách giao đất, giao rừng trong việc duy trì các phong tục tập quán và bản sắc dân tộc, cùng với việc đẩy lùi các tập tục lạc hậu, mê tín dị đoan, tiến tới xây dựng gia đình và làng xóm văn hoá .83
Trang 83.3.3 Hiệu quả của công tác giao đất lâm nghiệp tại huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
đến môi trường sinh thái .84
3.3.3.1 Một số mô hình trồng rừng trên địa bàn huyện 84
3.3.3.2 Hiệu quả môi trường thu được từ việc giao đất trồng rừng .85
3.3.4 Ý kiến của người dân về chính sách giao đất lâm nghiệp 88
3.3.4.1 Quy định về hạn mức giao đất .88
3.3.4.2 Các quyền lợi của người sử dụng đất sau khi nhận đất 89
3.3.4.3 Tình hình hỗ trợ sản xuất cho nông hộ sau khi nhận đất .90
3.4 TỒN TẠI, GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIAO ĐẤT LÂM NGHIỆP CHO CÁC HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN TẠI HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN 91
3.4.1 Tồn tại chính trong công tác giao đất lâm nghiệp 91
3.4.1.1 Những tồn tại về phía cơ quan quản lý Nhà nước .91
3.4.1.2 Những tồn tại về phía hộ gia đình, cá nhân nhận đất 92
3.4.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp 93
3.4.2.1 Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác giao đất lâm nghiệp .93
3.4.2.2 Các giải pháp cụ thể để sử dụng tài nguyên đất và rừng bền vững 94
3.4.2.3 Một số giải pháp cụ thể nhằm hỗ trợ, đẩy mạnh phát triển sản xuất lâm nghiệp .94
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 1 KẾT LUẬN .96
2 ĐỀ NGHỊ 97
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
BTNMT: Bộ Tài nguyên và Môi trường BNNPTNT: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn BTC: Bộ tài chính
CP: Chính phủ CT: Chỉ thị CNH – HĐH: Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
GTSX: giá trị sản xuất GCNQSDĐ: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất GCN: Giấy chứng nhận
HĐBT: Hội đồng Bộ trưởng KL: Kiểm lâm
NĐ: Nghị định QH: Quốc hội QL: Quốc lộ QĐ: Quyết định TTg: Thủ tướng Chính phủ TT: Thông tư
TTLT: Thông tư liên tịch TNHH: Trách nhiệm hữu hạn UBND: Uỷ ban nhân dân
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Cao Lộc năm 2010 50
Bảng 3.2 Kết quả cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp trên địa bàn huyện 53
Bảng 3.3 Tình hình dân số lao động và dân tộc của 3 xã điều tra 56
Bảng 3.4 Cơ cấu sử dụng đất lâm nghiệp ở 3 xã điều tra năm 1995 58
Bảng 3.5 Kết quả giao đất lâm nghiệp ở 3 xã điều tra tính đến ngày 31/12/2010 61
Bảng 3.6 Kết quả trồng rừng trên đất lâm nghiệp đã giao của các hộ gia đình 3 xã điều tra 63
Bảng 3.7 Kết quả cấp GCNQSD đất sau khi giao đất lâm nghiệp 64
Bảng 3.8 Cơ cấu các loại đất ở 3 xã điều tra năm 2010 66
Bảng 3.9 So sánh tình hình sử dụng đất trước và sau khi giao đất lâm nghiệp 67
Bảng 3.10 So sánh diện tích giao cho hộ gia đình trước và sau khi giao 68
Bảng 3.11 Tình hình cơ bản của các hộ điều tra và một số chỉ tiêu bình quân năm 2010 69
Bảng 3.12 Mức độ đầu tư của hộ gia đình, cá nhân 70
Bảng 3.13 Hướng ưu tiên đầu tư của hộ gia đình, cá nhân 71
Bảng 3.14 Phân loại hộ gia đình theo thu nhập 73
Bảng 3.15 Một số chỉ tiêu về tình hình kinh tế hộ gia đình điều tra ở 3 xã 74
Bảng 3.16 So sánh một số chỉ tiêu về hiệu quả quản lý sử dụng đất 79
Bảng 3.17 Tỷ lệ lao động tham gia vào sản xuất trước và sau khi giao đất 81
Bảng 3.18 Tỷ lệ sinh của các xã điều tra 82
Bảng 3.19 Số xã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học – xoá mù chữ và phổ cập THCS trên địa bàn huyện 84
Bảng 3.20 So sánh một số chỉ tiêu về bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái 87
Bảng 3.21 Sự biến đổi của khí hậu trong vòng 15 năm 88
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Trang
Hình 3.1: Vị trí địa lý huyện Cao Lộc 41
Biểu đồ 3.1 Cơ cấu sử dụng đất năm 2010 của huyện Cao Lộc 51
Hình 3.2: Hiện trạng rừng khi không có sự tham gia quản lý của người dân tại xã Thạch Đạn 57
Hình 3.3: Hiện trạng rừng khi không có sự tham gia quản lý của người dân tại xã Cao Lâu 57
Biểu đồ 3.2 Cơ cấu sử dụng đất của 3 xã điều tra năm 1995 58
Biểu đồ 3.3 Kết quả cấp GCNQSD đất ở 3 xã sau khi giao đất lâm nghiệp 65
Biểu đồ 3.4 Cơ cấu sử dụng đất của 3 xã điều tra năm 2010 66
Biểu đồ 3.5 Tình hình sử dụng đất trước và sau khi giao đất 67
Hình 3.4 Hình ảnh cây thông đang trong quá trình khai thác lấy nhựa 75
Hình 3.5 Hình ảnh rừng trồng thuần loài được đầu tư chăm sóc 77
Hình 3.6 Rừng thông mã vĩ ở xã Thạch Đạn và xã Xuất Lễ 86
Hình 3.7 Rừng hỗn giao tại xã Cao Lâu 87
Trang 12MỞ ĐẦU
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là
thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là nơi phân bố dân cư, là
địa bàn quy hoạch, xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh
quốc phòng Việt Nam có hơn 80% dân số sống ở miền núi, trung du (chủ yếu
là đồng bào các dân tộc) lao động trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản Vì thế việc bảo vệ và sử dụng bền vững đất nông, lâm nghiệp giữ một vai trò vô cùng quan trọng
Trước tình hình chặt phá rừng, đốt rừng lấy củi, làm nương rẫy, môi trường sinh thái bị đe dọa nghiêm trọng, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương và biện pháp nhằm tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, trong đó công tác giao đất lâm nghiệp là một trong những biện pháp trọng tâm Giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn
đinh vào mục đích sản xuất lâm nghiệp theo quy hoạch và kế hoạch là một
chủ trương chính sách lớn của Đảng và Nhà nước nhằm gắn lao động với đất
đai tạo động lực phát triển sản xuất lâm nghiệp, từng bước ổn định và phát
triển tình hình kinh tế, xã hội, tăng cường an ninh quốc phòng Đây là một nhiệm vụ trọng tâm của công tác quản lý và bảo vệ rừng đối với cấp uỷ, chính quyền các cấp, trong đó lực lượng Kiểm lâm nói chung và Kiểm lâm Lạng Sơn nói riêng là nòng cốt chủ yếu
Cao Lộc là một huyện miền núi biên giới với địa hình đồi núi là chủ yếu
Do vậy việc tổ chức quản lý sử dụng đất lâm nghiệp có hiệu quả đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao đời sống của người dân trên địa bàn Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước và các Chỉ thị, Nghị quyết của tỉnh và của huyện về công tác lâm nghiệp, nhằm làm cho mỗi mảnh đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện đều có chủ thực sự, từ năm 1993 đến nay huyện đã chỉ đạo các cấp, các ngành tuyên truyền vận động nhân dân nhận đất, nhận rừng đưa vào quản
Trang 13lý sản xuất kinh doanh, chỉ đạo ngành kiểm lâm huyện phối hợp với ủy ban nhân dân (UBND) các xã tiến hành tổ chức giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia
đình, cá nhân và các đơn vị tập thể đóng trên địa bàn huyện
Nhằm tổng kết và đánh giá hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp trên
địa bàn huyện, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý
Nhà nước nói chung và công tác giao đất lâm nghiệp nói riêng trên địa bàn toàn huyện, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình,
cá nhân trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 1995 - 2010”
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Mục tiêu tổng quát của đề tài
Đánh giá kết quả của công tác giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá
nhân ảnh hưởng như thế nào đến đời sống của người dân trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn nhằm rút ra bài học khuyến cáo cho công tác quản lý nhà nước về đất lâm nghiệp đối với huyện Cao Lộc và các nơi khác có điều kiện tương tự
2.2 Mục tiêu cụ thể của đề tài
Đề tài nghiên cứu nhằm 4 mục tiêu cụ thể sau:
- Đánh giá được sơ lược tình hình cơ bản của vùng nghiên cứu ảnh hưởng đến công tác giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân
- Khái quát được thực trạng công tác giao đất lâm nghiệp, sử dụng đất lâm nghiệp và quản lý đất lâm nghiệp trước và sau khi giao cho hộ gia đình,
cá nhân trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
- Đánh giá hiệu quả của công tác giao đất lâm nghiệp đến đời sống: Kinh tế, xã hội và môi trường của người dân trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý nhà nước về đất lâm nghiệp
Trang 143 YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
- Tìm hiểu các loại đất, các văn bản pháp luật liên quan đến công tác giao đất lâm nghiệp
- Tài liệu, số liệu thu thập đảm bảo độ chính xác và tin cậy
- Các giải pháp đưa ra có tính khả thi và phù hợp với địa bàn nghiên cứu
4 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
- Ý nghĩa khoa học: Đề tài này giúp củng cố và hoàn thiện các kiến thức về Luật đất đai; nắm vững chính sách pháp luật đất đai; chính sách giao
đất, giao rừng nói chung và giao đất lâm nghiệp nói riêng
- Ý nghĩa thực tiễn: Từ quá trình nghiên cứu đề tài, giúp ta đánh giá
được hiệu quả của công tác giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình cá nhân,
tìm ra được những mặt thuận lợi và khó khăn tồn trại trong công tác giao đất lâm nghiệp để từ đó đề xuất những giải pháp khắc phục, góp phần thúc đẩy hiệu quả của công tác giao đất lâm nghiệp
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1 Cơ cở lý luận của đề tài
Để phát triển Lâm Nghiệp nói riêng và nông thôn nói chung thì đất đai
là một tư liệu sản xuất quan trọng không thể thiếu Trong những năm gần
đây,bằng nhiều chính sách đất đai của Đảng và Nhà nước đã góp phần rất lớn
vàocông cuộc đổi mới nông thôn nước ta Nó đã phát huy được tác dụng như: tăng hiệu quả sản xuất, giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, ổn định tình hình kinh tế xã hội ở nông thôn…
Bên cạnh đó, tài nguyên rừng ở nước ta rất đa dạng và phong phú Hằng năm rừng cung cấp nhiều loại hàng hóa phục vụ cho các ngành kinh tế như gỗ và các loại lâm đặc sản khác Ngoài những vai trò to lớn đó, rừng còn
có nhiều tác dụng trong các lĩnh vực như phòng hộ, môi trường sinh thái và cảnh quan
Có thể nói rừng có vai trò và tác dụng quan trọng không gì thay thế
được trong nhiều lĩnh vực, nó luôn gắn bó với đời sống con người Tuy nhiên,
trong những năm gần đây tài nguyên đất và rừng ở nước ta đã bị suy giảm nghiêm trọng
Nguyên nhân chính của tình trạng này là đất và rừng không có chủ thực
sự dẫn đến tình trạng khai thác sử dụng bừa bãi quá mức Với nhận thức là ổn
định tình hình kinh tế xã hội ở nông thôn miền núi thì trước tiên phải ổn định
tình hình đất đai và tài nguyên rừng Trong hoàn cảnh như vậy một loạt các chính sách về giao đất giao rừng đã được ban hành Theo đó đất và rừng được giao đến tận tay người dân để sản xuất, kinh doanh theo quy định của Nhà nước và pháp luật, mỗi mảnh đất rừng đã có chủ quản lý thực sự
Trang 16Giao đất, giao rừng là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm tạo
sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, xã hội ở địa bàn nông thôn, đồng thời nâng cao tinh thần trách nhiệm cho từng tổ chức, cá nhân trong công tác quản lý và bảo
vệ rừng Qua những vấn đề nêu trên, chúng ta có thể thấy được chính sách giao đất giao rừng thực sự có vai trò rất lớn trong công cuộc bảo vệ và phát triển rừng bền vững Chính sách giao đất giao rừng thực sự đã trở thành đòn bẩy để phát triển kinh tế Lâm nghiệp và nông thôn Đồng thời nó cũng thể hiện sự biến đổi to lớn từ sản xuất lâm nghiệp truyền thống sang sản xuất lâm nghiệp có sự tham gia của toàn xã hội Việc tìm hiểu về chính sách giao đất giao rừng sẽ giúp chúng ta có cài nhìn đúng đắn hơn về công cuộc bảo vệ và
phát triển rừng ở nước ta hiện nay
1.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
Nhà nước đã ban hành nhiều Luật, Nghị định, Quyết định, Chỉ thị về giao đất, giao rừng nhằm gắn lao động với đất đai, tạo động lực phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, từng bước ổn định kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng
Người sử dụng đất có các quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, quyền thế chấp, bảo lãnh, góp gốn bằng quyền sử dụng đất; quyền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
được xác định trong Luật đất đai Những quyền này tạo sơ sở pháp lý về
những lợi ích cụ thể để người sử dụng đất thực sự làm chủ về việc sử dụng và kinh doanh trên đất được giao, từng bước khắc phục tình trạng manh mún ruộng đất, tạo điều kiện tích tụ ruộng đất phù hợp, thúc đẩy sản xuất nông lâm nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, thâm canh đất đai, đổi mới
cơ cấu sản xuất, đa dạng hoá cây trồng, sử dụng và bảo vệ tốt tài nguyên môi trường theo hướng một nền nông lâm nghiệp bền vững
Trang 171.1.3 Cơ sở pháp lý của đề tài
1.1.3.1 Một số văn bản pháp quy của Nhà nước quy định về công tác giao
đất
- Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ
9 thông qua ngày 12/8/1991
- Nghị định số 02/1994/NĐ-CP ngày 15/01/1994 của Chính phủ ban hành Bản quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
- Thông tư số 06-LN/KL ngày 18/6/1994 của Bộ Lâm nghiệp hướng dẫn thi hành Nghị định 02/CP-1994 về giao đất lâm nghiệp
- Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng
ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
- Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao,
được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp
- Thông tư liên tịch số 80/2003/TTLT-BNNPTNT-BTC ngày 03/9/2003 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001
- Luật Đất đai 2003 ngày 26/11/2003
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003
- Luật bảo vệ và phát triển rừng số 29/2004/QH11 được Quốc hội khóa
11 thông qua ngày 03/12/2004 quy định về việc quản lý và bảo vệ, phát triển
và sử dụng rừng
- Thông tư số 38/2007/TT-BNNPTNT ngày 25/4/2007 của Bộ trưởng
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng
đồng dân cư
Trang 18- Thông tư liên tịch số 07/2011/TTLT-BNNPTNT-BTNMT ngày 29/01/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài nguyên Môi trường về việc hướng dẫn một số nội dung về giao rừng, thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê đất lâm nghiệp
1.1.3.2 Văn bản pháp quy của tỉnh Lạng Sơn quy định về công tác giao
đất đối với đất Lâm nghiệp
1.2 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TÁC GIAO ĐẤT LÂM NGHIỆP
1.2.1 Khái niệm đất lâm nghiệp và giao đất
1.2.1.1 Đất lâm nghiệp
Điều 1, Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 quy định: “Đất lâm
nghiệp được xác định là đất có rừng và đất không có rừng hoặc đất trống,
đồi núi trọc được quy hoạch cho mục tiêu phát triển lâm nghiệp” [20]
Khoản 2, Điều 3 Thông tư liên tịch số BTNMT quy định: “Đất lâm nghiệp là đất đang có rừng tự nhiên hoặc đang
07/2011/TTLT-BNNPTNT-có rừng trồng đạt tiêu chuẩn rừng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; đất đang khoanh nuôi để phục hồi rừng; đất mới trồng rừng nhưng chưa thành rừng; đất đang trồng rừng hoặc đã giao, cho thuê để trồng rừng và diện tích đất trống trong các khu rừng đặc dụng hoặc diện tích đất trống được bảo vệ trong các khu rừng khác theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng” [3]
1.2.1.2 Giao đất
* Khái niệm giao đất:
Trang 19Theo Khoản 1 Điều 4 Luật đất đai 2003 quy định: “Nhà nước giao đất
là việc nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng quyết định hành chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất” [22]
* Mục đích giao đất:
- Đảm bảo cho đất đai được sử dụng hợp pháp, đúng mục đích có hiệu quả Giao đất là một nội dung quản lý nhà nước về đất đai, công nhận quyền
sử dụng đất của người được công nhận Người sử dụng đất sử dụng đúng mục
đích ghi trong hồ sơ xin giao đất Tính hợp pháp của quyền sử dụng đất tạo điều kiện cho chủ sử dụng đất yên tâm đầu tư vốn, công sức nhằm khai thác
tốt tiềm năng đất đai, cải tạo bồi bổ đất đai, phát triển sản xuất, thực sự coi đất như tài sản của mình, không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng đất
- Xác lập mối quan hệ giữa Nhà nước với người sử dụng đất, làm căn
cứ pháp lý để giải quyết mọi quan hệ đất đai đúng pháp luât
- Làm cơ sở để người sử dụng đất thực hiện các quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, góp vốn, bảo lãnh quyền sử dụng
đất theo pháp luật phù hợp với sự vận động vốn có của quan hệ đất đai trong
thực tiễn cuộc sống
1.2.2 Chính sách giao đất lâm nghiệp ở Việt Nam qua các thời kỳ
1.2.2.1 Chính sách giao đất lâm nghiệp trước thời kỳ đổi mới (1968-1986)
Trước thời kỳ đổi mới nền kinh tế của nước ta vận hành theo kế hoạch hoá, tập trung quan liêu bao cấp và có những đặc trưng sau:
- Có hai thành phần kinh tế đó là kinh tế quốc doanh và Hợp tác xã (HTX) Trong lâm nghiệp là lâm trường quốc doanh và HTX có kinh doanh nghề rừng; trong nông nghiệp thường là nông trường quốc doanh và HTX nông nghiệp
- Kế hoạch hoá tập trung, cấp phát giao nộp
- Cơ chế thị trường có tổ chức
Các văn bản của Đảng và Nhà nước đã ban hành có liên quan đến vấn
đề giao đất lâm nghiệp trong thời kỳ này bao gồm:
Trang 201 Nghị định số 36/CP ngày 12/3/1968 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về “công tác vận động định canh, định cư kết hợp với HTX đối với đồng bào còn du canh du cư"
2 Quyết định số 179/CP ngày 12/11/1968 của Hội đồng Bộ trưởng về
“một số chính sách đối với HTX có kinh doanh nghề rừng"
3 Quyết định số 129/CP ngày 25/5/1974 của Hội đồng Bộ trưởng về
“một số chính sách đối với HTX, mở rộng diện tích phát triển nông, lâm nghiệp ở trung du và miền núi"
4 Chỉ thị số 257/TTg ngày 16/7/1975 của Thủ tướng Chính phủ về
“đẩy mạnh trồng rừng và đất rừng cho HTX kinh doanh"
5 Quyết định số 272/CP ngày 03/10/1977 của Hội đồng Chính phủ về
“chính sách đối với HTX mở rộng diện tích phát triển nông, lâm nghiệp, xây dựng vùng kinh tế mới, thực hiện định canh, định cư"
6 Chỉ thị 100/CT-TW ngày 13/01/1981 của Ban chấp hành Trung ương
Đảng về “cải tiến công tác khoán mở rộng các công tác khoán sản phẩm đến
nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp"
7 Quyết định số: 184/HĐBT ngày 06/11/1982 của Hội đồng Bộ trưởng
về “đẩy mạnh giao đất, giao rừng cho tập thể nông dân trồng cây rừng"
8 Chỉ thị 29/CT-TW ngày 12/11/1983 của Ban chấp hành Trung ương
Đảng về “đẩy mạnh công tác giao đất, giao rừng và tổ chức kinh doanh theo
phương thức nông lâm kết hợp"
Như vậy trong vòng 19 năm (1968-1986) từ khi xác định chủ trương giao đất rừng cho HTX những văn bản được Nhà nước ban hành đã chứng tỏ chính sách nhất quán và kiên trì trong chủ trương giao đất, giao rừng của
Đảng và Nhà nước cho HTX
* Tình hình giao đất, giao rừng trong giai đoạn 1968-1980
Đây là những năm thực hiện chủ trương đẩy mạnh trồng rừng, bảo vệ
rừng và giao đất, giao rừng cho HTX sản xuất kinh doanh việc trồng rừng, bảo vệ rừng đã trở thành một ngành sản xuất quan trọng, là nhiệm vụ của
Trang 21HTX Nhờ vậy rừng ngày càng mở rộng, diện tích rừng bị phá làm nương rẫy ngày càng giảm
Tuy nhiên số HTX làm đúng theo chủ trương chính sách còn ít, phần lớn các HTX chỉ muốn nhận rừng để khai thác lâm sản, không muốn nhận đất
để trồng cây gây rừng, công tác bảo vệ rừng chưa tốt, nạn phá rừng vẫn chưa được ngăn chặn
Trong giai đoạn này Nhà nước mới khuyến khích và công nhận sự tồn tại của hai thành phần kinh tế chủ yếu trong kinh doanh rừng đó là lâm trường quốc doanh và HTX Sau khi giao đất, giao rừng cho các HTX một số tỉnh đã
có biện pháp tích cực tăng cường chỉ đạo các HTX phát triển nghề rừng, ban hành Nghị quyết chuyên đề về lâm nghiệp quy định tổ chức quản lý và chế độ chính sách đối với các HTX kinh doanh nghề rừng, xác định loại hình HTX, tập đoàn sản xuất (lâm nông hay nông lâm)
Do không giống nhau về trình độ quản lý (nơi mạnh, nơi yếu), về điều kiện kinh doanh nghề rừng (nơi khó, nơi dễ), về quan hệ chỉ đạo (nơi quan tâm thực sự, nơi chỉ đạo buông xuôi) nên trong thời kỳ này có 3 loại hình HTX:
- Loại hình thứ nhất: Bao gồm các HTX đã thực sự đưa rừng và đất
rừng vào dạng tư doanh Các HTX thuộc loại này là HTX bước đầu đã thực hiện sản xuất rừng tốt, thực sự coi trọng nghề rừng, có đầu tư cho nghề rừng (về lao động, vốn, giống ), các HTX này đều có tổ chuyên trách gieo ươm, khai thác Việc trồng rừng cơ động chủ lực làm hạt nhân, kết hợp với toàn bộ lao động theo thời vụ, tuy nhiên loại hình HTX này còn quá ít
- Loại hình thứ hai: Là loại hình HTX được giao đất, giao rừng, nhưng vì
nhiều lý do khác nhau nên chưa đảm bảo tư doanh, vẫn hợp đồng làm khoán trồng rừng hoặc khai thác lâm sản cho lâm trường quốc doanh trên diện tích đất
và rừng được giao Tình trạng này tồn tại nhiều do các HTX trình độ quản lý có hạn, cho ràng làm khoán vẫn có thu nhập cao mà quản lý đỡ phức tạp Hợp tác
xã chỉ điều hành lao động, giải quyết tốt việc ăn chia phân phối nội bộ, còn mọi việc từ thiết kế đến giống, vốn, vật tư kỹ thuật đều do lâm trường đảm nhiệm
Trang 22- Loại hình thứ ba: Là loại hình HTX đã nhận đất, nhận rừng nhưng chưa
đưa vào sản xuất, kinh doanh do nhiều nguyên nhân: phải tập trung lao động vào
sản xuất lương thực, định hướng trồng rừng và kinh doanh lâm nghiệp chưa rõ ràng, chưa xin được vốn hỗ trợ của Nhà nước, trình độ quản lý còn kém Loại hình này chiếm đại đa số các HTX được giao đất, giao rừng Hiện tượng phổ biến nhất
ở các HTX là mới chỉ giữ rừng để lợi dụng khai thác gỗ, củi, khai thác lâm sản,
nhiều nơi còn chặt phá rừng bừa bãi gây thiệt hại to lớn về tài nguyên rừng
Kết quả trong khoảng thời gian từ năm 1968 đến năm 1980 đã giao
được 5 triệu ha cho 3998 HTX và tập đoàn sản xuất
* Tình hình giao đất, giao rừng giai đoạn 1980-1986
Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 184/HĐBT ngày 06/11/1982, quyết định có những nét mới hơn: đối tượng được giao đất, giao rừng thì mở rộng hơn trước, các hộ gia đình cá nhân cũng được Nhà nước giao đất với hạn mức đất và diện tích rừng cụ thể như sau:
- Giao đất cho tập thể kinh doanh thì không hạn chế khả năng sử dụng
được bao nhiêu thì giao bấy nhiêu, mỗi hộ gia đình ở miền núi được cấp từ
2000 - 2500m2 cho mỗi lao động để làm vườn rừng, ngoài ra còn có thể nhận khoán đất trống đồi trọc để trồng rừng theo quy hoạch
- Về quyền lợi của tập thể, cá nhân được quy định như sau: Rừng của tập thể trồng hoặc cải tạo bằng vốn và sức lao động tự có của mình thì khi khai thác
có thể sử dụng 20 - 30% sản phẩm chính đối với rừng trồng hoặc 10 - 20% sản phẩm chính đối với rừng cải tạo, số còn lại phải bán cho Nhà nước theo giá thoả thuận
- Rừng của cá nhân trồng khi thu hoạch phải nộp cho HTX 20% sản phẩm chính, trong số 80% còn lại cá nhân được sử dụng 30% còn 70% phải bán lại cho Nhà nước theo giá thoả thuận
- Sản phẩm nông, lâm nghiệp kết hợp thì cá nhân được hưởng toàn bộ Thực hiện Quyết định trên một số địa phương đã giao đất, giao rừng cho HTX và nhân dân kinh doanh, nhưng do chưa nhận thức đúng tầm quan
Trang 23trọng và chưa có kinh nghiệm chỉ đạo nên chưa phát huy được tác dụng tích cực của chính sách này Nếu không có biện pháp khắc phục thì sẽ dẫn đến hậu quả rất nghiêm trọng về môi trường và nhiều mặt khác nữa Vì vậy ngày 12/11/1983 Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 290-CT/TW về đẩy mạnh giao đất, giao rừng, xây dựng rừng và tổ chức kinh doanh theo phương pháp nông lâm kết hợp
Chỉ thị này đã xác định rõ giao đất, giao rừng gắn liền với việc tổ chức bảo vệ và kinh doanh rừng, sử dụng có hiệu quả các diện tích đất trống, đồi núi trọc theo phương thức nông lâm kết hợp, coi việc giao đất, giao rừng là một cuộc vận động cách mạng mang nội dung kinh tế chính trị sâu sắc, một nhiệm vụ cụ thể của từng người sử dụng đất trên từng khu đất, chuyển lâm nghiệp từ trạng thái tự nhiên sang kinh doanh có tổ chức, có kế hoạch Chỉ thị
đã nêu ra một số định hướng chính sách quan trọng như: Nhà nước hỗ trợ một
phần vốn, giống, công cụ chuyên dùng, vật tư cho HTX và nhân dân; Nhà nước bán đối lưu lương thực theo giá đảm bảo kinh doanh cho những nơi thực
sự không có đủ điều kiện để sản xuất đủ lương thực
Ngày 18/01/1984 Ban Bí thư TW Đảng ban hành Chỉ thị số 35/CP - TW
về việc khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình Nhà nước cho phép các hộ gia đình nông dân tận dụng mọi nguồn phát triển đất mà HTX, nông trường chưa
sử dụng hết để đưa vào sản xuất Nhà nước không đánh thuế sản xuất kinh doanh
đối với hộ gia đình, chỉ đánh thuế tái sinh; đất phục hoá được miễn thuế trong
vòng 5 năm, hộ gia đình nông dân được tiêu thụ các sản phẩm làm ra
Kết quả giao đất, giao rừng trong thời kỳ 1980-1986 đã giao được 1.934.000ha cho 1.724 HTX, 610 cơ quan đơn vị trường học và 349.750 hộ gia
Trang 24để xoá bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đường lối này ngày càng
được hoàn chỉnh trong các Nghị quyết Đại hội Đảng các lần tiếp theo
Luật Đất đai được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII thông qua ngày 28/12/1987 đánh dấu một bước quan trọng trong quá trình xây dựng các chính sách đất đai ở nước ta
* Giai đoạn 1986 -1993
Chủ trương của Nhà nước trong giai đoạn này là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, ngoài thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể Nhà nước có chủ trương giao đất cho hộ gia đình và cá nhân, điều này đã khuyến khích rất nhiều người nhận diện tích đất trống, đồi núi trọc để đầu tư vốn trồng rừng Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh bằng nhiều hình thức thích hợp tuỳ điều kiện cụ thể theo từng vùng như vườn rừng, trại rừng, vườn cây công nghiệp, cây ăn quả, lương thực, thực phẩm, dược liệu kết hợp với cây rừng (nông lâm kết hợp)
Song song với việc thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 05/4/1988 của Bộ Chính trị về ”đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”, ngày 19/08/1991 Luật bảo vệ và phát triển rừng đã được Nhà nước công bố, tại Điều 1 quy
định: ”Nhà nước giao rừng, đất trồng rừng cho tổ chức và cá nhân để phát
triển và sử dụng ổn định, lâu dài theo quy hoạch và kế hoạch của Nhà nước”;
Tổ chức và cá nhân đang sử dụng hợp pháp đất trồng rừng được tiếp tục sử dụng theo quy định tại Điều 3: “Nhà nước bảo hộ quyền lợi hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đầu tư lao động, tiền vốn, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật công nghệ vào các việc gây trồng rừng, bảo vệ rừng, khai thác, chế biến”
Ngày 15/9/1992 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 327/CT về việc ban hành một số chủ trương, chính sách sử dụng đất trống đồi núi trọc, rừng, bãi bồi, ven biển và mặt nước hoang (gọi tắt là Chương trình
Trang 25327) Nội dung chủ yếu của Chương trình 327 là tập trung cải tạo mới rừng phòng hộ và rừng đặc dụng gồm: bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh, trồng rừng gắn nông nghiệp với lâm nghiệp; khôi phục lại môi trường sinh thái; giải quyết việc làm, tăng thu nhập, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống của
đồng bào các dân tộc; điều chỉnh lại lao động dân cư giữa các vùng Qua đây
nhận thức về bảo vệ và chăm sóc rừng, nông lâm kết hợp, tiếp thu kỹ thuật thâm canh, ý thức về sản xuất hàng hoá của đồng bào dân tộc vùng núi đã
được nâng lên một bước
Điều 17 và 18 Hiến pháp 1992 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, thể chế hoá đường lối cơ bản của Đảng mà trực tiếp là Nghị quyết hội nghị lần thứ V của Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 6/1993
Luật Đất đai năm 1993 được Quốc hội thông qua đã đánh dấu kết quả một quá trình nghiên cứu, vận dụng thực tiễn để thể chế hoá các chính sách mới về đất đai, vừa đảm bảo phát huy quan hệ sở hữu toàn dân, phù hợp với cách vận hành mới của một nền kinh tế hàng hoá bắt đầu tiếp cận với cơ chế thị trường Luật Đất đai năm 1993 trong quá trình thực hiện vẫn còn bộc lộ một số bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội, do đó Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998 và 2001 đã có những vấn đề nổi bật đáng lưu ý như:
- Hộ gia đình cá nhân là đối tượng được giao đất sản xuất nông, lâm nghiệp, thay vì giao cho HTX và tập đoàn nông, lâm nghiệp như trước đây
- Người sử dụng đất có quyền sử dụng ổn định lâu dài, ngoài ra còn có các quyền "Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, góp vốn" tạo cơ
Trang 26sơ pháp lý về những lợi ích cụ thể để người sử dụng đất thực sự làm chủ về sử dụng và kinh doanh trên đất được giao
- Khẳng định đất có giá và Nhà nước xác định giá đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất, tính giá trị tài sản khi giao
đất, bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi đất
Ngoài ra, Luật Đất đai năm 1993, Luật sửa đổi bổ sung năm 1998 và năm 2001 còn đề cập nhiều vấn đề đổi mới khác như: quy định mức hạn điền, thời hạn sử dụng đất, đất dành cho nhu cầu công ích Đây là những quy định
cụ thể hoá bằng các Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993, Nghị định số 85/CP ngày 28/8/1999 của Chính phủ ban hành quy định về giao đất nông nghiệp và Nghị định số 02/CP ngày 15/01/1994, Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình
và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp [12]
1.2.3 Thẩm quyền giao đất lâm nghiệp
Thẩm quyền xác lập các khu rừng và giao đất lâm nghiệp được quy
định tại Điều 11 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991; Điều 8 Nghị định
số 17/HĐBT ngày 17/01/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về thi hành Luật bảo
vệ và phát triển rừng (nay là Chính phủ), cụ thể như sau:
- Các khu rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất do Thủ tướng Chính phủ quyết định xác lập thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh nơi có rừng làm thủ tục bàn giao đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất (GCNQSDĐ) theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định xác lập và giao:
+ Các khu rừng phòng hộ có quy mô diện tích dưới 20.000ha; khu di tích văn hoá, lịch sử, cảnh quan du lịch ở địa phương sau khi có sự nhất trí của Bộ Lâm nghiệp hoặc các ngành có liên quan: giao cho các tổ chức Nhà nước ở địa phương quản lý, sử dụng
Trang 27+ Các khu rừng sản xuất ở địa phương có diện tích từ 1000ha đến dưới 20.000ha; các khu rừng đặc sản dưới 5.000ha: giao cho các tổ chức ở địa phương quản lý, kinh doanh theo quy hoạch của Nhà nước
+ Giao cho doanh nghiệp tư nhân trong nước diện tích đất lâm nghiệp
từ 100ha đến dưới 1000ha để sản xuất kinh doanh lâm nghiệp theo quy hoạch
và kế hoạch của Nhà nước
- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện quyết định:
+ Giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân để làm vườn rừng, sản xuất nông lâm kết hợp, sản xuất kinh doanh lâm nghiệp theo quy hoạch của tỉnh
+ Giao rừng sản xuất cho các tổ chức, các cộng đồng làng, bản ở địa phương theo quy hoạch của tỉnh [20]
1.2.4 Các quy định về giao đất lâm nghiệp
1.2.4.1 Giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, gia đình, cá nhân sử dụng ổn
định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
Những quy định về giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp quy định cụ thể về quỹ đất được giao, căn cứ quyết định giao, thời hạn giao và hạn mức được giao được thể hiện ở các Điều 2, 28, 33, 36 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991; Điều 18 Hiến pháp 1992; Điều 1, Điều 20 Luật Đất đai năm 1993
và Luật sửa đổi bổ sung năm 1998, 2001; Nghị định số 02/CP ngày 15/01/1994; Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ
và một số văn bản dưới luật có liên quan khác
* Đối tượng giao đất lâm nghiệp để sử dụng ổn định lâu dài được quy định tại Điều 4, Nghị định số 163/1999/NĐ-CP như sau:
- Các tổ chức như: Ban quản lý các khu rừng phòng hộ, khu rừng đặc dụng; các doanh nghiệp lâm nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp; các trạm trại,
xí nghiệp giống lâm nghiệp; các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, trường học, trường dạy nghề
Trang 28- Các hộ gia đình, cá nhân trực tiếp lao động nông nghiệp, lâm nghiệp
mà nguồn sống chủ yếu là thu nhập có được từ các hoạt động sản xuất đó
được UBND xã nơi có đất lâm nghiệp xác nhận
- Các hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất theo Nghị định số 02/CP từ trước ngày 01/11/1999 thì được trực tiếp sử dụng cho đến hết thời hạn được Nhà nước giao và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất [6]
* Quỹ đất lâm nghiệp để giao, cho thuê:
- Gồm toàn bộ đất có rừng tự nhiên, đất có rừng trồng và đất chưa có rừng đã được quy hoạch để trồng cây gây rừng khoanh nuôi, bảo vệ thảm thực vật, không phân biệt độ dốc được tính vào quỹ đất lâm nghiệp để giao cho hộ gia đình, cá nhân quản lý và sử dụng ổn định lâu dài
- Tùy thuộc vào từng mục đích sử dụng đất lâm nghiệp, từng loại rừng
đã quy hoạch để giao đất, cho thuê đất cho từng đối tượng cụ thể:
+ Nhà nước giao cho các tổ chức (ban quản lý, các doanh nghiệp lâm nghiệp, nông nghiệp) quản lý sử dụng ổn định lâu dài: Toàn bộ đất lâm nghiệp
là rừng đặc dụng và rừng phòng hộ đầu nguồn xung yếu và rất xung yếu; Rừng phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu và các loại rừng phòng hộ khác tập trung, xa khu dân cư; Đất lâm nghiệp là rừng sản xuất tập trung, xa khu dân cư; Đất lâm nghiệp dự trữ quốc gia
+ Nhà nước giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài những loại đất lâm nghiệp sau: Đất có rừng tự nhiên, rừng trồng, đất để trồng rừng mà hộ gia đình, cá nhân đang trực tiếp quản lý sử dụng hợp pháp do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã giao những năm trước đây; Đất có rừng hoặc chưa có rừng thuộc phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu, rừng chắn gió, chắn cát, chắn sóng lấn biển đã ổn định, rừng sản xuất nằm xen kẽ trong các khu dân cư, gần vùng dân cư; Đất chưa có rừng bảo vệ sinh thái
+ Nhà nước giao cho các Chi cục Kiểm lâm trực tiếp quản lý các vùng
đất lâm nghiệp chưa được giao cho các chủ cụ thể
Trang 29* Căn cứ để quyết định giao đất lâm nghiệp được quy định tại Điều 4, Nghị định số 02/NĐ-CP như sau:
- Giao đất lâm nghiệp phải dựa trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất; khoanh định rõ các loại đất; quy hoạch đất lâm nghiệp xác định các loại
rừng trên từng địa bàn cụ thể
- Căn cứ vào quỹ đất lâm nghiệp của từng địa phương
- Căn cứ vào nhu cầu, khả năng sử dụng đất lâm nghiệp của các tổ chức
được ghi trong luận chứng kinh tế kỹ thuật hay trong dự án quản lý xây dựng
khu rừng đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt; đơn xin giao đất lâm nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được UBND cấp xã nơi cư trú xác nhận
- Căn cứ vào kế hoạch nguồn vốn đầu tư hỗ trợ hàng năm của Nhà nước (đối với trường hợp việc giao đất lâm nghiệp có gắn với thực hiện các
dự án đầu tư hỗ trợ bằng vốn của Nhà nước) [5]
* Thời hạn giao đất lâm nghiệp được quy định tại Điều 6, Nghị định số 02/NĐ-CP như sau:
- Đối với các tổ chức của Nhà nước: thời hạn giao được quy định theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Nhà nước
- Đối với các tổ chức khác, hộ gia đình, cá nhân: thời hạn giao là 50 năm, hết thời hạn quy định nếu người sử dụng đất vẫn có nhu cầu và sử dụng đất đúng mục đích thì Nhà nước giao tiếp [5]
* Hạn mức đất được giao được quy định tại Điều 13, Nghị định số 163/1999/NĐ-CP như sau:
Tuỳ thuộc vào quỹ đất của từng địa phương, trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất đai, quy hoạch các loại rừng, nhu cầu sử dụng đất của các tổ chức,
hộ gia đình và cá nhân kết hợp với yêu cầu quản lý cuả Nhà nước đối với từng loại rừng và yêu cầu cụ thể để giải quyết hạn mức giao cho từng đối tượng, dựa trên nguyên tắc mọi tổ chức, hộ gia đình cá nhân có nhu cầu, khả năng sử dụng đất lâm nghiệp hoặc theo nhiệm vụ được giao quản lý của dự án
Đảm bảo cho các đối tượng thực sự có đất để bảo vệ rừng, khoanh nuôi
Trang 30tái tạo rừng, mở rộng diện tích trồng rừng mới, đảm bảo cho các thành phần kinh tế có nhu cầu khả năng sử dụng đất lâm nghiệp để xây dựng cơ cấu kinh
tế miền núi theo hướng chuyển sang cơ cấu kinh tế hàng hoá, phù hợp với đặc
điểm của từng vùng, từng dân tộc, phát huy thế mạnh lâm nghiệp, cây công
nghiệp dài ngày, cây ăn quả [6]
1.2.4.2 Giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp
* Đối tượng được giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp được quy định tại Điều 2 Nghị định số 135/2005/NĐ-CP như sau:
Điều 2 Đối tượng áp dụng
1 Nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh (gọi chung là bên giao khoán) hạch toán độc lập hoặc hạch toán phụ thuộc được Nhà nước giao
đất, cho thuê đất; giao rừng, cho thuê rừng; giao hoặc cho thuê đất có mặt
nước nuôi trồng thủy sản
2 Cán bộ, công nhân, viên chức đang làm việc cho bên giao khoán; hộ gia đình có người đang làm việc cho bên giao khoán hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, được hưởng chế độ đang cư trú trên địa bàn; hộ gia đình có nhu cầu trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đang
cư trú trên địa bàn (ưu tiên hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn đang cư trú trên địa bàn có nhu cầu nhận giao khoán đất), các đối tượng này được gọi chung là bên nhận khoán [8]
* Căn cứ giao khoán và nhận khoán quy định tại Điều 5 Nghị định số 135/2005/NĐ-CP như sau:
“Điều 5 Căn cứ giao khoán và nhận khoán
1 Quỹ đất, quỹ rừng của bên giao khoán bao gồm: diện tích đất, diện tích rừng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao, cho thuê để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản
2 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của bên giao khoán
3 Dự án đầu tư hoặc phương án tổ chức sản xuất, kinh doanh của bên giao khoán được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
Trang 314 Khả năng vốn, trình độ quản lý và lao động của bên nhận khoán
5 Các chính sách đầu tư, hỗ trợ bằng vốn của Nhà nước và các chính sách kinh tế - xã hội khác” [8]
* Nội dung giao khoán đất lâm nghiệp tuỳ theo từng loại rừng được quy định tại Điều 15 và Điều 16 Nghị định số 135/2005/NĐ-CP như sau:
“Điều 15 Giao khoán rừng sản xuất là rừng tự nhiên và rừng trồng
1 Giao khoán rừng sản xuất là rừng tự nhiên
a Thực hiện giao khoán rừng cho bên nhận khoán để chủ động đầu tư vốn, lao động, tổ chức sản xuất kinh doanh nông, lâm kết hợp;
b Bên giao khoán phải xây dựng phương án điều chế rừng để thực hiện quản lý, bảo vệ, chăm sóc, khai thác rừng theo nguyên tắc bền vững Căn cứ phương án điều chế rừng được cấp có thẩm quyền phê duyệt, bên giao khoán
ký hợp đồng giao khoán rừng với bên nhận khoán để bên nhận khoán chủ
động tổ chức sản xuất (quản lý, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh tự nhiên, kết hợp
trồng bổ sung) và khai thác theo luân kỳ của từng loại rừng;
c Nội dung hợp đồng khoán phải thể hiện rõ diện tích đất, diện tích rừng, thực trạng chất lượng rừng giao khoán; vị trí, ranh giới diện tích giao khoán thể hiện trên bản đồ và ngoài thực địa; tỷ lệ phân chia giá trị sản phẩm chính khi khai thác theo luân kỳ tương ứng với vốn, lao động mỗi bên đã đầu
tư, biện pháp tổ chức triển khai giao khoán rừng cụ thể bảo đảm công bằng dân chủ, công khai;
d Trong quá trình thực hiện hợp đồng khoán, bên nhận khoán được tận thu lâm sản, thực hiện các biện pháp kỹ thuật lâm sinh theo quy trình, quy phạm kỹ thuật hiện hành; được sản xuất nông, lâm kết hợp; chăn nuôi dưới tán rừng và được khai thác lâm sản phụ theo hướng dẫn của bên giao khoán;
đ Thời gian khoán theo chu kỳ kinh doanh của từng loại rừng, nhưng
tối đa không quá 50 năm
2 Giao khoán rừng sản xuất là rừng trồng
Trang 32a Rừng sản xuất sau khi đã trồng xong, thực hiện giao khoán rừng cho bên nhận khoán để tiếp tục đầu tư chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ và tổ chức sản xuất nông, lâm kết hợp;
b Nội dung hợp đồng giao khoán phải xác định rõ diện tích, cấp tuổi rừng, trữ lượng rừng, chất lượng rừng, nội dung chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo
vệ rừng, khai thác, trách nhiệm của bên nhận khoán và bên giao khoán, tỷ lệ phân chia giá trị sản phẩm khi khai thác tương ứng với vốn, lao động mỗi bên
đã đầu tư, thời hạn hợp đồng giao khoán;
c Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên nhận khoán được tận thu lâm sản khi thực hiện các biện pháp kỹ thuật lâm sinh theo quy trình, quy phạm kỹ thuật hiện hành và sản xuất nông, lâm nghiệp, ngư nghiệp kết hợp theo hướng dẫn của bên giao khoán, được hưởng sản phẩm tận thu đó theo hợp đồng đã ký;
d Thời gian giao khoán theo chu kỳ kinh doanh của từng loại rừng, nhưng tối đa không quá 50 năm”
“Điều 16 Giao khoán đất trồng rừng sản xuất
1 Bên giao khoán xây dựng dự án trồng rừng, suất đầu tư và ký hợp
đồng giao khoán đất cho bên nhận khoán để trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng đến
khi khai thác; sản phẩm gỗ thu hoạch phân chia theo tỷ lệ tiền vốn đầu tư và công lao động đã đóng góp giữa bên giao khoán và bên nhận khoán
Tuỳ tình hình cụ thể của bên giao khoán và bên nhận khoán để lựa chọn các mô hình sau:
a Bên giao khoán đầu tư 100% vốn (bao gồm thiết kế, cây giống, phân bón, vật tư, tiền công khoán), chỉ đạo kỹ thuật, hỗ trợ công tác bảo vệ rừng bên nhận khoán nhận thực hiện công việc từ trồng, chăm sóc, bảo vệ từ khi trồng đến hết chu kỳ kinh doanh Khi khai thác, bên nhận khoán thanh toán bằng sản phẩm gỗ thu hoạch cho bên giao khoán tương ứng giá trị đã nhận
đầu tư (tính cả vốn + lãi suất) theo thoả thuận ghi trong hợp đồng khoán;
Trang 33b Bên giao khoán đầu tư vốn; thiết kế; cung cấp cây giống, phân bón; chỉ đạo kỹ thuật; hỗ trợ công tác bảo vệ rừng cho bên nhận khoán trồng, chăm sóc trong một số năm đầu Sau đó chuyển sang giai đoạn chăm sóc, bảo vệ, bên nhận khoán tự bỏ vốn để tiếp tục chăm sóc, bảo vệ đến hết chu kỳ kinh doanh Khi khai thác gỗ bên nhận khoán được hưởng tỉ lệ sản phẩm tương
ứng với vốn và công sức bỏ ra theo thoả thuận đã ghi trong hợp đồng;
c Bên nhận khoán tự bỏ vốn để trồng, chăm sóc, bảo vệ; bên giao khoán chịu trách nhiệm thiết kế, cung cấp cây giống, tư vấn kỹ thuật, dịch vụ phân bón; chỉ đạo thi công, kiểm tra, giám sát, hỗ trợ công tác bảo vệ rừng trong cả quá trình thực hiện hợp đồng
Sản phẩm gỗ khai thác bên nhận khoán thanh toán cho bên giao khoán bằng sản phẩm tương ứng với giá trị cây giống, dịch vụ và công lao động đã
đầu tư Phần còn lại bên nhận khoán được hưởng, nhưng phải bán cho bên
giao khoán theo giá thoả thuận giữa hai bên tại thời điểm khai thác; trường hợp bên giao khoán không mua thì bên nhận khoán được tự do tiêu thụ
2 Ngoài việc được trả tiền công khoán hoặc hưởng tỉ lệ sản phẩm như các quy định tại mục a, b, c khoản 1 Điều này, bên nhận khoán được:
a Trồng xen cây nông nghiệp với cây rừng khi rừng chưa khép tán,
được sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp kết hợp dưới tán rừng, rìa rừng nhưng
không được làm ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của cây rừng, theo hướng dẫn của bên giao khoán và được hưởng toàn bộ sản phẩm trồng xen đó;
b Tận dụng lâm sản trong quá trình thực hiện các biện pháp kỹ thuật lâm sinh theo quy trình, quy phạm kỹ thuật hiện hành và theo hướng dẫn của bên giao khoán, được hưởng sản phẩm tận thu đó theo hợp đồng đã ký
3 Thời gian khoán theo chu kỳ cây trồng, nhưng tối đa không quá 50 năm” [8]
1.2.4.3 Quyền và nghĩa vụ của người được giao đất lâm nghiệp
Quyền và nghĩa vụ của người được giao đất lâm nghiệp được quy định tại Điều 15 Nghị định số 02/CP như sau:
Trang 34“1 Quyền lợi:
a Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
b Được nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp trên diện tích đất Lâm nghiệp được giao;
c Được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên diện tích đất Lâm nghiệp được giao theo luận chứng kinh tế kỹ thuật, phương án quản lý,
dự án đầu từ hoặc theo kế ước, theo hợp đồng khoán;
d Được hưởng chính sách hộ trợ cuả nhà nước trong việc bảo vệ và phát triển rừng;
đ Được đền bù, bồi hoàn thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất
Lâm nghiệp được giao theo thời giá thị trường và hiện trạng cuả rừng, đất trồng rừng trường hợp bị thu hồi theo quy định của pháp luật;
e Được để thừa kế, chuyển nhượng, thế chấp, chuyển đổi quyền sử dụng đất Lâm nghiệp được giao theo quy định của pháp luật;
f Được miễn hoặc giảm thuế trong trường hợp gây trồng rừng trên đất trống, đồi, núi trọc theo quy định cuả pháp luật
c Nộp thuế theo quy định của pháp luật” [5]
1.3 CÔNG TÁC GIAO ĐẤT LÂM NGHIỆP TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG
Ở VIỆT NAM
1.3.1 Công tác giao đất lâm nghiệp tại huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang
Huyện miền núi Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã xây dựng chương trình hướng cho bà con các dân tộc chuyển diện tích rừng nghèo kiệt giá trị kinh tế thấp sang trồng rừng kinh tế có giá trị cao Chương trình này thực sự đã đi vào cuộc sống, được bà con các dân tộc hưởng ứng và đạt hiệu quả cao
Trang 35Huyện miền núi Bắc Quang có diện tích đất lâm nghiệp gần 70 nghìn ha
đều nằm trong dải núi đất, có độ dốc vừa phải, độ ẩm cao Đây chính là tiềm
năng để huyện phát triển kinh tế rừng Song đất rừng ở Bắc Quang mới chỉ ở dạng tiềm năng, chưa được khai thác trồng rừng đưa lại hiệu quả kinh tế cao Ngoài 28 nghìn ha rừng phòng hộ được bảo vệ, trên 41 nghìn ha rừng sản xuất mới có 1/2 diện tích được phủ rừng theo các chương trình, dự án như 661, rừng nguyên liệu giấy và phần diện tích còn lại là rừng tạp, rừng nghèo kiệt cho hiệu quả kinh tế thấp Những diện tích đất rừng nghèo kiệt này hầu hết là nương rẫy cũ của bà con các dân tộc bỏ sau khi đã hết màu, sau đó hạt cây phát tán rơi xuống nương và cây rừng tự mọc lên, chủng loại cây mọc trên đất này hầu như không có giá trị bởi đều là cây tạp, gỗ từ nhóm 5 trở lên
Nhằm phát huy lợi thế và khai thác tiềm năng đất rừng có hiệu quả phục vụ mục tiêu phát trển kinh tế-xã hội, huyện Bắc Quang đã tập trung tuyên truyền, tiến hành giao đất rừng nghèo kiệt cho từng hộ dân vùng rừng
và xây dựng chính sách cụ thể hỗ trợ cho bà con các dân tộc chuyển rừng nghèo kiệt sang trồng rừng kinh tế Theo đó, huyện hỗ trợ toàn bộ cây giống cho bà con ở các xã vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu và vùng nhiều đồi đất trống, phá rừng tạp chuyển sang trồng rừng kinh tế Mức hỗ trợ cho trồng 1ha rừng từ 1.800 - 2.200 cây giống (giống cây Keo, Mỡ, Bồ đề) và gần 1.500 cây giống (giống cây Luồng, Tre ) Ngoài ra, huyện còn cử cán bộ kỹ thuật tổ chức các lớp tập huấn ngay tại các thôn, bản để hướng dẫn bà con biết kỹ thuật trồng, chăm sóc rừng Với chủ trương này, hơn 4 năm qua có 4.157 hộ
ở 19 xã trong huyện đã trồng được trên 19 nghìn ha rừng kinh tế, trong đó có
nhiều xã ở vùng đặc biệt khó khăn đã chuyển đổi rừng nghèo kiệt sang trồng rừng kinh tế có hiệu quả cao như xã Đông Thành trồng được trên 1.163ha; người Dao ở xã Thượng Bình, xã đặc biệt khó khăn đã chuyển đổi gần 900ha rừng nghèo kiệt Từ trồng rừng kinh tế, nhiều hộ dân đã có nguồn thu nhập ổn
định và ấp ủ ước mơ làm giàu từ rừng như hộ chị Hoàng Thị Đệ ở thôn Tiến
Thành, xã Đông Thành: Gia đình chị đã chuyển 5ha rừng nghèo kiệt (rừng
Trang 36cây Nứa, Vầu, Cọ) sang trồng Keo được một chu kỳ sản xuất (6 - 7 năm), mỗi
ha cho trên 100m3 gỗ Với giá thu mua bình quân hiện nay là 1,5 triệu
đồng/m3
thì gia đình chị có thu nhập không nhỏ Ngoài ra khi cây chưa đến tuổi thu hoạch, chị vẫn có nguồn thu từ tỉa cành, tỉa cây làm chất đốt và bán ra thị trường Trồng rừng kinh tế đang là hướng đi giúp bà con vùng rừng trong huyện Bắc Quang nhanh chóng thoát nghèo [13]
1.3.2 Công tác giao đất, giao rừng tại tỉnh Tuyên Quang
Giao rừng trồng sản xuất gắn với giao đất lâm nghiệp ổn định, lâu dài
để rừng có chủ đích thực; nhằm bảo vệ và khai thác có hiệu quả tiềm năng
rừng của tỉnh; tạo động lực khuyến khích nhân dân tham gia bảo vệ và đầu tư phát triển rừng Đảm bảo hài hoà giữa lợi ích của Nhà nước với lợi ích của người được giao rừng và đất lâm nghiệp; thực hiện nguyên tắc giao rừng theo
đúng quy định hiện hành của Nhà nước và trên cơ sở tự nguyện, thoả thuận,
không làm mất vốn của Nhà nước đã đầu tư trồng rừng Ngày 17/3, Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã ban hành quyết định số 65/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án giao rừng trồng gắn với giao đất lâm nghiệp thuộc chương trình 327 và Dự án 661 đã quy hoạch lại là rừng sản xuất trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang năm 2010
Giao rừng trồng gắn với giao đất lâm nghiệp trên diện tích gần 19 nghìn hecta rừng trồng thuộc Chương trình 327 và Dự án 661 đã quy hoạch lại là rừng sản xuất trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang Mục tiêu đến hết năm
2010 cơ bản giao xong toàn bộ diện tích trên gắn với giao đất, cấp GCNQSD
đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư nông thôn có
nhu cầu, khả năng sử dụng rừng và đất lâm nghiệp để tổ chức, quản lý bảo vệ
và phát triển bền vững tài nguyên rừng; góp phần nâng cao đời sống nhân dân
địa phương, ổn định chính trị - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái
UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan thường trực giúp UBND tỉnh tổ chức thực hiện công tác giao rừng; phối hợp với các Sở Tài nguyên và Môi trường, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư xây
Trang 37dựng kế hoạch, kinh phí thực hiện công tác giao, cho thuê rừng, kiểm tra, xử
lý những vướng mắc trong quá trình thực hiện ở các địa phương, theo dõi, tổng hợp báo cáo và đề xuất biện pháp chỉ đạo với UBND tỉnh 1 tháng/1 lần
kể từ tháng 4/2010 Đài Phát thanh Truyền hình Tuyên Quang, Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch, Báo Tuyên Quang phối hợp với các ngành, UBND huyện, thị xã có kế hoạch phổ biến, tuyên truyền sâu rộng Luật Bảo vệ và phát triển rừng, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật và chủ trương giao rừng trồng dự án gắn với giao đẩt lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đến mọi tầng lớp nhân dân [31]
1.3.3 Công tác giao đất, giao rừng tại xã Tam Hiệp, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
Phong trào phủ xanh đất trống đồi núi trọc, trồng rừng theo các chương trình, dự án được triển khai rộng khắp làm cho độ che phủ của rừng tăng nhanh Vai trò của kinh tế lâm nghiệp ngày càng được khẳng định, nhất là sau khi các công ty lâm nghiệp (lâm trường trước đây) ứng dụng thành công tiến bộ
kỹ thuật vào trồng rừng (chuyển từ trồng rừng bằng hạt sang trồng cây nhân giống bằng công nghệ nuôi cấy mô, giâm hom) Với ưu điểm nổi trội là chu kỳ khai thác ngắn, sản lượng gỗ lớn và "đầu ra" sản phẩm rộng mở, không chỉ các
tổ chức mà hàng nghìn hộ dân trên địa bàn cũng tích cực trồng rừng kinh tế trên đất lâm nghiệp được giao Nhờ đó, hàng năm tỉnh Bắc Giang trồng mới 4 -
5 nghìn ha rừng tập trung, nâng tổng diện tích rừng trên địa bàn đến nay lên hơn 156 nghìn ha Sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng những năm gần đây đạt hơn 100 nghìn m3/năm, tăng hơn 2 lần so với trước năm 2000
Diện tích rừng trồng, sản lượng gỗ khai thác hàng năm tăng đáng kể nhưng theo đánh giá của ngành chức năng kết quả đó chưa tương xứng với tiềm năng Nguồn thu nhập từ rừng của người dân còn thấp, phần lớn các hộ dân làm nghề rừng còn nghèo do thiếu đất hoặc chưa được giao đất, giao rừng
ổn định để sản xuất Nguyên nhân là do công tác quản lý đất lâm nghiệp còn
nhiều bất cập
Trang 38Theo tổng hợp toàn tỉnh Bắc Giang còn hơn 30 nghìn ha đất lâm nghiệp UBND xã đang quản lý Diện tích trên chưa được giao tới hộ dân hoặc tổ chức nào nên hiệu quả sử dụng thấp Đáng lo ngại là tình trạng lấn chiếm đất trái phép xảy ra, những năm qua người dân ở một số địa phương đã lấn chiếm trái phép hàng trăm ha đất lâm nghiệp Nhiều công ty lâm nghiệp được giao diện tích đất rừng lớn vượt khả năng nên công tác quản lý, sử dụng còn chưa hiệu quả Thực tế cho thấy có đơn vị sản xuất kinh doanh trên đất lâm nghiệp
được tỉnh giao dưới hình thức giao khoán lại cho các hộ dân trong khu vực
thuê Một nguyên nhân khác là diện tích rừng tự nhiên nghèo kiệt của tỉnh lớn (đã quy hoạch thành rừng sản xuất) nhưng phần lớn lại chưa được cải tạo, đầu
tư trồng rừng mới nên hiệu quả kinh tế thấp Giá trị sản xuất lâm nghiệp chưa cao còn do suất đầu tư trồng rừng thấp Yêu cầu đối với trồng rừng thâm canh suất đầu tư phải đạt hơn 20 triệu đồng/ha nhưng các công ty lâm nghiệp mới
có đủ khả năng đầu tư bằng một nửa Các hộ dân trồng rừng chủ yếu tranh thủ vốn hỗ trợ của Nhà nước, ít bỏ tiền đầu tư mua phân bón nên rừng trồng sinh trưởng và phát triển chậm Việc cấp GCNQSD đất lâm nghiệp chậm cũng ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất lâm nghiệp của các thành phần kinh tế bởi không có GCNQSD đất sẽ khó tiếp cận được với vốn tín dụng hoặc không yên tâm đầu tư trên diện tích đất được giao Hiện nay, mới có trên 50% diện tích đất lâm nghiệp đã giao cho tổ chức và cá nhân được cấp GCNQSD đất
Khắc phục những hạn chế trên, UBND tỉnh chỉ đạo ngành chức năng triển khai đề án giao đất, giao rừng giai đoạn 2009-2013 Theo đó, trong năm
2010 cơ bản hoàn thành việc giao rừng, cho thuê rừng trên thực địa gắn với giao đất cho thuê đất lâm nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất do UBND xã
đang quản lý và một phần đất rừng của các công ty lâm nghiệp (khoảng 6 nghìn
ha) sau khi tiến hành rà soát, thu hồi Năm 2013 sẽ hoàn thiện toàn bộ hồ sơ giao, cho thuê rừng và đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2009-2020 cũng được tỉnh xây
Trang 39dựng với mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp
bình quân 10%/năm, tạo việc làm cho khoảng 2,5 vạn lao động, giá trị sản xuất
lâm nghiệp năm 2020 đạt 460 tỷ đồng, tăng hơn 2,5 lần so với hiện nay
Tuy nhiên từ thực tế hiện nay cho thấy để khai thác tiềm năng đất lâm
nghiệp đi đôi với các biện pháp trên thì các tổ chức, cá nhân được giao đất
giao rừng cần chú trọng việc lựa chọn cây giống tốt trong trồng rừng qua khảo
nghiệm, nhập những giống chất lượng Những năm gần đây, nhiều đơn vị như
Công ty Lâm nghiệp Lục Nam, Công ty lâm nghiệp Lục Ngạn… tiến hành
trồng thí điểm giống keo nhập khẩu từ Úc với nhiều ưu điểm như sinh trưởng
nhanh, chất lượng gỗ cao mở ra triển vọng mới trong lĩnh vực sản xuất lâm
nghiệp Vấn đề khác cần quan tâm là tăng cường đầu tư vốn thâm canh rừng,
xây dựng mô hình nông lâm kết hợp bằng việc trồng cây lâm nghiệp ngoài
gỗ trên diện tích rừng trồng những năm đầu để "lấy ngắn nuôi dài", nâng
cao giá trị thu về trên một đơn vị diện tích Bên cạnh đó, chính quyền, ngành
chức năng cần làm tốt công tác dự báo tình hình thị trường sản phẩm, có
khuyến cáo người dân kịp thời và từng bước đưa loài cây gỗ lớn vào trồng
rừng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh trên đất lâm nghiệp [4]
1.3.4 Công tác giao đất lâm nghiệp tại tỉnh Lạng Sơn
Thực tế từ năm 1993, theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, người dân
Lạng Sơn nói riêng và cả nước nói chung đã được giao đất giao rừng theo Nghị
định số 02/1994 của Thủ tướng Chính phủ Các hộ dân đều đã được cấp Hồ sơ
giao quyền quản lý và sử dụng đất rừng (sổ bìa xanh)
Canh tác trên nương rẫy là một tập quán của đồng bào vùng cao ở Lạng
Sơn nhằm giải quyết nhu cầu lương thực có hạt tại chỗ, nhưng đây cũng là
một trong những nguyên nhân làm suy giảm nhanh chóng diện tích rừng tự
nhiên, làm biến đổi môi trường sống Khắc phục tình trạng này, UBND tỉnh
Lạng Sơn đã ban hành Quyết định số 2204/QĐ-UBND phê duyệt dự án đầu
tư hỗ trợ người dân miền núi trồng rừng thay thế nương rẫy không những có ý
Trang 40nghĩa quan trọng về khai thác tiềm năng kinh tế đồi rừng mà còn có tác động rất lớn về mặt xã hội và phục hồi môi trường sinh thái
Tỉnh Lạng Sơn hiện có trên 13 nghìn ha đất rừng đã sử dụng làm nương rẫy, trong đó có 8.483ha nương rẫy của cư dân nằm trong quy hoạch phát triển lâm nghiệp Việc canh tác nương rẫy của đồng bào chủ yếu theo hình thức tự phát, thiếu định hướng nên diện tích bị xói mòn nghiêm trọng, đất đai
bị thoái hóa càng làm cho diện tích nương rẫy mới tăng lên, chất lượng cây trồng thấp và sản lượng giảm dần, dẫn đến canh tác không bền vững, giá trị ngày công lao động thấp Tình trạng phá rừng làm nương rẫy gây suy giảm khả năng phòng hộ bảo vệ môi trường và là một trong những nguyên nhân lớn gây nên lũ lụt, sạt lở đất vào những tháng mùa mưa, gây cháy rừng vào những tháng mùa khô Đây cũng là một trong những yếu tố hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế xã hội bền vững của các địa phương trong tỉnh
Để giúp người dân miền núi thay đổi tập quán canh tác thiếu bền vững
và tạo điều kiện về nguồn vốn cho nhân dân chuyển đổi nương rẫy trên đất lâm nghiệp sang trồng rừng Năm 2010, dự án đã được triển khai trên diện tích được lựa chọn chuyển đổi sang trồng rừng là 8.000ha nương rẫy có giá trị canh tác thấp, phân bố trên địa bàn của 95 xã thuộc 10 huyện, thành phố, trong đó có 8.078ha rừng sản xuất và 405ha rừng phòng hộ để người dân kịp thời trồng rừng vụ xuân năm 2010 Các hộ tham gia dự án được hưởng suất
đầu tư tương tự như suất đầu tư của các nội dung trong Dự án 661, cụ thể là đối với trồng rừng sản xuất, suất hỗ trợ đầu tư là 2 triệu đồng/ha và 10 triệu đồng/ha đối với chuyển đổi sang trồng rừng phòng hộ; hỗ trợ kỹ thuật khuyến
lâm với mức 200 nghìn đồng/ha/năm trong thời gian 3 năm Ngoài ra các hộ gia đình tham gia dự án còn được hỗ trợ gạo với mức không quá 700 kg/ha/năm, thời gian hỗ trợ từ 3 - 5 năm Đây là một mức hỗ trợ khá hấp dẫn
để khuyến khích người dân, đảm bảo được đời sống của các hộ gia đình trong