1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tình hình đầu tư và các giải pháp nhằm thu hút đầu tư vào các KCN-KCX Cần Thơ đến năm 2010

155 1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khu công nghiệp Trà Nóc I Cần Thơ được xây dựng theo Quyết định số 817/QĐ/TTg, ngày 13/02/1995 của Thủ tướng Chính phủ, diện tích 135,67 hecta, đã có những đóng góp đáng kể trong việc ph

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

I SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Phát triển khu công nghiệp − khu chế xuất có vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá − hiện đại hoá đất nước, góp phần thực hiện chiến lược phát triển kinh tế − xã hội của quốc gia Văn kiện Đại hội Đảng lần IX đã chỉ rõ: “Quy hoạch phân bố hợp lý công nghiệp trên cả nước Phát triển có hiệu quả khu công nghiệp, khu chế xuất, xây dựng một số khu công nghệ cao, hình thành các cụm công nghiệp lớn

và khu kinh tế mở” Chúng ta đều biết vai trò của KCN trong tiến trình công nghiệp hóa là rất quan trọng Sự hình thành và phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất là một tất yếu khách quan nhằm thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển Khu công nghiệp Trà Nóc I Cần Thơ được xây dựng theo Quyết định số 817/QĐ/TTg, ngày 13/02/1995 của Thủ tướng Chính phủ, diện tích 135,67 hecta, đã có những đóng góp đáng kể trong việc phát triển kinh tế xã hội của Cần Thơ nói riêng và cả nước nói chung Tuy nhiên, với vị trí và vai trò trung tâm của vùng ĐBSCL, đặc biệt kể từ ngày 01/01/2004 thành phố Cần Thơ đã chính thức trở thành thành phố trực thuộc Trung Ương, khu công nghiệp Cần Thơ vẫn chưa làm tốt được nhiệm vụ của mình, thể hiện qua tỷ lệ lấp đầy diện tích chưa cao, chưa thu hút được các dự án có vốn đầu tư lớn cũng như tổng vốn thu hút được đến cuối năm 2004 chỉ đạt khoảng 348 triệu USD, chỉ bằng một vài dự

án ở các KCN Miền Đông Nam bộ Năm 2005 khu công nghiệp Cần Thơ thu hút được 27 dự án mới với vốn đăng ký 148 triệu USD, trong đó có 4 dự án đầu tư nước ngoài đăng ký 18,2 triệu USD (Nguồn báo cáo BQL KCN)

Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH – HĐH) phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng ta đã lựa chọn con đường CNH – HĐH rút ngắn, thực hiện đi tắt, đón đầu bằng nhiều phương thức khác nhau; trong đó, phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất (KCN – KCX) là một phương thức rất quan trọng Phương thức này cho phép khai thác tốt nhất các tài nguyên, nhất là nguồn nhân lực; thu hút sử dụng vốn, khoa học – công nghệ, trình độ tổ chức, quản lý của thế giới vào quá trình sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Các KCN – KCX góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hoá, thúc đẩy việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời tạo ra cơ chế quản lý và mô hình quản lý mới; qua đó thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển mạnh, nhất là kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, tạo tiền đề trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế

Trang 2

Đánh giá về vai trò của KCN, Thủ tướng Phan Văn Khải đã nói: “Phát triển KCN

là một giải pháp quan trọng nhằm tạo thuận lợi cho đầu tư kinh doanh, tiết kiệm nguồn lực xây dựng kết cấu hạ tầng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm an ninh quốc phòng Chúng ta cần đa dạng hoá các loại hình KCN, không chỉ quan tâm đến các KCN lớn ở đô thị và ven đô thị mà còn phải chú trọng các KCN qui mô nhỏ ở các vùng nông thôn, để thúc đẩy công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng Đi đôi với việc tích cực xây dựng các KCN theo qui hoạch, cần đặc biệt chú trọng thu hút đầu tư vào những KCN đã được hình thành, thường xuyên rút kinh nghiệm để không ngừng nâng cao sức hấp dẫn và phát huy hiệu quả đầu tư của các KCN”

Cần Thơ từ tỉnh đã được chuyển thành thành phố trực thuộc Trung Ương, để có thể

đi tắt đón đầu, kích thích thu hút vốn đầu tư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ thì việc phát triển các KCN – KCX chính là động lực để tạo nên những “cú hích” của đô thị mới Trong thời gian qua, ở Cần Thơ đã hình thành và phát triển các KCN – KCX Trà Nóc, Hưng Phú và các cụm tiểu thủ công nghiệp Đến cuối năm 2004, đã có 63 dự án hoạt động, giá trị sản xuất công nghiệp chiếm 46,28% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh, kim ngạch xuất khẩu chiếm 33,88% kinh ngạch xuất khẩu toàn tỉnh Từ kết quả đạt được đã khẳng định vai trò quan trọng của phát triển các KCN – KCX ở Cần Thơ nói riêng và vùng ĐBSCL, cả nước nói chung Tuy nhiên, việc thu hút vốn đầu tư vào các KCN – KCX ở Cần Thơ, đặc biệt là KCN Hưng Phú, KCN Vị Thanh kết quả đạt được chưa xứng với tiềm năng, cơ hội đang

có Cho đến nay, diện tích cho thuê của KCN Hưng Phú I mới 18%, KCN Hưng phú

II là 12% Do vậy, cần thiết phải có nghiên cứu đánh giá thực trạng thu hút đầu tư, tìm nguyên nhân của vấn đề và qua đó đề xuất giải pháp thu hút vốn đầu tư vào KCN Cần Thơ trong thời gian tới Do đó việc nghiên cứu đề tài “Đánh giá tình hình đầu

tư và các giải pháp nhằm thu hút đầu tư vào các KCN KCX Cần Thơ đến năm 2010”

là cần thiết để góp phần đưa TP Cần Thơ sớm trở thành trung tâm kinh tế văn hóa

xã hội của vùng ĐBSCL

II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

 Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu tình hình đầu tư vào các KCN Cần Thơ (bao

gồm KCN Vị Thanh Hậu giang), tìm nguyên nhân tồn tại của các KCN, trên cơ sở đó

đề xuất giải pháp thu hút vốn đầu tư vào các KCN

Đánh giá tổng quan tình hình đầu tư vào KCN Việt Nam và KCN Cần Thơ trong thời gian qua

Trang 3

Đánh giá hiện trạng tình hình thu hút vốn đầu tư tại khu công nghiệp Trà Nóc, KCN Hưng Phú, KCN Vị Thanh trong thời gian qua, tác động của các chính sách đối với hoạt động của khu công nghiệp nói chung

Phân tích đánh giá tìm nguyên nhân vì sao các doanh nghiệp đang hoạt động hiện nay chưa vào khu công nghiệp

Phân tích ma trận SWOT, đánh giá các yếu tố cơ hội, thách thức của môi trường tác động đến hoạt động thu hút đầu tư vào khu công nghiệp nói chung và từng khu công nghiệp nói riêng; điểm mạnh, điểm yếu trong hoạt động thu hút vốn đầu tư của khu công nghiệp

Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động và phân tích tác động của môi trường thu hút đầu tư để đề xuất giải pháp đẩy mạnh thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp – khu chế xuất

III KẾT CẤU NỘI DUNG ĐỀ TÀI:

Nội dung đề tài được chia những nội dung sau:

Phần Mở đầu

Phần Nội dung

 Chương I: Cơ sở lý luận và quá trình phát triển KCN KCX của Việt Nam

 Chương II: Tổng quan về KCN KCX Thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang

 Chương III: Phân tích hoạt động và khả năng thu hút đầu tư của các khu công nghiệp khu chế xuất Thành phố Cần Thơ và Tỉnh Hậu Giang

 Chương IV: Một số giải pháp đẩy mạnh việc thu hút đầu tư vào các KCN Thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang

Phần Kết luận kiến nghị

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

 Cách tiếp cận:

Liên hệ Ban Quản lý khu công nghiệp−khu chế xuất Cần Thơ, Sở Công nghiệp

TP Cần Thơ, Sở Kế hoạch & đầu tư TP Cần Thơ để nắm tổng quan về tình hình đầu

tư trong và ngoài nước vào các khu công nghiệp Cần Thơ

Trực tiếp tiếp xúc và trao đổi với các doanh nghiệp sản xuất − kinh doanh trong khu công nghiệp, ngoài khu công nghiệp trên địa bàn TP Cần Thơ và các doanh nghiệp ngoài khu công nghiệp trên địa bàn Thị xã Vị Thanh tỉnh Hậu Giang

Trang 4

 Phương pháp nghiên cứu:

Nghiên cứu thông qua các nguồn dữ liệu thứ cấp có sẵn, như:

Các báo cáo qua các năm về các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào KCN, tài liệu có liên quan: các văn bản, các chính sách của Chính phủ, địa phương về KCN,

Các báo cáo tổng kết của Sở Công nghiệp, Sở Kế hoạch & đầu tư, Ban quản lý khu công nghiệp Cần Thơ về tình hình đầu tư cũng như kết quả sản xuất − kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn nghiên cứu

Thu thập thông qua số liệu niên giám thống kê của Việt Nam và Cần Thơ

Quy hoạch tổng thể thành phố Cần Thơ đến năm 2020 của UBND thành phố Cần Thơ

Các số liệu từ các trang web http://www.mpi.gov.vn; www.vneconomy.com.vn;

http://www.cpt.gov.vn; http://www.cantho.gov.vn;

Thu thập số liệu sơ cấp:

Điều tra chọn mẫu phỏng vấn qua bản câu hỏi đối với các doanh nghiệp sản xuất− kinh doanh trên địa bàn nghiên cứu (tỉnh Cần Thơ cũ) tổng số là 300 phiếu (theo đề cương được duyệt) Trong quá trình thực hiện, tỉnh Cần Thơ tách ra thành

TP Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang Do đó, nhóm nghiên cứu chia phiếu điều tra trên địa bàn thành phố Cần Thơ 250 phiếu (ngoài khu công nghiệp là 220 phiếu và trong khu công nghiệp là 30 phiếu) và tỉnh Hậu Giang là 50 phiếu (tập trung ở thị xã Vị Thanh),

vì số lượng doanh nghiệp ở Hậu Giang quá ít Mặt khác, trong quá trình thu thập thông tin ở các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn nên có một số ít phiếu điều tra bị loại trong xử lý số liệu

− Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên để thu thập thông tin

Xử lý số liệu qua phần mềm Excel, SPSS, phân tích SWOT, đánh giá làm cơ sở

đề xuất định hướng và giải pháp cho hoạt động của khu công nghiệp trong tương lai

Từ những dữ liệu thu thập được, nhóm nghiên cứu đã tiến hành phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá và rút ra những vấn đề cần nghiên cứu của đề tài

V PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

Phỏng vấn các doanh nghiệp chủ yếu ở địa phương Cần Thơ cả trong và ngoài khu công nghiệp

Trang 5

− Đối với các doanh nghiệp ngoài địa bàn nghiên cứu, cho dù họ có ý định hay không có ý định vào khu công nghiệp Cần Thơ − Hậu giang, cũng không thuộc phạm

vi nghiên cứu của đề tài

Số liệu điều tra phỏng vấn chủ yếu tập trung năm 2004 300 phiếu doanh nghiệp, nhƣng thông tin thu đƣợc có 291 phiếu, trong đó có 252 phiếu ở cụm TP Cần Thơ (222 phiếu ngoài KCN, 30 phiếu trong KCN) và 39 phiếu ở KCN

với nhóm nghiên cứu Ngay cả các phiếu câu hỏi thu đƣợc, nhiều thông tin doanh nghiệp không trả lời hoặc có trả lời nhƣng chƣa đúng với thực tế Do vậy, số liệu thu thập đƣợc có nhiều hạn chế và có những chỉ tiêu khi phân tích chỉ mang tính tham khảo

Đề tài này không đề cập đến các khu tiểu thủ công nghiệp ở Cần Thơ

o O o

Trang 6

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KCN KCX VIỆT NAM

I CÁC KHÁI NIỆM

Khu công nghiệp (KCN): là khu tập trung các doanh nghiệp khu công nghiệp

chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp,

có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất

Khu chế xuất (KCX): là khu công nghiệp tập trung các doanh nghiệp chế xuất

chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu

và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập

Khu công nghệ cao (KCNC): là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ

thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ, đào tạo và các dịch vụ liên quan, có ranh giới địa

lý xác định; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trong KCNC có thể có doanh nghiệp chế xuất hoạt động

Doanh nghiệp khu công nghiệp (DN KCN): là doanh nghiệp được thành lập và

hoạt động trong khu công nghiệp, bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ

Doanh nghiệp chế xuất (DN CX): là doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất

khẩu, thực hiện các dịch vụ chuyên cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu được thành lập và hoạt động trong KCN, KCX

Công ty kinh doanh cơ sở hạ tầng: là doanh nghiệp được thành lập có chức

năng kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN và được Thủ tướng Chính phủ quyết định cho phép đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN, KCX, KCNC

Ban quản lý các KCN cấp tỉnh: là cơ quan quản lý trực tiếp các KCN, KCX,

KCNC trong phạm vi địa lý hành chính một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Trang 7

hoặc Ban quản lý KCN trên địa bàn liên tỉnh hoặc Ban quản lý một KCN (trường hợp

cá biệt) do Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập

II LỊCH SỬ HÌNH THÀNH KCN TRÊN THẾ GIỚI

Từ lâu trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới, người ta đã phát triển loại hình KCN để tập trung các nhà máy sản xuất công nghiệp vào trong một khu vực KCN đầu tiên trên thế giới được thành lập vào năm 1986 ở Trafford Park thành phố Manchester (Anh) với tư cách là một doanh nghiệp tư nhân Sau đó vào năm 1899 vùng công nghiệp Clearing ở thành phố Chicago, bang Illinois bắt đầu hoạt động và được coi là khu công nghiệp đầu tiên của Mỹ Tuy nhiên trong giai đoạn này, điều kiện địa lý, môi trường và công nghiệp lợi thế giữa KCN tập trung và công nghiệp riêng lẻ chưa có sự chênh lệch đáng kể trong lợi thế kinh tế các mặt nên số lượng KCN tập trung chưa được các nhà doanh nghiệp công nghiệp chú trọng cho đến những năm 1950 − 1960 Do điều kiện công nghiệp phát triển mạnh nên ngoài điều kiện môi trường sinh thái và các điều kiện xã hội đã có sự bùng nổ về phát triển các vùng công nghiệp và KCN tập trung

Đến năm 1959, ở Mỹ đã có 452 vùng công nghiệp và 1.000 khu công nghiệp cho đến năm 1970 đã tăng khoảng 1.400 KCN, cũng trong thời kỳ này ở Anh có 55 KCN (1959), Pháp có 230 vùng công nghiệp và Canada có 21 vùng công nghiệp (1965)

Đối với những nước đang phát triển đầu tiên biết sử dụng hệ thống KCN là Puerto Rico Trong những năm từ 1947 − 1963 Chính phủ Puerto Rico đã xây dựng 480 nhà máy để cho thuê với cơ sở hạ tầng phù hợp nhằm thu hút các công ty chế biến của

Mỹ, hầu hết các nhà máy tập trung trong hơn 30 KCN

KCN đầu tiên ở các nước châu Á được khai sinh ở Singapore vào năm 1951, đến năm

1954 Malaysia cũng bắt đầu thành lập KCN cho đến giữa thập kỷ 90 đã có 139 KCN, Ấn

Độ bắt đầu thành lập KCN từ 1955 đến năm 1979 đã có 705 khu công nghiệp

Đặc biệt một số nước trong khu vực châu Á đã thành công rất lớn trong việc sử dụng các hình thức KCN − KCX − KCNC để phát triển kinh tế của quốc gia điển hình như khu công nghệ cao của Tân Trúc − Đài Loan được xây dựng năm 1980 với diện tích xây dựng 650 ha trên tổng diện tích quy hoạch 2100 ha với tổng số vốn đầu năm 1995 lên tới 7 tỷ USD, sau 15 năm hoạt động tổng doanh số hàng hóa và dịch vụ của khu đạt 10,94 tỷ USD chiếm 3,6% GDP Đài Loan Đài Loan cũng là nước đầu tiên sử dụng thể chế KCX được sáng lập từ năm 1966, KCN Cao Hùng là KCX đầu tiên trên thế giới Cho đến năm 1992, thế giới đã có tới 280 KCX được xây dựng ở 40 nước trong đó có khoảng 60 khu đã hoạt động mang lại hiệu quả cao

Trang 8

Về công ăn việc làm: năm 1990 tổng số người làm việc trong các KCX từ các nước đang phát triển đạt tới 530.000 người

Về xuất khẩu: Tổng giá trị xuất khẩu các sản phẩm chế biến của các nước đang phát triển là 258 tỷ USD năm 1988 khoảng 80% xuất khẩu của khu chế xuất là từ các nước Malaysia, Hàn Quốc, Đài Loan Giá trị xuất khẩu được tính trên một người công nhân là hơn 300.000 USD ở Malaysia, 50.500 USD ở Đài Loan và 67.800 USD ở Hàn Quốc, 72.000 USD ở khu Baguio City Philippines

Các KCX đã thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài phần lớn từ các ngành điện

tử như ở Hàn Quốc, Malaysia, Đài Loan

Rõ ràng việc phát triển khu KCN − KCX − KCNC ở các nước đang phát triển đóng vai trò rất lớn trong việc phát triển ngành công nghiệp và thu nhập kinh tế quốc dân Qua việc phát triển của các KCN − KCX − KCNC cao đã đẩy mạnh việc xuất khẩu của quốc gia thu được nhiều ngoại tệ, tạo thêm được nhiều công ăn việc làm, thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tiếp nhận được kỹ thuật và công nghệ hiện đại, tiếp nhận trình độ quản lý tiên tiến, đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề, nhanh chóng hòa nhập và tăng sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp trên thị trường khu vực và thế giới

Các KCN hình thành sẽ thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tư xây dựng các nhà máy, xí nghiệp sản xuất, cơ sở kinh doanh dịch vụ, cùng vốn đầu tư trực tiếp, các nhà đầu tư mang đến các KCN những công nghệ, dây chuyền sản xuất mới cũng như phương pháp quản lý mới Do đó, nó trực tiếp tác động đóng góp đẩy nhanh tiến trình CNH-HĐH và góp phần giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia

III VAI TRÒ CỦA KCN KCX ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI

Phát triển các KCN−KCX theo đúng chiến lược và quy hoạch tổng thể là sự thực hiện tốt nhất quá trình phân công lại lao động xã hội trên phạm vi cả nước ở một trình

độ cao hơn, nhằm cơ cấu lại nền kinh tế quốc dân theo hướng tập trung khai thác, tận dụng có hiệu quả mọi nguồn lực trong và ngoài nước, những tiềm năng, lợi thế hiện có, nâng cao sức cạnh tranh, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển chung của nền kinh tế theo hướng phát triển bền vững

Phát triển các KCN−KCX theo đúng chiến lược, quy hoạch và hoạt động có hiệu quả là nhân tố góp phần to lớn trong việc tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa xuất khẩu và tiêu dùng có giá trị kinh tế cao, tăng thêm nhiều việc làm để thu hút một số lượng không nhỏ những người lao động ở khắp mọi miền đất nước, nhất là lao động ở

Trang 9

nông thôn, góp phần tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, tăng thu nhập quốc dân, ổn định kinh tế − xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, xóa hộ đói, giảm hộ nghèo, ngày càng có nhiều hộ giàu và tiến tới tất cả cùng giàu

Phát triển các KCN−KCX theo đúng chiến lược và quy hoạch sẽ tạo ra địa bàn thuận lợi cho quá trình tiếp thu những thành tựu tiến bộ khoa học và công nghệ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, tạo ra thế và lực mới cho nền kinh tế phát triển bền vững

Phát triển các KCN−KCX theo đúng chiến lược và quy hoạch cũng đồng thời tạo ra một hệ thống kết cấu hạ tầng mới, đồng bộ cả về kết cấu hạ tầng kinh tế − kỹ thuật và kết cấu hạ tầng kinh tế − xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi thành phần kinh tế, mọi thành viên của cộng đồng, tiếp cận được với các nguồn lực, cho phép thực hiện sự kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường, trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì sự phát triển bền vững

Sau đây chúng ta hãy xem xét quá trình hình thành và phát triển các KCN−KCX ở Việt Nam

IV TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ VÀO KCN KCX Ở VIỆT NAM 4.1 Quá trình hình thành và phát triển KCN−KCX Ở Việt Nam

Tiền thân phát triển các KCN−KCX−KCNC là khu kỹ nghệ Biên Hòa (nay là KCN

Biên Hòa I) được thành lập năm 1963 nơi này có vị trí địa lý thuận lợi cho phát triển công nghiệp, đây cũng là KCN lớn nhất và phát triển nhất sau ngày miền Nam giải phóng 1975 Song song đó, tại miền Bắc cũng đã bắt đầu xây dựng nhiều khu liên hợp, cụm công nghiệp lớn nhằm phát triển công nghiệp góp phần phát triển miền Bắc

xã hội chủ nghĩa và cơ sở phát triển các KCN−KCX−KCNC sau này, điển hình là khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên

Ngày 24/9/1991 Chính phủ chấp thuận chủ trương của Ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư đã cấp phép số 245 thành lập KCX Tân Thuận, việc ra đời của KCX là một bước đột phá gắn liền với ý chí quyết tâm đổi mới tư duy, sáng tạo luôn tìm tòi cái mới trong công cuộc phát triển đất nước

Nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của việc hình thành xây dựng, phát triển và quản lý KCN−KCX ngày 18/10/1991 Chính phủ Việt Nam đã ban hành quy chế KCX kèm theo Nghị định 322/HĐBT và năm 1994 Chính phủ ban hành quy chế KCN kèm theo Nghị định 192/CP Đánh dấu cho bước mở đầu của việc phát triển

Trang 10

KCN, KCX của nước ta cho đến ngày 24/4/1997 Chính phủ ban hành Nghị định 36/CP thống nhất các quy chế KCN−KCX nhằm kiện toàn và đẩy nhanh tốc độ đầu tư xây dựng và phát triển các KCN−KCX, tạo một hành lang pháp lý đặc biệt cho loại hình kinh tế còn khá mới mẻ lại có điểm xuất phát thấp, chúng ta chưa có kinh nghiệm lại thiếu tiềm lực về nguồn vốn đầu tư các cơ sở vật chất hạ tầng trong cũng như ngoài địa bàn KCN Hơn nữa lại vấp phải một sự cạnh tranh rất gay gắt về thu hút đầu tư nước ngoài của các nước trong khu vực như: Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia Mặt khác, Đảng Nhà nước ta lựa chọn con đường để phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa nên chúng ta không có nhiều lợi thế so với các nước khác Tuy nhiên với đường lối chính trị đúng đắn, Đảng

ta đã lãnh đạo công cuộc đổi mới ở đất nước trong những năm qua thu được những thành công, đã khẳng định được vị trí của đất nước ta trên trường quốc tế, với các chính sách kinh tế mở, thông thoáng đã hấp dẫn được các nhà đầu tư và các quốc gia trên thế giới

Chúng ta là nước đi sau trong lĩnh vực xây dựng phát triển KCN nên có điều kiện tiếp thu những kinh nghiệm của nhiều nước trên cơ sở đó phân tích những nguyên nhân về thành công, thất bại để rút ra những phương thức, điều kiện để hoạch định những bước

đi thích hợp cho việc xây dựng và phát triển các KCN ở nước ta

Từ khi có quy chế KCX đầu tiên từ năm 1991 đến năm 1992 KCX Tân Thuận (TP

Hồ Chí Minh) đi vào hoạt động Theo Vụ Quản lý KCN, KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu

tư, tính đến hết tháng 6/2004, nước ta đã có 154 KCN, KCX được duyệt quy hoạch phát triển: trong đó 151 KCN, KCX đã thành lập, với tổng diện tích 25.400 ha (không

kể khu kinh tế Dung Quất 14.000 ha là khu kinh tế tổng hợp và KCNC Hòa Lạc, KCNC TP.HCM) Các KCN đã được thành lập ở Việt Nam phần lớn được tập trung tại các vùng kinh tế trọng điểm là: Vùng tinh tế trọng điểm phía Bắc có 23 khu, diện tích 3.345 ha, Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có 50 khu, diện tích 11.579 ha, Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có 17 khu, diện tích 2.466 ha và khu kinh tế Dung Quất (Quãng Ngãi), khu kinh tế mở Chu Lai (Quảng Nam) Ngoài ra, các khu khác có 16 khu, diện tích 2.837ha Hệ thống KCN ở nước ta gồm nhiều loại hình, đa dạng về quy mô, tính chất và trình độ hiện đại Trước hết phải nói rằng sự ra đời của KCX Tân Thuận một hình thức tổ chức sản xuất công nghiệp tập trung sản xuất theo lãnh thổ đầu tiên ở nước ta, đã tạo được một mô hình tổ chức sản xuất mới có hiệu quả, một hình mẫu tiên tiến về cơ chế quản lý một cửa tại chỗ về xu thế thời đại, từ đó

có sức hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư và đạt tốc độ nhanh thực hiện đầu tư, xứng đáng là đơn vị được quốc tế xếp hạng nhất các KCN ở châu Á, với giá trị thành công của một KCX đi đầu trong công cuộc đổi mới, KCX Tân Thuận đã tạo ra sức lan tỏa

Trang 11

mạnh trong cả nước mở ra hướng phát triển mới, tiền đề cho việc phát triển KCN, KCX, KCNC

Đến nay, các KCN, KCX, KCNC đã và đang làm thay đổi cơ bản đời sống kinh tế

xã hội của những khu vực trước đây còn là những vùng hoang hóa nay trở thành những vùng công nghiệp, vùng sản xuất hàng hóa phát triển, những trung tâm văn hóa ngang tầm với các nước trong khu vực

4.2 Đặc điểm các loại hình khu công nghiệp

Đối với nước ta có các loại hình KCN sau:

Khu công nghiệp

tư sản xuất trong KCN Mục đích để tập trung các điều kiện thuận lợi về mọi mặt (hạ tầng, cơ chế quản lý, ) nhằm bảo vệ môi trường sinh thái, nâng cao hiệu quả hoạt động công nghiệp và thương mại, đảm bảo an toàn cho nhà đầu tư an tâm sản xuất Với đặc điểm và mục đích việc thành lập các KCN như trên, trong thời gian qua từ năm 1991 đến nay đã thành lập các loại hình KCN có những đặc điểm mà có thể khái quát thành các loại hình như sau:

Các KCN được thành lập trên một phạm vi khuôn viên có sẵn một số doanh nghiệp công nghiệp đang hoạt động Nghĩa là KCN hình thành từ các cụm công nghiệp có sẵn, do đó đòi hỏi các công ty phát triển cơ sở hạ tầng phải nhanh chóng nâng cấp cơ sở hạ tầng và phải xây dựng các công trình xử lý chất thải công nghiệp, trồng cây xanh để giảm thiểu ô nhiễm môi trường sinh thái

Các KCN hình thành do yêu cầu di dời các nhà máy, các xí nghiệp đang hoạt động trong nội thành, nội thị, vùng đông dân cư sinh sống gây ảnh hưởng đến hoạt động của đời sống xã hội, làm mất vẻ mỹ quan, ô nhiễm môi trường, hoặc do yêu cầu

di dời, giải tỏa để xây dựng các công trình xã hội khác Mặt khác, một số công ty, xí nghiệp do yêu cầu mở rộng SX, đầu tư đổi mới công nghệ phải chọn giải pháp di dời

Trang 12

KCN hiện đại có quy mô lớn được xây dựng mới, loại hình này có đặc điểm được tập trung vốn ban đầu tương đối lớn nên tốc độ xây dựng nhanh, chất lượng các công trình hạ tầng đạt tiêu chuẩn quốc tế, có các hệ thống hạ tầng đồng bộ, hệ thống

xử lý các chất thải tiên tiến, có một số khu có nhà máy điện riêng bảo đảm tốt cho quá trình sản xuất của các doanh nghiệp KCN

4.3 Tình hình hoạt động của các KCN, KCX Việt Nam thời gian qua:

Sau hơn 14 năm xây dựng và phát triển, với những chính sách ưu đãi và cơ sở hạ tầng quốc gia được cải thiện nâng cấp, các KCN ở Việt Nam đã thật sự hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước Các doanh nghiệp đầu tư vào KCN thuộc đủ mọi thành phần kinh tế, bao gồm doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh

và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Đầu tư vào KCN bao gồm các lĩnh vực như xây dựng cơ sở hạ tầng KCN, sản xuất công nghiệp như hóa chất, dệt may, da giầy, điện tử, lắp ráp ô tô, xe máy và dịch vụ sản xuất công nghiệp

Ngoài các dự án đầu tư và kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN Tính đến tháng 6 năm

2004 đã có 2.864 dự án đầu tư còn hiệu lực trong các KCN, trong đó có 1.442 dự án

có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký là 11.390 triệu USD và 1.422 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư là 72.612 tỷ đồng

4.3.1 Về vấn đề đất trong KCN

Tính đến tháng 6 năm 2004, các KCN đã cho thuê được 5.772 ha, bằng 41,8% tổng diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê (13.809 ha trong 106 KCN đã được thành lập) nếu không tính 38 KCN mới thành lập năm 2003, 6 tháng đầu năm 2004 và một

số KCN đã thành lập từ năm 1997 nhưng chưa triển khai thì tỷ lệ lấp đầy của các KCN trong cả nước đạt 59,8% diện tích đất công nghiệp Tình hình thuê đất tại các KCN đến tháng 6 năm 2004 được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 1.1: Tình hình thuê đất tại các KCN ở Việt Nam

Tỷ lệ đất cho thuê/diện tính đất CN Số khu công nghiệp Tỷ lệ (%)

Trang 13

Từ bảng trên ta có thể rút ra một số nhận xét sau:

Số KCN đã cho thuê từ trên 50% diện tích đất công nghiệp trở lên có 50 khu (chiếm 47,1% tổng số KCN), các KCN này đã đi vào hoạt động và đã phát huy tốt hiệu quả của nó

Trong tổng số 21 khu chưa cho thuê đất chủ yếu là các khu mới có quyết định thành lập (16 khu thành lập năm 2003 và 8 khu thành lập trong 6 tháng đầu năm 2004)

Đồ thị 1.1: Tỷ lệ đất cho thuê được/diện tích đất công nghiệp

4.3.2 Về tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong KCN

Bảng 1.2: Giá trị SX và XK hàng hóa ở các KCN và khối đầu tư nước ngoài

Giá trị xuất khẩu hàng hóa

Số tiền Tỷ lệ% Số tiền Tỷ lệ% Số tiền Tỷ lệ% Số tiền Tỷ lệ%

(Nguồn: Vụ Quản lý KCN và KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Trong số các doanh nghiệp trong KCN đã được cấp giấy phép, có gần 1.541 doanh nghiệp (trong đó 814 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, 727 doanh nghiệp trong nước) đã sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp còn lại đang trong quá trình

Trang 14

xây dựng hoặc chuẩn bị xây dựng nhà xưởng để đi vào sản xuất Trong thời gian qua, giá trị sản lượng hàng hóa cũng như giá trị xuất khẩu hàng hóa ở các KCN tăng trưởng ở mức cao Doanh thu và kim ngạch xuất khẩu cả các KCN trong những năm gần đây được thể hiện ở bảng trên

4.3.3 Về thu hút lao động

Đến tháng 6 năm 2004, các KCN đã tạo việc làm cho gần 60 vạn lao động trực tiếp

và khoảng hơn 1 triệu lao động gián tiếp Số lao động này chủ yếu tập trung tại một

KCN Cần Thơ: có trên 1,5 vạn lao động

4.3.4 Về quản lý Nhà nước đối với KCN

Tính đến tháng 6 năm 2004, cả nước có 42 Ban quản lý KCN cấp tỉnh được thành lập Theo quy định hiện hành, các bộ, ngành ủy quyền cho Ban quản lý KCN cấp tỉnh thực hiện một số nhiệm vụ quản lý nhà nước như: Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ủy quyền việc cấp, điều chỉnh, thu hồi giấy phép đầu tư đối với các dự án đầu tư nước ngoài đến 40 triệu USD với những điều kiện nhất định; Bộ Thương mại đã ủy quyền phê duyệt kế hoạch xuất nhập khẩu và quản lý hoạt động thương mại; Bộ Lao động

và Thương binh xã hội ủy quyền việc cấp phép cho người lao động nước ngoài Bên cạnh đó cùng với việc cải thiện các thủ tục hành chính chung của cả nước, các bộ, ngành và UBND cấp tỉnh cũng đã ban hành những chính sách đơn giản hóa, giảm thiểu các thủ tục hành chính, chế độ công khai thủ tục để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư Đồng thời, các cơ quan quản lý chuyên ngành như hải quan, ngân hàng, công an cũng đã được thành lập tại các KCN

Trên cơ sở cơ chế ủy quyền này đã hình thành và phát huy được cơ chế quản lý

“một cửa, tại chỗ” Ban quản lý KCN cấp tỉnh đã được trao nhiều quyền quyết định trong quản ký KCN, góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý Nhà nước đối với KCN, rút ngắn được thủ tục hành chính, giải tỏa tâm lý cho các nhà đầu tư trong

Trang 15

và ngoài nước về chính sách của nhà nước ta đối với việc đầu tư vào các KCN, góp phần không nhỏ thúc đẩy phát triển các KCN, được các doanh nghiệp KCN thừa nhận tính tích cực của công tác quản lý Nhà nước Đây là cơ chế quản lý đúng và phù hợp với xu thế hội nhập và phát triển hiện nay

Tóm lại, tình hình phát triển KCN hơn 14 năm qua đã đạt được những thành tựu cơ bản Đó là, các KCN đã thu hút được nhiều dự án đầu tư đặc biệt là đầu tư nước ngoài, tạo nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển kinh tế−xã hội của đất nước Góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động Phát huy vai trò hạt nhân, phát triển kinh tế vùng, lãnh thổ, đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa đất nước Sử dụng có hiệu quả quỹ đất công nghiệp, vốn đầu tư và tiết kiệm chi phí sản xuất, tạo thêm nhiều việc làm và tăng thu nhập cho người lao động

4.3.5 Một số định hướng phát triển các KCN ở Việt Nam

Trong thời gian tới, song song với việc làm tốt công tác quy hoạch phát triển các KCN, việc xây dựng và phát triển các KCN cần tiến hành theo các định hướng sau:

Một là, kết hợp giữa việc lấp đầy diện tích với việc nâng chất lượng dự án đầu tư

vào KCN

Từng bước chọn lọc và khuyến khích thu hút các dự án có điều kiện phát huy thế mạnh của từng địa phương cũng như các dự án có vốn lớn, công nghệ cao, nguy cơ ô nhiễm môi trường thấp Việc chọn lọc chắc chắn sẽ gây tác động mạnh mẽ đến việc lấp đầy diện tích KCN hiện nay, tuy nhiên đó là định hướng tất yếu nhằm đảm bảo, xây dựng, phát triển KCN theo hướng phát triển bền vững

Hai là, kết hợp chặt chẽ việc phát triển KCN với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế

và quá trình đô thị hóa, phát triển nông nghiệp, nông thôn, đồng bộ hóa việc phát triển

hạ tầng kỹ thuật−xã hội trong và ngoài hàng rào KCN ngay từ khâu xem xét thành lập

để thống nhất quy hoạch phát triển kinh tế−xã hội, đảm bảo tính khả thi và nâng cao hiệu quả hoạt động của các KCN

Việc kết hợp chặt chẽ giữa quy hoạch KCN với quy hoạch khu đô thị, khu dân cư

và các dịch vụ phục vụ sẽ là nhân tố bảo đảm phát triển bền vững, cho phép chính quyền địa phương tăng thêm nguồn tài chính để có thể khai thác quỹ đất và các lợi ích khác từ sự phát triển KCN Khi xây dựng khu đô thị, khu dân cư, khu dịch vụ tùy theo đặc điểm của từng địa phương, không nhất thiết đi liền với từng KCN mà có thể liên kết phục vụ nhiều KCN trên địa bàn, hoặc mở rộng ra ngoài phạm vi huyện tỉnh trong một liên kết toàn khu vực

Trang 16

Ba là, nâng cao hiệu quả công tác quy hoạch và điều hành thực hiện quy hoạch với

quan điểm “triển khai thông thoáng nhưng đảm bảo chặt chẽ” Đối với các KCN gặp khó khăn trong việc triển khai , cần tập trung giải quyết các vướng mặc để tiếp tục triển khai Nếu KCN không triển khai được do chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiếu năng lực hoặc có những khó khăn khác thì kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ thay đổi chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN Trường hợp những KCN không có triển vọng phải triển, cần kiên quyết xem xét rút Giấy phép đầu tư (Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) hay Quyết định phê duyệt dự án (doanh nghiệp trong nước) hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng

Bốn là, hoàn thiện cơ chế và phương thức quản lý KCN theo hướng tăng cường cơ

chế “một cửa, tại chỗ” nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các doanh nghiệp trong KCN Xử lý quan hệ giữa các cơ quan quản lý Nhà nước đối với KCN ở Trung ương và địa phương nhằm tăng cường thống nhất quản lý KCN theo quy hoạch, cơ chế, chính sách chung cho KCN Tiếp tục hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của KCN

Năm là, có biện pháp triệt để trong việc xử lý môi trường

Trước hết phải nâng cao chất lượng quy hoạch KCN, thời gian tới tập trung xây dựng các KCN chuyên ngành, tăng tỷ lệ diện tích cây xanh và các dịch vụ công Yêu cầu mọi doanh nghiệp trong KCN phải có hệ thống xử lý chất thải cục bộ đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra hệ thống chung Từng KCN phải có nhà máy xử lý nước thải tập trung và được đầu tư xây dựng song song với việc xây dựng kết cấu hạ tầng KCN Tạo sự liên kết giữa các địa phương trong vùng trong việc quy hoạch KCN và vận động đầu tư để bảo đảm cho việc bảo việc môi trường trong toàn khu vực, đặc biệt là các KCN có thể gây ô nhiễm nguồn nước mặt

Sáu là, tăng cường việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực

Đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực phải đáp ứng được các yêu cầu như: cân đối giữa lào động địa phương va lạo động nhập cư; từng bước tăng hàm lượng chất xám trong lao động, có kế hoạch về tái đào tạo nguồn nhân lực

Chính quyền các cấp cần có hỗ trợ về kinh phí cho các doanh nghiệp trong KCN trong việc đào tạo nguồn lao động làm việc trong KCN

Bảy là, tập trung xây dựng đồng bộ hạ tầng ngoài hàng rào KCN, trước mắt khẩn

trương giải quyết vấn đề nhà ở cho công nhân, xây dựng đời sống văn hóa cho công nhân làm việc tại các KCN

Trang 17

Song song với việc hoàn thiện cơ sở kết cấu hạ tầng KCN, trong thời gian tới cần phải chú trọng đến việc xây dựng khu đô thị, khu dân cư, các dịch vụ phục vụ KCN Đây là yêu cầu tất yếu và cần thiết đảm bảo phát triển KCN có chất lượng và phát triển bền vững

V TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM (Từ NĂM 1988 − 2004):

5.1 Tổng quan về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian qua:

Kể từ khi Luật ĐTNN của Việt Nam được Quốc hội thông qua vào ngày 29/12/1987 và 4 lần sửa đổi bổ sung vào các năm 1990, 1992, 1996, 2000, ĐTNNN vào Việt Nam liên tăng qua các năm 1988 − 1996 nhưng từ năm 1997 thì bắt đầu giảm sút nhận thấy tầm quan trọng của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển của nền kinh tế Các dự án FDI đã đóng góp vai trò không nhỏ trong công cuộc phát triển kinh tế của Việt Nam, nhưng bên cạnh đó cũng có những khó khăn gây trở ngại cho quá trình thu hút vốn FDI, Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và đã đạt được kết quả khả quan Từ năm 2000, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào VN lại giảm so với năm

2001, xong nhờ kiên trì nỗ lực vốn ĐTNN thu hút được trong năm 2004 và đầu năm

2005 này đã tăng lên rất nhiều so với cùng kỳ năm ngoái

Sau 17 năm thực hiện Luật đầu tư nước ngoài, đến cuối tháng 12/2004, cả nước đã cấp giấy phép đầu tư cho 5.995 dự án ĐTNN với tổng vốn đăng ký kể cả tăng vốn là 56,9 tỷ USD, trong đó có 4.965 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 44,76 tỷ USD Theo Cục Đầu tư nước ngoài − Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nếu chỉ tính các dự án còn hiệu lực, đến ngày 31/12/2003 cả nước có 4.324 dự án được cấp giấy phép theo Luật tại VN, với tổng vốn đầu tư thực hiện đạt trên 24,601 tỷ USD Xét về

cơ cấu, thì vốn FDI chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp với 2885 dự án chiếm 66,72% tổng số dự án còn hiệu lực, tổng vốn đầu tư trên 23,213 tỷ USD chiếm tỷ trọng 56,9% và đầu tư thực hiện được trên 16,725 tỷ USD chiếm 67,99% tổng số vốn đầu tư thực hiện Kế đến là dịch vụ với 843 dự án (19,5%) tổng vốn đầu trên 14,682

tỷ USD (35,99%) và vốn đầu tư thực hiện trên 6,313 tỷ USD (25,66%) Đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực Nông − Lâm − Ngư nghiệp còn rất ít với 596 dự án (13,78%), tổng vốn đầu tư trên 2,898 tỷ USD (7,1%) và vốn đầu tư thực hiện trên 1,562 tỷ USD (6,35%)

Tính đến 30/12/2004, đã có 579 dự án mới được cấp Giấy phép đầu tư với tổng số vốn đầu tư đăng ký 1.740,1 triệu USD, bằng 98% về số dự án và tăng 17,2% về vốn

Trang 18

đăng ký mới so với cùng kỳ năm 2003 Đồng thời, trong 11 tháng năm 2004 đã có

338 dự án với tổng số vốn đăng ký tăng thêm 1.496,77 triệu USD, tăng 66,9% so với cùng kỳ năm 2003 về vốn đăng ký tăng thêm Trong tổng các dự án tăng vốn, có 5 dự

án có quy mô vốn tăng thêm trên 50 triệu USD, lớn nhất là Công ty xi măng Chinfon Hải Phòng với số vốn tăng thêm 161,7 triệu, Công ty Sun Stel 147 triệu USD Các dự

án tăng vốn chủ yếu tập trung trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, chiếm 75% tổng số vốn tăng thêm Ba địa phương thuộc vùng trọng điểm phía Nam theo thứ tự là Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) và Đồng Nai đã chiếm 65,5% tổng

số vốn tăng thêm bằng chứng là từ đầu năm 2004, TP HCM đã cấp Giấy phép cho 36

dự án đầu tư nước ngoài với tổng số vốn trên 67,8 triệu USD, gấp hai lần so với cùng

kỳ năm ngoái Bên cạnh đó còn có 10 dự án xin tăng vốn trên 12 triệu USD, dự án có vốn đầu tư nước ngoài lớn nhất vừa được cấp phép là của công ty liên doanh TNHH Vietcombank − Bonday − Ben Thanh, có tổng số vốn đầu tư trên 55 triệu USD Hai địa phương thuộc vùng trọng điểm phía Bắc: Hải Phòng và Hà Nội và chiếm 21,1% tổng vốn tăng thêm Hà Nội (HN) là nước dẫn đầu về thu hút đầu tư nước ngoài, trong hai tháng đầu năm, HN đã thu hút được 9 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn dăng ký đạt 824,28% (chiếm 68,3% tổng vốn dăng ký của cả nước) Có 2 dự

án có tổng vốn đầu tư lớn là dự án hợp đồng hợp tác kinh doanh mạng điện thoại di động CDMA (trị giá 656 triệu USD) và dự án Công ty TNHH Coralis Việt Nam xây dựng tòa nhà 65 tầng (114,581 triệu USD)

5.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo nước:

Khu vực Đông Bắc Á gồm (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông) chiếm vị trí quan trọng trong các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với 2.812 dự án

và 18.657 triệu USD vốn đăng ký kinh doanh và chiếm 43,5% số dự án và chiếm 43% vốn đăng ký của các dự án đang còn hiệu lực

Đài Loan tiếp tục dẫn đầu về đầu tư vào Việt Nam theo đánh giá trong 3 tháng đầu năm 2005 của tạp chí Kinh tế thế giới Trong năm 2004 có 132 số dự án được cấp phép chiếm 20,9% trong tổng số dự án và tổng vốn đăng ký trên 410 triệu USD; Hàn Quốc có thêm 142 dự án chiếm (22,54%) trong tổng số dự án được cấp mới và tổng vốn đăng ký trên 318 triệu USD Mặc dù số dự án của Hàn Quốc cao hơn so với Đài Loan (10 dự án) nhưng tổng số vốn đăng ký thì nhỏ hơn so với Hàn Quốc Kế đến Nhật Bản có thêm 52 dự án chiếm (8,3%) tổng số dự án được cấp phép năm 2004 và tổng vốn đăng ký trên trên 200 triệu USD; Hồng Kông có thêm 32 dự án chiếm (5,1%) với tổng vốn đăng ký hơn 112 triệu USD Trong năm 2004, ngoài các nước Đài Loan, Nhật Bản, Hồng Kông, Hàn Quốc có lượng vốn đầu tư vào Việt Nam gia

Trang 19

tăng đáng kể thì Trung Quốc có thêm 62 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký rất khiêm tốn khoảng 75 triệu USD

Nhìn chung, trong số 66 nước và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam, các nước châu Á chiếm trên 76% số dự án và trên 70% vốn đăng ký; các nước châu Âu chiếm gần 16% số dự án và gần 24% vốn đăng ký; Hoa Kỳ chiếm 4% số dự án và 2,8% vốn đăng ký; còn lại là các nước thuộc khu vực khác

Việt kiều từ 15 nước khác nhau chủ yếu là từ Cộng Hòa Liên Bang Đức, Liên bang Nga và Pháp đã đầu tư khoảng 118 dự án với vốn đầu tư đăng ký 362,66 triệu USD, chỉ bằng 0,8% tổng vốn đầu tư đăng ký của cả nước Xem số liệu ở bảng 1 (về số dự

án, tổng vốn đầu tư, vốn pháp định, vốn thực hiện) được thể hiện ở phụ lục 1

5.3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành kinh tế:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài vốn FDI chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng lớn nhất, chiếm 67,2% về số dự án và 57,5% tổng vốn đầu tư đăng ký, lĩnh vực này cũng thu hút trên 70% lao động và tạo ra trên 90% giá trị xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài; lĩnh vực dịch vụ chiếm 19,2% lĩnh vực Nông − Lâm − Ngư nghiệp, chiếm 13,7% về số dự án và 7,5% về vốn đầu tư đăng ký

Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có 3.373 dự án được cấp phép đầu tư, chiếm 67,2% dự án, tổng vốn đăng ký trên 25 tỷ USD (chiếm 57,5%) Trong đó công nghiệp nhẹ và công nghiệp nặng chiếm ưu thế với 2.819 dự án và gần 168,9 tỷ USD vốn đăng ký Nhìn chung những năm gần đây, số dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp

và xây dựng thường tăng so với các năm trước

Lĩnh vực nông − lâm nghiệp, thuỷ sản thu hút được 683 dự án, với số vốn đăng ký hơn 3,3 tỷ USD Vốn đầu tư trong ngành này chỉ chiếm 7,6% tổng vốn đăng ký, nhưng các dự án tập trung vào một số lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn như chế biến nông sản, chế biến thức ăn gia súc,… góp phần tạo công ăn việc làm, phát triển nguồn nguyên liệu Góp phần tạo ra nền sản xuất hàng hóa ở nông thôn và đặc biệt là mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản của Việt Nam

Lĩnh vực dịch vụ có 964 dự án (chiếm 19,2%) tổng vốn đăng ký trên 15,2 tỷ USD (34,7%) tổng số đầu tư đăng ký Các dự án chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực văn hóa − y tế − giáo dục, khách sạn − du lịch, bưu chính viễn thông và các dịch vụ khác

So với năm 2003, số dự án đầu tư vào các ngành dịch vụ có gia tăng, mở ra nhiều dịch vụ có chất lượng cao và đạt tiêu chuẩn Quốc tế để có thể đáp ứng cho nhu cầu trong nước và nước ngoài

Trang 20

Trong năm 2004 có 132 số dự án được cấp phép với tổng vốn đầu tư trên 410 triệu USD, đứng đầu về số vốn đăng ký nhưng số dự án thì đứng sau Hàn Quốc với 142 số

dự án được cấp phép nhưng tổng vốn đăng ký thì chỉ trên 318 triệu USD Kế đến là Trung Quốc với 62 số dự án (9,8%) và tổng vốn đăng ký trên 74 triệu USD, Nhật Bản với 52 số dự án chiếm (8,3%) trong tổng số dự án và tổng vốn đăng ký trên 200 triệu USD, Hồng Kông thì có 32 dự án được cấp phép chiếm (5,1%) trong tổng số dự án đầu tư vào Việt Nam trong năm 2004 và tổng vốn đăng ký trên 112 triệu USD

Đầu tư của các nước thuộc khối ASEAN có chiều hướng gia tăng trở lại do các nước đang trên tiến trình hội nhập (xem bổ sung bảng1, 2, 3 ở phụ lục 1)

Bảng 1.3: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành kinh tế (1998−2004)

II Nông−Lâm− Nghiệp 683 3.301.337.207 1.485.647.073 1.589.947.906 Nông−Lâm− Nghiệp 581 3.027.658.834 1.359.158.947 1.461.760.483

III Dịch vụ 964 15.294.623.312 6.931.529.756 6.655.504.867 GTVT − Bưu điện 142 2.631.545.689 2.058.311.545 1.047.943.201 Khách sạn − Du lịch 165 3.590.789.648 1.248.384.385 2.095.936.998 Tàichính−Ngân hàng 48 626.050.000 607.030.238 617.130.077 Vhóa−Y tế−Giáo dục 173 649.869.684 291.494.400 342.675.262

XD khu đô thị mới 3 2.466.674.000 675.183.000 51.000.000

XD văn phòng−căn hộ 103 3.567.644.954 1.251.694.055 1.638.749.298

XD hạ tầng KCX−KCN 19 895.625.046 403.434.602 525.070.031 Dịch vụ khác 311 866.424.291 395.997.531 337.000.000 Tổng số: 5.010 43.691.815.041 19.753.089.715 25.255.529.155

Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài − Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tính tới ngày 25/01/2005, chỉ tính các dự án còn hiệu lực)

Trang 21

5.4 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo địa phương:

Trong năm 2004 đã có 62 tỉnh, thành phố thu hút được vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Các thành phố lớn, có điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi thuộc các vùng kinh tế trọng điểm vẫn là những địa phương dẫn đầu thu hút đầu tư nước ngoài theo thứ tự như sau thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa − Vũng Tàu, Hải Phòng Riêng vùng trọng điểm phía Nam (thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa − Vũng Tàu) chiếm 60,1% số dự án cả nước và chiếm gần 56,1% tổng vốn đầu tư nước ngoài của cả nước Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh) chiếm 17, 6% số dự án và chiếm 25,2% tổng vốn đầu tư nước ngoài của cả nước, còn lại 22,3% là ở các địa phương còn lại

Hiện tại các dự án ĐTNN đầu tư vào các KCN, KCX (không kể các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng KCN) còn hiệu lực, chiếm 33% về số dự án và 29,8% tổng vốn đầu

tư đăng ký cả nước

Nhìn chung, nguồn vốn đầu tư chỉ tập trung ở những vùng kinh tế trọng điểm, tập trung vào các ngành dễ thu hút vốn,… trong khi các tỉnh miền núi, nông thôn vốn đầu

tư còn quá ít (Xem bổ sung bảng 4, 5, 6 của phụ lục 1)

Trong số các địa phương thu hút mạnh mẽ ĐTTTNN (từ 1988−25/01/2005), thành phố Hồ Chí Minh giữ vị trí đứng đầu với 1.547 dự án và trên 11.525 triệu USD vốn đăng ký, tiếp theo là Hà Nội, Đồng Nai, Bình Dương Riêng bốn địa phương là thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa − Vũng Tàu đã có 3130 dự án còn hiệu lực chiếm 62,5% tổng số dự án đầu tư cả nước, với tổng số vốn đăng ký, với vốn đăng ký 24.741 triệu USD chiếm 56,6% về vốn đăng ký của tổng các dự án đang còn hiệu lực Khu vực phía Bắc thu hút được ít hơn, đáng kể là Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương và Quảng Ninh với tổng số 844 dự án và trên 10.369 triệu USD vốn đăng ký

(Xem phụ lục 2: về số dự án, tổng vốn đầu tư, vốn pháp định, vốn thực hiện)

Bảng 1.4: Thực hiện vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (1988−2004)

Đvt: Triệu USD

Năm

Vốn Đăng ký Vốn thực hiện Vốn thực hiện/

Vốn đăng ký (%)

Tổng số Tỷ lệ tăng,

giảm (%) Tổng số

Tỷ lệ tăng, giảm (%)

Trang 22

Năm

Vốn Đăng ký Vốn thực hiện Vốn thực hiện/

Vốn đăng ký (%)

Tổng số Tỷ lệ tăng,

giảm (%) Tổng số

Tỷ lệ tăng, giảm (%)

bổ sung luật ĐTNN theo hướng thông thoáng hơn cho các nhà đầu tư

5.5 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức đầu tư:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức liên doanh chiếm 24,5% về số dự án đăng ký và 42,6% về tổng vốn đăng ký

Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm 71,7% về

số dự án và 45,7% về tổng vốn đăng ký

Trang 23

Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh theo hình thức BOT chiếm 3,8% về số dự án đăng ký, và 11,7% về tổng vốn đăng ký

Năm 1988−1992 hình thức liên doanh đóng vai trò chủ đạo, chiếm trên 70% tổng

số dự án đầu tư nước ngoài Hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm 12% tổng số dự

án (Xem bổ sung bảng 7, 8, 9 của phụ lục 2)

Năm 1993−1996 hình thức 100% vốn nước ngoài đã tăng lên 38% tổng số dự án Năm 1996−1999 hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm 64% tổng số dự án

Đến năm 2003 hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài có 3.007 dự án, chiếm 69,54% tổng số dự án với trên 8.395 triệu USD vốn đầu tư chiếm 13,13% và trên 17.285 triệu USD vốn đầu tư thực hiện chiếm 42,7%

Như vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam đang chuyển dần theo hình thức 100% vốn nước ngoài ngày càng tăng và hình thức liên doanh ngày càng giảm

Bảng 1.5: ĐTTTNN tại Việt Nam theo hình thức đầu tư (USD)

Hình thức đầu tư Số dự án Vốn đăng ký Vốn pháp định Đầu tư

thực hiện

2.HĐ hợp tác kinh doanh 178 3.883.170.361 3.296.128.358 5.260.688.673 3.Liên doanh 1.231 19.677.455.968 7.048.073.242 10.410.870.506

Trang 24

6.1 Trung Quốc:

Là một nước có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Trung Quốc bắt đầu tiến hành cải cách và mở cửa nền kinh tế năm 1978 Sau hơn hai chục năm, những thành tựu mà Trung Quốc thu được là vô cùng to lớn làm kinh ngạc thế giới và có người gọi đó là

“sự thần kỳ Trung Quốc” Bước vào nền kinh tế thị trường Trung Quốc có những nét tương đồng với Việt Nam Vì vậy những kinh nghiệm của Trung Quốc là những gợi ý hữu ích đối với Việt Nam trên con đường phát triển Tuy nhiên cũng phải thấy rằng Việt Nam có rất nhiều điểm khác biệt căn bản so với Trung Quốc mà khác biệt căn bản có tính quyết định đó là quy mô nền kinh tế với thị trường lớn 1,2 tỷ dân hơn gấp

15 lần Việt Nam

Về chiến lược kinh tế, Trung Quốc coi trọng mở cửa hợp tác với bên ngoài, đẩy mạnh hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế khuyến khích thu hút FDI Có nhiều bằng chứng cho thấy Trung Quốc hiện đang theo đuổi chiến lược xuất khẩu thay thế nhập khẩu

Thời kỳ đầu cải cách, thực hiện chiến lược mở cửa, ưu tiên phát triển vùng ven biển, khai thác các lợi thế thị trường, tài nguyên, lao động, Trung Quốc lập các khu chế xuất và các đặc khu kinh tế với các chính ưu đãi thông qua các quy chế riêng, kinh tế có tiềm năng, thuận lợi cho kinh doanh Đồng thời hệ thống ngân hàng cũng được cải tổ, chuyển từ hệ thống ngân hàng một cấp sang hệ thống ngân hàng hai cấp Phân rõ chức năng của ngân hàng Nhà nước với ngân hàng Thương mại, tạo lập lại và chấn chỉnh thị trường tài chính tiền tệ, ngoại hối, chuyển dần sự vận hành của các thị trường từ mệnh lệnh hành chính sang cơ chế thị trường

Về chính sách tiền tệ, Trung Quốc chủ trương giữ vững sự ổn định của thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối Đối với chế độ tỷ giá, Trung Quốc kiên trì lựa chọn tỷ giá hối đoái cố định (từ năm 1978 đến nay) Trong từng thời kỳ căn cứ tình hình tăng trưởng, mức độ cạnh tranh của nền kinh tế

Trong quá trình thực hiện chính sách tỷ giá, chính sách tiền tệ Trung Quốc cũng vấp phải những vấn đề như tình trạng đôla hóa, chênh lệch tỷ giá hối đoái giữa thị trường chính thức và không chính thức (thị trường chợ đen), tình trạng lên giá và khan hiếm đồng nội tệ khi dòng FDI đổ vào,… Trung Quốc đã kết hợp hài hòa giữa biện pháp hành chính được sử dụng nhiều hơn, tuy nhiên hiện nay chủ yếu được giải quyết một cách gián tiếp thông qua thị trường

Những điều kiện mà Trung Quốc có được để thu hút FDI loại hình này, thể hiện ở hai điểm:

Trang 25

Một là, do lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái cố định và thực hiện phá giá đồng nội tệ

trong khi các đồng tiền của những quốc gia có luồng vốn FDI loại hình “làn sóng đầu

tư mới” của Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore tăng giá so với đồng đôla Mỹ

Hai là, Trung Quốc đã thi hành một loạt các chính sách về giá cả, lãi suất, thuế kể

cả hỗ trợ của Chính phủ để giảm các chi phí đầu vào như điện, nước, điện thoại, thuê đất, tiền lương,… Trung Quốc thực hiện phá đồng nội tệ của mình trước những chu

kỳ tăng giá mạnh của đồng Yên Nhật và các đồng tiền trong khu vực đã tạo cho Trung Quốc một lợi thế to lớn về thương mại và đầu tư quốc tế Những năm gần đây, đấu giá với một loạt các đồng tiền của các nước lâm vào khủng hoảng tài chính − tiền

tệ, có những quan điểm ủng hộ Trung Quốc phá giá đồng nhân dân tệ nhằm tăng cường cạnh tranh của nền kinh tế Do sự sụt giảm nghiêm trọng của xuất khẩu bình quân tăng trưởng xuất khẩu ở thập kỷ 90 hơn 20% trong khi đó năm 2001 chỉ đạt 8%

Sự bùng nổ xuất khẩu của Trung Quốc vào những năm gần đây đã dấy lên nhiều ý kiến của cộng đồng tài chính quốc tế Họ cho rằng, do thực hiện chế độ tỷ giá hối đoái

cố định, trong khi đó đồng đôla Mỹ liên tục giảm giá nên đồng nhân dân tệ bị định giá thấp làm cho hàng hóa sản xuất tại Trung Quốc có sức cạnh tranh cao về mặt giá cả

đó cũng là một trong các nguyên nhân hấp dẫn FDI của Trung Quốc

6.2 Các nước ASEAN:

Singapore đã từ lâu luôn coi việc lợi dụng vốn đầu tư nước ngoài để phát triển kinh

tế như một quốc sách Tùy vào từng giai đoạn khác nhau mà Chính phủ xác định những ngành kinh tế mũi nhọn, cần ưu tiên phát triển mà có những chính sách khuyến khích đầu tư Trong thập kỷ 70 − 80 đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm gần 98% tổng vốn đầu tư từ bên ngoài Các nguồn vốn này đã phát triển mạnh các ngành công nghiệp chế biến hàng hoá nhằm tái xuất khẩu, ngoài ra các lợi thế địa lý của nước nầy cũng được sử dụng hiệu quả Singapore hiện là quốc gia có hệ thống cảng biển hiện đại và là trung tâm tài chính, thương mại của khu vực thế giới

Trong những năm 1960, 1970, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước ASEAN khác (Thái Lan, Malaysia,…) chủ yếu tập trung vào các ngành khai thác tài nguyên

và sử dụng nhiều lao động Giúp các nước này sử dụng hiệu quả hơn nguồn nhân lực

và tài nguyên thiên của mình Mặt khác, dưới sự khuyến khích đầu tư của chính phủ các nước này, đầu tư trực tiếp nước ngoài chuyển dần sang các ngành có hàm lượng khoa học cao và làm xuất hiện một số ngành mới như: điện tử ở Malaysia, lắp ráp xe máy ở Thái Lan…

Tuy nhiên, vì mục tiêu lợi nhuận, các nhà đầu tư nước ngoài chỉ đầu tư vào các ngành có tỷ suất lợi nhuận cao, thu hồi vốn nhanh Do đó, nếu không có sự định

Trang 26

hướng của Nhà nước, tình trạng này sẽ dẫn đến sự phát triển quá nóng một số ngành

và gây ra sự mất cân đối giữa các ngành và giữa cung − cầu Ngoài ra, cơ sở hạ tầng các nước nhận đầu tư sẽ không theo kịp sự đòi hỏi phát triển của các ngành kinh tế khác như trường hợp Thái Lan

Từ những kinh nghiệm trên, Việt Nam học hỏi được từ các nước ASEAN là đầu tư tập trung vào các ngành khai thác tài nguyên, sử dụng nhiều lao động và chuyển dần sang các ngành có hàm lượng chất xám cao, tổ chức bộ máy quản lý gọn nhẹ, xây dựng hệ thống pháp lý toàn diện, đề ra những nguyên tắc chỉ đạo cụ thể cho các hoạt động kinh doanh Hệ thống pháp lý này luôn được điều chỉnh cho phù hợp với thực té của nền kinh tế Bao gồm, luật đất đai, luật tiền tệ, luật ngân hàng, luật chứng khoán, luật về quỹ dự phòng, luật theo kế toán, luật thuế thu nhập, luật khuyến khích mở rộng kinh tế, luật làm thuê, luật quan hệ công nghiệp…

Coi trọng phát triển nguồn nhân lực, lợi thế lớn nhất của Singapore trong thời kỳ đầu của công cuộc phát triển

Để theo kịp các nước trong khu vực đòi hỏi Việt Nam phải phát triển nhanh cơ sở

hạ tầng, có chính sách hợp lý nhằm để phát triển các ngành kinh tế Nhà nước giành phần lớn ngân sách cho phát triển hạ tầng cơ sở

VII PHÂN TÍCH SWOT

SWOT là chữ viết tắt của bốn chữ Strengths (điểm mạnh), Weaknesses (điểm yếu), Opportunities (cơ hội) và Threats (nguy cơ) Mô hình phân tích SWOT ra đời từ những năm 60−70 của thế kỷ 20 tại Viện nghiên cứu Stanford thuộc trường Đại học Standford (California, Hoa Kỳ)

Do Strengths và Weaknesses là các yếu tố nội tại còn Opportunities và Threats là

các nhân tố tác động bên ngoài nên SWOT cho phép phân tích các yếu tố khác nhau

có ảnh hưởng tương đối đến khả năng cạnh tranh của đối tượng được xem xét Phân tích theo mô hình SWOT là đánh giá các dữ liệu được sắp xếp theo dạng SWOT dưới một trật tự lôgíc giúp hiểu được cũng như có thể trình bày và thảo luận để đi đến việc

ra quyết định dễ dàng hơn Mẫu phân tích SWOT thường được trình bày dưới dạng

một ma trận hai hàng hai cột gồm có bốn phần: Strengths, Weaknesses,

Opportunities, và Threats Sau khi phân tích, mô hình SWOT thường đưa ra bốn

chiến lược cơ bản sau đây:

SO (Strengths – Opportunities): đây là chiến lược dựa trên ưu thế của đơn vị để tận dụng các cơ hội thị trường;

Trang 27

WO (Weaknesses – Opportunities): đây là chiến lược dựa trên khả năng vượt qua các yếu điểm của đơn vị để tận dụng cơ hội thị trường;

ST (Strengths – Threats): đây là chiến lược dựa trên ưu thế của của đơn vị để tránh các nguy cơ của thị trường; và

WT (Weaknesses – Threats): đây là chiến lược dựa trên khả năng vượt qua hoặc hạn chế tối đa các yếu điểm của đơn vị để tránh các nguy cơ của thị trường

Để thực hiện phân tích SWOT cho vị thế cạnh tranh của một đơn vị, người ta thường tự đặt các câu hỏi sau:

Strengths: Lợi thế của mình là gì? Công việc nào mình làm tốt nhất? Nguồn lực

nào mình cần, có thể sử dụng? Ưu thế mà người khác thấy được ở mình là gì?

Weaknesses: Có thể cải thiện điều gì? Công việc nào mình làm kém nhất? Cần

tránh làm gì? Vì sao đối thủ cạnh tranh có thể làm tốt hơn mình?

Opportunities: Cơ hội tốt đang ở đâu? Xu hướng đáng quan tâm nào mình đã

biết? Phương thức tìm kiếm hữu ích nhất là rà soát lại các ưu thế của mình và tự đặt câu hỏi liệu các ưu thế ấy có mở ra cơ hội mới nào không Cũng có thể làm ngược lại,

rà soát các yếu điểm của mình và tự đặt câu hỏi liệu có cơ hội nào xuất hiện nếu loại

bỏ được chúng

Threats: Những trở ngại đang gặp phải? Các đối thủ cạnh tranh đang làm gì?

Những đòi hỏi đặc thù về công việc, về sản phẩm hay dịch vụ có thay đổi gì không? Liệu có yếu điểm nào đang đe dọa bản thân mình hay không? Các phân tích này thường giúp tìm ra những việc cần phải làm và biến yếu điểm thành triển vọng

Chất lượng phân tích của mô hình SWOT phụ thuộc vào chất lượng thông tin thu thập được Thông tin cần tránh cái nhìn chủ quan từ một phía, nên tìm kiếm thông tin

từ mọi phía SWOT cũng có phần hạn chế khi sắp xếp các thông tin với xu hướng giản lược Điều này làm cho nhiều thông tin có thể bị gò ép vào vị trí không phù hợp với bản chất vấn đề Nhiều đề mục có thể bị trung hòa hoặc nhầm lẫn giữa hai thái cực S–W và O–T do quan điểm của nhà phân tích

Lập một ma trận SWOT phải trải qua các bước sau :

1 Liệt kê các điểm mạnh chủ yếu bên trong tổ chức

2 Liệt kê các điểm yếu bên trong tổ chức

3 Liệt kê các cơ hội lớn bên ngoài tổ chức

4 Liệt kê các đe doạ quan trọng bên ngoài tổ chức

Trang 28

5 Kết hợp điểm mạnh bên trong với cơ hội bên ngoài và ghi kết quả của chiến lược SO vào ô thích hợp

6 Kết hợp điểm yếu bên trong với cơ hội bên ngoài và ghi kết quả của chiến lược WO vào ô thích hợp

7 Kết hợp điểm mạnh bên trong với mối đe doạ bên ngoài và ghi kết quả của chiến lược ST vào ô thích hợp

8 Kết hợp điểm yếu bên trong với nguy cơ bên ngoài và ghi kết quả của chiến lược WT vào ô thích hợp

−−− o O o −−−

Trang 29

CHƯƠNG II

TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KCN KCX

THÀNH PHỐ CẦN THƠ VÀ TỈNH HẬU GIANG

I GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ CẦN THƠ

Đồng Bằng Sông Cửu Long gồm 13 tỉnh, thành phố có diện tích đất tự nhiên gần 40.000 km2, dân số 17 triệu người; là vùng Châu Thổ phì nhiêu, màu mỡ do chín nhánh sông Mekong bồi đắp tạo thành Đây là vựa lúa lớn nhất nước, hàng năm ĐBSCL sản xuất lương thực, thủy hải sản và trái cây chiếm trên 60% sản lượng cả nước Là nơi cung cấp chủ yếu lương thực cho xuất khẩu, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và là thị trường tiềm năng lớn tiêu thụ hàng công nghiệp

Thành phố Cần Thơ nằm ở vị trí trung tâm Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), theo tinh thần Nghị quyết số 22/2003/QH XI của Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 4 thì tỉnh Cần Thơ được chia làm 2 đơn vị hành chính là thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương và tỉnh Hậu Giang kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2004

TP.Cần Thơ nằm ở đầu mối giao thông huyết mạch của vùng, có hệ thống hạ tầng

kỹ thuật như giao thông thủy, bộ, sân bay, bến cảng, trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp, Dạy nghề; các khu công nghiệp tập trung, các dịch vụ bưu chính viễn thông, bảo hiểm, ngân hàng, điện, nước, nhà hàng, khách sạn Với vị trí tiềm năng nêu trên TP.Cần Thơ được xác định là trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, tài chính, thương mại và dịch vụ của ĐBSCL

1.1 Vị trí địa lý:

Thành phố Cần thơ được thành lập trên cơ sở tách ra khỏi tỉnh Cần Thơ cũ theo Nghị quyết số 22/2003/QH XI ngày 26/11/2003 của Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa XI và Nghị định số 05/2004/NĐ − CP ngày 02/01/2004 của Thủ tướng Chính phủ, là một trong ba đơn vị hành chánh cấp tỉnh thành và là thành phố trực thuộc Trung ương duy nhất của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL)

Về vị trí, thành phố Cần Thơ nằm trong vùng trung − hạ lưu và chiếm vị trí trung tâm châu thổ sông Cửu Long, trải dài trên 55 km dọc bờ Tây sông Hậu, tổng diện tích

tự nhiên là 1.389,60 km2, chiếm 3,49% diện tích vùng ĐBSCL

Trang 30

Thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương, có diện tích 138.960 ha nằm ở vị trí trung tâm ĐBSCL về phía Tây sông Hậu nối với đường biển quốc tế theo luồng Định

An, cách biển 75 km, có quốc lộ 1A thuận tiện giao thông bộ nối liền với Thành phố

Hồ Chí Minh và các tỉnh ĐBSCL, phía Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp và Vĩnh Long, phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang, phía nam giáp tỉnh Hậu giang, phía bắc giáp tỉnh An Giang

và Đồng Tháp, mặt khác còn thuận lợi giao thông thủy bộ đến Campuchia Về tọa độ địa lý, thành phố Cần Thơ nằm trong giới hạn 105013’38” − 105050’35” kinh độ Đông; 9055’08” − 10019’38” vĩ độ Bắc

Thành phố Cần Thơ được chia ra thành 4 Quận đó là: Quận Ninh Kiều, Quận Cái Răng, Quận Bình Thuỷ và Quận Ô Môn; và 4 huyện nằm ven thành phố: huyện Thốt Nốt, huyện Vĩnh Thạnh, huyện Phong Điền và huyện Cờ Đỏ

Bản đồ địa giới hành chính TP.Cần Thơ

Cần Thơ không chỉ là Trung tâm của ĐBSCL phì nhiêu, trù phú mà còn có “thiên thời”, “địa lợi”, “nhân hòa”, “đất lành chim đậu” mà sử sách đã gọi là Tây Đô, thủ phủ của miền Tây Nam Bộ (Việt Nam), nằm bên bờ Tây Sông Hậu, cách thành phố

Hồ Chí Minh 170 km

Nhờ ở vị trí địa lý trung tâm của vùng và phát triển tại vùng châu thổ ven sông Hậu, Thành phố Cần Thơ có vị trí quan trọng về chính trị, kinh tế, quân sự trong khu vực ĐBSCL và hiện đang đô thị hóa mới mức tăng trưởng cao Tuy nhiên trong thời điểm hiện tại, cầu Cần Thơ qua sông Hậu chưa được xây dựng xong, sân bay quốc tế chưa hình thành, tình trạng bồi lắng cửa Định An đang là những hạn chế đáng kể trong việc phát huy tiềm năng vị trí của Cần Thơ

Trung tâm của Thành Phố đặt tại Quận Ninh Kiều, là nơi tập trung các cơ quan Trung ương, cơ quan Đảng, đoàn thể, trụ sở hành chính quản lý nhà Nước, các cơ sở

Trang 31

quan trọng về thương mại, dịch vụ tài chính, ngân hàng, viễn thông, vận tải, giáo dục

− y tế, văn hóa − thể dục thể thao, an ninh, quốc phòng và các khu dân cư đô thị Với thực trạng nêu trên, thành phố Cần Thơ đã từ lâu không ngừng phát triển đô thị, công nghiệp, bến cảng, tập trung nhiều cơ sở vật chất quan trọng về chính trị, kinh

tế, an ninh quốc phòng cấp vùng Đó là những điều kiện cơ bản để thành phố Cần Thơ phát triển thành đô thị trung tâm và điểm động lực phát triển của vùng ĐBSCL, từng bước vươn tới trở thành một trong những trung tâm quan trọng nhất cấp quốc gia, có vị trí trong khu vực Đông Nam Á

1.2 Tài nguyên thiên nhiên:

 Khí hậu − thời tiết:

Thành phố Cần Thơ trong vùng thuộc ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa

Có hai mùa rõ rệt trong năm là mùa khô và mùa mưa:

+ Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 04 năm sau; gió mùa Đông Bắc Nhiệt độ trung bình các tháng từ 26 đến 28 độ Có số giờ nắng cao nhất trong năm vào các tháng 1,

2, 3 Giờ nắng trung bình trong các tháng này từ 190 giờ đến 240 giờ Thuận lợi cho việc thu hoạch và bảo quản lúa

+ Mùa mưa từ tháng 05 đến tháng 11, gió mùa Tây Nam Nhiệt độ trung bình các tháng mùa mưa từ 26 đến 27 độ Mưa tập trung trong các tháng 9,10… trung bình lượng mưa phổ biến trong tháng từ 220 mm đến 240 mm Các tháng cuối mùa gây ngập úng trên diện rộng do lượng mưa lớn và lũ thượng nguồn đổ về

 Nguồn nước:

+ Nước mặt: hệ thống sông rạch với 2 đặc thù khác nhau, Sông Hậu chiều dài đi qua phần đất của thành phố 75 km, lưu vực này chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật

Trang 32

triều biển Đông, sông Cái Lớn từ phía Tây có chiều dài đi qua phần đất của Cần Thơ

36 km, lưu vực này chịu ảnh hưởng của chế độ nhật triều biển Đông và Vịnh Thái Lan, hệ thống sông ngòi, kênh gạch chằng chịt như sông Hậu, sông Cần Thơ, sông Cái Lớn, sông Cái Sắn,… đã tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông thủy, cung cấp nước ngọt quanh năm cho sản xuất và sinh hoạt cũng như việc cải tạo đất Lưu lượng nước sông Hậu xuống thấp chỉ có 1970 m3/s, gây ra tình trạng thiếu nước Mùa lũ thường xảy ra tháng 8, tháng 9 hàng năm, lưu lượng nước sông Hậu đến 38.000 m3/s + Nước ngầm: Tổng trữ lượng khoảng 1.375.190 m3

với nhiều tầng phong phú phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau Trong đó, tầng pleistoxen ở đó sâu từ 80 −

120 m, có chất lượng nước tốt phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất Nước ngầm đang được khai thác phổ biến đáp ứng cho nhu cầu nước sạch của cộng đồng

1.3 Dân số và nguồn lao động:

Bảng 2.1 Dân số thành thị phân theo giới tính và khu vực (người)

Nguồn: Niên Giám Thống Kê năm 2004 − Cục Thống Kê thành phố Cần Thơ

Thành phố Cần Thơ có dân số đông so với các tỉnh ĐBSCL, Thành phố Cần Thơ

có 1.127.765 người chiếm 50,14% Năm 2004 có khoảng 700 người trong độ tuổi lao động với cơ cấu lao dộng trẻ Lao động nông nghiệp chiếm 53,67% và lao động phi nông nghiệp chiếm 46,53% Mật độ dân số 807/người/km2

Theo kết quả tổng điều tra dân số 2004 dân số thành phố Cần Thơ 1.127.765, trong

đó nam có 574.179 người; nữ có 553.586 người Tỷ lệ dân số nữ cao hơn tỷ lệ dân số nam và tăng đều qua các năm Dân số tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn nên khó khăn để phát triển các ngành đòi hỏi có trình độ tay nghề, mặt bằng dân trí tương đối thấp chưa có sự tương xứng giữa thành thị và nông thôn Tuy nhiên, dân số nữ đông cũng là điều kiện thuận lợi giúp phát triển các ngành dệt may, chế biến thực phẩm…

Trang 33

1.4 Tiềm năng và cơ hội đầu tư của Cần Thơ:

Đến năm 2005, toàn thành phố có 5.493 cơ sở công nghiệp−tiểu thủ công nghiệp(9 QDTW, 15 QDDP, 13 có vốn nước ngoài, 5.465 ngoài QD); sử dụng 48.360 lao động Các ngành chủ lực là sản xuất thực phẩm và đồ uống (36,4%), hoá chất và các sản phẩm từ hoá chất (16,8%), kim loại và sản phẩm từ kim loại chiếm 9,7%, sản phẩm từ khoáng chất phi kim loại chiếm 8,8%, sản phẩm cao su plastic chiếm 6%, sản xuất và phân phối điện nước chiếm 5,7%

Thành phố Cần thơ có 4 khu công nghiệp tập trung, tính đến tháng 6/2005 đã thu hút được 123 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký 384 triệu USD, trong đó có 22 dự án

có vốn đầu tư nước ngoài với vốn đăng ký 91,8 triệu USD

Hiện thành phố đang kêu gọi đầu tư cho các dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp chế biến, điện − điện tử, hóa chất, dệt may, da giầy…

1.4.2 Nông nghiệp:

Ngành trồng trọt giữ vị trí quan trọng trong kinh tế khu vực I (68% giá trị tăng thêm), nhưng chỉ chiếm 13% GDP của toàn thành phố và tăng trưởng rất thấp trong giai đoạn 2001−2005, chủ yếu do đã bảo hoà về năng suất, sản lượng, tác hại của dịch bệnh trên cây trồng và giá cả nông sản thấp, bấp bênh ảnh hưởng rất lớn đến ngành trồng trọt Giá trị tăng thêm năm 2005 đạt 1.100 tỉ đồng, bình quân 1 hecta đất canh tác đạt 9,75 triệu đồng (theo giá so sánh 1994), thuộc loại trung bình khá so với các tỉnh ĐBSCL

Tổng diện tích canh tác năm 2005 là 112.908 ha, tổng diện tích gieo trồng khoảng 258.700 ha, hệ số sử dụng đất 2,29, trong đó lúa vẫn được xem là loại cây trồng

chính Cây màu lương thực chủ yếu tập trung khu vực ven sông Hậu, diện tích gieo

trồng giao động trong khoảng 1.100 – 1.400 ha, sản lượng 2.000−5.000 tấn và có

khuynh hướng giảm Rau màu thực phẩm có diện tích gieo trồng biến động khoảng

5.200 – 6.500 ha, sản lượng 49.000 – 85.000 tấn và có khuynh hướng tăng Cây ăn trái có diện tích canh tác rất đáng kể, đạt 17.000 ha năm 2005 với tổng sản lượng là 111.920 tấn, trong đó cây có múi, xoài, nhãn, chôm chôm chiếm tỉ trọng lớn Một xu

Trang 34

hướng khai thác hiệu quả của kinh tế vườn là kết với du lịch xanh, du lịch sinh thái đang phát triển mạnh trong các năm gần đây Ngoài ra cũng phải kể đến các sản phẩm phụ của ngành trồng trọt như trồng nấm rơm cũng đạt hiệu quả cao trong xoá đói giảm nghèo trên địa bàn thành phố

Ngành chăn nuôi chiếm tỉ trọng thấp trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp (9,8%) Giá trị tăng thêm năm 2005 đạt 120,1 tỉ đồng, tốc độ tăng trưởng trong giai đoạn 1996−2005 đạt 3,2%, thuộc loại thấp trong khu vực

Ngành thuỷ sản phát triển chủ yếu trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản chuyên canh dạng công nghiệp, bán công nghiệp và nuôi thuỷ sản luân canh trong ruộng lúa, trở thành 2 phương thức nuôi thuỷ sản chủ lực của thành phố Trong cơ cấu kinh tế khu vực I, ngành thuỷ sản chiếm tỉ trọng khá lớn (23,8% giá trị tăng thêm)

Để khai thác tiềm năng này phục vụ cho phát triển kinh tế, thành phố Cần Thơ kêu gọi đầu tư cho các dự án chế biến như: Chế biến nước trái cây đóng hộp và nước quả

cô đặc, dầu thực vật, lương thực, thực phẩm đóng hộp và thức ăn cho tôm cá

1.4.3 Thương mại − Du lịch:

Thương mại − du lịch là ngành chiếm tỉ trọng lớn thứ hai sau công nghiệp và là động lực phát triển kinh tế thành phố Tuy nhiên trong 3 năm 2003−2005, thương mại chưa có bước phát triển đột phá và vai trò trong nền kinh tế có khuynh hướng giảm Tính đến năm 2005, trên địa bàn thành phố có 32.964 doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực thương mại−dịch vụ, trong đó doanh nghiệp nhà nước được tổ chức theo hướng tập trung đầu mối, tăng cường khả năng tích tụ về vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật, đội ngũ cán bộ HTX thương mại có khả năng cạnh tranh kém, hầu hết kinh doanh không hiệu quả; lực lượng thương mại ngoài quốc doanh phát triển khá nhanh về số lượng và qui mô

Có 45 doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu trên địa bàn thành phố Cần Thơ Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ thu ngoại tệ từ 160 triệu USD năm 2000 tăng lên 370 triệu USD năm 2005, tăng bình quân 18,2%/năm Các thị trường xuất khẩu truyền thống là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan Đến nay hàng hoá của Cần Thơ đã tiêu thụ ở hầu hết các Châu lục và Cần Thơ có quan hệ ngoại thương với trên 100 quốc gia Mặc dù giá trị tăng nhanh nhưng lĩnh vực xuất khẩu còn gặp nhiều khó khăn do công nghệ chậm cải tiến, khả năng cạnh tranh của sản phẩm chưa cao, thị trường chưa ổn định, chưa xây dựng được chiến lược sản phẩm, chiến lược thị trường và hàng hoá chưa có thương hiệu mạnh

Trang 35

Để phát triển mạnh trong lãnh vực này, thành phố Cần Thơ kêu gọi đầu tư cho các

dự án phát triển thương mại − du lịch như: xây dựng khu đô thị mới, siêu thị, các khu

du lịch sinh thái và trung tâm vui chơi giải trí

1.4.4 Khoa học công nghệ:

Thành phố Cần Thơ có hệ thống trường Đại Học, Cao đẳng, các trường đào tạo kỹ thuật, Trung tâm Công nghệ phần mềm và Viện nghiên cứu lúa ĐBSCL, đã trở thành trung tâm khoa học kỹ thuật của vùng ĐBSCL

Hiện tại thành phố Cần Thơ đang có đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật khá phong phú đủ mọi trình độ và ngành nghề Để khoa học công nghệ phát triển mạnh góp phần phục vụ cho phát triển kinh tế, thành phố Cần Thơ kêu gọi đầu tư vào dự án xây dựng nhà máy lắp ráp điện tử và tin học, khu công nghệ cao

1.4.5 Cơ sở hạ tầng:

Cần Thơ giữ đầu mối giao thông quan trọng, gồm đường bộ, đường thuỷ, đường hàng không và đường hàng hải thông thương trong vùng, trong cả nước và thế giới Nhờ vậy, Cần Thơ đã trở thành nơi hội tụ, giao lưu hàng hóa nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ rất thuận lợi, nhanh nhạy và hiệu quả Chính điều đó cơ sở hạ tầng của Cần Thơ ngày càng phát triển

 Giao thông:

Thành phố Cần Thơ cách thành phố Hồ Chí Minh 170 km, nơi hội tụ, đầu mối giao thông huyết mạch bằng đường sông, đường bộ, đường biển với các tỉnh, thành phố trong cả nước Từ thành phố Cần Thơ giao thông có thể đi lại dễ dàng đến Thành phố

Hồ chí Minh, các tỉnh ĐBSCL và các tỉnh, thành phố khác trong cả nước

Hệ thống hạ tầng kinh tế kỹ thuật phong phú như Cảng Cần Thơ có thể tiếp nhận tàu 10.000 tấn, cảng biển Cái Cui đang được xây dựng có thể tiếp nhận tàu 20.000 tấn với công suất hàng hóa thông qua cảng khoảng 4,2 triệu tấn/ năm, chủ yếu phục vụ cho nhập khẩu nguyên liệu phục vụ sản xuất, máy móc thiết bị, hàng tiêu dùng và xuất khẩu nông thủy sản hàng hóa của ĐBSCL; Sân bay Trà Nóc đang được nâng cấp, mở rộng để nối với các đường bay trong nước và từng bước mở thêm đường bay đến các nước Đông Nam Á

Cầu Cần Thơ đang được xây dựng và hoàn thành vào năm 2008, nối liền trục giao thông bộ quan trọng giữa Thành phố Cần Thơ, thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh ĐBSCL và cả nước

 Hệ thống cấp điện:

Trang 36

Thành phố Cần Thơ có hai tuyến lưới điện: Nhà máy nhiệt điện Trà Nóc có công suất 200 MW và đang xây thêm nhà máy nhiệt điện Ô Môn có công suất giai đoạn đầu là 600 MW, sẽ nâng lên 1.200 MW đây cũng chính là điều kiện rất thuận lợi đối với việc quy hoạch xây dựng trạm nguồn Đến nay điện lưới có đến 67,08% hộ sử dụng điện ở các xã, phường phục vụ sản xuất và sinh hoạt Vì vậy đã đầu tư xây dựng thêm nhà máy nhiệt điện Ô Môn có công suất 1.200 MW đảm bảo đáp ứng đủ điện cho vùng động lực phát triển công nghiệp − dịch vụ và phát triển các đô thị trong thành phố

 Hệ thống cấp nước:

Về cấp nước, thành phố Cần Thơ chịu ảnh hưởng của 2 nguồn nước chính từ sông Hậu và kênh Cái Sắn cung cấp nước ngọt quanh năm, tuy chất lượng có bị ô nhiễm nhẹ, và từ 3 tầng nước ngầm Pleistocene, Pliocen, Miocen có cung lượng khá dồi dào, chất lượng tốt

Tính đến cuối năm 2004, toàn thành phố Cần Thơ có các nhà máy nước như sau:

− NMN Cần Thơ I : 50.000 m3/ngày đêm

− NMN Cần Thơ II : 40.000 m3/ngày đêm

− NMN của điện Trà Nóc : 1.000 m3/ngày đêm

− NMN của KCN Trà Nóc : 8.000 m3/ngày đêm

Hiện nay thành phố Cần Thơ có 4 nhà máy cung cấp nước sạch nêu trên có hệ thống ống chuyển tải dài 21 km, hệ thống ống phân phối dài 149 km, cung cấp cho khoảng 80% dân số nội thành Dự kiến đến 2010 xây dựng thêm các nhà máy nước cung cấp nước sạch với công suất 200.000 m3/ngày đêm trên một số khu vực thuộc địa bàn thành phố Cần Thơ

 Thông tin liên lạc:

Hệ thống bưu chính viễn thông hiện đại với kỹ thuật số hóa và tổng đài kỹ thuật số hiện đại; các dịch vụ điện thoại; hệ thống cáp quang đã được xây dựng ở các khu công nghiệp, giá cước rẻ, đây cũng chính là điều kiện thuận lợi giúp cho Cần Thơ thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Về viễn thông, liên tục trong 8 năm gần đây, tổng dung lượng tăng rất nhanh, đến cuối năm 2004 mật độ điện thoại 12,69 máy điện thoại/ 100 dân và kế hoạch phát triển kinh tế − xã hội năm 2005 mật độ điện thoại là 15.11 máy/ 100 dân

 Tiềm năng về du lịch:

Trang 37

Thành phố Cần Thơ theo sử sách đã gọi là Tây Đô, thủ phủ của miền Tây Nam Bộ (Việt Nam), nằm bên bờ sông Hậu Hoạt động du lịch của thành phố Cần Thơ với đặc trưng của Vùng Châu Thổ, nổi tiếng hoạt động du lịch xanh, các khu du lịch sinh thái hấp dẫn với vườn cây ăn trái, chợ nổi trên sông thành phố Cần Thơ có nhiều di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia như tượng đài Bác Hồ, nhà Bảo tàng thành phố, nhà Bảo tàng Quân khu 9, đình Bình Thủy, chùa Khánh Quang,… và hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông thuận lợi trong khu vực ĐBSCL, hệ thống nhà hàng khách sạn tiện nghi và đạt tiêu chuẩn, hiện đại đủ đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch Hiện nay thành phố Cần Thơ có khu du lịch vui chơi giải trí Cồn Ấu, Cồn Khương, Khu du lịch Thủy Tiên, vườn trái cây Mỹ Khánh,…

II LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC KCN CẦN THƠ:

2.1 Lịch sử hình thành

Trong những năm 1960 KCN ở Cần Thơ bắt đầu thành lập mang tên KCN Tây Đô, hoạt động trong một thời gian khá dài từ năm 1960 đến năm 1975 trong tình hình kinh tế, xã hội vô cùng phức tạp vì đất nước ta đang trong giai đoạn chiến tranh, tuy nhiên KCN vẫn được thành lập và hoạt động

Sau khi đất nước được giải phóng, KCN Tây Đô không hoạt động nữa Thời gian này, KCN Tây Đô bị giải tán, không còn hoạt động sản xuất của một KCN mà nơi đây được chuyển đổi thành khu sản xuất khác Chấm dứt thời kì hoạt động của KCN Tây Đô

Sơ đồ 2.1: Các mốc thời gian phát triển KCN Cần Thơ

Kéo dài 20 năm, đến năm 1995 chính phủ đã có quyết định thành lập lại KCN ở Cần Thơ với tên gọi KCN Trà Nóc 1, diện tích 135 hecta Từ đây, Ban quản lý KCN cũng được ra đời để điều hành hoạt động của KCN này, KCN Trà Nóc 1 đã có những bước phát triển tích cực trong thời gian này, thu hút một lượng lớn đáng kể các doanh

Từ 1998 đến 2006 TRÀ NÓC 1,2 HƯNG PHÚ 1,2

Từ 1975 đến 1995

GIẢI TÁN KCN

Từ 1995 đến 1998 1995: TRÀ NÓC 1(135ha) 1998: TRÀ NÓC 2 (165ha)

Từ 1960 đến 1975

KCN TÂY ĐÔ

Trang 38

nghiệp trong và ngoài nước vào hoạt động Bên cạnh đó, nước ta cũng đã ban hành luật khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài và có chính sách ngoại giao rất tốt đối với tất cả các nước trên thế giới đã tạo thuận lợi cho tình hình phát triển của KCN Cùng với sự gia tăng của nguồn vốn đầu tư FDI, KCN Trà Nóc 1 cũng hoạt động thịnh vượng hơn, nguồn vốn đầu tư chảy vào KCN mạnh hơn Do đó, đến năm 1998 Chính phủ lại có quyết định thành lập KCN Trà Nóc 2 với diện tích là 165 hecta Đây cũng là một trong hai KCN hoạt động sôi nổi và có diện tích hầu như được lắp đầy

Từ năm 1998 đến nay, Cần Thơ lại có thêm 2 KCN: KCN Hưng Phú 1, KCN Hưng Phú 2

2.2 Giới thiệu các khu công nghiệp Cần Thơ:

Theo quy hoạch phát triển kinh tế − xã hội của thành phố Cần Thơ đến năm 2010, Chính phủ cho phép xây dựng tại thành phố 4 Khu công nghiệp, tập trung có tổng diện tích 876 ha, bao gồm:

KCN Trà Nóc: 300 hecta

KCN Hưng Phú: 576 hecta

 KCN Trà Nóc: có tổng diện tích là 300 hecta, nằm cạnh quốc lộ 91A đi An

Giang, Kiên Giang, cạnh bờ Sông Hậu đi Campuchia và ra biển Đông, cách sân bay Trà Nóc 2 km, cách cảng Cần Thơ 3 km, cách Trung tâm Tp.Cần Thơ 10 km về phía Bắc, được cung cấp đầy đủ dịch vụ về Ngân hàng, Bưu chính viễn thông, Nhà hàng, Khách sạn Tp Cần Thơ cũng là nơi cung cấp đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề phục vụ cho sản xuất công nghiệp KCN Trà Nóc được chia thành 2 khu vực:

KCN Trà Nóc I: Có diện tích 135 hecta, tọa lạc tại Phường Trà Nóc, Quận Bình

Thủy, Tp.Cần Thơ Khởi công từ năm 1995, đến nay, hạ tầng kỹ thuật đã được xây dựng hoàn chỉnh như : giao thông nội bộ, cấp điện, cấp thoát nước và bưu chính viễn thông Tính đến tháng 9 năm 2004 đã cho thuê 100% diện tích đất công nghiệp

KCN Trà Nóc II: Có diện tích 165 hecta, tọa lạc tại xã Phước Thới, Quận Ô Môn, liền

kề với KCN Trà Nóc 1 Khởi công từ năm 2000, đến nay, cơ sở hạ tầng đang được xây dựng, đã có các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến thuê đất để xây dựng nhà máy Diện tích đất công nghiệp đã cho thuê tính đến tháng 9 năm 2004 là trên 65%

Lợi thế về vị trí kinh tế:

Trang 39

Nằm sát bờ sông Hậu, đường sông chính giao lưu trong nước và quốc tế; ngược dòng phía Bắc đi Campuchia, xuôi dòng qua cảng Cần Thơ (cách 3km) đi ra biển Đông (cửa biển Định An)

 Định hướng phát triển ngành nghề:

Khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp không gây ô nhiễm cho nguồn nước, không khí và đất đai như: chế biến lương thực, thực phẩm; Các ngành công nghiệp cơ khí, điện, điện tử, sản xuất phụ tùng máy móc, phương tiện vận tải; Công nghiệp vật liệu xây dựng; Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng

 KCN Hưng Phú: có diện tích 576 hecta nằm bên bờ Sông Hậu, cách Trung tâm

Tp.Cần Thơ 9 km về phía Nam Ngược dòng lên phía Bắc đi Campuchia, xuôi dòng

về phía Nam ra biển Đông Dọc theo bờ Sông Hậu 9 km, thuộc địa bàn phường Tân Phú và Phú Thứ, Quận Cái Răng, Tp.Cần Thơ KCN Hưng Phú được chia làm 02 khu vực

KCN Hưng Phú I: Có diện tích 350 ha, tọa lạc tại phường Tân Phú, quận Cái Răng,

đã được Chính phủ cho phép thành lập trong năm 2004 Hạ tầng kỹ thuật nội Khu chưa xây dựng, nhưng đã thu hút được 5 dự án lớn có số vốn đăng ký 51 triệu USD, trong đó, có 1 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với vốn đăng ký 7 triệu USD Đã cho thuê khoảng 38% diện tích đất công nghiệp

KCN Hưng Phú II: Có diện tích 226 hecta, tọa lạc tại phường Phú Thứ, quận Cái

Răng Quy hoạch chi tiết đang trình duyệt, cũng chưa xây dựng hạ tầng kỹ thuật nội Khu, nhưng đã thu hút được 3 dự án có số vốn đăng ký 21 triệu USD, trong đó, có 1

dự án có vốn đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký 4,8 triệu USD

Lợi thế về vị trí kinh tế:

Nằm gần trung tâm thành phố Cần Thơ và bên cạnh một khu đô thị mới với các dịch vụ ngân hàng, bưu chính, viễn thông, nhà hàng, khách sạn, trường học, bệnh viện đã được quy hoạch phát triển

Tại KCN Hưng Phú I, Cảng biển quốc tế Cái Cui đang được xây dựng với quy mô lớn hơn cảng Cần Thơ, cho tàu có trọng tải trên 10.000 tấn cặp bến; có đủ hệ thống kho tàng đáp ứng mức lưu chuyển hàng hóa 4 − 5 triệu tấn/năm Quốc lộ 91C nối cầu Cần Thơ, Quốc lộ 1 và cầu Quang Trung, cảng Cái Cui đang được thi công; các công trình điện nước, viễn thông cũng được UBND thành phố chỉ đạo khẩn trương triển khai xây dựng từ năm 2002

 Định hướng phát triển ngành nghề:

Trang 40

Khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, thủy hải sản, nước giải khát từ trái cây, rau quả xuất khẩu; Công nghiệp dệt, may, da; Công nghiệp hóa chất và các sản phẩm từ hóa chất; Công nghiệp hàng tiêu dùng; Công nghiệp khai thác cảng, đóng mới và sửa chữa tàu biển; Công nghiệp cơ khí chế tạo và lắp ráp nông cơ, phục vụ cho cơ giới hóa nông nghiệp; Các ngành công nghiệp khác phù hợp với định hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa của một trung tâm ĐBSCL

Trên địa bàn thành phố Cần Thơ, ngoài 2 Khu công nghiệp tập trung là KCN Trà Nóc và KCN Hưng Phú, còn có các Trung tâm Công nghiệp − Tiểu thủ công nghiệp (CN − TCN) phù hợp với quy mô đầu tư vừa và nhỏ, gắn liền với vùng nguyên liệu của địa phương

Phát triển các trung tâm này, ngân sách nhà nước sẽ hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật đến chân hàng rào của các doanh nghiệp như: các tuyến giao thông nội bộ theo quy hoạch và hỗ trợ về tái định cư; các đơn vị chuyên ngành của thành phố đầu tư hệ thống cấp nước, cấp điện và bưu chính viễn thông Nhà đầu tư được thuê lại đất công nghiệp đã được xây dựng hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng hoặc thuê đất thô để tự bồi hoàn giải tỏa theo phương án được cấp thẩm quyền phê duyệt để xây dựng nhà máy

 TRUNG TÂM CÔNG NGHIỆP − TTCN CÁI SƠN HÀNG BÀNG:

Trung tâm CN − TTCN Cái Sơn Hàng Bàng có diện tích 38,2 ha tọa lạc tại phường

An Bình, Quận Ninh Kiều cách trung tâm thành phố Cần Thơ 12 km về phía Tây, nằm cạnh quốc lộ 91B thuận tiện về giao thông bộ Trung tâm đang được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật như: giao thông nội bộ, cấp điện, cấp thoát nước, bưu chính viễn thông; phục vụ cho các ngành chế biến lương thực, thực phẩm, dệt may,

cơ khí và các ngành công nghiệp nhẹ khác Trung tâm đã có các nhà đầu tư vào thuê

và tổ chức sản xuất

 TRUNG TÂM CÔNG NGHIỆP − TTCN THỐT NỐT:

Trung tâm công nghiệp Thốt Nốt có diện tích 51 ha, giai đoạn I là 19,5 ha, giai đoạn II là 31,5 ha, toạ lạc tại xã Thới Thuận huyện Thốt Nốt, cách trung tâm thị trấn Thốt Nốt 10 km về phía Bắc và cách trung tâm thành phố Cần Thơ 60 km Nằm giữa sông Hậu và quốc lộ 91A, thuận tiện về giao thông thủy, bộ, phù hợp cho việc vận chuyển nguyên liệu nguyên liệu và sản phẩm Trung tâm sẽ được mở rộng tổng diện tích lên đến 150 ha, đang xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho sản xuất giao thông nội bộ, cấp điện, cấp thoát nước và bưu chính viễn thông

Trung tâm đáp ứng được cho các ngành nghề sản xuất và chế biến lương thực thực phẩm, chế biến thuỷ hải sản, cơ khí và các ngành công nghiệp nhẹ khác

Ngày đăng: 31/05/2016, 01:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Trịnh minh Châu. Các KCN Hà Nội, mấy kinh nghiệm và giải pháp phát triển. Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam, Đồng Nai 11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam
7. Trần ngọc Hưng. Thực trạng và một số định hướng phát triển các KCN ở Việt Nam. Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam, Đồng Nai 11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam
8. Trần văn Khanh. Liên kết đào tạo nghề − Biện pháp hỗ trợ công tác đào tạo lao động tại KCN. Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam, Đồng Nai 11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam
9. Cao Sỹ Kiêm. Một số vấn đề xây dựng và phát triển các KCN, KCX trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam, Đồng Nai 11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam
10. Võ văn Luỹ. Các KCN Cần Thơ – Qui hoạch và phát triển. Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam, Đồng Nai 11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam
11. Nguyễn Dạ Thảo Ly. Vấn đề nhà cho thuê đối với người lao động nhập cư làm việc trong các KCN tỉnh Đồng Nai. Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam, Đồng Nai 11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam
12. Nguyễn đình Quảng. Vài suy nghĩ về khu công nghiệp ở Việt Nam. Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam, Đồng Nai 11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam
13. Phạm Thắng. Quan điểm phát triển và quản lý nhà nước các KCN, KCX ở Việt Nam. Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam, Đồng Nai 11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam
16. Võ thanh Thu. Thực trạng lao động tại các KCN, KCX ở khu vực miền Đông Nam bộ. Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam, Đồng Nai 11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam
17. Chu thị Thƣ. Những bài học từ thực tiễn 15 năm hoạt động của công ty phát triển KCN Biên Hoà. Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam, Đồng Nai 11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam
18. Trương ngọc Thục. Một số giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực cho các KCN, KCX Thành phố Hồ chí Minh. Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam, Đồng Nai 11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam
20. Phạm quốc Tuấn. Một số vấn đề về qui hoạch chi tiết; đầu tƣ hạ tầng ngoài hàng rào; xử lý nước thải, chất thải, vệ sinh môi trường các KCN, KCX ở nước ta.Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam, Đồng Nai 11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam
21. Hoàng văn Tuệ. Một số vấn đề văn hoá trong các KCN, KCX. Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam, Đồng Nai 11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam
22. Trần thanh Tùng. Giá cho thuê đất rẻ có phải là yếu tố quyết định trong việc thu hút đầu tƣ ở các tỉnh ĐBSCL? Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam, Đồng Nai 11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam
24. Đoàn thị Hồng Vân. Phát triển dịch vụ logistis − Một hướng đi tất yếu của các KCN, KCX vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam, Đồng Nai 11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tại hội thảo quốc gia phát triển KCN, KCX ở Việt Nam
34. Tạp chí kinh tế thế giới, 35. Tạp chí phát triển Kinh tế.36. Internet:+ Trang web của Bộ kế hoạch và đầu tƣ http://www.mpi.gov.vn (1) Chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001−2010 Link
1. Đỗ Đức Bình. Giáo trình kinh doanh quốc tế. NXB Giáo dục, 1997 Khác
3. Hoàng Thị Chinh, Nguyễn Phú Tụ. Giáo trình kinh tế quốc tế. NXB Giáo dục, 1998 Khác
4. Mai Ngọc Cường. Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút ĐTTTNN tại Việt Nam. NXB Chính trị Quốc gia, 2000 Khác
5. Phước Minh Hiệp, Phân tích và Thẩm định dự án đầu tư. NXB Thống kê, 2001 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 1.1: Tỷ lệ đất cho thuê được/diện tích đất công nghiệp - Đánh giá tình hình đầu tư và các giải pháp nhằm thu hút đầu tư vào các KCN-KCX Cần Thơ đến năm 2010
th ị 1.1: Tỷ lệ đất cho thuê được/diện tích đất công nghiệp (Trang 13)
Đồ thị 2.1.: Vốn đầu tư hạ tầng KCN - Đánh giá tình hình đầu tư và các giải pháp nhằm thu hút đầu tư vào các KCN-KCX Cần Thơ đến năm 2010
th ị 2.1.: Vốn đầu tư hạ tầng KCN (Trang 43)
Đồ thị 2.2: Vốn đăng ký và vốn tiếp nhận qua 3 năm - Đánh giá tình hình đầu tư và các giải pháp nhằm thu hút đầu tư vào các KCN-KCX Cần Thơ đến năm 2010
th ị 2.2: Vốn đăng ký và vốn tiếp nhận qua 3 năm (Trang 46)
Bảng 2.6: Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài - Đánh giá tình hình đầu tư và các giải pháp nhằm thu hút đầu tư vào các KCN-KCX Cần Thơ đến năm 2010
Bảng 2.6 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (Trang 48)
Đồ thị 2.5.: Tình hình nộp ngân sách qua 3 năm. - Đánh giá tình hình đầu tư và các giải pháp nhằm thu hút đầu tư vào các KCN-KCX Cần Thơ đến năm 2010
th ị 2.5.: Tình hình nộp ngân sách qua 3 năm (Trang 50)
Đồ thị 2.6: Số lượng lao động tại các KCN qua các năm - Đánh giá tình hình đầu tư và các giải pháp nhằm thu hút đầu tư vào các KCN-KCX Cần Thơ đến năm 2010
th ị 2.6: Số lượng lao động tại các KCN qua các năm (Trang 51)
Đồ thị 3.1: Cơ cấu doanh nghiệp có mặt bằng và thuê mặt bằng. - Đánh giá tình hình đầu tư và các giải pháp nhằm thu hút đầu tư vào các KCN-KCX Cần Thơ đến năm 2010
th ị 3.1: Cơ cấu doanh nghiệp có mặt bằng và thuê mặt bằng (Trang 63)
Bảng 3.6: Đánh giá diện tích mặt bằng đang sử dụng - Đánh giá tình hình đầu tư và các giải pháp nhằm thu hút đầu tư vào các KCN-KCX Cần Thơ đến năm 2010
Bảng 3.6 Đánh giá diện tích mặt bằng đang sử dụng (Trang 64)
Đồ thị 3.3: Doanh nghiệp đánh giá mức độ mặt bằng đang sử dụng - Đánh giá tình hình đầu tư và các giải pháp nhằm thu hút đầu tư vào các KCN-KCX Cần Thơ đến năm 2010
th ị 3.3: Doanh nghiệp đánh giá mức độ mặt bằng đang sử dụng (Trang 65)
Đồ thị 3.6: Đánh giá ví trí sản xuất chia theo loại hình doanh nghiệp - Đánh giá tình hình đầu tư và các giải pháp nhằm thu hút đầu tư vào các KCN-KCX Cần Thơ đến năm 2010
th ị 3.6: Đánh giá ví trí sản xuất chia theo loại hình doanh nghiệp (Trang 67)
Bảng 3.12: Năm thành lập và giới tính của giám đốc doanh nghiệp - Đánh giá tình hình đầu tư và các giải pháp nhằm thu hút đầu tư vào các KCN-KCX Cần Thơ đến năm 2010
Bảng 3.12 Năm thành lập và giới tính của giám đốc doanh nghiệp (Trang 68)
Đồ thị 3.8: Cơ cấu lĩnh vực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp - Đánh giá tình hình đầu tư và các giải pháp nhằm thu hút đầu tư vào các KCN-KCX Cần Thơ đến năm 2010
th ị 3.8: Cơ cấu lĩnh vực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (Trang 70)
Đồ thị 3.26: Cơ cấu vốn đầu tư của các doanh nghiệp - Đánh giá tình hình đầu tư và các giải pháp nhằm thu hút đầu tư vào các KCN-KCX Cần Thơ đến năm 2010
th ị 3.26: Cơ cấu vốn đầu tư của các doanh nghiệp (Trang 96)
Đồ thị 3.27: Cơ cấu doanh thu của các doanh nghiệp - Đánh giá tình hình đầu tư và các giải pháp nhằm thu hút đầu tư vào các KCN-KCX Cần Thơ đến năm 2010
th ị 3.27: Cơ cấu doanh thu của các doanh nghiệp (Trang 97)
Đồ thị 3.33: Đánh giá mức độ quan tâm về thuế của doanh nghiệp - Đánh giá tình hình đầu tư và các giải pháp nhằm thu hút đầu tư vào các KCN-KCX Cần Thơ đến năm 2010
th ị 3.33: Đánh giá mức độ quan tâm về thuế của doanh nghiệp (Trang 106)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w