Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có bộ chuẩn dành cho giáo viên các trung tâm giáo dục thường xuyên GDTX.Đối với học sinh bổ túc trung học phổ thông BTTHPT tại các trung tâmGDTX, do những khó
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đảng ta chủ trương phát triển giáo dục theo quan điểm “Chuẩn hóa, hiệnđại hóa và xã hội hóa”, vì vậy, tất cả các điều kiện phục vụ dạy học như: độingũ, cơ sở vật chất, chương trình, yêu cầu về kiến thức, kỹ năng đều phải đượctừng bước chuẩn hóa
Trong thời gian qua, vấn đề xây dựng chuẩn nghề nghiệp cho đội ngũ giáoviên ở các ngành học, bậc học đã được quan tâm Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa
có bộ chuẩn dành cho giáo viên các trung tâm giáo dục thường xuyên (GDTX).Đối với học sinh bổ túc trung học phổ thông (BTTHPT) tại các trung tâmGDTX, do những khó khăn về trình độ nhận thức của học sinh đầu vào và điềukiện học tập nên vấn đề năng lực nghiệp vụ sư phạm của người giáo viên có ýnghĩa rất quan trọng, quyết định đến chất lượng dạy và học của các trung tâm.Hiện nay, thành phố Đà Nẵng có 08 trung tâm GDTX có tiếp nhận họcsinh vào học chương trình BTTHPT với gần 5.000 học sinh tham gia học tập.Đối tượng học sinh vào học tại trung tâm phần lớn là các em có học lực hạn chế(không có đủ điều kiện để vào học các trường trung học phổ thông (THPT)công lập hoặc tư thục), bên cạnh đó cũng có rất nhiều em có hoàn cảnh gia đìnhkhó khăn Đội ngũ giáo viên tham gia giảng dạy được hợp đồng từ nhiều nguồnkhác nhau đã gây khó khăn không nhỏ trong quá trình chỉ đạo chuyên môn đểđổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng giáo dục Trong khi độingũ này đã rất nỗ lực nhưng vẫn khó có thể nâng cao chất lượng đại trà của bậchọc (tỉ lệ học sinh tốt nghiệp hàng năm đạt từ 40% đến 50%) Các trung tâmGDTX đang thật sự lúng túng trong quá trình tuyển dụng, bồi dưỡng giáo viênkhi chưa có một bộ tiêu chí đánh giá sát thực, cụ thể, phù hợp với môi trườnggiáo dục vốn có nhiều khó khăn của loại hình này
Xuất phát từ những vấn đề trên, trong thời điểm hiện nay, việc xây dựngtiêu chí đánh giá năng lực nghiệp vụ sư phạm của giáo viên GDTX cấp THPT
Trang 2trên địa bàn thành phố Đà Nẵng là hết sức cần thiết Bộ tiêu chí được xây dựng
và triển khai áp dụng sẽ không chỉ có ý nghĩa đối với công tác quản lý của cáctrung tâm GDTX mà còn góp phần vào việc nâng cao chất lượng của ngànhhọc, thực hiện quan điểm của Đảng về “GDTX, học tập suốt đời, xây dựng xãhội học tập” Vì vậy, ngành Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng chọn đề
tài “Xây dựng tiêu chí đánh giá năng lực nghiệp vụ sư phạm của giáo viên Giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” làm nội dung nghiên cứu trong đề tài khoa học cấp cơ sở.
Trang 3CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC NGHIỆP VỤ
SƯ PHẠM CỦA GIÁO VIÊN GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
CẤP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Vấn đề năng lực nghiệp vụ sư phạm của giáo viên có thể được xem làmột nội dung quan trọng trong vấn đề xây dựng và phát triển nhà trường Theo
đó, nhà trường được cấu trúc bởi các thành tố: mục đích giáo dục, nội dunggiáo dục, phương pháp giáo dục để đạt được mục tiêu giáo dục đã định Quátrình đi đến mục tiêu giáo dục được thực hiện bởi các thành tố: người dạy,người học, các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, cơ chế quản lý và môitrường giáo dục Trong đó, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của người dạyđóng vai trò tiên quyết, quyết định chất lượng quá trình giáo dục
Vì lẽ đó, giáo dục các nước trên thế giới đã và đang cố gắng từng bướcxây dựng bộ chuẩn nghề nghiệp giáo viên, trong đó, bên cạnh các yêu cầu vềtrình độ chuyên môn đã được xác định, tập trung vào xây dựng các tiêu chíđánh giá nghiệp vụ sư phạm của giáo viên
Ở Hoa Kỳ, người ta yêu cầu giáo viên phải đạt được các yêu cầu vềnghiệp vụ sư phạm thông qua hiệu quả thực hiện 3 hoạt động (các yêu cầu nàyđược áp dụng cho 3 loại giáo viên giảng dạy học sinh là nhi đồng, thiếu niên và
Trang 4Các yêu cầu về nghiệp vụ sư phạm giáo viên của Hoa Kỳ bao quát đượctất cả các khâu của quá trình dạy học, qua đó, giúp cho giáo viên tự đánh giáđược năng lực nghề nghiệp của mình để có những định hướng phù hợp trongviệc đào tạo, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng nâng cao trình độ.
Các yêu cầu về năng lực nghiệp vụ sư phạm của giáo viên ở Anh đượcxây dựng tương ứng với 5 giai đoạn phát triển nghề nghiệp, gắn với 5 loại chứcdanh (ngạch bậc) giáo viên Ở đây, 5 loại giáo viên, bao gồm: giáo viên tập sự,giáo viên, giáo viên chính, giáo viên giỏi, giáo viên cao cấp sẽ được đánh giávới số lượng tiêu chí khác nhau theo hướng tăng dần theo cấp trình độ của giáoviên Yêu cầu đối với một loại giáo viên bằng chuẩn của giáo viên thấp hơnloại liền kề, có bổ sung thêm một số tiêu chí Các tiêu chí được thiết kế với 3cấp độ của năng lực nghề nghiệp, phản ánh được các yêu cầu về năng lựcnghiệp vụ sư phạm của giáo viên, bao gồm: thuộc tính nghề nghiệp, kiến thức
và hiểu biết về nghề nghiệp, kỹ năng nghề nghiệp
Đối với Australia, quốc gia có một khung quốc gia về các yêu cầu vềhiểu biết nghề nghiệp, thực hành nghề nghiệp, giá trị nghề nghiệp và quan hệnghề nghiệp Trên cơ sở khung chuẩn này, các bang/trường sẽ ban hành cáctiêu chuẩn về kiến thức, thực hành kỹ năng và giá trị nghề nghiệp cụ thể
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quan tâm đến việc đánh giá nănglực nghiệp vụ sư phạm của giáo viên thông qua việc ban hành các bộ chuẩnnghề nghiệp giáo viên Cụ thể là: Quyết định số 14/2007/QĐ-BGDĐT ngày04/5/2007 ban hành Chuẩn nghề nghiệp giáo viên Tiểu học, Quyết định02/2008/QĐ-BGDĐT ngày 21/01/2008 ban hành Chuẩn nghề nghiệp giáo viênMầm non, Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT ngày 22/10/2009 ban hành Chuẩnnghề nghiệp giáo viên Trung học cơ sở, giáo viên Trung học phổ thông
Theo đó, năng lực nghiệp vụ sư phạm là 2 trong 3 lĩnh vực của chuẩn,
đó là kiến thức và kỹ năng sư phạm Bên cạnh các yêu cầu về phẩm chất chínhtrị, đạo đức, lối sống, đây là thành phần quan trọng để làm nên hiệu quả hoạt
Trang 5Trong các bộ chuẩn đã được ban hành, Chuẩn nghề nghiệp giáo viênTiểu học được ban hành đầu tiên và được nghiên cứu khá công phu Chính vìvậy, ảnh hưởng của việc tiếp cận xây dựng bộ chuẩn giáo viên Tiểu học đối vớiviệc xây dựng các bộ chuẩn khá lớn Bộ chuẩn giáo viên mầm non, giáo viênTHCS và THPT có một cấu trúc cơ bản được dựa trên bộ chuẩn giáo viên Tiểuhọc Tuy nhiên, các nội dung cụ thể đã được vận dụng cho phù hợp với đặcđiểm của cấp học, bậc học.
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Năng lực
Theo quan điểm của những nhà tâm lý học “năng lực” là tổng hợp các đặcđiểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của mộthoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao Cácnăng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân đóng vai tròquan trọng Năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có,phần lớn hình thành do công tác, do tập luyện
Tâm lý học chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực chung
và năng lực chuyên môn
+ Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều ngành hoạt động khácnhau như năng lực phán xét tư duy lao động, năng lực khái quát hoá, năng lựctưởng tượng
+ Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng trong lĩnh vực nhất định của
xã hội như năng lực tổ chức , năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh, hội hoạ,toán học
Năng lực chung và năng lực chuyên môn có quan hệ qua lại hữu cơ vớinhau, năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên môn, nếu chúng càng pháttriển thì càng dễ thành đạt được năng lực chuyên môn Ngược lại sự phát triểncủa năng lực chuyên môn trong những điều kiện nhất định lại có ảnh hưởng đốivới sự phát triển của năng lực chung Trong thực tế, mọi hoạt động có kết quả
và hiệu quả cao thì mỗi người đều phải có năng lực chung phát triển ở mộttrình độ cần thiết và có một số năng lực chuyên môn tương ứng với lĩnh vực
Trang 6công việc của mình Những năng lực cơ bản này không phải là bẩm sinh, mà nóphải được giáo dục phát triển và bồi dưỡng ở con người Năng lực của mộtngười phối hợp trong mọi hoạt động là nhờ khả năng tự điều khiển, tự quản lý,
tự điều chỉnh ở mỗi cá nhân, được hình thành trong quá trình sống và giáo dụccủa mỗi người
Năng lực còn được hiểu theo một cách khác, năng lực là tính chất tâm sinh
lý của con người chi phối quá trình tiếp thu kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo tốithiểu là cái mà người đó có thể dùng khi hoạt động Trong điều kiện bên ngoàinhư nhau những người khác nhau có thể tiếp thu các kiến thức kỹ năng và kỹxảo đó với nhịp độ khác nhau có người tiếp thu nhanh, có người phải mất nhiềuthời gian và sức lực mới tiếp thu được, người này có thể đạt được trình độ điêuluyện cao còn người khác chỉ đạt được trình trung bình nhất định tuy đã hết sức
cố gắng
Tóm lại, có thể hiểu: "Năng lực là sự tổng hợp những thuộc tính của cánhân con người, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạtđộng đạt được những kết quả cao"
1.2.2 Năng lực nghiệp vụ sư phạm
Khi nói đến năng lực, bao giờ người ta cũng nói đến năng lực cũng thuộc
về một hoạt động cụ thể nào đó như: năng lực toán học của hoạt động học tậphay nghiên cứu toán học, năng lực hoạt động chính trị của hoạt động chính trị,năng lực giảng dạy của hoạt động giảng dạy Năng lực nghiệp vụ sư phạm làmột khái niệm được xây dựng trên cơ sở khái niệm năng lực nghề nghiệp củamột hoạt động lao động cụ thể - lao động sư phạm
Năng lực nghề nghiệp là sự tương ứng giữa những thuộc tính tâm, sinh lýcủa con người với những yêu cầu do nghề nghiệp đặt ra Ở mỗi một nghềnghiệp khác nhau sẽ có những yêu cầu cụ thể khác nhau, nhưng tựu trung lạitheo tác giả Mạc Văn Trang thì năng lực nghề nghiệp được cấu thành bởi 3thành tố: Trí thức chuyên môn; Kỹ năng hành nghề; Thái độ đối với nghề.Năng lực nói chung và năng lực nghề nghiệp nói riêng không có sẵn như
Trang 7qua hoạt động học tập, lao động và trong hoạt động nghề nghiệp Học hỏi vàlao động không mệt mỏi là con đường phát triển năng lực nghề nghiệp của mỗi
cá nhân
Như vậy, có thể nói: năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cánhân, thuộc tính tâm lí cá nhân và là điều kiện thực hiện có kết quả một họatđộng xác định Nói tới năng lực là đề cập đến khả năng có thể đạt được kết quảtốt trong hoạt động cụ thể mà cá nhân thực hiện (năng lực học tập; năng lựclàm việc trong một nghề riêng biệt; năng lực tổ chức quản lý;…) Năng lực củamỗi cá nhân được tôi luyện và phát triển trong hoạt động cụ thể trên cơ sở củatiềm năng sẵn có nào đó của từng cá nhân Năng lực nghề nghiệp được hìnhthành và phát triển trong môi trường nghề cụ thể nào đó (nghề bác sĩ, nghề thiết
kế, thi công xây dựng, nghề dạy học, nghề trồng trọt, chăn nuôi…) Muốn hìnhthành năng lực nhất thiết phải gắn trong họat động cụ thể và phù hợp Năng lựccòn mang đậm màu sắc cá nhân bởi nó phụ thuộc vào tiền tố của từng người(cấu trúc sinh lí thần kinh, kinh nghiệm và vốn hiểu biết, tình cảm, phẩm chấttâm lí…), mặc dù được trải nghiệm trong hoạt động giống nhau Tố chất cánhân chi phối và tạo nên sự khác biệt giữa các cá nhân và năng lực riêng củatừng người
Một người giáo viên có năng lực là người hiểu rõ đối tượng giáo dục củamình (hiểu các đặc điểm phát triển tâm sinh lý theo lứa tuổi; hiểu rõ phươngthức học của học sinh/ hay các em học như thế nào? Nội dung giáo dục nào làphù hợp với khả năng tiếp nhận? Tổ chức cho các em học như thế nào là hiệuquả nhất? ); Biết cách tổ chức cho các em học tập đạt hiệu quả (lập kế hoạchdạy học, thực hiện các hoạt động dạy học và giáo dục, tổ chức môi trường họctập thân thiện, quản lý và điều khiển lớp học có hiệu quả…); Đánh giá và hiểu
rõ sự tiến bộ/ sự thành đạt của các em so với mục tiêu đặt ra (sự thành côngtrong nhận thức và năng lực hoạt động tư duy của học sinh, khả năng giải quyếtvấn đề, sự tiến bộ trong phát triển ngôn ngữ hay các mặt khác mà mục tiêu giáodục đặt ra); đào sâu một số nội dung dạy học và giáo dục để có thể nâng caotrình độ của học sinh (xác định phạm vi dạy học hay giáo dục phù hợp với trình
Trang 8độ, kinh nghiệm người học và nâng cao đến mức nào? ); giao tiếp với học sinh
và đồng nghiệp đảm bảo sự phát triển của học sinh và bản thân; năng lực họctập nâng cao trình độ cá nhân và phát triển chuyên môn của đồng nghiệp…
Từ những điều trên, có thể khẳng định rằng năng lực sư phạm là khả năng làmviệc của người giáo viên có ảnh hưởng hay tác động hiệu quả đến sự phát triểncủa học sinh và những người xung quanh
Năng lực nghiệp vụ sư phạm của người giáo viên là những thuộc tínhriêng, độc đáo của người làm nghề dạy học và giáo dục Giáo viên thực hiệnhoạt động dạy học (mà trong hoạt động này có sự tương tác giữa thầy – trò; trò– trò) để tạo ra sản phẩm là nhân cách của học sinh Giáo viên không chỉ đóngvai trò là người truyền thụ kiến thức, dạy học sinh cách học để chiếm lĩnh kiếnthức và kĩ năng cho bản thân, mà phẩm chất và năng lực của giáo viên cũng làtấm gương, hình tượng có ý nghĩa tác động đến hình thành và phát triển nhâncách của người học
Năng lực là sự tổng hợp các thuộc tính độc đáo của nhân cách phù hợp vớiyêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả.Năng lực sư phạm (NLSP) là đặc trưng của người GV, bên cạnh những yêu cầuchung, năng lực này phải đáp ứng được yêu cầu trong những môi trường giáodục cụ thể Có thể nói, NLSP là tổ hợp của nhiều năng lực, đặc biệt là năng lựcchuyên môn (về bộ môn mình giảng dạy và năng lực sư phạm chuyên biệt (xử
lý các mối quan hệ trong môi trường giáo dục)
1.2.3 Giáo viên Giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông
Theo Quyết định số 01/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02 tháng 01 năm 2007 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo viên GDTX cấp THPT (sau đây gọi làgiáo viên) là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục tại trung tâm giáo dụcthường xuyên, tham gia giảng dạy các chương trình giáo dục thường xuyên cấptrung học phổ thông
Giáo viên có những nhiệm vụ sau đây:
Trang 9- Thực hiện nhiệm vụ giảng dạy theo mục tiêu, nội dung, chương trìnhgiáo dục, kế hoạch dạy học; quản lý học viên theo sự phân công của giám đốctrung tâm giáo dục thường xuyên.
- Rèn luyện đạo đức, bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ để nâng caochất lượng và hiệu quả giảng dạy
- Thực hiện các quyết định của giám đốc, các quy định của pháp luật vàquy định của Quy chế này
- Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; đoàn kết, giúp đỡ cácđồng nghiệp; gương mẫu trước học viên, tôn trọng nhân cách của học viên, đối
xử công bằng với học viên, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của học viên
Giáo viên trung tâm giáo dục thường xuyên có những quyền sau đây:
- Được trung tâm tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ được giao
- Được hưởng mọi quyền lợi theo quy định đối với nhà giáo
- Được trực tiếp hoặc thông qua tổ chức của mình tham gia quản lý trungtâm
- Được tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất,dịch vụ chuyển giao công nghệ do trung tâm tổ chức
- Được dự các cuộc họp của hội đồng khen thưởng và hội đồng kỷ luậtkhi các hội đồng này giải quyết những vấn đề có liên quan đến học viên của lớpmình được phân công, phụ trách
- Giáo viên trung tâm giáo dục thường xuyên có định mức giờ dạy, địnhmức giờ làm công tác kiêm nhiệm như quy định đối với giáo viên cùng cấp học
ở các cơ sở giáo dục phổ thông
Yêu cầu về trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên:
- Giáo viên GDTX cấp THPT của trung tâm giáo dục thường xuyên phải
có trình độ đạt chuẩn như quy định đối với giáo viên dạy cùng cấp học của giáodục chính quy, yêu cầu phải có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm hoặc có bằngtốt nghiệp đại học và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm
Quy chế cũng quy định hành vi, ngôn ngữ ứng xử của giáo viên phảimẫu mực, có tác dụng giáo dục đối với học viên, trang phục của giáo viên phảichỉnh tề, giản dị, phù hợp với hoạt động sư phạm Giáo viên không được xuyên
Trang 10tạc nội dung giáo dục; xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể củahọc viên; gian lận trong tuyển sinh, thi cử, cố ý đánh giá sai kết quả học tập,rèn luyện của học viên, ép buộc học viên học thêm để thu tiền.
1.2.4 Đánh giá năng lực nghiệp vụ sư phạm
Đánh giá năng lực nghiệp vụ sư phạm của giáo viên chính là việc phântích các năng lực của người giáo viên căn cứ vào các hoạt động cơ bản trongnghề dạy học, lần lượt theo các công đoạn hành nghề của người giáo viên.Theo đó, năng lực nghiệp vụ sư phạm của giáo viên được cấu trúc từ nhữngthành tố sau:
- Năng lực tìm hiểu đối tượng, môi trường giáo dục;
- Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học và giáo dục;
- Năng lực thực hiện kế hoạch giáo dục (gồm năng lực dạy học và nănglực giáo dục hiểu theo nghĩa hẹp);
- Năng lực đánh giá, kiểm tra kết quả giáo dục;
- Năng lực hoạt động xã hội;
- Năng lực giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn giáo dục;
- Năng lực phát triển nghề nghiệp
1.3.1 Đặc điểm đội ngũ và lao động sư phạm của giáo viên GDTX cấp THPT
Đội ngũ giáo viên GDTX cấp THPT về cơ bản, được đào tạo từ các trường
sư phạm và đạt chuẩn về trình độ đào tạo
Tuy nhiên, có một số đặc điểm cần tính đến khi xem xét năng lực nghiệp
vụ sư phạm của giáo viên GDTX cấp THPT:
- Trong định hướng đào tạo chung và quá trình thực tập sư phạm, giáoviên được chuẩn bị tâm thế cho việc giảng dạy trong các trường THPT với mộtchương trình giáo dục chính quy và đối tượng học sinh có nhiều thuận lợi.Trong khi đó, chương trình giáo dục bổ túc THPT là chương trình giáo dụckhông chính quy, được giảng dạy cho những đối tượng học sinh có hạn chế vềnhiều mặt: học lực, hạnh kiểm, điều kiện hoàn cảnh gia đình, điều kiện kinhtế…, hầu hết các em không có nhiều hứng thú trong việc học
Trang 11- Giáo viên GDTX cấp THPT được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau, có
cả những giáo viên không được đào tạo từ trường đại học sư phạm, có nhữnggiáo viên học liên thông từ cao đẳng lên đại học, có những giáo viên được đàotạo từ các trường chuyên ngành và bồi dưỡng qua các khóa Nghiệp vụ sưphạm
- Do đặc thù về số lượng học sinh tại các trung tâm nên số lượng giáo viên
ở các trung tâm GDTX cũng hạn chế, hầu như rất ít đơn vị có tổ chuyên mônriêng cho từng môn học
- Giáo viên GDTX cấp THPT phần lớn là hợp đồng, thu nhập từ giảng dạy
có phần hạn chế, vì thế, chịu nhiều ảnh hưởng của việc làm thêm để có thunhập, quỹ thời gian dùng cho các hoạt động chuyên môn để đảm bảo phát triểnđược cả 7 năng lực nói trên là khá eo hẹp
- Quản lý giáo viên ở các trung tâm GDTX cũng khá đa dạng: có giáo viênbiên chế, giáo viên hợp đồng từ ngân sách và giáo viên hợp đồng từ nguồn kinhphí học phí thu được, vì vậy, chế độ, chính sách đối với từng loại giáo viêncũng khác nhau
1.3.2 Yêu cầu về năng lực nghiệp vụ sư phạm của giáo viên GDTX cấp THPT
Năng lực nghiệp vụ sư phạm của giáo viên GDTX cấp THPT có nhữngnội dung cơ bản của giáo viên trung học phổ thông, được vận dụng cho phùhợp với môi trường giáo dục thường xuyên, đảm bảo các yêu cầu sau:
- Có hiểu biết về đối tượng và môi trường giáo dục, phân tích những thuậnlợi, khó khăn, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động dạy học và giáo dục;
- Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học và giáo dục;
- Năng lực thực hiện kế hoạch giáo dục (gồm năng lực dạy học và nănglực giáo dục hiểu theo nghĩa hẹp);
- Năng lực đánh giá, kiểm tra kết quả giáo dục;
- Năng lực hoạt động xã hội;
- Năng lực giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn giáo dục;
- Năng lực phát triển nghề nghiệp
Trang 12CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CỦA GIÁO VIÊN GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN CẤP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TRÊN ĐỊA BÀN
2.1.1 Thực trạng dạy học BTTHPT trên địa bàn thành phố
Bảng 2.1: Phân tích kết quả học tập của HS BTTHPT tại các TTGDTX trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (Nguồn: Sở GD&ĐT thành phố Đà Nẵng)
Năm học TS họcsinh
nghiệp BT THPT
Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém
SL TLệ% SL TLệ % SL TLệ% SL TLệ% SL TLệ%
2005-2006 4838 21 0.43 920 19.02 3176 65.65 595 12.30 126 2.60 92.45 2006-2007 5066 26 0.51 690 13.62 2783 54.93 1435 28.33 132 2.61 33.52 2007-2008 4128 04 0.10 142 3.44 1578 38.22 1760 42.64 644 15.60 33.20 2008-2009 3993 02 0.05 200 5.00 2234 55.95 1198 30.00 359 9.00 38.36 2009-2010 3614 10 0.28 281 7.78 1754 48.53 1350 37.35 219 6.06 55.29 Cộng 5 năm 21639 63 0.29 2233 10.32 11525 53.26 6338 29.29 1480 6.84
Số liệu thống kê trong bảng 2.1 cho thấy, mặc dù số lượng HS BTTHPTkhông tăng trong 5 năm gần đây nhưng tỉ lệ HS BTTHPT có học lực khá, giỏirất thấp (học lực giỏi không tới 1%, học lực khá chỉ từ 3,44% đến 19,02%) vàhầu như không tăng, chủ yếu là HS có học lực trung bình (từ 38,22% đến65,65%), tỉ lệ HS đạt học lực yếu, kém khá cao Các số liệu này đã phản ánhmột thực trạng nổi bật, đó là: HS BTTHPT hiện nay phần lớn là có học lực đầuvào lớp 10 rất thấp (điểm thi tuyển sinh lớp 10 không đủ để vào các trường
Trang 13công lập và bán công), chỉ có một số ít các em có học lực khá nhưng do điềukiện, hoàn cảnh (từ ngoài tỉnh chuyển đến, gia đình gặp khó khăn nên phải vừalàm, vừa học, gặp rủi ro khi thi tuyển vào lớp 10 THPT…) Tỉ lệ HS tốt nghiệpBTTHPT cũng khá thấp, nhất là từ khi Bộ GD&ĐT triển khai cuộc vận động
“Hai không”, trong đó có nội dung “nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnhthành tích trong giáo dục”, kỷ luật phòng thi được xiết chặt
Với những số liệu phản ánh như trên, có thể thấy được tầm quan trọngcủa việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên để có thể cải thiện kết quả họctập của học sinh Đối với học sinh bổ túc THPT, cần phải có một phương phápdạy học phù hợp, với sự nhiệt tình, tâm huyết của giáo viên mới có thể giúp các
em, trước hết là ham học, sau đó là học được và học tốt
2.1.2 Thực trạng đội ngũ giáo viên GDTX cấp THPT trên địa bàn thành phố
Để tìm hiểu thực trạng đội ngũ giáo viên GDTX cấp THPT hiện nay,chúng tôi đã tiến hành thống kê các số liệu và tổng hợp kết quả như sau:
Bảng 2.2 Thống kê đội ngũ giáo viên GDTX cấp THPT (Nguồn: Sở GD&ĐT)
Trang 14- Từ giáo viên các trường bổ túc văn hóa để lại;
- Tuyển dụng mới từ nguồn sinh viên tốt nghiệp đại học (bao gồm cả đạihọc sư phạm và đại học chuyên ngành);
- Giáo viên tốt nghiệp cao đẳng học hoàn thiện lên đại học;
Trong đó, trình độ trên ĐH chiếm 5,99%, ĐH: 93,41% và dưới ĐH chiếm0,6% Tuy tỉ lệ giáo viên trình độ ĐH và trên ĐH cao nhưng vẫn có tới 14,97%giáo viên (25/167 người) không tốt nghiệp từ ĐHSP tham gia giảng dạy Tỉ lệgiáo viên có thâm niên giảng dạy ít hơn 5 năm khá lớn (43,71%)
b) Về chế độ lao động cũng có những loại khác nhau:
- Giáo viên biên chế (14,97%);
- Giáo viên hợp đồng từ nguồn ngân sách nhà nước (27,54%);
- Giáo viên do trung tâm hợp đồng theo 2 chế độ: thỉnh giảng nhận lươngtheo giờ dạy và nhận lương theo tháng (57,49%)
2.2 Tổ chức đánh giá năng lực nghiệp vụ sư phạm giáo viên GDTX cấp THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Hiện nay, việc đánh giá năng lực nghiệp vụ sư phạm giáo viên GDTX cấpTHPT chưa được triển khai như một hoạt động riêng lẻ để có được kết quả cụthể Việc đánh giá giáo viên được thực hiện thông qua các hoạt động sau:
- Giáo viên tự đánh giá;
Trang 15- Tổ chuyên môn đánh giá (thông qua dự giờ, kiểm tra hồ sơ chuyênmôn);
- Lãnh đạo trung tâm đánh giá (thông qua việc đánh giá viên chức cuốinăm)
Nhìn chung, việc đánh giá năng lực nghiệp vụ sư phạm của giáo viên chưađược tách bạch thành một nội dung cụ thể, các tiêu chí chính hầu hết dựa trênkết quả thi giáo viên giỏi, kết quả viết và áp dụng sáng kiến kinh nghiệm và kếtquả học tập của học sinh
Việc đánh giá cán bộ, viên chức sau một năm công tác hiện nay dựa trêncác mặt:
a) Chấp hành chính sách pháp luật của Nhà nước;
b) Kết quả công tác (số lượng và chất lượng công việc hoàn thành trongnăm);
c) Tinh thần kỷ luật (ý thức tổ chức kỷ luật trong công tác, việc thực hiệnnội quy cơ quan);
d) Tinh thần phối hợp trong công tác (phối hợp công tác với các cơ quanliên quan và đồng nghiệp);
đ) Tính trung thực trong công tác (trung thực trong báo cáo cấp trên vàtính chính xác trong các báo cáo);
e) Lối sống, đạo đức;
g) Tinh thần học tập nâng cao trình độ;
h) Tinh thần và thái độ phục vụ nhân dân;
Việc đánh giá cán bộ, viên chức sau 1 năm công tác được tiến hành theotrình tự sau:
a) Mỗi cán bộ, viên chức tổng kết công tác trong năm và tự đánh giá, xếploại theo mẫu “Phiếu đánh giá cán bộ, viên chức”
b) Tập thể đơn vị nơi cán bộ, viên chức làm việc góp ý kiến cho bản tựnhận xét kết quả công tác của cán bộ, viên chức và góp ý kiến đánh giá, đề nghịxếp loại cho từng cán bộ, viên chức
Trang 16c) Thủ trưởng đơn vị trực tiếp đánh giá cán bộ, viên chức theo từng nộidung quy định và tham khảo ý kiến nhận xét của tập thể để tổng hợp, xếp loạicán bộ, viên chức theo 4 mức độ: Xuất sắc, Khá, Trung bình và Kém
d) Kết quả đánh giá, xếp loại cán bộ, viên chức được thông báo đến từngcán bộ, viên chức Cán bộ, viên chức có quyền trình bày ý kiến, bảo lưu ý kiếnnhững nội dung không nhất trí về kết quả đánh giá đối với bản thân nhưng phảichấp hành ý kiến kết luận của Giám đốc trung tâm
Như vậy, việc đánh giá giáo viên tại các trung tâm GDTX hiện nay đượcthực hiện lồng ghép với đánh giá viên chức nói chung, dựa trên tất cả các mặtcông tác Không có phần đánh giá riêng về năng lực nghiệp vụ sư phạm Đây làmột khó khăn cho các đơn vị khi đánh giá để sàng lọc, lựa chọn giáo viên hợpđồng và xây dựng kế hoạch bồi dưỡng giáo viên cơ hữu
Kết quả xếp loại năm 2010 cụ thể như sau:
Bảng 2.3 Kết quả xếp loại giáo viên năm 2010
2.3 Thực trạng hoạt động sư phạm của giáo viên GDTX cấp THPT
2.3.1 Chuẩn bị cho giờ lên lớp
Qua nghiên cứu các giáo án và dự giờ dạy của giáo viên, cho thấy: giáoviên còn gặp nhiều khó khăn trong việc chuẩn bị giờ lên lớp, đặc biệt là trongcác khâu: lập kế hoạch cho bài dạy (xác định mục tiêu, phân bố thời gian, lựachọn phương pháp phù hợp đối tượng…), chuẩn bị các phương tiện dạy học, …Qua kiểm tra thường xuyên và đột xuất, vẫn có một số trường hợp giáoviên chưa thực hiện đủ quy chế giảng dạy (không đủ hoặc thực hiện chưa
Trang 17có thái độ chủ quan, không đi sâu tìm hiểu đối tượng dạy học, vì vậy, giáo ánsoạn chưa sâu, chưa thể hiện sự phân hóa đối tượng.
2.3.2 Sử dụng các tài liệu và phương tiện dạy học
Qua kiểm tra thường xuyên và đột xuất, vẫn có một số trường hợp giáoviên chưa thực hiện đủ quy chế giảng dạy (không đủ hoặc thực hiện chưanghiêm túc hồ sơ chuyên môn, lên lớp không có giáo án…), một số giáo viên
có thái độ chủ quan, không đi sâu tìm hiểu đối tượng dạy học, vì vậy, giáo ánsoạn chưa sâu, chưa thể hiện sự phân hóa đối tượng
Việc sử dụng đồ dùng dạy học chưa thường xuyên (một phần do giáo viênchưa tích cực, một phần do thiết bị dạy học của các trung tâm còn hạn chế;thêm vào đó, một số giáo viên cho rằng học sinh yếu nên cần phải ghi chépnhiều để có bài học nên việc đổi mới phương pháp là hạn chế) Phong trào làm
và sử dụng đồ dùng dạy học tự làm chưa được phát huy nên thiết bị dạy họccòn nghèo nàn, không đổi mới
2.3.3 Phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Về phương pháp dạy học, đa số giáo viên sử dụng phương pháp thuyếttrình, ít vận dụng các phương pháp dạy học mới Một số giáo viên bị phân tánthời gian giữa việc giảng dạy và giáo dục học sinh (mất nhiều thời gian để ổnđịnh lớp, răn dạy học sinh), thời gian để triển khai giờ giảng không đúng kếhoạch Phương pháp giáo dục đôi khi còn “nóng đâu, phủi đấy”, không có một
kế hoạch cụ thể, một biện pháp “dài hơi” để giáo dục phù hợp với từng đốitượng Việc phối hợp giáo dục học sinh còn hạn chế, chưa có kế hoạch và chưađánh giá được hiệu quả công tác phối hợp
2.4 Những bất cập về nội dung, phương pháp và kết quả đánh giá
2.4.1 Về nội dung đánh giá
Trong thực tế, chưa có nội dung và hướng dẫn đánh giá riêng về năng lựcnghiệp vụ sư phạm của giáo viên Việc đánh giá giáo viên chủ yếu là về côngtác giảng dạy với những nội dung được vận dụng trên cơ sở tiêu chí đánh giágiờ dạy của trường THPT ở các mặt: hồ sơ sổ sách, phiếu dự giờ, kết quả các