1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh gi á khả năng tri ển khai chi trả dị ch vụ môi trường rừng trực tiếp tại thôn bản duống, xã hoàng trĩ, huyện ba bể, tỉ nh bắc kạn

98 341 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 2,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, việc chi trả dịch vụ môi trường rừng còn nhằm đảm bảo tính toán đầy đủ những giá trị to lớn của rừng đóng góp vào tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế được thể hiện qua tá

Trang 1

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học: TS Lý Văn Trọng

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi, công trình được thực hiện trong thời gian từ tháng 11 năm 2014 đến tháng

9 năm 2015 Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Thái Nguyên, 2015

Tác giả

Ma Thị Ngần

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên theo chương trình đào tạo cao học chuyên ngành Lâm học khóa 21

(2014 - 2015)

Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn tác giả đã nhận được

sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu, Khoa Sau Đại học và các thầy, cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên các bạn bè đồng nghiệp và các cán bộ địa phương nơi tác giả thực hiện nghiên cứu Nhân dịp này tác giả xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ hiệu quả đó

Trước tiên, tác giả xin đặc biệt cảm ơn TS Lý Văn Trọng người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo, cán bộ thuộc dự án 3PAD và Vườn quốc gia Ba Bể, UBND các xã Nam Mẫu, Hoàng Trĩ đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong việc thu thập số liệu ngoại nghiệp để thực hiện luận văn này Tôi cũng xin cam đoan số liệu thu thập, kết quả nghiên cứu là trung thực và được trích dẫn rõ ràng

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, 2015

Tác giả

Ma Thị Ngần

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH ix

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu 4

3 Phạm vi nghiên cứu 4

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

4.1 Ý nghĩa khoa học 4

4.2 Ý nghĩa thực tiễn 5

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ

CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 6

1.1 Cơ sở khoa học đề tài 6

Phương pháp xác định mức chi trả 10

1.2 Những kinh nghiệm trên thế giới và trong nước về chi trả dịch vụ

môi trường 11

1.2.1 Chi trả dịch vụ môi trường trên thế giới 11

1.2.2 Chi trả dịch vụ môi trường ở Việt Nam 14

1.2.2.1 Chính sách chi trả dịch vụ môi trường 14

1.2.2.2 Một số bài học kinh nghiệm ở Sơn La và Lâm Đồng 17

1.2.2.3 Thí điểm chi trả DVMT tại tỉnh Bắc Kạn 19

1.3 Đặc điểm khu vực nghiên cứu 23

Trang 6

1.3.1 Đặc điểm tự nhiên và nguồn tài nguyên thiên nhiên 23

1.3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 23

1.3.1.2 Các nguồn tài nguyên 25

1.3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 26

1.3.2.1 Dân tộc, dân số và lao động 26

1.3.2.2 Tình hình phát triển kinh tế 26

1.3.2.3 Hiện trạng xã hội 27

1.3.3 Đặc điểm môi trường rừng liên quan tới chi trả DVMT tại

khu vực Ba Bể 28

1.3.4 Hiện trạng về môi trường và kinh tế - xã hội của thôn Bản Duống và vùng hạ lưu liên quan đến chi trả DVMT 29

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 31

2.1 Đối tượng, phạm vi thời gian nghiên cứu 31

2.2 Nội dung nghiên cứu 31

2.2.1 Các điều kiện bối cảnh thử nghiệm chi trả DVMTR tại

khu vực nghiên cứu 31

2.2.2 Tiến trình thực hiện PES 31

2.2.3 Đánh giá kết quả thực hiện hoạt động PES tại Bản Duống đến thời điểm hiện tại 31

2.2.4 Đề xuất, kiến nghị 32

2.3 Phương pháp nghiên cứu 32

2.3.1 Lựa chọn địa điểm nghiên cứu 32

2.3.2 Phương pháp kế thừa tài liệu số liệu thứ cấp 32

2.3.3 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 32

2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 34

2.3.5 Phương pháp chuyên gia 34

Trang 7

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35

3.1 Điều kiện, bối cảnh thử nghiệm chi trả DVMT rừng tại

khu vực nghiên cứu 35

3.1.1 Cơ sở pháp lý để triển khai chi trả DVMTR trực tiếp tại Bản Duống 35 3.1.2 Điều kiện chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Bản Duống 35

3.2 Tiến trình thực hiện PES, cơ cấu tổ chức và vai trò của các bên liên quan trong chi trả DVMTR tại Bản Duống 36

3.2.1 Tiến trình thực hiện PES 37

3.2.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ 38

3.3 Xác định giá trị môi trường rừng và mức chi trả, phương pháp chi trả, các điều khoản liên quan đến cơ chế thực hiện mô hình chi trả PES 39

3.3.1 Cơ sở tính toán giá trị môi trường rừng cho thôn Bản Duống 39

3.3.2 Mức chi trả cho mô hình PES tự nguyện 41

3.3.3 Phương thức chi trả, các điều khoản liên quan đến cơ chế thực hiện 42

3.3.3.1 Phương thức thanh toán và hướng sử dụng tiền chi trả: 42

3.3.3.2 Các điều khoản, cơ chế, giám sát đánh giá 43

3.4 Đánh giá kết quả thực hiện hoạt động PES tại Bản Duống đến thời điểm hiện tại 46

3.4.1 Kết quả đánh giá về tình hình quản lý và sử dụng quỹ PES 46

3.4.2 Kết quả đánh giá về sinh kế hộ gia đình thôn Bản Duống 48

3.4.3 Kết quả đánh giá mô hình chi trả DVMTR tại Bản Duống 49

3.4.4 Kết quả đánh giá tác động sau khi triển khai thực hiện của mô hình PES tại thôn Bản Duống 54

3.4.5 Kết quả phân tích những thuận lợi, khó khăn và đề xuất một số giải pháp thực hiện mô hình chi trả DVMTR tại Bản Duống 56

3.4.5.1 Kết quả phân tích những thuận lợi khó khăn trong quá trình thực hiện mô hình chi trả DVMTR tại thôn Bản Duống 56

Trang 8

3.4.5.2 Một số giải pháp cho mô hình PES tại Bản Duống 58

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60

1 Kết luận 60

2 Kiến nghị 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I Tài liệu tiếng Việt

II Tài liệu tiếng Anh

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

triển nông lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn

NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn

REDD/ REED+: Giảm phát thải khí nhà kính do mất rừng và suy

thoái rừng ở các nước đang phát triển

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Các bước thực hiện chi trả PES 37

Bảng 3.2 Bảng ước tính đóng góp thu nhập cho quỹ chi trả DVMTR từ DVMTR vẻ đẹp cảnh quan huyện Ba Bể 41

Bảng 3.3 Bảng mức chi trả mô hình chi trả PES tại thôn Bản Duống 41

Bảng 3.4 Bảng tiêu chí và chỉ số giao khoán DVMT rừng 45

Bảng 3.5 Sinh kế các hộ được phỏng vấn tại thôn Bản Duống 48

Bảng 3.6 Nguồn thu nhập từ hoạt động lâm nghiệp (Thôn Bản Duống) 49

Bảng 3.7 Biểu tổng hợp ý kiến quá trình thực hiện HĐ chi trả DVMTR 49

Bảng 3.7A Đánh giá về thực hiện hợp đồng chi trả DVMTR 50

Bảng 3.7B Đánh giá về thực hiện hợp đồng 52

Bảng 3.8 Tổng hợp những khó khăn quá trình triển khai mô hình PES

tại Bản Duống 57

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Hình ảnh vệ tinh vị trí xã Nam Mẫu và Hoàng Trĩ 24 Hình 1.2 Bản đồ huyện Ba Bể 28 Hình 3.1 Cơ cấu tổ chức của mô hình chi trả PES tại Bản Duống 38

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Hiện nay, trên phạm vi cả nước công tác quản lý sử dụng rừng phòng hộ đang còn nhiều bất cập, các cơ chế hưởng lợi từ rừng phòng hộ ở những địa phương khác nhau đều áp dụng theo những chính sách, quy định duy nhất đang bộc lộ những thực tế không hợp lý, hiệu quả Hơn nữa, các chính sách về hưởng lợi từ rừng phòng hộ hiện nay như QĐ 178/2001/TTg và Thông tư 35/2011/ TT- BNNPTNT tạo rất ít cơ hội cải thiện đời sống mọi mặt của những

hộ dân, cộng đồng là chủ rừng phòng hộ, vì gần như chưa có nguồn lợi khả dĩ nào mà họ được thực sự tiếp cận Các chương trình, dự án quốc gia như 661,

147 dần dần kết thúc, có nghĩa rằng nguồn hỗ trợ tuy ít ỏi, duy nhất đối với những cộng đồng dân cư nghèo, sống gần như phụ thuộc vào rừng cũng không còn được tiếp tục duy trì Những bất cập nêu trên là nguyên nhân chủ yếu của một thực tế là: rừng vẫn bị mất (kể cả rừng đặc dụng và rừng phòng hộ) hoặc

suy thoái và người dân sống cận kề vẫn còn nhiều khó khăn về sinh kế

Chi trả dịch vụ môi trường rừng được coi là một cơ hội cho người dân tăng thu nhập và tăng lựa chọn cho sinh kế bền vững, bên ngoài giá trị lâm sản hàng hóa của rừng Ngoài ra, việc chi trả dịch vụ môi trường rừng còn nhằm đảm bảo tính toán đầy đủ những giá trị to lớn của rừng đóng góp vào tăng trưởng

và phát triển của nền kinh tế được thể hiện qua tác dụng nhiều mặt của rừng như bảo đảm nguồn nước, tích trữ các-bon, giảm khí thải nhà kính, vẻ đẹp cảnh quan, bảo vệ đất và giảm thiểu tác hại của thiên tai như hạn hán và lũ lụt [3]

Mục tiêu của PFES tại Việt Nam là: bảo vệ diện tích rừng hiện có, nâng cao chất lượng rừng, gia tăng đóng góp của ngành lâm nghiệp vào nền kinh tế quốc dân, giảm nhẹ gánh nặng lên ngân sách Nhà nước cho việc đầu tư vào bảo vệ và phát triển rừng và đảm bảo an sinh xã hội của người làm nghề rừng Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có những đánh giá và nghiên cứu toàn diện về

Trang 13

thực trạng triển khai PFES ở Việt Nam, đặc biệt là những cơ chế, phương thức, hình thức chi trả ở những địa phương có đặc thù khác nhau để dần hoàn thiện về chính sách chi trả dịch vụ môi trường Trong các dịch vụ môi trường

đã được quy định, dịch vụ phòng hộ đầu nguồn (bảo vệ đất, hạn chế xói mòn

và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và xã hội) đã thu được một số thành tựu quan trọng, đồng thời cũng đang nỗ lực rút ra các bài học kinh nghiệm cho việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức cho thực hiện PFES

Chi trả dịch vụ môi trường trực tiếp được áp dụng trong trường hợp bên

sử dụng dịch vụ môi trường rừng có khả năng và điều kiện thực hiện việc trả tiền thẳng cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng không cần thông qua tổ chức trung gian Chi trả trực tiếp được thực hiện trên cơ sở hợp đồng thỏa thuận tự nguyện giữa bên sử dụng và bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng phù hợp với quy định tại các Nghị định và Thông tư này và là hình thức chi trả có tính hiệu quả, khả năng bền vững cao nhất, nhưng cũng là hình thức khó xác lập nhất và gặp nhiều trở ngại trong việc xác định lượng chi trả, phương thức chi trả và quá trình đánh giá giám sát…

Hiện nay, ở khu vực Vườn quốc gia Ba Bể, kể cả vùng lõi và vùng đệm, nguồn cung cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất, đặc biệt là phục vụ du lịch sinh thái ở những khu vực thấp: mặt hồ, các thôn bản chuyên làm du lịch như

Bó Lù, Pác Ngòi… , ruộng vườn xung quanh hồ phụ thuộc rất nhiều vào việc giữ được các khu rừng đầu nguồn ở các thôn bản vùng cao như Bản Duống và một số thôn vùng cao khác

Những hậu quả của việc mất rừng, suy thoái rừng, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường đã và đang là mối quan tâm đặc biệt của các tổ chức, cá nhân đối với hệ sinh thái của Vườn quốc gia Ba Bể như bồi lắng tại Hồ Một (gần thôn Pác Ngòi, Bó Lù), nguồn nước không ổn định, đất bị xói mòn gần các thôn Đán Mẩy, Khâu Qua, Cốc Tộc…

Trang 14

Thôn Bản Duống thuộc xã Hoàng Trĩ, có vai trò rất quan trọng, đó là thôn vùng cao thượng nguồn của Hồ Ba Bể và các thôn, xã liên quan khác ở vùng dưới

Các thôn bản vùng thấp, các cơ sở kinh doanh, dịch vụ có điều kiện phát triển du lịch như: trực tiếp cung cấp các dịch vụ du lịch như tham quan, nhà nghỉ, xuồng máy, thuyền độc mộc chở khách hay cung cấp lương thực, thực phẩm, hàng hóa cho khách du lịch và các nhà nghỉ phục vụ du lịch Các

hộ vùng thấp này có thu nhập ổn định, nhiều hộ có thu nhập cao, VQG Ba Bể cũng đang dần dần hoàn thiện các hoạt động bảo tồn và phát triển Trong khi

đó, các thôn vùng cao không có những lợi thế như vậy Tuy nhiên, nếu các thôn vùng cao như Bản Duống không giữ được rừng (rừng phòng hộ và cả rừng sản xuất) thì không chỉ nguồn nước mà còn nhiều điệu kiện cần thiết khác để các thôn vùng thấp tồn tại và phát triển sẽ không được đảm bảo Một

cơ chế chia sẽ lợi ích phù hợp về khai thác tài nguyên sinh thái giữa các thôn bản và các đơn vị kinh doanh dịch vụ ở hai vùng đó cần được nghiên cứu, triển khai áp dụng và sẽ có ý nghĩa thực tế quan trọng cho các trường hợp tương tự cũng như với mục tiêu mở rộng

Từ nhu cầu thực tế cấp bách trên, Dự án 3PAD, được sự phê duyệt của UBND tỉnh Bắc Kạn đã triển khai thí điểm một số phương án về Chi trả dịch

vụ môi trường với hình thức gián tiếp (tại thôn Lẻo Keo, xã Quảng Khê, thôn

To Đooc, xã Lạng San - Na Rỳ và thôn Khuổi Tuốn, xã Nghiên Loan- huyện Pác Nặm) và trực tiếp (tại thôn Bản Duống) nhằm giải quyết được yêu cầu của cả nhiều bên tham gia và từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm để dần

mở rộng triển khai đến các thôn bản khác của vùng đệm VQG Ba Bể và các địa phương khác

Tại Bản Duống, phương án chi trả đã thực hiện được hơn hai năm, đã thực hiện chi trả được 3 lần, một số kết quả bước đầu đã thu nhận được Tuy nhiên, để bước đầu đánh giá, kịp thời rút ra những bài học, ưu, nhược điểm để

Trang 15

bỗ khuyết cho các bước tiếp theo, cũng như có thể mở rộng sang các thôn khác, như thôn Nà Diếu… chẳng hạn, cần có những nghiên cứu, đánh giá một

cách khoa học Đề tài “Đánh giá khả năng triển khai Chi trả dịch vụ môi

trường rừng trực tiếp tại thôn Bản Duống, xã Hoàng Trĩ, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn” xuất phát từ nhu cầu thực tế trên Kết quả nghiên cứu nhằm

bước đầu phục vụ cho việc khắc phục những bất cập, tồn tại và đóng góp những bài học kinh nghiệm cho quá trình hoàn thiện về phương án chi trả cũng như góp phần hoàn thiện chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ

về chi trả dịch vụ môi trường rừng, hướng tới quản lý sử dụng rừng và đất lâm nghiệp bền vững

2 Mục tiêu

- Đánh giá được những kết quả bước đầu về thực hiện chi trả: cơ chế, tính tự nguyện, khả năng bền vững, khả năng mở rộng, các bất cập và hướng khắc phục

- Bước đầu đề xuất được các kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách chi trả DVMT

3 Phạm vi nghiên cứu

Thôn Bản Duống xã Hoàng Trĩ và các thôn liên quan như Bó Lù, Pác Ngòi (xã Nam Mẫu); các hộ làm dịch vụ xuồng máy, các nhà nghỉ phục vụ du lịch, VQG Ba Bể

Các hoạt động chi trả DVMTR của dự án 3PAD

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trang 16

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Là một trong những bài học kinh nghiệm thực tế về chi trả DVMT có thể vận dụng, áp dụng một cách thích hợp ở các địa phương, các dự án có điều kiện tương tự, đặc biệt là việc vận động các chủ thể khác như HTX xuồng, nhà nghỉ

tự nguyện đóng góp cho quỹ bảo vệ phát triển rừng tại Bản Duống, các đối tượng này chưa được quy định trong Nghị định 99/2010/NĐ-CP;

Là cơ sở cho các hình thức chi trả tiềm năng khác như chi trả gián tiếp, qua trung gian… tham khảo, học hỏi

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 1.1 Cơ sở khoa học đề tài

Chi trả dịch vụ môi trường (Payments for Environment Services - PES) hay chi trả dịch vụ hệ sinh thái (Payments for Ecosystem Services) là công cụ kinh tế, sử dụng để những người được hưởng lợi từ các dịch vụ hệ sinh thái sẽ chi trả cho những người tham gia duy trì, bảo vệ và phát triển các chức năng của hệ sinh thái đó

Một hệ sinh thái phát triển tốt với đầy đủ chức năng có thể cung cấp một loạt các dịch vụ thiết yếu cho xã hội và con người, mang lại rất nhiều lợi ích, những lợi ích này được gọi là dịch vụ hệ sinh thái hay dịch vụ môi trường

Theo Costanza và cs (1997) [22] các dịch vụ môi trường là "những lợi ích của các hệ sinh thái rừng cung cấp cho hộ gia đình, cộng đồng và nền kinh tế" Cụ thể hơn, chức năng của hệ sinh thái rất đa dạng như môi trường

sống, các đặc tính sinh học hoặc hệ thống, hoặc các quá trình của hệ sinh thái Các loại sản phẩm từ hệ sinh thái (chẳng hạn như thực phẩm) và dịch vụ (chẳng hạn như đồng hóa chất thải) thể hiện qua lợi ích mà các cộng đồng

người thu được, trực tiếp hay gián tiếp, từ các chức năng hệ sinh thái

Theo Wunder và cs (2005) [23] Chi trả dịch vụ môi trường được hiểu

là cam kết tham gia hợp đồng trên cơ sở tự nguyện, có ràng buộc về mặt pháp

lý Với hợp đồng này thì một hay nhiều người mua dịch vụ sẽ chi trả bằng cách trả tiền mặt hoặc các hỗ trợ cho một hoặc nhiều người bán (hay còn gọi

là „người cung cấp dịch vụ sinh thái‟) Người bán người cung cấp dịch vụ này

có trách nhiệm đảm bảo một loại hình sử dụng đất nhất định cho một giai đoạn xác định để đảm bảo các dịch vụ môi trường thoả thuận

Theo IUCN thì dịch vụ môi trường là “Các điều kiện và các mối hệ mà thông qua đó các hệ sinh thái tự nhiên và các loài phát triển tồn tại và phục

Trang 18

vụ cho cuộc sống con người IUCN cũng đưa ra khái niệm về chi trả dịch vụ môi trường được đưa ra như sau “Người mua tự nguyện đồng ý trả tiền hoặc các khuyến khích khác để chấp nhận và duy trì các biện pháp quản lí tài nguyên thiên nhiên và đất bền vững hơn mà nó cung cấp dịch vụ hệ sinh thái xác định”

Trên thế giới PES đã được chú ý thực hiện từ những năm 90 của thế kỉ

20 trong những năm gần đây khái niệm về PES đã được đề cập và thực thi ở nhiều nước, nhiều khu vực trên thế giới PES được xem như là một cơ chế tài chính để giảm nghèo, bảo vệ thiên nhiên và đa dạng sinh học, vì một thế giới phát triển bền vững hơn

Hiện nay biến đổi khí hậu đang là vấn đề quan tâm vì nó đã gây ra nhiều tác động xấu cho con người theo Nguyễn Đức Ngữ và cs (2007) [13] thì chính

là do nồng độ khí CO2 trong không khí đã tăng lên quá nhanh trong cuối thế kỷ

XX và đầu thế kỷ XXI, cũng như nhiều tài liệu, ông đã dẫn ra tỷ lệ hàm lượng các khí chính trong không khí là N chiếm 78%, O2 chiếm 19%, vậy là còn 1% nữa gồm hàng chục loại khí khác như hơi nước H2, CO2, NH4, CFC, NO2 và nhiều thứ khí khác, trong đó CO2 và CFC có tác dụng lớn nhất trong việc tác động vào bức xạ mặt trời gây hiện tượng nhiệt độ tăng cao khí CFC (Chlorofluoro Carbon) cũng tác động tích lũy bức xạ rất cao do con người hiện đại phát triển công nghiệp làm lây lan vào không khí (chất khí làm giảm nhiệt trong tủ lạnh) nhưng vì hàm lượng quá nhỏ nên chỉ CO2 là đáng kể Cuối cùng tội phạm lớn nhất là CO2, hàng ngàn năm trước giữ hàm lượng không đổi là 280 ppm, chỉ trong 30 năm nó đã lên tới 370 ppm (từ năm 1070 đến năm 2000, đơn

vị ppm là phần triệu Giải pháp giảm phát thải bằng cách hấp thụ bớt nồng độ

CO2 trong không khí từ quá trình quang hợp của rừng Nếu bảo vệ không mất rừng, không suy thoái rừng thì giải pháp này có thể làm giảm phát thải tới 20% trong tổng số các giải pháp mà lại tạo ra được các sản phẩm hữu cơ như gỗ, lâm

Trang 19

sản ngoài gỗ, vì vậy sáng kiến này gọi là giảm phát thải từ hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, viết tắt là REDD+

Theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP [16], dịch vụ môi trường rừng là công việc cung ứng các giá trị sử dụng của môi trường rừng để đáp ứng các nhu cầu của xã hội và đời sống của nhân dân, bao gồm các loại dịch vụ: bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối, điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội, hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển rừng bền vững, bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch và dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn

và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản Nghị định 99 tạo ra cơ sở pháp lý cho các tỉnh để đề nghị các nhà máy thủy điện, công ty cung cấp nước sạch và các đơn vị kinh doanh du lịch chi trả một phần nhất định từ doanh thu của họ cho bên cung cấp dịch vụ môi trường Ví dụ về bên cung cấp DVMT như các chủ sử dụng đất và những người bảo vệ rừng Các DVMT quy định trong chính sách này rất rõ ràng là cung cấp nước, vẻ đẹp cảnh quan, lâm sản, nguồn gen, đa dạng sinh học, và chống xói mòn và lũ lụt Các loại rừng được chi trả DVMT rừng bao gồm: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất Theo nghị định này có 2 hình thức chi trả DVMTR là chi trả trực tiếp và chi trả gián tiếp

Hình thức chi trả trực tiếp là bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng trả

tiền trực tiếp cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng Đối với loại hình chi

trả này được áp dụng trong trường hợp bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng

có khả năng và điều kiện việc thực hiện chi trả thẳng cho bên cung ứng dịch

vụ môi trường rừng không cần qua tổ chức trung gian Ở Việt Nam chi trả trực tiếp được thực hiện trên cơ sở hợp đồng thỏa thuận tự nguyện giữa bên

Trang 20

sử dụng và cung ứng dịch vụ môi trường rừng phù hợp với các quy định tại nghị định 99/ NĐ-CP trong đó mức chi trả không thấp hơn mức do Nhà nước quy định tại nghị định đối với cùng một loại dịch vụ môi trường

Hình thức chi trả gián tiếp là hình thức chi trả cho những người thực hiện bảo tồn, gìn giữ hệ sinh thái và không nhất thiết cần phải có hợp đồng với các chủ sử dụng đất Hình thức chi trả này được áp dụng trong trường hợp bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng không có khả năng và điều kiện trả tiền trực tiếp cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng mà thông qua các tổ chức trung gian Ví dụ cho hình thức chi trả gián tiếp là một số mô hình PES do dự

án RUPES thực hiện ở các nước Đông Nam Á Việc chi trả cho cộng đồng có thể ở dạng hỗ trợ xã hội như làm đường, xây trường học hay trạm y tế, hoặc là trao quyền tiếp cận đối với tài nguyên hoặc các ưu tiên khác Tuy nhiên, việc

này làm giảm tính điều kiện của việc chi trả vì việc chi trả không thể bị cắt

nếu dịch vụ môi trường không được cung cấp Tính điều kiện thấp thường là đặc điểm của các hình thức PES/RES do Chính phủ khởi xướng, với ưu điểm

là chi phí ban đầu thấp và có tính hiệu quả về mặt chi phí hành chính Nhiều sáng kiến PES/RES thường rất ít khi được giám sát, thậm chí không hề được giám sát, trong khi công trình đã được hỗ trợ xây dựng hoặc tiền được trả trước chứ không phải là định kỳ

Ở Việt Nam, theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP, chi trả gián tiếp là bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng ủy thác qua Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam hoặc Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh hoặc cơ quan tổ chức làm thay nhiệm vụ của Quỹ bảo

vệ và phát triển rừng cấp tỉnh do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định

Một số nguyên tắc trong xây dựng cơ chế chi trả đền đáp dịch vụ môi trường

Van Noordwijk và cs [24] đã đưa ra bốn nguyên tắc để xây dựng cơ

chế đền đáp cần đảm bảo, bao gồm:

Trang 21

„Tính thực tế‟: việc chi trả phải gắn kết với các mức thay đổi đo đếm

được của dịch vụ môi trường;

„Tính điều kiện‟: chi trả dựa trên hiệu quả và, nếu có thể, kết quả đầu

ra „Tính điều kiện‟ cũng có nghĩa việc chi trả chỉ được thực hiện nếu người cung cấp dịch vụ tuân thủ hợp đồng Tính điều kiện đồng thời yêu cầu các chính sách và khung thể chế hỗ trợ cùng với sự giám sát hiệu quả và phạt vi phạm đối với các trường hợp không tuân thủ, điều mà rất nhiều mô hình PES khó đạt được trên thực tế

„Tính tự nguyện‟: chi trả dựa trên sự đồng thuận một cách tự do và

được thông tin trước của tất cả các bên, với mức đền đáp phù hợp với tất cả mọi bên tham gia; và

„Tính hướng nghèo‟: (hoặc ít nhất không làm tăng sự bất bình đẳng),

tức là giảm được nghèo hoặc không làm sâu thêm sự chênh lệch giàu nghèo tại cộng đồng tham gia cung cấp DVMT

Phương pháp xác định mức chi trả

Theo 4 nguyên tắc trên, lượng chi trả cho dịch vụ môi trường thường được xác định dựa trên những lựa chọn của người mua và người bán, các cân nhắc về cung cầu, công bằng, khả năng tài chính, và tính hiệu quả

Xác định được mức chi trả/đền đáp hoặc giá hợp đồng nhằm phản ánh được giá trị của việc bảo tồn đồng thời bù đắp cho những chi phí cơ hội c ủa chủ sở hữu đất những người cung cấp dịch vụ Nếu mức chi trả quá thấp, các nhà cung cấp dịch vụ tiềm năng có thể sẽ không tham gia bởi vì chi phí của việc chuyển đổi hình thức sử dụng đất hoặc gìn giữ duy trì nguồn dịch vụ của

họ còn nhiều hơn mức chi trả cho họ Nếu như mức chi trả quá cao thì ngân sách hoặc bên chi trả sẽ cạn kiệt nhanh chóng và sẽ không thể thực hiện cung cấp được dịch vụ ở mức phù hợp

Trang 22

Đấu giá và đấu giá ngược (RA) trong chi trả DVMT:

Đấu giá là một giải pháp tiềm năng đối với những vấn đề trên Những nông dân mong muốn tham gia vào một dự án chi trả DVMT thường đưa ra các mức giá theo số tiền mà họ sẵn sàng chấp nhận để thay đổi một hình thức

sử dụng đất hay gìn giữ hệ sinh thái theo khuyến nghị nhằm cung cấp dịch vụ môi trường nhất định Việc lựa chọn các nhà cung cấp với mức giá thấp nhất đối với bên hưởng lợi từ DVMT đặt ra một mức giá cho hoạt động chi trả DVMT theo cách minh bạch và khách quan Trong đấu giá ngược, vai trò của người mua và người bán được đảo ngược lại; chính những người bán hay những nông dân sẽ cung cấp cho người mua dịch vụ một dịch vụ môi trường

ở mức giá tối thiểu mà họ sẵn sàng chấp nhận [3]

Ví dụ, Chương trình Quỹ Bảo tồn của Mỹ (CRP) trả tiền hàng năm cho nông dân để họ bảo vệ những vùng đất dễ bị tổn thương về mặt sinh thái để khỏi bị xói mòn Nông dân bỏ thầu theo một quy trình đấu giá trong đó gói thầu của họ được cân nhắc trên cơ sở chỉ số về mặt môi trường dùng để cho điểm cho các lô đất vì những lợi ích mà các lô đất đó cung cấp Trên cả nước, vài triệu h c-ta đã được đăng ký tham gia Chương trình CRP thông qua đấu giá Tương tự, Chương trình Bush Tender ở c cũng sử dụng đấu giá về bảo tồn để khuyến khích bảo vệ hệ thực vật và đa dạng sinh học trên đất tư

1.2 Những kinh nghiệm trên thế giới và trong nước về chi trả dịch vụ môi trường

1.2.1 Chi trả dịch vụ môi trường trên thế giới

Mặc dù PES là một khái niệm mới, được đưa vào tư duy và thực tiễn bảo tồn gần một thập kỷ trở lại đây, tuy nhiên, nó đã nhanh chóng trở nên phổ biến ở một số nước Sự phát triển của PES ngày càng được lan rộng và ở một

số nước PES còn được thể chế hoá trong các văn bản pháp luật Hiện nay, PES đã nổi lên như một giải pháp chính sách để khuyến khích, chia sẻ các lợi

ích trong cộng đồng và xã hội

Trang 23

Các nước phát triển ở Mỹ La Tinh đã sử dụng các mô hình PES sớm nhất Ở châu Âu, Chính phủ một số nước cũng đã quan tâm đầu tư và thực hiện nhiều chương trình, mô hình PES Ở châu c, Australia đã luật pháp hoá quyền phát thải cácbon từ năm 1998, cho ph p các nhà đầu tư đăng ký quyền

sở hữu hấp thụ cácbon của rừng PES cũng đã được phát triển và thực hiện thí điểm tại châu Á như Indonesia, Philippines, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal và Việt Nam Đặc biệt là Indonesia và Philippines đã có nhiều nghiên cứu điển hình về PES đối với quản lý lưu vực đầu nguồn [15]

Cho đến nay, hàng trăm sáng kiến mới về PES đã được xây dựng trên khắp toàn cầu Costa Rica, Mexico và Trung Quốc đã xây dựng các chương trình PES quy mô lớn, chi trả trực tiếp cho các chủ đất để thực hiện các biện pháp sử dụng đất nhằm tăng cường cung cấp các dịch vụ thuỷ văn, bảo tồn đa dạng sinh học, chống xói mòn, hấp thụ cácbon và vẻ đẹp cảnh quan [14]

Vitel Công ty nước khoáng của Pháp

Một công ty nước khoáng Perial Vitel của Pháp đã trả tiền ưu đãi để nông dân thượng lưu và những người tham gia vào việc bảo tồn rừng cung cấp nước sạch Công ty nước khoáng này đã thành lập một tổ chức có tên là

"Agrivear" để hỗ trợ cho nông dân thay đổi hệ thống canh tác Từ năm 1993 đến năm 2000 Công ty này đã đầu tư 420 - 500 triệu USD $ hỗ trợ nông dân thông qua các hoạt động nông nghiệp, như chăn nuôi bò sữa, sử dụng tối thiểu các chất độc hại và thuốc trừ sâu, giảm số lượng gia súc và sản xuất phân hữu

cơ từ phân và nước tiểu của chúng, theo đó có ít tác động đến hệ sinh thái [9]

Bảo tồn đầu nguồn Bhoj ở Ấn Độ

Có hai hồ nhân tạo ở Bhopal, đó là nguồn nước sinh hoạt chính cho khoảng 1,8 triệu người sống ở Bhopal Các hồ đã phải đối mặt với các vấn đề khác nhau như sự ô nhiễm của hệ thống thoát nước, sử dụng phân bón hóa học, các hoạt động nông nghiệp không phù hợp, giảm chất lượng nước, giảm

Trang 24

khả năng chứa do sự bồi lắng, và tác dụng phụ trên các máy lọc nước Để giảm thiểu những vấn đề này, Winrock International Ấn Độ (WII) phối hợp với Viện Môi trường và Phát triển Quốc tế (IIED) đã phát triển một cơ chế khuyến khích (IBM) và hỗ trợ người dân sống ở thượng nguồn để thay đổi từ

hệ thống nông nghiệp dựa trên phân bón vô cơ sang hệ thống sinh học Trong quá trình này, năng lực ra quyết định của người dân địa phương đã được cải thiện, trong khi cùng một lúc thu nhập của họ tăng và chất lượng nước cũng được cải thiện Khối lượng trầm tích trong hồ giảm Kết quả là, nó đã có thể

để cung cấp nước đảm bảo chất và số lượng cho thành phố liên tục Thành phố Bhopal thúc đẩy bảo vệ rừng và cung cấp các giải thưởng, hỗ trợ cho những người sống ở thượng nguồn để đảm bảo tính sẵn sàng liên tục của các nguồn nước và giảm lượng bồi lắng về những hồ nước từ lưu vực [9]

Chi trả dịch vụ nước và vẻ đẹp cảnh quan

Chi trả DVMT nước là cơ chế chi trả cho các chức năng của lưu vực, theo đó người sử dụng nước ở hạ lưu phải chi trả cho chủ rừng ở thượng lưu

để duy trì rừng chống xói mòn đất và nguy cơ lũ lụt; Cơ chế chi trả vẻ đẹp cảnh quan thường bao gồm chi trả phí vào cửa các khu vực bảo tồn để tạo nguồn quỹ bảo tồn thông qua du lịch; và du lịch dựa vào cộng đồng như là cơ

chế dịch vụ môi trường cho cả vẻ đẹp cảnh quan lẫn đa dạng sinh học

Trong bối cảnh đó, các mô hình dịch vụ môi trường hiện nay ở

xơ-ta Ri-ca là rất tương đồng Một trong các mô hình dịch vụ môi trường ở xơ-ta Ri-ca là một số khách sạn tham gia vào cơ chế chi trả dịch vụ môi trường để bảo vệ lưu vực Cơ sở của việc chi trả này là nhận thức về mối tương quan chặt chẽ giữa cung cấp dịch vụ môi trường nước do bảo vệ lưu vực và người hưởng là ngành du lịch Lý do là các hoạt động ngành du lịch phụ thuộc rất lớn vào trữ lượng và chất lượng nước Vì vậy, từ năm 2005 một

Cốt-số khách sạn chi trả hàng năm 45,5 đô-la Mỹ cho mỗi ha đất của các chủ đất

Trang 25

địa phương và trả 7% trong tổng số chi phí hành chính của mô hình chi trả dịch vụ môi trường Tuy nhiên, cũng ở Cốt-xơ-ta Ri-ca, “vẫn chưa có một cơ chế được thừa nhận chung nào dựa vào lợi ích của mọi người được chi trả trực tiếp từ vẻ đẹp cảnh quan và bảo tồn đa dạng sinh học” Du lịch dựa vào cộng đồng là một dạng cơ chế “kiểu dịch vụ môi trường” khác Ví dụ gần đây của một nghiên cứu một chương trình tại Tan-za-ni-a nhằm thiết lập chi trả dịch vụ môi trường, trong đó, một nhóm 5 công ty du lịch đã cùng nhau làm hợp đồng với một làng nằm trong khu vực đồng cỏ ở địa phương để bảo vệ các loài hoang dã chủ yếu thông qua chi trả tài chính hàng năm [12]

Chi trả DVMT rừng về tích lũy các-bon

Biến đổi khí hậu đã trở thành một chủ đề môi trường được quan tâm và thảo luận trong vòng 2 thập kỷ cuối vừa qua Nhằm đối phó với biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto đã được thông qua vào 11/12/1997 và có hiệu lực ngày 16/2/2005 Đây là một thỏa thuận quốc tế trong khuôn khổ Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, trong đó yêu cầu 37 nước công nghiệp và cộng đồng châu Âu phải cắt giảm phát thải khí nhà kính Tổng lượng cắt giảm đến thời kỳ 2012 tương đương với trung bình 5% của năm

1990 Nghị định thư Kyoto cho ph p các nước phát triển mua lượng khí cắt giảm được từ các quốc gia khác [10]

1.2.2 Chi trả dịch vụ môi trường ở Việt Nam

1.2.2.1 Chính sách chi trả dịch vụ môi trường

Năm 2008, Chính phủ Việt Nam đã bắt đầu thử nghiệm chi trả dịch vụ môi trường rừng (chi trả DVMTR) theo Quyết định 380 (QĐ-TTg ngày10/4/2008) Theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/09/2010 của Chính phủ, việc thực hiện chi trả DVMTR trên toàn quốc bắt đầu từ tháng 1 năm 2011[17]

Trang 26

PES đã được triển khai thí điểm tại hai tỉnh Sơn La và Lâm Đồng với các loại dịch vụ: điều tiết nguồn nước, hạn chế xói mòn bồi lấp và cảnh quan

du lịch

Luậ Đa dạng sinh học được thông qua tại Kỳ hợp thứ 4, Quốc hội khóa XII có quy định về tài chính cho bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học đề cập đến các nguồn thu của PES

Chính sách chi trả DVMTR theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP được triển khai trong cả nước đang trở thành nguồn thu quan trọng cho BV&PTR với nguồn thu ổn định trên 1.000 tỷ đồng/năm, tạo thêm động lực cho các chủ rừng trong việc bảo vệ rừng, đặc biệt là đối với người dân được giao, khoán rừng và đất lâm nghiệp Rừng là một bể chứa và hấp thụ các bon, phục hồi rừng tự nhiên (RTN) và trồng rừng mới thông qua quản lý bảo vệ tốt sẽ tăng khả năng chứa các bon của rừng và ngược lại mất rừng và suy thoái rừng do quản lý bảo vệ yếu k m sẽ làm giảm khả năng chứa và hấp thụ cac bon Theo đánh giá của FAO, rừng Việt Nam vào năm 2010 có sức chứa 992 triệu tấn các-bon trong sinh khối tươi, sẽ có cơ hội tham gia thị trường các bon, và đây

có thể là một nguồn thu có triển vọng về DVMTR cho giai đoạn sau 2020, đặc biệt đối với RTN mới phục hồi và nghèo kiệt

Mặc dù có khá nhiều hoạt động thí điểm được hỗ trợ bởi các nhà tài trợ cho loại dịch vụ thứ ba “lưu giữ carbon” (ví dụ, Lâm Đồng và Nghệ An) và dịch vụ thứ tư “cung cấp dịch vụ bãi đẻ, con giống tự nhiên, nguồn thức ăn và nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản” (ví dụ, Vườn quốc gia Xuân Thủy, tỉnh Bến Tre và Cà Mau), nhưng hầu hết các hoạt động thí điểm này vẫn đang trong giai đoạn thực hiện và các kết quả đầu ra chưa được tổng hợp

Vì vậy, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã đề nghị Thủ tướng Chính phủ tiếp tục tiến hành các hoạt động thí điểm này thêm 2-3 năm và sẽ tổng kết các bài học trước khi ban hành khung pháp lý và các hướng dẫn cho cơ chế PES đối với các dịch vụ này

Trang 27

Đối với dịch vụ lưu giữ carbon của rừng, Chính phủ đã phê duyệt Chương trình Hành động Quốc gia về Giảm phát thải khí nhà kính thông qua

nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý bền vững tài nguyên rừng, bảo tồn và nâng cao trữ lượng các bon rừng (REDD+) Việt Nam là một trong những quốc gia ủng hộ tích cực cho các hoạt động của REED+ và cũng là một trong những quốc gia đầu tiên thực hiện chương trình UN - REED và được Ngân hàng thế giới cam kết tài trợ cho dự án REDD+ [9]

Chi trả dịch vụ môi trường lưu giữ các-bon

Việt Nam đã thông qua nghị định thư Kyoto vào năm tháng 9 năm

2002 do nước ta là một trong các quốc gia dễ bị tổn thương nhất bởi biến đổi khí hậu Tiếp đến là việc thiết lập cơ chế phát triển sạch quốc gia (CNA) dưới

sự điều hành của Bộ Tài nguyên và Môi trường (MONRE) Chính phủ Việt Nam đã cố gắng thúc đẩy chương trình AR-CDM như một cách để phủ xanh 5,6 triệu hecta đất trống và cũng như một lựa chọn giải pháp về phát triển bền vững cho cộng đồng nông thôn nghèo ở Việt Nam Dự án trồng rừng Cao Phong đã trở thành dự án CDM đầu tiên ở Việt Nam trong lĩnh vực này được Ban Điều hành CDM thông qua năm 2009 Dự án nằm trên địa bàn 2 xã là Xuân Phong và Bắc Phong của huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình, cách Hà Nội khoảng 100km về phía Tây Tín chỉ các-bon của dự án này được tạo ra từ

việc trồng Keo (Acacia mangium và Acacia auriculiformis) trên 365 ha đất

bạc màu theo chu kỳ 15 năm Tổng lượng các-bon do dự án tạo ra hàng năm

là 2.665 tấn CO2 và dự án được đăng ký dưới dạng dự án CDM trồng rừng/tái trồng rừng quy mô nhỏ Dự án được hỗ trợ tài chính bước đầu bởi Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) và được thực hiện bởi Trường Đại học Lâm nghiệp, Trung tâm Sinh thái và Môi trường rừng, và Cục Lâm nghiệp (nay là

Tổng cục Lâm nghiệp) thuộc BNN&PTNT (UNFCCC, 2011) [18]

Trang 28

Chính phủ Việt Nam đã cam kết ở mức độ cao đối với REDD+ và hiện đang thiết kế một hệ thống chia sẻ lợi ích tổng hợp cho REDD+ Mục tiêu của Chính phủ là chuyển toàn bộ lượng giảm phát thải được chứng nhận thành khoản thu của REDD+ và phân phối một cách minh bạch, công bằng và hiệu quả tới các đối tác địa phương, đặc biệt là những người hưởng lợi cuối cùng Gần đây, Việt Nam đã được Ngân hàng Thế giới (World Bank) chấp nhận là thành viên của Quỹ đối tác các - bon ngành Lâm nghiệp (FCPF) [9]

Sáng kiến REDD nhằm giảm phát thải khí nhà kính từ việc bảo vệ không mất rừng và không suy thoải rừng được nhiều nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam tích cực và thiết thực tham gia Tiến trình thực hiện REDD+ có sự chỉ đạo quốc tế của các tổ chức LHQ hỗ trợ tài chính và kỹ thuật là thuận lợi cơ bản

để Việt Nam tích cực tham gia nhằm lợi ích lâu dài và bền vững Giai đoạn 1 đã cho kết quả nhiều kinh nghiệm, nhiều tổ chức cơ sở và kỹ thuật để áp dụng cho giai đoạn 2 Song cũng có nhiều thử thách khó khăn như về thể chế, chính sách đất đai quản lý cũng như trình độ kỹ thuật, dân trí đã được rút kinh nghiệm và khắc phục trong giai đoạn 1 Hy vọng rằng, nỗ lực của Việt Nam, với sự hỗ trợ đầy hiệu quả của các tổ chức quốc tế và trong nước, Chương trình sẽ đạt được mục đích giảm thiểu BĐKH, cải thiện đời sống và phát huy chức năng môi trường và phát triển bền vững của rừng [11]

1.2.2.2 Một số bài học kinh nghiệm ở Sơn La và Lâm Đồng

Thực hiện Quyết định 380 QĐ/- TTg của Thủ tướng chính phủ ban hành ngày 10 tháng 04 năm 2008 về việc thực hiện thí điểm chi trả dịch vụ môi trườg tại Sơn La và Lâm Đồng Tỉnh Lâm Đồng nhận được sự trợ giúp của tổ chức Winrock International qua Chương trình Bảo tồn đa dạng sinh học khu vực châu Á (ARBCP) của tổ chức này, còn tỉnh Sơn La được sự trợ giúp của Cơ quan hợp tác kỹ thuật Đức (GTZ) Các đối tượng hưởng lợi được xác định là các cong ty cấp nước và nhà máy thủy điện.Tổng số tiền các công

Trang 29

ty này chi trả bằng tiền mặt trong hai năm là 60,84 tỉ đồng ở tỉnh Sơn La (đã giải ngân 96,7%) và 107,81 tỉ đồng ở tỉnh Lâm Đồng (đã giải ngân 74%), tính đến năm 2012 Thêm vào đó, 9 công ty du lịch đã được xác định là đối tượng chi trả DVMTR.Tại Sơn La, tổng số hộ gia đình nhận chi trả là 52.000 hộ, với diện tích trung bình được chi trả là 7,54 ha rừng/hộ Tổng diện tích thí điểm chi trả chiếm 66% tổng diện tích rừng của toàn tỉnh Tại Lâm Đồng, ngoài các

hộ gia đình còn có các ban quản lý rừng, vườn quốc gia và công ty lâm nghiệp với vai trò là chủ rừng Các chủ rừng này đã lên kế hoạch giao khoán và hợp đồng với các hộ gia đình để quản lý rừng Tổng số hộ nhận chi trả là 9.870 hộ, với diện tích trung bình 21,24 ha rừng/hộ Diện tích thí điểm chi trả chiếm 34,38% tổng diện tích rừng của tỉnh Lâm Đồng, tính đến 2012 [2]

Bên trung gian chi trả DVMTR: cả hai tỉnh đều thành lập Quỹ Bảo vệ

và Phát triển rừng (Quỹ BVPTR) và Ban giám sát chi trả DVMTR Nhiều sở

ban ngành trong tỉnh đã tham gia vào quá trình này [1]

Quản lý tiền chi trả DVMTR: tỉnh Lâm Đồng áp dụng cách chi trả gián

tiếp Các đối tượng hưởng lợi từ DVMTR chuyển tiền tới quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng (BVPTR), sau đó quỹ BVPTR chuyển tiền tới các chủ rừng Các chủ rừng chuyển tiền tới các hộ gia đình có hợp đồng giao khoán Mức chi trả

ở tỉnh Lâm Đồng thay đổi đối với từng lưu vực khác nhau Năm 2009, mức chi trả nằm trong khoảng từ 10 đến 290 nghìn đồng/ha/năm Năm 2010, mức chi trả tăng thêm từ 40 đến 130 nghìn đồng/ha/năm Tỉnh Sơn La áp dụng hình thức chi trả trực tiếp trong năm 2009, nhưng đến năm 2010 thì chuyển sang chi trả gián tiếp: bên chi trả chuyển tiền cho quỹ BVPTR, sau đó quỹ BVPTR chuyển tiền cho Ngân hàng Chính sách xã hội, và cuối cùng ngân hàng chuyển tiền cho các chủ rừng [1]

Tác động của chi trả DVMTR: kết quả khảo sát ở thôn Liêng Bông

(Lâm Đồng) và thôn Khua (Sơn La) (do ICRAF thực hiện) cùng với quá trình

Trang 30

thảo luận giữa các bên liên quan đã cho thấy chi trả DVMTR giúp nâng cao đáng kể nhận thức của người dân về rừng và các DVMTR Thu nhập từ quản

lý bảo vệ rừng của các hộ nhận giao khoán ở Lâm Đồng đã tăng thêm 3-4 lần

so với trước khi áp dụng chi trả DVMTR, trong khi ở Sơn La mức tăng không đáng kể Các vụ việc vi phạm lâm luật có xu hướng giảm so với những năm trước khi áp dụng chi trả DVMTR, và chi trả DVMTR đã đem lại nguồn tài chính mới (thay thế cho ngân sách nhà nước) để xã hội hóa việc bảo vệ và phát triển rừng [2]

Các vấn đề và tồn tại của chi trả DVMTR tại hai tỉnh thí điểm: Lâm Đồng áp dụng nguyên tắc “tiền chi trả cho lưu vực A phải được chuyển cho lưu vực A” cho 3 lưu vực thí điểm là Đa Nhim, Đại Ninh và Đồng Nai Vì thế

mỗi lưu vực có mức chi trả khác nhau và các hộ dân nhận được số tiền khác nhau mặc dù cung cấp DVMTR giống nhau Ngoài ra, việc áp dụng hệ số K bằng 1, nghĩa là không có mức chi trả khác nhau theo loại rừng và chất lượng rừng, dẫn đến không khuyến khích nâng cao chất lượng rừng Các hộ nhận khoán không có quyền chọn khu rừng hay loại rừng để quản lý Do vậy các hộ nhận khoán bảo vệ các khu rừng gần nhất hoặc dễ tiếp cận nhất có lợi thế hơn

so với các hộ phải bảo vệ rừng ở các khu vực xa do phải mất nhiều chi phí và công sức hơn Trong khi đó, tại Sơn La, việc chi trả từ thủy điện Suối Sập vẫn chưa được thực hiện (đến năm 2012), dẫn đến khó khăn trong giải ngân và chi trả cho các chủ rừng cũng như quản lý quỹ [2]

1.2.2.3 Thí điểm chi trả DVMT tại tỉnh Bắc Kạn

Tại tỉnh Bắc Kạn, từ năm 2011 với sự hỗ trợ của Dự án Quan hệ đối tác

vì người nghèo trong phát triển nông lâm nghiệp (viết tắt tiếng Anh là 3PAD) với nguồn kinh phí vay từ Quỹ Phát triển nông nghiệp quốc tế (IFAD), một loạt phương án chi trả DVMT đã được thí điểm trong khuôn khổ Hợp phần Các sáng kiến bảo vệ môi trường của Dự án, một phần kinh phí cho hoạt động này do Quỹ Môi trường toàn cầu GEF hỗ trợ

Trang 31

Vận dụng Nghị đinh 99 CP và các Thông tư, văn bản liên quan khác,

Dự án đã phối hợp với ICRAF xây dựng một số phương án thí điểm tại một

số địa phương của 3 huyện dự án như sau:

Chi trả DVMTR tại thôn Lẻo Keo, xã Quảng Khê, huyện Ba Bể, hình thức chi trả gián tiếp thông qua Quỹ bảo vệ và Phát triển rừng Bắc Kạn, chủ yếu rừng là VQG Ba Bể với các hộ nhận giao khoán gần 300 ha rừng là rừng phục hồi (IIb) thuộc tiểu khu 83, bao gồm 16 lô với các dịch vụ môi trường là nước, vẻ đẹp cảnh quan và tích lũy các bon Đơn vị hưởng lợi các dịch vụ sinh thái và trả tiền cho các dịch vụ đó theo Nghị định 99 CP là: Nhà máy thủy điện Na Hang (Tuyên Quang), Thủy điện Tà Lèng (Chợ Đồn), các nguồn thu vé vào cửa tham quan du lịch của VQG Ba Bể;

Để nhận được hỗ trợ (chi trả từ các tổ chức, đơn vị hưởng lợi dịch vụ môi trường) cộng đồng thôn Lẻo Keo cần tuân thủ một số điều khoản về: (i) Thực hiện biện pháp canh tác bền vững tại những lô nhỏ rừng sản xuất, có thể xen kẽ trong khu rừng phòng hộ, đặc dụng nhưng được qui hoạch

vi mô chi tiết cần được áp dụng những kỹ thuật canh tác bền vững như hình thức canh tác trên đất dốc phù hợp, áp dụng giống cây trồng, chu kỳ bỏ hóa, luân canh phù hợp…

(ii) Bảo vệ được chức năng của những lô rừng phòng hộ, những lô rừng này luôn được theo dõi giám sát về chất lượng rừng, trữ lượng, tổng sinh khối, trữ lượng các bon…

(iii) Áp dụng các biện pháp giữ vệ sinh môi trường vì thôn này giáp với các khu du lịch của VQG Ba Bể;

Chi trả chủ yếu thông qua các hỗ trợ về tập huấn kỹ thuật, cung cấp giống cây con phù hợp cho các hộ trong cộng đồng, đồng thời cung cấp một phần nhỏ cho việc cải thiện điều kiện bảo vệ rừng, đánh giá giám sát quá trình thực hiện…

Trang 32

Tình hình thực hiện: từ 1-2 năm gần đây sau khi ký hợp đồng giao khoán với những đề xuất của ICRAF và trường ĐH Nông lâm Thái Nguyên cũng như Dự án 3PAD, các nội dung trong hợp đồng chi trả giữa thôn và VQG Ba Bể (chủ rừng đặc dụng) được triển khai thuận lợi

Kết quả bước đầu: rừng đặc dụng, phòng hộ được bảo vệ tốt, các biện pháp canh tác bền vững được áp dụng bước đầu đem lại những cải thiện cho đời sống của cộng đồng; một số loài cỏ thích hợp được gây trồng và ngày càng được mở rộng nhằm bảo vệ đất và phục vụ chăn nuôi gia súc đặc biệt là trong mùa đông

Chi trả DVMT tại thôn To Đoóc, xã Lạng San, huyện Na Rỳ, theo hình thức chi trả gián tiếp, từ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Bắc Kạn, dịch môi trường là tích lũy các bon Rừng cộng đồng thôn Tô Đoóc được giao và cấp

sổ đỏ cho cộng đồng thôn quản lý từ năm 2007, với diện tích 45,13 ha xen lẫn ngô nương (5,13 ha) và bãi chăn thả Khu này thuộc rừng sản xuất nghèo với các kiểu rừng thảm thực vật trên đất lâm nghiệp gồm các loại rừng nghèo phục hồi sau nương rẫy (IIA, IIIA), trảng cây bụi xen cây gỗ tái sinh (Ic) và trảng cỏ Phần lớn diện tích đất lâm nghiệp là rừng nghèo phục hồi sau nương rẫy, với thảm thực vật bao gồm cây bụi, nương rẫy trồng ngô, cây ăn quả, nương rẫy trồng xen giữa Ngô và Xoan và các loại rừng trồng (Keo, Mỡ) Các hình thức chi trả chủ yếu bằng vật chất như:

+ Giống cây trồng (cây ăn quả, cây LSNG, giống cỏ có năng suất cao phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng của thôn) Một lượng kinh phí nhỏ cho tập huấn, tham quan mô hình trong tỉnh và cho đánh giá giám sát hàng năm… + Hỗ trợ sử dụng bếp cải tiến, hầm biogas để giảm lượng củi đun tiêu thụ hàng năm, hỗ trợ tái sinh rừng và Nông lâm kết hợp làm tăng các-bon rừng, kết hợp bảo vệ, khoanh nuôi làm giầu rừng

Các kết quả bước đầu:

Trang 33

(i) Áp dụng bếp đun cải tiến và biogas đã cho thấy sự giảm thiểu của lượng củi đun từ rừng;

(ii) Trồng cỏ bước đầu đã có ý nghĩa và tác dụng trong việc phục vụ chăn nuôi, nhất là vào mùa đông giá r t mấy năm qua;

(iii) Các nội dung về thay đổi phương thức sử dụng đất chưa thấy rõ kết quả rõ rệt, cần tiếp tục được cải thiện

Chi trả DVMT tại thôn Khuổi Tuổn, xã Nghiên Loan, huyện Pác Nặm theo hình thức gián tiếp với phương án cơ chế phát triển sạch CDM, thông qua việc:

+ Thay đổi phương thức sử dụng đất canh tác: khu vực thôn Khuôi Tuổn chủ yếu là nương rẫy, người dân thường áp dụng phương pháp độc canh cây Ngô hoặc Đỗ, xói mòn thường xảy ra vào mùa mưa vì vùng này hầu hết là các đồi có độ dốc khá lớn, người dân được khuyến cáo xen canh, trồng thêm cỏ ở các đường đồng mức và thiết kế cây trồng theo mô hình canh tác đất dốc (SALT);

+ Bảo vệ khu rừng cộng đồng được giao cho thôn, đây là khu rừng đầu nguồn của xã, có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nguồn nước,và sử dụng bếp cải tiến, hầm biogas…

Kết quả bước đầu:

(i) Trồng cỏ bảo vệ đất và làm thức ăn cho gia súc bước đầu đạt kết quả tốt, người dân có thêm phần thức ăn cho trâu bò, đặc biệt là mùa đông vì thôn này gần chợ Bò Bản Đính, xã Nghiên Loan, nơi có giao dịch trâu bò ở qui mô tương đối lớn vươn tới cả thị trường TP Hồ Chí Minh và thị trường Trung Quốc; (ii) Hạn chế được lượng củi đun từ rừng qua việc áp dụng hầm biogas tại thôn một cách đáng kể;

(iii) Các kết quả về thay đổi hình thức canh tác trên đất dốc chưa có chuyển biến rõ ràng, các băng chống xói mòn sử dụng cỏ và cây bụi không được duy trì đạt yêu cầu đã đề ra

Trang 34

Chi trả DVMTR tại thôn Bản Duống, xã Hoàng Trĩ, Ba Bể, với loại dịch vụ môi trường là nước Hình thức chi trả ở thôn này là trực tiếp và tự nguyện, các cá nhân, đơn vị ở hạ nguồn được hưởng lợi nước từ thôn thượng nguồn là VQG Ba Bể, các nhà nghỉ, hội vận tải xuồng máy, thuyền độc mộc phục vụ du lịch… tự nguyện trích một phần thu nhập trả cho cộng đồng 29 hộ thôn vùng cao Bản Duống để họ giữ gìn, phát triển rừng của mình (hơn 500 ha) nhằm đảm bảo giữ nguồn nước cung cấp cho vùng hạ nguồn [4]

Các phương án trên đã được tiến hành triển khai thực hiện từ năm

2012, các bài học kinh nghiệm, các giải pháp khắc phục tồn tại đã và đang được thực hiện và bước đầu sơ tổng kết nhằm mở rộng những hình thức và tới những địa điểm thích hợp khác ở trong ngoài tỉnh

1.3 Đặc điểm khu vực nghiên cứu

1.3.1 Đặc điểm tự nhiên và nguồn tài nguyên thiên nhiên

1.3.1.1 Đặc điểm tự nhiên

* Vị trí địa lý

Hoàng Trĩ là xã nằm ở phía Tây của huyện Ba Bể, cách trung tâm huyện 30km, có tổng diện tích theo địa giới hành chính là 3.526,90 ha

+ Phía Bắc giáp xã Quảng Khê, huyện Ba Bể

+ Phía Nam giáp huyện Chợ Đồn

+ Phía Đông giáp xã Đồng Phúc, huyện Ba Bể

+ Phía Tây giáp huyện Chợ Đồn

Xã có vị trí địa lý tương đối thuận lợi để giao lưu kinh tế buôn bán hàng hóa với các khu vực lân cận

Trang 35

Hình 1.1 Hình ảnh vệ tinh vị trí xã Nam Mẫu và Hoàng Trĩ

(Nguồn: Tổ chức nông lâm thế giới ICRAF) [9]

* Địa hình địa mạo

Xã nằm ở độ cao 600m so với mặt nước biển có địa hình đặc trưng của miền núi cao địa hình khá phức tạp và khá đặc biệt có độ cao và độ dốc lớn, lại là đầu nguồn của nhiều hệ thống sông suối nhỏ nên tập trung dòng chảy về mùa mưa rất nhanh do vậy việc bảo vệ rừng đầu nguồn có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sản xuất và đời sống nhân dân trong xã nói riêng và cả vùng hạ lưu nói chung

* Diện tích tự nhiên

Diện tích đất toàn xã là 3.526,90 ha Trong đó:

Đất nông nghiệp: 3.353,17 ha chiếm 95,07%;

Đất sản xuất nông nghiệp: 237.08 ha chiếm 6,72%

Đất lâm nghiệp: 3.115, 43 ha chiếm 88,33%

Trang 36

Đất nuôi trồng thủy sản: 0.66ha chiếm 0,02%

Đất phi nông nghiệp: 98,68 ha chiếm 2,80%;

Đất chưa sử dụng: 59,98 ha chiếm 1,70%;

Đất ở: 15,07 ha chiếm 0,43% [19]

Những số liệu trên cho thấy xã có diện tích đất tự nhiên và đất nông nghiệp tương đối lớn đây là điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp Mặt khác quỹ đất dành cho ngành công nghiệp tiểu thủ công nghiệp thương mại dịch vụ phát triển cơ sở hạ tầng vẫn còn tương đối dồi dào

* Khí hậu thủy văn

Hoàng Trĩ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa: có hai mùa rõ rệt trong năm Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 200

C Chênh lệch nhiệt độ các tháng trong năm tương đối cao Lượng mưa trung bình năm 800 mm, phân bố không đều giữa các tháng trong năm Độ ẩm không khí khá cao 75%

và không có sự chênh lệch nhiều giữa các tháng trong năm

Nhìn chung khí hậu thời tiết của xã tương đối thuận lợi cho cuộc sống sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, là xã vùng cao nên vào mùa đông có sương mù, mưa phùn thời tiết hanh khô có khi phải chịu hạn hán, vào mùa mưa do địa hình cao, độ dốc lớn, có mưa nhiều dễ gây ra lũ cuốn, lũ qu t làm xói mòn, lở đất của các dãy đồi, núi

1.3.1.2 Các nguồn tài nguyên

* Tài nguyên rừng

Theo số liệu kiểm kê tài nguyên rừng năm 2010, tài nguyên đất rừng của xã Hoàng Trĩ có 3.115,43 ha trong đó đất rừng sản xuất là 2.269,16 ha, đất rừng phòng hộ 714, 44 ha đất rừng đặc dụng là 131,83ha [20]

Diện tích rừng của toàn xã vẫn còn khá nhiều, tuy nhiên chất lượng rừng đã giảm, các loài động thực vật quý hiếm hầu như là không còn

Trang 37

* Mặt nước

Toàn xã có 40,32 ha diện tích đất ao hồ sông suối, đây là nguồn nước mặt tự nhiên phục vụ cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của người dân Đến nay xã chưa có nghiên cứu cụ thể về nguồn nước ngầm

1.3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

1.3.2.1 Dân tộc, dân số và lao động

Xã có tổng 6 thôn trong đó có 3 thôn vùng thấp và 3 thôn vùng cao chủ yếu là dân tộc Dao, Tày

Toàn xã có tổng số dân là 1.310 người trong đó số người trong độ tuổi lao động là 687 người chiếm 52%

Diện tích đất tự nhiên lớn, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động cao đ ó là những điều kiện thuận lợi để Hoàng Trĩ phát triển kinh tế nông lâm nghiệp tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ

Tuy nhiên các ngành kinh tế trên chưa phát triển đúng với tiềm năng sẵn có tại địa phương

Đậu tương và Khoai môn

* Chăn nuôi

Ngoài trồng trọt chăn nuôi gia súc gia cầm cũng được các hộ gia đình

ưu tiên vào phát triển kinh tế Báo cáo năm 2014 của xã Hoàng Trĩ tổng đàn gia súc gia cầm của toàn xã là: 5.809 con trong đó đàn Trâu là 416 con, đàn

Bò 200 con, đàn Ngựa 58 con, Đàn Dê 346 con, đàn Lợn 817 con, đàn gia

Trang 38

cầm 3.972 con Chăn nuôi gia súc gia cầm vẫn còn nhỏ lẻ chủ yếu là tự cung

tự cấp hình thức chăn thả là chủ yếu, giống địa phương cho năng suất thấp chưa hướng tới sản xuất hàng hóa [18]

b, Sản xuất lâm nghiệp

Từ năm 1994 đến nay, Ban quản lý Vườn quốc gia Ba Bể đã tiến hành giao khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi và trồng bổ sung trong phân khu phục hồi sinh thái Nhằm tạo công ăn việc làm cho các hộ gia đình đang sinh sống đan xen trong vùng, Ban quản lý Vườn còn hỗ trợ cây giống, công trồng, chăm sóc để người dân thực hiện trồng rừng trên nương rẫy bỏ hóa

1.3.2.3 Hiện trạng xã hội

a) Hạ tầng cơ sở, giao thông và liên lạc

Xã đã có đường ô tô vào trung tâm xã, tuy nhiên lòng đường còn hẹp nhiều đoạn bị hỏng do mưa lũ đường lên các các thôn vùng cao đã được mở mới nâng cấp theo các chương trình xây dựng nông thôn mới, một số được hỗ trợ từ Dự án 3PAD

Giao thông đi lại thuận tiện hơn bước đầu đã giúp bà con các thôn vùng cao phát triển kinh tế vận chuyển hàng hóa dễ dàng hơn

b) Y tế và giáo dục

Xã có 1 trạm y tế hàng năm phục vụ hơn 2000 lượt người khám chữa bệnh mặc dù điều kiện vật chất vẫn còn thiếu thốn nhưng cơ bản là đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu của nhân dân trong xã

Hàng năm trạm y tế cũng tham mưu cho cấp ủy, chính quyền về công tác

vệ sinh an toàn thực phẩm, dân số kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe cho người dân để từ đó xây dựng kế hoạch kiểm tra giám sát được tốt hơn

Toàn xã có 1 trường mầm non, 1 trường tiểu học, một trường trung học phổ thông, cơ sở vật chất đã được đầu tư một số thôn giao thông đi lại khó khăn tỷ lệ học sinh học hết cấp II, III chưa cao một số lớp cắm bản cơ sở vật chất vẫn còn khó khăn

Trang 39

1.3.3 Đặc điểm môi trường rừng liên quan tới chi trả DVMT tại khu vực

Ba Bể

Hình 1.2 Bản đồ huyện Ba Bể

(Nguồn: UBND huyện Ba Bể, 2015) [7]

Vườn quốc gia Ba Bể được thành lập năm 1992 theo Quyết định số 83/TTg ngày 10/11/1992 với diện tích 7.610 ha gồm toàn bộ địa phận xã Nam Mẫu và một phần diện tích của các xã Khang Ninh, Cao Thượng, Cao Trĩ, Hoàng Trĩ, Quảng Khê huyện Ba Bể Sau điều chỉnh, diện tích VQG Ba Bể hiện là 10.048 ha, là nơi bảo tồn sinh cảnh rừng thường xanh mưa ẩm nhiệt

đới điển hình với đa dạng sinh học cao

Vườn quốc gia Ba Bể là một trong những khu bảo vệ có ý nghĩa về bảo tồn đa dạng các sinh cảnh đất ngập nước, hồ nội địa tự nhiên lớn nhất ở Việt Nam Điều này có liên quan đến đa dạng các loài cá nước ngọt sông trong hồ

Ba Bể với số loài được ghi nhận đến nay là 87, chiếm khoảng 1/3 số loài khu

hệ cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam, trong đó có 11 loài quý hiếm được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam

Trang 40

Việc bảo tồn, gìn giữ hiện trạng của Hồ Ba Bể phụ thuộc rất lớn vào việc gìn giữ hệ sinh thái rừng của các xã, thôn vùng lõi và vùng đệm thuộc các khu vực nêu trên

Hiện nay bảo vệ rừng đang là vấn đề nóng của tỉnh nói chung và khu vực Ba Bể nói riêng, trong những năm gần đây nạn khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ trái ph p diễn ra ngày càng phức tạp, rừng càng ngày càng bị suy thoái, gây xói mòn rửa trôi bồi lắng lòng hồ, đặc biệt là Hồ Một của Ba Bể

Từ các vấn đề cấp thiết và điều kiện hệ sinh thái rừng nói trên, một số

mô hình thí điểm chi trả DVMTR đã được đề xuất nhằm mục đích duy trì DVMTR bao gồm nước, vẻ đẹp cảnh quan lưu vực sông Năng và Tà Lèng

1.3.4 Hiện trạng về môi trường và kinh tế - xã hội của thôn Bản Duống và vùng hạ lưu liên quan đến chi trả DVMT

Thôn Bản Duống thuộc xã Hoàng Trĩ huyện Ba Bể là một trong những thôn vùng cao rất khó khăn, sống lệ thuộc hoàn toàn vào nông lâm nghiệp nên những hoạt động của người dân có tác động rất lớn đến môi trường tự nhiên

hồ Ba Bể Rừng được VQG giao cho cộng đồng thôn quản lý từ năm 2012 với tổng diện tích là 530 ha trong đó có 180 ha rừng phòng hộ và 350 ha rừng sản xuất diện tích rừng được giao chủ yếu là cây gỗ ít giá trị Rừng cộng đồng thuộc VQG Ba Bể được hỗ trợ kinh phí từ 150 - 200 nghìn đồng/ha/năm để chi cho các hoạt động của cộng đồng trong việc canh gác, giám sát, tuyên truyền vận động cũng như chi cho một số hoạt động công ích của cộng đồng như làm đường giao thông, nhà văn hóa thôn bản

Rừng cộng đồng được giao là rừng còn nghèo, trữ lượng cũng như chất lượng rừng chưa đem lại lợi ích để cộng đồng cải thiện đời sống Rừng chủ yếu

là rừng tái sinh, các cây gỗ có giá trị hiện chưa trưởng thành Đến nay, theo chia sẻ của người dân và ước lượng của cán bộ kiểm lâm địa bàn, sinh khối của rừng cũng đã tăng lên khoảng 10% tính từ khi thành lập tổ quản lý rừng Có

Ngày đăng: 31/05/2016, 08:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đàm Việt Bắc, Đinh Ngọc Lan và Delia Catacutan (2012), “Báo cáo cuối cùng Gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn “Viết tài liệu và đào tạo về chính sách chi trả dịch vụ môi trường (PES)”. Tổ chức nông lâm thế giới ICRAF Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo cuối cùng Gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn “Viết tài liệu và đào tạo về chính sách chi trả dịch vụ môi trường (PES)
Tác giả: Đàm Việt Bắc, Đinh Ngọc Lan và Delia Catacutan
Năm: 2012
8. Hoàng Minh Hà, Meine van Noordwijk, Phạm Thu Thủy, 2008. Làm thế nào để áp dụng các kinh nghiệm và bài học về chi trả DVMT cho dự án“Các đối tác vì người nghèo trong phát triển nông lâm nghiệp ở tỉnh Bắc Kạn”. ICRAF Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm thế nào để áp dụng các kinh nghiệm và bài học về chi trả DVMT cho dự án "“Các đối tác vì người nghèo trong phát triển nông lâm nghiệp ở tỉnh Bắc Kạn
21. UBND xã Hoàng Trĩ (2014). Báo cáo kết quả công tác năm 2014, phương hướng nhiệm vụ 2015.II. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả công tác năm 2014, phương hướng nhiệm vụ 2015
Tác giả: UBND xã Hoàng Trĩ
Năm: 2014
24. Van Noordwijk, M., Leimona, B., 2010. Principles for fairness and efficiency in enhancing environmental services in Asia: payments, compensation, or co-investment? Ecology and Society 15(4): 17.[online] URL: http://www.ecologyandsociety.org/vol15/iss4/art17 Link
2. Đàm Việt Bắc, Đỗ Trọng Hoàn, Đinh Ngọc Lan, Delia Catacutan (2012). Tài liệu đào tạo chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam Khác
3. Đàm Việt Bắc, Hoàng Minh Hà, Đỗ Trọng Hoàn, Nguyễn Văn Trí Tín, 2011, Báo cáo xây dựng đề án chi trả DVMT huyện Ba Bể. ICRAF Việt Nam, Hà Nội Khác
4. Dự án 3PAD Bắc Kạn, 2014. Báo cáo đánh giá tác động hợp phần 1 và 3 Khác
5. Dự án 3PAD Bắc Kạn, 2013. Báo cáo tổng hợp thực hiện chi trả dịch vụ môi trường Khác
7. Dự án 3PAD Bắc Kạn, 2015. Báo cáo kết quả thực hiện dự án tháng 05 năm 2009 tháng 06 năm 2015 huyện Ba Bể Khác
9. Hoàng Minh Hà, Đỗ Trọng Hoàn, 2011. Đánh giá khả năng và đề xuất cơ chế chi trả dịch vụ môi trường tại tỉnh Bắc Kạn, Việt Nam Khác
10. Hoàng Minh Hà, Đỗ Trọng Hoàn, van Noordwijk, M., Phạm Thu Thủy, Tô Xuân Phương, Doan, D., Nguyen, T.X., Hoang, T.V.A., 2010.Đánh giá các cơ hội về giảm thiểu phát thải cho tất cả các loại hình sử dụng đất Khác
11. Hoàng Minh Hà, Đỗ Trọng Hoàn, Phạm Minh Thoa, Minang, Peter, Meine van Noordwijk, 2011. Hệ thống chia sẻ lợi ích qua các cấp cho REDD ở Việt Nam Khác
12. Rohit Jindal, 2011. Thị trường quốc tế cho việc đền bù các-bon rừng: Các cơ hội cho các nhà sản xuất ở các nước đang phát triển. Báo cáo kỹ thuật, ICRAF Việt nam Khác
13. Nguyễn Đức Ngữ, Phạm Đình An, Trần Duy Bình và NNK, 2007. Biến đổi khí hậu NXB Khoa học và kỹ thuật Hà Nội Khác
14. Van Noordwijk, M., Leimona, B., 2010. Các nguyên tắt về sự công bằng và hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ môi trường ở châu Á: Chi trả, đền bù hay đồng đầu tư? Ấn phẩm Ecol. and Soc. Số15 (4) Khác
15. Wunder, S. 2008. Chi trả dịch vụ môi trường và vấn đề nghèo đói: các khái niệm và bằng chứng ban đầu. Tạp chí Môi trường và phát triển kinh tế số13 Khác
16. Nghị định 99/2010/NĐ - CP của Thủ tướng Chính phủ về Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng Khác
17. Quyết định 380/QĐ-TTg ngày 10/4/2008 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng Khác
18. Jindal Rohit, 2011. Bài giảng 4 Đấu giá trong chi trả dịch vụ môi trường - Phương pháp và nghiên cứu điểm ở Tanzania. Trong Hoàng Minh Hà và Nguyễn Hoàng Quân (biên soạn). Các bài giảng Bộ Công cụ Hỗ trợ Quản lý Tổng hợp Tài nguyên Thiên nhiên và Chi trả Dịch vụ. ICRAF Việt Nam Khác
19. UBND xã Nam Mẫu (2014). Báo cáo kinh tế phát triển xã hội của địa phương năm 2014 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Hình ảnh vệ tinh vị trí xã Nam Mẫu và Hoàng Trĩ - Đánh gi á khả năng tri ển khai chi trả dị ch vụ môi trường rừng trực tiếp tại thôn bản duống, xã hoàng trĩ, huyện ba bể, tỉ nh bắc kạn
Hình 1.1. Hình ảnh vệ tinh vị trí xã Nam Mẫu và Hoàng Trĩ (Trang 35)
Hình 1.2. Bản đồ huyện Ba Bể - Đánh gi á khả năng tri ển khai chi trả dị ch vụ môi trường rừng trực tiếp tại thôn bản duống, xã hoàng trĩ, huyện ba bể, tỉ nh bắc kạn
Hình 1.2. Bản đồ huyện Ba Bể (Trang 39)
Bảng 3.1. Các bước thực hiện chi trả PES - Đánh gi á khả năng tri ển khai chi trả dị ch vụ môi trường rừng trực tiếp tại thôn bản duống, xã hoàng trĩ, huyện ba bể, tỉ nh bắc kạn
Bảng 3.1. Các bước thực hiện chi trả PES (Trang 48)
Hình 3.1. Cơ cấu tổ chức của mô hình chi trả PES tại Bản Duống - Đánh gi á khả năng tri ển khai chi trả dị ch vụ môi trường rừng trực tiếp tại thôn bản duống, xã hoàng trĩ, huyện ba bể, tỉ nh bắc kạn
Hình 3.1. Cơ cấu tổ chức của mô hình chi trả PES tại Bản Duống (Trang 49)
Bảng 3.3. Bảng mức chi trả mô hình chi trả PES tại thôn Bản Duống  Loại DVMTR  Mức chi trả - Đánh gi á khả năng tri ển khai chi trả dị ch vụ môi trường rừng trực tiếp tại thôn bản duống, xã hoàng trĩ, huyện ba bể, tỉ nh bắc kạn
Bảng 3.3. Bảng mức chi trả mô hình chi trả PES tại thôn Bản Duống Loại DVMTR Mức chi trả (Trang 52)
Bảng 3.4. Bảng tiêu chí và chỉ số giao khoán DVMT rừng - Đánh gi á khả năng tri ển khai chi trả dị ch vụ môi trường rừng trực tiếp tại thôn bản duống, xã hoàng trĩ, huyện ba bể, tỉ nh bắc kạn
Bảng 3.4. Bảng tiêu chí và chỉ số giao khoán DVMT rừng (Trang 56)
Bảng 3.6. Nguồn thu nhập từ hoạt động lâm nghiệp (Thôn Bản Duống) - Đánh gi á khả năng tri ển khai chi trả dị ch vụ môi trường rừng trực tiếp tại thôn bản duống, xã hoàng trĩ, huyện ba bể, tỉ nh bắc kạn
Bảng 3.6. Nguồn thu nhập từ hoạt động lâm nghiệp (Thôn Bản Duống) (Trang 60)
Bảng 3.7A. Đánh giá về thực hiện hợp đồng chi trả DVMTR. - Đánh gi á khả năng tri ển khai chi trả dị ch vụ môi trường rừng trực tiếp tại thôn bản duống, xã hoàng trĩ, huyện ba bể, tỉ nh bắc kạn
Bảng 3.7 A. Đánh giá về thực hiện hợp đồng chi trả DVMTR (Trang 61)
Bảng 3.7B. Đánh giá về thực hiện hợp đồng. - Đánh gi á khả năng tri ển khai chi trả dị ch vụ môi trường rừng trực tiếp tại thôn bản duống, xã hoàng trĩ, huyện ba bể, tỉ nh bắc kạn
Bảng 3.7 B. Đánh giá về thực hiện hợp đồng (Trang 63)
Hình mẫu để thực hiện. - Đánh gi á khả năng tri ển khai chi trả dị ch vụ môi trường rừng trực tiếp tại thôn bản duống, xã hoàng trĩ, huyện ba bể, tỉ nh bắc kạn
Hình m ẫu để thực hiện (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w