1.2.1 Mục tiêu chungPhân tích cơ hội của sinh kế của cộng đồng dân cư tại xã Quang Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An gắn với mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực1.2.2 Mục tiêu cụ thểĐề tài được thực hiện nhằm mục tiêu:(1)Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài.(2)Tìm hiểu thực trạng sinh kế của cộng đồng dân cư tại xã Quang Thành, Yên Thành, Nghệ An.(3)Phân tích cơ hội của sinh kế của cộng đồng dân cư tại xã QuangThành, Yên Thành, Nghệ An nhằm mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực(4)Đề xuất một số giải pháp nhằm tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư xã Quang Thành trong việc đảm bảo an ninh lương thực.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
_ *** _
BÁO CÁO TÓM TẮT KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
PHÂN TÍCH CƠ HỘI SINH KẾ CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ NHẰM MỤC TIÊU ĐẢM BẢO AN NINH LƯƠNG THỰC TRÊN ĐỊA BÀN XÃ QUANG THÀNH, HUYỆN YÊN THÀNH,
TỈNH NGHỆ AN
"
T×m hiÓu t×nh h×n
h ph¸t triÓn kinh tÕ N«ng hé t¹i x· Qnh B¶o,
huyÖn Quúnh Phô, tØnh Th¸i B×nh"
Chuyên ngành đào tạo : Kinh tế nông nghiệp
Giảng viên hướng dẫn : ThS Quyền Đình Hà
HÀ NỘI - 2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau bốn năm học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành chương trình học đại họcchuyên ngành kinh tế nông nghiệp tại trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, và tiếnhành thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp: “Phân tích cơ hội sinh kế của cộng đồngdân cư nhằm mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn xã Quang Thành,huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An ”
Để thực hiện được đề tài nghiên cứu của mình trong thời gian vừa qua, tôi xintrân trọng bày tỏ lòng biết ơn tới Quý Thầy - Cô giáo khoa Kinh tế và Phát triển nôngthôn, trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội, những người đã tận tình dạy bảo, giúp đỡ
và định hướng cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu các kiến thức chuyên môntrong suốt bốn năm đại học và cả thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự đồng ý và giúp đỡ của ban lãnh đạo UBND QuangThành cũng như sự đồng thuận của bà con nhân dân trong xã đã tạo điều kiện cho tôitrong suốt quá trình thực tập, phỏng vấn thu thập số liệu tại địa phương
Tôi xin trân trọng tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo, Thạc sĩ Quyền Đình Hà
là người đã định hướng, chỉ bảo, dìu dắt tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè và người thân đã giúp đỡ, động viên, khích lệtôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Hà Nội, ngày 26 tháng 05 năm 2010
Sinh viên thực hiện khóa luận
Trần Nguyên Khánh
Trang 3TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Mặc dù đã bảo đảm được an ninh lương thực quốc gia, tuy nhiên tại Việt Namvẫn còn rất nhiều bộ phận dân cư bị thiếu đói hàng năm Quang Thành là một trong sốnhững xã nghèo của huyện Yên Thành, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn bởitình trạng cơ sở hạ tầng thấp kém, sản xuất lạc hậu, dân số đông và kinh tế nghèo nàn
Ưu thế duy nhất của xã là có diện tích rừng và diện tích đất canh tác khá dồi dào
Các nguồn vốn sinh kế của các nhóm hộ tương ứng với các thôn đều thấp: laođộng chưa qua đào tạo chiếm tới 90%, vốn tài chính ít ỏi, các hội đoàn thể hoạt độngchưa thực sự tích cực; chỉ có nguồn vốn tự nhiên là phong phú và thuận lợi với diệntích đất canh tác bình quân khoảng 1700 m2/hộ và đa số hộ có rừng sản xuất Kết quảđược tính toán theo phương pháp chỉ số cho thấy các nhóm hộ có điều kiện về nguồnvốn sinh kế khá đồng đều: nguồn vốn con người, tài chính, vật chất, xã hội chỉ ở mứcxấp xỉ 0,5; còn nguồn vốn tự nhiên có chỉ số xấp xỉ 0,9 trên mức tối đa là 1 Với nhữngnguồn vốn đó, hộ còn phải sống trong điều kiện có nhiều bất ổn từ biến động lao động,dịch bệnh và thu nhập theo thời vụ
Vì thế, mặc dù đã huy động hết mức các nguồn lực của mình, đặc biệt là nguồnlực tự nhiên và con người cho các hoạt động sinh kế: trồng trọt, chăn nuôi và làm thuê,làm dịch vụ; vẫn có một tỷ lệ cao số hộ không đảm bảo được nhu cầu lương thực: Năm
2010 có 53,3% hộ dân thiếu đói tại các thôn Số hộ thiếu lương thực tập trung chủ yếu
ở vùng công giáo của xã với tỷ lệ trên 50% và ở nhóm hộ có diện tích đất canh tác ít
và thiếu tài nguyên rừng là 40% Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới thực trạng này là tìnhhình dân số đông, gia đình nhiều con, lao động lại thiếu việc làm tại các hộ điều tra.Thiếu nước, dịch bệnh và mất mùa là nguy cơ thường trực khiến cho năng suất lúa của
hộ không ổn định, đe dọa nghiêm trọng đến khả năng đảm bảo an ninh lương thực củacác hộ dân, đặc biệt là nhóm hộ nghèo nơi đây
Để nghiên cứu cơ hội sinh kế của cộng đồng dân cư tại các thôn trên địa bàn, đềtài sử dụng phương pháp phân tích về: khả năng tận dụng các cơ hội sinh kế của hộ;khả năng đảm bảo ANLT trong các tình huống giả định: khi có dịch bệnh và mấtmùa; khi có sự biến động của các nguồn vốn sinh kế theo thời gian; khi có sự thay đổicác chính sách tác động lên sinh kế người dân
Trang 4Các nguồn trợ cấp cho hộ không đáng kể để có thể giải quyết vấn đề mất ANLTcủa hộ và hộ phải dựa chủ yếu vào các nguồn lực của mình để tạo thu nhập Trên thực
tế, thu nhập của các hộ trên năm lớn hơn rất nhiều so với số tiền phải chi cho mualương thực Vì thế, tình trạng thiếu lương thực của hộ có nguyên nhân chính từ việc hộkhông sử dụng các nguồn thu nhập một cách hợp lý: chi tiêu cho lương thực được xếpmức ưu tiên thấp, thóc gạo dự trữ thường bị lạm dụng để chi tiêu, các khoản thu nhậplớn từ rừng cũng thường được dùng để xây nhà, mua tài sản chứ không dùng vào mụcđích phòng bị lúc gặp rủi ro
Nếu mất mùa xảy ra trên cả hai vụ lúa, chi cho mua lương thực của các hộnhóm thôn nghèo tăng lên tới trên 4 triêu đồng/năm/hộ và có tới trên 60% số hộ sẽ lâmvào tình trạng phải mua lương thực, chỉ có các hộ thôn khá là có thể tương đối ổn địnhđược cuộc sống của mình nhờ nguồn thu nhập phụ
Dựa vào thực tế về quan niệm sinh đẻ của người dân trong cộng đồng, chúng tôigiả định về thời gian tách hộ của các nhân khẩu trong hộ, và số khẩu sinh thêm của hộtheo thời gian Từ đó, kết quả phân tích dự báo sẽ có nhiều hộ dân ở đây tiếp tục lâmvào cảnh thiếu lương thực và tỷ lệ hộ thiếu lương thực tăng lên do diện tích đất nôngnghiệp giảm đi chỉ còn từ 700 ÷ 1200 m2/hộ Nhóm hộ giáo dân sẽ lâm vào thiếu đóitrầm trọng nhất do có số con đông và quan niệm sinh đẻ tự do, với 90% số hộ vào năm
2025 sẽ không đảm bảo được lượng lương thực mình cần Nhóm hộ khá cũng sẽ có tới55% hộ thiếu lương thực Đặc biệt, các hộ có đảm bảo tốt KHHGĐ thì có xu hướngthoát ra khỏi tình trạng thiếu lương thực Lương thực bình quân đầu người tại các hộnghiên cứu trong 10 năm tới đã thấp hơn mức nghèo là 2,4 tạ/người/năm, và đến năm
2025 thì con số đó còn thấp hơn mức 2 tạ/người/năm, cho nên chi tiêu cho mua lươngthực của hộ tăng cao
Các chính sách thay đổi cũng sẽ tác động đến khả năng đảm bảo sinh kế của hộ.Các chính sách có tầm quan trọng đặc biệt là chính sách cho sinh viên vay vốn, chínhsách về lâm nghiệp Nếu không có rừng để sản xuất nữa, các hộ sẽ có thu nhập giảm đinghiêm trọng, đồng thời nếu không được hưởng lợi từ nguồn vốn cho sinh viên đi học,cũng có thêm nhiều hộ lâm vào tình trạng thiếu đói
Bởi thế, cộng đồng dân cư xã rất cần được sự hỗ trợ của chính quyền về cơ sở
hạ tầng, tạo việc làm và giúp đỡ trong việc thực hiện các biện pháp kìm hãm sự ra tăng
Trang 5dân số Trong đó dân số là vấn đề quan trọng nhất phải giải quyết ngay bằng việc tăngcường tuyên truyền vận động người dân tại vùng công giáo, tăng cường sự tham giacủa người dân vào các tổ chức đoàn thể xã hội thông qua những lợi ích về kinh tế, hạnchế số trẻ nghỉ học sớm Giải quyết việc làm đóng vai trò quan trọng và đối với việctạo sinh kế bền vững cho người dân trong việc đảm bảo an ninh lương thực, vì thế cầncho các hộ dân vay vốn để sản xuất với thời hạn và số lượng hợp lý hơn, đào tạo nghềcho lao động nông thôn và khuyến khích giáo dục đào tạo Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầngnhư đường giao thông rất đáng được đầu tư để tạo điều kiện cho người dân phát triểndịch vụ, buôn bán và sản xuất hàng hoá; đầu tư xây dựng các đập thuỷ lợi để đảm bảosản xuất ổn định Nhà nước cần có chính sách tăng cường sự hoạt động của các ban cơ
sở như thú y, dân số, khuyến nông Người dân cũng nên chủ động phát triển kinh tếrừng và học tập kĩ thuật tăng năng suất, hạn chế dịch bệnh để có nguồn thu nhập ổnđịnh hơn cho mục tiêu ANLT
Trang 6MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Tóm tắt đề tài ii
Mục lục v
Danh mục bảng viii
Danh mục biểu đồ, sơ đồ iix
Danh mục hộp iix
Danh mục các từ viết tắt x
PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.2 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3 Phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Phạm vi về nội dung 3
1.3.2 Phạm vi không gian 3
1.3.3 Phạm vi về thời gian 3
PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Khái niệm hộ và cộng đồng 4
2.1.2 Khái niệm về sinh kế, cơ hội sinh kế và khung sinh kế bền vững 5
2.1.3 An ninh lương thực 15
2.2 Cơ sở thực tiễn 17
2.2.1 Thành tựu xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an ninh lương thực của Việt Nam trong giai đoạn gần đây 17
2.2.2 Các chính sách về xóa đói giảm nghèo và an ninh lương thực của Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2020 20
PHẦN 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 22
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 22
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 23
3.1.3 Các chỉ tiêu kinh tế cơ bản 29
Trang 73.2 Phương pháp nghiên cứu 32
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 32
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 33
3.2.3 Phương pháp xử lý thông tin 35
3.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 35
3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong đề tài 39
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45
4.1 Thực trạng sinh kế của cộng đồng dân cư xã Quang Thành 45
4.1.1 Bối cảnh dễ tổn thương và hình thức đối phó 45
4.1.1.1 Khan hiếm và dư thừa lao động theo thời vụ 45
4.1.1.2 Xu hướng biến động thu nhập chi tiêu không cân xứng 46
4.1.1.3 Xu hướng biến động của thiên tai, dịch bệnh 47
4.1.2 Thực trạng các nguồn vốn sinh kế của các nhóm hộ điều tra 47
4.1.2.1 Vốn con người 47
4.1.2.2 Vốn vật chất 50
4.1.2.3 Vốn tài chính 52
4.1.2.4 Vốn xã hội 54
4.1.2.5 Vốn tự nhiên 56
4.1.3 Các chiến lược sinh kế của cộng đồng dân cư Quang Thành 58
4.1.3.1 Chiến lược kết hợp các nguồn vốn sinh kế để tạo hoạt động sinh kế 58
4.1.3.2 Chiến lược phân công lao động và sử dụng thời gian 61
4.1.4 Ảnh hưởng của thể chế và chính sách lên sinh kế của cộng đồng dân cư 63
4.1.4.1 Các chính sách của nhà nước 63
4.1.4.2 Ảnh hưởng của các thể chế tại địa phương 65
4.2 Phân tích cơ hội sinh kế của cộng đồng dân cư nhằm mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực 68
4.2.1 Thực trạng an ninh lương thực trong cộng đồng dân cư Quang Thành 68
4.2.1.1 Tình hình sản xuất lương thực 68
4.2.1.2 Tình trạng an ninh lương thực 69g 4.2.2 Phân tích cơ hội của cộng đồng dân cư trong việc tận dụng các nguồn vốn sinh kế nhằm mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực 71
4.2.2.1 Tổng hợp các nguồn vốn sinh kế của hộ 71
Trang 84.2.2.2 Phân tích khả năng đảm bảo an ninh lương thực của cộng đồng dân cư 74
4.2.3 Phân tích các cơ hội sinh kế của cộng đồng dân cư trong các trường hợp rủi ro về sản xuất nông nghiệp 78
4.2.3.1 Các giả định 78
4.2.3.2 Kết quả phân tích khả năng đảm bảo an ninh lương thực của cộng đồng 78
4.2.4 Phân tích cơ hội đảm bảo an ninh lương thực của cộng đồng dân cư trong sự biến động của nhân khẩu theo thời gian 81
4.2.4.1 Các giả định 81
4.2.4.2 Kết quả phân tích khả năng đảm bảo an ninh lương thực của cộng đồng 82
4.2.5 Phân tích cơ hội sinh kế của cộng đồng dân cư với mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực trong các điều kiện thay đổi về chính sách 85
4.2.5.1 Chính sách về giao rừng sản xuất 85
4.2.5.2 Chính sách về cho sinh viên vay vốn 86
4.2.5.3 Chính sách về giao khoán ruộng đất 87
4.2.5.4 Chính sách hỗ trợ các xã nghèo – phát triển cơ sở hạ tầng và tạo việc làm và các chính sách phát triển khác 87
4.3 Một số giải pháp nhằm tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư xã Quang Thành trong việc đảm bảo an ninh lương thực 88
4.3.1 Căn cứ của các giải pháp 88
4.3.2 Các nhóm giải pháp 90
4.3.2.1 Nhóm giải pháp về dân số 90
4.3.2.2 Nhóm giải pháp về việc làm 93
4.3.2.3 Nhóm giải pháp về cơ sở hạ tầng 94
4.3.2.4 Nhóm giải pháp về sản xuất và phòng trừ dịch bệnh 96
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98
5.1 Kết luận 98
5.2 Kiến nghị 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHẦN PHỤ LỤC 103
Phụ lục 1: Bảng câu hỏi phỏng vấn điều tra 103
Phụ lục 2: Các nguồn tạo thu nhập của các nhóm hộ điều tra 111
Phụ lục 3: Các loại đầu tư cho sinh kế của nhóm hộ điều tra 112
Phụ lục 4: Các khoản chi sinh hoạt thiết yếu của các nhóm hộ điều tra 113
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG SỬ DỤNG TRONG KHOÁ LUẬN
Bảng 2.1 Ngưỡng nghèo của Bộ Lao động – TB&XH quy đổi ra thóc và tiền 16
Bảng 3.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất của xã Quang Thành 24
Bảng 3.2 Tình hình dân số vào lao động của xã Quang Thành qua các năm 26
Bảng 3.3 Thực trạng cơ sở hạ tầng của xã Quang Thành 28
Bảng 3.4 Kết quả sản xuất của xã Quang Thành qua các năm 30
Bảng 3.5 Các giả định về sự biến động nhân khẩu của hộ theo thời gian 38
Bảng 3.6 Hệ thống chỉ tiêu nhà ở - Vốn tài sản 40
Bảng 3.7 Hệ thống chỉ tiêu tài sản lâu bền - Vốn tài sản 40
Bảng 3.8 Hệ thống chỉ tiêu Dịch vụ thiết yếu - Vốn tài sản 41
Bảng 3.9 Hệ thống chỉ tiếu số nhóm xã hội có tham gia tích cực - Vốn xã hội 41
Bảng 3.10 Hệ thống chỉ tiêu Quan điểm về địa phương - Vốn xã hội 42
Bảng 3.11 Hệ thống chỉ tiêu vốn tài chính 43
Bảng 3.12 Hệ thống chỉ tiêu vốn tự nhiên 43
Bảng 3.13 Hệ thống các chỉ tiêu vốn con người 44
Bảng 4.1 Các chỉ số nguồn vốn con người của các nhóm hộ điều tra 48
Bảng 4.2 Chỉ số vốn vật chất của các nhóm hộ điều tra 51
Bảng 4.3 Chỉ số vốn tài chính của các nhóm hộ điều tra 53
Bảng 4.4 Chỉ số vốn xã hội của nhóm hộ điều tra 55
Bảng 4.5 Chỉ số vốn tự nhiên của nhóm hộ điều tra 57
Bảng 4.6 Tình hình sản xuất lương thực của các nhóm hộ 68
Bảng 4.7 Tình hình an ninh lương thực của xã Quang Thành tháng 4 hàng năm 69
Bảng 4.8 Tình trạng thiếu lương thực và các biện pháp đối phó của các nhóm hộ 70
Bảng 4.9 Phân tích SWOT cho mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực của cộng đồng 72 Bảng 4.10 So sánh thu nhập và mức chi cho lương thực thiếu của hộ 75
Bảng 4.11 Kết quả xếp hạng mức độ ưu tiên của các khoản chi tiêu của hộ 76
Bảng 4.12 Dự báo về sự suy giảm diện tích lương thực của hộ theo thời gian 82
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ SỬ DỤNG TRONG KHOÁ LUẬN
Sơ đồ 2.1 Khung sinh kế bền vững (Nguồn DFID) 7
Sơ đồ 4.1 Cây vấn đề của tình trạng an ninh lương thực thiếu đảm bảo 89
Đồ thị 4.1 So sánh các chỉ số nguồn vốn sinh kế giữa các nhóm hộ 72
Đồ thị 4.2 Tình trạng thiếu lương thực của hộ khi có rủi ro 79
Đồ thị 4.3 Dự báo về sản lượng lương thực bình quân đầu người trong tương lai 83
Đồ thị 4.4 Dự báo về tình trạng thiếu lương thực trong tương lai 84
Đồ thị 4.5 Hiệu quả của việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình tại các hộ giáo dân 92
DANH MỤC CÁC HỘP SỬ DỤNG TRONG KHOÁ LUẬN Hộp 4.1 Mong muốn của các hộ được có việc làm 60
Hộp 4.2 Ý thức chăm lo học hành cho con cái của các hộ dân nhóm I 62
Hộp 4.3 Quan niệm về sinh đẻ của người dân Trung Bắc, Trung Nam 67
Hộp 4.4 Thói quen bán lương thực dự trữ để tiêu dùng của hộ 77
Hộp 4.5 Vai trò của rừng đối với kinh tế của xã và của hộ gia đình 86
Trang 11DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG KHOÁ LUẬN
ANLT An ninh lương thực
CPRGS Chiến lược toàn diện về Tăng trưởng và Xóa đói giảm nghèo GTSX Gía trị sản xuất
KHCNNN Khoa học Công nghệ Nông nghiệp
KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình
KV2 – NT Khu vực 2 – Nông thôn
SWOT Thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức
TB & XH Thương binh và xã hội
VBARD Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
WTO Tổ chức thương mại thế giới
Trang 12PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Quá trình phát triển đất nước tại mọi quốc gia, dù là nước đang phát triển hayphát triển, thì mục tiêu nâng cao mức sống người dân luôn là trọng tâm hàng đầu Yếu
tố con người lúc nào cũng là động lực cơ bản cho sự phát triển, đồng thời cũng là đốitượng mà sự phát triển cần phải hướng tới Làm cho đời sống của nhân dân được đảmbảo hay không, chính là điều kiện tiên quyết để đánh giá chất lượng của các kế hoạchphát triển tại các quốc gia
Muốn có được kết quả đó, chính phủ ở mỗi nước phải có sự quan tâm phù hợpcho cả những vấn đề tăng trưởng kinh tế và vấn đề xã hội, mà trong đó sự quan tâmđối với cuộc sống của người nghèo rất cần được đặc biệt chú trọng Người nghèo, đặcbiệt là người nghèo ở những vùng kinh tế còn kém phát triển như nông thôn, miền núi
là những người dễ bị tổn thương nhất trước bất kỳ một sự thay đổi tiêu cực nào củađiều kiện ngoại cảnh Với đặc điểm trình độ dân trí thấp, ít vốn, nguồn lực sản xuất ít
ỏi, cơ sở hạ tầng thấp kém, giao thông liên lạc khó khăn, lại ít cơ hội tiếp xúc vớinhững dịch vụ y tế, giáo dục, văn hoá và thị trường, các hộ dân nghèo thường là đốitượng chịu nhiều thiệt thòi nhất trong xã hội
Ở nước ta hiện nay, mặc dù công tác xoá đói giảm nghèo đã đạt được thành tựucực kỳ xuất sắc được thế giới ghi nhận, song hiện tại vẫn còn một bộ phận không nhỏngười dân phải đối mặt với những khó khăn trong việc đảm bảo cuộc sống tối thiểuhàng ngày Mặc dù công cuộc đổi mới trong sản xuất nông nghiệp đã giúp nước ta đãgiải quyết được vấn đề an ninh lương thực, nhưng vẫn còn rất nhiều hộ dân thuộc diệnphải “lo ăn từng bữa” Chỉ cần một tác động nhỏ từ nền kinh tế thị trường và thể chếchính sách cũng có thể khiến họ lâm vào những vấn đề khó mà giải quyết được Vìvậy, công tác giải quyết những khó khăn và tăng cường khả năng đảm bảo đời sốngcủa các cộng đồng dân cư ở những vùng nghèo vẫn rất đáng được đặt lên hàng đầutrong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam
Trên thực tế, những chính sách của Đảng và Nhà nước ta hiện nay đã có những
sự quan tâm rõ rệt nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện cho những cộng đồng người dân ở cáckhu vực đặc biệt khó khăn, qua các chương trình 134 ,135, 143 và các chính sách phát
Trang 13triển nông thôn, ưu đãi đầu tư Nhiều sự trợ giúp của các tổ chức phi chính phủ cũng
đã hướng tới các cộng đồng này với mục đích tương tự Tuy nhiên, để tạo được sinh kếbền vững cho cộng đồng, vấn đề cốt lõi phải là hướng họ vào việc sử dụng hiệu quảnhững nguồn lực bản địa vốn có sẵn tại địa phương, chứ không phải là sự trợ giúp vềmặt tài chính hay vật chất trong ngắn hạn Nhiều chương trình và dự án của cả chínhphủ và các tổ chức phi chính phủ đã gặp phải hiện tượng: khi các dự án hoàn thành vàrút đi, chỉ sau vài năm người dân lại trở lại với tập quán sản xuất cũ, thu nhập giảm đi
và lại lâm vào hoàn cảnh khốn khó; không hiếm địa phương sau khi không còn là đốitượng của dự án 135 thì cộng đồng dân cư ở đó tái nghèo nhanh chóng, thường xuyênlâm vào tình trạng thiếu đói Đó là một thực trạng mà đòi hỏi những nhà chính sáchcần có cái nhìn hết sức toàn diện và trung thực, khách quan về kết quả của những nỗlực giảm nghèo đã thực hiện được Chúng ta vẫn tự hào rằng Việt Nam đã giữ vữngđược an ninh lương thực, thậm chí xuất khẩu gạo, nhưng ai dám phủ nhận rằng toàn bộcác khu vực khó khăn như trung du, miền núi Việt Nam còn rất nhiều cộng đồng dân
cư thiếu đói Hiện nay, với bối cảnh Việt Nam mới gia nhập WTO và sự suy giảm củatài nguyên thiên nhiên song hành với biến đổi khí hâu, sẽ có nhiều hơn nữa những tácđộng tiêu cực đe doạ đến sinh kế bền vững của những cộng đồng dân cư này
Nếu lấy ví dụ về vấn đề bất ổn trong mức sống người dân thì xã Quang Thành,Yên Thành, Nghệ An là một địa bàn rất điển hình Dựa vào kết quả phát triển kinh tế
và xã hội trên địa bàn, Quang Thành đã được UBND xã đăng ký ra khỏi dự án hỗ trợcác xã nghèo của huyện năm 2007, tuy nhiên chỉ một mùa vụ mất trắng năm 2009, tất
cả các hộ trong xã đã phải nhận trợ cấp lương thực cứu đói trực tiếp từ UBND tỉnhNghệ An Thực trạng đó đã phản ánh một vấn đề hết sức cấp thiết trong công cuộcphát triển nông nghiệp nông thôn, xoá đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng xã hội ởnước ta hiện nay: đó là làm sao cho người dân nghèo được thoát nghèo, đảm bảo đượcmức sống tối thiểu dựa trên việc sử dụng bền vững những nguồn lực mà họ có thể tiếpcận được một cách lâu dài Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Phân tích cơ hội sinh kế của cộng đồng dân cư nhằm mục tiêu đảm bảo an ninh
lương thực trên địa bàn xã Quang Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An”.
Trang 141.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích cơ hội của sinh kế của cộng đồng dân cư tại xã Quang Thành, huyệnYên Thành, tỉnh Nghệ An gắn với mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Đề tài được thực hiện nhằm mục tiêu:
(1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài
(2) Tìm hiểu thực trạng sinh kế của cộng đồng dân cư tại xã Quang Thành, YênThành, Nghệ An
(3) Phân tích cơ hội của sinh kế của cộng đồng dân cư tại xã QuangThành, YênThành, Nghệ An nhằm mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực
(4) Đề xuất một số giải pháp nhằm tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư xãQuang Thành trong việc đảm bảo an ninh lương thực
1.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là (1) Các hộ dân trên địa bàn xã Quang Thành, YênThành, Nghệ An; (2) Các tổ chức hành chính, kinh tế và xã hội tại địa phương có tácđộng tới sinh kế của cộng đồng dân cư; (3) Nhà nước và các tổ chức quốc tế có ảnhhưởng tới sinh kế cộng đồng dân cư ở tầm vĩ mô
Trang 15PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
Theo Raul, năm 1989: hộ là tập hợp những người có chung huyết tộc, có quan
hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra sản phẩm để bảo tồn chính bản thânmình và cộng đồng
Theo Megee năm 1989: hộ là một nhóm người có cùng chung huyết tộc hoặckhông cùng chung huyết tộc ở chung trong một mái nhà và ăn chung một mâm cơm
Theo hệ thống quản lý nhân khẩu của Nhà nước Việt Nam, hộ gồm nhữngngười cùng sống dưới một mái nhà Những thành viên của hộ là những người thực tếthường trú dài – trên 6 tháng
Tổng cục thống kê sử dụng để tiến hành trong cuộc tổng điều tra dân số: Hộgồm những người có quan hệ hôn nhân hoặc ruột thịt hoặc nuôi dưỡng có quỹ thu chichung và cùng chung sống lâu dài
Trong đề tài của mình, chúng tôi sử dụng khái niệm hộ bao gồm những người
có đặc điểm chung sau:
- Có chung huyết tộc hoặc có quan hệ hôn nhân hoặc nuôi dưỡng
- Cùng chung nguồn thu nhập
- Cùng tiến hành sản xuất chung
2.1.1.2 Khái niệm về cộng đồng
Theo Phạm Thanh Hải (2009), có nhiều quan điểm về cộng đồng Tuy nhiên, cóthể hiểu 1 cách chung nhất, đó là 1 tập hợp những người sống thành xã hội, có quanđiểm chung với nhau, gắn bó thành một khối Cộng đồng bao gồm 2 loại hình cơ bản:
Trang 16(1) Cộng đồng địa lý: Bao gồm những người dân cư trú trong cùng 1 địa bànvới các đặc điểm xã hội thống nhất và có 1 quan hệ ràng buộc với nhau Họ được ápdụng chính sách chung.
(2) Cộng đồng chức năng: gồm những người có thể cư trú gần nhau hoặc khônggần nhau nhưng có lợi ích chung Họ liên kết với nhau trên cơ sở nghề nghiệp, sở thíchhợp tác hay hiệp hội có tổ chức
Trong Luật bảo vệ và phát triển rừng, quy định: Cộng đồng dân cư thôn là toàn
bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum,sóc hoặc đơn vị tương đương
Có nhiều quan điểm cho rằng: Cộng đồng là một tập hợp những người sống gắn
bó với nhau thành một xã hội nhỏ có những điểm tương đồng văn hóa, kinh tế, xã hội,truyền thống, phong tục tập quán, có các quan hệ trong sản xuất và đời sống gắn bóvới nhau và thường có ranh giới không gian trong một thôn, bản Theo quan điểm này,cộng đồng chính là “cộng đồng dân cư thôn bản”
Như vậy, khái niệm cộng đồng chỉ mang ý nghĩa tương đối Tùy thuộc và khíacạnh xem xét, đánh giá (tổ chức, tiêu chuẩn) mà có thể có cộng đồng lớn hoặc cộngđồng nhỏ, liên kết lỏng hay chặt chẽ ( cộng đồng trong cộng đồng) Mặt khác, nhữngtính chất hay tiêu chuẩn đánh giá này cũng chỉ là tương đối (thậm chí là thay đổi theothời gian) nên khái niệm cộng đồng thường mang tính chất bao quát chung mà thôi
2.1.2 Khái niệm về sinh kế, cơ hội sinh kế và khung sinh kế bền vững
2.1.2.1 Khái niệm về sinh kế
Sinh kế (Livelihood) hay còn gọi là kế sinh nhai Sinh kế bao gồm tất cả cáckhả năng, tài sản (tư liệu sản xuất, xã hội) và các hoạt động cần thiết cho một phươngthức sống [1]
Sinh kế tuỳ thuộc vào các khả năng và của cải (nguồn lực vật chất, xã hội) vànhững hoạt động mà tất cả là cần thiết để mưu sinh [1]
Sinh kế có thể được miêu tả như là sự tập hợp các nguồn lực và khả năng củacon người kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi để kiếm sốngcũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ [1]
Trang 17Sinh kế bao gồm toàn bộ những hoạt động của con người để đạt được mục tiêudựa trên những nguồn lực sẵn có của con người như: các nguồn tài nguyên thiên nhiên,các nguồn tài chính, lao động, trình độ phát triển của khoa học công nghệ
Sinh kế được coi là bền vững khi có thể đương đầu và vượt qua những áp lực,
cú sốc và duy trì hoặc nâng cao khả năng cũng như tài sản ở cả hiện tại và tương lainhưng không gây ảnh hưởng xấu đến cơ sở tài nguyên tự nhiên [1]
Sinh kế của một người hay của một gia đình là bền vững khi họ có thể đươngđầu và phục hồi trước các căng thẳng, chấn động và tồn tại được hoặc nâng cao thêmcác khả năng và của cải của họ hiện nay và cả trong tương lai mà không làm tổn hạiđến các nguồn lực môi trường [7]
Như vậy, sinh kế là những hoạt động cần thiết mà cá nhân hay hộ gia đình phảithực hiện dựa trên các khả năng và tài sản sinh kế để kiếm sống Một sinh kế được coi
là bền vững nếu sinh kế đó có thể duy trì được và phát triển ở cả hiện tại và tương laitrước những bối cảnh dễ gây tổn thương tới nó nhưng không gây ảnh hưởng xấu tới tàinguyên tự nhiên
2.1.2.2 Cơ hội sinh kế
Cơ hội có thể hiểu là tất cả những gì mà con người có khả năng huy động đểthỏa mãn mục đích của mình mình Nó có thể là những điều kiện thuận lợi sẽ đem lạinhững kết quả tốt nếu con người biết tận dụng hợp lý [7] Ví dụ, khi Việt Nam gianhập WTO thì cơ hội của nước ta là điều kiện cạnh tranh với các quốc gia trên thếgiới, tự do hoá thương mại, tăng cường hợp tác khu vực và quốc tế
Kết hợp với khái niệm về sinh kế thì cơ hội sinh kế là những khả năng của conngười, của hộ về nguồn lực sinh kế, khả năng kết hợp các nguồn lực này trong cáchoạt động sinh kế để nhằm mục tiêu vượt qua những áp lực, cú sốc và duy trì hoặcnâng cao khả năng cũng như tài sản ở cả hiện tại và tương lai nhưng không gây ảnhhưởng xấu đến cơ sở tài nguyên tự nhiên
2.1.2.3 Khung sinh kế bền vững
Bộ Phát triển quốc tế của Chính phủ Anh (DFID) đã xây dựng Khung sinh kếbền vững (Sơ đồ 2.1) Trong khung này thể hiện những nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới
Trang 18sinh kế của người dân và sự liên quan giữa các nhân tố đó Con người được lấy làmtrung tâm trong khung sinh kế bền vững Khung sinh kế giải thích mối quan hệ giữacon người, sinh kế, môi trường, chính sách và các thiết chế (Bộ Kế hoạch và Đầu tư,2003).
Sơ đồ 2.1 Khung sinh kế bền vững (Nguồn DFID)
Khung sinh kế đã đơn giản hoá cuộc sống thực Trong khung thể hiện sự tươngtác giữa các tác nhân đã tạo ra những ảnh hưởng đến sinh kế của người dân theo từngmức độ tương tác nhất định Có 5 nhóm nhân tố chính trong khung sinh kế bền vững:Bối cảnh dễ tốn thương; Vốn sinh kế; Chính sách, tiến trình và cơ cấu; Chiến lược sinhkế; Kết quả sinh kế
Khi sử dụng khung phân tích sinh kế không nên theo kiểu quan sát tuyến tính,
từ trái qua phải Nên sử dụng khung theo phân tích tương tác móc xích giữa cácnhóm nhân tố có ảnh hưởng đến sinh kế của người dân Kết quả sinh kế có ảnh hưởnglớn tới Tài sản sinh kế (khả năng và của cải) thông qua Chiến lược sinh kế Chiến lượcsinh kế ngoài chịu tương tác từ Tài sản sinh kế còn chịu tương tác từ Chính sách, Tiếntrình và Cơ cấu Bối cảnh dễ gây tổn thương trong khung sẽ tạo ra những ảnh hưởng
- Tăng thu nhập
- Cuộc sống đầy đủ hơn
- Giảm khả năng tổn thương
- Sử dụng bền vững hơn các nguồn lực tự nhiên
Chính sách, tiến trình và cơ cấu
Cấu trúc:
- Các cấp chính quyền
- Khu vực tư nhân
Quy trình thực hiện:
Tự nhiên
Con người
Xã hộiTài chính
Vật thể
CHIẾN LƯỢC SINH KÊ
Trang 19nhất định đến Tài sản sinh kế; đồng thời, nó lại chịu ảnh hưởng từ sự chi phối củaChính sách, tiến trình và cơ cấu Giữa Tài sản sinh kế và Chính sách, tiến trình và cơcấu cũng có sự tương tác với nhau Rõ ràng quan hệ giữa các tác nhân trong khungsinh kế bền vững là quan hệ móc xích rất phức tạp.
Chiến lược sinh kế có sự trùng lặp với Chính sách, Tiến trình và Cơ cấu đã thểhiện mối quan hệ trực tiếp và gần gũi giữa Chiến lược của người dân, Thiết chế xã hội
và Chính sách của nhà nước Quan hệ giữa Chính sách, Tiến trình và Cơ cấu với Bốicảnh dễ tổn thương cho thấy con người tạo ra những ảnh hưởng trực tiếp đến Bối cảnh
đó Bối cảnh dễ tổn thương sẽ được giảm nhẹ mức độ gây tổn thương thông qua sựthay đổi Chính sách của chính phủ, đặc biệt là những cái có liên quan đến chiều hướng
và chấn động phi tự nhiên [1]
Khung sinh kế bền vững giúp cho các nhà quản lý, cán bộ phát triển, ngườihưởng lợi có chung một ngôn ngữ và một phương pháp tư duy về sinh kế Khungsinh kế bền vững thường phù hợp với tính chất tổng thể, phức tạp mà những người dânnghèo kỳ vọng về sinh kế của họ Tuy nhiên, không nên sử dụng khung sinh kế bềnvững trực tiếp với người dân và cộng đồng mà chỉ nên dùng những câu hỏi theo danhmục chung của khung để xác định nhu cầu và vấn đề của địa phương; đồng thời, chỉ ranguyên nhân và cơ hội cải thiện sinh kế của cộng đồng
2.1.2.4 Tài sản sinh kế
Tài sản sinh kế hay còn gọi là vốn sinh kế Vốn sinh kế là những nguồn lực cụ thể cũng như những khả năng của con người trong khai thác, sử dụng, tái tạo, bồi dưỡng và bảo vệ vốn
Vốn sinh kế bao gồm: Vốn con người, vốn xã hội, vốn vật thể và vốn tự nhiên.Tuy nhiên, chỉ có hai nguồn quan trọng để hình thành nên các loại vốn trên là tự nhiên
và con người (sức lao động, sự sáng tạo trong lao động)
Trong thực tế, khó có thể lượng hoá thành tiền đối với những dự trữ vốn vật thể
do con người tạo nên Vốn liên tục chu chuyển Trong quá trình chuyển sở hữu, vốn sẽđược định giá theo hướng tích cực hoặc tiêu cực tuỳ theo tình hình thực tế Loại vốnnày có thể thay thế cho loại vốn khác, hay nói cách khác là vốn có khả năng chuyểnhoá (thay thế) rất linh hoạt Chẳng hạn khi bán vốn tự nhiên, vốn tự nhiên đã chuyển
Trang 20thành vốn tài chính đối với người bán, còn đối với người mua thì vốn tự nhiên đó lạichuyển thành vốn vật thể Các loại vốn sinh kế được giải thích như sau [1].
a Vốn con người
Trong một gia đình, vốn con người liên quan đến khối lượng và chất lượng củalực lượng lao động hiện có trong gia đình đó Khả năng về lao động rất đa dạng, tùythuộc vào quy mô hộ, cấu trúc nhân khẩu và số lượng người không thuộc diện laođộng, giói tính của các thành viên, giáo dục, kỹ năng và tình trạng sức khỏe của cácthành viên gia đình, tiềm năng về lãnh đạo Vì vây, vốn con người là một yếu tố trọngyếu, quyết định khả năng của một cá nhân, một hộ gia đình sử dụng và quản lý cácnguồn vốn Vốn con người của hộ được thể hiện qua các chỉ số:
- Số lượng và cơ cấu nhân khẩu của một hộ/ gia đình gồm tỷ lệ giữa ngườitrong độ tuổi lao động và người không thuộc diện lao động, giói tính
- Kiến thức và giáo dục của các thành viên trong gia đình bao gồm trình độhọc, trình độ chuyên môn, kiến thức truyền thống…
- Sức khỏe tâm lý và sinh lý của các thành viên trong gia đình, đời sống tâmlinh và tình cảm của họ
- Khả năng lãnh đạo và các kỹ năng
- Quỹ thời gian của mọi người và khả năng sử dụng thời gian một cách hiệuquả
- Hình thức phân công lao động cho cả người lớn và trẻ em
b Vốn xã hội
Vốn xã hội của con người bao gồm khả năng tham gia trong các tổ chức, cácnhóm chính thức cũng như các mối quan hệ và mạng lưới phi chính thức, mà họ xâydựng lên do có cùng chung sở thích và khả năng để mọi người cùng nhau cộng tác.Thành viên của các tổ chức chính thức (như các tổ chức đoàn thể, hợp tác xã, cácnhóm tín dụng tiết kiệm) thông thường phải tuân thủ những quy định và luật lệ đãđược chấp nhận những mối quan hệ tin cẩn, thúc đẩy sự hợp tác có thể mang lại sựgiúp đỡ cho con người qua việc tạo ra những mạng lưới an toàn phi chính thức (ví dụ
hỗ trợ của mọi người trong những thời kỳ gặp khó khăn) và giảm chi phí (ví dụ qua
Trang 21các hoạt động cùng nhau tiếp thị) Vốn xã hội của hộ gia đình được thể hiện qua cácchỉ số:
- Các mạng lưới hỗ trợ từ bạn bè, họ hàng, láng giềng, hội đồng niên (đượclập nên do có chung mối quan hệ hoặc cùng sở thích)
- Các cơ chế hợp tác trong sản xuất và trên thị trường (ví dụ các hợp tác xã vàcác hiệp hội)
- Những luật lệ, quy ước của thôn, bản về các hành vi ứng xử, sự trao đổi vàquan hệ qua lại trong cộng đồng
- Các sự kiện, lễ hội và niềm tin xuất phát từ truyền thống, tôn giáo
- Những cơ hội để tiếp cận thông tin như các buổi họp thôn, câu lạc bộkhuyến nông, câu lạc bộ phụ nữ
- Những cơ hội tham gia và tạo ảnh hưởng đến các công việc của địa phươngnhư tham gia vào các tổ chức đoàn thể và chính quyền xã
- Những cơ chế hòa giải mâu thuẫn của địa phương
Vốn xã hội có thể có hiệu quả trong tăng cường quản lý các nguồn lực chung(vốn tự nhiên) và bảo dưỡng các công trình hạ tầng (vốn vật chất)
Một vài lợi ích quan trọng khác có được từ nguồn vốn xã hội đó là khả năngtiếp cận thông tin, khả năng tạo ảnh hưởng đến công việc của địa phương và đòi hỏinghĩa vụ của người khác đối với mình Vốn xã hội có cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực
c Vốn tự nhiên
Các nguồn lực tự nhiên bao gồm: 1) Các tài sản và dòng sản phẩm (khối lượng
và sản phẩm từ đất, rừng và chăn nuôi); 2) Các dịch vụ về môi trường (giá trị bảo vệchống bão và xói mòn rừng…) Những tài sản và dịch vụ này cũng có thể cho cả hailoại lợi ích trực tiếp và lợi ích gián tiếp Nguồn vốn tự nhiên của hộ được thể hiện ởcác chỉ số:
- Các nguồn tài sản chung như các khu đất bảo tồn của xã và các khu rừngcộng đồng
- Các loại đất của hộ gia đình bao gồm đất ở, đất trồng cây mùa vụ, đất lâmnghiệp, đất vườn hộ…
Trang 22- Nguồn cung cấp thưc ăn và nguyên liệu từ tự nhiên và nguồn do con ngườisản xuất ra.
- Đa dạng sinh học, các nguồn gen thực vật và động vật từ việc nuôi, trồngcủa hộ và từ rừng trong tự nhiên
- Các khu vực chăn thả và các nguồn cây thức ăn gia súc cho sản xuất chănnuôi
- Các nguồn nước và việc cung cấp nước cho sinh hoạt hàng ngày, thủy lợi,nuôi trồng thủy sản…
- Các nguồn đất trồng bao gồm cả các chất hữu cơ và chu kỳ dinh dưỡng
- Các yếu tố khí hậu và những may rủi thời tiết
- Giá trị cảnh quan cho việc quản lý các nguồn tài nguyên và giải trí
Vốn tự nhiên thường kéo theo sự tương tác phức hợp giữa các nguồn lực do cánhân hoặc hộ gia đình làm chủ và quản lý với các nguồn lực công cộng do cộng đồnghoặc nhà nước làm chủ và quản lý
d Vốn tài chính
Vốn tài chính được định nghĩa là các nguồn tài chính mà con người dùng để đạtđược mục tiêu của mình Những nguồn vốn này bao gồm nguồn dự trữ tài chính vàdòng tài chính
Dự trữ tài chính: Tiết kiệm là một loại vốn tài chính được ưa chuộng do nókhông kèm theo trách nhiệm liên quan và không phải dựa vào những nguồn khác Tiếtkiệm có thể dưới nhiều dạng: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng hoặc các tài sản khác nhưvật nuôi, đồ trang sức…Các nguồn tài chính cũng có thể có được qua các đơn vị hoạtđộng tín dụng
Dòng tiền theo định kỳ: cộng thêm với nguồn thu nhập thường xuyên, các dòngtiền theo định kỳ thường là lương hưu, hoặc những chế độ khác của nhà nước và tiềnthân nhân gửi về
Vốn tài chính của hộ được thể hiện dưới các chỉ số:
- Thu nhập tiền mặt thường xuyên từ nhiều nguồn khác nhau như bán sảnphẩm, việc làm và tiền của thân nhân gửi về
Trang 23- Khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính về tín dụng và tiết kiệm từ cácnguồn chính thức (ví dụ ngân hàng) và các nguồn phí chính thức (ví dụ chủ
- Các hoạt động tạo thu nhập phụ như thu lượm lâm sản ngoài gỗ
- Những cho trả từ phúc lợi xã hội (như lương hưu, một số miễn trừ chi phí)
và một số dạng trợ cấp của nhà nước
Nhìn chung, để có được đóng góp tích cực cho vốn tài chính, các dòng tiền mặtcần đáng tin cậy (cho dù không thể đảm bảo mức tin cậy tuyệt đối nhưng vẫn có sựkhác nhau giữa việc được trả một lần và tiền thu nhập theo định kỳ mà trên cơ sở đócon người có thể vạch kế hoạch đầu tư)
Vốn tài chính là một loại tài sản sinh kế mà người nghèo thường có it nhất.Trên thực tế, do thiếu vốn tài chính nên đã làm cho các tài sản sinh kế khác trở nên cógiá trị đối với người nghèo
e Vốn vật chất
Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội cơ bản cũng như các tàisản và công cụ sản xuất của hộ gia đình Vốn vật chất của hộ gia đình được thể hiệndưới các chỉ số:
- Cơ sở hạ tầng và các dịch vụ công cộng gồm đường giao thông, cầu cống ,công trình thủy lợi, các hệ thống cấp nước sinh hoạt và vệ sinh, các mạnglưới cung cấp năng lượng, nơi làm việc của chính quyền xã và nơi tổ chứccác cuộc họp của thôn bản
- Nhà ở, nơi trú ngụ và các dạng kiến trúc khác như chuồng trại, vệ sinh
- Các tài sản trong gia đình như đồ nội thất, dụng cụ nấu nướng, đồ chơi trẻem
- Các công cụ sản xuất như dụng cụ, trang thiết bị và máy móc chế biến
- Các hệ thống vận tải công cộng như xe chở khách và các phương tiện giaothông của gia đình như xe máy, ngựa…
Trang 24- Cơ sở hạ tầng về truyền thông và thiết bị truyền thông của gia đình như đài,
ti vi,…
Một số nghiên cứu đã cho thấy việc thiếu hạ tầng cơ bản, nơi trú ngụ đảm bảo
và hoàng hóa tiêu dùng là những vấn đề cốt lõi của nghèo đói Nếu không có sự trợgiúp của công cụ và thiết bị, sẽ không khai thác hết được tiềm năng sản xuất của conngười
Để đánh giá được sự tác động của cơ sở hạ tầng và dịch vụ công cộng lên cácloại hình sinh kế, cần xem xét các vấn đề về khả năng tiếp cân, khả năng chi trả vàchất lượng Ví dụ, các nguồn cung cấp năng lượng cần phải sạch và nằm trong khảnăng chi trả của người dân Việc cấp nước sinh hoạt cần đủ về số lượng và chất lượng
- Những công cụ sản xuất như mấy khâu, thiết bị nông nghiệp và phương tiệngiao thông có thể có những tác động trưc tiếp đến việc nâng cao thu nhập
- Một số công cụ sản xuất như các máy móc nông nghiệp lớn hoặc thiết bị chếbiến có khả năng tiếp cận sử dụng thông qua việc chia sẻ chi phí (cùng sởhữu), đi thuê hoặc trả tiền dịch vụ
Năm loại vốn sinh kế giúp cho các nhà phân tích nhìn nhận cái mà người dân có
là gì, cái gì người dân cần có, để giúp họ cải thiện vốn sinh kế
2.1.2.5 Kết quả sinh kế và chiến lược sinh kế
Kết quả sinh kế mang tính chất tiêu chí cao nhất trong khung sinh kế bền vững
Cụ thể hoá kết quả sinh kế là những vấn đề thuộc về an sinh xã hội, thu nhập, an ninhlương thực, khả năng ứng biến sinh kế trước những thay đổi (an ninh sinh kế), cảithiện công bằng xã hội cho hiện tại và cả trong tương lai [7] Kết quả tiêu biểu chonhững thay đổi cuối cùng mà người dân, cộng đồng và các tổ chức phát triển mongmuốn đạt được
Chiến lược sinh kế là cách thức sinh nhai để người dân đạt được mục tiêu của
họ Nam giới cũng như nữ giới, các hộ, các cộng đồng thường theo đuổi chiến lược đasinh kế Các chiến lược đó có thể phụ thuộc hoặc không phụ thuộc vào điều kiện môitrường, chúng phụ thuộc ít nhiều vào thị trường và việc làm trong nền kinh tế Ngườidân có thể sử dụng những gì họ có thể tiếp cận được để tồn tại hoặc cải thiện tình hìnhhiện tại
Trang 252.1.2.6 Chính sách, tiến trình và cơ cấu
Chính sách, tiến trình và cơ cấu còn được gọi là Chuyển đổi cấu trúc và quytrình thực hiện Chính sách và thể chế bao gồm một loạt những yếu tố liên quan đếnbối cảnh có sự tác động mạnh tới mọi khía cạnh của sinh kế như: chính sách, luậtpháp, cơ chế, luật lệ, phong tục Các vấn đề đó lại bao gồm cả các cấp chính quyền vàkhu vực tư nhân Chính sách, tiến trình và cơ cấu định ra khả năng người dân tiếp cậnvới các tài sản sinh kế, chiến lược sinh kế, những cơ quan ra quyết định và nhữngnguồn ảnh hưởng, những điều khoản quy định cho việc chuyển hoá các loại tài sảnsinh kế, lợi ích của người dân khi thực hiện một số hoạt động sinh kế [1]
Chính phủ xây dựng chính sách, luật pháp, thiết chế với sự tham gia của ngườidân trong chừng mực nhất định Nó rất quan trọng đối với quyền lợi, nghĩa vụ vànhững điều kiện sử dụng, tái tạo các loại vốn sinh kế, thay thế giữa các loại vốn sinh
kế [1] Như vậy, chính sách, tiến trình và cơ cấu là rất quan trọng trong việc tạo nên cơhội và chiến lược sinh kế cho người dân, đặc biệt là người nghèo
Các chính sách, tiến trình và cơ cấu là rất khác nhau, rất phức tạp và chúng vậnhành ở các cấp khác nhau (từ cộng đồng dân cư đến các hiệp định giữa các chính phủ).Chính sách, tiến trình và cơ cấu bị chi phối ít nhiều bởi con người ở cấp địa phương,trung ương và quốc tế Sự tương tác giữa các tác nhân xã hội, chính sách, tiến trình và
cơ cấu phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức và quyền lực của con người Việc tìm hiểuChính sách, tiến trình và cơ cấu trong Khung sinh kế để xem xét những thay đổi diễn
ra trong khung quy định và chính sách tốt trong cung cấp dịch vụ tác động thế nào đếnchiến lược sinh kế của người dân
2.1.2.7 Bối cảnh dễ tổn thương
Bối cảnh dễ tổn thương hay còn gọi là phạm vi rủi ro Những thay đổi trong bốicảnh dễ tổn thương thường xảy ra theo ba con đường: Chiều hướng, thời vụ và chấnđộng (sốc)
Chiều hướng là thay đổi tuần tự, có thể dự kiến được một phần chiều hướngthay đổi Ví dụ: Phát triển khu công nghiệp sẽ mở rộng quy mô dân số ở trong vùng cókhu công nghiệp và những vùng lân cận, hay Vấn đề ô nhiễm môi trường trong vùng
có khu công nghiệp
Trang 26Tính thời vụ là những biến đổi theo chu kỳ, có thể dự báo trước được một phần
xu hướng biến động của nó Ví dụ: Biến động giá đầu vào - đầu ra theo vụ sản xuất,Mùa hay xảy ra dịch bệnh trọng chăn nuôi, lao động nông nghiệp đi tìm việc làm phinông nghiệp trong những lúc nông nhàn, cơ hội việc làm tại các khu công nghiệp sauTết nguyên đán
Chấn động là những thay đổi bột phát đã gây ra những cú sốc lớn Khả năng dựbáo đối với chấn động là rất khó và hầu như không thể dự báo được một cách chắcchắn Ví dụ: Tăng giá, rớt giá, núi lửa, lốc xoáy, sụt đất, hạn hán, lũ lụt, động đất,chiến tranh
Trong từng bối cảnh, chiều hướng, chấn động và thời vụ đều gây ra những nguy
cơ tổn thương (rủi ro) cho người dân Chiều hướng và Thời vụ dễ dự đoán hơn Chấnđộng Tuy nhiên, bối cảnh dễ tổn thương là cái mà người dân khó kiểm soát nhất.Trong các chiến lược sinh kế, người dân thường xây dựng vốn sinh kế của mình đểlàm giảm mức độ tổn thương có thể xảy ra
Như vậy, sử dụng Khung sinh kế để xem xét những yếu tố khác nhau như: cácyếu tổ liên quan đến thể chế, chính sách, các yếu tố dễ gây tổn thương ảnh hưởng tớisinh kế của người dân như thế nào; Đồng thời thấy được mối quan hệ giữa các yếu tốnày như thế nào?
2.1.3 An ninh lương thực
2.1.3.1 Khái niệm về an ninh lương thực đối với hộ gia đình
Theo TS Võ Hùng Dũng, (2009), thì: An ninh lương thực cần được hiểu vàphải bao gồm: đủ lương thực cho xã hội để không ai bị đói; người làm ra lương thựckhông bị nghèo đi, dù là nghèo đi một cách tương đối so với mặt bằng xã hội Nếu chỉnhấn mạnh về thứ nhất thì sản xuất sớm hay muộn cũng suy giảm, đất trồng lúa sẽ bịsuy giảm An ninh lương thực chỉ được đảm bảo khi lợi ích của người trồng lúa đượctính đến
Như vậy, có thể thấy rõ rằng quan niểm về an ninh lương thực quốc gia là đảmbảo đủ lương thực cho toàn xã hội không chỉ trong một thời gian mà là cho cả các mụctiêu chiến lược khác như dự trữ, phòng trừ thiên tai, đồng thời đời sống của nhữngngười làm ra lương thực cũng phải được đảm bảo ở mức tối thiểu Quan điểm này đã
Trang 27nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc phải đảm bảo an ninh lương thực cho hộ giađình sản xuất lương thực nói chung, và các hộ nghèo nói riêng Nếu trong một quốcgia, dù có thể xuất khẩu lương thực, nhưng nếu còn một bộ phận các hộ sản xuất lươngthực bị đói, thì có thể nói là không đảm bảo an ninh lương thực quốc gia một cách thựcchất Tuy nhiên, các khái niệm về an ninh lương thực hiện nay, trong cả các nghiêncứu, dự án hỗ trợ lại chưa đề cập đến khái niệm an ninh lương thực cho hộ gia đình.,
mà nghỉ đề cập đến ở phạm vi vĩ mô - tức là mức độ quốc gia Các khái niệm thườngđược dùng là các khái niệm về đói nghèo
Từ định nghĩa về ANLT quốc gia, có thể suy ra định nghĩa về ANLT cho hộ: đó
là đảm bảo lương thực để mọi thành viên trong hộ không ai bị đói, nhưng phải đảmbảo rằng hộ không lâm vào tình trạng khó khăn trong tương lai Nếu hộ phải thoả mãnnhu cầu lương thực của các thành viên trong hộ bằng cách đi vay, cho con cái nghỉ học
đi làm thêm hoặc đi thu hái lâm sản, phá rừng, hoặc bán lúa non.v.v hoặc các hoạtđộng sinh kế không bền vững khác thì tức là hộ đã rơi vào tình trạng mất ANLT
2.1.3.2 Phương pháp xác định mức độ đảm bảo an ninh lương thực của hộ
Các định nghĩa về đói nghèo thường kèm theo các tiêu chuẩn về thu nhập tốithiểu của hộ Các tiêu chuẩn này lại được dựa trên những nhu cầu tối thiểu của hộ giađình, với tuỳ từng vùng, và tuỳ theo bối cảnh thời gian mà hộ sinh sống Ở Việt Nam,với điều kiện là một quốc gia mà đời sống nhân dân còn thấp, các tiêu chuẩn này đượcdựa trên chính yếu tố nhu cầu về lương thực thiết yếu của con người
Bảng 2.1 Ngưỡng nghèo của Bộ Lao động – TB&XH quy đổi ra thóc và tiền
Khu vực 1993 1995 1997 2001 2006 – 2010 Nông thôn 15 kg 20 kg - - 200.000 VNĐ
Thành thị 20 kg 25 kg 25 kg
(=190.000 VNĐ)
150.000 VNĐ
- 260.000 VNĐ
-(Nguồn: Tài liệu của Bộ Lao động – TB&XH qua các năm khác nhau)
Dựa vào bảng quy định ngưỡng nghèo của Bộ Lao động – TB&XH, có thể thấyrằng, chuẩn nghèo tính bằng tiền cho cả khu vực nông thôn và thành thị tăng dần quacác năm, do Nhà nước phải điều chỉnh cho phù hợp với diễn biến của lạm phát trongnền kinh tế Tuy nhiên thì chuẩn này tính bằng lương thực lại không tăng nhiều, dừng
Trang 28ở một mức nhất định, bởi nó dựa trên nhu cầu tối thiểu của con người về lương thực (ởđây là lúa gạo) Vì thế, đây có thể lấy làm căn cứ để xác định nhu cầu lương thực tốithiếu cho các nhân khẩu được nghiên cứu, và là căn cứ để xác định khả năng đảm bảoanh ninh lương thực của hộ cho các thành viên
Trong nghiên cứu của mình, chúng tôi đề xuất việc sử dụng định mức nghèocho nông thôn năm 1995 là 20kg thớc/người/tháng để làm căn cứ xác định khả năngđảm bảo an ninh lương thực của hộ Nếu hộ không có khả năng cung cấp đủ định mứclương thực này cho các thành viên, hoặc phải thực hiện thông qua việc đi vay tiền, bántài sản, thực hiện các hoạt động sinh kế không bền vững khác thì có nghĩa là hộ khôngđảm bảo được ANLT
Theo ước tính vào giữa những năm 80 của thế kỉ XX, cứ 10 người dân ViệtNam thì có 7 người sống trong tình trạng nghèo đói Sau 15 năm đổi mới và chuyểnđổi, nền kinh tế Việt Nam đã có những thay đổi cơ bản về các quan hệ kinh tế - xã hội,đưa đến một giai đoạn phát triển kinh tế và giảm tỷ lệ nghèo đói chưa từng thấy sauhơn bốn thập kỷ của chiến tranh, khó khăn trong phát triển kinh tế Trong lĩnh vựcnày, Việt Nam đã được biết đến như một tấm gương xuất sắc về sự chuyển đổi thànhcông từ một nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường Cơ chế kinh tếmới đã tạo ra những nhân tố mới cho tăng trưởng kinh tế với các kết quả đầy ấn tượng.Tốc độ tăng trưởng kinh tế thời kì 1991 – 2000 đạt 7,5%/năm; xuất khẩu tăng nhanh,từng bước kiểm soát được lạm phát và ổn định giá cả [8]
Cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế, Việt Nam đã đạt được những kết quảxuất sắc trong xóa đói giảm nghèo Chủ trương của chính phủ ưu tiên phát triển nôngnghiệp và nông thôn, vùng sâu, vùng xa đã thành công trong việc giải phóng sức sản
Trang 29xuất của dân cư nông thôn và khuyến khích dân cư tự mình phấn đấu cải thiện hoàncảnh sống của mình Những thành công trong lĩnh vực này, nhất là về sản xuất lươngthực đã góp phần quan trọng vào việc xóa đỏi giảm nghèo, tăng thu nhập, cải thiện đờisống của dân cư.
Tính theo chuẩn quốc tế, tỷ lệ nghèo đói chung đã giảm từ trên 70% vào năm
1990 xuống khoảng 32% vào năm 2000 (giảm trên ½ tỷ lệ hộ nghèo so với năm 1990)
Về điểm này, Việt Nam đã đạt được mục tiêu phát triển của Thiên niên kỳ do quốc tếđạt ra là giảm một nửa tỷ lệ đói nghèo trong giai đoạn 1990 – 2015
Nguồn lực cho công tác xóa đói giảm nghèo và tạo việc làm được tăng cường.Mặc dù Ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, song Nhà nước đã đầu tư cho các chươngtrình quốc gia phục vụ xóa đói giảm nghèo thông qua chương trình đầu tư cơ sở hạtầng cho các xã nghèo (Chương trình 133, 135) Từ khi có Chương trình xóa đói giảmnghèo (1992) đến năm 2000, Nhà nước đã đầu tư thông qua các chương trình quốc gia
có liên quan đến mục tiêu xóa đói giảm nghèo khoảng 21.000 tỷ đồng Riêng trong 2năm 1999 và 2000 gần 9600 tỷ đồng (Ngân sách Nhà nước đầu tư trực tiếp chochương trình 3000 tỷ đồng; lồng ghép các chương trình, dự án khác trên 800 tỷ đồng;huy động từ cộng đồng trên 300 tỷ đồng; nguồn vốn tín dụng cho vay ưu đãi hộ nghèotrên 5.500 tỷ đồng) [8]
Ngân hàng phục vụ người nghèo đã được thành lập nhằm cung cấp tín dụng ưuđãi cho người nghèo Nguồn vốn huy động của cộng đồng dân cư, các tổ chức và cánhân trong nước cũng tăng đáng kể Tổng nguồn vốn cho người nghèo vay đạt 5.500
tỷ đồng Ngoài ra, Nhà nước còn có sự hỗ trợ đáng kể cho đời sống đồng bào dân tộcđặc biệt khó khăn với số tiền trên 70 tỷ đồng và cho gần 90.000 hộ vay vốn sản xuấtkhông phải trả lãi
Đặc biệt, công cuộc xóa đói giảm nghèo của Việt Nam những năm qua đã nhậnđược sự giúp đỡ của nhiều quốc gia, các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi chính phủ
về nhiều mặt (kinh nghiệm, kỹ thuật và nguồn vốn) dưới hình thức không hoàn lại vàtín dụng ưu đãi Đây là yếu tố rất quan trọng, tạo điều kiện thúc đẩy nhanh công tácxóa đói giảm nghèo Tỷ lệ các xã không có hoặc thiếu cơ sở hạ tầng thiết yếu đã giảm.Trong 2 năm (1999 và 2000) đã đầu tư 6500 công trình cơ sở hạ tầng ở các xã nghèo(trong đó Ngân sách Nhà nước đầu tư trực tiếp cho 1.200 xã năm 1999 và 1.870 xã
Trang 30năm 2000 Ngân sách địa phương đầu tư cho 650 xã nghèo khác), bình quân mỗi xãđược xây dựng 2,5 công trình Đến tháng 4 năm 2001 đã có trên 5000 công trình đượchoàn thành và đưa vào sử dụng.
Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách giải quyết việc làm, tạo cơ hội
để người lao động có thể chủ động tìm hoặc tự tạo việc làm kết hợp với sự hỗ trợ củaNhà nước và của cộng đồng Chương trình quốc gia giải quyết việc làm, trung tâm dạynghề, hướng nghiệp của các ngành, các cấp, các đoàn thể quần chúng đã hoạt độngtích cực Chính sách xóa đói giảm nghèo được hưởng ứng tích cực của các ngành, cáccấp, các tần lớp nhân dân, các đoàn thể quần chúng, tổ chức xã hội và cả bản thânngười lao động; nhiều hoạt động cụ thể đã được triển khai giúp các hộ đói nghèo giảmbớt khó khăn, từng bước tự vươn lên, thoát khỏi đói nghèo và ổn định cuộc sống
Đời sống dân cư nhiều vùng được cải thiện rõ rệt Nghèo đói giảm ở cả nôngthôn và thành thị, cả ở người Kinh và người dân tộc ít người, nhất là vùng nông thônngoại vi các thành phố, thị xã và những vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi, đất đaiphì nhiêu Mức tiêu dùng bình quân đầu người tính theo giá hiện hành tăng từ 2,6 triệuđòng năm 1995 lên 4,3 triệu đồng năm 2000 [8]
2.2.1.2 Những tồn tại và thách thức
Tuy thành tựu về xóa đói giảm nghèo đạt được trong những năm qua đã đượcđánh giá cao, song chúng ta vẫn còn phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thứcmới:
Tỷ lệ hộ nghèo còn cao Theo chuẩn nghèo mới của Chương trình quốc gia,mặc dù chuẩn này vẫn còn thấp so với các nước trong khu vực, vào đầu năm 2001, vẫncòn khoảng 2,8 triệu hộ gia đình nghèo, chiếm khoảng 17% trong tổn số hộ, trong đóphần lớn là những hộ gặp rất nhiều khó khăn để giảm nghèo
Nghèo đói phân bố không đều giữa các vùng ở Việt Nam Tỷ lệ nghèo đói ởkhu vực các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng bãi ngang, hải đảo, vùng thườngxuyên bị thiên tai, vùng đồng bao dân tộc ít người còn khá cao; tình trạng cơ sở hạtầng của các xã nghèo chậm được cải thiện Đa số người nghèo ít có điều kiện tiếp cậnvới dịch vụ xã hội cơ bản
Trang 31Trong tiến trình mở cửa và hội nhập, nền kinh tế Việt Nam đang gặp nhiều khókhăn, thác thức do phải cạnh tranh gay gắt trên thị trường quốc tế, trong khi chất lượngphát triển còn thấp, hiệu quả chưa cao, sức cạnh tranh kém, nhất là giá cả nông sảnkhông ổn định và có xu hướng giảm.
Mục tiêu xóa đói giảm nghèo cần phải tiếp tục được mở rộng thêm về nội dung
và thay đổi về chất, không chỉ bảo đảm nhu cầu đủ ăn mà còn phải thỏa mãn các nhucầu khác như: mặc ấm, nhà ở không dột nát, ốm đau được chữa bệnh, trẻ em được đihọc Để đáp ứng yêu cầu trên, bên cạnh việc giải quyết đủ lương thực, phát triển sảnxuất hàng hóa và hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng xã nghèo, cần tạo điều kiện cho ngườinghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, nâng cao dân trí, trợ giúp pháp luật, có cơchế bảo vệ quyền lợi cho người nghèo, thực hiện dân chủ cơ sở, giảm thiểu nguy cơ rủi
ro cho người nghèo
Sự chênh lệch thu nhập, mức sống giữa nông thôn và đô thị đang lan rộng và rấtgay gắt Ngoài ra, vùng nghèo là vùng có thu nhập thấp, vì vậy cần có các cơ chếchính sách để thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào khu vự nông thôn nói chung vàvùng nghèo nói riêng Người nghèo còn gặp nhiều hạn chế trong việc tiếp cận vàhưởng thụ các thành quả do sự phát triển mang lại cho mọi công dân môt cách kháchquan và công bằng chưa cao
Những thành tựu xóa đói giảm nghèo đã đạt được còn thiếu tính bền vững,nguy cơ tái nghèo còn lớn Nguy cơ dễ bị tổn thương của người nghèo trước những rủi
ro của cuộc sống (ốm đau, thiên tai, mất mùa, biến động thị trường, môi trường ônhiễm, mất đi người trụ cột của gia đình, thất nghiệp ) còn lớn Hệ thống an sinh xãhội chưa phát huy tác dụng ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa Đặc biệt, nước tanằm trong vùng thường xuyên xảy ra thiên tai, bão lụt và 80% người nghèo làm việctrong nông nghiệp có thể dẫn đến nguy cơ tái nghèo đói cao Mặt khác, có không ít hộtuy không thuộc diện nghèo đói nhưng mức thu nhập không ổn định nằm giáp ranhchuẩn nghèo đói cũng có nguy cơ tái đói nghèo
2.2.2 Các chính sách về xóa đói giảm nghèo và an ninh lương thực của Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2020
Ngày 23/12/2009, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký Nghị quyết số
63/NQ-CP về đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Nghị quyết đánh giá, sản lượng lươngthực có hạt tăng bình quân 3,7%/năm trong giai đoạn 2001 - 2008, cao hơn khoảng 3
Trang 32lần tốc độ gia tăng dân số trong cùng kỳ Sản xuất lúa gạo đã đảm bảo nhu cầu trongnước và xuất khẩu bình quân khoảng 4 - 5 triệu tấn gạo/năm Tình trạng suy dinhdưỡng của người dân được cải thiện Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng đãgiảm từ 25% vào năm 2005 đến năm 2008 còn 20%, đạt trước mục tiêu kế hoạch củanăm 2010.
Về mục tiêu chung đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Nghị quyết đưa rayêu cầu nước ta phải bảo đảm đủ nguồn cung cấp lương thực với sản lượng cao hơntốc độ tăng dân số; chấm dứt tình trạng thiếu đói lương thực, nâng cao chất lượng bữaăn; bảo đảm cho nông dân sản xuất lúa có lãi bình quân trên 30% so với giá thành sảnxuất
Đến năm 2020, chúng ta vẫn cần phải bảo vệ quỹ đất lúa 3,8 triệu ha để có sảnlượng 41 - 43 triệu tấn lúa đáp ứng tổng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩukhoảng 4 triệu tấn gạo/năm; diện tích trồng cây ăn quả 1,2 triệu ha, sản lượng 12 triệutấn; rau các loại 1,2 triệu ha, sản lượng 20 triệu tấn chăn nuôi đạt sản lượng thịt hơicác loại 8 triệu tấn, sữa tươi 1 triệu tấn, trứng gia cầm 14 tỷ quả; sản lượng khai thácthuỷ sản 2,4 triệu tấn, sản lượng nuôi trồng thuỷ sản 4 triệu tấn
Đến năm 2020, mục tiêu của Việt Nam là cải thiện tình trạng dinh dưỡng,hướng tới cân đối dinh dưỡng, nâng cao mức tiêu thụ calo bình quân hàng ngày lên2.600 - 2.700 Kcalo/người, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi còn dưới 5%
Gần nhất, nước ta cần phải chấm dứt tình trạng thiếu đói lương thực vào năm
2012 Sau năm 2012 đảm bảo 100% người dân ở mọi nơi, mọi lúc có đủ lương thực.Đảm bảo thu nhập cho người sản xuất lương thực đến năm 2020 cao hơn 2,5 lần so vớihiện nay
Về giải pháp, để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đến năm 2020, tầm nhìnđến năm 2030 diện tích đất lúa cần phải giữ là 3,8 triệu ha, trong đó 3,2 triệu ha đất lúasản xuất hai vụ trở lên, có thuỷ lợi hoàn chỉnh Chính phủ cần tăng cường năng lực chonghiên cứu khoa học, khuyến nông, thông tin và hợp tác quốc tế liên quan đến an ninhlương thực; ngân sách nhà nước hàng năm đầu tư cho lĩnh vực này tăng 10 - 15%,tăng cường đào tạo nông dân về khoa học kỹ thuật và kiến thức quản lý theo phươngthức phù hợp để nâng cao hiệu quả sản xuất lương thực và tăng thu nhập, đến năm
2020 đạt 50% người sản xuất lương thực đã qua đào tạo
Trang 33PHẦN 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Quang Thành là xã miền núi nằm ở phía Tây - Bắc huyện Yên Thành, tỉnhNghệ An Xã nằm trên địa phận:
- Phía Đông giáp xã Kim Thành
- Phía Nam giáp xã Đồng Thành
- Phía Tây giáp xã Tây Thành
- Phía Bắc giáp xã Nghĩa Dũng của huyện Tân Kỳ
Nằm trên địa phận một huyện gần với Lào, nên người dân trong xã có nhiềuthuận lợi trong việc tìm nguồn thu nhập thêm qua các hoạt động tại biên giới và xuấtkhẩu lao động tại nước bạn Tuy nhiên, với khoảng cách hơn 40 km từ quốc lộ 1A địaphận tỉnh Nghệ An, và khoảng 20 km từ trung tâm của huyện Yên Thành, QuangThành gặp nhiều khó khăn trong việc giao thương, trao đổi hàng hóa và thông tin vớicác trung tâm kinh tế phát triển khác của tỉnh, và của cả nước nói chung Vị trí khôngthuận lợi này cùng với điều kiện giao thông không thuận lợi của khu vực miền núi, đãgây nhiều trở ngại cho phát triển kinh tế của địa phương
3.1.1.2 Điều kiện địa hình và thổ nhưỡng
Quang Thành có địa hình không mấy thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp vớidiện tích chỉ có khoảng 428 ha là đất có thể trồng trọt, với độ dốc vừa phải, còn lại làvùng đồi núi và đất có độ dốc lớn, chiếm 82,75 % diện tích, chỉ thích hợp cho mụcđích lâm nghiệp và làm nhà ở Diện tích đất thích hợp nhất cho trồng lúa còn ít hơn vớichỉ khoảng 233 ha, còn lại là các diện tích đất bãi ven đồi, đất cao và độ dốc nhỏ màngười dân trong xã tận dụng để trồng hoa màu
Trong khi đó, điều kiện thổ nhưỡng của Quang Thành cũng không mấy thuậnlợi cho sản xuất nông nghiệp Đất có chỉ số giữ nước kém, có nhiều diện tích đất cátpha và đất bạc màu do đất dốc bị rửa trôi nhiều năm Tuy nhiên, diện tích trồng câylâm nghiệp lại được ưu đãi với lớp đất mặt tương đối dày và ít núi đá vôi, độ dốc phù
Trang 34hợp với công tác lâm nghiệp nói chung Đây là lý do giải thích vì sao rừng đang là mộttài nguyên rất được các hộ dân ở đây coi trọng.
3.1.1.3 Điều kiện khí hậu - thủy văn
Quang Thành nằm trong điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưanhiều Lượng mưa hàng năm cao, tập trung vào các tháng 7 đến tháng 10 trong năm,còn giai đoạn tháng 12 đến tháng 4 dương lịch là thời gian mưa ít, người dân thườngphải đối phó với việc thiếu nước cho sản xuất
Đặc biệt, với đặc thù là một xã miền Trung, Quang Thành bị chịu ảnh hưởngbởi hiện tượng gió phơn Tây Nam, nóng và khô, vào các tháng 6, tháng 7 trong năm.Cùng với lượng mưa không ổn định và điều kiện thủy lợi khó khăn, đây là một trongnhững yếu tố có ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động sản xuất và cả sinh hoạt của ngườidân
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
3.1.2.1 Điều điện đất đai và tình hình phân bố, sử dụng đất đai
Là một xã thuộc khu vực miền núi, Quang Thành có diện tích đất nông nghiệpchiếm tỉ lệ không nhiều, chỉ bằng 21,92% trong tổng số 2180,73 ha đất tự nhiên củađịa phương Bởi thế, cuộc sống của cộng đồng dân cư nơi đây hiện đang phụ thuộc khánhiều vào 1217 ha diện tích đất lâm nghiệp, trong đó đặc biệt là 723,4 ha rừng sản xuấtcủa mình
Tuy nhiên, do đặc thù dân cư mật độ thưa, diện tích đất trồng trọt của mỗi hộgia đình ở Quang Thành là tương đối nhiều Mỗi hộ có bình quân tới 3100 ÷ 3600 m2đất để sản xuất, tương đương với khoảng 6 sào Trung bộ và 8,5 ÷ 10 sào Bắc bộ Con
số này tương ứng trên lao động cũng là trên 2000 m2, và trung bình thì mỗi người dân
ở đây có 1,2 ÷ 1,5 sào Trung bộ Nếu so sánh với các hộ sản xuất thuần nông ở một sốtỉnh ở Bắc Bộ chỉ có khoảng 300÷1000 m2, thì đây là điều kiện rất thuận lợi cho sảnxuất và đảm bảo đời sống
Trang 35Bảng 3.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất của xã Quang Thành
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Biến động STT
Chỉ tiêu Diện tích (ha) Cơ cấu (%) tích (ha) Diện Cơ cấu (%) Diện tích (ha) Cơ cấu (%) 08/07 09/08 BQ Tổng diện tích đất tự nhiên 2.180,73 100,00 2.180,73 100,00 2.180,73 100,00 100,00 100,00 100,00
Trang 36Do đặc thù là vùng có địa hình dốc, cao, lại có cấu tạo đất giữ nước kém nêncác diện tích đất nông nghiệp ở đây chỉ có khoảng 48,23% là phù hợp cho trồng lúatương ứng với khoảng trên 233 ha, tính bình quân đầu người là 335 m2 trên một khẩu,xấp xỉ một sào bắc bộ Diện tích còn lại chủ yếu là phục vụ cho mục đích trồng câymàu các loại và trồng cây nguyên liệu như dứa, mía, chiếm khoảng 51,77% đất nôngnghiệp Năm 2007, với việc giá thức ăn chăn nuôi tăng cao cộng với việc cây míakhông đem lại hiệu quả, nhiều người dân đã quyết định chuyển đổi 35 ha diện tíchtrồng loại cây nguyên liệu này sang trồng ngô để phục vụ sản xuất, làm cho diện tíchngô tăng lên 57% Diện tích canh tác các loại cây trồng qua các năm tại xã có sự biếnđộng nhiều qua các năm, nhưng chủ yếu là sự chuyển đổi giữa các loại cây khác nhau,còn diện tích đất nông nghiệp nhìn chung vẫn được giữ nguyên Đây một phần do đặcthù của Quang Thành là xã thuần nông – lâm nghiệp, công nghiệp và đô thị hóa kémphát triển, nên các mục tiêu phát triển không xâm lấn đến diện tích đất canh tác củangười dân.
Trong khi diện tích đất nông nghiệp hiện đang giảm đi với tốc độ chậm bởi quátrình xây dựng công trình của địa phương và làm nhà ở của người dân, thì việc dân số
xã tăng nhanh đã làm cho diện tích canh tác bình quân trên khẩu giảm khá nhanh từ
730 m2/khẩu năm 2007 xuống còn 699 m2/ khẩu năm 2008, đến năm 2009 chỉ còn lại
673 m2/khẩu, tức là bình quân các năm giảm 4% Bên cạnh đó, quá trình tách hộ cũnglàm cho diện tích đất nông nghiệp bình quân trên hộ giảm khoảng 6,2% mỗi năm, sựthay đổi cơ cấu dân số theo tiến trình thời gian với lực lượng lao động tăng lên đã làmcho diện tích đất nông nghiệp một lao động giảm mạnh, khoảng 6% tương đương với
200 m2 mỗi năm trong giai đoạn điều tra
Nhìn chung, tình hình sử dụng đất trên địa bàn xã đang theo hướng ổn định,không biến động nhiều giữa các loại đất, chỉ có một phần đất chưa sử dụng được huyđộng vào diện tích đất ở cho các hộ dân mới Như vậy, có thể thấy việc giữ đất chosản xuất trồng trọt cung cấp lương thực cho mục tiêu đảm bảo cuộc sống của các hộnông dân đang được đảm bảo và không đáng lo ngại
3.1.2.3 Tình hình dân số - lao động
Là một địa phương miền núi nên Quang Thành có mật độ dân rất thưa, 312người/ km2 So với diện tích rộng lớn của xã thì con số gần 7000 nhân khẩu tại địaphương là không lớn
Trang 37Bảng 3.2 Tình hình dân số vào lao động của xã Quang Thành qua các năm
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Biến động STT
Chỉ tiêu Số lượng Cơ cấu (%) Số lượng Cơ cấu (%) Số lượng Cơ cấu (%) 08/07 09/08 BQ
4 Một số chỉ tiêu bình quân
(Nguồn: Ban dân số xã Quang Thành, 2010)
Trang 38Có lẽ cũng chính vì thế mà vấn đề dân số trên địa bàn không nhận được nhiều
sự quan tâm từ chính quyền xã và chính quyền cấp cao hơn Lý do đó có thể chính làđiều kiện làm tình hình dân số trong xã nảy sinh nhiều yếu tố đáng quan tâm Số nhânkhẩu bình quân trên hộ là gần 5 người, tuy có giảm đi chút ít khoảng 2,3% mỗi năm,nhưng điều đó nói lên hiện trạng nhiều hộ gia đình hạt nhân ở đây sinh quá 3 ngườicon Trên thực tế, theo thống kê của ban dân số xã, mỗi năm tại địa phương có tới 30%
số hộ dân sinh con ngoài kế hoạch Thực trạng này đã và đang dẫn đến kết quả là tốc
độ tăng dân số của xã rất cao và khó kiểm soát, giai đoạn 2007 – 2008 là 2,4%, giaiđoạn 2008 – 2009 lại vọt lên 3,8% Nếu chính quyền xã không có sự quan tâm kịpthời, có thể vấn đề dân số tại đây sẽ càng ngày càng trở nên gay gắt
Tuy nhiên, có một điểm đáng mừng là số lao động bình quân/ hộ đang tăng lêncùng với sự giảm đi của tỷ lệ nhân khẩu/ lao động, với nguyên nhân là do sự thay đổitrong cơ cấu dân số Trong 2 giai đoạn 2007 – 2008 và 2008 – 2009, số lao động bìnhquân trên một hộ nông nghiệp cũng tăng lên các mức tương ứng là 0,04 lao động/hộ và0,02 lao động/hộ Đây là cơ hội để địa phương có thể tận dụng phát triển các ngànhnghề và đầu tư mở rộng sản xuất nông – lâm – công nghiệp
Bên cạnh đó, có nhiều hộ đã chuyển hướng sản xuất từ thuần nông sang ngànhnghề và dịch vụ Xấp xỉ 5% số hộ chuyển đổi mỗi năm, kéo theo cùng với đó làkhoảng 9% số lượng lao động chuyển dịch hướng làm ăn Các hộ này phần đông là cácgia đình trẻ mới tách hộ, có điều kiện và nỗ lực tìm hướng làm ăn mới ngoài nôngnghiệp Đây là một dấu hiệu tốt, song việc số hộ tăng lên gần 100 hộ mỗi năm cũng làmột điểm đáng quan tâm
Nhìn một cách khái quát, cơ cấu và số lượng dân số của xã có nhiều điểm thuậnlợi cho quá trình phát triển và chuyển đổi cơ cấu kinh tế Tuy nhiên, vấn đề này cần cónhiều hơn sự quan tâm của các cấp lãnh đạo địa phương để hạn chế những nguy cơtiềm ẩn trong tốc độ tăng dân số và thay đổi cơ cấu dân số
3.1.2.4 Điều kiện cơ sở hạ tầng
Để đáp ứng cho việc phát triển các xã nghèo, từ một vài năm trước, huyện YênThành đã đầu tư nhiều cho việc phát triển cơ sở hạ tầng trên địa bàn Quang Thành –một trong 13 xã nghèo của huyện Sự hỗ trợ này bao gồm tiền đầu tư cho tu sửa các hồ
Trang 39đập trữ nước, bê tông hóa kênh mương, nâng cấp trạm xá và xây dựng bệnh viện Kếtquả của những trợ giúp đó là 3 hồ đập cỡ trung bình và 3 đập nhỏ đã được xây dựngmới, 20 đập nhỏ và khác được tu sửa có thể phục vụ tốt cho sinh hoạt và sản xuất củanhân dân; 6,63 km kênh mương đã được bê tông hóa; 1 bệnh viện được xây dựngcùng với đội ngũ cán bộ y tế được tăng cường, đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏecủa gần 1500 hộ dân trong xã.
Bảng 3.3 Thực trạng cơ sở hạ tầng của xã Quang Thành
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Yên Thành, 2009)
Bên cạnh đó, nhờ vào sự nỗ lực của chính quyền và nhân dân xã, trong chươngtrình “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, Quang Thành đã xây dựng được một trường
Trang 40cấp II đạt chuẩn quốc gia, lập được trường mầm non để hoàn chỉnh công tác giáo dụccho trẻ em địa phương Các cầu, cống nhỏ được làm kiên cố hơn để chịu được nướcmùa lũ Các thôn trong xã cũng đều có loa phát thanh phục vụ công tác tuyên truyền.Phương tiện thông tin liên lạc của người dân cũng khá đầy đủ với 235 máy điện thoại
cố định có tại các thôn, đồng thời có tới 79% các hộ dân có sử dụng điện thoại di động.Các hộ dân đa phần đều có vô tuyến, và có điều kiện tiếp cận internet tại điểm truy cậpcông cộng, nên khả năng tiếp nhận thông tin của người dân là khá dễ dàng
Trái với sự thuận lợi là xã được cung cấp điện từ khá sớm, từ năm 1993, thìhiện tại các công trình, máy móc phục vụ sản xuất chung của xã còn rất hạn chế Xãchưa xây dựng được trạm bơm điện, trạm biến áp Các phương tiện sản xuất cơ giớihóa tại địa phương cũng còn rất thiếu thốn: 1300 hộ sản xuất nông nghiệp mà chỉ có 1máy xới đất, 19 máy tuốt, 25 máy xát gạo, 4 máy đập bột Nguyên nhân của việc nàyphần đông là do đặc điểm sản xuất còn lạc hậu, sử dụng nhiều lao động thủ công củacác hộ ở Quang Thành Bên cạnh đó, điều kiện giao thông trên địa bàn xã là đặc biệtkhó khăn: tất cả 54,4 km đường các cấp thôn, xã, huyện lộ đều chưa được bê tông hóa.Đường dốc, nhỏ và cách xa các trục đường chính đã khiến cho việc giao lưu thươngmại của xã gặp nhiều trở ngại Đây là một nguyên nhân khiến cho sản xuất nôngnghiệp ở đây vốn đã lạc hậu, lại không thể phát triển nhanh được
Xét một cách toàn diện thì cơ sở hạ tầng của Quang Thành vẫn còn thiếu vàkém phát triển, bởi ngoài khả năng đáp ứng các nhu cầu tối thiểu về giáo dục, thông tin
và sản xuất của con người thì khả năng đáp ứng các yêu cầu khác cho phát triển kinh
tế là rất hạn chế Muốn cho bộ mặt nông thôn ở Quang Thành đổi mới, tạo động lựccho nâng cao mức sống người dân, thì cần rất nhiều sự đầu tư và hỗ trợ từ các cấpquản lý cấp trên
3.1.3 Các chỉ tiêu kinh tế cơ bản
Dựa trên các yếu tố về nguồn lực của mình chủ yếu là rừng và đất đai, lao động,kinh tế của Quang Thành dựa chủ yếu vào nông – lâm nghiệp Trong tổng số 34, 3 tỷđồng giá trị sản xuất năm 2007 của xã, có tới 66% là đóng góp của nông nghiêp, bằng
22 tỷ đồng Xây dựng - công nghiệp và dịch vụ chỉ chiếm tương ứng là 11,4% và và22,3 % Trên thực tế, ở địa phương hiện tại cũng chỉ có trên một trăm hộ làm dịch vụnhỏ lẻ, có rất ít hộ sản xuất ngành nghề, còn xây dựng thì chủ yếu tồn tại ở dạng cáclao động đi làm thuê cho người trong xã