1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản bạc liêu

108 266 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH LÝ THUYẾT ĐỀ NGHỊ VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC DOANH NGHIỆP THỦY SẢN BẠC LIÊU 2.1 Giới thiệu Trong chương 2 này, nghiên cứu sinh hệ thống các cơ sở

Trang 1

Chương 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH LÝ THUYẾT

ĐỀ NGHỊ VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC DOANH NGHIỆP

THỦY SẢN BẠC LIÊU

2.1 Giới thiệu

Trong chương 2 này, nghiên cứu sinh hệ thống các cơ sở lý thuyết liên quan đến phát triển bền vững doanh nghiệp nhằm hình thành một mô hình lý thuyết đề nghị nghiên cứu; cụ thể đầu tiên tìm hiểu từ khái niệm phát triển bền vững ở cấp độ

vĩ mô của quốc gia đến khái niệm phát triển bền vững ở cấp độ vi mô doanh nghiệp; thứ hai hệ thống lại các mô hình lý thuyết nghiên cứu có liên quan đến phát triển bền vững và mô hình lý thuyết được kiểm định các yếu tố bên trong và bên ngoài tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp; cuối cùng mối liên hệ mô hình lý thuyết được rút ra nghiên cứu và sau đó, nghiên cứu sinh có điều chỉnh, bổ sung nhằm đề nghị mô hình lý thuyết phù hợp với lĩnh vực doanh nghiệp thủy sản và các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu

2.2 Khái niệm về phát triển bền vững

Các vấn đề phát triển bền vững là một trường phái tư tưởng - tương tác với mối quan hệ giữa con người, các tổ chức xã hội và tự nhiên có thể được tìm thấy trong lịch sử phát triển Giới học thuật và chính trị chuyên ngành - ở cấp độ của các mối quan hệ và các tổ chức quốc tế - bắt đầu để giải quyết vấn đề này trong thế kỷ

20, tại một thời điểm khi các vấn đề liên quan đến sự tăng trưởng của dân số, tăng trưởng kinh tế và tăng cường sử dụng nguồn tài nguyên không tái tạo phát sinh

Trong khi định nghĩa cho phép hướng đến nắm bắt được ý chính của khái niệm phát triển bền vững Nhìn chung, các nguyên tắc liên quan đến phát triển bền vững đã được đề xuất trong những năm qua, mặc dù tất cả các nguyên tắc đưa ra một cái nhìn tổng quan về khái niệm phát triển bền vững cụ thể như sau

Khái niệm phát triển bền vững được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là

Ủy ban Brundtland) Báo cáo này khái niệm: Phát triển bền vững là “Sự phát triển

có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến

Trang 2

những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” Nói cách khác, phát

triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh

tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp, phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường Khái niệm này có chứa hai thành phần cơ bản:

i Các thành phần của nhu cầu, đó là tập trung vào các bộ phận người nghèo của thế giới có nhu cầu như là một ưu tiên

ii Các thành phần của sản xuất bền vững và tiêu thụ được xác định bởi các công nghệ được sử dụng và tổ chức của xã hội

Theo Ngân hàng thế giới (The World Bank Group); Phát triển bền vững là khám phá một số các thách thức xã hội, kinh tế và môi trường là một phần của phát triển bền vững bằng cách làm việc thông qua các mô hình học tập Đi sâu vào các vấn đề mà người dân trên khắp thế giới phấn đấu để cân bằng khi ra quyết định thường rất khó khăn về phát triển

 Các khái niệm phát triển bền vững được tiếp cận ngoài nước

Valentin and Spangenberg (2000); Nguyên tắc phát triển bền vững được cấu trúc xung quanh 4 mệnh chuyên đề (cho mỗi kích thước, tức là kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế) và 6 liên kết chuyên đề (cho mỗi chiều kết nối) Nhưng đến khái niệm của McWilliams & Siegel (2001) chỉ tạp trung vào một khía cạnh nguồn tài nguyên quý hiếm và khả năng dẫn đến lợi thế cạnh tranh Như phát triển bền vững

có thể tạo thành một nguồn tài nguyên quý, hiếm (sáng tạo), và khó bắt chước hoặc khả năng dẫn đến lợi thế cạnh tranh Còn Becker (2005) lại đưa ra ba đặc điểm chung (khả năng phục hồi, tự túc và hợp tác) phát triển bền vững Như hệ thống phát triển bền vững được cho là có ba đặc điểm chung (khả năng phục hồi, tự túc và hợp tác) lần lượt được chia thành ba chỉ tiêu để tạo điều kiện đo lường

 Các khái niệm phát triển bền vững được tiếp cận trong nước

Khái niệm “Phát triển bền vững” được biết đến ở Việt Nam về mặt học thuật, thuật ngữ này được giới khoa học nước ta tiếp thu nhanh Đã có hàng loạt công trình nghiên cứu liên quan đến khái niệm phát triển bền vững phải kể đến là công trình do giới nghiên cứu trong nước tiến hành như: Lê Thế Giới và nhóm tác giả (số

5, tr 40.2010) đưa ra quy trình phát triển bền vững được dựa trên thành quả của 4

Trang 3

thành tố căn bản của tính bền vững: bền vững sinh thái, bền vững kinh tế, bền vững

xã hội và bền vững thể chế Nhưng đến Trần Anh Phương (VNH3.TB5.2010) đề cập đến 4 vấn đề phát triển bền vững nhưng ở khía cạnh mở rộng hơn Phát triển bền vững trong lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam và những tác động chính trị - xã hội

Đề cập đến 4 vấn đề đó là: (1) Phát triển bền vững là yêu cầu cấp bách và xu thế tất yếu của toàn cầu; Việt Nam trong tiến trình hội nhập, phát triển đã và đang tích cực hưởng ứng xu thế này; (2) Một số thành tựu nổi bật về phát triển bền vững trong lĩnh vực kinh tế của Việt Nam trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua; (3) Một số tác động chính trị - xã hội cơ bản từ thành tựu phát triển bền vững trong lĩnh vực kinh

tế của Việt Nam; (4) Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn một số biểu hiện chưa bền vững nhưng chúng ta có thể vượt qua và vững tin vào tương lai nếu có các giải pháp phát triển đúng đắn, năng động Theo Nguyễn Ngọc Trân (2011) lại đưa ra mô hình phát triển bền vững, chỉ bền vững khi nó bảo đảm cùng một lúc tăng trưởng kinh tế, công bằng và tiến bộ xã hội, và môi trường được bảo vệ Tăng trưởng kinh tế, thỏa được công bằng và tiến bộ xã hội nhưng môi trường suy thoái, cạn kiệt, sẽ không có được phát triển bền vững Tăng trưởng kinh tế, bảo vệ được môi trường nhưng xã hội bị phân hóa giàu nghèo, bị phân tầng về giáo dục, về hưởng thụ văn hóa quá mức, phát triển cũng sẽ không thể có ổn định để phát triển Xã hội công bằng, kết quả của các thành tựu được chia đều cho mọi người, môi trường được bảo vệ nhưng kinh tế không tăng trưởng thì mô hình tồn tại được nhưng sẽ không lâu dài, đặc biệt trong một thế giới cạnh tranh quyết liệt và ngày càng có nhiều giao lưu Cơ sở lý luận và thực tế để xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay (Nguyễn Sinh Cúc, số 3, 2012) Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người Vì vậy đã được các quốc gia trên thế giới đồng thuận xây dựng thành Chương trình nghị sự cho từng thời kỳ phát triển của lịch sử

Nhìn chung, phát triển bền vững từ các khái niệm trên chỉ đề cập ở cấp độ vĩ

mô, thường đề cập trên phạm vi tổng quát của quốc gia và chủ yếu đề cập đến ba trụ cột là kinh tế, xã hội và môi trường Phải phát triển bền vững về kinh tế, giữ vững

ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh kinh tế Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri

Trang 4

thức Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hoà với phát triển văn hóa, thực hiện tiến

bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân Phát triển kinh tế-xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu Nước ta có điều kiện phát triển nhanh và yêu cầu phát triển nhanh cũng đang đặt ra hết sức cấp thiết Phát triển bền vững là cơ sở

để phát triển nhanh, phát triển nhanh để tạo nguồn lực cho phát triển bền vững Phát triển nhanh và bền vững phải luôn gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế-xã hội (Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam 2011-2020)

Rõ ràng khái niệm phát triển bền vững được sử dụng trong và ngoài nước như một con đường để khắc phục rào cản đối với những lời kêu gọi về một sự công bằng xã hội rõ ràng hơn, và những nhu cầu liên quan đến những chính sách phát triển thịnh hành, và là một phương tiện nhằm huy động sự trợ giúp của những nhóm môi trường của các nước đang phát triển và các nước công nghiệp Cùng lúc đó khái niệm phát triển bền vững đã được các tổ chức như Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền

tệ quốc tế chấp nhận và được thể chế hóa cùng với cách thức mà chính các tổ chức này đã sử dụng các xu thế phát triển truyền thống trước đây như nhu cầu cơ bản, công nghệ thích hợp, tham gia vào phát triển Như vậy, từ khái niệm phát triển bền vững ở trên cho thấy phát triển bền vững ở cấp độ vĩ mô của một quốc gia

Bảng 2.1: So sánh kết quả phát triển truyền thống và phát triển bền vững ở cấp độ vĩ mô

Mục tiêu

- Hiệu quả kinh tế

- Công nghệ thích hợp

- Khai thác triệt để nguồn tài nguyên

Phát triển ổn định và lâu dài cần giải quyết được 3 vấn đề trụ cột chính:

- Tăng trưởng kinh tế ổn định

- Môi trường được bảo vệ

- Xã hội công bằng

Nguồn: tổng hợp từ nghiên cứu của Valentin and Spangenberg (2000), McWilliams

& Siegel (2001), Becker (2005) và Lê Thế Giới và nhóm tác giả (2010), Nguyễn Ngọc Trân (2011), Nguyễn Sinh Cúc (2012)

Trang 5

Tóm lại, theo quan điểm của tác giả đề nghị: phát triển bền vững mang tính khoa học và hoạt động phát triển bền vững không những đặt hiệu quả kinh tế mà góp phần vào bảo vệ môi trường, giải quyết hài hòa giữa kinh tế và xã hội mới hướng đến phát triển bền vững Từ khái niệm phát triển bền vững ở cấp độ vĩ mô và doanh nghiệp phù hợp các nguyên tắc của phát triển bền vững, chúng tôi hướng đến tìm hiểu khái niệm phát triển bền vững ở cấp độ vi mô của doanh nghiệp

2.3 Các nguyên tắc khái niệm phát triển bền vững phù hợp với phát triển bền vững các doanh nghiệp

Các doanh nghiệp ngày càng đóng góp rất đáng kể vào sự phát triển bền vững của xã hội và trong nhiều thập kỷ qua, những nỗ lực để đạt được sự phát triển bền vững có thể được nhìn thấy ngay cả trên cấp độ vi mô của các doanh nghiệp, một khi các doanh nghiệp đã quyết định hướng phát triển bền vững hơn so với lợi nhuận thuần túy, doanh nghiệp đề cập đến hiệu quả kinh doanh không chỉ về mặt dịch vụ, sản phẩm được sản xuất và các lợi nhuận, mà còn về các hiệu ứng trên các khía cạnh của con người và xã hội (Lilia Dvořáková, Jitka Zborková, 2014) Do đó, điều cần thiết để thực hiện thay đổi trong cách tiếp cận truyền thống chuyển sang cách tiếp cận theo xu hướng phát triển bền vững

Trong trường hợp này, chúng ta cần thiết để phân biệt hai loại Đầu tiên bao gồm các doanh nghiệp phát triển theo truyền thống và các doanh nghiệp khác lại chấp nhận phát triển bền vững Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phù hợp với nguyên tắc phát triển bền vững có nghĩa rằng doanh nghiệp đang trên con đường hướng tới phát triển bền vững Do đó sự phát triển bền vững là mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp đang tìm kiếm Khái niệm về phát triển bền vững có thể được vận dụng trong phát triển doanh nghiệp trên cơ sở trách nhiệm của các khả năng liên kết kinh tế, môi trường và xã hội

Các doanh nghiệp bắt đầu nhận ra tầm quan trọng của một sự cân bằng giữa các ưu tiên kinh tế, môi trường và xã hội Để giữ cho phát triển bền vững, chúng ta thực hiện các nguyên tắc phát triển bền vững vào các quá trình kinh doanh của doanh nghiệp (khách hàng, chính phủ, các bên liên quan, xu hướng thị trường, an sinh xã hội, nhân viên, chủ sở hữu/người quản lý, hiệu suất, lực lượng lao động, chủ

sở hữu/người quản lý, trách nhiệm sản phẩm, phòng chống ô nhiễm môi trường) Từ

Trang 6

đó, nghiên cứu sinh hướng đến tìm hiểu khái niệm phát triển bền vững doanh nghiệp

2.4 Khái niệm phát triển bền vững doanh nghiệp

Khái quát một số khái niệm về phát triển doanh nghiệp và hướng đến khái niệm phát triển bền vững doanh nghiệp được thể hiện qua các nội dung sau:

Thứ nhất, khái niệm phát triển doanh nghiệp

Phát triển doanh nghiệp nhằm giúp cho các tổ chức trong việc đối phó với môi trường bất ổn, cả trong nội bộ và bên ngoài doanh nghiệp, thường xuyên bằng những nỗ lực để ứng phó thay đổi kế hoạch với môi trường bất ổn Những nỗ lực phát triển doanh nghiệp, cho dù được hỗ trợ bởi một chuyên gia bên ngoài hoặc tổ chức chuyên nghiệp và tiến hành trên cơ sở liên tục, mang lại thay đổi kế hoạch trong các tổ chức và các nhóm trong doanh nghiệp Tuy nhiên, chúng chỉ là một loại thay đổi xảy ra trong các tổ chức, cho sự thay đổi có thể được cả hai kế hoạch và không có kế hoạch và có thể xảy ra trong mọi chiều kích của môi trường kinh doanh Điển hình hai khái niệm phát triển doanh nghiệp

Khan Atiqur Rahman (2004) cho rằng phát triển doanh nghiệp là ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của doanh nghiệp: thiếu các kỹ năng ở tất cả các cấp độ, thiếu tổ chức công nghiệp, kích thước giới hạn của thị trường và tốc độ tăng trưởng thấp, thiếu chính sách đúng đắn và mang tính xây dựng, trình độ công nghệ nghèo nàn

Jahangir H Khan (2012) phát triển doanh nghiệp là cách tiếp cận từ các phần

tử kết hợp bao gồm: kinh doanh, hỗ trợ tài chính, chính sách phù hợp và thể chế, các mối liên kết, công nghệ phù hợp và mối quan hệ thị trường/nhu cầu cho các sản phẩm

Thứ hai, khái niệm phát triển bền vững doanh nghiệp

Theo Richard N Andrews (2003) Mô hình bền vững doanh nghiệp (SEM) cho rằng phát triển bền vững không chỉ là một vấn đề của hoạt động từ thiện, vị tha

và trách nhiệm đạo đức, nhưng một lợi ích chiến lược cốt lõi và cơ hội cho các doanh nghiệp của mình Richard N Andrews còn mở rộng khái niệm “Một doanh nghiệp bền vững là một doanh nghiệp tăng giá trị cho các cổ đông bằng cách đóng góp nhiều hơn đối thủ cạnh tranh và trở thành các tiêu chí cho một doanh nghiệp

Trang 7

bền vững Đóng góp cho phát triển bền vững từ yếu tố thành phần kinh tế, cung cấp

và cải thiện”

Theo Bradley D Parrish (2005); Phát triển bền vững doanh nghiệp có thể được định nghĩa là một tổ chức góp phần phát triển bền vững, nơi “bền vững” được hiểu như là một tương lai con người và “phát triển” được hiểu là một sự cải thiện chất lượng trong điều kiện con người Theo Jim Schorr (2006) lại đề xuất mô hình mới cho phát triển bền vững: Lĩnh vực doanh nghiệp xã hội là ở một ngã tư; chúng

ta không thể mong đợi để hoạt động các doanh nghiệp hiện tại của chúng ta như là trong dài hạn, vì vậy chúng ta phải tìm những giải pháp mới để phát triển bền vững hoặc phải đối mặt với sự phá sản doanh nghiệp

Phát triển doanh bền vững doanh nghiệp theo Parrish (2007) cho rằng doanh nghiệp là một hệ thống xung quanh mà các bên liên quan cá nhân có liên quan và hoạt động trong một hệ thống sinh thái - xã hội rộng lớn hơn Các cá nhân, doanh nghiệp và các hệ thống sinh thái - xã hội có tồn tại và mục đích nhu cầu Các doanh nghiệp bền vững tổ chức các hoạt động của mình để cả hai loại nhu cầu được đáp ứng đồng thời cho các bên liên quan, tự các doanh nghiệp và hệ thống sinh thái-xã hội

Theo Quỹ châu Âu, Thiết kế phát triển bền vững doanh nghiệp nhỏ, cải thiện sinh hoạt và điều kiện lao động: Phát triển bền vững doanh nghiệp là một doanh nghiệp thúc đẩy cuộc sống bền vững thông qua bền vững sản xuất hàng hóa và dịch

vụ, cung cấp các giải pháp để hoàn thành các nhu cầu cơ bản để cải thiện đời sống của người dân hiện tại và trong tương lai với tác động môi trường ít nhất có thể, sản

lượng kinh tế xã hội cao nhất có thể

Sự thúc đẩy phát triển bền vững doanh nghiệp theo Báo cáo VI, Hội nghị Lao động Quốc tế (2007): “Phát triển bền vững doanh nghiệp” có liên quan đến cách tiếp cận chung để phát triển bền vững - các hình thức tiến bộ đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng của các thế hệ tương lai để đáp ứng nhu cầu của họ - một cách tiếp cận được giả định quan điểm toàn diện, cân bằng và tích hợp phát triển Tuy nhiên, phát triển bền vững về nhiều hơn chỉ là vấn đề môi trường, nó đòi hỏi sự tích hợp của tất cả ba trụ cột của phát triển - kinh tế, xã hội và

môi trường Theo QU Feng geng (2007); Phát triển bền vững doanh nghiệp cần chú

Trang 8

trọng đến mối quan hệ năng lực ngành công nghiệp, công nghệ, năng lực phát triển thể chế và thị trường và sự tương tác của chúng để thực hiện phát triển bền vững của doanh nghiệp Trung Quốc Để nhận ra sự phát triển bền vững của doanh nghiệp, chúng ta phải chú trọng đến việc lựa chọn và định hướng công nghiệp, đổi mới công nghệ, cải cách thể chế và bồi dưỡng năng lực phát triển thị trường, để tiến tới hình thành hiệp lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống doanh nghiệp với sự trợ giúp của hội nhập, kiến nghị tương tác hiệp lực của bốn năng lực như công nghiệp,

kỹ thuật, phát triển thể chế và thị trường, để nuôi dưỡng và khả năng phát triển bền

vững của doanh nghiệp liên tục

Đối với doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh phát triển bền vững thì thuộc rất nhiều lĩnh vực khác nhau về sản xuất, kinh doanh, theo Kris Law (2010) nghiên cứu

các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững các công ty công nghệ cao sản xuất tại Đài Loan Đối với lĩnh vực doanh nghiệp thủy sản cũng nằm trong khái niệm

chung về phát triển bền vững và các hoạt động đều đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, các bên liên quan trong việc bảo vệ môi trường, xã hội, trách nhiệm sản phẩm, công tác an sinh xã hội và chính sách của nhà nước sẽ là cần thiết cho doanh nghiệp trong tương lai Kent Fairfield, Joel Harmon & Scott Behson (2011); Khái niệm tích hợp phát triển bền vững doanh nghiệp là các mối liên kết giữa ảnh hưởng bên ngoài và hạn chế nội bộ, quá trình điều khiển quyết định tính bền vững, cho

phép tổ chức cơ bản, phương thức bền vững và hiệu quả

Chỉ số Dow Jones bền vững thế giới (DJSI) của Prabodha C Acharya & Sudipta Das (2013); Phát triển bền vững là khả năng của doanh nghiệp phát triển thịnh vượng trong một môi trường kinh doanh toàn cầu siêu cạnh tranh và thay đổi Các doanh nghiệp dự đoán và quản lý các cơ hội và rủi ro kinh tế, môi trường, xã hội hiện tại và tương lai bằng cách tập trung vào chất lượng, đổi mới và năng suất

sẽ nổi lên như các nhà lãnh đạo rằng có nhiều khả năng để tạo ra một lợi thế cạnh tranh và giá trị các bên liên quan trong dài hạn Còn nghiên cứu Parisa Salimzadeh, Jerry Courvisanos and Raveendranath Ravi Nayak (2013) đưa ra mô hình lý thuyết phát triển bền vững doanh nghiệp nhỏ và vừa của Úc, kết quả nhóm hai yếu tố bên

trong và yếu tố bên ngoài doanh nghiệp

Trang 9

Như vậy, trái ngược với quan điểm hẹp, quan điểm phát triển doanh nghiệp truyền thống đã miêu tả về các mối quan hệ đầu vào - đầu ra tuyến tính đã tập trung hoàn toàn vào việc tối đa hóa giá trị kinh tế ngắn hạn, xuất hiện một cách tiếp cận mới tích hợp để phát triển bền vững doanh nghiệp có một cái nhìn toàn diện hơn và lâu dài Cam kết phát triển bền vững là một trong những đặc điểm nổi bật của nền kinh tế hiện đại Các doanh nghiệp phải tham gia vào các hoạt động bền vững để được tồn tại trong nền kinh tế hiện đại Họ cần phải thực hiện các nguyên tắc kinh doanh bền vững trong hoạt động hàng ngày của họ để giảm chi phí, quản lý rủi ro, phát triển sản phẩm và dịch vụ, cải thiện cơ sở hạ tầng kinh doanh và cấu trúc (Azapagic, 2003) Phát triển bền vững doanh nghiệp có thể hoạt động như một công

cụ để tạo thuận lợi cho sự chuyển đổi của truyền thống sang hiện đại

Bảng 2.2: So sánh kết quả phát triển doanh nghiệp truyền thống và phát triển bền vững doanh nghiệp

truyền thống

Phát triển bền vững doanh nghiệp

Mục tiêu - Khai thác triệt để nguồn lực

- Hiệu quả kinh doanh

- Lợi nhuận cuối cùng

- Sự bền vững là mục tiêu cuối cùng của phát triển doanh nghiệp

- Trách nhiệm với xã hội

- Trách nhiệm với môi trường

- Bảo vệ được môi trường

- Cộng đồng xã hội được quan tâm

Nguồn: tổng hợp từ nghiên cứu Khan Atiqur Rahman (2004), Jahangir H Khan (2012) và Richard N Andrews (2003), Bradley D Parrish (2005), Parrish (2007), Kris Law (2010), Kent Fairfield, Joel Harmon & Scott Behson (2011), Parisa Salimzadeh, Jerry Courvisanos and Raveendranath Ravi Nayak (2013)

Theo quan điểm của nghiên cứu sinh về phát triển bền vững ở cấp độ vi mô của doanh nghiệp được đề nghị như sau: “phát triển bền vững là khả năng doanh nghiệp giải quyết mối quan hệ bởi các yếu tố môi trường bên trong và môi trường bên ngoài tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp” Yếu tố bên trong (Lực lượng lao động; Chủ sở hữu (người quản lý); Trách nhiệm sản phẩm; Phòng chống

ô nhiễm môi trường); Yếu tố bên ngoài (Khách hàng; Xu hướng thị trường; Thiếu nhu cầu các bên liên quan; Chính sách hỗ trợ nhà nước và An sinh xã hội) Nhằm

Trang 10

hướng đến vận dụng khái niệm phát triển bền vững ở cấp độ vi mô của doanh nghiệp vào nghiên cứu lĩnh vực doanh nghiệp thủy sản tại tỉnh Bạc Liêu

2.5 Cách tiếp cận mô hình lý thuyết phát triển bền vững doanh nghiệp

Cơ sở tiếp cận các mô hình lý thuyết nhằm góp phần đánh giá một cách toàn diện hơn khía cạnh phát triển bền vững trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, nghiên cứu sinh xin giới thiệu tóm tắt các công trình nghiên cứu, các bộ tiêu chí được sử dụng rộng rãi trên thế giới có liên quan đến luận án Bởi ngay từ đầu, khi định hướng nghiên cứu của nghiên cứu sinh là theo nghiên cứu ứng dụng với mục tiêu ứng dụng lý thuyết và mô hình nghiên cứu vào thực tế, kết quả là dựa trên lý thuyết đưa ra hàm ý cho phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bạc Liêu Các mô hình lý thuyết có liên quan đến luận án như sau:

Theo nghiên cứu của Richard N Andrews (2003) đề xuất mô hình lý thuyết phát triển bền vững doanh nghiệp: Những ảnh hưởng tài chính quốc tế và đầu tư, kết quả cho thấy mô hình bền vững doanh nghiệp cung cấp một tập sáng tạo của các mệnh đề như thế nào các doanh nghiệp kinh doanh có thể tạo ra lực lượng năng động hướng tới một xã hội bền vững hơn Đây được xem là một bước đầu tiên nghiên cứu về lĩnh vực bền vững doanh nghiệp, kết quả hữu ích sẽ được hỗ trợ cho các sáng kiến báo cáo hàng năm bắt buộc và so sánh các tác động về kinh tế, xã hội

và môi trường của tất cả các công ty giao dịch công khai; Bước thứ hai sẽ được triệu tập thảo luận giữa các nhà lãnh đạo phát triển bền vững trong cộng đồng tài chính quốc tế và đầu tư riêng của mình, để xác định điểm đòn bẩy hứa hẹn nhất, phù hợp với giới thiệu tiêu chuẩn bền vững một cách rõ ràng hơn vào tài chính và quyết định đầu tư; Thứ ba, cộng đồng tài chính và đầu tư có thể nói ra với một tiếng nói chung đối với các khoản trợ cấp, giảm thuế, các ưu đãi khác của chính phủ làm bóp méo thị trường tài chính và đầu tư đối với phát triển bền vững, chẳng hạn như những ưu đãi các nhiên liệu hóa thạch, kinh doanh nông nghiệp và công nghiệp khai khoáng khác; Cuối cùng, một bước thứ tư sẽ là một sáng kiến rất cơ bản hơn, các nhà lãnh đạo của cộng đồng tài chính và đầu tư, thiết kế cơ chế cho việc giúp đỡ người nghèo tham gia một cách công bằng, bền vững hơn trong cả sản xuất và sử dụng sự giàu có của thế giới Điều này cho thấy, kết quả nghiên cứu Richard N Andrews được xem

là tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo về sự phát triển bền vững doanh nghiệp Đối

Trang 11

với nghiên cứu về phát triển bền vững doanh nghiệp: Ứng dụng với lý thuyết hiệp lực (QU Feng geng 2007) kết quả nghiên cứu phát triển bền vững doanh nghiệp cần chú trọng đến mối quan hệ năng lực ngành công nghiệp, công nghệ, năng lực phát triển thể chế, thị trường và sự tương tác của chúng để thực hiện phát triển bền vững của doanh nghiệp Trung Quốc Đối với nghiên cứu của Joel Harmon, Kent D

Fairfield, Scott Behson (2009) thì đề xuất mô hình lý thuyết: “Một phân tích so sánh của chiến lược phát triển bền vững doanh nghiệp (tổ chức): Những tiền đề và hiệu suất kết quả nhận thức của người Mỹ và người quản lý không phải Mỹ” Kết

quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố mô tả các mối tương quan giữa các biện pháp được sử dụng trong nghiên cứu này như: Thực tiễn phát triển bền vững; Tiến trình điều khiển bền vững; Khởi động thực hiện; Các chất hạn chế bền vững; Cải thiện hiệu suất

Như vậy có thể thấy, kết quả cung cấp hỗ trợ cho kỳ vọng của nghiên cứu rằng: (a) Phương thức bền vững đang tích cực liên quan đến cải thiện hiệu suất công ty; (b) Khởi động thực hiện được tích cực liên quan đến việc thực hiện phương thức bền vững; (c) Các điều khiển ra quyết định bền vững đang tích cực liên quan đến cả hai khởi động thực hiện và phương thức bền vững, và (d) Các chất hạn chế để phát triển bền vững của công ty có liên quan đến tiêu cực với điều khiển bền vững, khởi động và thực tiễn phát triển bền vững Từ đó, mối liên hệ tiếp cân các mô hình lý thuyết phát triển bền vững doanh nghiệp được nghiên cứu và rút ra từ ba mô hình lý

thuyết phát triển bền vững doanh nghiệp cụ thể như sau

2.5.1 Mô hình lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững doanh nghiệp công nghệ sản xuất cao tại Đài Loan

Theo Kris Law, 2010 đề xuất mô hình lý thuyết và kết quả nghiên cứu các

yếu tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững doanh nghiệp: Các doanh nghiệp công nghệ sản xuất cao tại Đài Loan Kết quả cho thấy rằng các công ty sản xuất công

nghệ cao công nhận tích cực thúc đẩy ảnh hưởng của các yếu tố phát triển bền vững

từ quản lý, nội bộ và bên ngoài doanh nghiệp Mô hình đề xuất nghiên cứu các yếu

tố quan trọng ảnh hưởng đến việc áp dụng các nguyên tắc phát triển bền vững Các yếu tố nội bộ (bên trong): Hệ thống; Các biện pháp; Nhu cầu để thúc đẩy; Nâng cao

Trang 12

hiệu suất Các yếu tố bên ngoài: Luật, quy định; Áp lực xã hội; Xu hướng thị trường; Cạnh tranh

Các yếu tố thúc đẩy có thể ảnh hưởng đến quản lý phát triển bền vững doanh nghiệp như một phần của kế hoạch chiến lược của mình bằng cách đầu tư đủ nguồn lực Vì vậy, mô hình đưa ra giả thuyết sau:

- Nhu cầu để thúc đẩy;

- Nâng cao hiệu suất

Phát triển bền vững doanh nghiệp

Mô hình 2.1: Các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc áp dụng phát triển bền vững doanh nghiệp

Nguồn: Trích từ Kris M Y Law, 2010

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các doanh nghiệp sản xuất công nghệ cao

công nhận tích cực thúc đẩy ảnh hưởng của các yếu tố phát triển bền vững doanh nghiệp từ yếu tố quản lý, các yếu tố nội bộ và yếu tố bên ngoài, trong khi quản lý/chủ sở hữu doanh nghiệp cảm nhận được mức độ sẵn sàng phát triển bền vững chỉ ở mức hợp lý Điều này chứng minh cho giả thuyết (H1): Có một mối tương quan giữa các yếu tố tạo động lực (động lực từ quản lý) và sự sẵn sàng của người quản lý doanh nghiệp Các doanh nghiệp công nghệ cao nhận thức của sự phát triển bền vững, và họ thường đánh giá cao các yếu tố nội bộ như động cơ thúc đẩy Các kết quả hơn nữa biện minh cho giả thuyết thiết lập trước đó (H2): Có một mối tương quan giữa các yếu tố tạo động lực và sự sẵn sàng phát triển bền vững của các doanh nghiệp công nghệ cao

Trang 13

Đánh giá chung mô hình lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững doanh nghiệp: Các doanh nghiệp công nghệ cao sản xuất tại Đài Loan Kết

quả nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp công nghệ cao Đài Loan đang hướng đến

sự phát triển bền vững Tóm tắt các yếu tố thúc đẩy thông qua phát triển bền vững

“các yếu tố bên trong” cho giá trị cao nhất trong khi “quản lý” và “yếu tố bên ngoài” là tương đối thấp hơn Điều này có thể được hiểu là các nhận thức về phát triển bền vững được chủ yếu là do các biện pháp hỗ trợ và cơ sở hạ tầng Trong số các biến quan được liệt kê dưới “yếu tố bên trong” thể hiện như: Hỗ trợ tài chính đầy đủ, Kiến thức và chuyên môn, nhu cầu để nâng cao uy tín được coi là các yếu tố thúc đẩy phát triển bền vững doanh nghiệp nhất

Tuy nhiên, mô hình lý thuyết này tập trung vào nghiên cứu các doanh nghiệp công nghệ cao của Đài Loan, nếu vận dụng mô hình này vào nghiên cứu các doanh nghiệp ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long hoặc doanh nghiệp ở một địa phương trong khu vực là không phù hợp Do các doanh nghiệp ở các tỉnh trong khu vực chỉ tập trung sản xuất, kinh doanh một số mặt hàng nuôi trồng thủy sản, chế biến thủy sản xuất khẩu,… Khi vận dụng mô hình lý thuyết phát triển bền vững doanh nghiệp sản xuất công nghệ cao tại Đài Loan sẽ không phù hợp cho nghiên cứu phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bạc Liêu Nhưng một số yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp có thể phù hợp mở rộng cho nghiên cứu phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bạc Liêu Như vậy, nghiên cứu sinh hướng đến tìm hiểu mô hình lý thuyết thứ hai

5.2.2 Mô hình lý thuyết hợp nhất việc thực hiện của các tổ chức ảnh hưởng đến phát triển bền vững doanh nghiệp

Tiếp cận các công trình nghiên cứu và đề xuất về mô hình lý thuyết Theo kết quả nghiên cứu của Sarah Elena Windolph (2011) thì đề xuất mô hình lý thuyết

“Đánh giá phát triển bền vững của doanh nghiệp thông qua xếp hạng: những thách thức và nguyên nhân của chúng” Nguyên nhân của những thách thức và xác định ai trong số họ là độc quyền đánh giá cụ thể Kết quả nghiên cứu cho rằng xếp hạng là một cách tiếp cận phù hợp để đánh giá phát triển bền vững của công ty, nhưng các bước nhất định phải được thực hiện để tăng độ tin cậy của họ thông qua kết quả nghiên cứu: Đo lường của công ty phát triển bền vững, đánh giá tính bền vững của

Trang 14

doanh nghiệp, xếp hạng, xã hội, đầu tư chịu trách nhiệm (SRI) Nhưng đối với nghiên cứu của (Christine Byrch, Professor Markus J Milne, Professor Richard K Morgan, Professor Kate Kearins, 2011) lại đề xuất mô hình lý thuyết “liên quan ý nghĩa của phát triển bền vững doanh nghiệp để thực hành kinh doanh” Kết quả nghiên cứu phản ứng doanh nghiệp để phát triển bền vững đã ở một số khu, được đánh giá tích cực, có một nền văn hóa mở rộng và mở rộng mô tả những gì có nghĩa

là phát triển bền vững cho doanh nghiệp, làm thế nào cần được thực hiện, làm thế nào nó đã được thực hiện thông qua năm yếu tố như: xã hội; chủ nghĩa cá nhân ; sinh thái học ; hiê ̣n thực ; tương lai học Tuy nhiên, việc thực hiện phát triển bền vững của doanh nghiệp đã được đơn giản, hầu hết các hoạt động trong báo cáo này

là các dự án mà lợi nhuận tài chính đã được thực hiện từ sáng kiến môi trường, phản ánh một con người quá yếu hoặc quan điểm đòi hỏi ít hoặc cải cách thay đổi hiện trạng Nhưng năm 2012 cũng có một công trình nghiên cứu của Stefan Schaltegger; Christian Herzig; Oliver Kleiber; Jan Müller (2012) đề xuất mô hình lý thuyết “tầm nhìn của phát triển bền vững bao trùm ba chiều - các khía cạnh kinh tế, sinh thái và

xã hội - và tìm cách tích hợp chúng” Mục tiêu phát triển bền vững đối mặt với các doanh nghiệp kinh doanh với bốn thách thức phát triển bền vững: (1) Thách thức sinh thái: tăng hiệu quả sinh thái; (2) Thách thức xã hội: tăng hiệu quả xã hội; (3) Thách thức kinh tế để quản lý môi trường và xã hội: nâng cao hiệu quả sinh thái hoặc xã hội tính hiệu quả; (4) Thách thức hội nhập: cùng nhau đưa ba thách thức đầu tiên và tích hợp môi trường và xã hội quản lý trong quản lý kinh tế theo định hướng thông thường Nhưng các công trình này cho thấy chưa phù hợp khi vận dụng vào nghiên cứu lĩnh vực phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản tại tỉnh Bạc Liêu Riêng đối với Kent Fairfield, Joel Harmon & Scott Behson (2011) đã kế thừa mô hình nghiên cứu của Joel Harmon (2009) để mở rộng mô hình lý thuyết

“Việc thực hiện của các tổ chức ảnh hưởng đến phát triển bền vững doanh nghiệp: một mô hình hợp nhất” Tích hợp doanh nghiệp bền vững là các mối liên kết giữa

ảnh hưởng bên ngoài doanh nghiệp, quá trình điều khiển quyết định tính bền vững, cho phép tổ chức cơ bản, các hạn chế nội bộ (bên trong doanh nghiệp), phương thức bền vững và hiệu suất phát triển bền vững doanh nghiệp Bắt đầu từ mô hình, dự kiến rằng việc sử dụng rộng rãi hơn của môi trường và xã hội phương thức bền vững chịu trách nhiệm sẽ mang lại cải thiện hiệu suất lớn hơn Kỳ vọng này dựa

Trang 15

trên các bằng chứng tích cực từ các nghiên cứu phát triển bền vững doanh nghiệp (Mô hình 2.2) Như vậy, mô hình lý thuyết và kết quả kiểm định đạt như sau:

1) Tổ chức thực hiện phương thức bền vững ở mức độ nhiều sẽ chứng minh cải thiện hiệu suất tốt hơn so với không thực hiện phương thức phát triển bền vững

2) Các tổ chức thực hiện các vấn đề phát triển bền vững là tiến trình điều khiển quyết định quan trọng hơn sẽ thực hiện phương thức bền vững mở rộng hơn

so với các tổ chức mà họ không thực hiện

3) Các hạn chế nội bộ doanh nghiệp sẽ có tác động tiêu cực đến việc thực hiện các phương thức phát triển bền vững, trực tiếp và gián tiếp làm suy yếu cộng với tiến trình điều khiển quyết định

4) Cho phép nền tảng mạnh sẽ ảnh hưởng tích cực thực hiện các phương thức bền vững, trực tiếp cộng gián tiếp bằng cách tăng cường tiến trình điều khiển quyết định và giảm dần các hạn chế nội bộ

5) Các tổ chức thực hiện phương thức bền vững thông qua ảnh hưởng đến mức

độ tác động tích cực hay tiêu cực của họ trên khả năng nền tảng tổ chức, trình điều khiển quyết định và các hạn chế nội bộ doanh nghiệp

Những ảnh

hưởng từ bên ngoài:

Thiếu nhu cầu các bên liên

quan; Bất lợi cạnh tranh

Những ảnh

hưởng từ bên ngoài:

Thiếu nhu cầu các bên liên

quan; Bất lợi cạnh tranh

Quyết định điều khiển:

Các vấn đề hoạt động môi trường;

Ngoài các bên liên quan / vấn đề thị trường; Lực lượng lao động;

Danh tiếng/Sáng tạo/tuân thủ các vấn

đề.

Quyết định điều khiển:

Các vấn đề hoạt động môi trường;

Ngoài các bên liên quan / vấn đề thị trường; Lực lượng lao động;

Danh tiếng/Sáng tạo/tuân thủ các vấn

đề.

Thực hành:

Tích hợp; Hiệu quả sinh thái;

Nhân viên/đạo đức; cải thiện nhận

thức

Thực hành:

Tích hợp; Hiệu quả sinh thái;

Nhân viên/đạo đức; cải thiện nhận

thức

Hiệu suất phát triển bền vững:

Tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp; Lợi nhuận của doanh nghiệp; Thị phần của doanh nghiệp;

Sự hài lòng khách hàng của doanh nghiệp

Hiệu suất phát triển bền vững:

Tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp; Lợi nhuận của doanh nghiệp; Thị phần của doanh nghiệp;

Sự hài lòng khách hàng của doanh nghiệp

Mô hình 2.2: Mô hình khái niệm liên kết tất cả các biến tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp trong nghiên cứu

Trang 16

Nguồn: từ Kent Fairfield, Joel Harmon & Scott Behson, 2011

Kết quả nghiên cứu của mô hình tích hợp phát triển bền vững doanh nghiệp xuất hiện để mở rộng những gì các nhà nghiên cứu trước đây đã thực hiện, bởi tập hợp chủ yếu là các dòng lý thuyết khác nhau và kết quả thực hiện được kết nối liên quan đến tiền đề phát triển bền vững doanh nghiệp Đặc biệt, mô hình lý thuyết giúp cho chúng ta thấy rõ hơn tác động trực tiếp và gián tiếp chung về việc thực hiện các phương thức phát triển bền vững doanh nghiệp ảnh hưởng từ các yếu tố bên trong

và bên ngoài doanh nghiệp Mô hình lý thuyết có kết quả nghiên cứu phù hợp với các dữ liệu và chứng minh giá trị tiên đoán trong các yếu tố dự báo của mô hình Quan trọng nhất, mô hình tích hợp này có thể được sử dụng như một hướng dẫn cho các nghiên cứu trong tương lai về kinh doanh, lãnh đạo, và các vấn đề ra quyết định

có thể ảnh hưởng đến việc xây dựng thành công và thực hiện phát triển bền vững doanh nghiệp Ngoài ra, mô hình lý thuyết này được nghiên cứu tập trung chủ yếu

từ các công ty đa quốc gia, công ty xuyên quốc gia và các công ty lớn ở Mỹ Khi xét

về quy mô, trình độ phát triển doanh nghiệp ở Mỹ sẽ khác xa đối với quy mô và trình độ phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam, doanh nghiệp ở Việt Nam phần lớn là các loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm trên 97% (Cục Phát triển doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2011) Nếu vận dụng mô hình lý thuyết hợp nhất việc thực hiện của các tổ chức ảnh hưởng đến phát triển bền vững doanh nghiệp ở

Mỹ vào nghiên cứu các doanh nghiệp ở Việt Nam sẽ tìm ẩn nhiều rủi ro, không phù hợp về quy mô và trình độ phát triển doanh nghiệp Nhưng có một số yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp nếu được điều chỉnh, vận dụng vào nghiên cứu các doanh nghiệp ở Việt Nam sẽ phù hợp, như điển hình nghiên cứu các yếu tố phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản tại tỉnh Bạc Liêu Tiếp theo nghiên cứu sinh trình bày sơ lược mô hình lý thuyết thứ ba sẽ vận dụng vào nghiên cứu phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bạc Liêu

5.2.3 Mô hình lý thuyết phát triển bền vững trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở khu vực Australia

Trước hết, tìm hiểu một số mô hình lý thuyết được nghiên cứu trong năm

2013, các công trình nghiên cứu được xem là điển hình nhất và được mở rộng hơn ở lĩnh vực nghiên cứu về phát triển bền vững doanh nghiệp như: Prabodha Acharya &

Trang 17

Sudipta Das (2013) công bố “Chỉ số Dow Jones bền vững thế giới (DJSI)” theo chỉ

số DJSI sử dụng một cách tiếp cận tốt nhất để lựa chọn các nhà lãnh đạo từ trên tất

cả các ngành công nghiệp dựa trên tiêu chuẩn bền vững để đánh giá doanh nghiệp phát triển bền vững thông qua 6 yếu tố: 1 Kinh tế (tình hình kinh tế, hiện diện thị trường, tác động kinh tế); 2 Môi trường (tài liệu; năng lượng; nước; đa dạng sinh học; thải, nước thải và phế thải; sản phẩm & dịch vụ; tuân thủ luật); 3 Xã hội (việc làm; những quan hệ lao động/quản lý; sức khỏe & an toàn; đào tạo và giáo dục); 4 Nhân quyền (đầu tư và mua sắm thực hành; không phân biệt; tự do hội và thương lượng tập; lao động trẻ em; cưỡng bức và bắt buộc lao động); 5 Sự giao thiệp (cộng đồng; tham nhũng; chính sách công; tuân thủ); 6 Trách nhiệm sản phẩm (sức khỏe khách hàng và an toàn; sản phẩm và dịch vụ dán nhãn; truyền thông tiếp thị; tuân thủ) Theo Maurizio Zollo (2013) thì lại nghiên cứu ở một khía cạnh khác và đề xuất mô hình lý thuyết như: “Sau cái gì và tại sao: Sự hiểu biết tiến triển tổ chức đối với mô hình phát triển bền vững doanh nghiệp”, kết quả sự hiểu biết của các tổ chức doanh nghiệp, từ cách chuyển đổi sang doanh nghiệp bền vững hơn mô hình đòi hỏi việc xác định các sáng kiến mà qua đó sự thay đổi xảy ra nhằm đạt được nguyện vọng thực hiện ở cấp độ kinh tế, xã hội và môi trường Sáng kiến thay đổi là lần đầu tiên phân tích về một số thuộc tính lý thuyết quan trọng Như mức độ sâu mà các nỗ lực thay đổi nhằm mục đích để đạt được các yếu tố tinh tế nhất và cơ bản của doanh nghiệp, chẳng hạn như mục đích chia sẻ, chứ không phải là hạn chế tham vọng của mình đến các yếu tố sắp xếp cấu trúc (như việc tạo ra một bộ phận phát triển bền vững) hoặc hiện vật mang tính biểu tượng (như: báo cáo phát triển bền vững doanh nghiệp) Riêng công trình nghiên cứu của Parisa Salimzadeh, Jerry Courvisanos and Raveendranath Ravi Nayak (2013) đưa ra khung lý thuyết nghiên cứu “Phát triển bền vững trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở khu vực Australia: Một khung phân tích”, kết quả nhóm hai yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài doanh nghiệp Ngoài

ra, kết quả nghiên cứu cho thấy các mối quan hệ giữa phát triển bền vững doanh nghiệp và những yếu tố này thách thức phải đối mặt trong việc ứng dụng các nguyên tắc phát triển bền vững Các sức mạnh và tầm quan trọng của các mối quan

hệ tiềm năng cũng sẽ được điều tra thực tế từ doanh nghiệp Hơn nữa, dựa trên mô hình lý thuyết, các doanh nghiệp sẽ được xếp hạng theo cam kết của doanh nghiệp

Trang 18

với phát triển bền vững cũng như tương đồng và khác biệt của doanh nghiệp về tính bền vững

Mô hình lý thuyết phát triển bền vững trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở khu vực Australia của Parisa Salimzadeh, Jerry Courvisanos and Raveendranath Ravi Nayak (2013) được xem là mô hình thuyết phát triển bền vững doanh nghiệp hoàn chỉnh hơn và phù hợp tình hình phát triển doanh nghiệp như ở Việt Nam, phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam chiếm trên 97%, đồng thời cũng phù hợp hơn

so với mô hình lý thuyết của Kris M Y Law (2010) và Kent Fairfield, Joel Harmon

& Scott Behson (2011) Cách tiếp cận mô hình này cũng được xem là mô hình nền tảng của nghiên cứu trong luận án, nhưng nghiên cứu sinh có kế thừa các yếu tố, điều chỉnh và bổ sung mới từ mô hình lý thuyết của Parisa Salimzadeh, Jerry Courvisanos and Raveendranath Ravi Nayak (2013)

Yếu tố bên trong (nội bộ)

- Sự công bố của báo cáo

- Các biện pháp đánh giá tích hợp

- Đào tạo về môi trường

- Hiệu quả dử đụng tài nguyên

- Quản lý nguồn nhân lực

- Trao quyền nhân viên

- Làm việc theo nhóm và hệ thống khen thưởng

- Nhân viên tín ngưỡng

- Mức độ hiểu biết và kinh nghiệm

- Cung cấp các điều kiện an toàn

- Xây dựng thương hiệu

- Giá trị thương hiệu

- Tham gia của các bên liên

quan

Yếu tố bên ngoài

quản lý

Phát triển bền vững trong doanh nghiệp nhỏ và vừa

của Úc

Mô hình 2.3: Khung lý thuyết phát triển bền vững doanh nghiệp nhỏ và vừa của Úc

Trang 19

Nguồn: Trích từ Parisa Salimzadeh, Jerry Courvisanos and Raveendranath Ravi Nayak, 2013

Nhìn chung, ba mô hình lý thuyết và kết quả kiểm định mô hình ở trên liên quan đến phát triển bền vững doanh nghiệp, nghiên cứu sinh kế thừa và khám phá, rút ra một số nhận xét từ những vấn đề có liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng và mối quan hệ đến phát triển bền vững doanh nghiệp để làm nền tảng cho nghiên cứu tiếp theo của mình

Do đó, xét về tính đặc thù ở các thị trường có nền kinh tế mới chuyển đổi như Việt Nam; nền kinh tế thị trường có cấu trúc đa sở hữu Các chủ thể sở hữu và các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường là độc lập và bình đẳng với nhau trước pháp luật, cả trong hoạt động kinh doanh Nhưng mỗi hình thức sở hữu và mỗi chủ thể sở hữu lại có vai trò, vị thế và chức năng đặc thù trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường Khi vận dụng mô hình nghiên cứu có sẵn cần phải chọn lộc những kết quả nào phù hợp với đặc điểm tình hình phát triển kinh tế của Việt Nam

Cụ thể áp dụng vào nghiên cứu các yếu tố bên ngoài và bên trong tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp ở một địa phương, sau đó sàn lộc lại các yếu tố để làm nền tảng cho nghiên cứu phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản, đặc biệt nghiên cứu sinh tiến hành nghiên cứu phạm vi thu hẹp lại đối với những doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất, chế biến và kinh doanh xuất khẩu thủy sản tại tỉnh Bạc Liêu

Như vậy, qua một số gợi ý và những vấn đề còn hạn chế trong nghiên cứu cần được mở rộng phạm vi mô hình lý thuyết phát triển bền vững doanh nghiệp nhằm để tổng quát lý thuyết hơn, cùng với các đề tài đã nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau có liên quan đến lĩnh vực phát triển bền vững doanh nghiệp Bảng 2.3 Tóm tắt tiếp cận các yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp

Một số chủ đề gợi ý thực hiện nghiên cứu tiếp theo: Các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản và một tầm nhìn chung của mô hình phát triển bền vững doanh nghiệp Việc vận dụng của cả hai yếu tố bên ngoài và bên trong doanh nghiệp tác động đến việc thực hiện phát triển bền vững doanh nghiệp

Trang 20

thủy sản Bạc Liêu còn liên quan đến khuyến khích các hoạt động thân thiện với môi trường

Bảng 2.3: Tóm tắt tiếp cận các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp

Nguồn: tổng hợp nghiên cứu của tác giả

Ghi chú các yếu tố: yếu tố 1 (Khách hàng), yếu tố 2 (Xu hướng thị trường), yếu tố 3 (Thiếu nhu cầu các bên liên quan), yếu tố 4 (Chính sách hỗ trợ nhà nước), yếu tố 5 (An sinh xã hội), yếu tố 6 (Lực lượng lao động/nhiên viên), yếu tố 7 (Người quản lý/Chủ sở hữu), yếu tố 8 (Trách nhiệm sản phẩm), yếu tố 9 (Phòng chống ô nhiễm môi trường)

2.6 Sự hình thành mô hình lý thuyết đề nghị phát triển bền vững các doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu

Từ các công trình nghiên cứu về mô hình lý thuyết và kết quả nghiên cứu liên quan đến phát triển bền vững doanh nghiệp Kris Law (2010) đưa ra mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững: Các công ty công nghệ cao sản xuất tại Đài Loan (yếu tố quản lý, yếu tố nội bộ và yếu tố bên ngoài) Kent

Fairfield, Joel Harmon, Scott Behson (2011) kiểm định một mô hình hợp nhất: Ảnh

hương việc thực hiện tổ chức phát triển bền vững doanh nghiệp; và Sarah Elena Windolph (2011) lại đo lường doanh nghiệp phát triển bền vững thông qua mối quan hệ đánh giá tính bền vững của doanh nghiệp, xếp hạng, xã hội, đầu tư chịu trách nhiệm Maurizio Zollo (2013) đưa ra câu hỏi Sau cái gì và tai sao: Hiểu biết

sự tiến triển tổ chức đối với mô hình bền vững doanh nghiệp, đến Parisa Salimzadeh, Jerry Courvisanos và Raveendranath Ravi Nayak (2013) lại đưa ra khung lý thuyết phát triển bền vững doanh nghiệp vừa và nhỏ ở khu vực Úc: Một

Trang 21

khung lý thuyết phân tích yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài Như vậy, trên cơ sở các lý thuyết phát triển bền vững doanh nghiệp đã được hệ thống từ các mô hình lý thuyết trên Nghiên cứu sinh đề xuất mô hình lý thuyết phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu (mô hình 2.2) Đối với một lý thuyết khoa học chúng ta

có nhiều định nghĩa khác nhau Nhưng theo Kerlinger (1986), một lý thuyết khoa học là “một tập của những khái niệm, đinh nghĩa và giả thuyết trình bày có hệ thống thông qua các mối quan hệ giữa các khái niệm, nhằm mục đích giải thích và dự báo các hiện tượng khoa học”

Mặc dù có một số nghiên cứu độc lập về thái độ đối với phát triển bền vững trong doanh nghiệp nhỏ và vừa của Úc, kết quả đã cung cấp một sự hiểu biết toàn diện về các hoạt động môi trường bền vững thực tế tại các doanh nghiệp trong khu vực Để lấp đầy khoảng trống này, đề xuất nhằm góp phần thu hẹp khoảng cách kiến thức thông qua việc xác định các rào cản đối với phát triển bền vững có thể được thực hiện bởi các doanh nghiệp nhỏ trong khu vực để thúc đẩy một con đường chuyển đổi sang một mô hình kinh doanh bền vững hơn mà có thể được áp dụng cho khu vực Australia Nó có thể được sử dụng như một cơ sở cho việc ứng dụng rộng rãi trong các khu vực khác, nơi cũng là rào cản đáng kể Trong nghiên cứu này, một khuôn khổ sáng tạo được phát triển và trình bày rằng sẽ đưa vào xem xét các yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến việc áp dụng các nguyên tắc phát triển bền vững trong doanh nghiệp nhỏ trong khu vực Úc Nhóm yếu tố bên trong

và yếu tố bên ngoài doanh nghiệp được nghiên cứu sinh kế thừa, điều chỉnh từ khung lý thuyết phát triển bền vững doanh nghiệp vừa và nhỏ của Parisa Salimzadeh, Jerry Courvisanos và Raveendranath Ravi Nayak (2013) Kế thừa nhóm yếu tố bên ngoài (gồm ba yếu tố: khách hàng, chính phủ, các bên liên quan)

và bổ sung thêm hai yếu tố mới (xu hướng thị trường, an sinh xã hội); yếu tố bên trong (gồm ba yếu tố: nhân viên, chủ sở hữu/người quản lý, hiệu suất) được kế thừa hai yếu tố (lực lượng lao động, chủ sở hữu/người quản lý) và bổ sung thêm hai yếu

tố mới (trách nhiệm sản phẩm, phòng chống ô nhiễm môi trường) từ kết quả nghiên cứu trên, riêng bốn yếu tố được nghiên cứu sinh bổ sung mới cho phù hợp đặc trưng của doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bạc Liêu

Trang 22

Sự phát triển bền vững doanh nghiệp được đặc trưng bởi số lượng lớn các yếu tố ảnh hưởng Sự đa dạng đánh giá của hệ thống đáng các yếu tố có thể ảnh hưởng đến những phát triển bền vững doanh nghiệp Mục đích nghiên cứu là để cung cấp các cơ sở trong tương lai, căn cứ để thực hiện thay đổi từ cách tiếp cận phát triển bền vững doanh nghiệp, điều chỉnh các mối quan hệ đến doanh nghiệp thủy sản từ các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Từ các công trình nghiên cứu hiện ở trên về mô hình lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm của các yếu

tố có mối quan hệ đến phát triển bền vững doanh nghiệp, các tác giả đã xác định nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững doanh nghiệp (Diana Sergeevna Kandaurova, Svetlana Igorevna Ashmarina, Anna Sergeevna Zotova, 2015)

Tóm lại, các mô hình lý thuyết hướng đến đánh giá các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp Mặc dù nó

đã được thiết kế để đánh giá tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Chỉ có ba mô hình lý thuyết, Kris Law (2010) và Kent Fairfield, Joel Harmon, Scott Behson (2011) có nghiên cứu thực nghiệm, còn mô hình lý thuyết Parisa Salimzadeh, Jerry Courvisanos và Raveendranath Ravi Nayak (2013) chưa nghiên cứu thực nghiệm Tuy nhiên mô hình lý thuyết này được kế thừa từ các mô hình lý thuyết trước đó đã nghiên cứu thực nghiệm Trong thực tế, nếu sử dụng mô hình lý thuyết có sẵn sẽ tìm ẩn nhiều rủi ro, do trình độ thị trường phát triển khác nhau Ví dụ trình độ phát triển thị trường của Úc khác với trình độ phát triển thị trường Việt Nam Kinh tế Úc là nền kinh tế phát triển còn nền kinh tế Việt Nam là kinh tế mới chuyển đổi sang kinh tế thị trường và trình độ của nền kinh tế mới phát triển Nhưng nhìn chung, mô hình lý thuyết phát triển bền vững trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở khu vực Australia vận dụng vào nghiên cứu loại hình doanh nghiệp Việt Nam là phù hợp, phần lớn loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam chiếm trên 97% Do đó, việc vận dụng mô hình lý thuyết của Parisa Salimzadeh, Jerry Courvisanos và Raveendranath Ravi Nayak (2013) vào thị trường Việt Nam,

cụ thể như địa phương tỉnh Bạc Liêu cần phải nghiên cứu định tính các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, đồng thời loại bỏ một số yếu tố không phù hợp và điều chỉnh, bổ sung mới một số yếu tố nhằm phù hợp tại địa phương nghiên cứu

Trang 23

Đây sẽ là nội dung của mô hình lý thuyết đề nghị nghiên cứu Mô hình lý thuyết được nhóm từ yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài sẽ tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bạc Liêu, thể hiện các khái niệm có liên quan đến hai nhóm thuộc tính yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp (Mô hình 2.4)

Yếu tố bên ngoài

Yếu tố bên trong (nội bộ)

F4 Chính sách hỗ trợ Nhà nước

F3 Thiếu nhu cầu các bên liên quan

lý)

F8 Trách nhiệm sản phẩm

Phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản

F2

Xu hướng thị trường

F5

An sinh xã hội

F9

Phòng chống ô nhiễm môi trường

Mô hình 2.4: Đề nghị mô hình lý thuyết các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu

2.6.1 Yếu tố bên ngoài doanh nghiệp

Yếu tố bên ngoài doanh nghiệp có mối quan hệ tác động trực tiếp đến phát triển bền vững doanh nghiệp là các thành phần của yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng đến doanh nghiệp cụ thể như: Khách hàng; Xu hướng thị trường; Thiếu nhu cầu các bên liên quan; Chính sách hỗ trợ nhà nước và An sinh xã hội

 Khách hàng

Trong khuôn khổ mối quan hệ phát triển bền vững, cung cấp một ống kính lý thuyết hiệu quả và có thể giúp làm sáng tỏ những đặc thù của doanh nghiệp nhỏ liên quan đến chương trình khách hàng Nó đã giúp tái khái niệm bản chất của công ty,

Trang 24

khuyến khích mới các bên liên quan xem xét bên ngoài, vượt ra ngoài truyền thống

cổ đông, khách hàng, nhân viên và các nhà cung cấp, và hợp pháp hóa lần lượt các hình thức mới của sự hiểu biết quản lý và hành động, mối quan hệ các bên liên quan đang ngày càng được công nhận như là một khía cạnh quan trọng của sự khác biệt trong trường hợp của các doanh nghiệp nhỏ (Jun Ma, 2012)

Từ góc độ yếu tố bên ngoài, chính phủ, khách hàng và các bên liên quan là

ba nhóm người ảnh hưởng đến việc thực hiện phát triển bền vững trong khu vực doanh nghiệp nhỏ Áp lực khách hàng để áp dụng phát triển bền vững cũng là một yếu tố ảnh hưởng lớn Điều này hoạt động thông qua giá trị thị trường của sản phẩm, dịch vụ bền vững và xây dựng thương hiệu của các sản phẩm và dịch vụ Ứng dụng của cả ba yếu tố này ảnh hưởng đến việc thực hiện phát triển bền vững của khách hàng (Parisa Salimzadeh, Jerry Courvisanos and Raveendranath Ravi Nayak, 2013) Yếu tố khách hàng thông qua ba biến quan sát như: Áp lục Khách hàng, Xây dựng thương hiệu, Giá trị thị trường Khách hàng của doanh nghiệp cũng

có thể đóng một vai trò quan trọng bởi ảnh hưởng đến phát triển bền vững doanh nghiệp Trước hết cần tập trung và ưu tiên cải thiện khả năng của doanh nghiệp trong việc thực hiện những sản phẩm có trách nghiệm với khách hàng một cách chính xác và thân thiện

Các vấn đề liên quan đến nghiên cứu trong nước và ngoài nước có liên quan đến yếu tố khách hàng Theo kết quả một cuộc khảo sát do ERC Việt Nam phối hợp với CIMIGO thực hiện (29/6/2012) với hơn 78% khách hàng cho rằng các công ty nước ngoài có dịch vụ chăm sóc khách hàng tốt hơn các doanh nghiệp Việt Nam Một yếu tố quan trọng quyết định thành công của các doanh nghiệp này chính là dịch vụ khách hàng luôn được chú trọng và đảm bảo chất lượng Tuy nhiên, đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam, dịch vụ chăm sóc khách hàng vẫn chưa được chú trọng Tỉ lệ đó cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam cần chú trọng hơn vào việc nâng cao chất lượng dịch vụ để giữ được lòng trung thành của khách hàng đối với sản phẩm và dịch vụ mà mình cung cấp

Việc áp dụng nghiên cứu yếu tố khách hàng thuộc nhóm bên ngoài doanh nghiệp nghiên cứu đối với loại hình doanh nghiệp thủy sản, tác giả cho rằng là phù hợp và chỉ tập trung phân tích yếu tố khách hàng như; khách hàng tin tưởng cung cấp nguyên liệu đầu vào cho doanh nghiệp, khách hàng tin tưởng vào sản phẩm của

Trang 25

doanh nghiệp, khách hàng tin tưởng vào mối quan hệ lâu dài với doanh nghiệp,…tạo nên mối quan hệ đến phát triển bền vững doanh nghiệp, trong trường hợp nghiên cứu doanh nghiệp thủy sản tại thị trường tỉnh Bạc Liêu Như vậy, giả thuyết đầu tiên đặt ra như sau:

Giả thuyết H 1 : Khách hàng có mối quan hệ tác động dương đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản

 Xu hướng thị trường

Xu hướng thị trường đã được đưa ra đối với môi trường kinh doanh, và khu vực tư nhân đã không còn được xem như là một hỗn hợp của các doanh nghiệp phân loại chủ yếu theo kích thước mà còn là một hệ thống tích hợp của thị trường sản phẩm và dịch vụ quản lý bởi một khung pháp lý đáp ứng với những thay đổi trong nhu cầu, một phần mô hình xuất hiện, liên quan cuối cùng với năng lực cạnh tranh quốc gia Mô hình chấp nhận cải thiện môi trường đầu tư, tập trung chủ yếu vào việc tăng cường các cơ hội, ưu đãi và điều kiện thu hút đầu tư và thúc đẩy sự phát triển chính thức, thường các doanh nghiệp lớn hơn, và với phương pháp tiếp cận từ dưới lên quan tâm đến việc tạo ra xu hướng thị trường, đặc biệt về đảm bảo rằng cơ hội đạt cho các thị trường nhằm mở rộng kinh doanh của doanh nghiệp (Báo cáo VI, Hội nghị Lao động Quốc tế, 2007) Làm cho thị trường hoạt động và cải thiện môi trường kinh doanh không chỉ đơn giản là về giải thoát lực lượng thị trường Đó là một cách tiếp cận nhận ra rằng thị trường hiệu quả cần tổ chức hiệu quả, và thị trường có thể không luôn luôn được để lại cho mình để phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả Nếu thị trường không làm việc, thất bại thị trường được cho

là xảy ra Có bốn lĩnh vực rộng lớn của thất bại thị trường tiềm năng: cung cấp hàng hóa công cộng; lạm dụng quyền lực thị trường; ngoại tác tích cực và tiêu cực, và thông tin bất đối xứng Trong mỗi trường hợp, chính phủ có vai trò trong việc đảm

bảo thị trường hoạt động tốt hơn và lợi ích công cộng rộng lớn hơn Theo QU Feng

geng (2007) nhận định khả năng phát triển thị trường: khả năng phát triển thị trường của doanh nghiệp là sức mạnh chi phối mà doanh nghiệp có được ảnh hưởng và chi phối hành động của các bên quan tâm liên quan và được thực hiện bằng phương tiện kinh doanh đáng tin cậy, mối quan hệ tiếp thị, hoạt động thương hiệu, tiện ích công cộng, liên minh chiến lược và đẩy nhanh sự phát triển bền vững các doanh nghiệp

Trang 26

Xu hướng thị trường khuyến khích doanh nghiệp thực sự còn tồn tại để thúc đẩy sự phát triển bền vững (Becker-Olsen et al, 2006) Giống như sản phẩm công nghệ cao, các công ty cần phải phát triển sản phẩm bền vững đáp ứng nhu cầu thị trường Sự phát triển sản phẩm bền vững bao gồm cả chi phí và thị trường các yếu

tố phản ánh phổ biến của chủ đề nâng cao lợi nhuận, cải thiện khả năng tiếp thị sản phẩm và nhận thức về các công ty của người tiêu dùng một cách hiệu quả (Kris Law, 2010)

Như vậy, về yếu tố bên ngoài đã bao gồm yếu tố xu hướng thị trường được Kris Law và Báo cáo VI, Hội nghị Lao động Quốc tế đưa ra trong mô hình phát triển bền vững doanh nghiệp nhưng chưa được kiểm định, việc phát hiện mới yếu tố

xu hướng thị trường được áp dụng vào việc nghiên cứu trong yếu tố bên ngoài tác động vào phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản, bởi doanh nghiệp đang giữ vững cơ cấu các thị trường xuất khẩu thủy sản truyền thống như Nhật Bản, Mỹ và

EU và tiếp tục mở rộng thị trường các vùng Đông Âu, Bắc Âu, Trung Đông, Châu Phi, Bắc Mỹ, Nam Mỹ và Châu Á; Đổi mới phương thức thực hiện xúc tiến thương mại và phát triển thị trường phù hợp với chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu, theo hướng các hiệp hội và doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp tổ chức thực hiện, nhà nước giữ vai trò xây dựng cơ chế, chính sách và hỗ trợ các hoạt động doanh nghiệp

Trên cơ sở lý thuyết được trích dẫn ở trên, chúng tôi đưa ra giả thuyết xu hướng thị trường tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản:

Giả thuyết H 2 : Xu hướng thị trường có mối quan hệ tác động dương đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản

 Thiếu nhu cầu các bên liên quan

Khái niệm tích hợp các biên liên quan được nghiên cứu nhiều nhất trong lĩnh vực môi trường doanh nghiệp Theo đó, tích hợp các biên liên quan chính là khả năng quản lý áp lực các bên liên quan, là một chỉ số quan trọng của hiệu quả tổ chức Hosmer (1994) Áp lực các bên liên quan xung đột đã được chứng minh là ảnh hưởng đến môi trường của chiến lược doanh nghiệp (Bansal & Roth, 2000), những tác động áp lực các bên liên quan bao gồm thay đổi nổi bật của vấn đề phát triển bền vững Hart (1995) cho rằng điều này là do việc tích hợp kiến thức từ các bên liên quan giúp một sản phẩm thiết kế doanh nghiệp và các quy trình với tác động môi trường thấp hơn Sanjay Sharma (2004) khái niệm một khả năng tích hợp các

Trang 27

bên liên quan sẽ được liên kết tích cực với sự phát triển của một chiến lược môi

trường chủ động Kết quả khẳng định khả năng của tổ chức học tập, tích hợp đa

chức năng, liên tục đổi mới, chủ động và chiến lược cho thấy tác động tích cực và

có ý nghĩa về chiến lược môi trường ở mức trung bình của các biến số khác Đó là bằng cách nhận ra những mối quan tâm kinh tế, xã hội và môi trường xung đột của một tập các bên liên quan rộng và đáp ứng bằng cách tạo ra các quy trình và phân

bổ nguồn lực mà một công ty có thể tạo ra môi trường chiến lược chủ động

Theo Joel Harmon (2009) nghiên cứu một phân tích so sánh của Chiến lược phát triển bền vững tổ chức: Những tiền đề và hiệu suất kết quả nhận thức của Hoa

Kỳ và người quản lý không phải Mỹ Kết quả cho thấy yếu các chất hạn chế bền

vững được đo lường thông hai yếu tố thiếu hụt nội bộ và hiếu nhu cầu các bên liên quan, sự đánh giá thông qua phản ứng với mức độ công ty di chuyển về hướng phát triển bền vững doanh nghiệp Nhưng theo Kent Fairfield, Joel Harmon, Scott Behson (2011), thực hành tập trung vào sự đổi mới phát triển bền vững liên quan đến sản phẩm, phát triển thị trường, xây dựng thương hiệu Vẫn còn những người khác nhấn mạnh sự tham gia của các bên liên quan, bao gồm cả các nhà cung cấp, các nhà đầu tư, cộng đồng, quản lý, và một loạt các nhóm hoạt động Các bên liên quan trong khu vực cũng có thể đóng một vai trò quan trọng bởi ảnh hưởng đến phá triển bền vững của doanh nghiệp thông qua tham gia vào các hoạt động khác nhau như việc ra quyết định, và khuyến khích các hoạt động thân thiện với môi trường (Parisa Salimzadeh, Jerry Courvisanos and Raveendranath Ravi Nayak, 2013)

Đối với thị trường nghiên cứu như tỉnh Bạc Liêu, phần lớn các doanh nghiệp

ở đây mức độ phát triển còn thấp hơn so với các thành phố lớn trong nước, đặc biệt

so với doanh nghiệp ở các nước phát triển thì doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bạc Liêu

sẽ ảnh hưởng mạnh bởi sự thiếu nhu cầu tham các bên liên quan như thiếu nhu cầu

từ cộng đồng, thiếu nhu cầu từ các nhà cung cấp, thiếu nhu cầu từ người tiêu dùng

và khách hàng, thiếu nhu cầu từ các cổ đông và nhà đầu tư Đồng thời yếu tố thiếu nhu cầu các bên liên quan được nghiên cứu và kiểm định đối với doanh nghiệp thủy sản tại tỉnh Bạc Liêu, chúng tôi đưa ra giả thuyết như sau:

Giả thuyết H 3 : Thiếu nhu cầu các bên liên quan có mối quan hệ tác động dương đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản

 Chính sách hỗ trợ nhà nước

Trang 28

Chính sách hỗ trợ nhà nước tức là đạt được các kết quả kinh tế tốt nhất có thể, nhiệm vụ liên quan đến trong bối cảnh phát triển bền vững Phát triển bền vững của doanh nghiệp và làm chủ thành công của các thách thức của nó không chỉ mở ra

cơ hội cho các doanh nghiệp kinh doanh, mà cần sự hỗ trợ từ việc hưởng các chính sách nhà nước đối với doanh nghiệp Tổng hợp tiến trình nghiên cứu ở nhóm các thuộc tính yếu tố chính sách kinh tế thể hiện rất đa dạng Bởi các công trình nghiên cứu trên được khảo sát từ các công ty đa quốc gia, tập đoàn kinh kế, tổng công ty có quy mô lớn ở những nước phát triển David Reed and Fulai Sheng (1998) kết quả nghiên cứu, xem nghèo đói là kết quả của mối quan hệ bất bình đẳng giữa cạnh tranh xã hội nhóm, và thúc đẩy mối quan hệ suy thoái môi trường ở các nước đang phát triển Đối với doanh nghiệp dễ bị tổn thương từ chính sách kinh tế của chính phủ, qua đó đánh đổi giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội, và môi trường bền vững Báo cáo VI, Hội nghị Lao động Quốc tế (2007), các lĩnh vực chính sách là: chính sách kinh tế vĩ mô (tỷ giá hối đoái tài chính, tiền tệ), đặc biệt là những ảnh hưởng đến điều kiện nhu cầu; chính sách kinh tế vĩ mô cụ thể sẽ thúc đẩy điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển bền vững Lê Thế Giới & nhóm tác giả (2010) thể chế bền vững thủy sản: liên quan tới việc duy trì năng lực tài chính, hành chính và

tổ chức phù hợp trong dài hạn được xem là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của 3 thành tố bền vững (Bền vững sinh thái, Bền vững kinh tế, Bền vững xã hội) Tính bền vững về thể chế bao gồm hàng loạt các quy định quản lý ngành thủy sản

và các tổ chức để thực hiện những quy định đó: các cơ quan hữu quan quản lý thủy sản một cách chính thức ở cấp chính phủ, cộng đồng, ngư dân hoặc không chính thức (hiệp hội ngư dân hay tổ chức phi chính phủ) Trình điều khiển bên ngoài và rào cản đối với quản lý bền vững của công ty sẽ được thảo luận bởi Bansal and Roth (2000), Skjaerseth and Skodvin (2001) and Winn (1995) Các yếu tố bên ngoài như luật pháp địa phương và các quy định, xu hướng thị trường Parisa Salimzadeh, Jerry Courvisanos and Raveendranath Ravi Nayak (2013), từ góc độ yếu tố bên ngoài, chính phủ, khách hàng và các bên liên quan là ba nhóm người ảnh hưởng đến việc thực hiện phát triển bền vững trong khu vực doanh nghiệp nhỏ Chính phủ quy định là một trong những yếu tố quan trọng bên ngoài ảnh hưởng đến tính bền vững trong doanh nghiệp nhỏ trong khu vực, như quy định như kiểm soát hành vi môi

Trang 29

trường hiện tại, mà còn khuyến khích doanh nghiệp nhỏ để nhìn vào những đổi mới

về mặt sinh thái dựa trên trong tương lai

Đối với Việt Nam chính sách hỗ trợ nhà nước đối với doanh nghiệp đặc biệt được quan tâm, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 13/ NQ-CP ngày 10/5/2012 về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh và hỗ trợ thị trường, trong đó trọng tâm là nhóm giải pháp tài chính, thời gian qua Bộ Tài chính đã miễn, giảm, gia hạn hàng chục ngàn tỷ đồng tiền thuế, phí cho cộng đồng doanh nghiệp Đây thực sự là “liều thuốc bổ” giúp doanh nghiệp phục hồi sản xuất, từng bước vượt qua khó khăn Bộ Tài chính đã thực hiện gia hạn khoảng 11.000 tỷ đồng tiền thuế giá trị gia tăng cho 190.280 doanh nghiệp; gia hạn 2.868 tỷ đồng nợ thuế Thu nhập doanh nghiệp cho 70.300 doanh nghiệp, trong đó số nợ thuế năm 2010 trở về trước chiếm gần 50%; giảm 50% tiền thuê đất năm 2012 cho trên 2.400 doanh nghiệp với số tiền giảm là 250 tỷ đồng Trong năm 2012 việc kê khai thuế Thu nhập doanh nghiệp thực hiện miễn giảm thuế cho các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, Bộ Tài chính đã thực hiện miễn giảm hơn 3.600 tỷ đồng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (http://www.tapchitaichinh.vn)

Như vậy, chính sách nhà hỗ trợ nhà nước cũng có thể thúc đẩy khả năng cạnh tranh, các doanh nghiệp bền vững và tạo việc làm thông qua phương pháp tiếp cận địa phương và khu vực dựa trên sự hỗ trợ cho các khu vực đặc biệt khó khăn bằng cách cung cấp các ưu đãi đầu tư trong các lĩnh vực như một phần của chương trình phát triển rộng lớn hơn Các chương trình này có thể sẽ là quan trọng để nuôi dưỡng nền kinh tế, nhằm thúc đẩy có lợi cho sự sáng tạo và tăng trưởng của các doanh nghiệp bền vững Một cách tiếp cận đặc biệt để nuôi dưỡng và phát triển doanh nghiệp có sự tham gia từ chính sách hỗ trợ trung ương, địa phương trong cộng đồng phát triển kinh tế địa phương

Từ đó cho thấy yếu tố chính sách nhà nước tạo nên ảnh hưởng đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản tại tỉnh Bạc Liêu là phù hợp với tình hình đặc thù của Việt Nam, phần lớn các doanh nghiệp của yếu là rất nhỏ, nhỏ, vừa chiếm trên 96% của cả nước Tuy nhiên, tỉnh Bạc Liêu là một trong những tỉnh kém phát triển trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, các doanh nghiệp thủy sản phần lớn là loại doanh nghiệp nhỏ, vừa chiếm đa số và các doanh nghiệp này có tính đặc thù là

sử dụng chủ yếu lao động phổ thông (vặt đầu tôm, bóc vỏ tôm, phân cở tôm, luộc

Trang 30

chín và nhuộm màu, tiếp nhận, vận chuyển nguyên liệu,…) Do đó, mức độ phát triển doanh nghiệp thủy sản ở tại tỉnh Bạc Liêu còn lạc hậu so với doanh nghiệp ở các nước phát triển Việc vận dụng yếu tố chính sách hỗ trợ nhà nước vào nghiên cứu yếu tố này tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp là phù hợp với tình hình doanh nghiệp của Việt Nam Cụ thể, chúng tôi đưa ra giả thuyết:

Giả thuyết H 4 : Chính sách hỗ trợ nhà nước có mối quan hệ tác động dương đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản

 An sinh xã hội

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã hỗ trợ vận động toàn cầu để mở rộng an sinh xã hội trong hơn một thập kỷ qua Kể từ ra mắt chiến dịch toàn cầu để

mở rộng an sinh xã hội đã nhất trí tại phiên họp thứ 89 của Hội nghị Lao động quốc

tế (ILC) vào năm 2001, ILO đã và đang từng bước tiến chủ đề của an sinh xã hội quốc tế để đạt được một toàn cầu sự đồng thuận Theo ILO định nghĩa an sinh xã hội là sự bảo vệ mà xã hội thực hiện đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để chống lại sự cùng quẫn về kinh tế và xã hội dẫn đến sự chấm dứt hay giảm sút đáng kể về thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, mất việc làm, mất sức lao động, tuổi già hoặc cái chết; những dịch vụ về chăm sóc y tế và những quy định về hỗ trợ đối với những gia đình có con nhỏ gặp phải khó khăn trong cuộc sống

Từ tháng tám năm 2012, đại diện 185 thành viên ILO đã thông qua Khuyến nghị Bảo trợ xã hội (số 202) Tiêu chuẩn quốc tế mới này thiết lập các nguyên tắc

và hướng dẫn thực tế để thực hiện các tầng bảo trợ xã hội và rộng hơn, cho các hệ thống toàn diện về bảo trợ xã hội thông qua các chiến lược hai chiều để mở rộng an sinh xã hội được xác định ở cấp quốc gia Trong bối cảnh này, Bộ ILO bảo trợ xã hội bắt đầu theo dõi và thu thập thông tin về các hoạt động của các doanh nghiệp đa quốc gia liên quan đến an sinh xã hội Đặc biệt, công việc này đã được thực hiện trên cơ sở công việc của ILO có ý nghĩa về chủ đề của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp

Phát triển bền vững là đáp ứng nhu cầu của cả vấn đề hiện tại và thế hệ tương lai Một xã hội ổn định và bền vững không thể đạt được khi có những cấp độ cao của nghèo đói cùng cực (Báo cáo VI, Hội nghị Lao động Quốc tế, 2007) Mặc

dù có một trường hợp kinh doanh rõ ràng để giải quyết xóa đói giảm nghèo, không

Trang 31

có nghĩa tất cả các doanh nghiệp sẽ nhận ra điều này và hành động phù hợp Một chính trở ngại cho việc tham gia của khu vực tư nhân chính thức trong việc giải quyết những thách thức nghèo, cả trực tiếp thông qua tạo việc làm và thu nhập và gián tiếp thông qua sự đóng góp của họ cho sự tiến bộ xã hội và môi trường, môi trường kinh doanh mà trong một số nước đang phát triển rõ ràng là không có lợi cho công bằng và đầu tư khu vực tư nhân, và tăng trưởng bền vững Đây cũng là trường hợp mà một số doanh nghiệp, đặc biệt là những người sử dụng sức mạnh kinh tế đáng kể và có thể biến điều này thành đòn bẩy chính trị quan trọng, có thể có hành

vi ít thận trọng Ví dụ, bằng cách chiết xuất ưu đãi tài chính rất thuận lợi có thể cung cấp lợi thế chống cạnh tranh, hoặc bằng cách hoạt động cam kết theo cách thức thỏa hiệp của người lao động hoặc có tác động xấu đến môi trường tự nhiên Nhìn chung, doanh nghiệp ngoài tìm kiếm lợi nhuận, và tập trung vào quản lý và giải quyết sự tác động tiêu cực hoạt động của mình, và “mô hình kinh doanh sáng tạo” ở đầu kia của quy mô là nơi giảm nghèo tại địa phương được lồng ghép vào các hoạt động kinh doanh cốt lõi nhằm tạo được hình ảnh của doanh nghiệp trong cộng đồng xã hội

Lou Tessier, Helmut Schwarzer (2013) nghiên cứu thăm dò này đã làm sáng

tỏ một khung khái niệm có thể mối quan hệ giữa các phần mở rộng của an sinh xã hội và trách nhiệm xã hội, đặc biệt là giữa các doanh nghiệp đa quốc gia Nó trở nên

rõ ràng, cụ thể, mà các điểm nhập cảnh khác nhau để chiến lược hai chiều của ILO

để mở rộng an sinh xã hội có thể là: thông qua việc cung cấp bảo hiểm bảo trợ xã hội tự nguyện bổ sung quy định hiện hành theo luật định cho nhân viên, gia đình và thậm chí cả cộng đồng rộng lớn hơn; thông qua tăng cường đối thoại xã hội liên quan đến sự tham gia của nhân viên trong việc thành lập bảo hiểm như vậy, và cũng thông qua việc xây dựng các giải pháp thị trường với nhu cầu bảo vệ liên quan đến

xã hội của người nghèo Thực hiện hoạt động thông qua các chuỗi giá trị của công

ty do đó có thể đạt được thông qua một số chức năng hỗ trợ (nguồn nhân lực, mua sắm) và thông qua các dây chuyền sản xuất

Từ lý thuyết trên, tác giả rút ra nhóm các yếu tố an sinh xã hội và nghiên cứu mức độ tác động vào sự phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản tại tỉnh Bạc Liêu Như đã đề cập yếu tố an sinh xã hội phát hiện mới có thể sẽ là lợi ích đáng kể,

cả cho bản thân doanh nghiệp và xóa đói giảm nghèo, từ một phương pháp tiếp cận

Trang 32

tích hợp nhờ đó mà các doanh nghiệp xây dựng chiến lược hành động trong từng lĩnh vực đạt được hiệu quả hơn và được xem là yếu tố đặc trưng của doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bạc Liêu, đồng thời đã dẫn chúng tôi đến việc đưa ra giả thuyết như sau:

Giả thuyết H 5 : An sinh xã hội có mối quan hệ tác động dương đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản

2.6.2 Yếu tố bên trong doanh nghiệp

Yếu tố bên trong doanh nghiệp là một số kết nối nhất định của các yếu tốtổng hợp ảnh hưởng trực tiếp quá trình chuyển đổi nguồn chảy vào các dòng sản phẩm Theo mức độ của các yếu tố bên trong có mối quan hệ đến phát triển bền vững doanh nghiệp được hệ thống từ các yếu tố sau: Lực lượng lao động; Người quản lý (Chủ sở hữu); Trách nhiệm sản phẩm; Phòng chống ô nhiễm môi trường

 Lực lượng lao động

Lực lượng lao động thuộc nhóm yếu tố điều khiển bền vững doanh nghiệp là yếu tố quyết định kinh doanh quan trọng cho doanh nghiệp (Joel Harmon, 2009)

Lực lượng lao động thuộc yếu tố trình điều khiển ra quyết định (Kent Fairfield, Joel

Harmon, Scott Behson, 2011) mô hình khái niệm tích hợp các mối liên kết giữa các ảnh hưởng bên trong, trình điều khiển quyết định tính bền vững, cho phép tổ chức

cơ bản, phương thức bền vững, và hiệu suất Chúng tôi sử dụng dữ liệu từ một cuộc khảo sát trên toàn thế giới của các nhà quản lý để kiểm tra mối quan hệ giả thuyết

và con đường giữa các yếu tố nội bộ Chúng tôi đã không nhìn thấy trước khi một

nỗ lực để tích hợp dòng lý thuyết và thực nghiệm khác nhau của công việc quản lý bền vững vào một cuộc điều tra duy nhất

Nhân viên của doanh nghiệp một yếu tố tác động đến vai trò của các doanh nghiệp trong trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, và có thể giúp làm sáng tỏ những đặc thù của doanh nghiệp nhỏ liên quan đến chương trình nghiên cứu này Nó đã giúp tái khái niệm bản chất của công ty, khuyến khích các bên liên quan xem xét bên trong doanh nghiệp như nhân viên và các nhà cung cấp, và hợp pháp hóa lần lượt các hình thức mới của sự hiểu biết quản lý và hành động, các mối quan hệ các bên liên quan đang ngày càng được công nhận như là một khía cạnh quan trọng trong phát triển doanh nghiệp nhỏ (Jun Ma, 2012) Người lao động là yếu tố nội bộ

có mối quan hệ tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp theo mô hình đề

Trang 33

xuất của Parisa Salimzadeh, Jerry Courvisanos and Raveendranath Ravi Nayak (2013)

Từ mô hình lý thuyết trên, yếu tố lực lượng lao động (nhân viên) như: Nâng cao tinh thần nhân viên, tham gia và cam kết; Thu hút và giữ đa dạng người tài; Việc tìm kiếm giải pháp cho những thách thức của một lực lượng lao động đã quá tuổi Tác giả rút ra yếu tố lực lượng lao động và có mối quan hệ tác động vào sự phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản tại tỉnh Bạc Liêu Cụ thể, chúng tôi đưa

ra giả thuyết:

Giả thuyết H 6 : Lực lượng lao động có mối quan hệ tác động dương đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản

 Người quản lý (Chủ sở hữu)

Theo Lucas, Cunningham and Lamberton (2009), mức độ của hành vi xã hội

và có trách nhiệm với môi trường ở một số khu vực doanh nghiệp nhỏ của Úc có mối tương quan rất thấp với biến nhân khẩu học như tuổi tác Ngoài ra, sự khác biệt

có ý nghĩa tồn tại trong thái độ chủ sở hữu nhà quản lý đối với vấn đề môi trường (Rutherfoord, Blackburn & Spence, 2000) và các giá trị của họ đối với cộng đồng của họ (Miller & Besser, 2000)

Dawson, Breen and Satyen (2002) nhận thấy rằng đối với các doanh nghiệp khai thác nhỏ Úc, vấn đề đạo đức có ý nghĩa nhưng có một số thay đổi theo tuổi, giới tính và giáo dục Tuy nhiên, Smith and Oakley (1994) báo cáo rằng kích thước của cộng đồng, trong đó doanh nghiệp có vị trí là một yếu tố dự báo đáng tin cậy hơn các giá trị đạo đức chủ doanh nghiệp nhỏ so với tuổi hay trình độ học vấn Họ xác định rằng các hoạt động của các công ty ở các thị trấn nhỏ là dễ bị tổn thương hơn để công chúng giám sát và xử phạt các cơ chế cộng đồng địa phương Nhưng đối với Parisa Salimzadeh, Jerry Courvisanos and Raveendranath Ravi Nayak (2013), người quản lý/chủ sở hữu trao quyền cho nhân viên, làm việc theo nhóm và

hệ thống khen thưởng, nhân viên niềm tin là những yếu tố nội bộ có thể ảnh hưởng đến cộng đồng khu vực và phát triển bền vững doanh nghiệp Ngoài ra, các yếu tố nội bộ có liên quan trực tiếp cho chủ sở hữu hoặc người quản lý của doanh nghiệp nhỏ bao gồm: trình độ kiến thức và kinh nghiệm, cung cấp các điều kiện làm việc

an toàn, chi phí thực hiện, chủ sở hữu hoặc người quản lý niềm tin đối với tính bền

Trang 34

vững và chủ sở hữu/động cơ người quản lý Những yếu tố nội bộ là sự tham gia của khu vực và môi trường của các nhà lãnh đạo kiểm soát các doanh nghiệp nhỏ

Đồng thời yếu tố người quản lý (chủ sở hữu) áp dụng vào nghiên cứu và kiểm định đối với doanh nghiệp thủy sản tại tỉnh Bạc Liêu, dẫn đến chúng tôi để đưa ra giả thuyết như sau:

Giả thuyết H 7 : Người quản lý/Chủ sở hữu có mối quan hệ tác động dương đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản

 Trách nhiệm sản phẩm

Theo báo cáo Hội nghị Lao động Quốc tế (2007) Khái niệm trách nhiệm sản phẩm là sự chú ý đến vai trò của doanh nghiệp trong xã hội là có căn cứ trong thông điệp cơ bản của phát triển bền vững, cụ thể là trong dài hạn, tăng trưởng kinh tế gắn kết xã hội và bảo vệ môi trường đi đôi với nhau Toàn cầu hóa phục vụ để tập trung

sự chú ý về điều này Đặc biệt, các phương tiện truyền thông và công nghệ thông tin

và truyền thông hiện đại đã nâng cao tính minh bạch của hoạt động kinh doanh; tăng lo ngại về thiệt hại do hoạt động kinh tế đối với môi trường và góp phần nâng cao mối quan tâm và kỳ vọng của các công dân, người tiêu dùng, truyền thông tiếp thị, cơ quan công quyền và nhà đầu tư

Như đã đề cập về trách nhiệm sản phẩm đối với doanh nghiệp, phòng ngừa ô nhiễm tập trung vào xây dựng năng lực mới trong sản xuất và hoạt động Tuy nhiên, hoạt động tại mỗi bước của chuỗi giá trị từ nguyên liệu truy cập, thông qua sản xuất ủng hộ các quá trình, định đoạt sản phẩm có sử dụng tác động môi trường, và gần như chắc chắn sẽ cần phải ảnh hưởng nội bộ doanh nghiệp trong tương lai Quản lý sản phẩm như vậy đòi hỏi phải tích hợp “tiếng nói của môi trường”, có nghĩa là, bên ngoài (các bên liên quan) và thiết kế sản phẩm và các quá trình phát triển (Allenby,

B R, 1993) Thật vậy, trong thập kỷ qua, hầu như tất cả các nước công nghiệp lớn trên thế giới đã thông qua một chương trình được chính phủ tài trợ cho chứng nhận sản phẩm như trách nhiệm môi trường Đối với quản lý sản phẩm để đạt được chi phí môi trường trong vòng đời thấp, thiết kế cần phải (a) nhỏ nhất việc tối đa hóa sử dụng các vật liệu không thể tái tạo được khai thác từ vỏ trái đất, (b) tránh việc sử dụng các vật liệu độc hại, và (c) sử dụng nguồn tài nguyên sống (tái tạo) phù hợp với tỷ lệ của họ bổ sung (Robert 1995) Suy nghĩ chu kỳ như vậy đang được đẩy ngay cả một bước xa hơn Theo (Stuart L.Hart, 1995) kết luận rằng các doanh

Trang 35

nghiệp sẽ được định hướng ngày càng giảm thiểu các chi phí vòng đời môi trường của các hệ thống sản phẩm của họ Thông qua quản lý sản phẩm Các doanh nghiệp

có thể: (a) doanh nghiệp thoát khỏi nguy hiểm với môi trường, (b) thiết kế lại hệ thống sản phẩm hiện có để giảm trách nhiệm pháp lý, và (c) phát triển sản phẩm mới với chi phí vòng đời thấp hơn Cũng theo (Stuart L.Hart, 1995) giảm phát thải

là mục tiêu cơ bản của công tác phòng chống ô nhiễm, trong khi quản lý sản phẩm hướng dẫn việc lựa chọn nguyên liệu và kỷ luật thiết kế sản phẩm với mục tiêu giảm thiểu các tác động môi trường của các hệ thống sản phẩm Cùng với nhau, hai chiến lược giúp cắt đứt các liên kết tiêu cực giữa doanh nghiệp và môi trường trong phát thị trường triển Một chiến lược phát triển bền vững, tuy nhiên, cũng chỉ ra rằng nỗ lực được thực hiện để cắt đứt các liên kết tiêu cực giữa môi trường và hoạt động kinh tế trong các nước đang phát triển

Từ kết quả nghiên cứu trên, tác giả rút ra nhóm các thuộc tính yếu tố trách nhiệm sản phẩm có mối quan hệ tác động vào phát triển bền vững doanh nghiệp nhằm nghiên cứu và kiểm định đối với phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản Chúng tôi đưa ra giả thuyết như sau:

Giả thuyết H 8 : Trách nhiệm sản phẩm có mối quan hệ tác động dương đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản

 Phòng chống ô nhiễm môi trường

Các doanh nghiệp sản xuất ngày nay dành nhiều thời gian và nguồn lực để thực hiện công tác cải thiện hoạt động môi trường Điều này quan trọng vì nó cho phép doanh nghiệp chế biến góp phần phát triển triển bền vững sinh thái thông qua việc áp dụng các quy trình quản lý môi trường tổng số chất lượng hoặc thông qua việc thiết kế lại các sản phẩm và các công nghệ sản xuất (Shrivastava, 1995) Cụ thể hơn, bao gồm các vấn đề môi trường vào chiến lược của doanh nghiệp vượt quá những gì được yêu cầu theo quy định của chính phủ, có thể được xem như là một phương tiện để cải thiện sự liên kết của doanh nghiệp với những mối quan tâm ngày càng tăng về môi trường và kỳ vọng của các bên liên quan (Garrod, 1997), nhóm các thuộc tính về yếu tố môi trường: Phòng chống ô nhiễm môi trường; Tích hợp các bên liên quan

Theo Hart (1994) bằng chứng cho thấy trong giai đoạn đầu của công tác phòng chống ô nhiễm môi trường có rất nhiều thay đổi dễ dàng và không tốn kém

Trang 36

về hành vi và các tài liệu mà kết quả trong giảm phát thải lớn hơn so với chi phí Nghiên cứu tiếp theo của Hart (1995) đưa ra một chiến lược sản phẩm màu xanh lá cây có thể là “con đường phụ thuộc” về phòng chống ô nhiễm và giảm phát thải Hart lập luận rằng chiến lược môi trường chủ động sẽ dẫn đến lợi thế cạnh tranh thông qua việc tạo ra ba khả năng tổ chức lớn 1) cải tiến liên tục thông qua đó một doanh nghiệp loại bỏ chất thải tại nguồn của nó chứ không phải ở “cuối đường ống”, trong đó sản lượng tiết kiệm chi phí thông qua giảm nguyên vật liệu và sử dụng năng lượng; 2) tích hợp các bên liên quan, thông qua đó một doanh nghiệp tạo

ra việc học tập căng thẳng, đạt kiến thức từ các nhà cung cấp và khách hàng rằng sản lượng sản phẩm khác biệt và mối liên kết chuỗi giá trị của nó, và 3) tầm nhìn chung, trong đó tập trung những người của một doanh nghiệp trên một ý định chiến lược dài hạn của phát triển bền vững của doanh nghiệp Những khả năng này là con đường phụ thuộc xã hội phức tạp, và tích lũy, và cho phép một công ty để đạt được một chiến lược chủ động trong các giai đoạn khác nhau, từ phòng ngừa ô nhiễm để phát triển bền vững Đối với Stuart L Hart and Gautam Ahuja (1996) những nỗ lực

để phòng chống ô nhiễm và giảm lượng khí thải thả vào “mấu chốt” trong vòng một đến hai năm bắt đầu và rằng những doanh nghiệp có mức độ phát thải giảm nhất để đạt được Đây là những phát hiện chung dựa trên mẫu được rút ra từ một loạt các ngành công nghiệp, kết quả có thể nhiều hơn cho ngành công nghiệp đặc biệt khi

mà lượng khí thải và nước thải là đặc biệt nổi bật Russo & Fouts (1997) đưa ra mối liên hệ giữa chiến lược môi trường và hoạt động doanh nghiệp như là một kết quả của sự đổi mới môi trường bổ sung bởi khả năng của tổ chức cam kết và học tập, tích hợp đa chức năng và kỹ năng của nhân viên tăng lên và tham gia vào các doanh nghiệp tham gia vào công tác phòng chống ô nhiễm chứ không phải là kiểm soát ô nhiễm Kent Fairfield, Joel Harmon, Scott Behson (2011) kết quả kiểm định cho

thấy các vấn đề hoạt động môi trường quyết định điều khiển bền vững doanh

nghiệp Phát triển bền vững doanh nghiệp trong trường hợp kinh doanh phải giải quyết các yếu tố môi trường và xã hội trong hoạt động doanh nghiệp, như giảm chi phí năng lượng, cắt giảm chi phí xử lý chất thải, tiết kiệm nhiên liệu (Báo cáo VI, Hội nghị Lao động Quốc tế, 2007) Mặc dù, có một trường hợp về đạo đức hay quy định pháp luật mạnh mẽ cho các doanh nghiệp để tích hợp các giá trị đạo đức và yêu cầu xã hội và môi trường, được thể hiện theo tiêu chuẩn quốc tế và pháp luật và

Trang 37

thực tiễn của quốc gia, hoạt động của họ và thường là một trường hợp kinh doanh

để làm như vậy, điều này không có nghĩa rằng tất cả các doanh nghiệp nhất thiết sẽ tích hợp nó vào hoạt động của mình, cũng không phủ nhận vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ của chính phủ có luật pháp và các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường

Việc ứng dụng yếu tố phòng chống ô nhiễm môi trường thuộc nhóm yếu tố bên trong doanh nghiệp để nghiên cứu phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản là phù hợp với thực trạng doanh nghiệp của tỉnh Bạc Liêu Cụ thể trong năm 2013 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh thành lập đoàn kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường và tài nguyên nước, thực hiện kiểm tra trên 67 doanh nghiệp thủy sản có quả kết luận: xây dựng hệ thống xử lý nước chưa đúng theo đánh giá tác động môi trường; thực hiện giám sát môi trường về nước thải, không khí chưa tốt; chưa tuân thủ đúng các quy định về pháp luật môi trường Ngoài ra, Tổng Cục môi trường thành lập đoàn thanh tra 17 doanh nghiệp thủy sản tại tỉnh Bạc Liêu, với kết quả có đến 14/17 doanh nghiệp bị xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực môi trường, và có 17/17 doanh nghiệp phải yêu cầu và biện pháp khắc phục hậu quả về

vi phạm môi trường, thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường

Yếu tố phòng chống ô nhiễm môi trường nhằm giúp cho các doanh nghiệp để

hỗ trợ cách tiếp cận thận trọng với thách thức về môi trường; Thực hiện các sáng kiến để thúc đẩy trách nhiệm môi trường; Khuyến khích phát triển và phổ biến các công nghệ thân thiện với môi trường Từ đó, tác giả rút ra yếu tố phòng chống ô nhiễm môi trường có mối quan hệ tác động vào sự phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản tại tỉnh Bạc Liêu Cuối cùng, chúng tôi đưa ra giả thuyết:

Giả thuyết H 9 : Phòng chống ô nhiễm môi trường có mối quan hệ tác dương đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản

2.6.3 Yếu tố phát triển bền vững doanh nghiệp

Hart (2005) cho rằng để đạt được phát triển bền vững đòi hỏi phải chỉ có một

số định hướng lại phân tích kinh tế, ông tin rằng một “đúng cách tập trung” lợi nhuận động cơ có thể tăng tốc độ chuyển đổi để phát triển bền vững toàn cầu, và hỗ trợ một cách tiếp cận để phát triển mà “tạo ra các doanh nghiệp có lợi nhuận mà đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống cho người nghèo trên thế giới, tôn trọng

Trang 38

sự đa dạng văn hóa, và bảo tồn tính toàn vẹn sinh thái của hành tinh cho các thế hệ

tương lai”

Theo Hội nghị Lao động Quốc tế (2007), sự thúc đẩy của những doanh

nghiệp bền vững đối với bất kỳ doanh nghiệp, không phân biệt quy mô, lĩnh vực

này nó hoạt động hoặc cơ cấu pháp lý của nó, là bối cảnh chính trị, xã hội, kinh tế

và môi trường rộng - điều kiện cơ bản thể hiện trong hình 1.1 ở trên với điều kiện

cơ bản tạo cơ hội cho các doanh nghiệp bền vững là ổn định kinh tế vĩ mô và quản

lý động của nền kinh tế; Xã hội và văn hóa hỗ trợ doanh nghiệp; Cơ sở hạ tầng; Quản lý chịu trách nhiệm về môi trường; Bao gồm vốn chủ sở hữu, và kinh tế xã hội; Quản trị tốt và các tổ chức đối thoại hiệu quả và hiệu quả xã hội dân sự và chính trị và quy trình Tiếp theo Báo cáo VI, Hội nghị Lao động Quốc tế (2007) Doanh nghiệp bền vững là đo lường nơi làm việc, thị trường, chuỗi cung ứng, cộng đồng Khái niệm phát triển doanh nghiệp bền vững có thể sẽ là lợi ích đáng kể, cả hai cho bản thân các doanh nghiệp và xóa đói giảm nghèo, từ một phương pháp tiếp cận tích hợp nhờ đó mà các doanh nghiệp xây dựng chiến lược hành động trong từng lĩnh vực Nhưng theo Joel Harmon Kent D Fairfield, Scott Behson (2009) đưa

ra một phân tích so sánh tổ chức của chiến lược phát triển bền vững: Những tiền đề

và hiệu suất kết quả nhận thức của Hoa Kỳ và người quản lý không phải Mỹ, với kết quả kiểm định thông qua mô hình thông qua các yếu tố thực tiễn phát triển bền vững; Tiến trình điều khiển bền vững; Thực hiện khởi động tính bền vững; Các chất hạn chế bền vững tác động vào cải thiện hiệu suất bền vững doanh nghiệp Kris Law (2010) đưa ra khung lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững: Các công ty công nghệ cao sản xuất tại Đài Loan Mô hình thông qua yếu tố quản lý: Chiến lược/chính sách; yếu tố nội bộ: Hệ thống, các biện pháp, nhu cầu để thúc đẩy, nâng cao hiệu suất; yếu tố bên ngoài: Luật và quy định, áp lực xã hội, xu hướng thị trường, cạnh tranh

Nhưng đến Sarah Elena Windolph (2011) thì đánh giá phát triển bền vững của doanh nghiệp thông qua xếp hạng những thách thức và nguyên nhân của chúng

là để hiển thị những thách thức mà doanh nghiệp phải đối mặt với xếp hạng bền vững: tiêu chuẩn hóa, minh bạch, thiên vị, cân bằng trọng lượng, độ tin cậy của thông tin, và độc lập Hơn nữa, kết quả thảo luận về nguyên nhân của những thách thức và xác định ai trong số họ là độc quyền đánh giá cụ thể Nghiên cứu cho rằng

Trang 39

xếp hạng là một cách tiếp cận phù hợp để đánh giá tính bền vững của doanh nghiệp, nhưng các bước nhất định phải được thực hiện để tăng độ tin cậy của họ Theo (Christine Byrch, Professor Markus Milne, Professor Richard Morgan, Professor Kate Kearins, 2011) khái niệm phát triển bền vững nổi tiếng với nhiều và đa dạng các định nghĩa của nó khác nhau, từ điểm sinh thái trung tâm, sinh tâm nhìn đến các điểm con người quá hoặc kỹ thuật trung tâm của xem xét Nghiên cứu này góp phần vào các tài liệu về ý nghĩa, và kết quả trọng tâm của phát triển bền vững theo năm điểm lý tưởng như xã hội, chủ nghĩa cá nhân , sinh thái học, có hiê ̣n thực , tương lai học

Theo Maurizio Zollo (2013) đưa ra một khung lý thuyết khuôn khổ chung của doanh nghiệp bền vững, mô hình đổi mới Nhưng Lou Tessier, Helmut Schwarzer (2013) đưa ra các công cụ của chính sách phát triển bền vững doanh nghiệp thông qua cải thiện môi trường làm việc và theo lãnh thổ như là bắt đầu từ quan điểm của cải tiến liên tục trong điều kiện làm việc và môi trường làm việc, trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân viên và với ảnh hưởng đến người dân địa phương Định vị đối thủ cạnh tranh là có liên quan đến một quá trình cung cấp bảo hiểm cho tất cả các nhân viên của họ (và nếu phù hợp, gia đình của họ và hơn thế nữa) và thúc đẩy hành động của họ trong giao tiếp công cộng, tìm cách vị trí của mình như các nhà lãnh đạo, hoặc là trong ngành công nghiệp của họ hoặc trên vấn

đề cụ thể bị đe dọa Parisa Salimzadeh, Jerry Courvisanos và Raveendranath Ravi Nayak (2013) đưa ra khung lý thuyết phân tích phát triển bền vững trong doanh nghiệp vừa và nhỏ: Một khung phân tích yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài Phát triển bền vững doanh nghiệp là có sự tham gia của cộng đồng khu vực, môi trường

tự nhiên

Dựa vào các công trình nghiên cứu và khung lý thuyết trên, một khung lý thuyết được phát triển trong đó cho thấy các yếu tố bên trong và bên ngoài được xác định có mối quan hệ tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp và khuôn khổ lĩnh vực doanh nghiệp thủy sản được áp dụng trong nghiên cứu tại tỉnh Bạc Liêu

2.7 Tóm tắt chương

Trên sở sở hình thành mô hình lý thuyết từ các công trình nghiên cứu trong

và ngoài nước có liên quan đến phát triển bền vững doanh nghiệp Tác giả hệ thống lại các kết quả nghiên cứu và chọn lọc lại những yếu tố nào phù hợp với tình hình

Trang 40

phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam và những yếu đặc trưng phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản tại tỉnh Bạc Liêu Hay nói cách khác, các công trình nghiên cứu ngoài nước và trong nước có liên quan đến luận án, tác giả đã tìm được những vấn đề còn hạn chế của nghiên cứu trước và bổ sung vào những yếu tố mới an sinh

xã hội để xây dựng thang đo phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản tại tỉnh Bạc Liêu Từ các khái niệm, khung lý thuyết hình thành mối quan hệ các yếu tố sẽ đo lường mức độ tác động của các biến độc lập vào biến phụ thuộc nhằm lựa chọn mô hình phù hợp cho phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản tại tỉnh Bạc Liêu Đồng thời kết hợp phân tích thực trạng phát triển doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bạc Liêu để tìm hiểu một số nguyên nhân, hạn chế phát triển doanh nghiệp thủy sản trong thời gian qua nhằm kết hợp với các yếu tố đã sàn lộc từ những công trình nghiên cứu trước trên và kết hợp với nghiên cứu định tính xác định lại các yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài doanh nghiệp

Chương 3 tiếp theo sẽ trình bày nội dung phương pháp nghiên cứu, sử dụng phương pháp định tính kết hợp phương pháp định lượng nhằm làm sàng rõ mục tiêu nghiên cứu của luận án

Ngày đăng: 01/06/2016, 09:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2.1:  So  sánh  kết  quả  phát  triển  truyền  thống  và  phát  triển  bền  vững ở cấp độ vĩ mô - Các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản bạc liêu
ng 2.1: So sánh kết quả phát triển truyền thống và phát triển bền vững ở cấp độ vĩ mô (Trang 4)
Bảng 2.2: So sánh kết quả phát triển doanh nghiệp truyền thống và phát  triển bền vững doanh nghiệp - Các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản bạc liêu
Bảng 2.2 So sánh kết quả phát triển doanh nghiệp truyền thống và phát triển bền vững doanh nghiệp (Trang 9)
Bảng 3.2: Kích cỡ mẫu nghiên cứu chính thức - Các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản bạc liêu
Bảng 3.2 Kích cỡ mẫu nghiên cứu chính thức (Trang 47)
Bảng 3.8: Thang đo lực lượng lao động - Các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản bạc liêu
Bảng 3.8 Thang đo lực lượng lao động (Trang 61)
Bảng  3.13:  Tổng  hợp  xây  dựng  thang  đo  phát  triển  bền  vững  doanh  nghiệp thủy sản - Các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản bạc liêu
ng 3.13: Tổng hợp xây dựng thang đo phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản (Trang 67)
Bảng 4.1: Hình thức sở hữu doanh nghiệp thủy sản - Các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản bạc liêu
Bảng 4.1 Hình thức sở hữu doanh nghiệp thủy sản (Trang 71)
Bảng  4.3:  Trung  bình  của  các  biến  quan  sát  về  phát  triển  bền  vững  doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu - Các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản bạc liêu
ng 4.3: Trung bình của các biến quan sát về phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu (Trang 73)
Bảng  4.4:  Tổng  hợp  kết  quả  phân  tích  yếu  tố  bên  trong  và  bên  ngoài  bằng Cronbach’s alpha - Các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản bạc liêu
ng 4.4: Tổng hợp kết quả phân tích yếu tố bên trong và bên ngoài bằng Cronbach’s alpha (Trang 74)
Bảng 4.6: Kết quả phân tích thang đo yếu tố bên trong bằng Cronbach’s  alpha - Các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản bạc liêu
Bảng 4.6 Kết quả phân tích thang đo yếu tố bên trong bằng Cronbach’s alpha (Trang 76)
Bảng 4.7: Kết quả phân tích thang đo yếu tố phát triển bền vững doanh  nghiệp thủy sản bằng Cronbach’s alpha - Các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản bạc liêu
Bảng 4.7 Kết quả phân tích thang đo yếu tố phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản bằng Cronbach’s alpha (Trang 77)
Bảng  4.8:  Kết  quả  phân  tích  yếu  tố  bên  trong  và  bên  ngoài  thang  đo  khám phá EFA - Các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản bạc liêu
ng 4.8: Kết quả phân tích yếu tố bên trong và bên ngoài thang đo khám phá EFA (Trang 78)
Bảng 4.9:  Kết  quả  phân tích  yếu  tố phát  triển  bền vững doanh nghiệp  thủy sản bằng khám phá EFA - Các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản bạc liêu
Bảng 4.9 Kết quả phân tích yếu tố phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản bằng khám phá EFA (Trang 79)
Bảng 4.12: Phân tích phương sai (ANOVA) - Các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản bạc liêu
Bảng 4.12 Phân tích phương sai (ANOVA) (Trang 82)
Bảng 4.14: Kiểm định phương sai phần dư không đổi - Các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản bạc liêu
Bảng 4.14 Kiểm định phương sai phần dư không đổi (Trang 85)
Bảng 4.15: Kết quả kiểm định  ANOVA - Các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản bạc liêu
Bảng 4.15 Kết quả kiểm định ANOVA (Trang 88)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w