1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và kỹ thuật gieo ươm sa mộc dầu (cuninghamia konishii hayata) từ hạt tại khu bảo tồn tây côn lĩnh tỉnh hà giang

102 446 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 8,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lương Thị Anh đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tác giả với những chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình thực hiện luận văn, nghiên cứu và hoàn thành đề tài : " Nghiên cứu

Trang 1

NGUYỄN CÔNG HOAN

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC

VÀ KỸ THUẬT GIEO ƯƠM SA MỘC DẦU

(CUNINGHAMIA KONISHII HAYATA) TỪ HẠT

TẠI KHU BẢO TỒN TÂY CÔN LĨNH

TỈNH HÀ GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 2

NGUYỄN CÔNG HOAN

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC

VÀ KỸ THUẬT GIEO ƯƠM SA MỘC DẦU

(CUNINGHAMIA KONISHII HAYATA) TỪ HẠT

TẠI KHU BẢO TỒN TÂY CÔN LĨNH

TỈNH HÀ GIANG

Chuyên ngành : Lâm học

Mã số : 60 62 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Hồ Ngọc Sơn

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào

Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Công Hoan

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn tốt nghiệp cao học được hoàn thành tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Có được luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới đến trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên , phòng đào tạo sau đại học, đặc biệt là TS Hồ Ngọc Sơn và ThS Lương Thị Anh đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tác giả với những chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình thực hiện luận văn, nghiên cứu và hoàn thành đề tài :

" Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và kỹ thuật gieo ươm Sa mộc dầu (Cuninghamia konishii Hayata) từ hạt tại Khu bảo tồn Tây Côn Lĩnh tỉnh

Hà Giang "

Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo - Các nhà khoa học đã trực tiếp giảng dạy truyền đạt những kiến thức khoa học chuyên ngành lâm nghiệp cho bản thân tác giả trong những năm tháng qua Xin gửi tới Sở Nông nghiệp và PTNT, Chi cục Lâm nghiệp Hà Giang lời cảm tạ sâu sắc vì đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tác giả thu thập số liệu ngoại nghiệp cũng như những tài liệu nghiên cứu cần thiết liên quan tới đề tài Có thể khẳng định sự thành công của luận văn này, trước hết thuộc về công lao của nhà trường, cơ quan và xã hội Đặc biệt là quan tâm

động viên khuyến khích cũng như sự thông cảm sâu sắc của gia đình Nhân đây

tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc

Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp, phê bình của quý thầy cô, các nhà khoa học, độc giả và các bạn đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Công Hoan

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 4

2.1 Mục đích tổng quát của đề tài nghiên cứu 4

2.2 Mục tiêu cụ thể nghiên cứu của đề tài 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

4 Ý nghĩa của đề tài 5

4.1 Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học 5

4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 6

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 7

1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 7

1.1.1 Các nghiên cứu ở ngoài nước 7

1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước 10

1.1.3 Nghiên cứu về sâu bệnh hại 21

1.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 23

1.3.1 Vị trí địa lý 23

1.3.2 Địa hình 24

1.3.3 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội 25

1.3.4 Tài nguyên rừng của Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh 28

Chương 2: NÔI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

Trang 6

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30

2.2 Nội dung nghiên cứu 30

2.3 Phương pháp nghiên cứu 31

2.3.1 Phương pháp kế thừa 31

2.3.2 Công tác ngoại nghiệp 32

2.3.3 Phương pháp điều tra theo tuyến 32

2.3.4 Phương pháp điều tra phỏng vấn về tri thức bản địa 33

2.4 Nghiên cứu kĩ thuật gieo ươm từ hạt 35

2.4.1 Xử lý và kích thích hạt giống nảy nầm 35

2.4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ tưới nước đến sự sinh trưởng cây con tại vườn ươm 35

2.4.3 Ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây Sa mộc dầu trong giai đoạn vườn ươm 36

2.4.4 Ảnh hưởng hỗn hợp ruột bầu đến sự sinh trưởng cây Sa mộc dầu trong giai đoạn vườn ươm 38

2.4.5 Điều tra nghiên các loại sâu bệnh hại và biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại cây con tại vườn ươm 39

Chương: 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41

3.1 Đặc điểm sinh vật học của loài cây sa mộc dầu 41

3.2 Kiến thức bản địa của người dân về nhân giống Sa mộc dầu tại địa phương 44

3.3 Nhân giống Sa mộc dầu tại vườn ươm 49

3.3.1 Xử lý hạt giống tại vườn ươm 50

3.3.2 Ảnh hưởng thời gian ngâm hạt giống kích thích nảy mầm cây Sa mộc dầu 50

3.3.3 Ảnh hưởng của điều kiện nhiệt độ để kích thích hạt giống Sa mộc dầu 52

3.3.4 Ảnh hưởng của chế độ tưới nước với sự sinh trưởng của cây con trong giai đoạn vườn ươm 54

3.3.5 Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng của cây Sa mộc dầu trong giai đoạn vườn ươm 57

3.3.6 Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng của cây Sa mộc dầu trong giai đoạn vườn ươm 60

Trang 7

3.3.7 Điều tra xác định các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại cây con Sa mộc dầu tại

vườn ươm 64

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67

1 Kết luận 67

2 Tồn tại 69

3 Kiến nghị 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Các công thức thí nghiệm 36

Bảng 2.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm về chế độ tưới nưới cho cây 36

Bảng 2.3: Sơ đồ bố trí thí nghiệm về chế độ che bóng cho cây 37

Bảng 2.4 Sơ đồ bố trí thí nghiệm về hỗn hợp ruột bầu cho cây 39

Bảng 3.1 : Theo dõi tình hình sinh trưởng qua các công thức thí nghiệm về sự ảnh hưởng của chế độ tưới nước 56

Bảng 3.3 : Ảnh hưởng tới sự phát triển của cây Sa mộc dầu trong giai đoạn vườn ươm 61

Bảng 3.4: Tỷ lệ sống của yếu tố hỗn hợp ruột bầu của cây Sa mộc dầu trong giai đoạn vườn ươm 63

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Địa điểm phân bố Sa mộc dầu ở Việt Nam……… … …….22

Hình 3.1: : Thân cây Sa mộc dầu 5 năm tuổi 41

Hình 3.2: Vỏ thân cây Sa mộc dầu 5 năm tuổi……… … 42

Hình 3.3: Lá cây Sa mộc dầu……… ………… … 43

Hình 3.4: Cành và nón Sa mộc dầu 44

Hình 3.5 : Nón cây Sa mộc dầu 45

Hình 3.6: Nón Sa mộc dầu 45

Hình 3.7 : Ảnh cây Sa mộc dầu của hộ gia đình trồng 5 năm tuổi …46

Hình 3.8: Ảnh cây Sa mộc dầu của hộ gia đình trồng 5 năm tuổi… 46

Hình 3.9 : Nón Sa mộc dầu 50

Hình 3.10: Ảnh hưởng của thời gian ngâm hạt giống đối với tỷ lệ nảy mầm 51

Hình 3.11: Ảnh của chế độ ngâm nước đến sự nẩy mầm của hạt giống 53

Hình 3.12: Ảnh phân tích mối tương quan 53

Hình 3.14: Ảnh hưởng của chế độ tưới nước 56

Hình 3.15: Mối tương quan giữa đường kính cổ rễ và Hvn 57

Hình 3.17: Ảnh hưởng che sáng tới sự phát triển của cây Sa mộc dầu trong giai đoạn vườn ươm 59

Hình 3.18: Tỷ lệ sống với công thức bố trí thí nghiệm 60

Hình 3.19: Tỷ lệ sống với công thức bố trí thí nghiệm……… …… 61

Hình 3.20: Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu với cây Sa mộc dầu tại vườn ươm 62

Hình 3.21 : Sự phát triển của một số công thức về hỗn hợp ruột bầu 64

Hình 3.22 : Bệnh thối cổ rễ 65

Hình 3.23 : Côn trùng hại cây 65

Hình 3.24 : Bệnh khô lá 66

Hình 3.25: Bệnh khô lá trong giai đoạn vườn ươm 3 tháng tuổi… …66

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong hệ sinh thái mỗi loài đều có những mối quan hệ chặt chẽ với nhau Con người cũng vậy sống trong một thế giới, một mái nhà chung là trái đất Con người và thiên nhiên luôn có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau Vai trò của tài nguyên thiên nhiên nói chung hay tài nguyên rừng nói riêng đối với cuộc sống con người đã được nhiều tài liệu đề cập đến và không phải bàn cãi nhiều Tuy nhiên, dưới nhiều nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp khác nhau đã và đang làm ảnh hưởng xấu đến nguồn tài nguyên này làm cho tính đa dạng sinh học bị suy giảm trầm trọng Bên cạnh việc nhiều loài, nhiều taxon được phát hiện và mô tả mới cho khoa học thì rất có thể nhiều loài khác – loài chưa từng được biết đến đã đối điện với nguy cơ bị đe dọa và tuyệt chủng Trong số đó có thể có những loài có giá trị đặc biệt đối với khoa học và cuộc sống của con người

Hiện nay, vấn đề chung của tất cả các nước trên thế giới đều chú trọng quan tâm đến bảo tồn đa dạng sinh học Việc bảo tồn các loài cây các loài thực vật và nghiêm cấm khai thác các loài quý thực vật quý hiếm đã có trong chỉ thị của thủ tướng chính phủ ( Số 283-TTg) Vì đã có rất nhiều các loại gỗ quý hiếm đã và đang bị khai thác quá mức đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng Việc khai thác các loài này được diễn ra từ cách đây nhiều năm, nó không chỉ ảnh hưởng tới một hệ sinh thái mà còn ảnh hưởng tới khả năng phát triển của loài thực vật đó Điều này đặc biệt quan trọng với các loài thực vật bản địa quý hiếm Vì các loài thực, động vật chỉ có thể phát triển trên một độ cao nhất định với một nhiệt độ môi trường nhất định đó là điều kiện thích nghi của thực, động vật Thực tế cho thấy các loài thực vật, đặc biệt là các loài cây gỗ quý có tuổi thọ hàng trăm năm để có được một cây thành thục tuổi

Trang 11

công nghệ mất rất nhiều thời gian mà việc con người khai thác chúng để sử dụng thì ngày một tăng cao Chính vì vậy mà các loài thực vật quý hiếm sẽ ngày một ít hơn trong môi trường tự nhiên, khả năng tái sinh của chúng cũng ngày một thấp hơn do số lượng cây mẹ đã không còn nhiều

Ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới có rất nhiều các khu bảo

tồn loài,sinh cảnh, các khu bảo tồn thiên nhiên và ở Hà Giang có khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh có quyết định thành lập Số 493/QĐ ngày 21/9/1994 Khu bảo tồn thiên nhiên có 8.612ha diện tích rừng tự nhiên, chiếm 40% tổng diện tích toàn khu Phần lớn diện tích còn lại là đất trống cỏ, cây bụi Rừng chỉ bắt đầu từ độ cao 1.200m Các loại rừng còn lại ở đây thuộc loại rừng thường xanh ở vùng đồi núi trung bình và núi cao Ở đây đã tìm thấy 236 loài thực vật bậc cao, 46 loài thú, 114 loài chim, 18 loài bò sát và 11 loài ếch nhái Từ tính đa dạng và đặc thù của khu vực bao gồm các dãy núi cao, vì vậy đã có rất nhiều dự án khác nhau đã được đầu tư vào khu bảo tồn

đa dạng thiên nhiên Tây Côn Lĩnh với mục tiêu để bảo vệ hệ sinh thái rừng

nhiệt đới, bảo tồn nguồn gen, phát huy vai trò phòng hộ, tăng các cá thể động, thực vật rừng và phát triển kinh tế xã hội Các nhà nghiên cứu khoa học đã tìm kiếm và phát hiện được nhiều loài động thực vật quý hiếm ở khu bảo tồn,

đặc biệt là loài cây Sa mộc dầu, một loài cây quý hiếm đang có nguy cơ bị

tuyệt chủng Số lượng loài hiện nay chỉ được tính ở cấp độ cá thể, cây này không chỉ dừng lại ở giá trị về mặt bảo tồn nguồn gen mà còn có rất nhiều các giá trị khác nhau, ngoài ra còn có giá trị rất cao về mặt kinh tế xã hội

Sa mộc dầu hay có tên gọi khác là Ngọc am, là một trong những loài cây

đã được một số nhà khảo cổ học ví là “huyền thoại” Nhà khảo cổ học

Nguyễn Lân Cường và Đỗ Đình Truật cho rằng tinh dầu Ngọc am có khả năng sát khuẩn cực kỳ cao và giữ xác ở trạng thái cực tốt Nhà khảo cổ học

Đỗ Đình Truật từng vô tư nếm chất nước đọng dưới đáy quan tài có ướp xác

Trang 12

của một mộ hợp chất cổ Ông cho biết rằng, bất cứ vật gì ướp trong tinh dầu Ngọc am thì đều không thể tan rã, hòa lẫn vào Ngọc am được Cho nên, dù ngâm xác người vài trăm năm thì tinh dầu Ngọc am vẫn sạch sẽ tuyệt đối Thậm chí những miếng trầu cau chôn theo người chết hàng trăm năm còn xanh tươi và vẫn có thể ăn được

Loài cây này không chỉ ở Việt Nam mới có mà theo một số truyền thuyết của Trung Quốc gỗ của cây Sa mộc dầu còn được sử dụng và chế tác thành các vật dụng dùng trong cung đình Cây Sa mộc dầu có giá trị sử dụng như những cây quý khác nhưng có ưu điểm đáng quý và nổi trội hơn đó là lá già không rụng Do đó, quanh gốc cây các loài thực vật khác vẫn có thể phát triển, góp phần phát triển chăn nuôi, giảm xói mòn, lũ ống, lũ quét, lở núi Người dân chặt những cành già dưới cùng, đem về phơi khô làm chất đốt để phục vụ nhu cầu về cuộc sống hàng ngày của họ Ngoài ra, cây Sa mộc dầu người dân địa phương tại Hà Giang đã chiết xuất tinh dầu làm dược liệu và làm áo quan mai táng người đã mất Cây Sa mộc dầu mọc thẳng, không mối mọt, thích ứng rộng, có thể thích nghi với vùng trung du đến các tỉnh vùng cao Vì hiện nay, cây Sa mộc dầu có giá trị rất lớn lại là cây có độ bền cao, ít

bị mối mọt, tinh dầu có giá trị nhiều trong y học nên đây cũng là nguyên nhân chính mà cây Sa mộc dầu bị khai thác nhiều như hiện nay Trong khi đó việc thực hiện trồng mới lại ít được quan tâm phục hồi rừng trồng Sa mộc dầu nhằm đảm bảo đáp ứng nhu cầu của người dân và phát triển loại cây phục vụ cho công tác quản lý bảo vệ Chính vì vậy tôi đã chọn nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học của loài cây này trong việc nhân giống nhằm mục đích phát triển loài cây Sa mộc dầu để nhân giống giúp không những tăng số lượng loài cây này ngoài tự nhiên còn có khả năng phát trển kinh tế cho người dân tốt hơn về

cách nhân giống cây Sa mộc dầu Vì vậy tôi thực hiện đề tài “ Nghiên cứu đặc

điểm sinh vật học và kỹ thuật gieo ươm Sa mộc dầu (Cuninghamia konishii

Hayata) từ hạt tại Khu bảo tồn Tây Côn Lĩnh tỉnh Hà Giang” để góp phần

Trang 13

nghiên cứu đánh giá khả năng phát triển của cây về số lượng bảo tồn loài cây này ngoài tự nhiên Cùng sự phát triển thành loài cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân để việc bảo tồn không những chỉ là bảo tồn mà đem lại lợi ích kinh tế cho người dân

2 Mục tiêu của đề tài

2.1 Mục đích tổng quát của đề tài nghiên cứu

Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tới các biện pháp kĩ thuật gieo ươm nhân giống để góp phần cho công tác bảo tồn và phát triển cây Sa mộc dầu

2.2 Mục tiêu cụ thể nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu chung của đề tài nghiên cứu là tìm hiểu về loài cây Sa mộc dầu,

về những đặc điểm sinh vật học, đặc điểm về khả năng nhân giống loài cây quý hiếm này góp phần mang lại những lợi ích về sự phát triển loài cây này chính vì vậy mục tiêu của nghiên cứu này sẽ được tập trung vào các vấn đề sau:

- Đặc điểm sinh vật học của loài cây Sa mộc dầu tại khu bảo tồn Tây

Côn Lĩnh tỉnh Hà Giang

- Tri thức của người dân bản địa về loài Sa mộc dầu

- Một số yếu tố ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của loài cây Sa mộc dầu tại vườn ươm

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Là loài cây Sa mộc dầu (Cuninghamia konishii Hayata) hay còn gọi là

Sa mộc quế phong, Ngọc am hay Sa mu dầu thuộc họ Hoàng đàn (Cupressaaceae)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu tại khu bảo tồn Tây Côn Lĩnh tỉnh Hà Giang Thời gian thực hiện nghiên cứu được tiến hành từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 7 năm 2015

Trang 14

Nội dung nghiên cứu được tiến hành trên một số các vấn đề sau:

- Đặc điểm sinh vật học của loài cây Sa mộc dầu tại khu bảo tồn Tây Côn Lĩnh thuộc tỉnh Hà Giang

- Kĩ thuật gieo ươm của người dân địa phương tại khu vực nghiên cứu

- Kỹ thuật xử lý hạt và kích thích hạt giống nảy mầm tại vườn ươm

- Ảnh hưởng của chế độ tưới nước tới sinh trưởng của cây con

- Ảnh hưởng của chế độ che bóng tới sự sinh trưởng của cây con tại vườn ươm

- Ảnh hưởng của thành phần ruột bầu tới sự phát triển của cây con tại vườn ươm

- Một số loại sâu bệnh hại cây con tại vườn ươm và biện pháp phòng trừ

4 Ý nghĩa của đề tài

4.1 Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học

Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ về khả năng nhân giống của loài thực vật đang bị đe dọa tuyệt chủng trong tương lai gần là Sa mộc dầu, cung cấp thông tin phục vụ công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen thực vật rừng qúy hiếm của Việt Nam Việc xây dựng hướng dẫn kỹ thuật nhân giống, chọn cây mẹ, chăm sóc rừng giống, trồng và nuôi dưỡng là bước đột phá của nghiên cứu này vì hiện nay chưa có hướng dẫn, quy trình kỹ thuật nhân giống, trồng và chăm sóc Sa mộc dầu

- Củng cố kiến thức cơ sở cũng như chuyên ngành để phục vụ tốt hơn cho công tác phát triển ngành lâm nghiệp nói chung, góp phần bảo tồn loại

Sa mộc dầu nói riêng

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở cho các nghiên cứu khác về loài cây Sa mộc dầu

Trang 15

- Tìm hiểu đánh giá các phương pháp gây giống trong vườn ươm để thực hiện trong thực tế sản xuất

4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

Kết quả của việc nghiên cứu này sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triển sản xuất cây gỗ quý Sa mộc dầu Đưa loài cây này vào trồng rừng tập trung, đa dạng hoá loài cây, nhằm phát triển rừng trồng phòng hộ và sản xuất tại các huyện vùng cao nơi có điều kiện lập địa phù hợp nhằm nâng cao giá trị rừng trồng Việc nhân giống thành công tạo điều kiện cho sản xuất cây con giống với mục đích thương mại phục vụ nhu cầu trồng rừng trong nước Kết quả nghiên cứu, sự tham gia của cộng đồng, chính quyền địa phương sẽ góp phần nâng cao nhận thức của mọi người về giá trị và tiềm năng phát triển nguồn gen Sa mộc dầu Từ đó góp phần bảo tồn và phát triển nguồn gen quý hiếm đang bị đe dọa tuyệt chủng do khai thác quá mức và khả năng tái sinh tự nhiên kém Chính vì vậy việc nghiên cứu loài cây Sa mộc dầu này có một ý nghĩa rất quan trọng

Tìm hiểu sâu thêm về đặc điểm sinh vật học của loài cây Sa mộc dầu trong rừng tự nhiên Là cơ sở cho các biện pháp quản lý bảo tồn của loài cây quý hiếm này trong môi trường tự nhiên và trong sản xuất Góp phần hoàn chỉnh các cơ sở khoa học về nghiên cứu loài cây này

Xác định các khu vực phân bố cụ thể tại các tiểu khu có loài Sa mộc dầu tồn tại và phát triển để từ đó đưa ra các biện pháp bảo tồn và phát triển hiệu quả

Từ kết quả nghiên cứu áp dụng các biện pháp nghiên cứu nhân giống cây

Sa mộc dầu từ hạt

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

1.1.1 Các nghiên cứu ở ngoài nước

1.1.1.1 Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học

Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới nghiên cứu về các đặc điểm

sinh vật học và sinh thái học của các loài thực vật, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu của một số nước trên thế giới như: Thực vật chí Hong Kong (1861), Thực vật chí Australia (1866), Thực vật chí rừng Tây Bắc và trung tâm Ấn Độ (1874), Thực vật chí Ấn Độ 7 tập (1872 – 1897), Thực vật chí Miến Điện (1877), Thực vật chí Malaysia (1892 – 1925), Thực vật chí Hải Nam (1972 – 1977), Thực vật chí Vân Nam (1977),….Ngoài ra còn có các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm về sinh thái học thực vật như “Thực nghiệm sinh thái học” của Stephen, D.Wrattenand, Gary L.A.ry (1980) [35] , W.Lacher (1965) [36] các tác giả đã chỉ rõ sự thích nghi của các loài với các

điều kiện dinh dưỡng khoáng, ánh sáng, chế độ nhiệt, chế độ ẩm, nhịp điệu

khí hậu, theo E.P Odum (1979) [33] đã phân chia sinh thái học thực vật thành sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài Ngoài ra mối quan hệ giữa yếu tố sinh thái, sinh trưởng có thể định hướng bằng các phương pháp toán học thường

được mô phỏng, phản ánh các đặc điểm quy luật tương quan phức tạp trong tự

nhiên Mỗi một loài thực vật đều có khả năng tái sinh vì khả năng tái sinh là một quá trình sinh học mang đặc thù của hệ sinh thái rừng Đó là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi có hoàn cảnh rừng Hiệu quả của tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố Việc điều tra cây tái sinh đã được

Trang 17

nhiều nhà nghiên cứu thực vật điều tra trong đó có phương pháp “điều tra chuẩn đoán” của Barnard (1955) theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh Tác giả Vansteenis (1956) [39]

đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng nhiệt đới đó là tái sinh

phân tán liên tục và tái sinh vệt Trên những sự điều tra các đặc điểm về tái sinh nhiều nhà nghiên cứu đã nghiên cứu về nguyên nhân và các tài liệu giải thích nguyên nhân tại sao tỷ lệ tái sinh rừng nhiệt đới lại khác nhau như : Richards P.W, 1965 [34], trong rừng nhiệt đới sự thiếu hụt ánh sáng đã làm

ảnh hưởng đến phát triển của cây con, còn đối với sự nảy mầm thì ảnh hưởng

đó thường không rõ ràng Đối với rừng nhiệt đới, số lượng loài cây trên một đơn vị diện tích và mật độ tái sinh thường khá lớn Vì vậy, khi nghiên cứu tái

sinh tự nhiên cần phải đánh giá chính xác tình hình tái sinh rừng để có những biện pháp tác động phù hợp Từ đó cho thấy rằng khả năng tái sinh tự nhiên của các loài cây phụ thuộc nhiều vào hệ sinh thái rừng Khi hệ sinh thái rừng mất đi cũng đồng nghĩa với việc khả năng tái sinh tự nhiên của một số loài cây sẽ giảm Đối với các loài cây gỗ lớn lâu năm thì khả năng tái sinh này ngày một giảm

Sự ra đời của các công trình nghiên cứu này đã góp phần quan trọng và

là tiền đề cho các công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học của các loài thực vật rừng Việc nghiên cứu này không những chỉ ra các đặc điểm về hình thái mà ở đó có những nghiên cứu quan trọng về hậu vận thông qua các đặc

điểm về sự phát triển của hoa quả, nón hay các cơ quan sinh sản của các loài

thực vật để từ đó tạo tiền đề cho các nghiên cứu về nhân giống của các loài thực vật phục vụ lợi ích cho phát triển trong ngành trồng rừng Những nghiên cứu về sinh sản của cây lá kim, đáng kể nhất là của Winlliam(2009) và Owens (2006) đã xác định được cơ chế thụ phấn, thu tinh cũng như vòng đời sinh sản của cây lá kim Việc nghiên cứu về phân loại và phân bố ngành thực vật hạt

Trang 18

trần đã có rất nhiều các nghiên cứu khác nhau của nhiều tác giả nghiên cứu trên thế giới như : Raymond (1975), Takhtajan (1978), Vidakovic (1991), FAO (1995), Lars Schmidt (2000), Eckenwlder (2009) Các nghiên cứu của nhiều tác giả đã góp phần tìm hiểu sâu thêm về ngành thực vật hạt trần về các loài khác nhau Từ các nghiên cứu trên đã tạo tiền đề cho các nhà khoa học sau này để về ngành thực vật hạt trần Về những giá trị kinh tế, sinh thái và văn hóa của cây lá kim đã được báo cáo của FAO (1995) và Sara (2002) đã cho thấy chúng là thành phần quan trọng trong thành phần của rừng của nhiều nước trên thế giới Trên thế giới có rất nhiều các nghiên cứu khác nhau về các loài thực vật khác nhau Cây Sa mộc dầu cũng đã nghiên cứu tìm hiểu từ những năm 1826 và thuộc chi Cunninghamia sa mộc được Brown thành lập, khi đó chỉ có một loài chuẩn C.lanceolata(lamb) Hook một tổ hợp tên loài mới do Hooker công bố năm 1803 Năm 1908, Hayata công bố

Cunninghamia konishii Hayata Sa mộc dầu mọc tự nhiên ở Đài Loan

1.1.1.2 Nghiên cứu về khả năng tái sinh

Tại Đài Loan, Sa mộc dầu (Cunninghamia konnishii Hayata) cũng được

coi là gỗ tốt nên bị khai thác trên qui mô lớn, kết quả là các quần thể hiện bị chia cắt, nằm rải rác không tập trung (Chung et al.,2004) Nguồn gen Sa mộc dầu tại Đài Loan đang được lưu giữ, bảo tồn trong ngân hàng hạt giống ( Tree Seed Bank) cùng với 152 loài thực vật khác ( Huang et al.,2008) Bên cạnh đó nguồn gen Sa mộc dầu còn được lưu tại một số Vườn thực vật ở Châu Âu, ví

dụ ở vườn thực vật Bỉ (http://www.br.fgov.be) Tại Đài Loan, sau nhiều thập

kỉ khai thác cạn kiệt, từ những năm 1950 chương trình trồng rừng qui mô lớn

được thực hiện đã góp phần bảo tồn và phát triển nguồn gen loài này Tại đây

Sa mộc dầu phân bố ở độ cao 1300-2800m Sinh trưởng tốt nhất ở nhiệt độ trung bình năm 17 - 220c, lượng mưa 2000-3500mm/năm.Trên các địa điểm phù hợp mỗi năm có thể tăng 1 mét chiều cao và 1cm đường kính Từ những

Trang 19

năm 1990 chính phủ đã cho đóng cửa rừng đề nghiên cứu bảo tồn nguồn gen Ngoài ra, hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về gỗ Sa mộc chứa tinh dầu, với thành phần ester 7,37%, alcol 2,39% (The Wealth of India voll 1950, 398); cedrol (thành phần chính của tinh dầu) 60,5%, α-cedren, terpinyl acetat và terpinolen Trong khi đó, tinh dầu cất từ lá lại chứa α-limonen (27,25%) và α,

β-pinen

Việc nghiên cứu về nhân giống các loài cây lá kim được nhiều nước trên thế giới tập trung nghiên cứu, ứng dụng giâm hom nhằm phục vụ cho các chương trình trồng rừng dòng vô tính đã được tuyển chọn Riêng hai nước Australia và Newzeland đã sản xuất hàng năm trên 10 triệu cây hom P.ridiata, Canada sản xuất hàng năm trên 3 triệu cây hom Vân sam đen (Picea

mariana), Vân sam (Picea sitchensis) được 3 nước trên tạo ra gần 4 triệu cây

hom mỗi năm Năm 1989, Nhật Bản sản xuất 31,4 triệu cây hom Liễu sam

(Crytomeris japonica) Vân sam Na Uy (Picea abies) là loài cây lá kim cũng

thu được những thành công trong việc nhân giống bằng hom với số lượng lớn phục vụ công tác trồng rừng dòng vô tính, nhất là ở châu Âu Chỉ tính riêng một số cơ sở giâm hom chính của 11 nước mà hàng năm đã sản xuất gần 11 triệu cây hom Trên 10 năm khảo nghiệm ở Mỹ, mới đưa vào sản xuất đại trà cây Thông Noel (P attenuata x P radiata) với các đặc tính tốt của cây trang trí, sinh trưởng nhanh, chịu lạnh, chịu hạn (dẫn theo Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001)

1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước

1.1.2.1 Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học

Ở nước ta, nghiên cứu về đặc điểm sinh học các loài cây bản địa đã được

thực hiện, có thể tổng hợp và liệt kê ra đây một số nghiên cứu có liên quan như sau: Theo tác giả Nguyễn Hoàng Nghĩa và CS (2006) [15] cho thấy ở Việt Nam có 55 loài cây lá kim và trong đó có 33 loài cây bản địa Đã có rất

Trang 20

nhiều loài cây lá kim ở Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị đe dọa cao trong đó có 1 loài bị tuyệt chủng (EW) 1 loài, mức độ rất nguy cấp (CR) 2 loài, mức độ nguy cấp (EU) có 10 loài và cùng 12 loài ở mức nguy cấp cao (EU) Theo sách đỏ Việt Nam (2007) [20] hiện nay có 448 loài thực vật, trong

đó có 111 họ bị đe dọa tuyệt chủng, trong đó ngành hạt trần có 27 loài 6 họ

Việt Nam cũng là một trong số nước trên thế giới có khá nhiều vườn quốc gia

và khu bảo tồn Trong đó có 30 vườn quốc gia, 58 khu bảo tồn thiên nhiên và

40 khu bảo vệ sinh cảnh (theo thống kê năm 2008) Cũng theo thống kê từ

1995 đến nay ở Việt Nam, Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã tiến hành nhân giống nhiều loài cây lá kim khác nhau như: Bách xanh, Bách vàng, Pơ mu,… Trong đó có các nhà khoa học nghiên cứu như: Nguyễn Bá Chất (1996) [8] đã nghiên cứu đặc điểm lâm học và biện pháp gây trồng nuôi dưỡng cây Lát hoa Ngoài những kết quả nghiên cứu về các đặc điểm phân

bố, sinh thái, tái sinh, tác giả cũng đã đưa ra một số biện pháp kỹ thuật gieo

ươm cây con và trồng rừng đối với Lát hoa Trần Minh Tuấn (1997) [27] đã

nghiên cứu một số đặc tính sinh vật học loài Phỉ ba mũi làm cơ sở cho việc bảo tồn và gây trồng tại Vườn quốc gia Ba Vì – Hà Nội Ngoài những kết quả

về các đặc điểm hình thái, tái sinh tự nhiên, sinh trưởng và phân bố của loài, tác giả còn đưa ra một số định hướng về kỹ thuật lâm sinh để tạo cây con từ hạt và trồng rừng đối với loài cây này Vũ Văn Cần (1997) [10] đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của cây Chò đãi làm cơ sở cho công tác tạo giống trồng rừng ở Vườn quốc gia Cúc Phương Ngoài những kết luận

về các đặc điểm phân bố, hình thái, vật hậu, tái sinh tự nhiên, đặc điểm lâm phần có Chò đãi phân bố, tác giả cũng đã đưa ra những kỹ thuật tạo cây con

từ hạt đối với loài cây Chò đãi Cây Pơ mu cũng có được nghiên cứu khá kỹ lưỡng về mặt phân loại thực vật và phân bố trên thế giới: Chi Pơ mu (danh pháp khoa học: Fokienia) là một chi trong họ Hoàng đàn (Cupressaceae)

Trang 21

Trong các đặc trưng của nó, chi Fokienia là trung gian giữa hai chi Chamaecyparis và Calocedrus, mặc dù về mặt di truyền học thì nó gần gũi hơn với chi thứ nhất Chi này chỉ có một loài còn sống là cây Pơ Mu (Fokienia hodginsii (Dunn) A.Henry & H.H.Thomas), trong các tài liệu bằng tiếng nước ngoài như trong tiếng Anh gọi là Fujian cypress (tạm dịch là Bách Phúc Kiến) và một loài chỉ còn ở dạng hóa thạch là Fokienia ravenscragensis Phan Nguyên Xuất (1999) [32] khi nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật

học loài Thông nàng (Podocarpus imbrricatus Blume) tại tỉnh Gia Lai đã làm

rõ được các đặc điểm hình thái, vật hậu của loài cũng như các đặc trưng sinh thái như tái sinh, cấu trúc rừng nơi có Thông nàng sinh sống Kết quả nêu rõ trong các lâm phần có Thông nàng phân bố thì chúng luôn là loài cây chiếm

ưu thế ở tầng cao nhất của lâm phần Thành phần đi kèm với nó chủ yếu là

Trâm, Bời lời, Mãi táp, Re, Công, Hồng tùng, Hoa khế, Chò xót, Giẻ Loài có thể tái sinh ở các cấp độ tàn che khác nhau nhưng cao nhất là 0.3-0.4 và tái sinh ở trong, mép và ngoài tán của cây mẹ, nhưng ở mép tán là cao nhất Nghiên cứu cũng chỉ ra một số định hướng biện pháp kỹ thuật lâm sinh chủ yếu đối với loài Thông nàng ở Đắk Lắk Nguyễn Thanh Bình (2003) [2] đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài Dẻ ăn quả phục hồi tự nhiên tại Bắc Giang Với những kết quả nghiên cứu đạt được, tác giả đã đưa ra nhiều kết luận Ngoài những đặc điểm về hình thái, vật hậu, phân bố, cấu trúc và tái sinh tự nhiên của loài, tác giả còn cho rằng phân bố và có tương quan giữa Hvn và D1,3 có dạng phương trình Logarit Lê Phương Triều (2003) [31] đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của loài Trai lý tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, tác giả đã đưa ra một số kết quả nghiên cứu về đặc điểm hình thái, vật hậu và sinh thái của loài Ngoài ra tác giả còn kết luận là: có thể dùng hàm khoảng cách để biểu thị phân bố N-D1.3, N-Hvn, các mối quan hệ H-

D1,3, Dt-D1,3

Trang 22

1.1.2.2 Nghiên cứu về khả năng tái sinh

Vương Hữu Nhi (2003) [19] đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và

kỹ thuật tạo cây con Căm xe góp phần phục vụ trồng rừng ở Đắc Lắc - Tây Nguyên Từ kết quả nghiên cứu với những kết luận về đặc điểm hình thái, phân bố, cấu trúc, tái sinh tự nhiên tác giả còn đưa ra những kỹ thuật gây trồng đối với loài cây này Vũ Văn Khoát (2007) [18] trong “Nghiên cứu một

số đặc tính sinh học của loài Dầu đồng và Cà chít phân bố trong rừng khộp ở Tây Nguyên” đã kết luận được các đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái học cơ bản của hai loài trên Dầu đồng có mối quan hệ yếu với Cà chít và mối quan hệ với một số loài cây bạn như Chiêu liêu nghệ, Cẩm liên, Chiêu liêu khế, Bồ kết rừng, Cẩm xe là ngẫu nhiên Nó với các loài cây bạn này có thể chung sống với nhau suốt đời mà không có sự đào thải nhau về mặt sinh học Đối với Cà chít, nghiên cứu chỉ ra rằng loài này có liên quan với các loài bạn như Chiêu liêu khế, Thẩu tấu, Làng mang, Cẩm liên, Muồng và quan hệ với nhau bền vững Nguyễn Toàn Thắng (2008) [29] đã nghiên cứu

một số đặc điểm lâm học của loài Dẻ anh (Castanopsis piriformis) tại Lâm

Đồng Tác giả đã có những kết luận rõ ràng về đặc điểm hình thái, vật hậu,

phân bố, giá trị sử dụng, về tổ thành tầng cây gỗ biến đổi theo đai cao từ 17

đến 41 loài, với các loài ưu thế là Dẻ anh, Vối thuốc răng cưa, Du sam, Nhà

nghiên cứu Lê Văn Thuấn (2009) [28] đã thực hiện công trình nghiên cứu về

đặc điểm sinh học của loài Vối thuốc răng cưa (Schima superba) tại khu vực

Tây Nguyên Kết quả nghiên cứu đã mô tả tương đối chi tiết về đặc điểm hình thái, vật hậu, sinh thái, cấu trúc tầng cây cao, cấu trúc tầng cây tái sinh, đặc

điểm tái sinh, của loài cây này tại khu vực Tây Nguyên Hoàng Văn Chúc

(2009) [9] trong công trình: “Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh tự nhiên

loài Vối thuốc (Schima wallichii Choisy) trong các trạng thái rừng tự nhiên

phục hồi ở tỉnh Bắc Giang” đã mô tả một cách chi tiết về đặc điểm hình thái,

Trang 23

vật hậu, tái sinh, phân bố,… của loài cây này ở khu vực tỉnh Bắc Giang Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần nhân rộng loài cây bản địa có giá trị này

Đầu năm 2009, nhà khoa học người Mỹ Brendan Buckley ở Phòng thí

nghiệm Vòng cây (Tree ring Laboratory) của cơ quan nổi tiếng Doherty Earth Observatory đã cùng một đồng nghiệp Việt Nam tìm được trong rừng quốc gia Bidoup - Núi Bà gần Đà Lạt ở tỉnh Lâm Đồng nhiều cây thông đã sống cách 10 đây gần ngàn năm Các cây thông này thuộc một loài cây thông hiếm có nguy cơ tuyệt chủng (ghi trong Sách Đỏ) gọi là Fokienia hodginsii (cây Pơ Mu ) Từ các mẫu lấy ở thân cây Pơ Mu , ông Buckley đã tái tạo lại thời tiết gió mùa ở lục địa Á châu trong quá khứ đến tận thế kỷ 14

Lamont-và từ đó chứng minh là nền văn minh Khmer rực rỡ ở Angkor đã sụp đổ vì nạn hạn hán và môi trường thủy lợi Đây là một khám phá quan trọng trong lịch sử khí hậu gió mùa và hiện tượng El Nino ở Đông Nam Á

Trong Sách đỏ Việt Nam phần II (Thực vật, Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và Công nghệ, 2007) [22] loài cây lá kim có tên khoa học là

"Cunninghamia Konishii Hayata" thuộc họ Hoàng đàn (Cupressaceae), tên Việt Nam được gọi là "Sa mộc dầu" Ngoài tên này, loài cây còn có một số tên khác như: Mạy lâng lênh (Thái), Mạy lung linh, Sa mộc quế phong, Sa mộc dầu (trang 530, Sách đỏ Việt Nam, 2007) Theo Sách “Cây lá kim Việt Nam” (Nhà xuất bản thế giới, 2004) [23] loài Cunninghamia Konishii Hayata

có tên Việt Nam là Sa mộc dầu, kèm theo một tên khác là Sa mộc quế phong Sách “Thông Việt Nam – Nghiên cứu hiện trạng bảo tồn 2004” (Nhà xuất bản Lao động xã hội, 2005) [24], tên chính thức của loài này là Sa mộc dầu kèm theo hai tên tiếng Việt khác là Sa mộc quế Phong và Ngọc Am Trong “Danh mục các loài thực vật Việt Nam” (Nhà xuất bản Nông nghiệp, tập I, 2001) Ghi tên Tiếng Việt của loài này là Sa mộc dầu kèm theo một số tên khác như:

Sa mộc quế phong, Mạy lung linh, Mạy lâng lênh (Thái Thanh Hóa) Như

Trang 24

vậy, Sa mộc dầu là tên chính thức của loài Cunninghamia Konishii Hayata

được ghi ở 3 trong số 4 tài liệu tham khảo đã được trích dẫn (trừ sách “Cây lá

kim Việt Nam” gọi là Sa mu dầu)

Sa mộc dầu còn liên quan đến một tên Tiếng Việt hiện được sử dụng rộng rãi ở tỉnh Hà Giang là Ngọc am Tên này cũng được sách “Thông Việt Nam –Nghiên cứu hiện trạng bảo tồn 2004” sử dụng Sa mộc dầu được kỹ sư Chu Thuyền và nhóm điều tra lâm học thuộc Viện điều tra quy hoạch rừng (FIPI) phát hiện lần đầu tiên tại đỉnh núi Facatun (Quỳ Châu, Nghệ An) vào năm 1964 Từ năm 1991 - 1997, Sa mộc dầu còn được phát hiện ở Pù Loong,

Pù Xai Leng, Pù Mo (thuộc huyện Kỳ Sơn), Pu Den Dinh (thuộc huyện Tương Dương), Pù Mát, Pù Nhông (thuộc huyện Côn Cuông), Pù Hoạt (thuộc huyện Tương Dương) tỉnh Nghệ An Tại Hà Giang, Sa mộc dầu trước đây

được phát hiện chủ yếu ở ba huyện: Vị Xuyên, Hoàng Su Phì và Quản Bạ,

gồm các xã: Lao Thải, Xín Chảo, Cao Bồ, Thượng Sơn, Nậm Ty, Bản Péo, Tả

Sủ Choóng, Túng Sán, Nậm Dịch

Sa mộc dầu không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có giá trị kinh

tế cao Gỗ Sa mộc dầu nhờ có nhiều tinh dầu nên khá bền, chôn dưới đất hàng trăm năm không bị mục nát Tên Ngọc am chính là xuất phát từ đặc tính quý báu này

Cùng với các loại cây hiện nay đang bị khai thác thì cây Sa mộc dầu cũng đã và đang bị khai thác triệt để dẫn đến các loài cây này ngoài tự nhiên hiện nay cũng không có nhiều Số lượng cây Sa mộc dầu ngoài tự nhiên chỉ

được tính trên cấp cá thể vì khi cơn sốt gỗ và tinh dầu Sa mộc dầu rộ lên cách đây hơn 10 năm, việc khai thác trái phép đã đẩy loài này đến nguy cơ tuyệt

chủng Trên thực tế đó đã có một số những nghiên cứu về loài cây quý hiếm này Năm 2012, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên phối hợp với Chi cục Lâm nghiệp, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Giang nghiên cứu đánh giá tình

Trang 25

trạng phân bố và bảo tồn của Sa mộc dầu tại Hà Giang Kết quả nghiên cứu cho thấy hiện nay Hà Giang chỉ còn khoảng 80-90 cây Sa mộc dầu trưởng thành Các khu vực có phân bố Sa mộc dầu tại Hà Giang chủ yếu ở xã vùng cao núi đất của 3 huyện Vị Xuyên, Hoàng Su Phì và Quản Bạ gồm: Xã Lao Chải, Xín Chải, Cao Bồ, Thượng Sơn, Nậm Ty, Bản Péo, Tả Sủ Choóng, Túng Sán, Nậm Dịch, Hồ Thầu và Nam Sơn Cụ thể tại thôn Hóa Chéo Phìn

xã Tả Sủ Chóong (Hoàng Su Phì) còn 3 cây, trong đó một cây to cao khoảng 40m, đường kính 70cm; một cây nhỏ hơn khoảng 30 tuổi, đường kính 40cm trong vườn nhà và một cây rất to nằm gần đỉnh Gió Chéo Phìn trong rừng già thuộc quản lý của xã Chính vì vậy việc bảo tồn loại cây này vô cùng quan trọng, không chỉ cho thế hệ hôm nay mà còn mai sau nữa Vì loài cây Sa mộc dầu tái sinh ngoài tự nhiên là rất ít nên việc nhân giống nhân tạo loại cây này

là rất quan trọng chính vì vậy tôi muốn thực hiện đề tài này để góp phần nhân giống cây Sa mộc dầu để từ đó không chỉ góp phần vào bảo tồn loài cây này

mà còn có thể mang lại lợi ích cho xã hội Sa mộc dầu (Cunninghamia

konishii Hayata) còn có tên khác là Ngọc am, Sa mộc Quế phong, thuộc họ

Hoàng đàn (Cupressaceae) nhưng thuộc bộ Thông (Coniferales) Sa mộc dầu

là nguồn gen quý hiếm được xếp nhóm IIa: Thực vật rừng, động vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại theo nghị định 32/2006/NĐ-

CP về việc quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Ở Việt

Nam phân bố hẹp tại một số địa phương như Hà Giang, Thanh Hóa và Nghệ

An (Hình 1) Trong Sách đỏ Việt Nam- Phần thực vật 2007, loài Thông này

được xếp vào thứ hạng sắp bị tuyệt chủng: VU A1a,d, C1 Tuy nhiên căn cứ

vào các dẫn liệu thu thập được qua khảo sát, nghiên cứu ở gần 300 điểm còn rừng nguyên sinh ở hầu hết khắp nước ta trong khoảng 40 năm và đối chiếu với tiêu chí của các thứ hạng trong Danh lục đỏ của IUCN thấy loài đáp ứng

được các tiêu chí đang bị đe dọa tuyệt chủng: EN A2c, B2ab (i-v) (Nguyễn

Trang 26

Tiến Hiệp và cs., 2004) Ở Hà Giang khi cơn sốt gỗ và tinh dầu Sa mộc dầu rộ lên, việc khai thác trái phép đã đẩy loài này đến nguy cơ tuyệt chủng Trong nhiều năm ở Hà Giang người ta tin rằng loài này đã bị tuyệt chủng do bị khai thác quá mức nhiều, không có trồng mới bổ sung nên số lượng ngày càng suy giảm và có nguy cơ tuyệt chủng Chính vì vậy loài cây này rất cần được bảo tồn và phát triển Nhằm bảo tồn các loài gỗ quí và bị đe dọa, tỉnh Hà Giang đã ban hành Quyết định số 1972/QĐ-UBND ngày 15/9/2011 về việc tạm dừng cấp phép khai thác tận thu, tận dụng và khai thác gỗ nhóm IA, IIA có nguồn gốc từ rừng tự nhiên trên địa bàn tỉnh Theo Phan Kế Lộc và cs (2010) [14] Bên ngoài các khu bảo tồn thì tình trạng của Sa mộc dầu là rất nguy cấp (CR), thậm chí là đã tuyệt chủng ngoài tự nhiên ở một số khu vực Thực tế thì loài này đã tuyệt chủng cục bộ, tuyệt chủng ngoài tự nhiên ở nhiều nhiều khu vực chúng từng phân bố (theo Nguyễn Tiến Hiệp và cs, 2004) [14] Hạt nảy mầm tốt nhưng rất hiếm gặp cây con trong tự nhiên Một số nghiên cứu cho thấy nhân giống Sa mộc dầu bằng gieo hạt trên giá thể cát vàng cho tỉ lệ cây sống

đạt 23% (Nguyễn Thị Hương Trang, 2012) [26] Quan sát cũng cho thấy rất

hiếm gặp chồi mọc từ thân Do vậy khả năng tái sinh tự nhiên rất kém Cây tái sinh dưới tán rừng rất ít và chủ yếu ở giai đoạn cây mạ Cây tái sinh ở giai

đoạn cây con hầu như không bắt gặp Đây là loài cây ưu tiên trong trồng rừng đặc dụng vì đáp ứng các tiêu chí liên quan đến tình trạng bị đe dọa, tính đặc

hữu vùng, khả năng tái sinh tự nhiên kém (Lê Đình Khả và cs, 2004, [15] [16] [17] Do vậy việc nghiên cứu xây dựng vườn giống, thử nghiệm nhân giống hữu tính và vô tính là rất cần thiết, vì loài cây này ngoài tự nhiên đang ngày càng suy giảm và hầu như không gặp cây tái sinh nên việc nghiên cứu nhân giống là vấn đề rất quan trọng nhằm bảo tồn và cũng là phát triển kinh tế loài cây Sa mộc dầu Vì Sa mộc dầu không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn

có giá trị kinh tế rất cao Là cây gỗ đứng có tán hình tháp, cao tới 50m, đường

Trang 27

kính ngang ngực tới 2,5 m hoặc hơn Gỗ Sa mộc dầu là loại bền, ít mối mọt,

có hoa vân, màu sắc rất đẹp, rất được ưa dùng để làm các đồ thủ công mỹ nghệ, làm các vật dụng trong gia đình, làm nhà Sa mộc dầu là cây ưu tiên trong chương trình trồng rừng Gỗ thuộc nhóm 1 theo phân loại nhóm gỗ rừng Việt Nam Gỗ Sa mộc dầu được đẽo gọt thành bồn tắm, giường, ghế, đặc biệt

được chiết xuất thành tinh dầu hòa vào nước tắm hoặc dùng để ướp xác

Hiện nay, không ít lời đồn cho rằng Sa mộc dầu có tác dụng chữa bệnh, tắm bằng bồn gỗ Sa mộc dầu giúp cơ thể thải độc tố, lưu thông khí huyết, ngăn ngừa rôm sảy, giúp tinh thần tỉnh táo Thậm chí, hương Sa mộc dầu còn được coi như thứ mùi kỵ côn trùng, khiến ruồi muỗi tránh xa Ở Việt Nam đã có nghiên cứu về vai trò của tinh dầu trong y học Do vậy việc phân tích thành phần và giá trị của tinh dầu Sa mộc dầu, như thử hoạt tính kháng viêm, kháng khuẩn là rất cần thiết Nghiên cứu thành phần hóa học trong tinh dầu từ gỗ của loài Sa mộc dầu (C konishii) ở Tây Côn Lĩnh bằng phương pháp sắc ký khí khối phổ (GC/MS), hơn

40 hợp chất được tách ra từ tinh dầu, trong đó 34 hợp chất được xác định (chiếm 97,3% tổng lượng tinh dầu) Thành phần chính của tinh dầu gồm α- terpineol (36,6%), α-cedrol (29,8%), cis-α- dehydro terpineol (5,6%), borneol (4,6%), camphor (4,4%) và α-cedren (3,4%) Các cấu tử khác ít hơn là l-fenchon (1,9%), fenchyl alcohol (1,8%) và α-cadinol (1,0%) Các chất còn lại phần lớn có hàm lượng từ 0,1% đến 0,9%.( Đỗ Ngọc Đài, Nguyễn Quang Hưng năm 2012) [11] Chính vì vậy việc nghiên cứu và phát triển loài cây Sa mộc dầu là hết sức có ý nghĩa Ngoài lĩnh vực trong trồng rừng ra nó còn mang ý nghĩa về mặt y học phục vụ đời sống của con người Vì vậy việc nghiên cứu để nhân giống cây Sa mộc dầu là rất cần thiết và mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng cho phát triển kinh

tế và bảo tồn nguồn gen

Tại Nghệ An việc nghiên cứu đã được tiến hành để xác định toàn bộ khu vực phân bố của loài Sa mộc dầu trong tỉnh đã có những nghiên cứu các đặc

Trang 28

điểm sinh học và sinh thái của loài (Tran Van Duong, 2001) [36] Nghiên cứu

tại Vườn Quốc gia Pù Mát, Nghệ An (Nguyễn Văn Sinh, 2009) [24] cho thấy

tình hình tái sinh của Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) rất kém

Cây tái sinh chủ yếu xuất hiện ở giai đoạn cây mạ và khi chuyển sang giai

đoạn cây con thì ít bắt gặp, tỷ lệ cây con có triển vọng rất thấp Đây là một

vấn đề và là một thách thức lớn đang đặt ra trong công tác bảo tồn loài cây quý hiếm này Quả (nón) Sa mộc dầu sau khi chín thì hạt không được tách ra

mà vẫn nằm nguyên ở trên nón Nón rụng xuống gặp điều kiện thuận lợi sẽ nảy mầm cây tái sinh ngay trên nón Hiện tượng này hoàn toàn khác so với các loài thuộc ngành Hạt trần mà chúng ta đã nghiên cứu và tìm hiểu Qua

đây chúng ta có thể giải thích tại sao trong tự nhiên thường thấy Sa mộc dầu

tái sinh theo cụm hoặc theo đám Một đặc điểm quan trọng nữa là mật độ cây tái sinh bắt gặp nhiều nhất là ở các khu vực trống, nhiều ánh sáng hoặc những nơi đất có thay đổi như: sạt lở, làm mới Điều này chứng tỏ cây tái sinh của

Sa mộc dầu có nhu cầu ánh sáng rất cao, đây cũng chính là nguyên nhân dẫn

đến dưới tán rừng rất ít xuất hiện cây tái sinh của Sa mộc dầu Bởi vì, dưới tán

rừng có Sa mộc dầu phân bố độ tàn che rất cao, thiếu hụt ánh sáng rất lớn và làm cho cây tái sinh Sa mộc dầu không phát triển được

Một khuyến cáo được đưa ra là không nên trồng Sa mộc dầu

(Cunninghamia konishii) cùng với quần thể Sa mộc (Cunninghamia

lanceolata) để tránh bị lai tạp (Nguyễn Đức Lưu và Philip Ian Thomas, 2004)

[43] Năm 2010 Vườn Quốc gia Pù Mát đã lập hồ sơ đăng kí cây di sản cho cây Sa mộc dầu cao khoảng 70m, đường kính thân hơn 5,5m ở thượng nguồn Khe Bu thuộc Vườn quốc gia Pù Mát, xã Châu Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (gọi tắt là VACNE) đã chứng nhận: Cây Sa mộc dầu tại Vườn quốc gia Pù Mát thuộc

“Cây Di sản Việt Nam” cần được bảo tồn và phát triển nguồn gen Hiện công tác bảo tồn “Cây Di sản Việt Nam” - Sa mộc dầu đang được lãnh đạo, cán bộ Vườn quốc gia Pù Mát bảo vệ rất nghiêm ngặt

Trang 29

Việc quan sát nghiên cứu không thấy tái sinh tự nhiên tại rừng thứ sinh Khe Thơi, Bát Một và Tân Sơn (Nghệ An) Tuy nhiên có thấy tái sinh tại những vùng đất sạt lở tại khu vực Tam Hợp dọc theo đường Việt- Lào Tình trạng bảo tồn của loài hiện nay thuộc nhóm bị đe dọa nghiêm trọng do đó đòi hỏi có biện pháp cấp thiết nhằm bảo vệ loài và sinh cảnh Trong đó giải pháp bảo tồn ngoại vi (Ex-situ) nên được thực hiện ngay bằng việc trồng và quản lý các quần thể Sa mộc dầu nhằm ngăn chặn xói mòn di truyền của quần thể tự nhiên (Nguyễn Minh Tâm và cs., 2013) [26] Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy khả năng tái sinh của Sa mộc dầu rất kém Nón chín tháng 10-11 nhưng rất khó thu hái do chỉ mọc ở phần trên của những cây trưởng thành rất lớn Tỉ lệ nảy mầm của hạt khoảng 43% Có thể nhân giống bằng giâm hom

từ cây non Nếu hom từ cây già thì cây thường có hiện tượng sinh trưởng hướng nghiêng Tại Việt Nam, do phân bố hẹp, khả năng tái sinh kém cộng với bị khai thác mạnh nên loài đang bị đe dọa cao (Nguyen Đuc Luu, Philip Ian Thomas, 2004) [12]

Tại Hà Giang, hiện nay số lượng cây Sa mộc dầu còn sót lại rất ít, các cây to đang được kiểm lâm bảo vệ nghiêm ngặt do nạn buôn bán gỗ quý này hết sức phức tạp Một cây to thường được trả giá đến 70-80 triệu đồng Do vậy nỗ lực bảo tồn không thể dừng lại ở việc bảo vệ các cây to hiện có mà cần

có kế hoạch nhân rộng, phát triển nhằm bảo tồn hiệu quả nguồn gen quý hiếm này Đầu năm 2006, tỉnh Hà Giang đã triển khai dự án “Bảo tồn và phát triển nguồn gen quý hiếm, bảo vệ đa dạng sinh học ở xã Thài Phìn Tủng, huyện

Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.”, viết tắt là VN/02/004, do Quỹ môi trường toàn

cầu (UNDP-GEF/SGP) tài trợ, nhằm bảo tồn và phát triển 4 loài thực vật hạt trần quý hiếm có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng Đó là Thông tre lá ngắn

(Podocarpus pilgori), Thông đỏ bắc (Taxus chinensis), Dẻ tùng sọc nâu (Amentotaxus hatuyenensis) và Hoàng đàn rủ (Cupressus funebris) Các loài

này nằm trong số 33 loài thuộc họ Thông của thế giới, được xác định là có giá

trị kinh tế và sinh thái đặc biệt cao Dự án đã thực hiện nhân giống những

Trang 30

giống cây này Trong số bốn loài cây hiện có ở Thài Phìn Tủng thì chỉ duy nhất có Thông đỏ bắc được các nhà khoa học nhân giống bằng hom và thành công vào năm 1993 Còn lại ba loài lần đầu tiên được nhân giống bằng hom thành công tại Thài Phìn Tủng Dự án đã đầu tư xây dựng ở Thài Phìn Tủng nhà giâm hom với diện tích 200m2 Đầu năm 2006 các nhà khoa học, cán bộ

kỹ thuật đã tiến hành áp dụng các biện pháp kỹ thuật thực hiện nhân gần 10.000 hom loài cây hạt trần quý hiếm Qua theo dõi sau 6 tháng, hơn 90% số hom được nhân giống đã ra rễ với chiều dài từ 2 đến 3cm (Lê Trần Chấn và

cs, 2006) [6], một số cành hom phát triển tốt đã được đem ra trồng dưới tán rừng Việc các nhà khoa học lần đầu tiên nhân giống thành công các loài cây thực vật hạt trần có ở Thài Phìn Tủng đã đóng góp thiết thực cho công tác bảo tồn và phát triển bốn loài hạt trần này ở Hà Giang nói riêng và ở Việt Nam nói chung

1.1.3 Nghiên cứu về sâu bệnh hại

“Những nghiên cứu về sâu bệnh hại ở Việt Nam đã được kế thừa ngành khoa học sinh thái côn trùng, bệnh cây của thế giới Từ những năm 1960 Hoàng Thị My khi điều tra cây rừng phía Nam cũng đã đề cập đến một số loại nấm(hay sâu) hại lá Nguyễn Sỹ Giao năm 1966 đã phát hiện bệnh khô lá thông hại cây con ở vườn ươm Tác giả cũng đã nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học và áp dụng một số loại thuốc hóa học để phòng chống bệnh hại này, chủ yếu là dùng nước bo osdo Đến năm 1969 Nguyễn Sỹ Giao đề nghị gọi bệnh này là rơm lá thông và phát hiện nguyên nhân gây bệnh là do nấm Vũ Quang Côn, Phạm Bình Quyển, Phạm Ngọc Anh,…năm 1971 Trần Văn Mão

đã công bố nhiều tài liệu về nấm bệnh trên các loại cây rừng như Trẩu, Quế,

Hồi…điều kiện phát bệnh và biện pháp phòng trừ, hàng trăm công trình nghiên cứu về bệnh cây rừng đã được đề cập Năm 1975, Uhig cùng các nhà khoa học của Viện nghiên cứu Lâm nghiệp và Trường đại học Lâm nghiệp nghiên cứu, thử nghiệm một số loại thuốc hóa học đề phòng chống bệnh rơm lá thông ở Quảng Ninh Năm 1991, Phạm Văn Mạch đã nghiên cứu nguyên nhân

Trang 31

gây bệnh và đề xuất một số biện pháp phòng trừ bệnh thối nhũn cây thông ở vườn ươm Năm 2000 và 2002 Phạm Quang Thu đã nghiên cứu về bệnh tuyến trùng hại thông ba lá ở Lâm Đồng, bệnh khô lá ở bạch đàn Sâu róm thông đuôi ngựa phát sinh từ năm 1959 – 1960 và cho đến nay đã có nhiều lần phát dịch tại Nghệ An, Yên Dũng (Bắc Giang), Đảo Ngọc (vùng Quảng Ninh), Lương Sơn,

Kỳ Sơn ( Hòa Bình ) Làm thiệt hại nhiều diện tích rừng thông ảnh hưởng tới sinh trưởng của cây và sản lượng nhựa của vài năm tiếp theo Rồi ong ăn lá thông, khô xám lá thông, rụng lá thông, đốm đỏ lá thông do các loại nấm, bệnh chảy nhựa do vi khuẩn Ngài độc hại thông ở Gia Lai, Kom Tum năm 2002- 2003,… những loài sâu bệnh hại này đã gây ảnh hưởng và khó khăn không nhỏ cho sinh hoạt và đời sống của con người”

Hình 1.1 : Địa điểm phân bố Sa mộc dầu ở Việt Nam (Phân bố sa mộc dầu

ở Việt Nam – theo tài liệu cây lá kim Việt Nam)

Vì việc bảo tồn loài cây Sa mộc dầu này ngày một cấp thiết, số lượng loài chỉ tính trên cấp độ cá thể nên việc thực hiện nghiên cứu không chỉ là bảo tồn mà quan trọng hơn là khả năng nhân giống loài cây này Không những

Trang 32

bảo tồn tốt nguồn giống mà còn có khả năng phát triển loài Nhân giống góp phần bảo tồn loài và phát triển kinh tế vì giá trì của loài mang lại là rất lớn vì vậy tác giả muốn thực hiện đề tài nghiên cứu này.

1.3 Tổng quan về khu vực nghiên cứu

Hà Giang là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam Phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai, phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang phía Bắc giáp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Hà Giang

có diện tích tự nhiên là 7.884,37 km2, trong đó theo đường chim bay, chỗ rộng nhất từ tây sang đông dài 115 km và từ bắc xuống nam dài 137 km Tại

điểm cực bắc của lãnh thổ Hà Giang, cũng là điểm cực bắc của Tổ quốc, cách

Lũng Cú chừng 3 km về phía đông, có vĩ độ 23013'00"; điểm cực tây cách Xín Mần khoảng 10 km về phía Tây nam, có kinh độ l04024'05"; mỏm cực đông cách Mèo Vạc 16 km về phía đông - đông nam có kinh độ l05030'04"

1.3.1 Vị trí địa lý

Hà Giang là một tỉnh miền núi biên giới ở cực Bắc của Tổ quốc, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng Phía bắc và tây có đường biên giới giáp với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa dài 274 km; phía đông giáp tỉnh Cao Bằng; phía nam giáp tỉnh Tuyên Quang; phía tây và tây nam giáp tỉnh Lào Cai và Yên Bái

Hà Giang có diện tích tự nhiên là 7.884, 37 km2, trong đó theo đường chim bay, chỗ rộng nhất từ tây sang đông dài 115 km và từ bắc xuống nam dài 137 km Tại điểm cực bắc của lãnh thổ Hà Giang, cũng là điểm cực bắc của Tổ quốc, cách Lũng Cú chừng 3 km về phía đông, có vĩ độ 23013'00";

điểm cực tây cách Xín Mần khoảng 10 km về phía tây nam, có kinh độ

l04024'05"; mỏm cực đông cách Mèo Vạc 16 km về phía đông - đông nam có kinh độ l05030'04" Tính đến nay Hà Giang có 01 thành phố, 10 huyện, 05 phường, 13 thị trấn và 177 xã

Trang 33

1.3.2 Địa hình

Hà Giang hiện lên với đặc điểm địa hình nhiều núi đá, cao dần ở phía Tây Bắc với 2 dãy núi cao là Tây Côn Lĩnh và cao nguyên Đồng Văn, nhưng thấp dần về phía Đông Nam Địa hình chia cắt thành các tiểu vùng mang đặc

điểm khác nhau về độ cao, thời tiết khí hậu,được chia thành 3 vùng lớn

Nằm trong khu vực địa bàn vùng núi cao phía bắc lãnh thổ Việt Nam, Hà Giang là một quần thể núi non hùng vĩ, địa hình hiểm trở, có độ cao trung bình từ 800 m đến 1.200 m so với mực nước biển Đây là vùng tập trung nhiều ngọn núi cao Theo thống kê mới đây, trên dải đất Hà Giang rộng chưa tới 8.000 km2 mà có tới 49 ngọn núi cao từ 500 m - 2.500 m (10 ngọn cao

500 - 1.000 m, 24 ngọn cao 1000 - 1500 m, 10 ngọn cao 1.500 - 2.000 m và 5 ngọn cao từ 2.000 - 2.500 m) Tuy vậy, địa hình Hà Giang về cơ bản có thể phân thành 3 vùng sau:

- Vùng cao phía bắc còn gọi là cao nguyên Đồng Văn, gồm các huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc với 90% diện tích là núi đá vôi,

đặc trưng cho địa hình karst Ở đây có những dải núi đá tai mèo sắc nhọn,

những khe núi sâu và hẹp, nhiều vách núi dựng đứng Ngày 03/10/2010 cao nguyên đá Đồng Văn đã gia nhập mạng lưới Công viên địa chất (CVĐC) toàn cầu với tên gọi: CVĐC Cao nguyên đá Đồng Văn

- Vùng cao phía tây gồm các huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần là một phần của cao nguyên Bắc Hà, thường được gọi là vòm nâng sông Chảy, có độ cao

từ 1.000m đến trên 2.000m Địa hình nơi đây phổ biến dạng vòm hoặc nửa vòm, quả lê, yên ngựa xen kẽ các dạng địa hình dốc, đôi khi sắc nhọn hoặc lởm chởm dốc đứng, bị phân cắt mạnh, nhiều nếp gấp

- Vùng núi thấp bao gồm địa bàn các huyện, thị còn lại, kéo dài từ Bắc

Mê, thị xã Hà Giang qua Vị Xuyên đến Bắc Quang Khu vực này có những dải rừng già xen kẽ những thung lũng tương đối bằng phẳng nằm dọc theo sông, suối

Trang 34

1.3.3 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội

1.3.3.1 Điệu kiện thủy văn

Các sông lớn ở Hà Giang thuộc hệ thống sông Hồng Ở đây có mật độ sông - suối tương đối dày Hầu hết các sông có độ nông sâu không đều độ dốc lớn, nhiều ghềnh thác, ít thuận lợi cho giao thông thuỷ Sông Lô là một sông lớn ở Hà Giang, bắt nguồn từ Lưu Lung (Vân Nam , Trung Quốc), chảy qua biên giới Việt - Trung (khu vực Thanh Thuỷ), qua thị xã Hà Giang, Bắc Quang về Tuyên Quang Đây là nguồn cung cấp nước chính cho vùng trung tâm tỉnh Sông Chảy bắt nguồn từ sườn tây nam đỉnh Tây Côn Lĩnh và sườn

đông bắc đỉnh Kiều Liên Ti, mật độ các dòng nhánh cao (1,1km/km2), hệ số

tập trung nước đạt 2,0km/km2 Mặc dù chỉ đoạn đầu nguồn thuộc địa phận tỉnh nhưng là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho khu vực phía tây của Hà Giang Sông Gâm bắt nguồn từ Nghiêm Sơn, Tây Trù (Trung Quốc) chảy qua Lũng Cú, Mèo Vạc về gần thị xã Tuyên Quang nhập vào sông Lô Đây là nguồn cung cấp nước chính cho phần đông của tỉnh Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Hà Giang còn có các sông ngắn và nhỏ hơn như sông Nho Quế, sông Miện, sông Bạc, sông Chừng, nhiều khe suối lớn nhỏ cung cấp nguồn nước phục vụ cho sản xuất và đời sống dân cư

1.3.3.2 Điệu kiện thủy văn

Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa và là miền núi cao, khí hậu Hà Giang

về cơ bản mang những đặc điểm của vùng núi Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn, song cũng có những đặc điểm riêng, mát và lạnh hơn các tỉnh miền Đông Bắc, nhưng ấm hơn các tỉnh miền Tây Bắc Nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 21,60 C– 230 C, biên độ nhiệt trong năm có sự dao động trên 100C và trong ngày cũng từ 60C – 70C Mùa nóng nhiệt độ cao tuyệt đối lên đến 400C (tháng

6, 7); ngược lại mùa lạnh nhiệt độ thấp tuyệt đối là 2,20C (tháng l)

Chế độ mưa ở Hà Giang khá phong phú Toàn tỉnh đạt bình quân lượng mưa hàng năm khoảng 2.300 - 2.400 mm, riêng Bắc Quang hơn 4.000 mm, là

Trang 35

một trong số trung tâm mưa lớn nhất nước ta Dao động lượng mưa giữa các vùng, các năm và các tháng trong năm khá lớn Năm 2001, lượng mưa đo

được ở trạm Hà Giang là 2.253,6 mm, Bắc Quang là 4.244 mm, Hoàng Su Phì

là 1.337,9 mm Tháng mưa cao nhất ở Bắc Quang (tháng 6) có thể đạt trên 1.400 mm, trong khi đó lượng mưa tháng 12 ở Hoàng Su Phì là 3,5 mm, ở Bắc Mê là 1,4 mm

Độ ẩm bình quân hàng năm ở Hà Giang đạt 85% và sự dao động cũng

không lớn Thời điểm cao nhất (tháng 6,7,8) vào khoảng 87 - 88%, thời điểm thấp nhất (tháng l,2,3) cũng vào khoảng 81%: Đặc biệt ở đây ranh giới giữa mùa khô và mùa mưa không rõ rệt Hà Giang là tỉnh có nhiều mây (lượng mây trung bình khoảng 7,5/10, cuối mùa đông lên tới 8 - 9/10) và tương đối ít nắng (cả năm có 1.427 giờ nắng, tháng nhiều là 181 giờ, tháng ít chỉ có 74 giờ) (Trạm khí tượng Hoàng Su Phì – Hà Giang) Các hướng gió ở Hà Giang phụ thuộc vào địa hình thung lũng Thung lũng sông Lô quanh năm hầu như chỉ có một hướng gió đông nam với tần suất vượt quá 50% Nhìn chung gió yếu, tốc độ trung bình khoảng 1 - l,5m/s Đây cũng là nơi có số ngày giông cao, tới 103 ngày/năm, có hiện tượng mưa phùn, sương mù nhiều nhưng đặc biệt ít sương muối Nét nổi bật của khí hậu Hà Giang là độ ẩm trong năm cao, mưa nhiều và kéo dài, nhiệt độ mát và lạnh, đều có ảnh hưởng đến sản xuất và

đời sống

1.3.3.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội

a Dân số, lao động và dân tộc: Tính đến hết tháng 12 năm 2009, dân số của toàn tỉnh Hà Giang là 727.000 người, với mật độ 91 người/km2 Hà Giang là một trong các tỉnh có mật độ dân số thấp trong cả nước Tỉ lệ gia tăng dân số vẫn ở mức cao, cao hơn mức trung bình toàn quốc Hiện nay, chỉ

có 11,9% dân số Hà Giang sống ở các thị xã, thị trấn, còn lại phần lớn dân số vẫn tập trung ở nông thôn và vùng núi cao

Trang 36

Hiện nay, toàn tỉnh Hà Giang chỉ có 1 trường dạy nghề, hàng năm đảm bảo đào tạo được khoảng 2000 lao động có tay nghề Trình độ học vấn và lao

động của toàn tỉnh còn khá thấp, trên 80% dân số trong độ tuổi lao động

nhưng có tới trên 15% lao động chưa biết chữ, số lao động tốt nghiệp trung học phổ thông và trung cấp chỉ hơn 7%

Hà Giang là nơi hội tụ của nhiều dân tộc di cư từ nhiều vùng khác nhau như Mông, Dao, Pu Péo, Tày, Nùng, Cờ Lao, La Chí, Bố Y,… Với 22 dân tộc anh em cùng chung sống qua bao thế hệ khẳng định một kho tàng văn hóa vật thể, phi vật thể đồ sộ Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa truyền thống hết sức độc đáo từ tên gọi, trang phục, nơi cư trú, ngôn ngữ, phong tục, tập quán, tín ngưỡng… Ngoài các lễ hội mang tính cộng đồng tiêu biểu, phải kể đến một di sản qúy báu về văn nghệ dân gian, từ việc truyền miệng thơ ca, truyện

cổ, ca dao tục ngữ cho đến các làn điệu dân ca, dân vũ phong phú, đa dạng, với trình độ biểu diễn của một số tộc người mang đậm nét đặc trưng mà còn

đạt đến đỉnh cao nghệ thuật

b Cơ sở hạ tầng tỉnh Hà Giang:

Giao thông vận tải: Đến nay mạng lưới giao thông đường bộ của tỉnh có trên 7.146 km đường các loại, cụ thể:

+ Đường quốc lộ có 458 km đã trải nhựa, trong đó có 108 km đường cấp

IV, còn 350 km đường cấp VI

+ Đường tỉnh lộ có 1.664 km, trong đó 392 km đường nhựa (kể cả 104

km hiện đang rải nhựa), 175 km đường cấp phối và 1.095 km đường đất + Đường huyện lộ có 1.443 km

+ Đường dân sinh có 5.024 km, trong đó bê tông hoá được 430 km Cùng với sự phát triển mạng lưới đường giao thông, lực lượng các phương tiện vận tải trên địa bàn cũng luôn đảm bảo đáp ứng các yêu cầu về vận chuyển hàng hoá, đi lại phục vụ sinh hoạt và sản xuất của nhân dân trong tỉnh

Trang 37

- Y tế: Toàn tỉnh có 304 bác sỹ, có 80 xã đạt chuẩn về y tế Về cơ sở vật chất có 3 bệnh viện tỉnh với quy mô 400 giường; 11 trung tâm y tế huyện, thị

và 10 bệnh viện huyện, 21 phòng khám đa khoa khu vực

- Điện năng: Hệ thống lưới điện của tỉnh đã được đầu tư phát triển mạnh

đảm bảo cung cấp điện lưới cho 11/11 huyện, lỵ, thị xã và 184/195 xã

phường Đến nay trên địa bàn Hà Giang có 1 trạm biến áp 110KV với công suất 32.000 KVA, 23 trạm thuỷ điện với công suất trên 24.300 KW và một số máy phát điện Diesel có công suất trên 6600 KW Hệ thống lưới điện gồm:

180 Km đường dây 110 KV, 11200 Km đường dây 35 KV, 131 Km đường dây 22 KV

- Nước sạch: Đến nay đã xây dựng hàng trăm công trình hệ tự chảy, 23.895 bể chứa nước cho đồng bào vùng cao; các trung tâm huyện lỵ, thị xã

đều đã có hệ thống cấp nước Tỉnh đã giải quyết được 80% số hộ vùng cao

chủ động nước về mùa khô và 41% số hộ được sử dụng nước sạch

1.3.4 Tài nguyên rừng của Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh

1.3.4.1 Hệ thực vật Khu hệ thực vật

Ở đây có 796 loài thuộc 162 họ, trong đó 54 loài quý hiếm, trong các

loài quý hiếm có 49 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam (2007) chiếm khoảng 6,2% và chiếm khoảng 11,4% tổng số loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam Trong đó có 3 loài thuộc cấp rất nguy hiểm (CR), 19 loài thuộc nhóm nguy cấp (EN), 27 loài thuộc nhóm sẽ nguy cấp (VU) 4 loài nằm trong Danh lục

đỏ của IUCN (2007): 3 loài thuộc cấp ít nguy cấp (LR), 1 loài sẽ nguy cấp

(VU), chiếm khoảng 0,4% tổng số loài đã biết 14 loài nằm trong NĐ 32/2006 NĐ-CP chiếm khoảng 1,8% tổng số loài đã biết và chiếm khoảng 27% tổng

số loài có tên trong NĐ 32/2006 NĐ-CP, trong đó 11 loài nằm ở nhóm IA, 3 loài nằm ở nhóm IIA 5 loài nằm trong phụ lục II của công ước CITES 2008 chiếm khoảng 0,6% tổng số loài đã biết trong khu bảo tồn

Trang 38

1.3.4.2 Hệ động vật

Khu hệ thú:

Trong số 58 loài thú, đã xác định 20 loài thú quý hiếm (chiếm 34,5%) Trong số này có 14 loài thú ghi trong Danh lục Đỏ IUCN (2007); 19 loài

được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007); 17 loài ghi trong ND 32/2006/NĐ-

CP (2006) của Chính Phủ và 15 loài ghi trong Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục của CITES (Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã bị đe dọa)

Khu hệ chim:

Có 100 loài chim thuộc 33 họ, 12 bộ Trong số này họ khướu có số lượng loài nhiều nhất 26 loài (chiếm 26,3% tổng số loài), họ chim chích có 9 loài, họ chích chòevà họ cu cu 6 loài Trong số loài ghi nhận được có 5 loài

được ghi nhận trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) bao gồm Gà lôi tía, Gà lôi

trắng, Hồng hoàng, Trèo cây lưng đen và Trèo cây mỏ vàng

Khu hệ bò sát, ếch nhái:

Đã ghi nhận tổng số 55 loài thuộc 16 họ, 4 bộ bao gồm 25 loài bò sát

thuộc 8 họ, 2 bộ và 30 loài loài ếch nhái thuộc 8 họ, 2 bộ Họ có số lượng loài nhiều bao gồm họ Rắn nước (Colubridae: 10 loài), họ Ếch nhái (Ranidae: 7 loài); họ Ếch cây (Rhacophoridae: 7 loài), họ Ếch nhái chính thức (Dicroglossidae: 5 loài) và họ Cóc bùn (Megophryidae: 5 loài) Trong đó có

11 loài quý hiếm (chiếm 20%)

Trang 39

Chương 2 NÔI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu một số đặc điểm sinh

vật học, hình thái, tái sinh và kỹ thuật nhân giống tạo cây con trong giai đoạn vườn ươm của loài Sa mộc dầu tại khu bảo tồn Tây Côn Lĩnh tỉnh Hà Giang

- Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tại khu bảo tồn Tây

Côn Lĩnh tỉnh Hà Giang nơi có loài Sa mộc dầu phân bố

- Thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 10 năm 2014 đến tháng

7 năm 2015

2.2 Nội dung nghiên cứu

Nội dung 1 : Đặc điểm sinh vật học của loài cây Sa mộc dầu tại khu vực nghiên cứu

Việc điều tra được thực hiện trực tiếp tại vị trí cây Sa mộc dầu và điều tra một số đặc điểm như sau: Chiều cao phân cành, chiều cao vút ngọn Hình thái vỏ cây, lá cây, nón đực/ nón cái (hình dạng, kích thước, màu sắc)

Nội dung 2 : Tìm hiểu tri thức bản địa của người dân địa phương về nhân giống Sa mộc dầu tại địa phương

Trong quá trình tìm hiểu điều tra về loài cây Sa mộc dầu tại một khu vực

có cây trên địa bàn Tìm hiểu các kiến thức bản địa của người dân địa phương

về loài cây Sa mộc dầu

- Thời điểm thu hái, kỹ thuật thu hái, phương pháp thu hái và xử lý hạt

giống của người dân địa phương

- Thành phần hỗn hợp ruột bầu của người dân địa phương

- Kỹ thuật chăm sóc của người dân trong giai đoạn ươm cây và thời gian chăm sóc cây giống tại vườn ươm

Trang 40

Nội dung 3: Nghiên cứu một số cứu nhân tố trong quá trình sử lý

hạt giống

Trong quá trình gieo ươm việc xử lý hạt giống là một trong những yếu tố quan trọng,có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ nảy mầm của hạt giống vì vậy việc thử nghiệm một số yếu tố ảnh hưởng là rất cần thiết Cho nên tôi đã nghiên cứu một số yếu tố như sau:

+ Nhiệt độ xử lý hạt giống

+ Thời gian ngâm nước xử lý hạt giống

Nội dung 4: Một số yếu tố ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của cây con trong giai đoạn vườn ươm

- Ảnh hưởng của chế độ tưới nước trong giai đoạn cây con sinh trưởng tại vườn ươm qua các công thức thí nghiệm

- Ảnh hưởng của sự che bóng tới sinh trưởng của cây con trong giai đoạn vườn ươm

- Ảnh hưởng của công thức thành phần ruột bầu đến sinh trưởng cây con

Nội dung 5: Sâu bệnh hại và biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại cây con tại vườn ươm

Trong quá trình thực hiện gieo ươm cây không thể tránh khỏi cây mắc một số các loại sâu bệnh khác nhau Nên việc thực hiện theo dõi các loại sâu bệnh hại cần được điều tra và cụ thể là các loại sâu bệnh hại trên: rễ, thân, cành và lá

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp kế thừa

Phương pháp kế thừa là một trong những phương pháp được sử dụng cần thiết để từ đó góp phần làm cở sở cho việc triển khai thực hiện đề tài Đây là một trong nhưng phương pháp quan trọng và cần sử dụng khi thực hiện đề tài

Ngày đăng: 31/05/2016, 08:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
17. Lê Đình Khả, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Nguyễn Xuân Liệu, (2006),“Cải thiện giống và quản lý giống cây rừng Việt Nam”, Cẩm nang ngành Lâm nghiệp, Chương trình hỗ trợ ngành Lâm nghiệp và Đối tác, Bộ NN và PTNT, Hà Nội 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải thiện giống và quản lý giống cây rừng Việt Nam
Tác giả: Lê Đình Khả, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Nguyễn Xuân Liệu
Năm: 2006
18. Vũ Văn Khoát (2007) [21] trong “Nghiên cứu một số đặc tính sinh học của loài Dầu đồng và Cà chít phân bố trong rừng khộp ở Tây Nguyên” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc tính sinh học của loài Dầu đồng và Cà chít phân bố trong rừng khộp ở Tây Nguyên
21. Sách cẩm nang Lâm nghiệp, “Chương quản lý sâu bệnh hại rừng trồng” Năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương quản lý sâu bệnh hại rừng trồng
28. Lê Văn Thuấn (2009) đã thực hiện công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học của loài Vối thuốc răng cưa (Schima superba) tại khu vực Tây Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Schima superba)
29. Nguyễn Toàn Thắng (2008). Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài Dẻ anh (Castanopsis piriformis) tại Lâm Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Castanopsis piriformis
Tác giả: Nguyễn Toàn Thắng
Năm: 2008
30. Nguyễn Thị Hương Trang, 2012. Nghiên cứu đa dạng di truyền quần thể nhằm bảo tồn hai loài Pơ mu (Fokenia hodginsii) và Sa mộc dầu (Cunninghamia konsihii Hayata), mối quan hệ họ hàng của một số loài trong họ Hoàng đàn (Cupressaceace) tại Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cunninghamia konsihii Hayata
32. Phan Nguyên Xuất (1999). Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học loài Thông nàng (Podocarpus imbrricatus Blume) tại tỉnh Gia Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Podocarpus imbrricatus
Tác giả: Phan Nguyên Xuất
Năm: 1999
37. Tran Van Duong, 2001. Conservation and development of Cunninghamia konishii Hayata - a rare species that is newly discovered in Pu Hoat (Nghe An province). Conservation education network internal newsletter No. 3, 4/200115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cunninghamia konishii" Hayata - a rare species that is newly discovered in Pu Hoat (Nghe An province). "Conservation education network internal newsletter
10. Vũ Văn Cần (1997) đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của cây Chò đãi làm cơ sở cho công tác tạo giống trồng rừng ở Vườn quốc gia Cúc Phương Khác
11. Đỗ Ngọc Đài, Nguyễn Quang Hưng năm (2012) Nghiên cứu thành phần hóa học trong tinh dầu từ gỗ của loài Sa mộc dầu (C. konishii) ở Tây Côn Lĩnh bằng phương pháp sắc ký khí khối phổ (GC/MS) Khác
12. Nguyen Đuc Luu, Philip Ian Thomas, 2004. Cây lá kim Vi ệ t Nam. Darwin Initiative ‘Preservation, Rehabilitation and Utilisation of Vietnamese Montane Forests’ 162/10/017 a Khác
15. Lê Đình Khả, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Nguyễn Xuân Liệu, 2006. Cải thiện giống và quản lý giống cây rừng Việt Nam, Cẩm nang ngành Lâm Khác
16. Lê Đình Khả và cộng sự, (2004). Chọn loài cây ưu tiên cho các chương trình trồng rừng tại Việt Nam. Cẩm nang ngành Lâm nghiệp. Nhà xuất bản Giao thông vận tải Khác
19. Vương Hữu Nhi (2003). Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và kỹ thuật tạo cây con Căm xe góp phần phục vụ trồng rừng ở Đắc Lắc - Tây Nguyên Khác
24. Nguyễn Văn Sinh, (2009). Một số dẫn liệu về đặc điểm sinh thái, phân bố và bảo tồn loài Sa mu dầu tại Vườn Quốc gia Pù Mát. Tuyển tập báo cáo Hội nghị sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ 3, 22/10/2009.Viện ST&TNSV. Hà Nội Khác
25. Nguyễn Văn Sinh (2009), Một số dẫn liệu về đặc điểm sinh thái, phân bố và bảo tồn loài Sa mu dầu tại Vườn Quốc gia Pù Mát Khác
27. Trần Minh Tuấn (1997) đã nghiên cứu một số đặc tính sinh vật học loài Phỉ ba mũi làm cơ sở cho việc bảo tồn và gây trồng tại Vườn quốc gia Ba Vì – Hà Nội Khác
31. Lê Phương Triều (2003). Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của loài Trai lý tại Vườn Quốc gia Cúc Phương Khác
33. E. P. Odum (1979), Cơ sở sinh thái học, tập một, Phạm Bình Quyền và các tác giả khác dịch, Nxb. Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1978 Khác
34. Richards P.W, (1965). Rừng mưa nhiệt đới. Vương Tấn Nhị dịch, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 : Địa điểm phân bố Sa mộc dầu ở Việt Nam (Phân bố sa mộc dầu - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và kỹ thuật gieo ươm sa mộc dầu (cuninghamia konishii hayata) từ hạt tại khu bảo tồn tây côn lĩnh tỉnh hà giang
Hình 1.1 Địa điểm phân bố Sa mộc dầu ở Việt Nam (Phân bố sa mộc dầu (Trang 31)
Hình 3.3: Lá cây Sa mộc dầu của cây Sa mộc dầu 5 năm tuổi - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và kỹ thuật gieo ươm sa mộc dầu (cuninghamia konishii hayata) từ hạt tại khu bảo tồn tây côn lĩnh tỉnh hà giang
Hình 3.3 Lá cây Sa mộc dầu của cây Sa mộc dầu 5 năm tuổi (Trang 52)
Hình 3.4: Cành và nón Sa mộc dầu mang nón cách thời gian thu hái 2 - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và kỹ thuật gieo ươm sa mộc dầu (cuninghamia konishii hayata) từ hạt tại khu bảo tồn tây côn lĩnh tỉnh hà giang
Hình 3.4 Cành và nón Sa mộc dầu mang nón cách thời gian thu hái 2 (Trang 53)
Hình 3.5 : Nón cây Sa mộc dầu khi chuẩn bị thu hái  nón nhân giống - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và kỹ thuật gieo ươm sa mộc dầu (cuninghamia konishii hayata) từ hạt tại khu bảo tồn tây côn lĩnh tỉnh hà giang
Hình 3.5 Nón cây Sa mộc dầu khi chuẩn bị thu hái nón nhân giống (Trang 54)
Hình 3.7:  Ảnh cây Sa mộc dầu của hộ gia đình trồng 5 năm tuổi - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và kỹ thuật gieo ươm sa mộc dầu (cuninghamia konishii hayata) từ hạt tại khu bảo tồn tây côn lĩnh tỉnh hà giang
Hình 3.7 Ảnh cây Sa mộc dầu của hộ gia đình trồng 5 năm tuổi (Trang 55)
Hình 3.8:  Ảnh cây Sa mộc dầu của hộ gia đình trồng 5 năm tuổi - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và kỹ thuật gieo ươm sa mộc dầu (cuninghamia konishii hayata) từ hạt tại khu bảo tồn tây côn lĩnh tỉnh hà giang
Hình 3.8 Ảnh cây Sa mộc dầu của hộ gia đình trồng 5 năm tuổi (Trang 55)
Hình 3.10: Nón Sa mộc dầu lấy hạt nhân giống  3.3.1 Xử lý hạt giống tại vườn ươm - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và kỹ thuật gieo ươm sa mộc dầu (cuninghamia konishii hayata) từ hạt tại khu bảo tồn tây côn lĩnh tỉnh hà giang
Hình 3.10 Nón Sa mộc dầu lấy hạt nhân giống 3.3.1 Xử lý hạt giống tại vườn ươm (Trang 59)
Hình 3.11: Ảnh hưởng của thời gian ngâm hạt giống đối với tỷ lệ nảy mầm - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và kỹ thuật gieo ươm sa mộc dầu (cuninghamia konishii hayata) từ hạt tại khu bảo tồn tây côn lĩnh tỉnh hà giang
Hình 3.11 Ảnh hưởng của thời gian ngâm hạt giống đối với tỷ lệ nảy mầm (Trang 60)
Hình 3.12: Ảnh của chế độ ngâm nước đến sự nảy mầm của hạt giống - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và kỹ thuật gieo ươm sa mộc dầu (cuninghamia konishii hayata) từ hạt tại khu bảo tồn tây côn lĩnh tỉnh hà giang
Hình 3.12 Ảnh của chế độ ngâm nước đến sự nảy mầm của hạt giống (Trang 62)
Hình 3.18:  Ảnh hưởng che sáng tới sự phát triển của cây Sa mộc dầu - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và kỹ thuật gieo ươm sa mộc dầu (cuninghamia konishii hayata) từ hạt tại khu bảo tồn tây côn lĩnh tỉnh hà giang
Hình 3.18 Ảnh hưởng che sáng tới sự phát triển của cây Sa mộc dầu (Trang 68)
Hình 3.20: Khả năng sinh trưởng của Sa mộc dầu của 5 công thức thí - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và kỹ thuật gieo ươm sa mộc dầu (cuninghamia konishii hayata) từ hạt tại khu bảo tồn tây côn lĩnh tỉnh hà giang
Hình 3.20 Khả năng sinh trưởng của Sa mộc dầu của 5 công thức thí (Trang 71)
Hình 3.22 : Sự phát triển của một số công thức về hỗn hợp ruột bầu - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và kỹ thuật gieo ươm sa mộc dầu (cuninghamia konishii hayata) từ hạt tại khu bảo tồn tây côn lĩnh tỉnh hà giang
Hình 3.22 Sự phát triển của một số công thức về hỗn hợp ruột bầu (Trang 73)
Hình 3.23 : Bệnh thối cổ rễ tại vườn ươm 5 tháng tuổi - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và kỹ thuật gieo ươm sa mộc dầu (cuninghamia konishii hayata) từ hạt tại khu bảo tồn tây côn lĩnh tỉnh hà giang
Hình 3.23 Bệnh thối cổ rễ tại vườn ươm 5 tháng tuổi (Trang 74)
Hình 3.24 : Côn trùng hại cây giai đoạn 3 tháng tuổi - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và kỹ thuật gieo ươm sa mộc dầu (cuninghamia konishii hayata) từ hạt tại khu bảo tồn tây côn lĩnh tỉnh hà giang
Hình 3.24 Côn trùng hại cây giai đoạn 3 tháng tuổi (Trang 74)
Hình 3.25: Bệnh khô lá trong giai đoạn vườn ươm 3 tháng tuổi - Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và kỹ thuật gieo ươm sa mộc dầu (cuninghamia konishii hayata) từ hạt tại khu bảo tồn tây côn lĩnh tỉnh hà giang
Hình 3.25 Bệnh khô lá trong giai đoạn vườn ươm 3 tháng tuổi (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w