Khái niệm về phân tích tài chính Tài chính doanh nghiệp là các mối quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động kinh doa
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành đầu tư hay sản xuất họ đều mong muốn đồng tiền của họ bỏ ra sẽ mang lại lợi nhuận cao nhất Bên cạnh những lợi thế sẵn có thì nội lực tài chính của doanh nghiệp là cơ sở cho hàng loạt các chính sách đưa doanh nghiệp đến thành công Vì vậy, để kinh doanh đạt hiệu quả theo như mong muốn, hạn chế được rủi ro xảy ra Việc phân tích tài chính sẽ giúp cho các doanh nghiệp xác định đầy đủ đúng đắn nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Từ đó, có giải pháp hữu hiệu để ổn định và hoàn thiện tình hình tài chính cho công ty, đồng thời, dự đoán điều kiện kinh doanh trong thời gian tới và vạch ra chiến lược phù hợp trong kinh doanh cho doanh nghiệp
Do đó, việc phân tích tài chính là công cụ cung cấp thông tin cho các nhà quản trị, nhà đầu tư, nhà cho vay Vì nó nắm bắt kịp thời tình hình tài chính của công
ty để có biện pháp xử lý và khắc phục sớm và là điều kiện cần thiết quan trọng Bởi vậy nên phân tích tài chính là công việc thường xuyên không thể thiếu trong quản
lý tài chính doanh nghiệp Chính vì tầm quan trọng đó nên em chọn đề tài “cải
thiện tình hình tài chính tại công ty TNHH MTV Tư vấn và Xây dựng Đức Long” để làm bài khóa luận tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu của vấn đề nghiên cứu là nhằm làm rõ thực trạng tài chính tại Công ty,
để từ đó chỉ ra những điểm mạnh cũng như những bất ổn của công ty Đồng thời, giúp Công ty nhìn thấy trước những biến động tình hình tài chính trong tương lai của mình mà có biện pháp đối phó thích hợp Bao gồm những nội dung cụ thể sau:
Hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về tình hình tài chính DN
Đưa ra một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại Công ty TNHH MTV
Tư vấn và Xây dựng Đức Long
Đưa ra những ý kiến, kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác phân tích tình hình tài chính tại Công ty, thông qua đó hoàn thiện hoạt động quản trị tài chính và cải thiện tình hình tài chính tại Công ty TNHH MTV Tư vấn và Xây dựng Đức Long
Trang 23. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình hình thành và hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH MTV Tư vấn
và xây dựng Đức Long
4. Phạm vi nghiên cứu
Tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH MTV Tư vấn và Xây dựng Đức Long từ năm 2012 đến năm 2014
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được vận dụng trong đề tài chủ yếu là phương pháp thu thập số liệu, phương pháp so sánh, phương pháp tỷ lệ, phương pháp phân tích Dupont các tỷ số tài chính
6 Kết cấu khóa luận
Ngoài lời mở đầu và kết luận khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng tình hình tài chính của công ty TNHH MTV Tư vấn
em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Huỳnh Thị Kim Chung
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH
2
Trang 3TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP1.1 Tổng quan về phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm, ý nghĩa và mục tiêu của phân tích TCDN
1.1.1.1 Khái niệm về phân tích tài chính
Tài chính doanh nghiệp là các mối quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt tới mục tiêu của doanh nghiệp.[1; Tr14]
Phân tích tài chính doanh nghiệp có thể được hiểu như là quá trình kiểm tra, xem xét các số liệu tài chính hiện hành và quá khứ nhằm mục đích đánh giá, dự tính các rủi ro, tiềm năng trong tương lai phục vụ cho các quyết định tài chính và đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp một cách chính xác.[1;Tr67]
1.1.1.2 Ý nghĩa của phân tích tài chính trong doanh nghiệp[1;Tr67]
Qua phân tích tình hình tài chính mới đánh giá đầy đủ, chính xác tình hình phân phối, sử dụng và quản lý các loại vốn, nguồn vốn, vạch rõ khả năng tiềm tàng về vốn của doanh nghiệp Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn
Phân tích tình hình tài chính là công cụ quan trọng trong các chức năng quản trị
có hiệu quả ở doanh nghiệp Phân tích là quá trình nhận thức hoạt động kinh doanh,
là cơ sở cho ra quyết định đúng đắn trong tổ chức quản lý Nhất là chức năng kiểm tra, đánh giá và điều hành hoạt động kinh doanh để đạt các mục tiêu kinh doanh cho doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp là công cụ không thể thiếu phục vụ công tác quản lý của cấp trên, cơ quan tài chính, ngân hàng như: đánh giá tình hình thực hiện các chế độ chính sách về tài chính của Nhà nước, xem xét việc cho vay vốn…
1.1.1.3 Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp[1;tr67]
Có rất nhiều đối tượng quan tâm và sử dụng những thông tin tài chính của doanh nghiệp và mỗi đối tượng khác nhau lại có mục tiêu phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp khác nhau:
Đối với nhà quản trị doanh nghiệp: phân tích tài chính nhằm đánh giá hiệu
quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, xác định các điểm mạnh, điểm yếu
Trang 4trong tình hình tài chính và hoạt động của doanh nghiệp nhằm giúp các nhà quản trị đưa ra các quyết định để vận hành công ty tốt hơn
Đối với các nhà đầu tư: các nhà đầu tư luôn quan tâm đến thu nhập hiện tại
mà họ có thể nhận và giá trị tăng thêm của vốn đầu tư Thông qua việc phân tích tài chính doanh nghiệp sẽ giúp họ nhận biết khả năng sinh lãi và những rủi ro có thể xảy ra trong doanh nghiệp Từ đó, làm căn cứ quan trọng để họ ra quyết định có nên
bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp hay không
Đối với người cho vay: thông qua phân tích tài chính để biết được doanh
nghiệp vay tiền để làm gì? Doanh nghiệp đang nợ bao nhiêu? Nguồn trả nợ cũng như khả năng trả nợ Từ đó, làm căn cứ cho việc ra quyết định có nên cho doanh nghiệp vay hay không
Đối với người lao động trong DN: bên cạnh các đối tượng trên thì người lao
động bên trong doanh nghiệp cũng rất quan tâm đến các thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp Bởi lẽ, các kết quả hoạt động của doanh nghiệp đều liên quan trực tiếp đến tiền lương, thưởng và các khoản thu nhập khác của người lao động Vì vậy, thông qua các kết quả của phân tích tài chính doanh nghiệp giúp người lao động đánh giá được sự công bằng của mức lương, lợi nhuận mà họ được chia để từ đó để họ ra quyết định có nên tiếp tục làm việc lâu dài hay không
Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước: thông qua việc phân tích tài chính
để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có tuân thủ đúng các chính sách, các quy định quản lý của Nhà nước hay không Từ
đó, có các giải pháp xử lý hay khen thưởng thích hợp…
1.1.2 Phương pháp phân tích tình hình tài chính[1;tr99]
Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp bao gồm một hệ thống các công
cụ và biện pháp tiếp cận, nghiên cứu các hiện tượng, các sự kiện, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp Về mặt lý thuyết có rất nhiều phương pháp phân tích khác nhau Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu đề tài của mình em xin lựa chọn một vài phương pháp sau:
4
Trang 51.1.2.1 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp xem xét các chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa trên việc so sánh số liệu với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc) Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích hoạt động kinh doanh Mục tiêu so sánh là xác định mức độ biến động tuyệt đối và tương đối trong cùng xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích Khi vận dụng phép so sánh trong phân tích cần cân nhắc đến điều kiện so sánh, tiêu chuẩn so sánh và kỹ thuật so sánh Có hai cách so sánh là so sánh theo chiều dọc và so sánh theo chiều ngang So sánh theo chiều dọc
để thấy được tỷ trọng của từng loại trong tổng hợp ở mỗi bản báo cáo So sánh theo chiều ngang để thấy được sự biến đổi về cả số tương đối và số tuyệt đối của một khoản mục nào đó qua niên độ kế toán liên tiếp
Khi sử dụng phương pháp so sánh chúng ta cần cân nhắc một số vấn đề sau:
• Về điều kiện so sánh: chỉ tiêu nghiên cứu muốn so sánh được phải đảm bảo thống
nhất về nội dung kinh tế, thống nhất về phương pháp tính toán, thống nhất về thời gian và đơn vị đo lường
• Gốc so sánh: gốc so sánh được lựa chọn có thể là gốc về không gian hay thời gian,
tùy thuộc vào mục đích phân tích Về không gian, có thể so sánh đơn vị này với đơn
vị khác, bộ phận này với bộ phận khác, khu vực này với khu vực khác… Việc so sánh về không gian thường được sử dụng khi cần xác định vị trí hiện tại của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh, so với số bình quân ngành, bình quân khu vực…
Về thời gian, gốc so sánh được lựa chọn là các kỳ đã qua (kỳ trước, năm trước) hay
kế hoạch, dự toán Cụ thể:
- Khi xác định xu hướng và tốc độ phát triển của chỉ tiêu phân tích, gốc so sánh được xác định là trị số của chỉ tiêu phân tích ở kỳ trước ( năm trước);
- Khi đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra, gốc so sánh là trị
số kế hoạch của chỉ tiêu phân tích Khi đó tiến hành so sánh giữa trị số thực tế với trị số kế hoạch của chỉ tiêu nghiên cứu
• Các dạng so sánh: các dạng so sánh thường được sử dụng trong phân tích là so
sánh bằng số tuyệt đối, so sánh bằng số tương đối và so sánh với số bình quân
Trang 6- So sánh bằng số tuyệt đối: phản ánh quy mô của chỉ tiêu nghiên cứu nên khi so sánh
bằng số tuyệt đối sẽ giúp thấy rõ được sự biến động về quy mô của chỉ tiêu nghiên cứu giữa kỳ phân tích với kỳ gốc
- So sánh bằng số tương đối: khác với sô tuyệt đối, khi so sánh bằng số tương đối các
nhà quản lý sẽ nắm được kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển, mức độ phổ biến
và xu hướng biến động của các chỉ tiêu tài chính
- So sánh với số bình quân: khác với việc so sánh bằng số tuyệt đối và số tương đối,
so sánh bằng số bình quân cho thấy mức độ mà đơn vị đạt được so với bình quân chung của tổng thể, của ngành, của khu vực Qua đó, các nhà quản lý xác định được
vị trí hiện tại của doanh nghiệp
1.1.2.2 Phương pháp phân tích tỷ lệ
Để phản ánh chính xác tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nếu chỉ so sánh các thông tin có sẵn trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp thì chưa đủ mà cần sử dụng thêm các tỷ số tài chính Phương pháp trên gọi
là phương pháp phân tích tỷ lệ Phương pháp này sử dụng số tương đối để nghiên cứu các chỉ tiêu trong mối quan hệ với các chỉ tiêu khác Bản thân của phương pháp này là thông qua quan hệ tỷ số tài chính để đánh giá đầy đủ về mối quan hệ giữa các giá trị riêng lẽ trên các báo cáo tài chính Các tỷ số tài chính thường được sử dụng
để phân tích bao gồm: các tỷ số phản ánh khả năng thanh toán, tỷ số khả năng hoạt động, khả năng sinh lời, hiệu quả sử dụng tài sản… Các tỷ số này cho thấy mối quan hệ giữa các khoản mục khác nhau trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp
1.1.2.3 Phương pháp phân tích Dupont
Phân tích Dupont là kỹ thuật phân tích bằng cách chia tỷ số ROA và ROE thành những bộ phận có liên hệ với nhau để đánh giá tác động của từng bộ phận lên kết quả sau cùng Kỹ thuật này thường được sử dụng bởi các nhà quản lý nội bộ trong doanh nghiệp để có cái nhìn cụ thể và ra quyết định xem nên cải thiện tình hình tài chính doanh nghiệp bằng cách nào Kỹ thuật phân tích Dupont dựa vào hai phương trình căn bản dưới đây, gọi chung là phương trình Dupont
• Đầu tiên, ta xem xét mối quan hệ giữa Hiệu suất sử dụng tài sản, doanh lợi doanh thu và doanh lợi tài sản
Ký hiệu: A :Tổng tài sản bq, E: Vốn chủ sở hữu bq, D: Tổng nợ, TR: Doanh thu thuần, EAT: Lợi nhuận sau thuế, H N: Hệ số nợ Ta có các công thức sau:
6
Trang 7A
TR TR
EAT A
EAT
Hoặc
SDTS HS
DLDT TTSbq
DTT DTT
LNST TTSbq
Tỷ số này dùng để đo lường mức độ sinh lợi trên mỗi đồng vốn đầu tư của chủ
sở hữu Các nhà đầu tư rất quan tâm đến tỷ số này, bởi đây là thu nhập mà họ có thể nhận được khi đầu tư vốn vào doanh nghiệp Mong muốn của nhà đầu tư là làm cho
tỷ số này càng cao càng tốt Đồng thời, tỷ lệ sinh lời của VCSH còn phụ thuộc vào việc sử dụng vốn và mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp
1.1.3 Nguồn số liệu để phân tích tài chính doanh nghiệp[1;Tr68]
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng làm rõ mục tiêu của dự đoán tài chính Trong đó, thông tin kế toán là một nguồn thông tin đặc biệt cần thiết và quan trọng Thông tin kế toán được phản ánh khá đầy đủ trong các báo cáo kế toán, đó là Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ…
Trang 8Ngoài ra, ta cũng có thể sử dụng các nguồn thông tin từ bên ngoài như những thông tin về trạng thái nền kinh tế, cơ hội kinh doanh, chính sách thuế, thông tin về ngành nghề kinh doanh và nhiều thông tin khác để làm rõ nội dung về hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.3.1 Bảng cân đối kế toán[1;Tr69]
Bảng cân đối kế toán là một trong những báo cáo kế toán quan trọng nhất trong
hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp Nó phản ánh khái quát tình hình tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, dưới hình thái tiền tệ theo giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản Về bản chất, Bảng CĐKT là một bảng cân đối tổng hợp giữa tài sản với nguồn vốn chủ sở hữu và công nợ phải trả của DN
Bảng CĐKT là tài liệu quan trọng để phân tích, đánh giá một cách tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh, trình độ sử dụng vốn và những triển vọng kinh tế tài chính của doanh nghiệp
Bảng 1.1: Kết cấu bảng cân đối kế toán
A. Tài sản ngắn hạn
I. Tiền và các khoản tương đương tiền
II. Các khoản đầu tư TC ngắn hạn
Các khoản phải thu ngắn hạn
2. Khoản phải trả cho người bán
3. Người mua trả tiền trước
4. Khoản phải trả, phải nộp khác
II.Nợ dài hạnPhải trả dài hạn người bánPhải trả dài hạn nội bộPhải trả dài hạn khácVay và nợ dài hạnThuế hoãn lại phải trả
B. Vốn chủ sở hữu
I.Vốn chủ sở hữu
II. Nguồn kinh phí và quỹ khác
TỔNG NGUỒN VỐN
(Nguồn: Hà Thanh Việt, 2013.Tr71)
Nội dung về kết cấu của Bảng CĐKT bao gồm các phần sau:
Phần tài sản: phản ánh giá trị tài sản hiện có tới thời điểm lập báo cáo.
8
Trang 9Phần nguồn vốn: phản ánh nguồn hình thành các loại tài sản của DN hiện có.
Hai phần “Tài sản” và “Nguồn vốn” có thể được chia hai bên (bên trái và bên phải) hoặc một bên (phía trên và phía dưới) Mỗi phần đều có số tổng cộng và số tổng cộng của hai phần bao giờ cũng bằng nhau vì cùng phản ánh một lượng tài sản theo nguyên tắc phương trình kế toán: Tổng Tài sản = Tổng Nguồn vốn
- Phần tài sản được chia làm hai loại:
Loại A: TSLĐ và ĐTNH phản ánh giá trị của các loại tài sản có thời gian
chuyển đổi thành tiền trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh
Loại B: TSCĐ và ĐTDH phản ánh giá trị của các loại tài sản có thời gian
chuyển đổi thành tiền từ một năm hay một chu kỳ kinh doanh trở lên
- Phần nguồn vốn cũng được chia thành hai loại:
Loại A: Nợ phải trả thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp với các chủ nợ
(người bán chịu, người cho vay, Nhà nước, công nhân viên)
Loại B: Nguồn vốn chủ sở hữu thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp trước
chủ sở hữu đã đầu tư vốn vào doanh nghiệp
Như vậy, về mặt quan hệ kinh tế qua việc xem xét phần Tài sản cho phép chúng
ta đánh giá tổng quát năng lực và trình độ sử dụng tài sản Về mặt pháp lý, phần tài sản thể hiện “số tiềm lực” mà doanh nghiệp có quyền quản lý, sử dụng lâu dài gắn với mục đích thu được các khoản lợi ích trong tương lai Khi xem xét phần Nguồn vốn, về mặt kinh tế, người sử dụng thấy được thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp Về mặt pháp lý, người sử dụng thấy được trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng ký kinh doanh với Nhà nước, về số tài sản đã hình thành bằng vốn vay Ngân hàng, vay đối tượng khác cũng như trách nhiệm phải thanh toán các khoản nợ với người lao động, với cổ đông, với nhà cung cấp…
1.1.3.2 Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh[1;Tr73]
Báo cáo kết quả kinh doanh (BCKQKD) là một báo cáo tài chính kế toán tổng hợp phản ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh, tình hình thực hiện nghĩa
vụ với Nhà nước của doanh nghiệp trong một kỳ hạch toán
Cùng với Bảng CĐKT, BCKQKD là một trong những báo cáo quan trọng nhất của hệ thống báo cáo tài chính kế toán doanh nghiệp Nó cung cấp số liệu cho người
sử dụng thông tin để kiểm tra, phân tích và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh
Trang 10của doanh nghiệp trong kỳ, so sánh với các kỳ trước và các doanh nghiệp khác trong cùng ngành để nhận biết khái quát kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong
kỳ và xu hướng vận động nhằm đưa ra các quyết định tài chính cho phù hợp
Nội dung và kết cấu của Bảng BCKQKD gồm các phần sau:
Phần I: phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Lãi, lỗ), bao
gồm hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính và các hoạt động khác
Phần II: tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước: phản ánh tình hình
thực hiện nghĩa vụ về thuế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn và các khoản phải trả khác của doanh nghiệp đối với Nhà nước
Nội dung của Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh có thể thay đổi theo từng thời kỳ tùy theo yêu cầu của quản lý nhưng phải phản ánh các nội dung cơ bản sau: doanh thu thuần, giá vốn hàng bán, các chi phí và lợi nhuận…
1.1.3.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ[1;Tr75]
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (LCTT) là báo cáo kế toán tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp Căn cứ vào báo cáo này, người ta có thể đánh giá được khả năng tạo tiền, sự biến động tài sản thuần của doanh nghiệp, khả năng thanh toán cũng như tình hình lưu chuyển tiền của kỳ tiếp theo, trên cơ sở đó dự đoán được nhu cầu và khả năng tài chính của DN.Báo cáo LCTT cung cấp các thông tin bổ sung về tình hình tài chính của doanh nghiệp mà BCĐKT và BCKQKD chưa phản ánh được do kết quả hoạt động trong
kỳ của doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi nhiều khoản mục phi tiền tệ Cụ thể là, báo cáo LCTT cung cấp các thông tin về luồng vào và ra của tiền và coi như tiền, những khoản đầu tư ngắn hạn có tính thanh khoản cao, có thể nhanh chóng chuyển đổi thành một khoản tiền biết trước ít chịu rủi ro lỗ về giá trị do sự thay đổi về lãi suất
Từ đó, giúp cho người sử dụng phân tích đánh giá khả năng tạo ra các luồng tiền trong tương lai, khả năng thanh toán các khoản nợ, khả năng chi trả lãi cổ phần…
• Nội dung và kết cấu của báo cáo LCTT bao gồm các phần sau:
Phần I: Lưu chuyển tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh phản ánh toàn bộ
dòng tiền thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như: tiền thu bán hàng, tiền thu từ các khoản thu thương mại, các chi phí bằng tiền như: tiền trả cho người cung cấp (trả ngay trong kỳ và tiền trả cho khoản
10
Trang 11nợ từ kỳ trước), tiền thanh toán cho công nhân viên về lương và BHXH, các chi phí khác bằng tiền ( chi phí văn phòng phẩm, công tác phí…).
Phần II: Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư: phản ánh toàn bộ dòng tiền thu
vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bao gồm: đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho bản thân doanh nghiệp như hoạt động XDCB, mua sắm TSCĐ, đầu tư vào các đơn vị khác dưới hình thức góp vốn liên doanh, đầu
tư chứng khoán, cho vay, đầu tư ngắn hạn và dài hạn Dòng tiền lưu chuyển được tính gồm toàn bộ các khoản thu do bán thanh lý TSCĐ, thu hồi các khoản đầu tư vào các đơn vị khác, chi mua sắm, xây dựng TSCĐ, chi để đầu tư vào đơn vị khác
Phần III: Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính: phản ánh toàn bộ dòng tiền
thu vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp Hoạt động tài chính bao gồm các nghiệp vụ làm tăng, giảm vốn kinh doanh của doanh nghiệp như chủ doanh nghiệp góp vốn, vay vốn, nhận vốn liên doanh, phát hành trái phiếu, cổ phiếu, trả nợ vay…Dòng tiền lưu chuyển được tính bao gồm toàn bộ các khoản thu, chi liên quan như tiền vay nhận được, tiền thu do nhận vốn góp liên doanh bằng tiền, do phát hành cổ phiếu, trái phiếu, tiền chi trả lãi cho các bên góp vốn, trả lãi cổ phiếu, trái phiếu bằng tiền…
1.2 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp[2;Tr70]
Để tiến hành phân tích khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp ta tiến hành phân tích khái quát lần lượt bảng Cân đối kế toán, bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và bảng lưu chuyển tiền tệ
1.2.1.1 Phân tích khái quát Bảng cân đối kế toán
Thông qua việc phân tích khái quát BCĐKT ta sẽ có cái nhìn bao quát ban đầu
về quy mô vốn mà doanh nghiệp đang sử dụng cũng như khả năng huy động vốn từ các nguồn khác nhau của doanh nghiệp Từ đó, xác định sự biến đổi nào là hợp lý ngược lại đâu là bất hợp lý để có phương án phân tích chi tiết và hoạch định những giải pháp trong quản lý và điều hành
Đầu tiên, phân tích khái quát tình hình tài sản: hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp phụ thuộc vào công tác phân bổ vốn mà cụ thể ở đây là việc lựa chọn tỷ trọng giữa tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn trong cơ cấu tổng tài sản
Trang 12Thứ hai, phân tích khái quát nguồn vốn: thông qua sự biến động của một số chỉ tiêu chung như tổng nguồn vốn, nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu để có được những đánh giá bước đầu về chính sách tài trợ của doanh nghiệp, khả năng tự tài trợ, mức độ tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.1.2 Phân tích khái quát bảng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Bảng KQHĐKD cho phép chúng ta đánh giá nhanh kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Tiếp đến ta tiến hành tìm hiểu và đánh giá hiệu quả các chỉ tiêu về doanh thu, chi phí, lợi nhuận…Kết hợp với việc so sánh các chỉ tiêu này qua các kỳ để thấy được trình độ quản lý và năng lực hoạt động của DN.Khi xem xét ý nghĩa của các mục khác nhau trên báo cáo KQHĐKD của một
DN, giá vốn hàng bán là khoản mục mà DN dùng cho việc sản xuất sản phẩm Con
số này bao gồm: chi phí nguyên vật liệu thô cũng như toàn bộ chi phí chế biến thành phẩm, gồm cả chi phí lao động trực tiếp Lấy doanh thu bán hàng trừ giá vốn hàng bán ta được lợi nhuận gộp
Loại chi phí quan trọng kế tiếp là chi phí hoạt động, nó bao gồm tiền lương nhân viên, tiền thuê, chi phí bán hàng và tiếp thị và những chi phí kinh doanh khác không trực tiếp quy vào chi phí sản xuất sản phẩm
Khấu hao được tính trong báo cáo KQHĐKD như một khoản chi phí, dù nó không liên quan đến các khoản thanh toán tiền mặt Khấu hao chỉ là cách ước tính việc giảm giá trị trang thiết bị theo thời gian Lấy lợi nhuận gộp trừ đi chi phí hoạt động và khấu hao ta được lợi nhuận hoạt động Tiếp đến là các khoản làm giảm trừ lợi nhuận kế toán trước thuế như: thuế thu nhập, thuế thu bởi Chính phủ…và kết quả sau cùng là lợi nhuận sau thuế (EAT)
Như vậy, cùng với bảng CĐKT thì bảng báo cáo KQHĐKD cũng đóng vai trò hết sức quan trọng để làm rõ tình hình và hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN
1.2.1.3 Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một trong ba loại văn bản quan trọng trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp Bởi lẽ, nó có thể cung cấp những thông tin quan trọng trong việc phân tích, đánh giá, dự báo khả năng tạo ra tiền, khả năng đầu tư, khả năng thanh toán, khả năng tạo ra các luồng tiền trong quá trình hoạt động của mỗi doanh nghiệp
12
Trang 13Qua việc phân tích báo cáo LCTT, cho chúng ta biết doanh nghiệp có bao nhiêu tiền vào đầu kỳ, còn lại bao nhiêu vào cuối kỳ và doanh nghiệp đã thu và chi bao nhiêu tiền trong khoảng thời gian cụ thể Báo cáo LCTT phản ánh tất cả các thay đổi về tiền tệ theo 3 hoạt động: kinh doanh, đầu tư và tài chính Tùy thuộc vào ngành nghề kinh doanh mà các dòng tiền thuần ở mỗi hoạt động cũng khác nhau.Đối với hoạt động kinh doanh thì dòng tiền phát sinh chủ yếu liên quan đến hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ và việc thanh toán các khoản nợ phải trả liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh Do vậy, các chỉ tiêu thuộc lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh thường bao gồm: tiền thu từ bán hàng, cung cấp dịch vụ và doanh thu khác, tiền trả nợ cho người cung cấp hàng hóa, dịch vụ, tiền trả cho người lao động, tiền đã nộp thuế…
Đối với hoạt động đầu tư thì dòng tiền phát sinh chủ yếu liên quan đến việc mua sắm, thanh lý, nhượng bán TSCĐ, xây dựng cơ bản, hoạt động cho vay, mua bán các công cụ nợ của đơn vị khác, hoạt động đầu tư vào các đơn vị khác Do vậy, chỉ tiêu thuộc lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư thường bao gồm: thu về thanh lý, nhượng bán TSCĐ, thu nợ cho vay, thu hồi các khoản đầu tư vào đơn vị khác, chi cho vay, chi mua sắm, chi đầu tư vào các đơn vị khác
Đối với hoạt động tài chính thì dòng tiền phát sinh chủ yếu liên quan đến các nghiệp vụ nhận vốn, rút vốn từ các chủ sở hữu và các nghiệp vụ đi vay, trả nợ vay
Do vậy, các chỉ tiêu thuộc lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính thường bao gồm: tiền thu do chủ sở hữu góp vốn, tiền chi trả vốn góp cho chủ sở hữu, tiền vay nhận được, tiền trả nợ vay…
Như vậy, khi tiến hành phân tích bảng LCTT ta lần lượt tìm hiểu các dòng tiền
ra và vào trong từng chỉ tiêu hoạt động ở mỗi thời đoạn cụ thể để đưa ra những nhận xét, đánh giá về cơ cấu tài chính của doanh nghiệp, khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản và cả khả năng thanh toán của doanh nghiệp Từ đó, càng làm rõ hơn nữa những đặc điểm trong tình hình tài chính của doanh nghiệp
1.2.2 Phân tích tình hình biến động, kết cấu của tài sản và nguồn vốn[3;Tr60] 1.2.2.1 Phân tích sự biến động và kết cấu của tài sản
Phân tích cơ cấu tài sản, ngoài việc so sánh tổng số tài sản cuối kỳ so với đầu kỳ còn phải xem xét tỷ trọng từng loại tài sản chiếm trong tổng số tài sản để thấy mức
Trang 14độ đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tùy theo từng loại hình hoạt động sản xuất kinh doanh để xem xét tỷ trọng từng loại tài sản là cao hay thấp Nếu là doanh nghiệp sản xuất thì cần phải có lượng dự trữ nguyên vật liệu đầy
đủ nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất sản phẩm Nếu là doanh nghiệp thương mại thì cần phải có lượng hàng hóa dự trữ đầy đủ để cung cấp cho nhu cầu bán ra…
Sau khi tìm hiểu về cơ cấu các loại tài sản ta tiến hành xem xét đến sự biến động của từng chỉ tiêu qua từng thời kỳ về cả giá trị lẫn tỷ trọng Từ đó, ta có thể thấy được sự tác động của từng loại tài sản lên quá trình kinh doanh và tình hình tài chính doanh nghiệp
Tài sản của doanh nghiệp bao gồm TSNH và TSDH:
TSNH: gồm tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính
ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác
Phân tích vốn bằng tiền và các khoản tương đương tiền nhằm mục đích đánh giá
tình hình quản lý vốn bằng tiền cũng như khả năng thanh toán của doanh nghiệp Nếu chỉ tiêu này tăng lên sẽ làm tăng khả năng thanh toán của doanh nghiệp và ngược lại Tuy nhiên, vốn bằng tiền ở một mức độ hợp lý là tốt, vì nếu quá cao sẽ làm cho hiệu quá sử dụng vốn không cao do ứ đọng vốn quá nhiều, nhưng quá thấp lại ảnh hưởng đến nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp
Đối với các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: nếu tăng lên thể hiện doanh
nghiệp ngoài đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh còn đầu tư cho lĩnh vực tài chính khác và ngược lại
Các khoản phải thu: là một loại tài sản của doanh nghiệp tính dựa trên tất cả các
khoản nợ, các giao dịch chưa thanh toán hoặc bất kỳ nghĩa vụ tiền tệ nào mà con nợ hay khách hàng chưa thanh toán cho doanh nghiệp Nếu khoản mục này tăng lên cho thấy công tác thu hồi nợ của doanh nghiệp chưa hiệu quả và doanh nghiệp cần tăng cường công tác thu hồi vốn, tránh tình trạng ứ đọng và sử dụng vốn không hiệu quả Nếu các khoản phải thu giảm thì chứng tỏ doanh nghiệp đã tích cực thu hồi các khoản nợ phải thu, giảm bớt được hiện tượng ứ đọng vốn trong khâu thanh toán làm cho việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn
Hàng tồn kho là giá trị toàn bộ hàng hóa, nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ,
thành phẩm hoặc bán thành phẩm mà doanh nghiệp có tại thời điểm cuối kỳ
14
Trang 15Hàng tồn kho nếu giảm do sản phẩm, hàng hóa giảm chứng tỏ sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp có chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường Nếu tăng doanh nghiệp phải xem xét lại sản phẩm hàng hóa của mình có phù hợp với nhu cầu thị trường không.
TSDH: gồm các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tư,
các khoản đầu tư tài chính dài hạn và tài sản dài hạn khác
Về TSCĐ của doanh nghiệp: nếu tăng lên thể hiện cơ sở vật chất kỹ thuật của
doanh nghiệp được tăng cường, quy mô vốn về năng lực sản xuất được mở rộng và
xu hướng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có chiều hướng tốt
Chi phí XDCB: nếu tăng lên thể hiện doanh nghiệp đầu tư thêm công trình
XDCB dở dang, nếu giảm thể hiện một số công trình XDCB đã hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng làm tăng giá trị TSCĐ Tuy nhiên, nếu không mở rộng quy
mô nhưng lại mở rộng xây dựng thêm thì đây lại là dấu hiệu không tốt, vì doanh nghiệp đang bị ứ đọng vốn không đưa được vốn vào quá trình sản xuất kinh doanh
Đầu tư dài hạn của doanh nghiệp phản ánh các khoản đầu tư vào công ty con,
góp vốn liên doanh, liên kết…Nếu chỉ tiêu tăng thì đây là xu hướng tốt vì sẽ tạo ra nguồn lợi tức lâu dài cho doanh nghiệp
Bên cạnh việc phân tích cơ cấu tài sản, chúng ta cần phân tích cơ cấu nguồn vốn nhằm biết được khả năng tự tài trợ về mặt tài chính của doanh nghiệp cũng như mức độ độc lập, tự chủ trong kinh doanh hay những khó khăn mà doanh nghiệp phải đương đầu
1.2.2.2 Phân tích sự biến động và kết cấu của nguồn vốn
Khi phân tích ta tiến hành so sánh tổng nguồn vốn ở đầu kỳ so với cuối kỳ, xác định tỷ trọng từng loại nguồn vốn và xu hướng biến động tăng (giảm) từng loại Nếu nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao trong tổng số nguồn vốn thì doanh nghiệp có khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính và mức độ độc lập của doanh nghiệp đối với các chủ nợ là cao và ngược lại, nếu công nợ phải trả chiếm chủ yếu trong tổng số nguồn vốn thì khả năng đảm bảo về mặt tài chính của DN sẽ thấp
• Nợ phải trả: phân tích nợ phải trả nhằm đánh giá sự biến động tăng (giảm) trong cơ
cấu và tính chất các khoản nợ Từ đó, thấy được nguyên nhân và kế hoạch trả nợ, tình hình trả nợ của doanh nghiệp Trong cơ cấu nợ phải trả bao gồm: nợ ngắn hạn
Trang 16và nợ dài hạn Nếu nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn và ngày càng tăng qua các năm thì đây là một dấu hiệu không tốt, ảnh hưởng đến tình hình tài chính và khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Nợ ngắn hạn bao gồm: vay nợ ngắn hạn, phải trả người bán, nợ người lao động,
các khoản phải nộp NSNN…
Nếu nợ người lao động tăng là dấu hiệu không tốt cho thấy DN chưa quan tâm đến đời sống nhân viên làm ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh Các khoản phải nộp NSNN tăng cũng là dấu hiệu xấu cho thấy DN chưa thực hiện tốt các quy định của pháp luật
Nợ dài hạn bao gồm: vay và nợ dài hạn, dự phòng trợ cấp mất việc làm Nếu nợ
dài hạn chiếm tỷ trọng lớn và ngày càng tăng cũng chưa phải là một dấu hiệu tốt Một mặc nó cho thấy trong hiện tại DN có thể tận dụng nguồn vay nợ để tiến hành hoạt động kinh doanh sinh lời, có thể tận dụng đòn bẩy tài chính để mang lại hiệu quả cao Tuy nhiên, với nguồn vốn vay lớn và kéo dài như vậy sẽ gây khó khăn trong việc thanh toán lãi vay của DN, vì khi đó DN sẽ phải chiụ một lãi suất lớn hơn để trả lãi vay trong một thời gian dài Như vậy, tùy thuộc vào mức độ hoạt động, khả năng sinh lời và khả năng huy động vốn mà DN nên lựa chọn cơ cấu vay
nợ sao cho thích hợp nhất vừa tận dụng đòn bẩy tài chính vừa tốn ít chi phí sử dụng vốn
• Vốn chủ sở hữu: nếu vốn chủ sở hữu tăng lên về số tuyệt đối lẫn tỷ trọng thì được
đánh giá là tích cực bởi vì tình hình tài chính của doanh nghiệp biến động theo xu hướng tốt, nó biểu hiện qua KQSXKD tích lũy từ nội bộ phát triển thông qua việc
bổ sung vốn từ lợi nhuận sau thuế và quỹ phát triển kinh doanh Tuy nhiên, nếu nguồn vốn CSH tăng lên phần lớn là do các cổ đông góp thêm thì đây lại là một dấu hiệu không tốt Cho thấy trong kỳ DN kinh doanh không hiệu quả và phải cần sự đóng góp chung của các cổ đông để duy trì hoạt động Ngược lại, nếu nguồn VCSH giảm do nguồn vốn tự bổ sung giảm Đây là biểu hiện không tốt, chứng tỏ hiệu quả SXKD của doanh nghiệp gặp khó khăn
1.2.2.3 Mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cũng đều cần có một lượng vốn nhất định Lượng vốn đó được thể hiện dưới dạng
16
Trang 17vật chất hoặc phi vật chất và được đo lường bằng thước đo tiền tệ gọi là tài sản Mặt khác lượng vốn đó được hình thành từ một hoặc nhiều nguồn khác nhau gọi là nguồn vốn Một tài sản có thể do một hay nhiều nguồn vốn hình thành, ngược lại một nguồn vốn có thể tham gia hình thành một hoặc nhiều tài sản Do đó, về mặt lượng tại bất kể thời điểm nào, tổng giá trị tài sản và tổng giá trị nguồn vốn của một đơn vị kế toán cũng luôn bằng nhau Sự cân bằng giữa tài sản và nguồn vốn được thể hiện qua phương trình kế toán:
mà còn đáp ứng một phần cho TSNH thì đây cũng chưa chắc là một dấu hiệu tốt Bởi lẽ nếu trong TSNH, các khoản phải thu chiếm tỷ trọng lớn thì trong tình thế này doanh nghiệp đang bị chiếm dụng vốn Vì vậy, việc lựa chọn một chính sách tài trợ vốn hợp lý là một trong những vấn đề quan trọng và cấp thiết của các doanh nghiệp
1.2.3 Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán
1.2.3.1 Các khoản phải thu và các khoản phải trả[3;Tr80]
a) Các khoản phải thu:
Nhóm tài khoản này dùng để phản ánh các khoản nợ phải thu và tình hình thanh toán các khoản nợ phải thu của khách hàng; của cấp trên hoặc cấp dưới trong nội bộ doanh nghiệp; của cá nhân, tập thể (trong và ngoài doanh nghiệp), và thuế GTGT được khấu trừ các khoản phải thu bao gồm: phải thu khách hàng, thuế GTGT được khấu trừ, phải thu nội bộ, phải thu khác, dự phòng phải thu khó đòi
Trang 18Các khoản phải thu thực chất là đồng vốn mà doanh nghiệp bị đối tác (có thể là khách hàng hoặc nhà cung cấp) chiếm dụng, vì thế về nguyên tắc quy mô các khoản phải thu sẽ càng nhỏ càng tốt.
Quy mô tính chất các khoản phải thu sẽ thấp, bán buôn phải thu cao hơn , phụ thuộc vào từng doanh nghiệp khác nhau, chính sách bán hàng của họ trong từng thời kỳ (tăng trưởng để chiếm thị phần hay duy trì thị phần đảm bảo hoạt động ổn định an toàn)
Thông thường hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp càng mở rộng, quy mô các khoản phải thu càng tăng lên và ngược lại Để xem xét tương quan giữa 2 chỉ tiêu này chúng ta dùng tỷ số vòng quay các khoản phải thu Nếu quy mô các khoản phải thu tăng lên nhưng vòng quay các khoản phải thu vẫn như cũ hoặc lên thì số ngày phải thu sẽ giảm xuống chứng tỏ tình hình quản lý công nợ tốt, sản phẩm được tiêu thụ dễ dàng hơn Ngược lại, nếu doanh nghiệp có quy mô các khoản phải thu tăng trong khi doanh thu quy mô kinh doanh không tăng, như vậy, tình hình kinh doanh của khách hàng có nhiều biến đổi hoặc có những thay đổi trong chính sách bán hàng
b) Các khoản phải trả:
Loại tài khoản này dùng để phản ánh các khoản nợ phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh mà doanh nghiệp phải trả, phải thanh toán cho các chủ nợ, bao gồm các khoản nợ tiền vay, các khoản nợ phải trả cho người bán, cho Nhà nước, cho công nhân viên và các khoản phải trả khác và được coi là nguồn vốn của doanh nghiệp Nguồn vốn này bao gồm: Nguồn vốn do đi vay và nguồn vốn trong thanh toán nguồn vốn do đi vay gồm các khoản tiền doanh nghiệp vay của ngân hàng hay vay các đối tượng khác với những cam kết hay điều kiện nhất định Nguồn vốn trong thanh toán gồm các khoản mà doanh nghiệp tạm thời chiếm dụng và sử dụng trong thời gian chưa đến hạn trả tiền cho chủ nợ như: tiền thuế phải nộp cho nhà nước, tiền mua hàng, tiền lương và các khoản phải trả công nhân viên phải trả nội bộ
18
Trang 191.2.3.2 Phân tích khả năng thanh toán[1;Tr85]
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát là mối quan hệ giữa Tổng tài sản mà doanh nghiệp hiện đang quản lý sử dụng với Tổng số nợ mà doanh nghiệp phải trả
Hệ số thanh toán
Tổng tài sảnTổng nợ phải trả
Nếu hệ số này bằng 1 là báo hiệu sự phá sản của doanh nghiệp, vì đồng nghĩa
là toàn bộ tài sản của doanh nghiệp được trang trải bằng nguồn nợ vay (vay ngắn hạn và dài hạn) mà không có vốn CSH Nếu bán toàn bộ tài sản hiện có sẽ không đủ trả số nợ doanh nghiệp phải thanh toán
Hệ số khả năng thanh toán hiện hành
Một trong những thước đo khả năng thanh toán của doanh nghiệp được sử dụng rộng rãi nhất là khả năng thanh toán hiện hành
Hệ số thanh toán hiện
Tổng tài sản ngắn hạnTổng nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán hiện hành cho biết doanh nghiệp có bao nhiêu TSNH có thể chuyển đổi để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Khi tỷ số này có giá trị cao cho thấy doanh nghiệp có khả năng thanh khoản cao Tuy nhiên,
tỷ số này quá cao lại chưa chắc tốt Bởi lẽ, doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào TSNH, rất có thể là doanh nghiệp dự trữ quá nhiều tiền mặt hoặc bị chiếm dụng vốn quá nhiều…Do đó, làm cho hiệu quả kinh doanh không được thuận lợi
Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Khả năng thanh toán nhanh được tính toán dựa trên những TSNH có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, bao gồm các tài sản ngắn hạn trừ đi hàng tồn kho
Hệ số thanh toán
Tài sản ngắn hạn – Dự trữTổng nợ ngắn hạn
Trang 20Hệ số khả năng thanh toán nhanh cho biết khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và sắp đến hạn của doanh nghiệp mà không phụ thuộc vào việc bán tài sản
dự trữ Nhìn chung, hệ số này quá nhỏ thì doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ và rất có thể doanh nghiệp buộc phải bán tài sản với các điều kiện bất lợi để trả được nợ
Hệ số khả năng thanh toán bằng tiền
Đây là hệ số thể hiện mối quan hệ giữa vốn bằng tiền so với tổng nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán bằng tiền = Tiền
Nợ ngắn hạn
Hệ số này cao là tốt Tuy nhiên, quá cao thì lại xấu bởi lẽ doanh nghiệp dự trữ quá nhiều tiền mặt gây nên ứ đọng vốn nhiều làm giảm hiệu quả sử dụng vốn
Khả năng thanh toán lãi vay
Lãi vay hàng năm là chi phí tài chính cố định và để muốn biết hiệu quả sử dụng
số vốn vay này như thế nào ta đi tìm hiểu hệ số khả năng thanh toán lãi vay
Hệ số thanh toán lãi vay = Thu nhập trước thuế và trả lãi
Chi phí trả lãi1.2.4. Phân tích các chỉ tiêu phản ánh khả năng hoạt động[1;Tr88]
Số vòng quay hàng tồn kho
Số vòng quay HTK là số lần bình quân HTK luân chuyển trong kỳ Đây là một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Số vòng quay HTK càng cao thì việc kinh doanh được đánh giá càng tốt
Số vòng quay hàng
Giá vốn hàng bánHàng tồn kho bình quân Nếu số vòng quay dự trữ năm nay thấp hơn năm trước và thấp hơn trung bình ngành Điều này, chứng tỏ sự bất hợp lý và kém hiệu quả trong hoạt động quản lý
dự trữ của doanh nghiệp
Số ngày một vòng quay hàng tồn kho
Phản ánh số ngày trung bình một vòng quay HTK
Số ngày trong kì
20
Trang 21Số ngày một vòng quay
hàng tồn kho = Số vòng quay hàng tồn kho trong kì
Số ngày trong một năm thường là 360 ngày
Kỳ thu tiền bình quân
Kỳ thu tiền bình quân là số ngày bình quân mà một đồng hàng hóa bán ra được thu hồi Tỷ số này dùng để đo lường hiệu quả và chất lượng quản lý khoản phải thu
Kì thu tiền bình quân = Số dư bình quân các khoản phải thu
Doanh thu bình quân một ngày
Doanh thu bình quân một ngày = Doanh thu thuần
360
Kỳ thu tiền bình quân càng thấp là càng tốt, chứng tỏ doanh nghiệp không bị chiếm dụng vốn nhiều, không bị ứ đọng vốn trong khâu thanh toán, ít có những khoản nợ khó đòi Ngược lại, nếu tỷ số này cao doanh nghiệp cần phải phân tích chính sách bán hàng để tìm ra nguyên nhân tồn đọng nợ Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp DN muốn chiếm lĩnh thị trường thông qua bán hàng trả chậm cũng làm cho tỷ số này tăng cao nhưng vẫn được xem là hiệu quả
Số vòng quay các khoản phải thu: Là một trong những tỷ số tài chính để
đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Nó cho biết các KPTh phải quay bao nhiêu vòng trong một kỳ báo cáo nhất định để đạt được doanh thu trong kỳ đó
Vòng quay các khoản
Doanh thu thuầnCác khoản phải thu bình quân
Vòng quay toàn bộ tổng tài sản
Chỉ tiêu này đo lường một đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
Trang 22Hiệu suất sử dụng toàn bộ
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Tỷ số này cho biết một đồng nguyên giá TSCĐ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu Qua đó, đánh giá được hiệu quả sử dụng TSCĐ ở doanh nghiệp
Hiệu suất sử dụng TSCĐ = Nguyên giá TSCĐ BQDoanh thu thuần
để ấn định mức lãi vay cho doanh nghiệp Các nhà đầu tư sẽ đánh giá được rủi ro tài chính của doanh nghiệp để từ đó ra quyết định đầu tư Về phía bản thân doanh nghiệp thì có thể căn cứ vào đó để lựa chọn một cơ cấu vốn hợp lý
22
Trang 23HN = Nợ phải trả x100%
Tổng tài sản
HCSH = Vốn chủ sở hữuTổng tài sản x100%
Hệ số nợ cho biết trong một đồng vốn kinh doanh có bao nhiêu được hình thành
từ vay nợ bên ngoài
Hệ số vốn chủ sở hữu lại đo lường lượng đóng góp của VCSH trong tổng vốn hiện nay của doanh nghiệp Vì vậy còn được gọi là Hệ số tự tài trợ
Cơ cấu tài sản
Đây là một dạng tỷ suất phản ánh trong một đồng vốn kinh doanh thì doanh nghiệp dành bao nhiêu để hình thành TSNH còn bao nhiêu để đầu tư vào TSDH
Tỷ suất đầu tư vào tài sản
Cơ cấu đầu tư của doanh
Tài sản ngắn hạn
x 100%
Tài sản dài hạn
1.2.6.Phân tích các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi [1;Tr94]
Tỷ số lợi nhuận thuần trên doanh thu hay doanh lợi doanh thu (DLDT)
Tỷ số này phản ánh quan hệ giữa lợi nhuận và doanh thu nhằm cho biết một đồng doanh thu tạo ra được bao nhiều đồng lợi nhuận sau thuế
Doanh lợi doanh thu = Lợi nhuận sau thuế x 100%
Doanh thu thuần
Tỷ số sinh lời căn bản
Trang 24Tỷ số sinh lời căn bản phản ánh khả năng sinh lời trước thuế và lãi của doanh nghiệp Nó cho biết bình quân cứ mỗi 100 đồng tài sản của doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế và lãi Tỷ số này phản ánh khả năng sinh lời căn bản chưa kể đến ảnh hưởng của thuế và đòn bẩy tài chính cho nên thường được sử dụng để so sánh khả năng sinh lợi trong trường hợp các doanh nghiệp có thuế suất thuế thu nhập và mức độ sử dụng nợ rất khác nhau.
Tổng tài sản bình quân
Tỷ số doanh lợi tài sản
Tỷ số doanh lợi tài sản phản ánh khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp Tỷ số này cho biết bình quân cứ 100 đồng tài sản của doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản bình quân
Tỷ số lợi nhuận thuần trên vốn chủ sở hữu
Tỷ số này đo lường mức lợi nhuận trên mức đầu tư của các chủ sở hữu Đây là
tỷ số mà các nhà đầu tư rất quan tâm bởi nó phản ánh thu nhập mà họ nhận được khi đầu tư vốn vào doanh nghiệp Tỷ số này cho biết bình quân mỗi 100 đồng vốn CSH của doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận dành cho cổ đông
ROE = Lợi nhuận sau thuế x 100%
Vốn chủ sở hữu BQ
1.3 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến tình hình tài chính của DN[1;Tr23]
Quản trị tài chính ở những doanh nghiệp khác nhau đều có những điểm khác nhau Sự khác nhau đó do ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố như: sự khác biệt về hình thức pháp lý, tổ chức doanh nghiệp, đặc điểm kinh tế kĩ thuật của ngành kinh doanh, môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
1.3.1 Hình thức pháp lý của tổ chức doanh nghiệp
Những đặc điểm riêng về mặt hình thức pháp lý tổ chức giữa các doanh nghiệp
có ảnh hưởng lớn đến quản trị tài chính doanh nghiệp như việc tổ chức huy động vốn, sử dụng vốn kinh doanh và việc phân phối kết quả kinh doanh của DN
1.3.2 Đặc điểm kinh tế kĩ thuật của ngành kinh doanh
24
Trang 25Đặc điểm kinh tế kĩ thuật của ngành kinh doanh có ảnh hưởng không nhỏ tới quản trị tài chính doanh nghiệp Mỗi ngành kinh doanh có những đặc điểm về kinh tế- kĩ thuật khác nhau Những ảnh hưởng đó thể hiện:
- Ảnh hưởng của tính chất ngành kinh doanh: ảnh hưởng này thể hiện trong
thành phần và cơ cấu vốn kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới quy mô của vốn sản xuất kinh doanh, cũng như tỷ lệ thích ứng để hình thành và sử dụng chúng
Do đó, có ảnh hưởng đến tốc độ luân chuyển, ảnh hưởng đến phương pháp đầu tư, thể thức thanh toán chi trả
- Ảnh hưởng của tính thời vụ và chu kì sản xuất kinh doanh: ảnh hưởng trước
hết đến nhu cầu vốn sử dụng và doanh thu tiêu thụ sản phẩm Những doanh nghiệp sản xuất có chu kì ngắn thì nhu cầu VLĐ giữa các thời kì trong năm thường không
có biến động lớn, doanh nghiệp cũng thường xuyên thu được tiền bán hàng Điều
đó, giúp doanh nghiệp dễ dàng đảm bảo cân đối giữ thu và chi bằng tiền, cũng như trong việc tổ chức đảm bảo nguồn vốn cho nhu cầu kinh doanh Doanh nghiệp hoạt động trong các ngành sản xuất có tính chất thời vụ thì nhu cầu vốn lưu động giữa các quý trong năm thường có sự biến động lớn, tiền thu về bán hàng cũng không được đều, tình hình thanh toán chi trả cũng thường gặp khó khăn hơn
1.3.3 Môi trường kinh doanh
Bất cứ một doanh nghiệp nào cũng hoạt động trong một môi trường kinh doanh nhất định Môi trường kinh doanh bao gồm tất cả những điều kiện bên ngoài ảnh hưởng tới hoạt động của doanh nghiệp Môi trường kinh doanh có tác động mạnh
mẽ tới mọi hoạt động của doanh nghiệp trong đó có hoạt động tài chính
- Môi trường kinh tế
- Môi trường pháp lí
- Môi trường kĩ thuật công nghệ, môi trường thông tin
- Môi trường hợp tác, hội nhập kinh tế quốc tế
- Các môi trường đặc thù
Tóm lại, các nhân tố ảnh hưởng trên đây tác động tới hoạt động quản trị tài chính doanh nghiệp từ nhiều góc độ khác nhau Sự nhận biết đầy đủ các ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực của các nhân tố đó được coi như một điều kiện tiên quyết để
tổ chức tốt hoạt động quản trị tài chính doanh nghiệp
Trang 27CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TNHH MTV TƯ VẤN VÀ XÂY DỰNG ĐỨC LONG2.1 Giới thiệu chung về công ty TNHH MTV tư vấn và xây dựng Đức Long 2.1.1 Giới thiệu về công ty
Tên công ty: Công ty TNHH MTV Tư vấn và xây dựng Đức Long.
Giám đốc: Nguyễn Đức Long
Công ty TNHH MTV tư vấn và xây dựng Đức Long được thành lập theo loại hình Trách Nhiệm Hữu Hạn Một Thành Viên, Công ty được thành lập vào năm
2007, có tư cách pháp nhân, có tài khoản tại ngân hàng và có con dấu riêng, có giấy phép kinh doanh cấp ngày 28/3/2007 với mã số thuế 4300653889 Người đại diện Pháp Luật là ông Nguyễn Đức Long, công ty TNHH MTV Tư vấn và xây dựng Đức Long hoạt động theo quy định và giám sát của luật pháp Việt Nam
Trong suốt những năm qua kể từ ngày thành lập cho đến nay, công ty đã vượt qua không ít những khó khăn, trở ngại Để từ đó, công ty không ngừng đổi mới, nâng cao năng suất hoạt động, nhằm tiến tới sự phát triển chung cho toàn công ty Bên cạnh đó, công ty không ngừng khuyến khích nâng cao tay nghề của cán bộ công nhân viên có năng lực, nhằm đào tạo cho công ty một bộ phận cán bộ công nhân viên lành nghề và giàu kinh nghiệm, giúp công ty nắm bắt tình hình và sự biến động của thị trường, để từ đó công ty sẽ đưa những chiến lược kế hoạch áp dụng để công ty có thể tồn tại và phát triển tốt hơn
Do đó, trong những năm qua công ty đã tạo ra được nhiều uy tín của mình trên thị trường, thu hút được khá nhiều sự hơp tác của khách hàng Bên cạnh đó, để mở rộng quy mô hoạt động, công ty đã nhận được sự tin cậy từ phía khách hàng, thông qua những bản hợp đồng lớn, kí kết về việc thiết kế và tư vấn, lắp đặt các dự án bảo
Trang 28vệ môi trường Để có được những thành quả này, ngoài việc tổ chức tốt quản lý và
sự điều hành của các phòng ban giám đốc Công ty cũng cần quan tâm đặc biệt đến những sự biến động của bên ngoài, tác động đến nguồn tài chính làm ảnh hưởng đến doanh thu và kế hoạch hoạt động của công ty
2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ và tính chất hoạt động của công ty
2.1.3.1 Chức năng
Tư vấn thiết kế và thi công: công ty tư vấn và xây dựng các công trình cấp
thoát nước, công trình dân dụng, hệ thống xử lý nước sạch, nước thải, xử lý chất thải nguy hại, xử lý khí thải, bụi, hơi hóa chất
Cung cấp: với chức năng này thì công ty chuyên cung cấp hóa chất, máy
móc, thiết bị xử lý ô nhiễm môi trường; bảo trì, sửa chữa, vận hành hệ thống xử lý môi trường, đồ gia dụng, điện tử, điện lạnh…
2.1.3.2 Nhiệm vụ
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp khi thành lập thì đều phải chấp hành và tuân thủ theo quy định của pháp luật, và hoạt động kinh doanh trong sự cho phép của luật pháp được áp dụng tại các quốc gia trên toàn thế giới Mỗi một quốc gia đều có luật pháp riêng cho nước mình Đây cũng là quy định mà luật pháp Việt Nam đưa ra
để áp dụng đối với tất cả các cá nhân nói riêng, và đối với các doanh nghiệp đang hoạt động tại quốc gia Việt Nam là luôn chấp hành những quy định của pháp luật,
và hoạt động trong sự khuôn khổ của luật pháp Việt Nam
Các doanh nghiệp phải luôn hoàn thành tốt nghĩa vụ trách nhiệm đối với nhà nước, đối với cộng đồng xã hội
Ngoài ra, các DN cũng không ngừng đào tạo, bồi dưỡng tay nghề, nâng cao uy tín trách nhiệm ý thức tự giác của công nhân viên trong bộ phận quản lý
Tổ chức sản xuất hợp lý, nâng cao năng suất lao động, nghiên cứu các biện pháp
kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm và đảm bảo đời sống của người lao động, góp phần tạo nên sự ổn định cho cuộc sống của các anh, chị, em trong công ty
2.1.4 Cơ cấu tổ chức sản xuất và cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty TNHH MTV tư vấn và xây dựng Đức Long
28
Trang 292.1.4.1 Cơ cấu tổ chức sản xuất
Cơ cấu tổ chức sản xuất của công ty được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức sản suất của công ty.
: Quan hệ chỉ đạo
(Nguồn: Phòng Tổ chức – Hành chính)
Công ty: Trực tiếp chỉ đạo cho từng bộ phận sản xuất.
Bộ phận sản xuất trực tiếp: Gồm các máy móc và công nhân trực tiếp sản xuất, điều
khiển máy móc thiết bị sản xuất Bộ phận này trực tiếp sản xuất ra sản phẩm theo sự chỉ đạo của bộ phận quản lý doanh nghiệp
Bộ phận quản lý gián tiếp: Có nhiệm vụ chỉ đạo quản lý sản xuất cũng như quản lý
tài sản công trình, kịp thời phát hiện sai sót trong quá trình thi công, giải quyết những vướng mắc liên quan tới công trình nhằm đề ra những biện pháp hữu hiệu để tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng công trình
2.1.4.2 Cơ cấu tổ chức của công ty
Giám đốc
Phòng Kỹ thuật-Vật tư-Thiết bị
Phòng Kế toánPhòng Tổ chức-Hành chínhCác đội thi công
Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức của công ty
Công ty
Bộ phận sản xuất gián tiếp
Bộ phận phụ trách kỹ thuật
Bộ phận phụ trách phục vụ
Phó Giám đốc
Trang 30: Quan hệ trực tuyến
(Nguồn: Phòng Tổ chức - Hành chính)
• Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban
- Giám Đốc: Là người đứng đầu công ty, có trách nhiệm quản lý, điều hành mọi hoạt
động sản xuất kinh doanh của công ty, chịu trách nhiệm trước các cơ quan chức năng, trước các nhà đầu tư, và trước cán bộ công nhân viên trong toàn công ty về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Vì vậy giám đốc có các quyền và nhiệm vụ sau:
+ Quyết định về tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động hàng ngày của công ty.+ Tổ chức thực hiện các quy định của công ty
+ Kiến nghị phương án bố trí cơ cấu tổ chức và quy chế quản lý nội bộ công ty.+ Bổ nhiệm, bãi nhiệm, cách chức các chức danh quản lý trong công ty
+ Các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật, điều lệ và quy định của công ty
- Phó Giám đốc: Có chức năng tham mưu giúp Giám đốc điều hành một số lĩnh vực
hoạt động của Công ty Phó Giám đốc công ty chịu trách nhiệm trước Giám đốc, trước pháp luật về các nhiệm vụ đã thực thi
- Phòng Kỹ thuật – Vật tư – Thiết bị (KT-VT-TB): Chỉ đạo các đơn vị trong
công ty thực hiện đúng quy trình, quy phạm KT, thường xuyên giám sát, hướng dẫn các đơn vị thực hiện đúng hồ sơ thiết kế được duyệt, đảm bảo đúng chất lượng
Tổ chức nghiệm thu vật tư, sản phẩm, công trình với các tổ đội sản xuất theo quy định của công ty, của chủ đầu tư Trên cơ sở đó xác định chất lượng, khối lượng tháng, quý theo điểm dừng kỹ thuật
Trên cơ sở nhiệm vụ kế hoạch sản xuất hàng tháng, quý của các đơn vị, lập kế hoạch cho sản xuất và trực tiếp mua sắm các vật tư chủ yếu phục vụ cho sản xuất đảm bảo chất lượng, kịp tiến độ
30
Trang 31Quản lý điều phối mọi nguồn vật tư, thiết bị, phụ tùng trong toàn công ty.
- Phòng Kế toán: Tham mưu về tài chính cho Giám đốc Công ty, thực hiện
công tác kế toán thống kê và tổ chức bộ máy kế toán phù hợp, phản ánh trung thực kịp thời tình hình tài chính, thực hiện nhiệm vụ kiểm tra kiểm soát giúp Giám đốc soạn thảo hợp đồng, giao khoán chi phí sản xuất cho các đội sản xuất
- Phòng Tổ chức – Hành chính: Tham mưu cho Giám Đốc về vấn đề tổ chức
lao động của công ty, quản lý sử dụng lao động và tiền lương, thực hiện các chính sách xã hội đối với người lao động, công tác bảo hộ lao động Ngoài ra còn thực hiện các công việc hành chính như mua văn phòng phẩm, văn thư, y tế, hội nghị tiếp khách Đồng thời là nơi nhận công văn, giấy tờ, giữ con dấu của công ty
2.1.5 Công nghệ sản xuất sản phẩm tại công ty TNHH MTV tư vấn và xây dựng Đức Long
Đối với sản phẩm của công ty: Các công trình giao thông, thủy điện, dân dụng công nghiệp làm công việc như: đắp đập, xây lắp các công trình nhà cửa, cầu cống,
hồ chứa nước, đường giao thông… Mỗi công việc đều có quy trình sản xuất, các bước công việc và lực lượng thi công riêng Phương pháp thi công thực hiện theo dây chuyền bắt buộc, theo đúng kế hoạch về thời gian, đúng tiến độ thi công của công việc Sản phẩm của công ty chính là các hạng mục công trình Quá trình sản xuất của một công trình diễn ra theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.3: Thể hiện quá trình sản xuất của một công trình
Trang 32- Công trường thi công ngoài trời nên chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên
Vì vậy nó ảnh hưởng đến thời gian tiến hành thi công của công trình Ngoài ra công tác xây dựng và quản lý chịu tác động của nhiều bên như: nhà đầu tư, cơ quan tư vấn, nhà thầu thi công, cơ quan giám sát và chính quyền địa phương tại nơi công trình thi công
2.1.6 Các lĩnh vực hoạt động kinh doanh của công ty
- Tư vấn và xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp, thủy lợi, giao thông (cầu cống, đường…)
- Tư vấn và xây dựng công trình đường ống cấp thoát nước
- Mua bán vật liệu xây dựng: xi măng, sắt, gạch, ngói, cát, sỏi
- Khai thác đất, cát, đá, làm vật liệu xây dựng thông thường
Lắp đặt
hệ thống trong và ngoài công trình
Công tác làm máy, lắp ráp và hoàn thành
Công tác sản xuất lắp đặt các cấu kiện sắt thép
Công tác xây dựng lắp đặt các vật liệu kiến trúc
Công tác
đổ bê tông
Công tác
xây đá
gạch
Trang 33- Đại lý mua, bán, ký gửi hàng hoá
- Gia công cơ khí
- Bán buôn tổng hợp
- Bán lẻ trong các cửa hàng kinh doanh tổng hợp
Công ty hiện nay đang tập trung lớn vào lĩnh vực lập dự án đầu tư, tư vấn thiết
kế công trình công nghiệp, dân dụng, thuỷ lợi và tư vấn quản lý dự án, giám sát thi công công trình xây dựng Đây có thể coi là các lĩnh vực mũi nhọn, được công ty đầu tư và có uy tín cao trong thị trường xây dựng Cùng với sự phát triển ngày càng
đa dạng của thị trường, công ty đang có kế hoạch chuyển hướng hoạt động theo chiều rộng, phát triển nhiều lĩnh vực, trong đó có một số lĩnh vực khá mới đối với công ty mặc dù đã có mặt trong giấy phép đăng ký kinh doanh như kinh doanh bất động sản, cho thuê nhà, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng Xu hướng này là một lối đi đúng đắn không chỉ giúp công ty khẳng định hơn nữa chỗ đứng trong thị trường xây dựng mà công ty còn có cơ hội thu được nguồn lợi nhuận dồi dào từ việc phát triển các lĩnh vực hiện nay đang rất được ưa chuộng
2.1.7 Kết quả kinh doanh của công ty trong những năm gần đây
Từ bảng KQHĐKD cho phép chúng ta đánh giá nhanh kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Tiếp đến ta tiến hành tìm hiểu và đánh giá hiệu quả các chỉ tiêu về doanh thu, chi phí, lợi nhuận…Kết hợp với việc so sánh các chỉ tiêu này qua các kỳ để thấy được trình độ quản lý và năng lực hoạt động của doanh nghiệp Công ty TNHH MTV tư vấn và xây dựng Đức Long không nằm ngoài quy luật đó Vì vậy, để hiểu được tình hình doanh thu, lợi nhuận ở Công ty TNHH MTV
tư vấn và xây dựng Đức Long, ta xem xét bảng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty qua bảng KQHĐKD dưới đây
Bảng 2.1: Bảng báo cáo kết quả kinh doanh qua các năm (2011 – 2014)
(ĐVT: đồng)
1 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 3.697.504.673 3.567.085.454 4.596.565.454
2 Các khoản giảm trừ doanh thu
3 Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ 3.697.504.673 3.567.085.454 4.596.565.454
4 Giá vốn hàng bán 3.268.040.597 2.986.425.836 4.076.137.763
5 Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ 429.464.076 580.659.618 520.427.691
Trang 346 Doanh thu hoạt động tài chính 1.700.570 1.209.281
-Trong đó: chi phí lãi vay 146.294.445 128.155.806 133.765.358
8 Chi phí quản lý kinh doanh 266.513.923 429.271.638 383.375.203
9 Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh 18.356.278 24.441.455 3.287.130
11 Chi phí khác
13 Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 18.356.278 24.441.455 4.868.598
14 Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp 4.589.070 6.110.364 852.005
Do không có các khoản giảm trừ doanh thu nên doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ bằng với doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ Do đó, ta chỉ nhận xét dựa trên một loại doanh thu đó là doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Doanh thu về bán hàng và cung cấp dịch vụ giảm vào năm 2013 nhưng năm 2014 lại tăng lên Cụ thể: năm 2012, doanh thu BH & CCDV là 3.697.504.673 đồng, đến năm 2013 giảm còn 3.567.085.454 đồng Sang đến năm 2014, doanh thu về BH & CCDV tăng lên đạt 4.596.565.454 đồng
Chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí tài chính qua 3 năm tăng cao đã làm cho lợi nhuận trước thuế của công ty giảm mạnh Năm 2012, lợi nhuận trước thuế của Công ty là 18.356.278 đồng, năm 2013 con số này là 24.441.455 đồng, và đến năm 2014 con số này chỉ còn 4.868.598 đồng
Lợi nhuận sau thuế của công ty năm qua 3 năm giảm rõ rệt, đáng chú ý là năm
2014 Đây là năm mà lợi nhuận công ty giảm mạnh nhất chỉ còn 4.016.593 đồng, giảm 78,09% so với năm 2013
34
Trang 35Tóm lại, từ năm 2012-2014 tình hình kinh doanh của công ty tăng trưởng không
ổn định được thể hiện qua lợi nhuận của công ty đã giảm đi đáng kể
2.2 Phân tích tình hình tài chính tại Công ty TNHH MTV tư vấn và xây dựng Đức Long
2.2.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính của Công ty
2.2.1.1 Phân tích khái quát Bảng cân đối kế toán
Phân tích khái quát tình hình tài sản
Bảng 2.2: Khái quát tình hình tài sản của Công ty
Đồng thời, kết hợp với Biểu đồ 2.2 ta đi vào chi tiết biến động từng loại tài sản như sau:
Biểu đồ 2.2: Biến động kết cấu tài sản qua 3 năm (2012- 2014).
(Nguồn: Phòng Kế toán)
Về TSNH: số liệu Bảng 2.2 cho thấy trong những năm vừa qua TSNH có sự biến động không ổn định về tỷ trọng Năm 2012, TSNH là 1.950.433.969 đồng, chiếm 71,04%, năm 2013, TSNH là 1.754.219.651 đồng, chiếm 68,81% Sang đến
Trang 36năm 2014, TSNH lại tăng lên 2.131.737.499 đồng, chiếm 77,27% Như vậy, ta thấy tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng cơ cấu tài sản của Công ty.
Về TSDH: số liệu Bảng 2.2 và Biểu đồ 2.2 cho thấy rằng tuy TSDH không có
sự biến động nhiều về lượng và tỷ trọng qua các năm Cụ thể: năm 2012, TSDH là
28,96%, năm 2013, chiếm 31,19%, đến năm 2014, TSDH giảm đi chỉ còn 22,73% trong tổng tài sản Từ đó, ta nhận thấy rằng tuy TSDH không có sự biến động nhiều
và chiếm tỷ trọng khá nhỏ trong tổng cơ cấu tài sản
Phân tích khái quát tình hình nguồn vốn
Tương tự, với sự sụt giảm về quy mô của tài sản là sự sụt giảm của nguồn vốn qua các năm Như chúng ta đã biết nguồn vốn được hình thành từ hai nguồn, đó là: nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả
Bảng 2.3: Khái quát tình hình nguồn vốn của Công ty
Vốn chủ sở hữu: nhìn chung, VCSH có tăng lên qua các năm, năm 2012 VCSH là 325.763.777 đồng Đến năm 2013, VCSH tăng nhẹ đạt 335.640.366 đồng, năm
2014, VCSH tăng mạnh đạt 2.175.333.886 đồng chiếm 43,25% trong tổng nguồn
36
Trang 37vốn Nhìn chung, vốn chủ sở hữu của công ty đang có xu hướng tăng lên qua các năm.
Như vậy, qua phân tích khái quát tình hình tài sản và nguồn vốn đã cho ta có cái nhìn tổng quát về tình hình tài chính của Công ty Từ năm 2012- 2014, quy mô vốn
đã mở rộng dần, cơ cấu vốn lại tồn tại một số điểm chưa hợp lý như sau: TSNH chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản, về phía cơ cấu nguồn vốn thì NPTr còn chiếm
tỷ trọng khá lớn so với VCSH Điều này, sẽ tác động rất nhiều đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
2.2.1.2 Phân tích khái quát Bảng báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty
Là một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thì kết quả đạt được luôn là tiêu chí hàng đầu để đánh giá tình hình hoạt động của doanh nghiệp Và kết quả đạt được trong một kỳ kinh doanh thể hiện rõ trên bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Vì vậy, việc đánh giá tình hình tài chính thông qua Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh là rất cần thiết Để đánh giá hiệu quả kinh doanh của Công ty chúng ta
đi sâu vào phân tích các mối quan hệ cũng như sự biến động các khoản mục trong Bảng 2.1: Bảng báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty qua các năm.Thông qua Bảng phân tích kết quả sản xuất kinh doanh có thể thấy trong 3 năm qua Công ty đạt được những kết quả chưa được tốt Từ năm 2012 đến năm 2014, doanh thu năm 2014 có tăng lên, trong khi lợi nhuận lại giảm đi đáng kể, nhất là năm 2014 Trong tình trạng khủng hoảng kinh tế và lạm phát tăng cao như hiện nay doanh nghiệp cần có những chiến lược thích nghi tốt hơn với sự thay đổi này để cải thiện tình hình tài chính cho công ty
Về doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: năm 2012 là 3.697.504.673 đồng Năm 2013, doanh thu giảm 130.419.219 đồng còn 3.567.085.454 đồng, giảm 3,53%
so với năm 2012, năm 2014, doanh thu BH &CCDV lại tăng 1.029.480.000 đồng Nguyên nhân tăng là do năm 2014 kế hoạch sản xuất được giao tăng so với năm trước, ngoài ra, trong các năm gần đây Nhà nước đã chú trọng đầu tư xây dựng các công trình đường xá, cầu cống, cấp thoát nước, công trình mà công ty chủ yếu xây dựng là đường xá, cầu cống,… đó là nguyên nhân đã làm cho doanh thu năm 2014 của Công ty tăng lên đáng kể
Trang 38Tiếp đến là khoản mục giá vốn hàng bán: liên tục tăng qua 3 năm, cụ thể: năm
2012, GVHB là 3.268.040.597 đồng, năm 2013, tiếp tục giảm 281.614.761 đồng còn 2.986.425.836 đồng, đến năm 2014, GVHB lại tăng lên 1.089.711.927 đồng, thành 4.076.137.763 đồng Nguyên nhân, GVHB tăng lên vào năm 2014 là do doanh thu năm 2014 tăng lên 28,86%
Về khoản mục doanh thu từ hoạt động tài chính: năm 2012, hoạt động doanh thu tài chính này là 1.700.570 đồng, đến năm 2013 giảm 28,89% còn 1.209.281 đồng
Và sang đến năm 2014, công ty không có doanh thu hoạt động tài chính Mặc dù, năm 2014 công ty không có doanh thu từ hoạt động tài chính nhưng chi phí tài chính cũng tăng cao Số liệu bảng 2.1 cho thấy chi phí lãi vay là chi phí chính của chi phí tài chính Năm 2012, chi phí lãi vay là 146.294.445 đồng Đến năm 2013, chi phí lãi vay giảm 18.138.639 đồng, ứng với giảm đi 12,40% còn 128.155.806 đồng Sang đến năm 2014, chi phí lãi vay tiếp tục tăng cao là 133.765.358 đồng tương ứng tăng 4,38% Như vậy, trong những năm vừa qua Công ty đã phải chi trả một khoản lớn chi phí sử dụng vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Và để đánh giá việc sử dụng nợ vay có thật sự mang lại hiệu quả hay không cho Công ty thì chúng ta cần tìm hiểu thêm ở các phần sau
Về chi phí quản lý doanh nghiệp cũng có xu hướng tăng qua 2 năm, đến năm
2014 lại giảm nhẹ Cụ thể: năm 2012, chi phí này là 266.513.923 đồng, đến năm
2013, chỉ tiêu này tăng lên 429.271.638 đồng tương ứng với tốc độ tăng 61,07% Sang năm 2014, chỉ tiêu này giảm 48.271.638 đồng còn 383.375.203 đồng Như vậy, do sự tăng lên khá lớn của chi phí lãi vay và chi phí quản lý doanh nghiệp đã làm cho lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh của công ty giảm xuống một cách đáng chú ý
Từ số liệu Bảng 2.1 cho thấy tổng lợi nhuận kế toán trước thuế nhìn chung có sự suy giảm đáng kể Năm 2012, lợi nhuận trước thuế của công ty là 18.356.278 đồng, sang năm 2013, con số này là 24.441.455 đồng, riêng năm 2014 công ty có thêm nguồn thu nhập khác với 1.581.468 đồng nhưng lợi nhuận kế toán trước thuế vẫn giảm mạnh chỉ còn 4.868.598 đồng
Về chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp, chỉ tiêu này cũng biến động tăng giảm theo sự thay đổi của lợi nhuận kế toán trước thuế Năm 2012, chi phí thuế thu nhập
38
Trang 39doanh nghiệp hiện hành là 4.589.070 đồng Đến năm 2013, chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp tăng lên 6.110.364 đồng Nhưng đến năm 2014, chi phí này lại giảm mạnh chỉ còn 852.005 đồng
Như vậy, trong những năm vừa qua tình hình hoạt động của Công ty cũng đã đạt được nhiều kết quả chưa tốt lắm, có chiều hướng đi xuống nhưng trong những năm vừa qua hoạt động kinh doanh của Công ty luôn có lợi nhuận Việc sử dụng vốn vay khá nhiều để tài trợ cho hoạt động đã làm tăng chi phí tài chính của Công ty, và kết quả là làm giảm đi đáng kể lợi nhuận của Công ty
2.2.2 Phân tích tình hình biến động, kết cấu của tài sản và nguồn vốn của công
ty TNHH MTV tư vấn và xây dựng Đức Long.
2.2.2.1 Phân tích biến động và kết cấu tài sản
Số liệu bảng 2.4 cho thấy TSNH của Công ty luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng tài sản và có xu hướng tăng qua các năm về giá trị lẫn tỷ trọng Để tìm hiểu rõ biến động và kết cấu TSNH ta tiến hành phân tích các khoản mục chủ yếu như : tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu
• Tài sản ngắn hạn
Hàng tồn kho: Đây là khoản mục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong TSNH của Công ty
Năm 2012, HTK chiếm 6,65% trong tổng tài sản, tăng lên 29,47% vào năm 2013, chiếm 39,63% vào năm 2014 Do đó, ta thấy khoản mục này liên tục tăng lên vào năm 2012 và năm 2013 Năm 2012, hàng tồn kho là 182.539.581 đồng, đến năm
2013, khoản mục này lại tăng thêm 568.640.245 đồng thành 751.179.826 đồng Sang năm 2013, HTK lại tiếp tục tăng thêm 1.241.959.141 đồng Nguyên nhân có thể giải thích là do trong năm 2014 các công trình Công ty thi công chưa hoàn thành, đồng thời, do gặp khó khăn về vốn nên phải giãn tiến độ thi công ở một số công trình còn xuất hiện khá nhiều Và kết quả là làm cho HTK của công ty tăng lên rất nhiều so với năm 2013 Điều này, sẽ ảnh hưởng không tốt đến thu nhập và hiệu quả hoạt động kinh doanh của Công ty Hơn nữa, công ty cũng nên chú trọng đến công tác quản lý HTK để tránh tình trạng giá nguyên vật liệu tăng cao, mặc khác,
dự trữ quá nhiều cũng làm giảm cơ hội sử dụng vốn cho các hoạt động khác đang cần vốn của Công ty
Bảng 2.4: Phân tích tình hình biến động kết cấu tài sản trong 3 năm
Trang 40Giá trị
Tỷ trọng (%)
Giá trị
Tỷ trọng (%)
2 Trả trước cho người bán 44.704.910 1,63 6.576.910 0,26 0
3 Các khoản phải thu
II Tài sản dài hạn khác 0 0 348.222.226 6,92
Các khoản phải thu ngắn hạn: đây là khoản mục chiếm tỷ trọng thứ hai sau hàng
tồn kho trong tổng kết cấu TSNH Số liệu Bảng 2.4 cho thấy, năm 2012, chỉ tiêu này là còn 682.886.881 đồng chiếm 24,87%, năm 2013, khoản mục này tăng thêm 7,6% trong tổng tài sản, chiếm 32,47% Sang đến năm 2014, con số này là 1.886.339.392 đồng, chiếm 37,51% trong tổng tài sản Đi sâu vào tìm hiểu chi tiết các khoản mục bên trong khoản phải thu ngắn hạn ta lại thấy khoản phải thu khách hàng chiếm phần lớn Trong năm 2012, trong 100 đồng khoản phải thu ngắn hạn thì
có đến 90,48 đồng phải thu khách hàng Sang năm 2013, con số này đã tăng lên thành 97,35 đồng và 87,23 đồng vào năm 2014 Qua tìm hiểu ta nhận thấy rằng
40