Cung cấp hệ thống kiến thức cơ bản về chuyển động của Trái đất: chuyển động tự quay và chuyển động quay xung quanh Mặt Trời; các hệ quả của hai chuyển động đó để học sinh có kiến thức và
Trang 1Có rất nhiều kĩ năng mà học sinh cần có được trong quá trình học Địa lí: kĩ năng tính toán, kĩ năng nhận dạng và vẽ biểu đồ địa lí, kĩ năng đọc và phân tích bản đồ, kĩ năng phân tích bảng số liệu…
Trong các kĩ năng trên, ở chương trình Địa lí 10, phần học về các chuyển động của Trái Đất thì kĩ năng tính toán, làm các bài tập liên quan đến các hệ quả chuyển động đó rất quan trọng Bởi đây là một phần kiến thức quan trọng, là một trong các nội dung trong cấu trúc đề thi học sinh giỏi Quốc gia Hơn nữa khi học sinh biết cách làm các bài tập phần này, sẽ giúp các em khắc sâu hơn kiến thức, biết vận dụng kiến thức một cách linh hoạt Ngoài ra còn giúp học sinh phân tích được mối quan hệ giữa các hiện tượng tự nhiên, nhận xét và giải thích được nguyên nhân và các hệ quả, các sơ đồ, hình vẽ liên quan đến hai chuyển động của Trái Đất
Từ thực tế trên, để trao đổi kinh nghiệm trong giảng dạy Địa lí với các trường bạn về vấn đề này trong bồi dưỡng học sinh giỏi đồng thời nâng cao hiệu
quả trong công tác giảng dạy, tôi chọn đề tài “Hệ quả của các chuyền động của
Trái Đất và các dạng bài tập thực hành có liên quan” Hi vọng rằng, đề tài này sẽ
là một tài liệu hữu ích trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Tuy nhiên, do chưa
có nhiều kinh nghiệm, hơn nữa khả năng còn hạn chế, mong được sự đóng góp từ bạn bè đồng nghiệp để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn!
Trang 2Ụ Ủ Ề TÀ
1 Cung cấp hệ thống kiến thức cơ bản về chuyển động của Trái đất: chuyển động
tự quay và chuyển động quay xung quanh Mặt Trời; các hệ quả của hai chuyển động đó để học sinh có kiến thức và biết vận dụng trong thi học sinh giỏi
2 Giới thiệu các dạng bài tập có liên quan đến các hệ quả chuyển động của Trái Đất: tính góc nhập xạ, tính giờ, tính ngày Mặt Trời lên thiên đỉnh, tính tọa độ địa lí khi biết góc nhập xạ và giờ địa phương…
3 Đưa ra những ví dụ minh họa cho từng dạng câu hỏi và cách làm
Trang 3P Ầ Ộ U G
A K Ế T Ứ Ơ BẢ VỀ VẬ Ộ G Ủ TRÁ ẤT VÀ Á Ệ
QUẢ Ủ Á VẬ Ộ G Ó UYỂ Ộ G TỰ QU Y QU TRỤ Ủ TRÁ ẤT VÀ Á
Ệ QUẢ
1 huyển động tự quay quanh trục
Chuyển động tự quay xung quanh trục là qui luật chung của các hành tinh Chuyển động này có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành và tồn tại của Trái đất
- Trái đất tự quay xung quanh mình nó theo một trục tưởng tượng từ Tây sang Đông, tức là hướng ngược chiều kim đồng hồ (nhìn từ trên xuống) Trục này nghiêng với mặt phẳng hoàng đạo (quỹ đạo của Trái đất quay xung quanh Mặt Trời) một góc 660
33/ tức là độ nghiêng của mặt phẳng xích đạo Trái đất với mặt phẳng hoàng đạo là 230
27/
- Tốc độ chuyển động tự quay rất lớn và có sự khác nhau giữa các địa điểm:
ở Xích đạo có tốc độ chuyển động lớn nhất: 464m/s và giảm dần về 2 cực, ở 2 cực tốc độ chuyển động là 0m/s, có nghĩa là trong khi Trái đất tự quay xung quanh trục, tất cả các địa điểm trên Trái đất đều thay đổi vị trí, trừ 2 cực
- Trái đất tự quay xung quanh trục của nó một vòng trong khoảng thời gian một ngày đêm, chính xác là 23 giờ 56 phút 04 giây Khoảng thời gian đó có thể xác định bàng vị trí của Mặt trời hai lần chiếu thẳng góc trên kinh tuyến của địa điểm quan sát
ác hệ quả của chuyển động tự quay quanh trục của Trái ất
2.1 Sự luân phiên ngày, đêm:
Hình khối cầu của Trái Đất luôn được Mặt Trời chiếu sáng một nửa, còn một nửa không được chiếu sáng, vì thế đã sinh ra ngày và đêm Tuy nhiên, do Trái Đất
tự quay quanh trục, nên mọi nơi ở bề mặt Trái Đất đều lần lượt được Mặt Trời
Trang 4chiếu sáng rồi lại chìm trong bóng tối, gây nên hiện tượng luân phiên ngày và đêm trên Trái Đất
Hình 1 – Hiện tượng ngày đêm luân phiên
Nhịp điệu ngày và đêm kế tiếp nhau đã làm cho sự phân phối bức xạ Mặt trời trên Trái đất được điều hòa Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho Trái đất tồn tại sự sống
2.2 Giờ trên Trái Đất và đường chuyển ngày quốc tế:
Trái Đất có hình khối cầu và tự quay quanh trục từ Tây sang Đông nên trong cùng một thời điểm, người đứng ở các kinh tuyến khác nhau sẽ nhìn thấy Mặt Trời ở những độ cao khác nhau; do đó các địa điểm thuộc các kinh tuyến khác
nhau sẽ có giờ khác nhau, đó là giờ địa phương hay giờ Mặt Trời (được xác định
căn cứ vào vị trí của Mặt trời trên bầu trời địa phương)
Để tiện cho việc tính giờ và giao dịch quốc tế, người ta chia đều bề mặt Trái Đất thành 24 múi giờ, mỗi múi giờ rộng 15 độ kinh tuyến Các địa phương nằm trong cùng một múi sẽ thống nhất một giờ đó là giờ múi Giờ chính thức của toàn múi là giờ địa phương của kinh tuyến đi qua chính giữa múi đó Giờ ở múi số 0 được lấy làm giờ quốc tế hay giờ GMT (Greenwich Mean Time), Việt Nam thuộc múi giờ số 7
Ranh giới của các múi giờ về nguyên tắc là những đường thẳng dọc theo các kinh tuyến.Tuy nhiên trong thực tế, ranh giới múi giờ thường được điều chỉnh theo
Trang 5biên giới quốc gia Một số quốc gia có lãnh thổ rộng nhưng chỉ dùng một giờ chung cho cả nước (ví dụ Trung Quốc); một số khác lại chia ra nhiều múi giờ (ví
dụ Liên bang Nga có 10 múi giờ, Ca-na-đa có 6 múi giờ)
Hình 2 - Các múi giờ trên Trái đất
Do Trái đất có hình khối cầu nên khu vực múi giờ số 0 trùng với khu vực
múi giờ số 24 Vậy trên Trái Đất bao giờ cũng có một múi giờ mà ở đó có hai ngày lịch khác nhau, nên người ta quy định lấy kinh tuyến 1800
giữa múi giờ số 12 trên Thái Bình Dương làm đường chuyển ngày quốc tế Nếu đi từ phía Tây sang phía
thì lùi lại một ngày lịch, còn đi từ phía Đông sang phía Tây qua kinh tuyến 1800 thì tăng thêm một ngày lịch
2.3 Sự lệch hướng chuyển động của các vật thể:
Khi Trái Đất tự quay quanh trục, mọi địa điểm thuộc các vĩ độ khác nhau ở
bề mặt Trái Đất (trừ hai cực) đều có vận tốc dài khác nhau và hướng chuyển động
từ tây sang đông Do vậy, các vật thể chuyển động trên bề mặt Trái Đất sẽ bị lệch
so với hướng ban đầu (vì phải giữ nguyên chuyển động thẳng hướng theo quán tính) Lực làm lệch hướng đó được gọi là lực Côriôlit Ở bán cầu Bắc, vật chuyển động bị lệch về bên phải; ở bán cầu Nam bị lệch về bên trái theo hướng chuyển động
Trang 6
Hình 3 – Sự lệch hướng chuyển động của các vật thể trên bề mặt Trái đất
UYỂ Ộ G QU Y XU G QU ẶT TRỜ Ủ TRÁ ẤT
VÀ Á Ệ QUẢ
1 huyển động quay xung quanh ặt Trời của Trái đất
Trong hệ Mặt trời, Trái đất ngoài vận động tự quay xung quanh trục còn chuyển động quay xung quanh Mặt trời
Quỹ đạo chuyển động của Trái đất quay xung quanh Mặt trời có hình elip gần tròn gọi là hoàng đạo Trái đất chuyển động trên hoàng đạo cùng hướng với hướng tự quay quanh trục, tức là từ Tây sang Đông với vận tốc rất lớn, trung bình 29,8 km/s Để hoàn thành trọn một vòng tròn quỹ đạo, Trái đất phải đi mất 365 ngày 5 giờ 48 phút 46 giây
Vì quỹ đạo có hình elip nên trong quá trình chuyển động, có lúc Trái đất ở vị trí gần Mặt trời nhất (147 166 480 km), là điểm cận nhật, thường vào ngày 3/1 Lúc này do Trái đất ở gần Mặt trời nhất nên lực hút của Mặt trời với Trái đất là lớn nhất, khi đó tốc độ chuyển động của Trái đất xung quanh Mặt trời là 30,3 km/s Cũng có lúc Trái đất ở vị trí xa Mặt trời nhất (152 171 500 km), là điểm viễn nhật, thường vào ngày 5/7 Khi này do Trái đất ở xa Mặt trời nhất nên lực hút của Mặt trời với Trái đất là nhỏ nhất, khi đó tốc độ chuyển động của Trái đất xung quanh Mặt trời là 29,3 km/s
Điều đáng chú ý là trong khi chuyển động trên quỹ đạo, trục Trái đất bao giờ
33/ và không
Trang 7đổi phương Chuyển động đó gọi là chuyển động tịnh tiến của Trái đất quanh Mặt trời
2 Các hệ quả của chuyển động quay xung quanh ặt trời của Trái đất
2.1 Chuyển động biểu kiến hằng năm của Mặt Trời
Hiện tượng Mặt Trời ở đúng đỉnh đầu lúc 12 giờ trưa (tia sáng Mặt Trời chiếu thẳng góc với tiếp tuyến ở bề mặt đất) được gọi là Mặt Trời lên thiên đỉnh Vào ngày Hạ chí (22- 6), tia sáng Mặt trời chiếu vuông góc với tiếp tuyến bề mặt đất tại chí tuyến Bắc, ngày Đông chí (22-12), tia sáng Mặt trời lại chiếu vuông góc với tiếp tuyến bề mặt đất tại chí tuyến Nam Riêng 2 ngày 21-3 và 23-9, do trục nghiêng của Trái đất không quay đầu nào về phía Mặt trời nên tia sáng mặt trời sẽ chiếu vuông góc với tiếp tuyến bề mặt đất tại Xích đạo
Hình 4 – Đường biểu diễn chuyển động biểu kiến của Mặt trời trong một năm
Như vậy, ở Trái Đất, ta thấy hiện tượng này chỉ lần lượt xảy ra tại các địa điểm từ vĩ tuyến 23027’N (ngày 22-12) cho tới 23027’B (ngày 22- 6) rồi lại xuống
vĩ tuyến 23027’N, cũng là khu vực được các tia sáng Mặt trời lần lượt chiếu vuông góc với mặt đất trong năm Khu vực từ các chí tuyến đến hai cực, quanh năm những tai sáng chỉ chiếu chếch với mặt đất mà không bao giờ chiếu thành góc vuông Ở các cực ta có vào thời gian có Mặt trời chiếu sáng trong năm ta thấy như Mặt trời ở là là mặt đất
Trang 8Điều đó làm ta có ảo giác là Mặt Trời di chuyển Nhưng trong thực tế,
không phải Mặt Trời di chuyển mà là Trái Đất chuyển động tịnh tiến xung quanh Mặt Trời Chuyển động không có thực đó của Mặt Trời được gọi là chuyển động biểu kiến hằng năm của Mặt Trời
2.2 Hiện tượng mùa
Mùa là một phần thời gian của năm, nhưng có những đặc điểm riêng về thời tiết và khí hậu
Nguyên nhân gây ra các mùa là do trục Trái Đất nghiêng với mặt phẳng quỹ đạo của Trái Đất và trong suốt năm, trục của Trái Đất không đổi phương trong không gian, nên có thời kỳ bán cầu Bắc ngả về phía Mặt Trời, có thời kỳ bán cầu Nam ngả về phía Mặt Trời Điều đó làm cho thời gian chiếu sáng và sự thu nhận bức xạ Mặt Trời ở mỗi bán cầu đều thay đổi trong năm
Người ta chia một năm ra bốn mùa Ở bán cầu Bắc, thời gian bắt đầu và kết thúc các mùa của các nước theo dương lịch và một số nước quen dùng âm - dương lịch ở châu Á không giống nhau
Các nước theo dương lịch ở bán cầu Bắc lấy bốn ngày: xuân phân (2-3), hạ chí (22- 6), thu phân (23-9) và đông chí (22-12) là bốn ngày khởi đầu của bốn mùa:
Hình 5 – Các mùa theo dương lịch ở Bắc bán cầu
Trang 9- Mùa xuân: từ 21- 3 đến 22- 6, Mặt trời chuyển động biểu kiến từ Xích đạo lên chí tuyến Bắc, lượng nhiệt tăng dần dần, sự tích lũy nhiệt bắt đầu nên chưa cao
- Mùa hạ: từ 22- 6 đến 23- 9, Mặt trời chuyển động biểu kiến từ chí tuyến Bắc về Xích đạo, mặt đất nhận được lượng nhiệt lớn và đã tích lũy nhiệt qua mùa xuân vì thế nhiệt độ ngày càng tăng cao
- Mùa thu: từ 23- 9 đến 22-12, Mặt trời tiếp tục di chuyển về phía chí tuyến Nam Lượng nhiệt nhận được giảm dần, nhưng vẫn còn nhiệt dự trữ từ mùa hạ, vì thế nhiệt độ chưa thấp lắm
- Mùa đông, từ 22-12 đến 21-3 năm sau, mặt trời từ chí tuyến Nam di chuyển lên Xích đạo, lượng nhiệt nhận được có tăng lên một chút nhưng do lượng nhiệt dự trữ đã tiêu hao và mất đi nhiều ở thời kỳ trước nên nhiệt độ thấp, thời tiết lạnh
Ở bán cầu Nam, bốn mùa diễn ra ngược với bán cầu Bắc
Nước ta và một số nước châu Á quen dùng âm - dương lịch, thời gian bắt đầu các mùa được tính sớm hơn khoảng 45 ngày
- Mùa xuân từ 4 hoặc 5-2 (lập xuân) đến 5 hoặc 6- 5 (lập hạ)
- Mùa hạ từ 5 hoặc 6-5 (lập hạ) đến 7 hoặc 8 - 8 (lập thu)
- Mùa thu từ 7 hoặc 8 - 8 (lập thu) đến 7 hoặc 8 - 11 (lập đông)
- Mùa đông từ 7 hoặc 8 - 11 (lập đông) đến 4 hoặc 5 - 2 (lập xuân)
2.3 Hiện tượng ngày, đêm dài ngắn theo mùa và theo vĩ độ
Trong khoảng thời gian từ 21 - 3 đến 23 - 9, bán cầu Bắc ngả về phía Mặt Trời, nên bán cầu này có góc chiếu sáng lớn, diện tích được chiếu sáng lớn hơn diện tích khuất trong bóng tối; đó là mùa xuân và mùa hạ của bán cầu Bắc, ngày dài hơn đêm Ở bán cầu Nam thì ngược lại, thời gian đó là mùa thu và mùa đông, đêm dài hơn ngày
Trong khoảng thời gian từ ngày 23 - 9 đến 21 - 3, bán cầu Nam ngả về phía Mặt Trời, nên bán cầu này có góc chiếu sáng lớn, diện tích được chiếu sáng lớn hơn diện tích khuất trong bóng tối; đó là mùa xuân và mùa hạ của bán cầu Nam,
Trang 10ngày dài hơn đêm Ở bán cầu Bắc thì ngược lại, thời gian này là mùa thu và mùa đông, đêm dài hơn ngày
Riêng hai ngày 21 - 3 và 23 - 9, Mặt Trời chiếu thẳng góc xuống Xích đạo lúc 12 giờ trưa nên thời gian chiếu sáng cho hai bán cầu là như nhau; vì thế ngày dài bằng đêm trên toàn thế giới
Ở Xích đạo, quanh năm có độ dài ngày và đêm bằng nhau Càng xa Xích đạo, độ dài ngày và đêm càng chênh lệch nhiều Từ vòng cực về phía cực, có hiện tượng ngày hoặc đêm dài 24 giờ (ngày địa cực, đêm địa cực) Càng gần cực, số ngày, đêm địa cực càng tăng Ở hai cực, số ngày hoặc đêm dài 24 giờ kéo dài suốt
Hình 6 - Hiện tượng ngày đêm dài ngắn theo mùa và theo vĩ độ
Trang 11B Á Ạ G BÀ TẬP T Ự À Ê QU Ế VẬ Ộ G
Ủ TRÁ ẤT VÀ Á Ệ QUẢ Ủ Á VẬ Ộ G Ó
Trong quá trình tổng hợp tài liệu, rèn kĩ năng làm bài tập phần nội dung về
hệ quả chuyển động của Trái Đất, có một số bài tập đã được giải quyết trên cơ sở hướng dẫn của các tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi và giáo trình có liên quan Trên
cơ sở đó, một số bài tập cũng được giáo viên hướng dẫn ngắn gọn hơn và dễ nhớ hơn với các học sinh đội tuyển Đây chính là điều kiện giúp học sinh nắm vững cách tính toán, trình bày và trả lời các câu hỏi, bài tập
Một số dạng bài tập cụ thể như sau:
I ạng bài tập về tính góc nhập xạ:
1 Khái niệm góc nhập xạ (góc tới): Góc nhập xạ tại một địa điểm là góc hợp bởi
tia nắng Mặt Trời với tiếp tuyến bề mặt Trái Đất tại điểm đó
Cùng với mặt cong của bề mặt Trái đất và chuyển động biểu kiến hàng năm của Mặt trời nên góc nhập xạ có một số đặc điểm sau đây:
- Góc nhập xạ của các vĩ độ khác nhau thì không bằng nhau, nhìn chung nhỏ dần từ Xích đạo về hai cực
- Vào hai ngày 21 - 3 và 23 - 9, góc nhập xạ có sự đối xứng nhau qua đường Xích đạo, tại Xích đạo có góc nhập xạ bằng 900, các địa điểm nằm trên cùng một vĩ
độ ở Bắc và Nam bán cầu thì có góc nhập xạ bằng nhau
- Vào ngày 22 - 6, góc nhập xạ lớn nhất ở chí tuyến Bắc và bằng 900, vào ngày 22 - 12 góc nhập xạ lớn nhất ở chí tuyến Nam và bằng 900
- Chỉ có các vĩ độ trong vùng nội chí tuyến mới có góc nhập xạ lớn nhất bằng 900
úng với ngày Mặt trời lên thiên điỉnh tại vĩ độ đó, vùng ngoại chí tuyến
Trang 12Công thức tổng quát tính góc nhập xạ:
h0= 90° - ±
Trong đó:
h 0 là góc nhập xạ
là vĩ độ của địa điểm cần tính góc nhập xạ
Trái Đất; dao động trong khoảng từ 0° đến 23° 27’)
Công thức tính cụ thể cho từng ngày đặc biệt:
+ Tại Nam bán cầu:
Khu vực nội chí tuyến: ( < ):
Trang 14Ngày 6 - 4, Mặt trời cách Xích đạo tính từ ngày Xuân phân là 16 ngày Vĩ
độ nơi có hiện tượng Mặt trời lên thiên đỉnh vào ngày 6 - 4 là:
Trang 15II ạng bài tập về tính ngày ặt trời lên thiên đỉnh:
1 Khái niệm về hiện tượng Mặt trời lên thiên đỉnh:
Hiện tượng Mặt Trời lên thiên đỉnh ở một địa điểm là hiện tượng Mặt Trời ở đúng đỉnh đầu lúc 12 giờ trưa (tia sáng Mặt Trời chiếu thẳng góc với tiếp tuyến ở
bề mặt đất) tại địa điểm đó
Nguyên nhân của hiện tượng này là do trục Trái đất nghiêng một góc
660333/ không đổi so với mạt phẳng quỹ đạo trong khi chuyển động tịnh tiến trên quĩ đạo quanh Mặt trời, làm cho Mặt trời lên thiên đỉnh lần lượt tại vùng nội chí tuyến
Đặc điểm của hiện tượng Mặt trời lên thiên đỉnh trên Trái đất:
- Chỉ có vùng nội chí tuyến mới có hiện tượng Mặt trời lên thiên đỉnh và có hai lần Mặt trời lên thiên đỉnh một năm, khu vực ngoại chí tuyến thì không có hiện tượng này (do tia sáng Mặt trời tạo với tiếp tuyến bề mặt đất ở vùng ngoại chí tuyến bằng một góc luôn < 900
)
- Khoảng cách giữa hai lần Mặt trời lên thiên đỉnh từ Xích đạo về hai chí tuyến càng gần lại, đến hai chí tuyến của hai bán cầu thì chập vào làm 1 lần Ở chí tuyến Bắc là ngày 22 - 6, còn chí tuyến Nam là ngày 22 - 12
2 Cách tính ngày Mặt trời lên thiên đỉnh:
Từ ngày 21 - 3 đến ngày 22 - 6 là 93 ngày, Mặt trời di chuyển trên đường chuyển động biểu kiến từ Xích đạo (00) lên chí tuyến Bắc (230
27/B), được 230
27/, nghĩa là 1 ngày Mặt trời di chuyển được 908”