Bên cạnh tài sản ngắn hạn nằm trong khâu sản xuất, doanh nghiệp cũngcó một số tài sản ngắn hạn khác nằm trong khâu lưu thông, thanh toán đó làcác vật tư phục vụ quá trình tiêu thụ, là cá
Trang 1CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1. Những vấn đề cơ bản về tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm tài sản ngắn hạn
1.1.1.1 Khái niệm tài sản ngắn hạn
TSNH là những tài sản luân chuyển nhanh, không ngừng chuyển đổihình thái và hoàn thành một vòng luân chuyển sau mỗi chu kỳ sản xuất kinhdoanh [1, Tr119]
Cũng có thể hiểu tài sản ngắn hạn là biểu hiện bằng tiền của toàn bộnhững tài sản của doanh nghiệp có thời gian luân chuyển ngắn, thường làtrong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh [2, Tr8]
Trong quá trình sản xuất kinh doanh bên cạnh tài sản cố định, doanhnghiệp luôn có một khối lượng tài sản nhất định nằm rải rác trong các khâucủa quá trình sản xuất như dự trữ chuẩn bị sản xuất, phục vụ sản xuất, phânphối, tiêu thụ sản phẩm, đây chính là tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Đốivới các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, giá trị của tài sản ngắn hạn thườngchiếm 50% - 70% tổng giá trị tài sản
Tài sản ngắn hạn chủ yếu nằm trong quá trình sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp và là các đối tượng lao động Đối tượng lao động khi tham giavào quá trình sản xuất không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu Bộ phậnchủ yếu của đối tượng lao động sẽ thông qua quá trình sản xuất tạo thành thựcthể của sản phẩm, bộ phận khác sẽ hao phí mất mác đi trong quá trình sảnxuất Đối tượng lao động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất do đó toàn bộgiá trị của chúng được dịch chuyển một lần vào sản phẩm và được thực hiệnkhi sản phẩm trở thành hàng hóa
Đối tượng lao động trong các doanh nghiệp được chia thành hai thànhphần: một bộ phận là những vật tư dự trữ đảm bảo cho quá trình sản xuấtđược liên tục, một bộ phận là những vật tư đang trong quá trình chế biến (sảnphẩm dở dang, bán thành phẩm,…) cùng với các công cụ, dụng cụ, phụ tùngthay thế được dự trữ hoặc sử dụng, chúng tạo thành tài sản ngắn hạn nằmtrong khâu sản xuất của doanh nghiệp
Trang 2Bên cạnh tài sản ngắn hạn nằm trong khâu sản xuất, doanh nghiệp cũng
có một số tài sản ngắn hạn khác nằm trong khâu lưu thông, thanh toán đó làcác vật tư phục vụ quá trình tiêu thụ, là các khoản hàng gửi bán, các khoảnphải thu,…
Tài sản ngắn hạn được phân bổ đủ trong tất cả các khâu, công đoạnnhằm đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục, ổnđịnh, tránh lãng phí và tổn thất do thiếu phải dừng sản xuất, không làm ảnhhưởng đến khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản Do
đó, tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp có đặc điểm sau
1.1.1.2 Đặc điểm của tài sản ngắn hạn.
Một là, TSNH tham gia vào một chu kỳ SXKD và bị tiêu hao hoàn toàntrong quá trình sản xuất đó Giá trị luân chuyển một lần vào giá thành sảnphẩm làm ra
Hai là, qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh TSNH thường xuyênthay đổi hình thái biểu hiện, từ hình thái tiền tệ ban đầu chuyển sang hình tháivật tư, hàng hoá dự trữ và sản xuất, rồi cuối cùng lại trở về hình thái tiền tệ.Sau mỗi chu kỳ sản xuất, TSNH hoàn thành một vòng chu chuyển.1
1.1.2. Phân loại tài sản ngắn hạn
Để sử dụng TSNH một cách có hiệu quả người ta tiến hành phân loạiTSNH theo các tiêu thức khác nhau Thông thường có những cách phân loạiTSNH như sau:
Phân loại theo các khoản mục trên bảng cân đối kế toán.
Trong bảng cân đối kế toán hiện nay, tài sản ngắn hạn là những tài sản
có thời gian luân chuyển dưới 1 năm hoặc dưới một chu kỳ kinh doanh nếudoanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh trên 12 tháng Tài sản ngắn hạn bao gồmnăm yếu tố chủ yếu được sắp xếp vào bảng cân đối kế toán theo thứ tự giảmdần tính thanh khoản: (1) tiền và các khoản tương đương tiền; (2) đầu tư ngắnhạn; (3) các khoản phải thu; (4) tồn kho; (5) tài sản ngắn hạn khác
1 http://tailieu.tv/tai-lieu/bai-giang-tai-san-ngan-han-cua-doanh-nghiep-21165
Trang 3Tiền và các khoản tương đương tiền: phản ánh toàn bộ số tiền hiện
có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo, bao gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửitại ngân hàng, tiền đang chuyển và các khoản đầu tư ngắn hạn có thời hạnthanh toán không quá 3 tháng Đây là loại tài sản có tính thanh khoản caonhất Do vậy, số dư tiền và các khoản tương đương tiền (gọi tắt là tiền mặt)càng lớn, khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng cao Tuy vậy, dự trữtiền mặt quá lớn làm giảm khả năng sinh lời của vốn do tiền mặt là tài sản cókhả năng sinh lời thấp, không sinh lời thậm chí sinh lời âm khi nền kinh tế cómức lạm phát cao Tiền và các khoản tương đương tiền bao gồm:
1. Tiền mặt tại quỹ
2. Tiền gửi ngân hàng
3. Tiền đang chuyển
4. Các khoản tương đương tiền
Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: là giá trị của các khoản đầu tư
tài chính ngắn hạn như đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn vàđầu tư ngắn hạn khác có thời gian đầu tư dưới 1 năm, không bao gồm cáckhoản đầu tư có thời hạn dưới 3 tháng và ít rủi ro đã được coi là các khoảntương đương tiền Đầu tư tài chính ngắn hạn bao gồm:
1. Đầu tư chứng khoán ngắn hạn
2. Đầu tư ngắn hạn khác
3. Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn
Các khoản phải thu: là các khoản mà khách hàng và các bên có liên
quan đang nợ doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo có thời hạn trả dưới 1 năm,hoặc trong 1 chu kỳ kinh doanh Do vậy, đây cũng được coi là loại tài sản cótính thanh khoản cao chỉ sau tiền và các khoản đầu tư ngắn hạn Trong nềnkinh tế thị trường, bán chịu được xem là chính sách khuyến mãi, khách hàngchưa có tiền vẫn có thể mua sản phẩm của doanh nghiệp Nhờ vậy, doanhnghiệp có thể mở rộng thị trường, tăng doanh số, bán chịu còn giúp cho doanhnghiệp củng cố mối quan hệ lâu dài với khách hàng Tuy nhiên, bán chịu cũnggây ra những bất lợi cho doanh nghiệp
Khoản phải thu giữ vai trò quan trọng bởi nếu các nhà quản lý khôngcân đối giữa các khoản phải thu thì doanh nghiệp sẽ gặp phải những rủi ro
Trang 4thậm chí dễ dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán Các khoản phải thugồm:
1. Phải thu của khách hàng
2. Trả trước cho người bán
3. Phải thu nội bộ
4. Phải thu theo tiến độ hợp đồng XD
5. Các khoản phải thu khác
6. Dự phòng các khoản phải thu khó đòi
Hàng tồn kho: phản ánh giá vốn của nguyên vật liệu, công cụ, dụng
cụ, sản phẩm dở dang, thành phẩm và hàng hóa đang được tồn trữ trong khocủa doanh nghiệp cũng như tại các đại lý của doanh nghiệp dưới hình thứchàng gửi bán tại thời điểm báo cáo Đây là bộ phận tài sản ngắn hạn quantrọng nhất của doanh nghiệp, các tài sản này phải luân chuyển nhanh vàthường xuyên đổi mới do vậy cũng được xem là loại tài sản có tính thanhkhoản cao sau các khoản phải thu
Tuy nhiên trong quá trình sản xuất kinh doanh, hàng hóa sản phẩmkhông tiêu thụ được, bị tồn đọng có thể làm cho tồn kho tăng lên do tồn khokhông luân chuyển được, trong trường hợp này doanh nghiệp phải tìm mọibiện pháp để thanh lý hàng tồn kho ứ đọng, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển tồnkho Tồn kho bao gồm:
1. Hàng mua đang đi trên đường
2. Nguyên liệu, vật liệu tồn kho
3. Công cụ, dụng cụ trong kho
4. Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang
5. Thành phẩm tồn kho
6. Hàng hóa tồn kho
7. Hàng gửi đi bán
8. Hàng hóa kho bảo thuế
9. Dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Tài sản ngắn hạn khác: bao gồm các khoản tạm ứng chưa thu hồi, chi
phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, tài sản thiếu hụt chờ xử lý và các khoảnthế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn kết dư tại thời điểm báo cáo Đây là giátrị những tài sản mà phần lớn trong đó công ty không thể thu hồi lại được khicông ty bị thanh lý (chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển) Tài sản ngắnhạn khác gồm:
Trang 51. Tạm ứng.
2. Chi phí trả trước
3. Chi phí chờ kết chuyển
4. Tài sản thiếu chờ xử lý
5. Các khoản thế chấp, ký quỹ, ký cược ngắn hạn [1, Tr220]
Dựa theo lĩnh vực luân chuyển của TSNH đối với quá trình sản xuất kinh doanh có thể chia TSNH thành các loại chủ yếu sau:
TSNH trong khâu sản xuất: là toàn bộ TSNH dự trữ cho quá trình sảnxuất của doanh nghiệp như nguyên liệu, nhiên liệu, công cụ dụng cụ… đang
dự trữ trong kho và tài sản trong quá trình sản xuất như giá trị sản phẩm dởdang
TSNH trong khâu lưu thông: là toàn bộ TSNH dự trữ cho quá trình lưuthông của doanh nghiệp, bao gồm: hàng hóa, thành phẩm trong kho hoặc đanggửi bán và tài sản trong quá trình lưu thông như vốn bằng tiền, các khoản phảithu ngắn hạn
TSNH tài chính là các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn với mục đíchkiếm lời như đầu tư liên doanh, đầu tư chứng khoán ngắn hạn
TSNH khác như tạm ứng, ký quỹ, ký cược ngắn hạn,…
Theo cách phân loại này giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp xácđịnh được các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình luân chuyển của TSNH đểđưa ra biện pháp quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng chúngmột cách cao nhất [2, Tr8]
Theo nguồn hình thành
TSNH được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, tuy nhiên có thểphân ra thành hai nguồn cơ bản: nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn vay
a. Nguồn vốn chủ sở hữu: “Là nguồn vốn do doanh nghiệp sở hữu được
chuyển sử dụng theo nhu cầu mục đích kinh doanh của mình” TSNH đượchình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm số TSNH được Ngân sách Nhànước cấp hoặc có từ các cổ đông, xã viên góp; do chủ doanh nghiệp tư nhân
Trang 6bỏ ra; số TSNH tăng thêm từ lợi nhuận bổ sung; vốn góp từ liên doanh; dophát hành cổ phiếu…
Vốn pháp định: vốn pháp định là số vốn tối thiểu phải có để thành lập
doanh nghiệp do pháp luật quy định đối với từng ngành nghề Đối với doanhnghiệp Nhà nước, nguồn vốn này do ngân sách nhà nước cấp
Vốn tự bổ sung: Thực chất nguồn vốn này là số lợi nhuận chưa phân
phối (lợi nhuận lưu giữ) và các khoản trích hàng năm của doanh nghiệp nhưcác quỹ xí nghiệp (quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ phúclợi,…)
Vốn chủ sở hữu khác: Thuộc nguồn này gồm khoản chênh lệch do
đánh giá lại tài sản, do chênh lệch tỷ giá ngoại tệ, do được ngân sách cấp kinhphí, do các đơn vị phụ thuộc nộp kinh phí quản lý và vốn chuyên dùng xâydựng cơ bản
a. Nguồn vốn đi vay:
Đối với một doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường, vốnchủ sở hữu có vai trò rất quan trọng nhưng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổngnguồn vốn Để đáp ứng đầy đủ các giai đoạn tuần hoàn và luân chuyểnTSNH, doanh nghiệp có thể chọn hình thức đi vay tùy theo điều kiện củadoanh nghiệp mình Doanh nghiệp có thể đi vay từ ngân hàng, các tổ chức tíndụng hoặc các hình thức khác
• Vốn vay: doanh nghiệp có thể vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng các cá
nhân, đơn vị kinh tế để tạo lập hoặc tăng thêm nguồn vốn
- Vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng rất quan trọng đối với cácdoanh nghiệp Nguồn vốn này đáp ứng đúng thời điểm các khoản tín dụngngắn hạn hoặc dài hạn tùy theo nhu cầu của doanh nghiệp trên cơ sở các hợpđồng tín dụng giữa ngân hàng và doanh nghiệp
- Vốn vay trên thị trường chứng khoán Tại những nền kinh tế có thịtrường chứng khoán phát triển, vay vốn trên thị trường chứng khoán là mộthình thức huy động vốn cho doanh nghiệp Doanh nghiệp có thể phát hành
Trang 7trái phiếu, đây là một công cụ tài chính quan trọng dễ sử dụng vào mục đíchvay dài hạn đáp ứng nhu cầu vốn SXKD Việc phát hành trái phiếu cho phépdoanh nghiệp có thể thu hút rộng rãi số tiền nhàn rỗi trong xã hội để mở rộnghoạt động kinh doanh của mình.
• Vốn liên doanh liên kết: Doanh nghiệp có thể kinh doanh, liên kết, hợp tác
với các doanh nghiệp khác để huy động thực hiện mở rộng hoạt động sản xuấtkinh doanh Đây là một hình thức huy động vốn quan trọng vì hoạt động thamgia góp vốn liên doanh, liên kết gắn liền với việc chuyển giao cộng nghệ thiết
bị giữa các bên tham gia nhằm đổi mới sản phẩm, khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp Doanh nghiệp cũng có thể tiếp nhận máy móc, thiết bị nếu hợpđồng liên doanh quy định góp vốn bằng máy móc thiết bị
• Vốn tín dụng thương mại: “Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp có
thể sử dụng tài trợ thông qua hình thức bán trả chậm của các nhà cung cấp để
có hàng hóa nguyên vật liệu để phục vụ sản xuất kinh doanh Hình thức tài trợnày gọi là tín dụng thương mại hay tín dụng nhà cung cấp” [4, tr 164]
Tín dụng thương mại luôn gắn với một luồng hàng hóa dịch vụ cụ thể,gắn với một quan hệ thanh toán cụ thể nên nó chịu tác động của cơ chế thanhtoán cụ thể nên nó chịu tác động của cơ chế thanh toán, của chính sách tíndụng khách hàng mà doanh nghiệp được hưởng Đây là phương thức tài trợtiện lợi, linh hoạt trong kinh doanh và nó còn tạo khả năng mở rộng các quan
hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền Tuy nhiên các khoản tín dụngthương mại thường có thời hạn ngắn nhưng nếu doanh nghiệp biết quản lýmột cách khoa học nó có thể đáp ứng phần nào nhu cầu vốn lưu động chodoanh nghiệp
• Vốn tín dụng thuê mua [4, tr169]
Tín dụng thuê mua là một hình thức tài trợ tín dụng thông qua các loạitài sản, máy móc, thiết bị…Thỏa thuận thuê mua là một hợp đồng giữa haihay nhiều bên, liên quan đến một hay nhiều tài sản Người cho thuê (chủ sởhữu tài sản) chuyển giao tài sản cho người thuê (người sử dụng tài sản) độcquyền sử dụng trong một khoản thời gian nhất định Đổi lại, người thuê phải
Trang 8trả một số tiền cho chủ tài sản tương xứng với quyền sử dụng và quyền hưởngdụng.
Việc phân loại theo cách này tạo điều kiện cho doanh nghiệp chọn lựađối tượng huy động vốn tối ưu để luôn có một số vốn ổn định đáp ứng nhucầu sản xuất [2, Tr9] Nó là cơ sở để doanh nghiệp lựa chọn nguồn tài trợ phùhợp tùy theo loại hình sở hữu, ngành nghề kinh doanh, quy mô trình độ quản
lý, trình độ khoa học kỹ thuật cũng như chiến lược phát triển và chiến lượcđầu tư của doanh nghiệp Bên cạnh đó, đối với việc quản lý vốn ở các doanhnghiệp trọng tâm cần đề cập là hoạt động luân chuyển của vốn, sự ảnh hưởngqua lại của hình thái khác nhau của tài sản và hiệu quả quay vòng vốn Vốncần được xem xét dưới trạng thái động với quan điểm hiệu quả
Tóm lại: Ở các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu tài sản ngắn hạn
khác nhau Việc phân tích tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp theo các tiêuthức khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ thêm những đặc điểm riêng vềtài sản ngắn hạn mà mình đang quản lý và sử dụng Từ đó xác định đúng biệnpháp quản lý tài sản ngắn hạn có hiệu quả hơn và cũng có thể thấy đượcnhững biến đổi tích cực hoặc những hạn chế về mặt chất lượng trong công tácquản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn tại doanh nghiệp mình
1.1.3. Vai trò của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp
Tài sản ngắn hạn là điều kiện cần và đủ cho hoạt động SXKD, làm chotiến độ hoạt động của doanh nghiệp không bị gián đoạn Để tiến hành sảnxuất, ngoài tài sản cố định như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, doanh nghiệpphải bỏ ra một lượng tiền nhất định để mua hàng hóa, nguyên vật liệu, phục
vụ cho quá trình sản xuất Do vậy, tài sản ngắn hạn là điều kiện đầu tiên đểdoanh nghiệp đi vào hoạt động hay quá trình sản xuất kinh doanh
Tài sản ngắn hạn là bộ phận chủ yếu cấu thành nên giá thành sản phẩm.Vai trò này được hình thành từ đặc điểm giá trị tài sản ngắn hạn luân chuyểnmột lần vào giá thành sản phẩm làm ra Giá thành sản phẩm bán ra được tínhtoán trên cơ sở giá thành sản phẩm cộng thêm một phần lợi nhuận bù đắp Do
Trang 9đó, tài sản ngắn hạn đóng vai trò quyết định trong việc tính giá cả hàng hóabán ra của doanh nghiệp.
Tài sản ngắn hạn còn phản ánh số lượng vật tư, hàng hóa dự trữ sửdụng ở các khâu dự trữ, sản xuất, lưu thông nhiều hay ít, có hợp lý hay không
Vì vậy, thông qua tình hình tài sản ngắn hạn có thể kiểm tra, xem xét mộtcách kịp thời các mặt mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm củadoanh nghiệp Do vai trò quan trọng này nên việc sử dụng TSNH trong doanhnghiệp là một công việc đòi hỏi sự tính toán chính xác và hợp lý giữa cáckhâu, các giai đoạn trong quá trình kinh doanh từ đó mới có thể phát huy hếttác dụng và mang lại hiệu quả thiết thực trong doanh nghiệp.2
Trên đây là một số vai trò quan trọng, cơ bản của tài sản ngắn hạn đốivới doanh nghiệp trong hoạt động SXKD nói chung trong nền kinh tế thịtrường Nhận thức được vai trò của tài sản ngắn hạn một cách sâu sắc, giúpcác doanh nghiệp sử dụng nó một cách tiết kiệm, có hiệu quả hơn và luôn tìmcách nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
1.2. Quản trị tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp (3, tr 439)
1.2.1. Quản trị hàng tồn kho
Hàng tồn kho là một trong những tài sản có giá trị lớn nhất trong tổnggiá trị tài sản của một doanh nghiệp, thông thường giá trị hàng tồn kho chiếm40% tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp Do đó việc điều khiển, kiểm soáttốt hàng tồn kho luôn là một vấn đề cần thiết, chủ yếu trong quản trị sản xuất
1.2.1.1. Chức năng của quản trị hàng tồn kho
Trang 10Thực hiện chức năng liên kết nhằm đảo bảo sản xuất liên tục, tránhthiếu hụt gây lãng phí trong sản xuất Hạn chế thấp nhất tình trạng cạn dự trữtrong sản xuất và tăng khả năng sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của khách hàng lêncao nhất.
• Chức năng đề phòng tăng giá, đề phòng lạm phát
Một doanh nghiệp nếu biết trước tình hình tăng giá nguyên vật liệu hayhàng hóa, họ có thể dự trữ tồn kho để tiết kiệm chi phí Như vậy, tồn kho sẽ làmột hoạt động đầu tư tốt, trong hoạt động hàng tồn kho chúng ta phải xem xétđến chi phí và rủi ro có thể xảy ra trong quá trình tiến hành hàng tồn kho
Tuy nhiên, cần phân biệt tồn kho hợp lý với đầu cơ đợi giá lên để làmlũng doạn thị trường
• Chức năng khấu trừ theo số lượng
Là một chức năng hết sức quan trọng trong hoạt động quản trị hàng tồnkho Rất nhiều nhà cung ứng sẵn sàng chấp nhận chiết khấu thương mại chonhững đơn hàng có số lượng lớn Việc mua hàng với số lượng lớn có thể đưađến việc giảm phí tổn sản xuất, tuy nhiên mua hàng với số lượng lớn sẽ chịu
chi phí tồn trữ cao do đó trong quản trị tồn kho người ta phải xác địnhlượng hàng tông kho tối ưu để hưởng giá khấu trừ mà chi phí dự trữ gia tăngkhông đáng kể
1.2.1.2. Các dạng tồn kho và các biện pháp giảm sản lượng hàng tồn kho
Sản phẩ
m dởdang
Dự trữ
Người
cung
ứng
Thànhphẩm trong kho người bán buôn
Thànhphẩm trong kho người bán lẻ
Trang 11Sơ đồ 1.1 Các dạng tồn kho
b. Các biện pháp giảm lượng hàng tồn kho
• Giảm lượng nguyên vật liệu dự trữ thể hiện chức năng liên kết giữa quá trình sản xuất và nguồn cung ứng Cách tiếp cận ưu tiên nhất là tìm cách
giảm bớt những sự thay đổi trong nguồn cung ứng về số lượng, chất lượngtrong kỳ giao hàng
• Giảm lượng sản phẩm dở dang: tồn kho xuất hiện là do nhu cầu thiết
yếu của quá trình sản xuất và chịu tác động bởi chu kỳ sản xuất Muốn làmđược điều đó doanh nghiệp cần khảo sát kỹ lượng cơ cấu của chu kỳ sản xuất
• Giảm số lượng dụng cụ, phụ tùng thay thế: loại hàng tồn kho này tồn tại do
nhu cầu và thời gian duy trì bảo quản sữa chữa các thiết bị công cụ Do đó, đểgiảm lượng hàng tồn kho loại này cần có kế hoạch sửa chữa, bảo trì chínhxác
• Giảm số lượng thành phẩm tồn kho: sự tồn tại của nó xuất phát từ
nhu cầu của khách hàng trong từng thời điểm nhất định Do đó nếu dự đoánchính xác nhu cầu khách hàng sẽ giảm được hàng tồn kho này
• Áp dụng mô hình tồn kho để đưa ra sản lượng đặt hàng tối ưu.
1.2.1.3. Mô hình tồn trữ tối ưu.
a. Mô hình đặt hàng hiệu quả EOQ (Economic Ordering Quantity)
Mô hình EOQ do Ford W.Harris đề xuất năm 1915, mô hình này là mộttrong những kỹ thuật kiểm soát tồn kho và lâu đời nhất Để áp dụng mô hìnhnày ta phải tuân thủ các giả thuyết sau:
- Nhu cầu về hàng tồn kho là biết trước và không thay đổi
- Khoảng thời gian từ khi đặt hàng cho đến khi nhận hàng là không thayđổi
- Sản lượng của đơn hàng phải được vận chuyển trong một chuyến hàng
- Chỉ có hai loại chi phí phù hợp là chi phí đặt hàng và chi phí tồn trữ
- Không có chiết khấu hàng bán dù mua nhiều hay mua ít và không có sựmất mát, hao hụt trong quá trình vận chuyển
Trang 12- Sự thiếu hụt trong kho là hoàn toàn không xảy ra.
- Mô hình không chịu sự ảnh hưởng của khả năng tài chính và giới hạn
về kho tàng của doanh nghiệp đồng thời chỉ tính cho một loại hàng tồnkho cụ thể
Sản lượng Q
Q*
Qtb
Qmin=0 A B C thời gian t
Sơ đồ 1.2 Biểu diễn hàng tồn kho theo mô hình EOQ
Để xác định lượng hàng Q* chúng ta phải tối thiểu hóa chi phí đặt hàng
và chi phí bảo quản, tức là: Tổng chi phí tồn kho min
Hay: Tổng chi phí tồn kho = tổng chi phí đặt hàng + tổng chi phí bảo quản
Như vậy, theo mô hình EOQ ta sẽ được lượng hàng tối ưu là:
Q* = Trong đó: Q*: sản lượng tối ưu
S : chi phí cho một lần đặt hàng
D : nhu cầu vật tư trong năm
H : chi phí tồn trữ bình quân tính cho một đơn vị hàng
b. Mô hình cung cấp theo nhu cầu sản xuất POQ (Production Oder Quantity)
Mô hình POQ được áp dụng khi lượng hàng của một đơn vị hàng đượcvận chuyển nhiều chuyến, còn mô hình EOQ lượng hàng của một đơn hàngđược vận chuyển một chuyến
Q
Trang 13Qmax
t t
Sơ đồ 1.3 Biểu diễn hàng tồn kho theo mô hình POQ
Trong đó: t : thời gian cung ứng
T : chu kỳ cung ứng
P : lượng hàng cung ứng mỗi ngày (mức độ sản xuất hàng ngày)
D : lượng hàng sử dụng mỗi ngày (lượng hàng tiêu thụ hàngngày)
Cũng xuất phát từ chi phí tồn kho là nhỏ nhất, ta xác định được lượnghàng lượng hàng tối ưu sẽ là:
Q* =
1.2.2. Quản trị khoản phải thu
Cùng với quản trị tiền mặt và hàng tồn kho, quản trị khoản phải thu gắnliền với việc đánh đổi giữa chi phí liên quan đến khoản phải thu và doanh thutăng thêm do bán chịu hàng hóa
Hầu hết các doanh nghiệp đều phát sinh các khoản phải thu nhưng ởmức độ khác nhau từ mức không đáng kể cho đến mức không thể kiểm soátnổi, kiểm soát các khoản phải thu liên quan đến việc đánh đổi giữa lợi nhuận
và rủi ro Nếu không bán chịu hàng hóa thì sẽ mất đi cơ hội bán hàng, do đómất đi lợi nhuận Nếu bán chịu hàng hóa quá nhiều thì chi phí cho khoản phảithu tăng và nguy cơ phát sinh các khoản nợ khó đòi, do đó rủi ro không thuhồi được nợ cũng gia tăng
Bán chịu
Trang 14Sơ đồ 1.4 Quản trị khoản phải thu
Để quyết định xem có gia tăng khoản bán chịu hay không, doanhnghiệp cần phải xem xét khoản lợi nhuận gia tăng có lớn hơn các chi phí liênquan đến khoản phải thu và chi phí cơ hội do đầu tư khoản phải thu haykhông?
Khoản phải thu của doanh nghiệp phát sinh nhiều hay ít phụ thuộc vàocác yếu tố như tình hình nền kinh tế, giá cả sản phẩm, chất lượng sản phẩm,chính sách bán chịu hàng hóa của doanh nghiệp Trong các yếu tố này chínhsách bán chịu ảnh hưởng mạnh nhất đến các khoản phải thu Hạ thấp tiêuchuẩn bán chịu có thể kích thích được nhu cầu dẫn đến gia tăng doanh thu vàlợi nhuận, nhưng vì bán chịu sẽ làm phát sinh khoản phải thu và bao giờ cũngphát sinh chi phí đi kèm khoản phải thu nên doanh nghiệp cần xem xét cẩnthận sự đánh đổi này
Những yếu tố ảnh hưởng đến chính sách bán chịu của doanh nghiệp:
- Mục tiêu mở rộng thị trường tiêu thụ
- Tính chất thời vụ trong sản xuất và tiêu thụ
- Tình trạng cạnh tranh của các doanh nghiệp
- Tình trạng tài chính của doanh nghiệp
Tăng chi phí có liên quanTăng lợi nhuận
So sánh chi phí và lợi
nhuận
Quyết định chính sáchbán chịu hợp lý
Trang 15Xem xét chính sách bán chịu tức xem xét các vấn đề như tiêu chuẩn bánchịu, điều khoản bán chịu, rủi ro bán chịu, chính sách và quy trình thu nợ.
a. Tiêu chuẩn bán chịu
Tiêu chuẩn bán chịu là tiêu chuẩn về mặt uy tín tín dụng của kháchhàng để được doanh nghiệp chấp nhận bán chịu hàng hóa Tiêu chuẩn bánchịu là một bộ phận cấu thành chính sách bán chịu của doanh nghiệp Nếu đốithủ cạnh tranh mở rộng chính sách bán chịu trong khi chúng ta không phảnứng lại điều này thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng bởi vì bán chịu là yếu tố ảnhhưởng rất lớn và có tác dụng kích thích đến nhu cầu Ở đây, có sự đánh đổigiữa lợi nhuận tăng thêm và chi phí liên quan đến khoản phải thu tăng thêm
do hạ thấp tiêu chuẩn bán chịu Vấn đề đặt ra là khi nào công ty nên và khôngnên nới lỏng tiêu chuẩn bán chịu Cụ thể khi các tiêu chuẩn bán chịu tăng lên
ở mức cao hơn, dẫn đến doanh số bán sẽ giảm và ngược lại khi các tiêu chuẩnbán chịu giảm thì doanh số bán sẽ tăng, tuy nhiên khi các tiêu chuẩn tín dụngđược hạn thấp thường sẽ thu hút nhiều khách hàng có tiềm lực tài chính yếu.Ngoài ra, kỳ thu tiền bình quân tăng lên, doanh nghiệp sẽ có khả năng gặpnhững món nợ khó đòi nhiều hơn, khả năng thua lỗ cũng tăng lên Do đó, mộtdoanh nghiệp khi quyết định thay đổi tiêu chuẩn bán chịu là phải dựa trên cơ
sở phân tích về chi phí và lợi nhuận trước khi thay đổi tiêu chuẩn bán chịu.Nếu việc nới lỏng các chỉ tiêu chuẩn bán chịu đem lại lợi nhuận cao hơn thìdoanh nghiệp sẽ quyết định thay đổi, bằn không thì nên giữ nguyên
b. Điều khoản bán chịu
Là điều khoản xác định độ dài thời gian hay thời hạn bán chịu và tỷ lệchiết khấu áp dụng nếu khách hàng trả sớm hơn thời hạn bán chịu cho phép
Ví dụ điều khoản bán chịu “2/10 net 30” có nghĩa là khách hàng được hưởng2% chiết khấu nếu thanh toán trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày sản xuất hóađơn, và nếu khách hàng không lấy chiết khấu thì khách hàng sẽ được trả chậmtrong 30 ngày kể từ ngày xuất hóa đơn Điều khoản bán chịu gồm hai vấn đề:
Trang 16- Thời hạn bán chịu: là độ dài thời gian mà các khoản bán chịu được phép kéodài.
- Chiết khấu thương mại: là phần tiền chiết khấu đối với những giao dịch muahàng bằng tiền Chiết khấu thương mại tạo ra những khuyến khích thanh toánsớm hơn các hợp đồng mua hàng Điều khoản chiết khấu liên quan đến haivấn đề là thời hạn chiết khẩu và tỷ lệ chiết khấu
c. Rủi ro bán chịu
Là loại rủi ro phát sinh do khách nợ không còn khả năng chi trả Chínhsách bán chịu không chỉ liên quan đến tăng hoặc giảm khoản phải thu mà cònliên quan đến khả năng thu hồi khoản phải thu Do đó khi quyết định có nênnới lỏng chính sách bán chịu hay không doanh nghiệp còn phải xét đến rủi robán chịu như thế nào? Tức là liệu lợi nhuận gia tăng có đủ bù đắp tổn thất do
nợ không thu hồi và chi phí đầu tư khoản phải thu hay không?
1.2.3. Quản trị tiền mặt
Các nhà kinh tế định nghĩa tiền là bất cứ phương tiện nào được thừanhận chung để thanh toán chung cho việc mua bán, trao đổi hàng hóa dịch vụhoặc thanh toán nợ nần Trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp, tiền mặt đượchiểu bao gồm tiền tồn quỹ và tiền trên tài khoản thanh toán của doanh nghiệp
ở ngân hàng và tiền mặt là một phần quan trọng trong tài sản ngắn hạn
1.2.3.1. Sự luân chuyển của tiền mặt trong quá trình SXKD
Hoạt động của hầu hết các doanh nghiệp được bắt đầu bằng tiền mặt
Từ đó, tiền mặt được chuyển đổi thành những loại tài sản khác nhau, tạo rađòn bẩy hoặc mở rộng hoạt động kinh doanh với các khoản đi vay và cuốicùng là biến nó thành tiền mặt nhưng với số lượng lớn hơn ban đầu
Sự luân chuyển của tiền mặt có thể được phân tích thành các chu kỳ, cómối quan hệ chặt chẽ Kỳ luân chuyển tiền mặt nằm trong chu kỳ kinh doanhcủa doanh nghiệp, là khoảng thời gian tính từ lúc doanh nghiệp thực sự trảtiền cho nhà cung cấp đến khi thực sự thu hồi tiền của khách hàng Có thểthấy, hoạt động của doanh nghiệp rất đa dạng, tất cả các hoạt động đều có sự
Trang 17tham gia của tiền mặt, việc quản lý tiền mặt gồm quản lý nhiều hoạt độngkhác nhau.
1.2.3.2. Nội dung quản trị tiền mặt
Quản trị tiền mặt bao gồm các nội dung sau:
• Kiểm soát thu, chi tiền mặt
• Xác định nhu cầu tồn trữ tiền mặt mục tiêu
• Đầu tư tiền mặt nhàn rỗi
Quản trị tiền mặt có mối quan hệ thống nhất và tác động qua lại vớicông tác quản trị những tài sản ngắn hạn khác như quản trị hàng tồn kho,quản trị khoản phải thu Ngoài ra, công tác quản trị tiền mặt còn được đặttrong mối quan hệ với những công tác quản trị tài chính ngắn hạn khác đó làquản trị khoản phải trả, quản trị đầu tư tài chính ngắn hạn và huy động vốnngắn hạn
1.2.3.3. Kiểm soát thu, chi tiền mặt
Hoạt động của doanh nghiệp có thể được chia thành những lĩnh vựckhác nhau, trong đó tồn tại những khoản thu, chi tiền mặt đa dạng và có đặctrưng riêng Các khoản thu chi tiền mặt trong ba lĩnh vực hoạt động chính củadoanh nghiệp:
+ Tiền mặt trong hoạt động kinh doanh – điều hành kinh doanh
+ Tiền mặt trong hoạt động đầu tư – phát triển doanh nghiệp
+ Tiền mặt trong hoạt động tài chính – vốn hóa doanh nghiệp
Tồn quỹ của công ty báo cáo trên sổ sách kế toán ít khi khớp với tồnquỹ trên tài khoản ngân hàng, Chênh lệch giữa tồn quỹ trên tài khảo ngânhàng với tồn quỹ trên sổ sách kế toán gọi là tiền đang chuyển (float) Tiềnđang chuyển này phát sinh là do sự châm trễ thời gian từ lúc doanh nghiệp ghinhận khoản thu chi tiền mặt đến lúc việc thu chi được thực hiện
Sự chậm trễ gây ra lượng tiền đang chuyển sẽ mang lại lợi ích chongười chi trả và gây thiệt hại cho người nhận thanh toán Do đó bên nhận
Trang 18thanh toán sẽ cố gắng tăng tốc các khoản thu của mình và bên chi trả sẽ cốgắng chậm trễ trong khoản chi trả.
Mục tiêu của quản trị thu tiền là cắt giảm khoảng thời gian giữa thờiđiểm khách hàng chi trả hóa đơn và mục tiêu của quản trị chi tiền là giảm tốc
độ thanh toán
1.2.3.4. Xác định nhu cầu tồn trữ tiền mặt mục tiêu
Tồn quỹ mục tiêu là tồn quỹ mà công ty hoạch định lưu giữ dưới hìnhthức tiền mặt Quyết định tồn quỹ mục tiêu túc là quyết định xem công ty nênthiết lập và duy trì mức tồn quỹ bao nhiêu là hợp lý Liên quan đến quyết địnhtồn quỹ, công ty cần xem xét sự đánh đổi giữa chi phí cơ hội do giữ quá nhiều
và chi phí giao dịch do giữ quá ít tiền mặt
Nếu công ty giữ quá nhiều tiền mặt thì chi phí giao dịch sẽ nhỏ nhưngngược lại chi phí cơ hội sẽ lớn Tổng chi phí giữ tiền mặt chính là tổng chi phí
cơ hội và chi phí giao dịch Tồn quỹ tiền mặt tối ưu là điểm mà tại đó tổng chiphí giữ tiền mặt là nhỏ nhất
Mô hình tối ưu hóa tiền mặt thực chất là sự cân bằng giữa tiền mặt vàchứng khoán ngắn hạn Các loại chứng khoán giữ vai trò bước đệm cho tiềnmặt vì doanh nghiệp có thể đầu tư tiền mặt vào chứng khoán có tính thanhkhoản cao, nhưng khi cần thiết cũng có thể chuyển đổi chúng sang tiền mặtmột cách nhanh chóng Có thể sử dụng mô hình ước lượng để xác định tồnquỹ tối ưu:
Mô hình Baumol: phát triển từ mô hình lượng đặt hàng tối ưu, mô
hình có mục tiêu tối thiểu hóa các chi phí bao gồm chi phí giao dịch bánchứng khoán thu về tiền mặt và chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền mặt
Mô hình Miller – Orr: xác định các giới hạn kiểm soát của số dư tiền
mặt gồm giới hạn trên và giới hạn dưới
1.2.3.5. Đầu tư tiền mặt nhàn rỗi
Công ty, đặc biệt là những công ty hoạt động mang tính thời vụ, đôi khi
có một số lượng tiền tạm thời nhàn rỗi Nhàn rỗi mang tính tạm thời cho đến
Trang 19khi tiền được huy động vào kinh doanh, trong thời gian nhàn rỗi tiền đượcđầu tư ngắn hạn nhằm mục đích sinh lợi như mua chứng khoán ngắn hạn.
Ở Việt Nam hiện nay, thị trường tiền tệ chưa phát triển nên ngoài việcgửi tiền tạm thời nhàn rỗi vào ngân hàng với lãi suất thường rất thấp thì công
ty thường khó kiếm được cơ hội đầu tư
Vì vậy, khi quyết định đầu tư tiền nhàn rỗi thì công ty phải tạo ra đượclợi nhuận dù là đầu tư trong ngắn hạn, nhưng do tiền nhàn rỗi tạm thời nênkhông thể sử dụng để đầu tư lâu dài vào những tài sản kém thanh khoản.1.3. Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
Để đánh giá trình độ quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanhcủa một doanh nghiệp, người ta sử dụng thước đo là hiệu quả sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp đó Hiệu quả sản xuất kinh doanh được đánh giá trênhai giác độ: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội Trong phạm vi quản lý doanhnghiệp, người ta chủ yếu quan tâm đến hiệu quả kinh tế Đây là một phạm trùphản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được kếtquả cao nhất với chi phí hợp lý nhất Do vậy, các nguồn lực kinh tế nói chung,tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp nói riêng có tác động rất lớn tới hiệu quảsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó, việc nâng cao hiệu quả sử dụngtài sản ngắn hạn là yêu cầu mang tính thường xuyên và bắt buộc đối vớidoanh nghiệp Đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn sẽ giúp ta thấyđược hiệu quả của hoạt động kinh doanh nói chung và trình độ quản lý sửdụng tài sản ngắn hạn nói riêng Hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là vấn đề
mà các doanh nghiệp quan tâm, quản trị kinh doanh sản xuất có hiệu quả thìdoanh nghiệp mới có thể tồn tại trên thi trường Để đạt được hiệu quả đó đòihỏi doanh nghiệp phải có nhiều cố gắng và có những chiến lược hợp lý từkhâu sản xuất cho đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng Để có thể đi đếnmục tiêu cuối cùng mà các doanh nghiệp đặt ra thì vấn đề chung mà cácdoanh nghiệp phải quan tâm đến đó chính là hiệu quả sử dụng vốn và tài sảntrong doanh nghiệp
Trang 201.3.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp vàohoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích và tối thiểuhóa chi phí Tức là làm sao doanh nghiệp chỉ bỏ ra một lượng tài sản nhỏ nhất
mà thu về được lợi nhuận lớn nhất
Với mỗi doanh nghiệp sẽ có sự khác nhau trong việc cân đối mỗi loạitài sản, nếu như các doanh nghiệp chế biến hay công nghiệp nặng thì tỷ lệ tàisản cố định chiếm một tỷ lệ rất cao trong tổng giá trị tài sản, ngược lại với cácdoanh nghiệp thuộc lĩnh vực thương mại, sản xuất thì tài sản ngắn hạn lạichiếm đa số
Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là kết quả đạt được cao nhất với mụctiêu mà doanh nghiệp đặt ra Nghĩa là phải làm sao có được nhiều lợi nhuận
từ việc khai thác và sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp vào hoạt độngsản xuất kinh doanh nhằm tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí
1.3.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Quá trình hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp là quá trình hìnhthành và sử dụng vốn kinh doanh Ngày nay các doanh nghiệp hoạt độngtrong nền kinh tế thị trường yêu cầu về tài sản ngắn hạn là rất lớn, có thể coitài sản ngắn hạn là nhựa sống tuần hoàn trong doanh nghiệp
Để đánh giá quá trình độ quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh củamột doanh nghiệp, người ta sử dụng thước đo hiệu quả sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp đó Hiệu quả sản xuất kinh doanh được đánh giá trên haigóc độ là hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội Vì thế, việc nâng cao hiệu quả
sử dụng tài sản ngắn hạn là yêu cầu mang tính bắt buộc và thường xuyên đốivới doanh nghiệp
Trang 21• Xuất phát từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp hoạt động với mục tiêuxuyên suốt là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp Để đảm bảo mục tiêu này,doanh nghiệp thường xuyên phải đưa ra và giải quyết tập hợp các quyết địnhtài chính dài hạn và ngắn hạn Quản lý và sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn
là một nội dung trọng tâm trong các quyết định tài chính ngắn hạn và là nộidung có ảnh hưởng lớn đến mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp
Với bản chất và định hướng mục tiêu như trên, doanh nghiệp luôn luôntìm mọi biện pháp để tồn tại và phát triển Xuất phát từ vai trò to lớn đó khiếncho yêu cầu doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung vàtài ngắn hạn nói riêng là một yêu cầu khách quan, gắn liền với bản chất củadoanh nghiệp
• Xuất phát từ vai trò quan trọng của tài sản ngắn hạn
Đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Một doanh nghiệptrong nền kinh tế thị trường, muốn hoạt động kinh doanh thì cần phải có vốn.Tài sản ngắn hạn là một thành phần quan trọng trong tất cả các khâu của quátrình sản xuất kinh doanh
Trong khâu dự trữ và sản xuất, tài sản ngắn hạn đảm bảo cho sản xuấtcủa doanh nghiệp được tiến hành liên tục, đảm bảo quy trình công nghệ, côngđoạn sản xuất Trong lưu thông, tài sản ngắn hạn đảm bảo dự trữ thành phẩmđáp ứng nhu cầu tiêu thụ được liên tục, nhịp nhàng và đáp ứng nhu cầu tiêuthụ được liên tục, nhịp nhàng và đáp ứng được nhu cầu của khách hàng Thờigian luân chuyển tài sản ngắn hạn lớn khiến cho công việc quản lý và sử dụngtài sản ngắn hạn luôn luôn diễn ra thường xuyên, hàng ngày với vai trò to lớnnhư vậy, việc tăng tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn, nâng cao hiệu quả sửdụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp là một yêu cầu tất yếu
Trang 22• Xuất phát từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn
Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tức là có thể tăng tốc độ luânchuyển tài sản ngắn hạn, rút ngắn thời gian tài sản ngắn hạn nằm trong lĩnhvực dự trữ, sản xuất và lưu thông, từ đó giảm bớt số lượng tài sản ngắn hạnchiếm dùng, tiết kiệm tài sản ngắn hạn trong luân chuyển
Tăng tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn còn có ảnh hưởng tích cực đốivới việc hạ thấp giá thành sản phẩm, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có đủvốn thỏa mãn nhu cầu sản xuất và hoàn thành nghĩa vụ nộp các khoản thuếcho ngân sách Nhà nước, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong cảnước
Để đánh giá hiệu quả quản trị tài sản ngắn hạn, ta sử dụng nhóm các chỉtiêu dưới đây:
1.3.3 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn.
Hiệu quả sử dụng tài sản bao hàm nhiều mặt tác động khác nhau Vìvậy, khi phân tích các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cần xem xéttrên nhiều góc độ khác nhau như tình hình quản lý tiền mặt thông qua các chỉtiêu về khả năng thanh toán, tình hình quản lý hàng tồn kho thông qua tốc độluân chuyển hàng tồn kho, khoản phải thu của công ty thông qua khả năng thuhồi các khoản nợ
1.3.3.1. Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán.
Tình hình tài chính được đánh giá là lành mạnh trước hết phải được thểhiện ở khả năng thanh toán Khả năng thanh toán của một công ty được đánhgiá dựa trên qui mô và khả năng luân chuyển của tài sản ngắn hạn, là nhữngtài sản có khả năng luân chuyển nhanh, phù hợp với thời hạn thanh toán cáckhoản nợ ngắn hạn Nợ ngắn hạn càng lớn nhu cầu thanh toán càng cao Do
đó, khi phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp người ta thường sửdụng các chỉ tiêu sau đây:
Trang 23a. Khả năng thanh toán hiện hành
Chỉ tiêu này nhằm đo lường khả năng đảm bảo thanh toán các khoản nợngắn hạn từ tài sản ngắn hạn của công ty Vì vậy để đảm bảo khả năng thanhtoán ngắn hạn, hệ số khả năng thanh toán hiện hành phải lớn hơn 1 Hệ số khảnăng thanh toán hiện hành càng cao thông thường khả năng thanh toán sẽđược đảm bảo tốt, nhưng đồng thời cũng thể hiện khả năng linh hoạt về nguồnvốn của công ty hạn chế Hệ số khả năng thanh toán hiện hành của công tynhỏ hơn 1, thể hiện công ty bị mất cân bằng trong cơ cấu tài chính, rủi rothanh toán cao, công ty đã sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư vào tài sảndài hạn
Tuy nhiên hệ số khả năng thanh toán hiện hành chỉ phản ánh một cáchkhái quát khả năng thanh toán nợ ngắn hạn Bởi vì, một khi tài sản ngắn hạncông ty lớn hơn nợ ngắn hạn thì cũng chưa chắc tài sản ngắn hạn có thể đảmbảo thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn nếu như tài sản này luân chuyểnchậm, chẳng hạn hàng tồn kho ứ đọng, không luân chuyển được, các khoảnphải thu tồn đọng, không thu được tiền.[1, Tr219]
b. Hệ số thanh toán nhanh
Hệ số thanh toán nhanh được tính toán trên cơ sở những tài sản ngắnhạn có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, bao gồm tài sản ngắn hạn trừhàng tồn kho
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng công ty có thể thanh toán ngay cáckhoản nợ ngắn hạn đến mức độ nào căn cứ vào những tài sản ngắn hạn có khảnăng chuyển hóa thành tiền nhanh nhất Không có cơ sở để yêu cầu chỉ tiêunày phải lớn hơn 1 vì trong các khoản nợ ngắn hạn, có những khoản đã và sẽ
Trang 24đến hạn thanh toán ngay thì mới có nhu cầu thanh toán, những khoản chưađến hạn chưa có nhu cầu thanh toán ngay [1, Tr221].
Nhìn chung, hệ số này quá nhỏ thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trongviệc thanh toán công nợ Tuy nhiên, độ lớn của hệ số này còn phụ thuộc vàongành nghề kinh doanh cũng như kỳ hạn thanh toán các món nợ phải thu
c. Hệ số khả năng thanh toán nhanh bằng tiền
Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán của tiền và các khoản tươngđương tiền đối với các khoản nợ ngắn hạn, chỉ tiêu này quá cao và kéo dàichứng tỏ khả năng thanh toán nhanh tốt nhưng có thể dẫn đến hiệu quả sửdụng vốn giảm Chỉ tiêu này quá thấp chứng tỏ doanh nghiệp không đủ khảnăng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn, dấu hiệu rủi ro tài chính xuất hiện vànguy cơ phá sản có thể xảy ra [4, Tr81]
Do tính chất của tiền và tương đương tiền nên khi xác định khả năng thanhtoán tức thời, các nhà phân tích thường so với các khoản nợ có thời hạn thanhtoán trong vòng 3 tháng Do vậy, khi trị số của chỉ tiêu này ≥ 1, doanh nghiệpđảm bảo và thừa khả năng thanh toán tức thời và ngược lại, khi trị số của chỉtiêu này < 1 thì doanh nghiệp không đảm bảo khả năng thanh toán tức thời.Trong khoảng thời gian này (3 tháng), trị số của chỉ tiêu này có giá trị cảnhbáo khá cao, nếu doanh nghiệp không đảm bảo khả năng thanh toán tức thời,các nhà quản trị doanh nghiệp sẽ phải áp dụng ngay các biện pháp tài chínhkhẩn cấp để tránh cho doanh nghiệp không bị lâm vào tình trạng phá sản
Để thấy rõ hơn khả năng chuyển hóa thành tiền của các khoản tiền thu bánhàng và tồn kho ta sẽ tiến hành phân tích số ngày luân chuyển hàng tồn
kho và kỳ thu tiền bình quân trong nhóm các chỉ tiêu hoạt động
1.3.3.2. Nhóm các chỉ tiêu về khả năng hoạt động
Nhóm các chỉ số này đo lường hiệu quả quản lý tài sản của công ty Đểnâng cao tỷ số hoạt động các nhà quản trị phải biết những tài sản nào chưadùng hoặc không dùng không tạo ra thu nhập và dùng có hợp lý chưa , vì thế
Tiền
Nợ ngắn hạn
H TTBT =
Trang 25Số ngày một vòng quay hàng tồn kho = Tồn kho bình quân
Gía vốn hàng bán bình quân một ngày
doanh nghiệp cần phải biết sử dụng chúng có hiệu quả hoặc loại bỏ chúng đi.Khi phân tích chỉ tiêu hoạt động thì thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
a. Vòng quay hàng tồn kho, số ngày một vòng quay hàng tồn kho
Hệ số vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng quản lý hàng tồn kho.Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luânchuyển trong kỳ Hệ số vòng quay hàng tồn kho dược xác định bằng gía vốnhàng bán chia cho bình quân hàng tồn kho
Trong đó:
Hoặc
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho là số ngày cần thiết đủ để hàngtồn kho của doanh nghiệp quay được một vòng Số vòng quay hàng tồn khocàng lớn thì số ngày một vòng quay hàng tồn kho càng được rút ngắn, thểhiện công ty hoạt động tốt, việc gia tăng sản phẩm tiêu thụ sẽ làm tăng giávốn hàng bán đồng thời làm giảm tồn kho Lượng hàng tồn kho được giảiphóng nhanh sẽ rút ngắn thời gian luân chuyển vốn và tăng khả năng thanhtoán cho công ty [1, Tr228]
Hệ số vòng quay hàng tồn kho thường được so sánh qua các năm đểđánh giá năng lực quản lý hàng tồn kho là tốt hay xấu qua từng năm Hệ sốnày lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh và ngượclại, nếu hệ số này nhỏ thì tốc độ quay vòng hàng tồn kho thấp Cần lưu ý,
Vòng quay hàng tồn
kho
Trang 26Vòng quay các khoản phải thu
Bình quân các khoản phải thu
hàng tồn kho mang đậm tính chất ngành nghề kinh doanh nên không phải cứmức tồn kho thấp là tốt, mức tồn kho cao là xấu
Tuy nhiên, hệ số này quá cao cũng không tốt, vì như vậy có nghĩa làlượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng độtngột thì rất có khả năng doanh nghiệp bị mất khách hàng và bị đối thủ cạnhtranh giành thị phần Hơn nữa, dự trữ nguyên liệu vật liệu đầu vào cho cáckhâu sản xuất không đủ có thể khiến dây chuyền sản xuất bị ngưng trệ Vìvậy, hệ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn và phù hợp để đảm bảomức độ sản xuất và đáp ứng được nhu cầu khách hàng
b Số vòng quay khoản phải thu, số ngày một vòng quay khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phảithu thành tiền mặt Hệ số này là một thước đo quan trọng để đánh giá hiệuquả hoạt động của doanh nghiệp, được tính bằng cách lấy doanh thu trong kỳchia cho bình quân các khoản phải thu trong kỳ
Vòng quay các khoản phải thu thấp chứng tỏ doanh nghiệp không bị ứđọng vốn trong khâu thanh toán, ít có những khoản nợ khó đòi Ngược lại,nếu tỷ số này cao, doanh nghiệp cần phải tiến hành phân tích chính sách bánhàng để tìm ra nguyên nhân tồn đọng
Trong một số trường hợp, do doanh nghiệp muốn chiếm lĩnh thị trườngthông qua bán hàng trả chậm nên dẫn đến số vòng quay các khoản phải thutăng [4, Tr85]
Khi các khoản phải thu chiếm tỷ trọng quá lớn và tăng quá nhanh tức làdoanh nghiệp đang bị chiếm dụng vốn thì vấn đề sẽ trở nên nghiêm, bởi vìtrong khi doanh nghiệp cần vốn để tăng lượng hàng sản xuất, mua nguyên vậtliệu thì lượng tiền của doanh nghiệp không đủ số tiền cần thiết để mua đủ sốlượng nguyên vật liệu theo yêu cầu Trong trường hợp này, doanh nghiệp phải
Trang 27Số ngày một vòng quay khoản phải thu Thời gian kỳ phân tích ( 360 ngày)
=
đi vay hoặc chiếm dụng vốn của người bán để bổ sung nhu cầu hiện tại Điềunày sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, làmgiảm hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
Hệ số vòng quay các khoản phải thu càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi
nợ của doanh nghiệp càng nhanh, khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thusang tiền mặt cao, điều này giúp cho doanh nghiệp nâng cao tiền mặt, tạo ra
sự chủ động trong việc trong sản xuất Ngược lại, nếu hệ số này càng thấp thì
số tiền của doanh nghiệp bị chiếm dụng ngày càng nhiều, lượng tiền mặt sẽngày càng giảm, làm giảm sự chủ động của doanh nghiệp và có thể doanhnghiệp sẽ phải đi vay ngân hàng để tài trợ thêm cho hoạt động sản xuất
Từ chỉ số vòng quay các khoản phải thu ta tính được số ngày thu tiềnbình quân bằng cách lấy số ngày trong kỳ chia cho vòng quay các khoản phảithu Ngược lại với chỉ số vòng quay các khoản phải thu, chỉ số ngày thu tiềnbình quân càng nhỏ thì tốc độ thu hồi công nợ phải thu của doanh nghiệp càngnhanh
Đối ngược với phải tối thiểu hóa khoản phải thu, khoản vốn bị chiếmdụng thì doanh nghiệp thường cố gắng kéo dài khoản nợ phải trả càng dàicàng tốt Các khoản phải trả thể hiện các khoản công ty chiếm dụng được từngười bán, bên mua ứng trước sẽ góp phần giúp công ty giải quyết khó khăn
về vốn trong ngắn hạn giảm bớt áp lực chi phí và đi vay từ ngân hàng Tuynhiên, cũng giống như các khoản phải thu việc chiếm dụng vốn quá lớn, kéodài thời hạn thanh toán cũng không phải là cách vì nó sẽ làm giảm uy tín củadoanh nghiệp Từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn để tài trợ cho chohoạt động sản xuất kinh doanh, làm giảm hiệu quả sử dụng TSNH của doanhnghiệp
1.3.3.3. Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời
a. Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn
Số vòng quay khoản phảI thu khách hàng
Trang 28HTSNH = Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho thấy TSNH của doanh nghiệp quay được bao nhiêuvòng/kỳ Giá trị chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ TSNH quay vòng càng nhanhcho thấy hiệu năng hoạt động của TSNH càng cao Đó là kết quả của việcquản lý tài sản hợp lý giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được tài sản, nâng caokhả năng sinh lời, tăng lợi nhuận của doanh nghiệp
TSNH bình quân được tính theo kỳ phân tích, tùy theo mục đích củaviệc phân tích tháng, quý, năm, có thể tính như sau:
Số ngày 1 vòng quay TSNH
Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết để TSNH quay được một vòng
Hệ số này càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển TSNH càng lớn và chứng tỏ hiệunăng hoạt động của TSNH càng cao, và ngược lại
b. Sức sinh lợi của tài sản ngắn hạn
Sức sinh lợi trước thuế và lãi vay của TSNH cho biết bình quân 100đồng TSNH dùng vào hoạt động SXKD của doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu
Trang 29Sức sinh lời trước thuế và lãi vay
TSNH bình quân
=
Sức sinh lợi trước thuế và lãi vay của TSNH
Sức sinh lời sau thuế của TSNH
= Lợi nhuận sau thuế
=
đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay, tức là chưa tính đến tác động của thuế
và không quan tâm đến TSNH được hình thành từ nguồn nào
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ phân tích doanh nghiệp đầu tư 100 đồngTSNH thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế, chỉ tiêu này càng cao hiệuquả sử dụng TSNH càng tốt và góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh chodoanh nghiệp
Để phân tích sức sinh lời của TSNH, ta có thể xác định các nhân tố ảnhhưởng theo phương trình sau:
Ta thấy có hai nhân tố ảnh hưởng đến sức sinh lời của TSNH: số vòng
quay của TSNH và sức sinh lợi của doanh thu Muốn cho chỉ tiêu sức sinh lờicủa TSNH cao thi cần có biện pháp nâng cao hai nhân tố ảnh hưởng: số vòngquay TSNH và tỷ suất sinh lời của doanh thu
Nếu như các nhóm tỷ số trên phản ánh hiệu quả từng hoạt động riêngbiệt của doanh nghiệp thì tỷ số về khả năng sinh lãi lại phản ánh tổng hợpnhất hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu năng quản lý của doanh nghiệp
• Tỷ số lợi nhuận thuần trên doanh thu hay doanh lợi doanh thu (ROS)
Tỷ số này phản ánh cứ một đồng doanh thu thuần thì có bao nhiêu lợinhuận sau thuế Sự biến động của tỷ số này phản ánh sự biến động về hiệuquả hay ảnh hưởng của chiến lược tiêu thụ, nâng cao chất lượng sản phẩm
=
B
Vòng quay TSNH x
Sức sinh lợi của doanh thu
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần ROS =
Trang 30• Tỷ số sức sinh lợi căn bản (BEPR)
Tỷ số này phản ánh khả năng sinh lợi căn bản của doanh nghiệp, nghĩa
là chưa kể đến ảnh hưởng của thuế và đòn bẩy tài chính
• Tỷ số lợi nhuần trên vốn chủ sở hữu (ROE)
• Tỷ số này đo lường mức lợi nhuận trên mức đầu tư của các chủ sở hữu.các nhà đầu tư rất quan tâm đến tỷ số này bởi nó đo lường mức hiệuquả của đồng vốn, đo lường tiền lời của mỗi đồng vốn bỏ ra
• Tỷ số doanh lợi tài sản (ROA).
Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất đánh giá khả năng sinh lợi của một đồngvốn đầu tư vào doanh nghiêp
1.4. Vốn lưu động thường xuyên và nhu cầu vốn lưu động thường xuyên
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh đoanhoanh nghiệp cần có tài sản,bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn Để hình thành hai loại tài sản nàyphải có các nguồn tài trợ tương ứng bao gồm nguồn vốn ngắn hạn và dài hạn
Nguồn vốn dài hạn trước hết phải được đầu tư để hình thành tài sản dàihạn, phần còn lại của nguồn vốn dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn được đầu tưhình thành tài sản ngắn hạn Chênh lệch giữa nguồn vốn dài hạn với tài sảndài hạn hay giữa tài sản ngắn hạn với nguồn vốn ngắn hạn được gọi là vốn lưuđộng thường xuyên
Mức độ an toàn của TSNH phụ thuộc vào mức độ VLĐ thường xuyên.VLĐ thường xuyên có thể dương, âm hoặc bằng không.Khi phân tích tìnhhình nguồn vốn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh, ta cần tính toán
và so sánh giữa nguồn vốn với tài sản
EBIT Tổng tài sản bình quân BEPR =
Lợi nhuận sau thuế x 100 Vốn chủ sở hữu bình quân
ROE =
ROE = Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản bình quân x 100
Tài sản dài hạn
=VLĐ thường xuyên
-Nguồn vốn dài hạn
=VLĐ thường xuyên
Hay
hạnTài sản
ngắn hạn
Trang 31• Trường hợp vốn lưu động thường xuyên dương.
VLĐ thường xuyên dương tức là nguồn vốn dài hạn không chỉ đủ tàitrợ cho các tài sản dài hạn mà còn thừa để tài trợ vào tài sản ngắn hạn Đồngthời, tài sản ngắn hạn lớn hơn nguồn vốn ngắn hạn do vậy khả năng thanhtoán của doanh nghiệp tốt
Sơ đồ 1.5 Vốn lưu động thường xuyên dương
• Trường hợp vốn lưu động thường xuyên âm.
Vốn lưu động thường xuyên âm tức là nguồn vốn dài hạn không đủ đểđầu tư cho tài sản dài hạn Doanh nghiệp phải đầu tư vào tài sản dài hạn mộtphần nguồn vốn ngắn hạn, tài sản ngắn hạn không đáp ứng đủ nhu cầu thanhtoán nợ ngắn hạn, doanh nghiệp mất cân bằng trong khả năng thanh toán,doanh nghiệp phải dùng một phần tài sản dài hạn để thanh toán khoản nợngắn hạn đến hạn trả Trong trường hợp này doanh nghiệp cần tăng cườnghuy động vốn ngắn hạn hoặc giảm quy mô đầu tư dài hạn hoặc đồng thời thựchiện cả hai giải pháp đó
Sơ đồ 1.6 Vốn lưu động thường xuyên âm
• Trường hợp vốn lưu động thường xuyên bằng 0
Nguồn vốndài hạn
TSNH
TSDH
Nguồn vốn ngắn hạn
VLĐ Thường xuyên
dương
VLĐ Thường xuyên âm
Nguồn vốndài hạnTSDH
Nguồn vốn ngắn hạnTSNH
Trang 32Vốn lưu động thường xuyên bằng 0, túc là nguồn vốn dài hạn tài trợ đủcho tài sản dài hạn và tài sản ngắn hạn đủ để doanh nghiệp trả các khoản nợngắn hạn, tình hình tài chính lành mạnh.
Sơ đồ 1.7 Vốn lưu động thường xuyên bằng 0
VLĐ thường xuyên là một chỉ tiêu tổng hợp quan trọng để đánh giátình hình của doanh nghiệp, chỉ tiêu này cho biết hai điều chủ yếu:
- Doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạnkhông?
- Tài sản dài hạn của doanh nghiệp có được tài trợ một cách vững chứcbằng nguồn vốn dài hạn không?
Ngoài khái niệm VLĐ thường xuyên, khi phân tích tình hình đảm bảovốn cho hoạt động kinh doanh, người ta còn sử dụng chỉ tiêu nhu cầu VLĐthường xuyên để phân tích
Nhu cầu VLĐ thường xuyên là lượng vốn ngắn hạn doanh nghiệp cần
để tài trợ cho một phần tài sản ngắn hạn, đó là hàng tồn kho và các khoảnphải thu
- Trường hợp nhu cầu VLĐ thường xuyên > 0, tức là hàng tồn kho và
các khoản phải thu > nợ ngắn hạn Doanh nghiệp sử dụng tài sản ngắn hạnlớn hơn nguông vốn ngắn hạn mà doanh nghiệp có được từ bên ngoài, doanhnghiệp phải dùng nguồn vốn dài hạn để bù cho phần chênh lệch này Trongtường hợp này, doanh nghiệp nên nhanh chóng giải phóng hàng tồn kho vàgiảm các khoản phải thu khách hàng
VLĐ Thườngxuyênbằng 0
ngắn hạnNguồn vốndài hạnTSDH
Nợ ngắn hạn -
Tồn kho và các khoản phải thu
= Nhu cầu VLĐ
thường xuyên
Trang 33- Trường hợp nhu cầu VLĐ thường xuyên < 0, tức là các nguồn vốnngắn hạn từ bên ngoài đã dư thừa để tài trợ cho tài sản ngắn hạn của doanhnghiệp doanh nghiệp không cần phải vay vốn ngắn hạn để tài trợ cho chu kỳkinh doanh.
Như vậy, để đảm bảo sự lành mạnh về tài chính doanh nghiệp thì VLĐthường xuyên phải ≥ 0 Nếu nhu cầu VLĐ thường xuyên ≥ 0, phải tìm cáchgiảm lượng hàng tồn kho, tăng thu từ các khoản phải thu của khách hàng; nếunhu cầu VLĐ thường xuyên < 0, hạn chế vay ngắn hạn từ bên ngoài
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp.
Để đánh giá hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp ngoài phân tíchcác chỉ tiêu nói trên cũng cần phải phân tích các nhân tố tác động tới hiệu quả
sử dụng TSNH của doanh nghiệp Có 2 nhóm nhân tố chính là nhân tố chủquan và nhân tố khách quan
1.5.1 Nhân tố chủ quan
Trình độ cán bộ quản lý và tay nghề của công nhân: Có thể nói, con
người là nhân tố quan trọng trong bất cứ hoạt động nào Trong hoạt động sảnxuất- kinh doanh cũng vậy, con người đóng vai trò quyết định đến hiệu quảhoạt động nói chung và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng, đặc biệt
là trình độ của cán bộ quản lý và tay nghề của người công nhân
Tổ chức sản xuất kinh doanh: Một quy trình sản xuất kinh doanh hợp
lý sẽ khắc phục được tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ giữa cáckhâu, góp phần tiết kiệm nguồn lực, tăng năng suất lao động, giảm chi phí bấthợp lý, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp Bên cạnh đó, một doanh nghiệp có chiến lược
kinh doanh tốt, có nhiều giải pháp thực hiện chiến lược phù hợp với điều kiệnhoàn cảnh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ và phù hợp với nhu cầu thịtrường thì hiệu quả sử dụng tài sản sẽ cao
Trang 34Đặc điểm sản xuất – kinh doanh: Đây là nhân tố có ảnh hưởng không
nhỏ đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Doanh nghiệp
có đặc điểm khác nhau về ngành nghề kinh doanh sẽ đầu tư vào tài sản ngắnhạn và tài sản dài hạn khác nhau Tỷ trọng tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạnkhác nhau nên hệ số sinh lợi của tài sản cũng khác nhau Doanh nghiệp có đặcđiểm hàng hóa khác nhau và đối tượng khách hàng khác nhau nên chính sáchtín dụng thương mại cũng khác nhau dẫn đến tỷ trọng khoản phải thu khácnhau Như vậy, đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tác độngquan trọng đến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn, ảnh hưởng trực tiếp đến cơcấu các thành phần trong tài sản ngắn hạn, vòng quay và hệ số sinh lợi của tàisản ngắn hạn
Năng lực quản lý tài sản của doanh nghiệp: Quản lý tài sản một cách
khoa học chặt chẽ góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản của DN Cụ thểnhư:
Quản lý tiền mặt: Quản lý tiền mặt là quyết định mức tồn quỹ tiền mặt,
cụ thể là đi tìm bài toán tối ưu để ra quyết định cho mức tồn quỹ tiền mặt saocho tổng chi phí đạt tối thiểu mà vẫn đủ để duy trì hoạt động bình thường củadoanh nghiệp.Việc xác định lượng tiền mặt dự trữ chính xác giúp cho doanhnghiệp đáp ứng các nhu cầu về giao dịch, dự phòng, tận dụng được những cơhội thuận lợi trong kinh doanh do chủ động trong hoạt động thanh toán chitrả, làm giảm tối đa các rủi ro về lãi suất hoặc tỷ giá hối đoái, tối ưu hóa việc
đi vay ngắn hạn, tăng hiệu quả sử dụng tài sản Quản lý tiền mặt hiệu quả gópphần năng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng và hiệu quả sửdụng tài sản nói chung cho doanh nghiệp
Quản lý dự trữ, tồn kho: Trong quá trình luân chuyển vốn ngắn hạn
phục vụ cho sản xuất kinh doanh thì hàng hóa dự trữ, tồn kho có ý nghĩa rấtlớn cho hoạt động của doanh nghiệp, nó như tấm đệm an toàn giữa các giaiđoạn khác nhau trong chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do cáchoạt động này diễn ra không đồng bộ Hơn nữa, hàng hóa dự trữ, tồn kho giúp
Trang 35cho doanh nghiệp giảm thiệt hại trước những biến động của thị trường Tuynhiên, nếu dự trữ quá nhiều sẽ làm tăng chi phí lưu kho, chi phí bảo quản vàgây ứ đọng vốn Vì vậy doanh nghiệp cần xác định một mức tồn kho hợp lýnhằm nâng cao hiêu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cho doanh nghiệp, gópphần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Quản lý các khoản phải thu: Trong nền kinh tế thị trường, việc mua
bán chịu hay còn gọi là tín dụng thương mại là một hoạt động không thể thiếuđối với mọi doanh nghiệp Do đó, trong các doanh nghiệp hình thành khoảnphải thu Tín dụng thương mại giúp cho doanh nghiệp đẩy nhanh tốc độ tiêuthụ sản phẩm, thu hút khách hàng, tăng doanh thu bán hàng, giảm chi phí tồnkho của hàng hóa, góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản cố định và hạnchế hao mòn vô hình Tuy nhiên, tín dụng thương mại cũng có thể đem đếnnhững rủi ro cho doanh nghiệp như làm tăng chi phí quản lý, chi phí đòi nợ,chi phí bù dắp cho vốn thiểu hụt, làm tăng chi phí nếu khách hàng không trảđược nợ
Khả năng huy động vốn và cơ cấu vốn:Vốn là điều kiện không thể
thiếu được để một doanh nghiệp được thành lập và tiến hành các hoạt độngsản xuất – kinh doanh Vốn là nguồn hình thành nên tài sản Vì vậy, khả nănghuy động vốn cũng như vấn đề cơ cấu vốn sẽ có ảnh hưởng lớn đến hiệu qủa
sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp có khả nănghuy động vốn lớn sẽ là cơ hội để mở rộng quy mô sản xuất – kinh doanh, đadạng hóa các hoạt động đầu tư làm tăng doanh thu cho doanh nghiệp và từ đólàm tăng hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn nói riêng cũng như hiệu quả sửdụng tài sản nói chung
1.5.2. Nhân tố khách quan
Chính trị - pháp luật: Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của Nhà
nước là hết sức quan trọng Sự can thiệp ở mức độ hợp lý của Nhà nước vàohoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp là cần thiết và tập trung ởcác nội dung như: duy trì ổn định kinh tế, kích thích phát triển kinh tế thông
Trang 36qua hệ thống pháp luật, chính trị, định hướng phát triển kinh tế, phát triển cơ
sở hạ tầng kinh tế - xã hội
Khoa học - công nghệ: là một trong những nhân tố quyết định đến
năng suất lao động và trình độ sản xuất của nền kinh tế nói chung và của từngdoanh nghiệp nói riêng Sự tiến bộ khoa học – công nghệ sẽ tạo điều kiện chocác doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất giảm bớt chi phí, tăng khả năngcạnh tranh Tuy nhiên, tiến bộ khoa học công nghệ cũng có thể làm cho tàisản của doanh nghiệp bị hao mòn vô hình nhanh hơn Có những máy móc,thiết bị, quy trình công nghệ… mới chỉ nằm trên các dự án, các dự thảo, phátminh đã trở nên lạc hậu ngay chính thời điểm đó Như vậy, việc theo dõi cậpnhật sự phát triển của khoa học – công nghệ là hết sức cần thiết đối với doanhnghiệp khi lựa chọn phương án đầu tư để có thể đạt được hiệu quả cao nhấttrong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
Đối thủ cạnh tranh: Đây là một yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tồn
tại, phát triển của doanh nghiệp Nhân tố cạnh tranh bao gồm các yếu tố vàđiều kiện trong nội bộ ngành sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp như khách hàng, nhà cung cấp, các đối thủcạnh tranh, các sản phẩm thay thế Các yếu tố này sẽ quyết định tính chất,mức độ cạnh tranh của ngành và khả năng thu lợi nhuận của doanh nghiệp
Tóm lại: Tài sản ngắn hạn là một trong những yếu tố quan trọng đóng
vai trò to lớn trong hoạt động sản xuất kinh doanh Vì vậy sử dụng hiệu quảtài sản ngắn hạn là một vấn đề quan trọng đối với bất kỳ doanh nghiệp nào
Cơ sở lý luận trên cũng là tiền đề, là cơ sở để tiến hành nghiên cứu, phân tíchthực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần Vật tư kỹthuật nông nghiệp Bình Định
Trang 37CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VẬT TƯ KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP
• Tên viết tắt : BD – ATM CO
• Trụ sở chính : 173 Trần Hưng Đạo, TP.Quy Nhơn, Tỉnh BìnhĐịnh
• Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh: 4100259074 do Sở Kế hoạch vàĐầu tư tỉnh Bình Định cấp ngày 26/12/2005
• Biểu tượng của công ty :
Ngành nghề kinh doanh của công ty:
• Sản xuất, kinh doanh phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng,thức ăn chăn nuôi
• Mua – Bán các mặt hàng: nông, lâm, thủy sản; vật liệu xây dựng, hàngtrang trí nội thất; vật tư thiết bị điện nước; hàng tiêu dùng, hàng thủcông mỹ nghệ
Trang 38• Xăng dầu.
• Máy móc thiết bị phương tiện vận tải; Sản xuất và in bao bì; Dịch vụ cho thuêkho bãi; kinh doanh vận tải bằng ô tô
Công ty Cổ Phần Vật Tư Kỹ Thuật Nông Nghiệp Bình Định tiền thân
là công ty Vật tư Kỹ thuật Nông nghiệp Nghĩa Bình Công ty được thành lập theo quyết định số 67/QĐ – TC ngày 10/12/1975 của UBND tỉnh Nghĩa Bình,
và công ty chính thức hoạt động từ ngày 01/01/1976 Công ty được UBND tỉnh Bình Định ra quyết định số 233/QĐ – UB ngày 14/01/1993 đổi tên thành Công ty Vật Tư Kỹ Thuật Nông Nghiệp Bình Định và đến ngày 01/01/2006 chính thức đổi tên thành Công ty Cổ Phần Vật Tư Kỹ Thuật Nông Nghiệp Bình Định
Hiện nay, công ty có trụ sở chính tại 173 Trần Hưng Đạo, thành phốQuy Nhơn, tỉnh Bình Định hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực kinh doanh vật
tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật phục vụ sản xuất nông nghiệp trên địa bàntỉnh Bình Định và hiện đang mở rộng địa bàn kinh doanh sang các tỉnh lâncận
Sau khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhànước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, công ty được sự chỉ đạo trực tiếp củaUBND tỉnh Bình Định, sở Nông Nghiệp và PTNT Bình Định, sự giúp đỡ củangành, cơ quan hữu quan của trung ương và địa phương cùng với sự nỗ lựcvươn lên của chính mình, năng động và linh hoạt trong kinh doanh, công ty đãphát huy mạnh mẽ vai trò chủ đạo của doanh nghiệp Nhà nước trong cơ chếmới, góp phần bình ổn giá cả, giúp cho nông dân yên tâm sản xuất, góp phầnđổi mới kinh tế - xã hội – văn hóa nông thôn tỉnh nhà, bảo toàn và phát triểnvốn kinh doanh, sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả, nâng cao đời sốngcán bộ công nhân viên đồng thời tích lũy để tái đầu tư
Trang 39Qua quá trình hoạt động của mình, công ty đã không ngừng phát triển vềmọi mặt cả về chiều rộng và chiều sâu, về quy mô kinh doanh, lao động vàdoanh thu Để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn về quy mô và chủng loại hànghóa phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của tỉnh nhà, chủ động được nguồnđầu vào, khắc phục được sự biến động của giá cả thị trường thế giới, được sựủng hộ trực tiếp của UBND tỉnh Bình Định cùng với nguồn vốn mà công ty
đã tích lũy được trong những năm đã qua, công ty đã xây dựng được nhà máyphân bón Long Mỹ tại KCN Long Mỹ (tỉnh Bình Định) và đã được đưa vàosản xuất từ tháng 01/2005 Từ đó cho đến nay nhà máy phân bón Long Mỹ đãcung cấp không những cho thị trường phân bón NPK ở Bình Định mà cả cáctỉnh miền Trung lân cận và khu vực Tây Nguyên đồng thời giải quyết tại chỗnhu cầu việc làm ở địa phương Mỗi năm nhà máy sản xuất phân bón vớicông suất 50.000 tấn/năm
Từ năm 2012 đến nay, công ty có một số hợp đồng lớn với các đối tácnước ngoài như: Misubishi Corporation, Singapore Branch,… với giá trị hợpđồng lên tới hàng triệu USD Với những nổ lực không ngừng trong việc xâydựng và phát triển chất lượng sản phẩm của mình, sản phẩm phân bón MặtTrời của công ty đã đạt được các chứng nhận: Giải thưởng chất lượng ViệtNam; Giải thưởng Công nghệ xanh vì sự nghiệp bảo vệ thiên nhiên môitrường; Nhà cung cấp chất lượng; nhà cung cấp uy tín hang đầu Việt Nam.Đặc biệt năm 2012, phân bón Mặt Trời của công ty đạt giải Vàng trong cuộcbình chọn sản phẩm Chất lượng quốc gia, được Chính phủ tặng bằng khen
Qua quá trình phát triển và đạt được những điều kiện cần thiết theo quyđịnh pháp luật về chứng khoán, công ty cổ phần vật tư kỹ thuật nông nghiệpBình Định đã lập hồ sơ đăng ký công ty đại chúng và đã được Ủy ban chứngkhoán Nhà nước đưa vào danh sách Công ty đủ điều kiện là công ty đại chúng
kể từ ngày 04/07/2008, tại thời điểm đó vốn điều lệ của công ty là 32,88 tỷđồng và số lượng cổ đông là 128 cổ đông
Trang 40Qua thời gian hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn điều lệ và số lượng
cổ đông của công ty có sự thay đổi Tính đến ngày 10/8/2011 vốn điều lệ củacông ty là 40 tỷ đồng và số lượng cổ đông là 96 cổ đông Theo Luật chứngkhoán thì Công ty không còn đủ điều kiện là Công ty Đại chúng, vì số lượng
cổ đông nhỏ hơn 100 và công ty chưa thực hiện chào bán cổ phiếu ra thịtrường, chưa niêm yết trên sàn giao dịch
Do vậy, kể từ ngày 16/9/2011 công ty cổ phần vật tư kỹ thuật nôngnghiệp Bình Định chính thức rút tên ra khỏi danh sách Công ty đại chúng theocông văn số 2967/UBCK-PLPH của Ủy ban chứng khoán Nhà nước
Như vậy với những đặc điểm về vốn và số lao động nêu trên thì Công
ty Cổ Phần Vật Tư Kỹ Thuật Nông Nghiệp Bình Định được xếp vào doanhnghiệp có quy mô vừa
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của công ty Cổ phần VTKT NN Bình Định
Chức năng của công ty
Theo nghị định của UBND tỉnh Bình Định ngày 16/08/1996, BộThương Mại đã cấp phép kinh doanh xuất nhập khẩu số 3001017/GP chocông ty được phép kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp các mặt hàng sau:
• Hàng nhập khẩu: vật tư phục vụ nông nghiệp, máy móc thiết bị, hàngtiêu dùng thiết yếu
• Hàng xuất khẩu: nông sản
Cùng với sự phát triển và đổi mới của nền kinh tế đã chuyển sang nềnkinh tế thị trường, hoạt động của công ty cũng mang tính thị trường cả về chấtlượng mặt hàng kinh doanh, đa dạng hóa các mặt hàng trên phương thức kinhdoanh linh hoạt, nắm bắt kịp thời nhu cầu thị trường cũng như những thay đổi
cơ chế chính sách của nhà nước
Nhiệm vụ của công ty