Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân đạm đến năng suất, chất lượng của cỏ P.. Những năm gần đây ngành chăn nuôi đã nhập một số giống cây thức ăn có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao t
Trang 1––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC PHÂN ĐẠM ĐẾN
NĂNG SUẤT CHẤT LƯỢNG CỦA CỎ PANICUMMAXIMUM CV HAMIL, BRACHIRIA MULATO 2 VÀ SỬ DỤNG CHÚNG TRONG CHĂN NUÔI NGỰA BẠCH GIAI ĐOẠN 7 – 12 THÁNG TUỔI
TẠI THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC PHÂN ĐẠM ĐẾN
NĂNG SUẤT CHẤT LƯỢNG CỦA CỎ PANICUMMAXIMUM CV HAMIL, BRACHIRIA MULATO 2 VÀ SỬ DỤNG CHÚNG TRONG CHĂN NUÔI NGỰA BẠCH GIAI ĐOẠN 7 – 12 THÁNG TUỔI
TẠI THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Nguyễn Văn Đại
2 TS Nguyễn Thị Liên
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa
từng được ai công bố, sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các thông tin, tài
liệu trích dẫn trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc
Trang 4Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô giáo khoa sau đại học đã động viên giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đối với Ban lãnh đạo và các cán bộ viên chức của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi miền núi, phòng phân tíchh hóa học - Viện Khoa học Sự sống - Đại Học Nông Lâm - Thái Nguyên, Trạm nghiên cứu khí tượng thủy văn tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ nhiệt tình cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, người thân đã tạo điều kiện, động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, ngày tháng 02 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Thúy Hằng
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các ký hiệu và các chữ viết tắt vii
Danh mục các bảng viii
Danh mục các biểu đồ, đồ thị và sơ đồ ix
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
3.3 Ý nghĩa hiệu quả về xã hội 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Đặc tính sinh học của cỏ thí nghiệm 4
1.1.1 Cỏ Panicum maximum cv hamill 4
1.1.2 Cỏ Brachiaria mulato 2 6
1.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng cỏ 7
1.2.1 Phân bón 8
1.2.1.1 Phân đạm 9
1.2.1.2 Phân lân 12
1.2.1.3 Phân kaly 13
1.2.1.4 Phân chuồng 14
1.2.2 Mật độ trồng 14
1.2.3 Thời điểm cắt 15
Trang 61.2.4 Ảnh hưởng của giống cỏ 15
1.2.5 Ảnh hưởng của mùa vụ đến năng suất trên lứa 16
1.3 Giới thiệu về ngựa Bạch 16
1.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 22
1.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 22
1.4.1.1 Nghiên cứu về mức phân bón 22
1.4.1.2 Nghiên cứu về năng suất 24
1.4.1.3.Nghiên cứu sử dụng cho gia súc 24
1.4.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 25
1.4.2.1 Nghiên cứu mức phân bón 25
1.4.2.2 Nghiên cứu năng suất và dinh dưỡng một số giống cỏ 26
1.4.2.3 Nghiên cứu cho gia súc ăn cỏ 31
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Đối tượng nghiên cứu 33
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 33
2.3 Nội dung nghiên cứu 33
2.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân đạm đến năng suất, chất lượng của cỏ P hamill , B.mulato 2 33
2.3.2 Khảo sát khả năng thu nhận thức ăn của ngựa Bạch sử dụng 2 giống cỏ P.hamill, B mulato 2 33
2.3.3 Sinh trưởng của ngựa Bạch sử dụng cỏ P hamill , cỏ B mulato 2 33
2.4 Phương pháp nghiên cứu 34
2.4.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân đạm đến năng suất, chất lượng của cỏ P hamill, B.mulato 2 34
2.4.1.1 Phân tích thành phần dinh dưỡng đất thí nghiệm và đặc điểm khí hậu vùng thí nghiệm 34
Trang 72.4.1.2 Khả năng sinh trưởng, tái sinh của cỏ P.hamill, B.mulato 2 ở mức
phân đạm khác nhau 34
2.4.2 Khảo sát khả năng thu nhận thức ăn của ngựa Bạch sử dụng cỏ P.hamill, B mulato 2 38
2.4.3 Sinh trưởng của ngựa Bạch sử dụng 2 giống cỏ P hamill , B.mulato 2 39
2.4.3.1 Bố trí thí nghiệm 39
2.4.3.2.Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 39
2.5 Xử lý số liệu 41
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 42
3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân đạm đến năng suất, chất lượng của cỏ P hamill, B.mulato 2 42
3.1.1 Thành phần dinh dưỡng của đất thí nghiệm 42
3.1.2 Đặc điểm khí hậu của địa điểm nghiên cứu 43
3.1.3 Khả năng sinh trưởng của cỏ thí nghiệm ở các mức phân đạm khác nhau 45
3.1.3.1 Chiều cao sinh trưởng của cỏ thí nghiệm 45
3.1.3.2 Chiều cao tái sinh của cỏ thí nghiệm 48
3.1.3.3 Tốc độ sinh trưởng và tái sinh của cỏ thí nghiệm 50
3.1.4 Năng suất chất xanh của các giống cỏ ở hai mức bón đạm khác nhau 53
3.1.5 Thành phần hóa học, giá trị dinh dưỡng của cỏ thí nghiệm 56
3.1.6 Sản lượng của cỏ thí nghiệm 59
3.2 Kết quả khảo sát khả năng thu nhận thức ăn của ngựa Bạch sử dụng 2 giống cỏ P.hamill, B.mulato 2 62
3.3 Sinh trưởng của ngựa Bạch sử dụng 2 giống cỏ P.hamill, B.mulato 2 64
3.3.1 Sinh trưởng tích luỹ của ngựa Bạch 64
3.3.2 Khả năng sinh trưởng tương đối và tuyệt đối của ngựa Bạch 66
3.3.3 Kích thước một số chiều đo của ngựa Bạch 68
Trang 83.3.4 Tính hiệu quả kinh tế chăn nuôi ngựa Bạch sử dụng 2 giống cỏ
thí nghiệm 70
3.3.4.1 Tiêu tốn thức ăn thô cho ngựa thí nghiệm 70
3.3.4.2 Hiệu quả kinh tế khi sử dụng 2 giống cỏ P hamill và cỏ B.mulato 2 trong chăn nuôi ngựa Bạch 72
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 74
1 Kết luận 74
2 Đề nghị 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 9DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm đối với cỏ P hamill, cỏ B mulato 2 35
Bảng 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm thu nhận thức ăn của ngựa Bạch sử dụng 2 giống cỏ P hamill và B mulato 2 38
Bảng 2.3 Bố trí thí nghiệm theo dõi sinh trưởng của ngựa Bạch sử dụng 2 giống cỏ P.hamill , B mulato 2 39
Bảng 3.1 Thành phần dinh dưỡng của đất thí nghiệm 42
Bảng 3.2 Đặc điểm khí hậu vùng nghiên cứu trong thời gian thí nghiệm 43
Bảng 3.3 Chiều cao sinh trưởng của cỏ P.hamill, B.mulato 2 46
Bảng 3.4 Chiều cao cây tái sinh 48
Bảng 3.5 Tốc độ sinh trưởng và tái sinh của 2 giống cỏ thí nghiệm 51
Bảng 3.6 Năng suất chất xanh của 2 giống cỏ thí nghiệm 54
Bảng 3.7 Thành phần hóa học của cỏ thí nghiệm 56
Bảng 3.8 Sản lượng chất xanh, VCK và protein của 2 giống cỏ thí nghiệm qua 3 lứa cắt 59
Bảng 3.9 Khả năng thu nhận cỏ của ngựa Bạch thí nghiệm 63
Bảng 3.10 Sinh trưởng tích lũy của ngựa Bạch thí nghiệm 65
Bảng 3.11 Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của ngựa Bạch thí nghiệm 67
Bảng 3.12 Kích thước một số chiều đo của ngựa Bạch TN 69
Bảng 3.13 Tiêu tồn thức ăn thô cho ngựa thí nghiệm 71
Bảng 3.14 Sơ bộ hạnh toán kinh tế 72
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ VÀ SƠ ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Năng suất chất xanh của cỏ thí nghiệm 56
Biểu đồ 3.2 Sản lượng chất xanh của cỏ thí nghiệm 61
Biểu đồ 3.3 Sản lượng VCK của cỏ thí nghiệm 61
Biểu đồ 3.4 Sản lượng protein của cỏ thí nghiệm 62
Đồ thị 3.1 Diễn biến lượng mưa các tháng trong năm 45
Đồ thị 3.2 Sinh trưởng tích luỹ của ngựa Bạch thí nghiệm 66
Sơ đồ 2.1 Phương pháp đánh giá khả năng sinh trưởng, tốc độ tái sinh 36
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Nước ta là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân số sống ở nông thôn, đời sống của nông dân phụ thuộc chính vào nông nghiệp, trong đó chăn nuôi giữ vị trí quan trọng Tốc độ tăng trưởng bình quân của chăn nuôi hằng năm vẫn tăng, tổng sản phẩm chăn nuôi năm 2010 so với năm trước tăng 6,3% Năm 2013 tăng 5,7%, trong đó gia súc tăng 6,6%, sản phẩm không qua giết thịt tăng 8,2% (Cục thống kê, 2012) [30] Theo Cục chăn nuôi - Bộ nông nghiệp và PTNT (2012)[16] phấn đấu đưa chăn nuôi nước ta thành ngành sản xuất hàng hóa Với các tỉnh trung du và miền núi tập trung thúc đẩy phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ, sử dụng nguồn thức ăn tự nhiên, phụ phẩm nông công nghiệp và diện tích đất canh tác cho sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả chuyển sang trồng cây thức ăn chăn nuôi
Trong chăn nuôi đại gia súc chủ yếu sử dụng thức ăn thô xanh, nên việc nghiên cứu sản xuất thức ăn thô xanh luôn là vấn đề quan tâm và đặt lên hàng đầu Chăn nuôi ngựa cũng như những đại gia súc khác, việc sản xuất thức ăn thô xanh hàng năm cần được chú trọng cả về số lượng và chất lượng Tại các nông hộ chăn nuôi ngựa thường sử dụng nguồn thức ăn tự nhiên và thức ăn tận dụng từ phế phụ phẩm nông nghiệp, nguồn thức ăn này thường không ổn định và năng suất thấp Những năm gần đây ngành chăn nuôi đã nhập một số giống cây thức ăn có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao từ các nước trong khu vực cần được khảo nghiệm giúp phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ ở Trung du và Miền núi (Bộ nông nghiệp và PTNT, 2003)[7] Những giống mới này đã được trồng, khảo nghiệm cho chăn nuôi gia súc bước đầu đánh giá là phù hợp, tuy nhiên việc nghiên cứu sử dụng cho ngựa Bạch còn hạn chế Do vậy việc chọn lọc và đưa vào sản xuất những giống cỏ mới năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với đối tượng sử dụng là ngựa Bạch cần được đặt vấn đề
Trang 13nghiên cứu nhằm tăng năng suất, đồng thời xác định được thành phần hoá học cũng như giá trị dinh dưỡng của chúng là hết sức cần thiết Nhờ đó, đáp ứng nhu cầu thức ăn xanh cho chăn nuôi gia súc nói chung và chăn nuôi ngựa Bạch nói riêng cả về số lượng cũng như chất lượng
Theo Viện Chăn nuôi Quốc Gia (2012) [70] chăn nuôi ngựa ở nước ta
đã gắn bó lâu đời với đồng bào miền núi, trong chiến tranh ngựa vận chuyển hàng hoá, trong thời bình ngựa phục vụ đời sống dân sinh, văn hoá lễ hội truyền thống Nước ta có 121.000 con ngựa (Tổng cục thống kê, 2012)[63], được phân bố chủ yếu ở các Tỉnh vùng núi phía bắc Chăn nuôi ngựa có nhóm ngựa Bạch được coi là tài sản quý của mỗi gia đình, nó có khả năng chịu đựng kham khổ, và phát triển tốt ở miền núi Để chăn nuôi tốt ngựa Bạch cần phải chú trọng nguồn thức ăn, chọn và sản xuất giống cỏ phù hợp cho chăn nuôi ngựa Bạch là cần thiết Xuất phát từ những yêu cầu trên, chúng tôi tiến hành đề tài:
“Ảnh hưởng của các mức phân đạm đến năng suất chất lượng cỏ P hamill , B
mulato 2 và sử dụng chúng trong chăn nuôi ngựa Bạch giai đoạn 7 – 12 tháng tuổi tại Thái Nguyên’’
2 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá ảnh hưởng của các mức phân đạm khác nhau đến năng
xuất chất lượng của 2 giống P hamill, B mulato 2
- Đánh giá ảnh hưởng của 2 giống cỏ thí nghiệm đến sinh trưởng của ngựa Bạch giai đoạn 7 – 12 tháng tuổi
- Từ kết quả đó, khuyến cáo giống cỏ phù hợp với chăn nuôi ngựa Bạch phát triển trong sản xuất
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Đề tài nghiên cứu sẽ bổ sung thêm dữ liệu về cây thức ăn cho chăn nuôi đại gia súc nói chung và chăn nuôi ngựa Bạch nói riêng tại Việt Nam
Trang 14- Bổ sung thêm vào kho dữ liệu những số liệu mới về sinh trưởng, phát triển, nhu cầu phân bón, giá trị dinh dưỡng, hiệu quả sử dụng 2 giống cỏ
P hamill cỏ B mulato 2 và trong chăn nuôi ngựa Bạch
Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy và sản xuất
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Những nghiên cứu mới của đề tài sẽ góp phần lựa chọn giống cỏ, mức bón phân đạm phù hợp để cỏ có năng suất, giá trị dinh dưỡng cao đáp ứng nhu cầu thức ăn thô xanh cho chăn nuôi ngựa Bạch tại các tỉnh vùng núi phía Bắc
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa đối với phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ khi diện tích chăn thả đang bị thu hẹp
- Góp phần đẩy mạnh chương trình phát triển chăn nuôi bền vững
3.3 Ý nghĩa hiệu quả về xã hội
Những nghiên cứu mới của đề tài sẽ góp phần vào việc nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người chăn nuôi, góp phần xóa đói giảm nghèo
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đặc tính sinh học của cỏ thí nghiệm
1.1.1 Cỏ Panicum maximum cv hamill
* Nguồn gốc:
Cỏ Panicum maximum cv hamill (P hamill) thuộc nhóm cỏ Ghine có
nguồn gốc từ các nước nhiệt đới thuộc Châu Phi, được đưa vào trồng ở Nam bộ
từ năm 1875 và đưa vảo trồng ở Bắc bộ (Hải Kiến) năm 1900 Cỏ đã được trồng lâu tại Việt Nam, nhưng thực tế những năm thăng trầm của kinh tế
và việc phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp không được chú ý,
giống cỏ này đã bị mai một không được phát triển trong sản xuất Cỏ thí
nghiệm được nhập giống bằng hạt từ Thái Lan (Búi Quan Tuấn, 2005)[66]
Cỏ có thể gieo trồng bằng hạt hay búi Nếu trồng bằng búi thì cần chuẩn bị búi nhỏ khoảng 4 - 5 dảnh, trồng theo hàng cách nhau 50 - 60 cm hố cách nhau 30 - 50 cm, lấp sâu khoảng 12 - 15 cm Trồng xong nên tưới cho đất ẩm đến khi cỏ nẩy mầm Giống cần chọn ở đồng cỏ lâu năm, cắt rễ ngắn còn 2 cm, thân dài 20 cm Lượng giống cần khoảng 2 - 2,5 tấn/ha Nếu trồng bằng hạt thì gieo 15 - 20 kg hạt theo hàng hay vãi vung Tuy nhiên nếu hạt giống tốt thì 1 ha chỉ cần 5 kg hạt là đủ 1 kg giống cỏ có khoảng 1.750.000 - 2.200.000 hạt (ở Mỹ) Theo Panga (1978) [101] cho biết hạt giống cỏ thu được ở Cu Ba là 395 kg/ha và 100 kg/ha ở Srilanka sử dụng trồng để chăn nuôi ngựa Thời vụ trồng tốt nhất là vào đầu mùa mưa Đất trồng chuẩn bị kỹ, bón lót phân chuồng 10 - 15 tấn, 10 kg lân và 50 kg kali Phân đạm được bón khi thiết lập đồng cỏ và sau mỗi lứa thu hoạch Cỏ có thể dùng làm bãi chăn thả hoặc sau đó 30 - 40 ngày thu hoạch một lần để cho ăn Cỏ mọc thành khóm có chiều cao từ 30 - 50 cm Cỏ thích nghi tốt với thời tiết khô lạnh, thời
Trang 16gian cắt trung bình từ 45 - 50 ngày/lứa (Thái Đình Dũng và Đặng Đình Liệu, 1979) [22]
Cỏ có thân cao tới 2 - 3m, không có thân bò, chỉ phân nhánh và tạo thành bụi Bẹ lá mọc quanh gốc có màu tím, cả bẹ và lá có lông nhỏ và trắng nhất là ở
bẹ lá Những lá phía trên ngắn và có bẹ lá dài nên không che nắng cho những lá dưới, lá có khả năng xoay theo chiều nắng Tỷ lệ lá/thân là 5/7, cụm hoa hình
chùy đặc trưng của Panicum, hạt hoa dẹt, cũng có lông nhỏ và mịn Bộ rễ có
nhiều nhánh, phát triển rất mạnh, thích hợp ở nhiệt độ 25 - 37oC và ẩm độ 80% Cỏ thường phân bố trong khoảng 16,3 - 28,70 vĩ độ Bắc Theo Evans
T R (1967)[84] độ cao có thể đến 2500 m so với mực nước biển Lượng mưa bình quân là 1000 mm/năm Cỏ không có khả năng sinh trưởng ở vùng đất hay bị ngập lụt cũng không thực sự chịu hạn nhiều Cỏ có thể thích ứng với nhiều loại đất nhưng cho năng suất cao khi đất có nhiều mùn và dinh dưỡng cao Cỏ thích nghi với những vùng đất dốc, nên nhiều nơi sử dụng chúng để trồng trên các đường đồng mức hay trồng để bảo vệ đất chống xói mòn (Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến, 1976) [11]
* Năng suất
Ở vùng South Johnstone, Queensland cho năng suất 60.000kg VCK/ha khi được bón 300 kg Nitơ (Middleton & MeCosker,1975)[99] Khi cỏ được bón 440 kg Nitơ/ha thì thu được 26,846 kg VCK/ha khi cắt cỏ ở giai đoạn 40 ngày Ở Việt Nam, năng suất đạt 50 - 100 tấn cỏ tươi/ha và có thể lên tới 130
- 180 tấn/ha (Nguyễn Đăng Khôi và Dương Hữu Thời, 1981)[43] Mỗi năm
cỏ Ghine cho khoảng 9 lứa cắt Năng suất cỏ biến đổi theo mùa Cỏ có năng suất 8,13 tấn/ ha vào mùa khô và đạt 10,5 tấn/ha vào mùa mưa
* Thành phần hoá học
Ở Coasta Rica người ta đã phân tích được thành phần hóa học như sau: protein thô 7,81% VCK, xơ thô 30,62% VCK, mỡ thô 2,33% VCK, khoáng 8,36 % VCK, vào giai đoạn cây chuẩn bị ra hoa Phân tích của (Davies , J , G
Trang 171970) [82] ở Tanzania và Thái Lan cho thấy lượng protein biến động trong khoảng 5,3 - 6,0% VCK
Theo Lê Hòa Bình và cs (1992)[6], năng xuất chất xanh của cỏ tại Long
Mỹ là 56,91 tấn/ ha/ năm, tại Sơn Thành đạt 92,9 tấn/ ha/ năm, tại Ba Vì đạt 86,3 tấn/ ha/ năm và tại Thụy Phương đạt 90,5 tấn/ ha/ năm
Theo Từ Quang Hiển và Phan Đình Thắm (2002)[33], thành phần
dinh dưỡng của cỏ Ghine như sau: Nước 80%, protein 2,32%, mỡ 1,43%,
xenlulose 5,56%, khoáng 1,38%, và cứ 5 kg cỏ này tương ứng với 1 đơn vị thức ăn
Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Hoàng Hộ và cs (1993)[36] cho
biết cỏ Ghine giai đoạn 4 tuần tuổi có tỷ lệ protein thô đạt từ 10,5 – 17,0%,
tỷ lệ xơ thô từ 29,0 – 39,0%, tỷ lệ Ca từ 1,06 – 1,37% và tỷ lệ P từ 0,21 – 0,27% Cỏ ở 6 tuần tuổi tỷ lệ protein thô, xơ thô, Ca, P lần lượt đạt từ: 8,0 – 9,0%, 32,0 – 39,0%, 0,75 – 1,02%, 0,21 – 0,23% và 8 tuần tuổi là: 6,5 -7,0%, 35,0 - 42,0%, 0,70 - 0,99%, 0,19 - 0,21%
là kết quả lai tạo từ dự án đồng cỏ CIAD nhằm tạo ra giống có đặc tính nông học bền vững thích nghi rộng rãi, năng suất và chất lượng thức ăn cao hơn,
chống chịu với rệp, nấm Mulato 2 là cỏ lai giữa B.ruziziensis sinh sản hữu tính với B decumbens, từ quá trình lựa chọn Thế hệ sau và tiếp hợp vô tính với các dòng B.brizantha Kết quả đã tạo ra giống cỏ Mulato 2 Mulato 2 đã được đưa về nghiên
cứu tại Trung tâm nghiên cứu và Đồng cỏ Ba Vì để đánh giá thông qua đề tài “Nghiên
Trang 18cứu xác định bộ giống cỏ phù hợp làm cây thức ăn gia súc ở Đồng bằng Bắc Bộ” (Dương Quốc Dũng và cs 1999) [23]
* Năng suất
Cỏ có số lượng hoa lớn và hoa nở hàng loạt do vậy cỏ cho năng suất hạt khá cao từ 150 - 420 kg/ ha Tỷ lệ nẩy mầm của hạt không cao vì vậy giống cỏ
này thường được trồng bằng gốc Ở đất tốt, cỏ Mulato 2 cho năng suất chất xanh
đạt trên 100 tấn ha/năm (100-150 tấn) Nếu trồng cỏ ở đất có lượng màu mỡ trung bình, cỏ cho năng suất trên 80 tấn/ ha/năm Năng suất trong năm của cỏ tập trung vào mùa mưa từ 60 – 73,5% so với sản lượng cản năm
- Thời vụ: Cỏ có thể trồng vào tháng 3 đến tháng 9 hàng năm Nhưng
tốt nhất là trồng vào tháng 3 đến tháng 4 vì thời gian này trời bắt đầu bước vào mùa mưa đất ẩm làm cho cây nhanh bén rễ và nẩy mầm
Sản lượng chất xanh hàng năm của cỏ đạt từ 80 - 150 tấn/ ha Cỏ có thể sử dụng làm thức ăn xanh, phơi khô và cũng có thể trồng làm bãi chăn thả gia súc
- Thu hoạch và sử dụng: Cỏ sau khi trồng từ 50 - 60 ngày có thể tiến
hành cắt lứa đầu tiên, khoảng cách giữa các lứa cắt sau khoảng từ 30 - 40 ngày Khi cắt phải chừa lại khoảng cách không quá 3 cm Yêu cầu cỏ phải được cắt đúng lứa
* Thành phần hoá học
Theo Trịnh Văn Thịnh (1974)[61] cho biết thành phần hóa học của
cỏ Mulato 2 là: VCK đạt 26,40%, protein là 11,34%, lipit là 3,69% và tỷ
lệ xơ là 9,78%
1.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng cỏ
Như chúng ta được biết cơ thể thực vật và điều kiện ngoại cảnh có mối quan hệ hết sức chặt chẽ với nhau Khi điều kiện ngoại cảnh thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi quá trình trao đổi chất và khả năng tích luỹ chất khô của thực vật và có thể làm thay đổi thành phần hoá học của thực vật, nhất là vùng á
Trang 19nhiệt đới (Cooper J.P và cs, 1968) [15] Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất chất lượng cỏ đó là:
1.2.1 Phân bón
- Cơ sở lý luận xây dựng chế độ phân bón và sử dụng phân bón cho cây trồng Lượng phân bón nhiều hay ít và các loại phân bón khác nhau sẽ ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng Từ đó sẽ dẫn đến
sự khác nhau về năng suất, sản lượng, thành phần các chất dinh dưỡng của cây trồng Những bãi chăn thuộc loại trung bình (sản lượng cỏ khô 2,5 tấn/ha/năm) thì một năm tiêu tốn khoảng 70 kg N; 7,5 kg P; 37 kg Ca và 60
kg K/ha Vì vậy, hàng năm phải bón một lượng lớn hơn Thế để bù đắp cho cây (Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm, 2002)[32] Cần có lượng phân bón
đủ, phù hợp cho mỗi loại cỏ, mỗi mùa trong năm, mùa mưa cỏ có khả năng sử dụng phân nhiều vì sinh trưởng tốt cho năng suất cao Nhưng mùa đông, sinh trưởng của cỏ kém, nhu cầu sử dụng phân hạn chế hơn, đồng thời phải xác định lượng các chất có trong đất để xác định lượng phân cần phù hợp
Theo (Rhykerd C L and Noller C H, 1973)[103] muốn nâng cao năng suất cây trồng, một trong những biện pháp của Rumani đã khẳng định là
“Không có cách nào hiệu lực hơn để nâng cao năng suất cây trồng bằng cách dùng phân bón” (Singh và cs, 1967) [107] Theo Nguyễn Đức Quý, Nguyễn Văn Dung (2006), [57] năng suất chất khô / 1 ha của cây thức ăn là sự phản ánh của đất và lượng mưa Nếu ta đưa một lượng cây thức ăn cho gia súc không được bón phân vào một hệ thống canh tác theo kỹ thuật quảng canh trên đất xấu không thể đem lại năng suất cao trên đất ấy Trong tất cả các nhân tố có ảnh hưởng đến sự phát triển của cây thức ăn gia súc, nhân tố phân bón chắc chắn là quan trọng nhất và là nhân tố sau này cần bố trí thí nghiệm
Để xác định chế độ phân bón cần khảo sát các đặc điểm sau: Đặc điểm sinh lý của từng loại cây trồng và đặc điểm dinh dưỡng của từng loại cây
Trang 20trồng đó Tính chất của đất trồng Điều kiện khí hậu và thời tiết khu vực trồng Tính chất của phân bón muốn sử dụng
1.2.1.1 Phân đạm
* Vai trò của phân đạm
Trong 13 loại dưỡng chất thiết yếu cho cây trồng thì đạm đứng vị trí hàng đầu về lượng hấp thụ với tầm quan trọng cao nhất, chiếm 2 - 3% tổng vật chất khô của cây trồng Tuy nhiên đây lại là loại phân bón dễ thất thoát, đặc biệt qua con đường bay hơi khiến lượng đạm mà cây trồng hấp thụ được chỉ từ 30 - 40% lượng cung cấp Việc sử dụng phân đạm sao cho hiệu quả, tránh lãng phí và khi đạm vào trong cây sẽ được tổng hợp để giúp tạo thành các loại protein từ đơn giản đến phức tạp, hay còn gọi là chất thịt, thành phần
cơ bản của cơ thể sống Nó tham gia vào cấu tạo của axit nucleic và có vai trò quan trọng trong việc trao đổi chất của cơ thể cây trồng Ngoài ra, đạm còn là thành phần của diệp lục tố tạo nên màu xanh cho lá cây, đây chính là yếu tố thiết yếu giúp thực vật quang hợp, biến đổi năng lượng của ánh sáng để chuyển đổi nước và cacbonic thành đường bột, nuôi sống toàn thể giới động vật
Phân đạm là thức ăn chính của cây, giúp cho chồi, cành lá phát triển; lá
có kích thước to sẽ tăng khả năng quang hợp từ đó làm tăng năng suất cây trồng Thiếu đạm, cây sẽ sinh trưởng còi cọc, lá già, toàn thân biến vàng, toàn
bộ quá trình sinh trưởng của cây sẽ bị trì trệ do thiếu chất hình thành tế bào, các quá trình sinh hóa cũng bị ngưng trệ
Khi bón thừa phân đạm, cây trồng sẽ lớn nhanh, đẻ nhánh nhiều, dễ bị
đổ ngã, cây chậm ra hoa và khó đậu quả Mặt khác, thừa đạm làm tăng mức
độ lây nhiễm sâu bệnh do lá mềm, màu sắc xanh đậm của lá thu hút các loại côn trùng và nấm bệnh gây hại, các bất lợi đem lại khi bón thừa phân đều do cây “quá bổ” Đơn cử như đạm có tác dụng làm cây lúa phát triển cao lên, khi thừa thì làm cho nó dài ra, dẫn đến việc cây dễ đổ ngã
Trang 21Thất thoát đạm và phương pháp hạn chế: Đạm urê dùng để bón cho cây (NH2)2CO là chất rắn màu trắng, tan tốt trong nước, chứa khoảng 46% N Khi gặp nước, urê sẽ bị thủy phân tạo thành đạm amôn (NH4), đây là loại đạm cây
có thể hấp thu được Tuy nhiên, khi cây trồng không hấp thụ kịp, amôn nhanh chóng bị enzim thủy phân, phân giải thành amôniac (NH3) Theo Nguyễn Văn Viết (2006)[71] ẩm độ trong không khí ở mỗi mùa khác nhau trong sinh quyển ở Việt Nam có ảnh hưởng lớn đền khả năng sinh trưởng của cây trồng, khi ẩm độ quá thấp bón phân đạm có thể thất thoát do bốc hơi và cây khó hấp thu, nhất là mùa đông ở Bắc bộ
Bên cạnh đó, đạm urê còn bị phản nitrat hóa, tạo thành oxit nitơ Đấy là
2 con đường bay hơi của đạm, gây thất thoát chủ yếu khi sử dụng Ngoài ra, còn nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc thất thoát như nhiệt độ, pH của đất, pH của nước, mực nước trong ruộng,… Vào lúc thời tiết nắng nóng, lượng đạm
bị mất trong một ngày có thể lên đến 50%
Hàm lượng nitơ tổng số trong đất khoảng 0,05 - 0,25 %, phần lớn chứa trong các hợp chất hữu cơ (chiếm 5 % trong mùn), do đó, nhìn chung đất càng giàu mùn thì nitơ tổng số càng nhiều (Hamphray L,R 1980) [26]
Theo Nguyễn Vy và Phạm Thúy Lan , (2006) [75] đạm có trong thành phần protein, các axit amin và các hợp chất khác tạo nên tế bào Đạm có trong thành phần chất diệp lục, nguyên sinh chất Đạm còn có trong các men của cây, trong ADN, ARN, nơi khu trú các thông tin di truyền của nhân bào (Ngô Thị Đào, Vũ Hữu Yêm, 2007) [19]
Cây được bón đủ đạm, lá có mầu xanh tươi, sinh trưởng khỏe mạnh (Đào Văn Bảy, Phùng Tiến Đạt, 2007) [4] Đủ đạm, chồi búp cây phát triển nhanh, cành lá, nhánh phát triển mạnh, đó là cơ sở để cây trồng cho năng suất cao (Kanno T và Macedo MCM, 1999)[94] nếu bón thừa đạm thì cây phải hút nhiều nước để giải độc amon nên tỷ lệ nước trong thân lá cao, thân lá vươn
Trang 22dài, mềm mại, che bóng lẫn nhau và gây ảnh hưởng tới quang hợp Bón nhiều đạm, tỷ lệ diệp lục trong lá cao, lá có mầu xanh tối, quá trình sinh trưởng (phát triển của thân, lá) bị kéo dài, cây thành thục muộn, phát triển um tùm,
dễ đổ lốp, dễ mắc sâu bệnh, rễ cây kém phát triển Nếu thiếu đạm, cây cỏ sẽ cằn cỗi, lá kém xanh, ra hoa kém và thưa thớt, ít quả, lúc này lá già sẽ chuyển đạm nuôi các lá non nên lá già rụng sớm Cây thiếu đạm buộc phải hoàn thành chu kỳ sống nhanh, thời gian tích lũy ngắn, năng suất thấp Nhiều tác giả đã nghiên cứu và chỉ ra ảnh hưởng của nitơ đến sản lượng đồng cỏ hòa thảo và tìm ra sự tương quan giữa liều lượng N được bón với năng suất chất xanh và hiệu quả bón phân (Kalmbcher RS, Brown WF,1977)[93]
* Liều lượng
Về liều lượng bón đạm, các kết quả nghiên cứu chỉ ra như sau: Đối với
cỏ họ đậu, mức bón tối ưu cho đồng cỏ Alfalfa là 90 - 120 kg N/ha/năm, đối với cỏ Orchard là 140 kg N/ha/năm (Jung và Baker,1973) [92] và cỏ Orchard hỗn hợp với cỏ Tall fescure là 180 kg N/ha/năm (Lutz J A., Jr (1973) [95] Đối với cỏ hòa thảo: Liều lượng bón tối ưu cho cỏ Bermuda là 55 kg N/ha/lứa
cắt, hay 448 kg N/ha/năm, năng suất vật chất khô bắt đầu giảm khi vượt quá
450 kg N/ha/năm (Burton và Jacson, 1962) [80] Thí nghiệm của Schryver, (1971) [105] chỉ ra rằng, khi bón đạm tăng từ 0 - 940 kg N/ha/năm, thì sản lượng vật chất khô đạt được tối đa ở mức bón 313 kg N/ha/năm và sản lượng vật chất khô bắt đầu giảm khi bón vượt quá 450 kg N/ha/năm, sản lượng có thể tăng cho tới tận liều lượng bón 336 - 404 kg N/ha/năm, khi bón liều lượng trên 500 kg N/ha/năm sản lượng cỏ sẽ giảm Tại Stillwater, Oklahoma, Mỹ
(Pumphrey, 1978) [102] nghiên cứu cỏ E.curvulla trong 4 năm cho thấy:
Năng suất VCK trung bình trong mùa hè từ tháng 7 đến tháng 11 là 3.178 kg/ha, khi không bón phân và 8,502 kg/ha, khi được bón 224 kg N và 45 kg
P2O5/ha
Trang 23Khi lượng đạm bón cho đồng cỏ hòa thảo tăng, mức nitrat sẽ tăng theo
Vì vậy, chúng ta nên cảnh giác với khả năng ngộ độc nitrat, nếu bón quá liều lượng nitrogen (Rhykerd và Noller, 1973) [104]; Bón đạm có ảnh hưởng đến
độ ngon miệng và lượng cỏ ăn vào của gia súc Khi không bón đạm và bón ở các mức vừa phải cho đồng cỏ hòa thảo, khi bón tăng lượng đạm sẽ tăng khả năng thu nhận cỏ của gia súc Tuy nhiên, không có sự khác nhau về khả năng
ăn của gia súc đối với cỏ được bón đạm vừa phải và mức cao (Belesky và Wilkinson, 1983) [79]
Như vậy, liều lượng đạm bón cho cỏ họ đậu và hòa thảo có sự khác nhau, với cỏ họ đậu thì thấp hơn, còn với cỏ hòa thảo thì cao hơn Liều lượng bón hữu hiệu cho cỏ họ đậu khoảng từ 100 - 200 kg N/ha/năm, còn cho cỏ hòa thảo khoảng từ 300 - 400 kg N/ha/năm Bón liều lượng thấp quá, sản lượng cỏ tăng không rõ rệt, bón cao quá lại làm giảm sản lượng cỏ Bón đạm
đã nâng cao chất lượng và tính ngon miệng của cỏ Tuy nhiên, cũng cần đề phòng bón đạm với liều lượng cao sẽ dẫn đến tích tụ nitrat trong cỏ và dẫn đến gây ngộ độc cho gia súc, với vùng á nhiệt đới trong mùa mưa có ảnh hưởng làm lượng tích tụ độc tố ít hơn (Xi Nen Si Cop V.V, 1963) [76]
1.2.1.2 Phân lân
* Vai trò của phân lân
Lân trong đất có thể ở dạng vô cơ hoặc hữu cơ, lân vô cơ chứa trong các khoáng vật: apatit, photphorit, sivianit Lân hữu cơ là lân liên kết các chất hữu cơ Đó là các hợp chất trong thân thể vi sinh vật, rễ cây, những chất hữu
cơ đang phân giải và mùn Ở đất nhiều mùn, tỷ lệ lân hữu cơ có thể nhiều hơn lân vô cơ Nhiều thí nghiệm cho thấy lân hữu cơ trong đất cung cấp P2O5 cho cây dễ dàng trong môi trường kiềm, ngược lại lân dễ dàng tan trong môi trường axit (Nguyễn Thị Thu Hồng và cs, 2006)[35] Sự biến hóa lân hữu cơ trong đất chủ yếu do vi sinh vật phân giải rồi thủy phân thành lân vô cơ Hiện nay một trong những biện pháp nâng cao hiệu lực phân lân bón vào đất là
Trang 24thông qua cây bộ đậu, biến thành dạng hữu cơ, sau đó vi sinh vật phân giải để cung cấp dần cho cây (Trịnh Xuân Vũ và Lê Doãn Diên, 1976) [74]
Photpho là một nguyên tố đa lượng cần thiết cho cây trồng, nó đóng vai trò rất quan trọng trong sự sinh trưởng của thực vật và động vật Tác dụng của phân lân thể hiện ở vai trò của nguyên tố photpho đối với thực vật Photpho tham gia tạo nên các vật chất di truyền (ADN, ARN, axit nucleic), các hợp chất cao năng (ADP, ATP, ) Photpho còn có tác dụng làm tăng cường phát triển bộ rễ cây (đặc biệt là thời kỳ đầu sinh trưởng) Cây đủ photpho, bộ rễ phát triển sớm, lông hút xum xuê, là cơ sở tạo bộ rễ vững chắc để cây hút chất dinh dưỡng và phát triển tốt Thiếu photpho ảnh hưởng xấu đến quá trình hình thành và chắc hạt, nên năng suất hạt giảm rõ rệt, Nguyễn Công Vinh (2002)[72]
Đối với cỏ Pennisetum polystachyon, bón ban đầu là 448 kg super photphat/ha,
bón hàng năm là 228 kg/ha (Điền Văn Hưng, 1974) [37]
* Liều lượng
Như vậy, cần phải bón liều lượng phân lân lớn cho đồng cỏ mới gieo hoặc trồng lần đầu tiên, liều lượng này vào khoảng 300 - 500 kg super photphat tương đương với 60 - 100 kg P2O5/ha
1.2.1.3 Phân kaly
* Vai trò của phân kali
Kali làm tăng vai trò quang hợp của lá, tăng cường sự hình thành bó mạch, giúp cây cứng cáp, góp phần vào việc chống đổ lốp cho cây Kali còn kích thích sự hoạt động của các men, do đó, cây tăng cường trao đổi chất, tăng hình thành axit hữu cơ, tăng trao đổi đạm, tổng hợp protit, do vậy mà hạn chế tích lũy nitrat trong lá, tăng khả năng chống rét và tăng khả năng đẻ nhánh Kali giúp cho cây trồng không hút đạm ồ ạt, nói một cách khác là chống bội thực đạm của cây, tránh hiện tượng lá thì nhiều, mà hạt và quả thì
ít Kali được cây tiêu thụ rất lãng phí, đặc biệt là cỏ hòa thảo Cây có chiều
Trang 25hướng hấp thu số lượng kali nhiều hơn giới hạn chúng đòi hỏi cho sinh trưởng
và phát triển thích hợp (Lutz, 1973)[95]
1.2.1.4 Phân chuồng
* Vai trò của phân chuồng
Bón phân hữu cơ có thể cung cấp trực tiếp chất dinh dưỡng cho cây, làm tăng năng suất và phẩm chất cây trồng, cần được bón lót (Sallette J E, 1974)[58] Đặc biệt, bón phân hữu cơ làm tăng số lượng và cường độ hoạt động của vi sinh vật trong đất, góp phần làm tăng thêm hàm lượng các chất dinh dưỡng dễ tiêu cho cây trồng (Nguyễn Đăng Nghĩa, 1997)[50] Theo Đỗ Ánh (2005)[3] đầu tư bón phân hữu cơ cao 40 tấn/ha, năng suất cỏ voi thu cắt đạt 200 tấn/ha/năm
cho thấy 3 giống cỏ trên đạt sản lượng cỏ tươi 15 - 19,7 tấn/ha/năm khi bón
10 tấn phân chuồng, nhưng khi bón 20 tấn phân chuồng/ha thì sản lượng đạt
là 75,2 - 94,7 tấn/ha/năm
1.2.2 Mật độ trồng
Trong sản xuất để đạt được năng suất và chất lượng cao thì phải tìm biện pháp để đạt được quần thể có kết cấu hợp lý mà tại đó, tích của các yếu
tố là cao nhất Một trong những biện pháp quan trọng là bố trí quần thể hợp
lý, nó ảnh hưởng đến số nhánh tối đa, số nhánh hữu hiệu Nếu mật độ thưa, số nhánh / m2 thấp gây lãng phí đất, năng suất cũng thấp Nếu mật độ quá dầy, ảnh hưởng đến chế độ dinh dưỡng, ánh sáng, quần thể rậm rạp, dễ đổ sẽ dẫn đến năng suất thấp Theo Nguyễn Văn Quang (2002)[56] nghiên cứu mật độ trồng cỏ giống TD 58 mật độ khóm cách khóm 50 x 50 cm sẽ đủ điều kiện ánh
Trang 26sáng và quang hợp cây phát triển tốt Theo Nguyễn Văn Viết (2006)[71] sử dụng cây trồng theo mục đich, nếu cây khai thác làm giống cần có khoảng cách mật độ thưa để cứng cây không đổ, năng suất hạt chắc tăng lên Trồng cây sử dụng lá cần trồng mật độ vừa phải và dày cây tăng lá, vóng cao, mềm cây
1.2.3 Thời điểm cắt
Muốn năng suất nhiều thì người trồng cỏ thường khai thác khi có sinh khối lớn nhất, mặc dầu khi ấy có thể dinh dưỡng bị giảm, nên việc khai thác theo lứa phù hợp cho từng loại cỏ và mùa vụ để cỏ đạt cao về sinh khối và giá trị dinh dưỡng là cần thiết (Phan Đình Thắm, 2004) [60] Có thể thu hoạch 2 - 10 lần/năm, phụ thuộc vào điều kiện sinh thái tứng vùng, thường đạt đến sản lượng cao nhất và chất lượng tốt nhất tại thời điểm liên quan tới giai đoạn thành thục (Marten.G.V, 1970) [98]
Cắt quá ít lần trong năm, cỏ già, chất lượng kém, ảnh hưởng đến lứa tái sinh sau và ảnh hưởng đến sản lượng cả năm Còn cắt nhiều lần trên năm, cỏ non, mềm, tỷ lệ tiêu hóa cao, tỷ lệ protein cao Tuy nhiên, nếu cắt quá nhiều lần trong năm cũng không tốt, sẽ làm giảm khả năng tái sinh và năng suất cỏ;
Theo Hare và cs, (2001)[96] cho biết thu cắt cỏ P atratum ở khoảng cách cắt
30 ngày chất lượng cỏ cao hơn so với thu cắt ở khoảng cách cắt 60 ngày và
sản lượng vật chất khô giảm với sự sai khác không có ý nghĩa, cỏ B.multica
cắt ở 30 ngày có tỷ lệ vật chất khô ít hơn 40% so với cắt ở 60 ngày
1.2.4 Ảnh hưởng của giống cỏ
Theo tài liệu của Viện Chăn nuôi Quốc gia (2001)[68], đối với cây cỏ hòa thảo ngoài tự nhiên thì hàm lượng các chất dinh dưỡng rất khác nhau có
tỷ lệ VCK thấp như cỏ bấc với 13,10% vật chất khô, 2,10% protein thô, 0,20% lipit thô, 3,90% xơ thô, 5,50% dẫn xuất không đạm và 1,40% khoáng tổng số Một số cỏ có mức trung bình về vật chất khô như: cỏ Mộc Châu mọc
tự nhiên có 23,88 % vật chất khô, 2,54% protein thô, 0,51% lipit thô, 8,67%
xơ thô, 10,13% dẫn xuất không đạm; 2,03% khoáng tổng số; cỏ Ghine có
Trang 2721,00% vật chất khô, 2,70 % protein thô, 0,40% lipit thô, 7,50 % xơ thô, 8,70% dẫn xuất không đạm và 1,70% khoáng tổng số
Giá trị dinh dưỡng của cây thức ăn rất khác nhau giữa các giống cỏ, chúng ta cần có những lựa chọn phù hợp giống cỏ để sử dụng trồng và cho gia súc sử dụng phù hợp, hiệu quả
1.2.5 Ảnh hưởng của mùa vụ đến năng suất trên lứa
Từng vùng khác nhau có điều kiện sinh thái, khí hậu khác nhau, nhưng trong năm có mùa khác nhau chịu ảnh hưởng nhiều của yếu tố thời tiết đến năng suất cỏ (mùa khô và mùa đông năng suất cỏ chỉ đạt 45 - 50% so với mùa mưa)
Cỏ Pangola ở Beerwah, nam Queensland, với tổng lượng mưa hàng
năm 1.075 mm, có sản lượng trung bình là 10.565 kg/ha/năm, khi cỏ được bón phân đầy đủ Theo Evans (1967)[84] đã đạt năng suất 113 kg vật chất khô/ha/ngày vào mùa hè, nhưng chỉ đạt 2,25 kg vật chất khô/ha/ngày vào mùa đông mặc dù cùng một chế độ bón phân Ở phía bắc Queensland với lượng mưa lớn hơn và được bón 220 kg N, 22 kg P2O5 và 55 kg K2O/ha/năm thì sản lượng của giống cỏ này đã đạt 28.282 kg vật chất khô/ha/năm
Theo Phan Thị Phần và cs, (1999)[54] nghiên cứu cỏ Ghine TB58 tại
Ba Vì cho thấy năng suất cỏ trong mùa mưa đạt 88 tấn / ha/ năm, nhưng 6 tháng mùa đông xuân năng suất chỉ đạt 38,7% sản lượng bình quân
Như vậy, kết quả nghiên cứu của các tác giả cho thấy, cùng một giống
cỏ sản lượng của cỏ cũng thay đổi theo mùa vụ và sản lượng trong mùa khô là thấp hơn rõ rệt, cần có sự chăm sóc phù hợp
1.3 Giới thiệu về ngựa Bạch
* Nguồn gốc xuất xứ
Ngựa Bạch là gia súc lớn không có sừng, theo phân loại động vật thì
ngựa thuộc lớp động vật có vú (Mammalia), bộ móng lẻ (Perissodactya),loài ngựa (Equis Caballus) Ngựa Bạch có số lượng ít, hiện nay được nuôi rải rác ở
các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Lai Châu… Ngựa Bạch cũng có khả năng làm việc và chịu đựng kham khổ tốt, có thể phát triển tốt ở các
Trang 28địa phương trên Trong nhiều năm qua ngựa Bạch còn được thảo luận là một giống hay một nhóm giống Năm 1999 ngựa Bạch được đánh giá đây là một giống ngựa quý (có lông màu trắng, các lỗ tự nhiên trắng hồng, mắt hồng, nên ngựa Bạch trong nhân dân còn được gọi là ngựa Bạch nhạn) đang có số lượng giảm dần do người dân săn lùng, giết thịt, lấy xương nấu cao cần được bảo tồn (Viện Chăn nuôi, 1999) [69]
*Đặc điểm tiêu hóa của ngựa bạch
- Bộ máy tiêu hoá của ngựa bạch:
Bộ máy tiêu hoá của ngựa là 1 ống dài chạy từ miệng đến hậu môn, được gấp đi gấp lại nhiều lần, có chỗ phình to như dạ dày và manh tràng Các
bộ phận tiêu hoá ở phía trước của hoành cách mô, gồm: môi, miệng, răng, yết hầu thực quản, có nhiệm vụ tiếp nhận, đưa thức ăn và chuẩn bị cho việc tiêu hoá sơ bộ thức ăn Các bộ phận tiêu hoá ở phía sau của hoành cách mô, gồm:
dạ dày, ruột non, ruột già, có nhiệm vụ thực hiện hàng loạt các quá trình tiêu hoá hoá học vi sinh vật học, phân bổ hấp thu các chất dinh dưỡng vào máu và đưa các chất cặn bã ra ngoài Ngoài ra còn 1 số tuyến khác khác phục vụ cho quá trình tiêu hoá đó là: Tuyến nước bọt, gan, tuỵ
Môi trên của ngựa là một khí quan hết sức nhạy bén, bởi hệ thần kinh tập trung nhiều rất dễ gây sự đau đớn khi bị va chạm Lợi dụng điều đó, chúng ta có thể khống chế những chú ngựa bất kham bởi 1 vòng xoắn mũi, nhiệm vụ chủ yếu của môi ngựa là sờ mó, thu lượm các loại thức ăn đưa vào xoang miệng
Răng ngựa, có cả 2 hàm trên và dưới; răng cửa và răng nanh, có nhiệm
vụ cắn xé các loại thức ăn; răng hàm có nhiệm vụ nhai, nghiền thức ăn
Họng, còn gọi là (Eo miệng, yết hầu) của ngựa bình thường bị sụn tiểu thiệt đóng kín, nên ngựa chỉ thở bằng mũi, mà không thở bằng mồm được, nhưng ở người và các gia súc khác có thể thở bằng mồm được
Thực quản của ngựa là một ống tiêu hoá, có khả năng co giãn lớn, tiếp nối từ sau họng đến dạ dày, ở thượng vị của dạ dày ngựa cấu tạo bởi nhiều
Trang 29lớp cơ rất cứng, rắn Nên thức ăn khi vào dạ dày không thể trở ngược ra miệng được Chính từ đặc điểm này đã làm cho ngựa có sự lựa chọn thức ăn
kỹ càng hơn, ăn từng miếng, nhai kỹ mới nuốt, không ợ hơi nhai lại được như trâu, bò
Dạ dày – ruột là bộ phận tiêu hoá thức ăn chủ yếu của ngựa, vừa tiêu
hoá hấp thu dinh dưỡng vào máu, dạ dày và ruột non, vừa đẩy chất cặn bã ra ngoài ở ruột già Vị trí dạ dày nằm giữa hoành cách mô về phía sau ngang với đường trục của thận, hơi chếch từ trái sang phải, nằm phía sau gan, dạ dày ngựa là 1 túi lớn của ống tiêu hoá dung tích chứa khoảng 15 lít, mặt ngoài hình thành bởi 2 đường cong lớn (ở phía dưới), và nhỏ (ở phía trên), phía trên
dạ dày tận cùng bằng lỗ thượng vị, lỗ thượng vị rất nhỏ, luôn đóng chặt, chỉ
mở khi nuốt thức ăn, trong điều kiện bình thường, nó giữ không cho thức ăn quay trở lại thực quản, bởi nhiều lớp cơ cứng bó quấn làm cho thực quản đến
đó bị hẹp lại, đây là 1 đặc điểm rất khác với gia súc khác Mặt bên trong của
dạ dày chia thành 2 vùng: Vùng bên trái (phía tiếp với thực quản) có niêm mạc màu trắng nhăn và mỏng, khô chắc như niêm mạc của thực quản; Vùng bên phải (tiếp với ruột) có niêm mạc dày, nhăn nheo, xốp, màu đỏ nâu, luôn luôn ướt, nơi đây tiết ra dịch vị, kết thúc vùng này bằng 1 eo hạ vị và thông với đoạn đầu ruột non (tá tràng)
Ruột non của ngựa có chiều dài 20-22m, đường kính 3-4cm chia thành nhiều đoạn có tên gọi khác nhau (tá tràng, không tràng và hồi tràng), ruột non nằm treo phía bên trái xoang bụng, được gấp lại thành nhiều đoạn và được treo bởi các mạc treo tràng buộc gắn với phúc mạc, đoạn đầu của ruột non (tá tràng) có dịch mật và dịch tuỵ đổ vào, đoạn cuối của ruột non thông với manh tràng, phía ngoài và trong của đoạn này, thành dày hơn nên đường kính nhỏ hơn các đoạn trên
Ruột già của ngựa gồm 3 phần: Manh tràng (bên phải bụng ngựa), kết tràng và trực tràng; Kết tràng chia làm 2 đoạn là kết tràng gấp (đại kết tràng)
Trang 30và kết tràng nối (tiểu kết tràng); Manh tràng của ngựa là 1 túi lớn của ống tiêu hoá có dung tích 30 lít, nơi đây có nhiều hệ vi sinh vật hoạt động tiêu hoá chất
xơ, nên còn gọi là dạ cỏ của ngựa
- Các tuyến tiêu hoá ở ngựa
Tuyến nước bọt: Có 3 đôi tuyến lớn: Tuyến dưới tai, tuyến dưới hàm
và tuyến dưới lưỡi Chứa các men Amialaz để giúp quá trình tiêu hoá chất bột đường
Tuyến mật (gan): Buồng gan ngựa nằm sau hoành cách mô treo từ trên xuống dưới, từ trái sang phải, khối lượng từ 3 - 4kg, chia làm 3 thuỳ (thuỳ phải, thuỳ trái và thuỳ giữa); Các mô gan gồm những hạt nhỏ gọi là tiểu thuỳ, các tế bào gan nằm trong các tiểu thuỳ tiết ra mật chảy trong các ống dẫn mật
đổ vào ruột non Ngựa không có túi chứa mật như các gia súc khác
Tuyến tuỵ: Còn gọi là tuỵ tạng, giống như tuyến nước bọt ở phía trước thân tiết ra dịch thể chứa men lipara làm tiêu hoá được các chất mỡ (Lipít, chất béo)
- Quá trình tiêu hoá ở ngựa Bạch
Quá trình tiêu hoá là quá trình biến đổi nguồn thức ăn thành các chất dinh dưỡng nuôi cơ thể, gồm nhiều tính chất khác nhau: Tiêu hoá cơ học, tiêu hoá hoá học, tiêu hoá vừa mang tính chất cơ học vừa hoá học: Có nhiều hành vi: Lấy thức ăn cắn, xé, nhai, nghiền, thấm nước bọt, nuốt, thấm dịch, tiêu hoá trong dạ dày, tiêu hoá trong ruột
Lấy thức ăn Ngựa lấy thức ăn chủ yếu bằng môi, nhất là môi trên,
dùng 2 môi giữ lấy những miếng thức ăn đặc, kéo lại gần, chọn và ngoặm cả thành một nắm (đối với cỏ), dùng răng cửa, răng nanh để cắn, xé, nếu là nước thì dùng cách hít lấy bởi môi ngập nước, lưỡi co vào tận đáy xoang miệng tạo
1 khoảng trống (chân không) và nước tự theo lên như một máy bơm nước
Khi ngựa lấy đủ 1 miếng thức ăn, thì dừng lại để nhai, có khi ngẩng đầu lên cao hoặc đưa ra khỏi máng ăn, nên dễ làm rơi vãi thức ăn Do đó cần có máng ăn đủ rộng và có chiều cao hợp lý với ngựa để tránh sự rơi vãi lãng phí
Trang 31thức ăn, trường hợp ngựa đi đường xa, có thể dùng túi đeo vào mồm để cho
ăn thức ăn, thức ăn đặc, cám, tinh hỗn hợp
- Nhai, nghiền, thấm nước bọt
+ Ngựa dùng 2 hàm răng để nhai, nghiền nhỏ thức ăn và để trộn đều với nước bọt trong xoang miệng thành 1 dung dịch thể nhão đẩy qua yết hầu xuống thực quản về dạ dày Hội chăn nuôi Việt Nam (2000)[34] quan sát ngựa nhai, nghiền có thể đoán sức khoẻ của ngựa tốt hay xấu, những ngựa già, sức khoẻ kém, thì thường nhai, nghiền yếu ớt, chậm chạp, không dứt khoát, không đều, khi đó cần có sự hỗ trợ việc nhai, nghiền: Cắt ngắn (đối với thức ăn thô xanh, thô khô, xay nhỏ, nấu cháo hoặc ngâm nước (đối với thức ăn hạt, củ, quả)
+ Nuốt thức ăn: Hai má và lưỡi đưa thức ăn đã được nhai nghiền hoặc nước đến trước yết hầu Yết hầu phản xạ co lại tự nhiên, đẩy thức ăn vào thực quản, tiểu thiệt đóng lại Thực quản co bóp (nhu động) đẩy thức ăn hoặc nước trôi xuống dạ dày, khi ngựa nuốt thức ăn nhìn phía bên trái cổ rất dễ thấy Trước khi cho ăn cần cho ngựa uống nước để có đủ nước phân tiết ra nước bọt và các dịch thể khác; Đối với rơm, cám, bột ngô phải được trộn với nước trước cho đủ ẩm; Thức ăn hạt phải ngâm để tránh sự tắc, nghẹn, sặc trong lúc
ăn của ngựa
+ Tiêu hoá trong dạ dày ngựa: Thức ăn được nhai, nghiền, thấm nước
bọt ở xoang miệng và đẩy xuống dạ dày Dạ dày tiếp tục co bóp theo chiều từ thượng vị xuống hạ vị và ngược lại Dịch vị tiết ra làm thức ăn nhuyễn bởi các men Pepsine, các muối Clo và muối lân, các chất này làm tiêu hoá chủ yếu các chất đạm có trong dạ dày, còn các chất dinh dưỡng khác được chuyển xuống ruột và thực hiện quá trình tiêu hoá ở đó
+ Tiêu hoá ở ruột: Ở ruột non thức ăn chịu tác dụng của các dịch thể và các men tiêu hoá Các dịch thể đổ vào ruột non, gồm các dịch mật, dịch tuỵ, dịch tràng được thấu qua màng ruột non đi vào hệ thống lâm ba, tuần hoàn và
Trang 32theo nhu động của ruột để chuyển xuống ruột già, các men tiêu hoá của các dịch thể gồm: Men Lipaza, Celluloz pepsine, Amilaza … Ở đây có quá trình lên men Lactic, Butylic … để tạo nên các axit béo bay hơi Vì thế có thể gây
ra hiện tượng chướng hơi đầy bụng khi quá nhiều hơi
Ở ruột già là nơi hoàn thành quá trình tiêu hoá, các chất dinh dưỡng được hấp thu từ dạ dày và ruột non, còn lại phần bã khi qua đại kết tràng tiếp tục được thực hiện 1 số phản ứng hoá học để tiêu hoá hết 1 số chất dinh dưỡng; Phần chất xơ còn lại được chuyển xuống tiểu kết tràng và thành những cục tròn ép vào nhau ở trực tràng và sự nhu động của ruột sẽ đẩy những cục phân ra ngoài
* Khả năng sinh trưởng của ngựa Bạch
Ngựa Bạch có ngoại hình trưởng thành nhỏ, chiều cao con đực 115,20 cm
và con cái 111,34 cm, khối lượng con đực 172,60kg, con cái 161,82 kg (Nguyễn Hữu Trà, 2007) [64] Theo Viện Chăn nuôi (1999)[69] ngựa Bạch ở 6 tháng tuổi
có khối lượng đạt 73 - 85 kg, ở 12 tháng tuổi đạt 90-110 kg, ngựa Bạch trưởng thành có khối lượng 110-170 kg
* Nuôi dưỡng ngựa Bạch
Theo Đặng Đình Hanh và Nguyễn Thị Tuyết (2001) [27] nhu cầu dinh dưỡng ngay sau sinh với ngựa con rất quan trọng, cần được bú sữa đầu (sữa đầu có kháng thể) Từ sơ sinh đến 1 tháng tuổi ngựa con hoàn toàn được nuôi bằng nguồn sữa mẹ, phụ thuộc chế độ chăm sóc cho ngựa mẹ mà lượng sữa được tăng dần từ khi mới đẻ đến 30 ngày Thời điểm sau 1 tháng cần thiết mỗi ngựa con bổ sung cho ăn thêm từ 0,5 kg thức ăn là cỏ non / ngày, cho ăn tự do và nâng lên đến 4 kg/ ngày khi ngựa đạt 3 tháng tuổi Từ tháng thứ 2 cho thêm thức
ăn tinh là nguồn cám hỗn hợp hoặc cám gạo doa, thức ăn tinh bột được hòa ẩm cho ăn để tránh ngựa bị sặc thức ăn, thức ăn tinh cho ăn 0,1 - 0,3 kg/ con/ ngày
Sau 3 tháng nuôi con sữa mẹ bắt đầu cạn dần và chất lượng sữa cũng giảm dần, ngựa con đã lớn nhu cầu thức ăn nhiều lên, sữa từ ngựa mẹ chỉ có
Trang 33khả năng cung cấp cho con được 60% và giảm đến 15% từ sau 3 tháng đến 6 tháng (Lê Viết Ly, 2000) [48] Nguồn thức ăn thô do ngựa ăn vào và bổ sung thức ăn tinh để đảm bảo dinh dưỡng cho ngựa Thức ăn cho ngựa con ăn là cỏ
tự nhiên, các loại thức ăn là phụ phẩm nông nghiêp như lá, thân cây ngô, cỏ giống mới Các thức ăn cho ngựa con được chế biến cắt ngắn 2 - 3 cm, cho ngựa ăn nhiều bữa trong ngày Theo Caple I.W và cs (1982) [81] tính cho 100kg trọng lượng cần năng lượng 7200Kcal, protein 350 g, muối 8 g, Ca 6g,
tỷ lệ thức ăn tinh 40%
Tính cho 100kg khối lượng ngựa cần năng lượng 7250Kcal, protein
250g, muối 7g, Ca 6g, tỷ lệ thức ăn tinh 35% Thức ăn thô xanh được chia
nhiều bữa hoặc ăn tự do trong ngày (Đặng Đình Hanh và cs, 2002) [28] Ngựa
là gia súc có hệ tiêu hoá dạ dày đơn nên nhu cầu dinh dưỡng hằng ngày cần
có tinh bột, năng lượng từ tinh bột cần 2000 - 2200 kCal/ 100P (Marcia Hathaway, 2010)[97] Ngựa là động vật tiêu hoá manh tràng luôn cần có tỷ lệ thức ăn thô trong tiêu chuẩn ăn > 50% (Schryver, H , F , H , F, Hintz và P, H ,
Craig, 1971) [106] a
1.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.4.1.1 Nghiên cứu về mức phân bón
Trên thế giới hiện nay ngoài việc tuyển chọn, lai tạo, di nhập các giống
cỏ tốt từ vùng này sang vùng khác, người ta còn tập trung giải quyết vấn đề
năng suất, chất lượng cỏ Theo Pal J, (1982 )[100] giống cỏ B decumbens có
thể đạt năng suất chất khô trên 40.000kg/ha/năm với thí nghiệm không có bón đạm nhưng bón đủ lân và nó là một giống cỏ tốt nhất trong điều kiện bón lân
Trang 34Theo Humphrey (1991)[91] thông báo năng suất cỏ Setaria sphacelata
đạt từ 23.500 – 28.000 kg/ha qua mùa sinh trưởng 6 tháng trong điều kiện cỏ được tưới nước và cung cấp 225 kg đạm ure/ha/năm trên nền đất baza mầu mỡ
Tại Trung tâm nghiên cứu nuôi dưỡng động vật tỉnh Petchaburi (Thái Lan) cỏ Ghine tía được trồng và cắt 30 ngày một lần, với mật độ trồng là 50 x 50cm và được bón phân hỗn hợp (15-15-15) trước khi trồng ở mức 300 kg/ha tương đương 18 tấn phân bón / 1ha (Hare M D và cs, 2001) [86] Lượng cỏ thu hoạch khoảng 8,9 tấn/ha ở lứa đầu (70 ngày sau trồng) và khoảng 2,6 đến 7,1 tấn/ha cắt sau 30 ngày (M.D Hare, P.Booncharern, P Tatsapong, 2004)[88]
Theo Hoàng Chung (2006)[14] giống B decumbens có thể đạt năng
suất chất khô trên 42.000 kg/ha/năm với thí nghiệm không bón đạm nhưng bón đủ lân và nó là một giống cỏ tốt nhất trong điều kiện bón lân và đạm thích hợp Thí nghiệm cắt hàng năm cho năng suất chất khô đạt 36.700 kg/ha, kết
quả này cao hơn so với cỏ Pangola (Digitaria decumbens) và Ghine (Panicum maximum)
Tại Purertorico, Vieente – Chandler Silva Middleton, (1975) [99] thông
báo năng suất giống Panicum maximum Cv Makueni đạt 26.846 kg VCK/ha
và cứ 40 ngày cắt 1 lần khi trồng cỏ và cho biết vào năm 1973 và 1974 tại
miền Nam Johnstone, vùng Queensland, vẫn giống Panicum maximum Cv
Makueni đã sản suất được 60.000 kg VCK/ha với điều kiện cung cấp 300 kg đạm/havới mức bón 440 kg đạm/ha Tại Samford, Queensland năng suất hàng
năm của giống Paspalum rinatatum là 15.000 kg VCK/ha (Davies, 1970)[82] Đối với giống cỏ Setaria sphacelata các kết quả nghiên tại Redlanbay,
Queensland, thông báo năng suất đạt từ 23.500 - 28.000 kg/ha qua mùa sinh trưởng 6 tháng trong điều kiện cỏ được tưới nước và cung cấp 225 kg đạm/ha/năm trên nền đất đỏ Bazan mầu mỡ
Trang 351.4.1.2 Nghiên cứu về năng suất
Theo Division of Animal Nutrition, Anon (2000) [77] sản lượng VCK
của cỏ B mutica đạt từ 9-15 tấn/ ha và sản lượng protein đạt từ 6 - 10%, cỏ Digitaria decumbens có sản lượng VCK từ 15 – 20 tấn/ ha, sản lượng protein
là 7 – 11%, sản lượng VCK của cỏ Paspaluatratum là 18 – 25 tấn/ ha và sản lượng protein là 6 -7, cỏ Paspalum plicatulum có sản lượng VCK từ 6 – 10
tấn/ ha và sản lượng protein từ 5 – 6%
Với hai giống cỏ là cỏ Paspalum atratum và Paspalum plicatulum là
những loài cho sản lượng hạt giống lớn, có thể tới trên 600kg/ha (Nguyễn Thị Thu Hồng, 2006) [35] Do vậy, hai giống này đã được phân bố rộng rãi ở Thái
Lan Theo Hare M.D và cs (1997) [87] cho biết các cỏ B multica và Paspalum atratum khi không có cây bộ đậu và dưới điều kiện cằn cỗi, nằm
thấp, đất khô ở vùng tây bắc Thái Lan phát triển tốt ở năm đầu, năng suất trung bình là 20 tạ/ha VCK Không có sự sai khác có ý nghĩa về sản lượng giữa hai loài và không khác nhau về sản lượng giữa khoảng cách thu cắt 45
ngày và 65 ngày ở mùa mưa đầu tiên Còn ở mùa mưa thứ hai Paspalum atratum sản xuất 30 tấn/ha VCK lớn hơn 10tạ/ha so với B multica
1.4.1.3.Nghiên cứu sử dụng cho gia súc
Để chọn làm cỏ chăn thả hay thu cắt cần phải dựa vào các nhân tố sau
để xét và quyết định hướng sử dụng cho từng loại cỏ như: Tính ngon miệng cao, nhất là cỏ thu cắt phải có giá trị dinh dưỡng cao để đáp ứng nhu cầu gia súc về các mặt, có khả năng cạnh tranh điều kiện sinh tồn và khả năng được trồng kết hợp, có khả năng chịu đựng sự dẫm đạp liên tục của gia súc và cỏ thu cắt phải chịu được sự cắt và nén của máy thu hoạch; cỏ chăn và cỏ cắt đều phải có năng suất cao để đảm bảo nhu cầu gia súc và giảm diện tích gieo trồng
Trên thế giới ở những nước có nền chăn nuôi ngựa phát triển vấn đề cây thức ăn rất được quan tâm đầu tư nghiên cứu như ở Úc, Mỹ, Liên Xô cũ, Mông Cổ… Theo Horne PM, và Stur WW (1999 )[90] ở Trung Quốc cây
Trang 36thức ăn được chú trọng phát triển và đã xác định được những giống cỏ Stylo, Brachiria, Penicetum, Panicum sử dụng có hiệu quả cho gia súc đặc biệt là
ngựa, khả năng sử dụng của ngựa là từ 85 - 95% Theo Dr.Sochadji (1994)[83] tại Indonesia 90% ngựa được nuôi tại vườn nhà, hoặc các trang
trại nhỏ, được trồng các giống cỏ Panicum, Macxicum, Paspalum atratum, Stylo… các giống cỏ này đều phát triển tốt và cung cấp nguồn thức ăn cho
ngựa tại nhà Đặc biệt những giống cỏ này còn được nghiên cứu trồng trên đất giốc theo đường đồng mức chính vì vậy nó đã cung cấp đủ thức ăn cho ngựa tại nhà ở những vùng cao
Tại Mỹ nghiên cứu trên các giống cỏ Brachiria Decumben cho năng
suất đạt từ 12300 - 13000 kg/ha Tại Samford Queeslend có chương trình
chuyên nghiên cứu về thức ăn cho gia súc thử nghiệm các giống cỏ Paspalum Dilatum đạt năng suất 15000kg VCK/ lứa Từ các giống cỏ này được nhân
rộng và một trong những giống chủ lực trong chăn nuôi gia súc nói chung và
ngựa nói riêng (Holt EC và Houston HC, 1954)[89]
1.4.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
1.4.2.1 Nghiên cứu mức phân bón
Cây được bón đủ đạm, lá có mầu xanh tươi, sinh trưởng khỏe mạnh, Đào Văn Bảy, Phùng Tiến Đạt (2007)[4] Đủ đạm, chồi búp cây phát triển nhanh, cành lá, nhánh phát triển mạnh Đó là cơ sở để cây trồng cho năng suất cao (Ngô Thị Đào và cs , 2007) [19 ]
Theo Phan Thị Phần và cs (1999) [54 ] khi nghiên cứu cỏ Ghine TD58
ở khu vực miền Nam và miền Bắc cho kết quả:
+ Khu vực miền Nam, địa điểm nghiên cứu tại vùng đất xám Bình Dương với 20 tấn phân chuồng, 80 kg P2O5, 80 kg K2O và 500 kg vôi/ha/năm Lượng phân đạm bón từ 60 – 90 kg N/ha / năm, năng suất chất
xanh cỏ Panicum maximum TD 58 đạt 64,59 – 83,33 tấn /ha/ năm Tỷ lệ lá
Trang 3751,48- 60,44%, năng suất hạt 287- 323 kg/ha/năm Khoảng cách lứa cắt thích hợp là 40 ngày/ lứa
Kết quả những công trình nghiên cứu về cây thức ăn chăn nuôi cũng chưa nhiều Trong những năm gần đây, một số nhà khoa học tập trung vào nghiên cứu một số giống cây thức ăn hòa thảo, cây họ đậu nhập nội ở một số vùng Theo Lục Văn Ngôn (1970) [52] nghiên cứu so sánh năng suất và khả năng sống qua mùa đông của một số giống cỏ trồng nhập nội trên đất đồi Thái
Nguyên trong đó có giống cỏ Tây Nghệ An (Panicum maximum), Mộc Châu (paspalum urvillei), cỏ Xu Đăng (Sorglum xudannens), Goatemala (Trypsacum laxum), cỏ Voi, Pangola, qua thí nghiệm cho thấy cỏ voi, Tây Nghệ An có khối
lượng sản xuất ra lớn và có khả năng phát triển trong mùa đông Tác giả cũng cho thấy năng suất tỉ lệ thuận lượng phân bón nitơ
Theo Từ Trung Kiên (2011)[44] “Nghiên cứu năng suất, chất lượng và hiệu quả sử dụng một số cỏ hòa thảo nhập nội trong chăn nuôi bò thịt” thấy mức phân bón cố định lượng lân, kali và bón phân đạm với lượng tăng dần từ
20 đến 60 kg N/ha/lứa, kết quả là năng suất và sản lượng VCK của cả 3 cỏ thí nghiệm đều đạt cao nhất ở mức 40 kg N/ha/lứa, do đó, bón phân đạm cho cỏ ở mức 40 kg N/lứa là thích hợp Sản lượng VCK (tấn/ha/2 năm) ở mức bón 40
kg N của 3 cỏ 3 cỏ là (1) P atratum, (2) B brizantha 6387 và (3) B Decumbens
là: (1) 38,405; (2) 33,897 và (3) 25,168
1.4.2.2 Nghiên cứu năng suất và dinh dưỡng một số giống cỏ
Theo Schmithusen, J (1969)[59] nghiên cứu bộ giống cỏ hòa thảo năng suất, chất lượng cao phù hợp với vùng sinh thái Tây Nam Bộ Năng suất một số giống cỏ hoà thảo tại các trang trại vùng Tây Nam Bộ là: Giống
cỏ Mồm năng suất đạt từ 252,99 - 294,12tấn/ ha, Paspalum năng suất đạt từ
174,06 - 190,53 tấn/ ha, Cỏ Lông para năng suất đạt từ 155,43 - 160,2 tấn/
ha, cỏ Zuzi đạt từ 153,18 - 181,17 tấn/ ha, cỏ voi đạt 163,8 - 217 08 tấn/ ha,
cỏ xả đạt từ 138,24 - 162,99 tấn /ha Theo Lê Khả Kế và cs (1975)[40] điều
Trang 38tra đồng cỏ ở một số tỉnh Phía nam (Tây Ninh, Sông Bé, Nghĩa Bình) cỏ tự
nhiên chủ yếu là Imperata, Penniescum, Paspalum, Pogomatherum và một
số thuộc loại Ichaenum, Digitaria, Cyrtocotum và cỏ đậu Imdigfera, thảm
cỏ phát triển mạnh trong mùa mưa và mùa khô hạn chế, năng suất trung bình 7,7 tấn/ ha, gia súc thích ăn loại cỏ này nhưng năng suất thấp dặc biệt trong mùa khô
Những năm gần đây nước ta đã nhập nhiều các giống cây Họ đậu và cỏ hoà thảo nhiệt đới (chủ yếu từ Oxtraylia và Cuba) và đã tiến hành trồng thí nghiệm ở một số địa phương Một số giống đã được đưa vào sản xuất như cỏ
Pangola (Digitaria decumbes) cây đậu Stylo (Stylosanthes) Nhiều nông trường và hợp tác xã cũng đã trồng cỏ Voi, cỏ Xuđăng, cỏ Pangola Kết quả
thu hoạch các loại cỏ đó cho biết, nếu mỗi năm cắt được 3 - 4 lứa thì có thể đạt năng suất 50 - 60 tấn/ha, trồng qua 3 - 4 năm cỏ vẫn phát triển tốt (Trương Tấn Khanh và cs, 1999) [41] Theo Nguyễn Ngọc Hà và cs (1985)[23] đã tiến hành nghiên cứu, tuyển chọn tập đoàn cỏ nhập nội và đưa ra nhận xét: Nhóm
cỏ thân cụm Panicum maximum Liconi và K280 cho năng suất trung bình 17 -
18 tấn VCK/ha/năm với 7 - 8 lứa cắt
Trong thời gian 10 năm trở lại đây, thông qua hoạt động hợp tác Quốc
Tế và từ nhiều nguồn khác nhau, chúng ta đã nhập trên 100 giống cây thức ăn hoà thảo và họ đậu có nguồn gốc nhiệt đới (CSIRO, CIAT, Philippin, Inđônêsia, Thái Lan), nhằm phát triển khả năng sản xuất thức ăn xanh cho chăn nuôi Một số giống cỏ nhập nội đã được đánh giá, kết quả tốt và ứng dụng vào sản xuất ở một số vùng Tuy nhiên, do không có sự quản lý, chỉ đạo thống nhất cho nên một số giống sau khi đánh giá đã bị thất lạc, mất đi hoặc chưa có điều kiện thử nghiệm ở các vùng khác để có cơ sở chắc chắn mở rộng
ra sản xuất
Theo Viện Chăn nuôi Quốc gia (2012) [70] Trung tâm nghiên cứu bò
và đồng cỏ Ba Vì đã nghiên cứu tuyển chọn tập đoàn cây hòa thảo nhập nội
Trang 39tại Nông trường Ba Vì Trong 28 giống cỏ được nghiên cứu thì các tác giả cho
thấy: Trong những giống thuộc thân đứng thì cỏ Kingrass và voi selection 1 là
tốt hơn cả, năng suất 150 - 180 tấn/ha/năm Nhóm thân bụi có cỏ Ghine với
hai chủng Uganda và Australia là tốt hơn, năng suất 70 - 100 tấn/ha/năm Nhóm thân bò thì cỏ Pangola Pa 32 là tốt hơn năng suất 60 - 80 tấn/ha/năm
Theo Trương Tấn Khanh (2003) [42], nghiên cứu tập đoàn cây thức ăn gia súc tại Đắc Lắc, trồng thử nghiệm một cây thức ăn gia súc trong các trại vùng
trung du miền núi phía bắc cho thấy giống cỏ lông Para có năng suất 89-98
tấn/ha với khối lượng xanh thu trong mùa đông 35 - 45 tấn/ha, tương đương
39 - 47% khi trồng trên đất có độ ẩm cao và có ngập nước Theo Davis V, (1960)[20] trồng thử nghiệm một số loài cây thức ăn gia súc nhập nội và cải tạo đất, trong đó tác giả đưa vào nghiên cứu 24 loại cây họ đậu và 18 loài hòa thảo nhằm mục đích tìm ra một số cây vừa làm thức ăn gia súc, vừa có tác dụng chống xói mòn và cải tạo đất, phù hợp với khí hậu vùng trung du Bắc
Bộ Trong các giống cỏ trồng thử nghiệm tác giả đã kết luận ưu điểm của các
giống cỏ Brachiria brizantha CIAT 16835 và cỏ Brachiria ruziensis ex Ngoài
ra, tác giả đề cập đến 2 giống cỏ triển vọng là Paspalum atratum BRA 9610 Paspalum guenoarum BRA 3824
Tại Trung tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền núi - Thái Nguyên, tác giả Nguyễn Văn Quang (2002) [56] khi nghiên cứu so sánh về tốc độ sinh trưởng, năng suất, chất lượng, tính ngon miệng của 5 giống cỏ nhập nội cho biết: Cả 5 giống cỏ đều có tốc độ sinh trưởng khá cao từ 1,45-
1,82 cm/ngày Trong đó 2 giống cỏ Paspalum astratum và Panicum maximum
TD 58 có tốc độ sinh trưởng cao nhất (1,82 và 1,70 cm/ngày) Nghiên cứu khả năng sản xuất chất xanh và ảnh hưởng của phân bón đến năng suất của một số giống cỏ trong mô hình xen với cây ăn quả trên đất đồi Bá Vân - Thái
Nguyên, trong đó có 3 giống cỏ là B decumbens, Setaria splendida, Panicum maximum TD58 Kết quả cho thấy 3 giống cỏ trồng xen lẫn với cây ăn quả ở
Trang 40đất đồi Bá Vân đạt 60,1 - 79,3 tấn/ha/năm Năng suất VCK 10,2 - 12,2 tấn/ha, năng suất protein 1 - 1,3 tấn/ha; khi đầu tư phân chuồng ở mức 10 - 20 tấn/ha Theo Lê Hòa Bình, (1994)[5 ] cho biết thảm có voi xen canh với các cây họ đậu trong các điều kiện phân bón hạn chế đạt năng suất chất xanh 139 - 142 tấn/ha, tăng 24 - 27 tấn/ha so với đối chứng cỏ voi thuần
Theo Nguyến Văn Lợi và cs (2004) [47], đã nghiên cứu xây dựng mô hình thử nghiệm thâm canh, xen canh cỏ hòa thảo, họ đậu làm thức ăn cho gia súc tại Thái Nguyên, năng suất các giống cỏ đạt từ 90 -179 tấn/ha trong điều kiện trồng thuần; 93 - 138,5 tấn /ha trong điều kiện xen với cây ăn quả; 17 - 18,9 tấn /ha trong điều kiện trồng theo băng ; 28,5 - 36,9 tấn/ha trong kiều kiện trồng theo đường đi
Tháng 7/2004, viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam thuộc
Bộ Nông nghiệp và PTNT đã triển khai thực hiện dự án “Trồng thử nghiệm tập đoàn giống cỏ nhập nội nuôi bò” tại xã Cam Sơn, An Thạch (Mỏ Cày),
Hữu Định (Châu Thành) và An Đức (Ba Tri) đã đưa ra kết luận: Cỏ Voi chiếm ưu thế hơn cả, nếu trồng chuyên canh trên nền đất trống, năng suất đạt 29,04 tấn/ha/lứa, trồng xen vườn dừa là 15,18 tấn/ha, trồng xen vườn ăn trái là
25 - 27 tấn/ha Đứng thứ hai là cỏ Sả lá lớn, trồng thâm canh là 23,11 tấn/ha, trồng xen vườn dừa là 11,77 tấn/ha, trồng xen vườn cây ăn trái là 20,4 - 21,4
tấn/ha Tiếp theo là cỏ Ruzi, cỏ Sả lá nhỏ và cỏ lông tây Theo (Lê Hòa Bình
và cs, 1992) [6] tiến hành thí nghiệm trồng cỏ tại vùng khô hạn tỉnh Ninh
Thuận Các tác giả cho biết các giống cỏ hòa thảo như voi, sả, cỏ Ruzi và Paspalum đều có thể sinh trưởng và phát triển trong điều kiện khô nóng tại
Ninh Thuận Trong điều kiện tưới nước phân bón năng suất có thể đạt 100 -
150 tấn/ha/năm Theo Hoàng Chung (2006) [14] tại Mai Sơn - Sơn La đã tiến hành tưới nước và bón phân cho cỏ trồng (voi, cỏ Ghine), tăng 1 - 2 lứa / năm, năng suất tăng từ 1,9 đến 2,16 lần, năng suất tăng từ (100 tấn -120 tấn/ha)