1.Lí do chọn đề tài Nếu dân ca là suối nguồn cảm hứng của nhân dân lao động trong cuộc sống thì hò là phương thế thể hiện tâm tình tràn đầy xúc cảm một cách trung thực nhất. Miền trung Việt Nam vốn là vùng đất phong phú các làn điệu hò so với cả nước. Hò Bình Trị Thiên phong phú, đa dạng, đủ các làn điệu hò trên cạn, dưới nước được phân bố đều từ vùng trung du, đồng bằng đến vùng biển có đến 40 làn điệu hò, dựa trên tính chất công việc mà hò thể hiện, đó cũng là một trong những yếu tố tạo nên sự đa dạng, phong phú của hò Trị Thiên. Hò Trị Thiên thu hút sự quan tâm của em bởi những lí do sau: Trị Thiên vốn là một vùng đất cổ. Nhưng mãi đến đầu thế kỉ XIV mới thật sự nhập vào Đại Việt. Từ đó những cuộc di dân, lập ấp làm nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến văn hóa, văn nghệ mà hò là một thể loại khá tiêu biểu cho mối quan hệ này. Hò Trị Thiên tiếp tục phát triển các thể loại hò Việt Nam vốn có nguồn gốc từ phía bắc, cần phải làm rõ mối quan hệ đó. Từ lâu đã có nhiều nhà nghiên cứu dân ca, âm nhạc quan tâm đến hò Trị Thiên. Họ để lại nhiều công trình nghiên cứu như “Dân ca Bình Trị Thiên” của Trần Việt Ngữ: “Ca dao – dân ca Bình Trị Thiên” do Trần Hoàng chủ biên: “Hò Huế” tiểu luận cao học của Lê Văn Chưởng. Các công trình này đều ngợi ý mối quan hệ đến một công tác khoa học, đó là sự phân vùng hò. Có thể coi đặc trưng của hò Trị Thiên là một đóng góp về mặt khoa học. Niềm đam mê âm nhạc, đặc biệt âm nhạc dân gian đã đưa em đến với các làn điệu hò, đặc biệt là hò Trị Thiên. Từ đó giúp em có thêm tình yêu, có thêm hứng thú để làm đề tài này.
Trang 1MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Nếu dân ca là suối nguồn cảm hứng của nhân dân lao động trong cuộcsống thì hò là phương thế thể hiện tâm tình tràn đầy xúc cảm một cách trungthực nhất
Miền trung Việt Nam vốn là vùng đất phong phú các làn điệu hò so với
cả nước Hò Bình Trị Thiên phong phú, đa dạng, đủ các làn điệu hò trên cạn,dưới nước được phân bố đều từ vùng trung du, đồng bằng đến vùng biển cóđến 40 làn điệu hò, dựa trên tính chất công việc mà hò thể hiện, đó cũng làmột trong những yếu tố tạo nên sự đa dạng, phong phú của hò Trị Thiên
Hò Trị Thiên thu hút sự quan tâm của em bởi những lí do sau:
Trị Thiên vốn là một vùng đất cổ Nhưng mãi đến đầu thế kỉ XIV mớithật sự nhập vào Đại Việt Từ đó những cuộc di dân, lập ấp làm nảy sinhnhiều vấn đề liên quan đến văn hóa, văn nghệ mà hò là một thể loại khá tiêubiểu cho mối quan hệ này
Hò Trị Thiên tiếp tục phát triển các thể loại hò Việt Nam vốn có nguồngốc từ phía bắc, cần phải làm rõ mối quan hệ đó
Từ lâu đã có nhiều nhà nghiên cứu dân ca, âm nhạc quan tâm đến hòTrị Thiên Họ để lại nhiều công trình nghiên cứu như “Dân ca Bình TrịThiên” của Trần Việt Ngữ: “Ca dao – dân ca Bình Trị Thiên” do Trần Hoàngchủ biên: “Hò Huế” tiểu luận cao học của Lê Văn Chưởng Các công trìnhnày đều ngợi ý mối quan hệ đến một công tác khoa học, đó là sự phân vùng
hò Có thể coi đặc trưng của hò Trị Thiên là một đóng góp về mặt khoa học
Niềm đam mê âm nhạc, đặc biệt âm nhạc dân gian đã đưa em đến vớicác làn điệu hò, đặc biệt là hò Trị Thiên Từ đó giúp em có thêm tình yêu, cóthêm hứng thú để làm đề tài này
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Đối với việc nghiên cứu văn học dân gian, ngoài việc tìm hiểu lý luậncòn cần có những kiến thức qua những chuyến đi thực địa Viêc không có đủ
Trang 2điều kiện để có thể đi thực tế là một trong những khó khăn trong quá trình tìmhiểu, nghiên cứu đề tài, chắc rằng những kiến thức mà em nêu ở đây chỉ làmột phần nhỏ mà em chọn lọc được qua đọc sách, báo…
3.Phương pháp và phạm vi nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu: Để nghiên cứu đề tài này, em sử dụng cácphương pháp sau:
+ Phương pháp lịch sử
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phạm vi nghiên cứu: hai tỉnh thuộc miền trung Việt Nam – Quảng Trị
và Thừa Thiên Huế
4 Đối tượng nghiên cứu: hò Trị Thiên
5 Ý nghĩa của đề tài:
Lâu nay, trong tâm tưởng những người yêu dân ca, người ta thường chútâm đến hò Huế, mà chưa thực sự lưu tâm đến hò Quảng Trị - Thừa ThiênHuế, như một khối có mối quan hệ chặt chẽ nhiều phương diện liên hệ đếnvăn nghệ, văn hóa dân gian Thực tế, trên nhiều mặt, cơ bản hò Quảng Trị vàThừa Thiên Huế là một Đó là một vùng hò độc đáo ở khu vực hò miền trung
Thực hiện đề tài này, em có cơ hội tìm hiểu sâu sắc hơn về một loại dân
ca địa phương, nhằm nêu bật những nét đặc trưng của hò Trị Thiên, một lĩnhvực mà các bạn trẻ bây giờ ít quan tâm tới
Tìm hiểu, đào sâu những đặc trưng của một thể loại dân ca ở một địaphương cụ thể Từ cơ sở đó, tình yêu quê hương sẽ được phát huy, góp phầnvào công việc bảo vệ và phát triển văn hóa dân tộc
6 Đóng góp của đề tài:
Trình bày tương đối đầy đủ và chính xác, sắp xếp, phân loại một cáchkhoa học, có hệ thống về hò ở Trị Thiên
Góp phần lý giải và khẳng định có một vùng hò Trị Thiên: về cơ bản,
hò Trị Thiên là một vùng có những đặc điểm chung nhất về lịch sử, địa lý,văn hóa Con người vùng này từ thế kỷ XIV và thế kỷ XVI vốn chủ yếu là
Trang 3những lưu dân từ Thanh Nghệ vào sinh sống nên tiếng nói, tâm tính, phongcách sống, hoàn cảnh và môi trường sống có những đặc điểm giống nhau Đó
là những yếu tố cho ta nhận thức hò Trị Thiên có chung nguồn gốc với hòThanh Nghệ Tuy nhiên, khi chuyển đến vùng đất mới với cách làm ăn, phongtục và sinh hoạt mới thì hò đã phát triển đáng kể, có những nét riêng của nó
Hò chịu sự tác động của môi trường sống mà nẩy nở, biến chuyển qua môitrường ấy, phần nào chịu ảnh hưởng của âm nhạc Champa nữa Có thể khẳngđịnh Trị Thiên là một vùng hò có đặc điểm và sắc thái khá độc đáo
Cách phản ánh các trạng thái tình cảm cùng thể hiện tính chất khôi hài,trào phúng trong hò Trị Thiên cũng có sắc thái riêng Đó là tiếng nói thắmthiết nghĩa tình, đầy thương cảm và hướng nội, là sự dung hợp, giảm bớt chất
tư duy, ý chí mà tăng độ tình cảm, chừng mực vừa phải Lối trào phúng củaTrị Thiên không chỉ là sự nhẹ nhàng, kín đáo mà còn có chiều sâu tư tưởng,
ẩn chứa một triết lí nhân sinh thật thâm trầm, sâu sắc, đó là hệ quả kết hợpcủa con người gốc Thanh – Nghệ cùng với sự tích tụ và nâng cao văn hóa ởmột vùng có Huế là thủ phủ của chúa Nguyễn và kinh đô của các nước kéodài mấy trăm năm
Trang 4CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÒ TRỊ THIÊN 1.1 Địa lí và con người Trị Thiên
1.1.1 Địa lí Trị Thiên
Trị Thiên là hai tỉnh nằm vào phía bắc miền Trung Việt Nam giữa hai
vĩ tuyến 16 độ và 17 độ Bắc Vùng đất này là một phần của đòn gánh hai đầuhai vựa lúa Tổ quốc: Bắc và Nam
Đất Trị Thiên hẹp, được quốc lộ 1 và đường xe lửa chạy song song chialàm hai miền khác nhau: miền núi rừng và đồng bằng Núi rừng trùng trùngđiệp điệp, càng về Nam thì càng lấn ra biển Đồng bằng ở phía Đông dài vàhẹp chạy từ Vĩnh Linh đến chân đèo Hải Vân, được bồi đắp bởi phù sa củacác sông Bến Hải, Hiếu, Thạch Hãn… Vùng đất cao phía Tây là một dải đấthẹp được bồi đắp bởi phù sa cổ sinh, nghèo chất mùn Vùng đất ở phía Đôngtuy bằng phẳng nhưng bị cắt xẻ bởi sông ngòi, kênh rạch và đầmm lầy Có thểnói Trị Thiên là nơi hội tụ đủ các hình thái địa lý của Tổ quốc, có núi cao,biển rộng, sông lặng, rừng dày, bình nguyên, cao nguyên, cồn cát mênhmông Đó là những yếu tố hun đúc tính khí con người, đồng thời cũng lànguồn cảm hứng cho văn nghệ sĩ sang tác
Nằm trọn trong vùng nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của dãyTrường Sơn cùng với sự phong tỏa của gió Poehn (gió Lào) và khối khí lạnhHoa Nam tràn về, mỗi năm Trị Thiên có hai mùa rõ rệt, mùa khô và mùa mưa.Trên đại thể, miền đất này không được thiên nhiên ưu đãi
1.1.2 Con người Trị Thiên
Con người Trị Thiên có tính cần cù lao động Họ thiết tha gắn bó vớiruộng đồng, vườn tược, quyết tâm bảo vệ xóm làng, dù chịu đựng bao giankhổ, cũng do ý thức nhớ ơn tổ tiên ngày trước bỏ công lao, máu và mồ hôimới giữ được mảnh đất này Tình yêu quê hương vẫn luôn là một mối tình sâuđậm trong long mỗi con người Trị Thiên Sản vật địa phương là kết quả côngsức lao động của con người ngày ngày cày sâu cuốc bẫm trên mảnh đất tuy
Trang 5khô cằn nhưng cũng lắm hứa hẹn, bất ngờ Vùng đất đỏ Bazan Quảng Trịthích hợp với nghề trồng trọt, là sứ sở của cây cà phê, thơm, mít, chè, cao su,đặc biệt là hồ tiêu Thừa Thiên là nơi có nhiều đặc sản ngon nổi tiếng: QuýtHương Cần, mít Kim Long, dâu Truồi, thuốc lá Phong Lai, cau Nam Phổ,chuối, dừa Mỹ Lợi…Các địa điểm thủ công nghiệp lâu năm như Bao Lachuyên đan thúng mủng, Triều Sơn làm nón, Mậu Tài làm kim, đúc đồng ởPhường Đúc, gốm Phước Tích, rèn Hiền Lương… đã được lưu truyền quanhững câu ca dao mà câu hò ru em là một tiêu biểu:
“Ru em cho théc cho muồi
Để mạ đi chợ mua vôi ăn trầu Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh Chợ Dinh bán áo con trai
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim”
Nam Phổ, Chợ Dinh, Triều Sơn, Mậu Tài, những xóm làng xanh mướt,hiền hòa nằm dọc sông Hương thơ mộng là dấu ấn đậm đà trong tâm khảmcủa người Thừa Thiên về quê hương mình Nó vừa là một nơi chốn cụ thể đểdân làng gắn sinh mệnh của họ vào trong suốt thời gian tồn tại trên thế gian,vừa là một hình ảnh khơi gợi cảm hứng sang tạo nên câu hò, điệu hát chanchứa tình yêu quê hương dân tộc… Trên bình diện đó, đất nước và con ngườikhông còn là hai thực thể cách phân mà hầu như hòa nhập làm một, cùngchung nhịp thở, vận mệnh để giọng hò, câu hát thể hiện tâm tình thiết tha ấyqua làn điệu ngọt ngào ấm áp tình quê
1.2 Phân loại và đặc điểm hò Trị Thiên
Hò là một thể loại dân ca có mặt lâu đời trong kho tang văn nghệ dângian phong phú của Trị Thiên Dựa theo tiêu chí chức năng, ta có thể phân hòTrị Thiên thành ba loại:
Hò nghi lễ
Hò sinh hoạt, vui chơi
Trang 6 Hò lao động sản xuất và nghề nghiệp
1.2.1 Hò nghi lễ
Tiêu biểu của hò nghi lễ là hò đưa tình chèo cạn Đây là một hệ thốngdiễn xướng gồm các điệu múa, hường, ngâm, hát, hò, lý dùng để hò trướcquan tài khi đưa người chết đến mộ và sắp hạ huyệt có nghĩa là đưa linh hồnngười chết về cõi âm bằng chiếc thuyền thiêng
Một buổi hò đưa linh gồm các hình thức như hường (nói lối nhưngmạnh hơn), hát nam linh, lý đưa linh và hát lui thuyền (gồm điệu lý ta và hòchào thuyền) kết thúc là hò nện và đọc vè
Ở Huế, dẫn đầu hò đưa linh là kép, đối với các buổi đưa đám trong thể,kép mặc y phục như một kép võ tuồng, rồi đến mười hai chào con, y phụcgiống nhau như y phục lính thú đời xưa, cuối cùng là lái, y phục bình thườngnhư trong sinh hoạt hằng ngày Ở làng Tùng, xã Vĩnh Giang, phủ Vĩnh Linh,Quảng Trị có một đội “chèo cạn làng Tùng” nổi tiếng, gồm cai tùy, một đànnhạc bát âm, gồm sáo, nhị, nguyệt, kèn sona… và một tốp mười hai thanhniên trai khỏe mạnh Lễ hò đưa linh được tổ chức ở trước quan tài và khi đưaquan tài đến huyệt Các điệu hát khi đưa quan tài ở hò đưa linh Quảng Trị đơngiản hơn lối hò đưa linh ở Huế
1.2.2 Hò sinh hoạt vui chơi
* Hò ru em
Hò rue m hay ru con dùng để rue m bé ngủ Hò rue m Trị Thiên sửdụng câu ca dao lục bát Đây là loại hò đơn, người hò dễ bộc lộ tâm trạng củamình khi ru
*Hò bài thai
Hò bài thai là một lối chơi thanh nhã, thuần túy dân tộc Ở Trị Thiên
hò bài thai được chơi trong dịp tết vào những ngày xuân ấm áp ở góc đường,phố chợ
Các con bài được dùng để hò bài thai là những con bài ủa bộ bài tới: bamươi lá bài được dán trong những ô vuông kẻ đều nhau trên một tấm giấy
Trang 7rộng đặc trên bàn gỗ cứng, người cái cầm con bài mình định hò bỏ vào mộtcái đĩa, đậy lại bằng một cái tô, họ chuồi con bài dưới chiếu Thế rồi họ bắtđầu hò Câu hò ẩn một ý nghĩa để cho người nghe suy luận và đoán ra con bàithai (thai nghén) Thông thường người cái hò bốn câu, hai lượt Người nghelắng tai thưởng thức câu hò, suy ngẫm và đặt tiền vào con bài mình dự đoán.Xong xuôi người cái mở bát và trình con bài thai ra, giải thích ý nghĩa của câu
hò ứng với con bài ấy Nhà cái lùa tiền người đặt sai và chung tiền người đặttrúng Xong lại hò câu khác
Đây là một lối chơi vận dụng lối suy đoán theo cách dân gian, một lốiđánh tráo ý nghĩa ngôn từ
Hò bài thai đúng là một trò chơi văn chương đôc đáo ở Trị Thiên Sosánh hình thức thả thơ, đánh thơ của người trí thức, chất thơ không kém
ấy, chòi nào trúng thì gõ mõ ở chòi mình, anh Hiệu sẽ đem bài đến đó, xonglại rút một con bài khác, lại hò bằng một câu đúng với ý nghĩa con bài ấy,chòi nào trúng lại gõ mõ, rồi báo tin cho các chòi khác biết mình đã tới Tròchơi tiếp tục cho đến ván thứ chín kết thúc Số tiền một ván dành cho hội để
lo tổ chức
*Hò thai
Ở Thừa Thiên có một loại hò để dùng trong các trò chơi của cổ nhân:
“Các nhà nho dùng lối đối bằng thơ để dạy học trò hoặc để cùng vui trongngày xuân Các cụ làm thơ rồi cho hò lên theo ngũ cung hơi nam giọng ai:
Rung ring nước chảy qua đèo
Bà già lật đật mua heo cưới chồng
Trang 8Và những cái trái lí như vậy được các cụ giải thích là trái mận (trái:quả, lý: mận) Thai nghén một vật dụng là cái phản, các cụ hò thai:
Ngã lưng cho chúng lên ngồiChẳng thương lại đắt cho lời bất trung
Lối hò này thuộc loại hò đơn, thể hiện được tinh thần trào phúng cùngtính cách tao nhã của con người ở một vùng đất văn vật
*Hò bài tiệm
Là một lối hò dùng con bài như hò bài thai nhưng cách chơi lại khác.Người hò cái hò một câu “tiệm”, xong bỏ con bài vào trong hộp kín,mắc lên cây cao với dải lụa điều phơ phất Ở dưới cây này, câu hò “tiệm”được viết chữ lớn dán vào thân cây để ai cũng đọc được
Thường sau hai mươi bốn giờ mới công bố con bài thai Cách giải conbài này cũng là một lối chơi chữ lắt léo dân gian Ví dụ như câu hò sau đây ởchợ mới Lương Văn:
Dưới gởi thơ lên, trên gởi thơ xuốngĐang ăn đang uống bỏ đũa xem thơHai hàng nước mắt dặm tờ
Duyên chàng nợ thiếp ai ngờ mà xa
Giải thích: con liễu Ý nói xong xuôi rồi, cuộc tình duyên đã kết liễu
*Hò nàng vung
Là một lối chơi hò văn chương tao nhã của người lớn, thường là thanhniên nam nữ; đây là loại hò đối đáp giao duyên Ở chiếu hò nàng vung, mộtngười con gái đóng vai nàng vung đứng giữa, thanh niên đứng xếp vòng trònxung quanh Nội dung hò đối đáp thường lấy từ tích truyện dân gian như “OHiên trò Siêu”, hoặc sử dụng các câu chuyện cổ tích hiện đại Cuộc hò thườngkéo dài đến khuya, càng khuya càng thanh thoát, có nét quyến rũ của ân tình
và huyền bí
1.2.3 Hò lao động sản xuất và nghề nghiệp
Hò lao động có mặt khắp nơi trên vùng đất này, trên sông, phá, biểnđến đồng ruộng, đồi núi Ở Quảng Trị và Thừa Thiên có những làn điệu hò
Trang 9chung, nhưng cũng có những điệu hò có tính chất địa phương Ta có thể kểcác làn điệu hò riêng ở Quảng Trị:
*Hồ đô hậy (hay giang hậy): là điệu hò dùng khi làm việc nhẹ (xắt sắn,thái khoai, đâm bèo…) với tiếng đệm “là hô giang hậy” mộc mạc, rắn rỏi
*Hò Hải Thanh ( hay hò Như Lệ): Phổ biến ở làng Như Lệ, xã HảiThanh, xuất hiện trong thời kì kháng chiến chống Pháp Đây là một biến điệucủa hò mái nhì Trị Thiên Giọng hò cao vút, ngân dài Người ta dùng lối hò này
để kêu gọi những người lính lầm đường lạc lối theo Pháp trở về với nhân dân
*Hò mái nhì Triệu Hải: cũng là một biến điệu của hò mái nhì, nhưngkhông được hò khi chèo thuyền mà được hò khi kéo sợi, dệt vải Nam nữ vừadệt vải, vừa hò đối đáp nhau trên sân rộng
*Hò đập bắp: là điệu hò tập thể có xướng xô đối đáp, phát sinh ởThượng Xá, Hải Lăng Người ta dùng điệu hò này để làm mối xúc tác vănnghệ cho tái gái vừa hò đối đáp vừa hò đập bắp hầu tăng năng suất lao động
Ở Quảng trị và Thừa Thiên có chung các làn điệu hò sau:
Hò ô ( còn gọi là mái ô, hò đạp nước): đây là loại hò đơn với tiếngđệm ô, ô, ô kéo dài đầy trữ tình được dùng khi đạp nước, nhổ cỏ, đi bừa hay đitheo trâu làm việc trong đêm Điệu hò càng phát huy tác dụng khi người hòmột mình giữa cánh đồng trong đêm khuya, thể hiện tâm tình thương nhớ xaxôi
Hò giã gạo (hay hò khoan): là điệu hò tập thể, phổ biến khắp TrịThiên Trong một cối hò thường có bốn người, nam hoặc nữ, vừa hò vừa giãgạo Các câu hò đối đáp liên tục, tiếp diễn cho đến khi nào có người bỏ cuộc
vì không đối đáp được thì chày cho người khác
Hò lơ: là điệu hò cấy lúa, phổ biến khắp Trị Thiên
Hò xay lúa: được hò khi xay lúa, đây là điệu hò đầy tính trữ tình, đểbộc lộ tình cảm của người hò
Trang 10 Hò nện (hay hò hụi): dùng để nện đất, đắp nền nhà, còn được hò khiđắp mộ Đây là một điệu hò của tập thể đông người, có kẻ xướng, người xôrập ràng để thúc đẩy động tác lao động Điệu hò này rất phổ biến ở Trị Thiên.
Hò quét vôi (hay giã vôi, đâm vôi): dùng khi quét vôi, đây là một lối
hò tập thể, chia ra nhiều giai đoạn hò tương ứng với tiến trình công việc gĩvôi, có xướng, xô
Hò kéo thác: dùng khi kéo bè qua thác, kéo gỗ qua đèo Điệu hòmang tính chất mạnh mẽ, khỏe khoắn
Hò đẩy nốc: là điệu hò tập thể, có xướng, cái xướng, con xô, khi đẩynốc ra khỏi nơi mắc cạn
Hò gọi nghé: (hay nghé gọi): là điệu hò của các em bé khi chăn trâu
Hò mái nhì: là điệu hò trên sông nước đặc sắc của Trị Thiên, phổbiến trên các con sông từ Huế ra Quảng Trị, trên sông Hương, các đầm HàTrung, Cầu Hai Đây là điệu hò đơn nhưng cũng có lúc hò tập thể, có xướng
xô Hò mái nhì là điệu hò tình cảm nhất, văn vẻ nhất xứ Huế và miền Trung,thể hiện trọn vẹn phong cách ngọt ngào, thương cảm ân tình của con ngườiTrị Thiên
Hò mái đẩy: là điệu hò của người trèo thuyền có làn điệu như hò máinhì, nhưng có ít biến điệu
Hò khau vai: dùng khi tát nước gầu đai ở các huyện Phong Điền,Quảng Điền, Thừa Thiên Huế
Hò khau song: dùng khi tát nước gàu song phổ biến ở các vùng đồngbằng Thừa Thiên Huế
Trang 11CHƯƠNG 2
NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA HÒ TRỊ THIÊN 2.1 Mối quan hệ giữa hò Trị Thiên với dân ca các vùng và sự biến chuyển của nó trong quá trình lịch sử
2.1.1 Mối qua hệ giữa hò Trị Thiên với dân ca các vùng khác nhau của đất nước
Trị Thiên là vùng đất thực sự định hình vào đầu thế kỷ XIV Người TrịThiên phần lớn có gốc từ những lưu dân Thanh Nghệ vào Những lưu dân nàysống ở vùng đất mới vẫn không quên phong tục, tập quán Tâm hồn tình cảmngày càng phong phú Do môi trường và hoàn cảnh sống, họ có điều kiện đểphát huy sở trường văn nghệ Hò trở thành một phương tiện để tăng thêmnăng suất lao động, giải tỏa sự mệt nhọc, cùng để thể hiện tâm hồn, tình cảmngười Trị Thiên trong cuộc sống mới
Ở Bắc Bộ có các làn điệu hò lao động như hò kéo gỗ, hò đẩy xe, chèothuyền… ở Thanh Hóa thì hò Sông Mã trở thành phổ biến, ở Nghệ Tĩnh, hát
ví dặm phổ biến trong các ngành nghề thủ công và lao động, tuy nhiên chỉ cómột làn điệu Ninh Viết Giao có nhận xét:
“Nói hát ví là nói chung Đi sâu tìm hiểu ta thấy có nhiều loại hát ví
Dù loại nào bà con cũng hát một làn điệu”
Về dân ca Nghệ Tĩnh, Đặng Văn Lung đã nhận xét tương tự:
Hình thức tổ chức hò hát thì muộn, chất lượng âm nhạc rất cao, songlàn điệu không phong phú… Dân ca Nghệ Tĩnh rất gắn với lao động Vì gắnlao động nên giữ được nhiều yếu tố cổ, đặc biệt là phương thức sinh hoạt Vìgắn với lao động nên dân ca Nghệ Tĩnh bị nhịp điệu lao động khống chế.Nhịp điệu âm nhạc không đổi và làn điệu âm nhạc không phát triển
Trên cơ sở những nhận xét đó, ta thấy hò Trị Thiên có những mốitương quan ảnh hưởng tới dân ca Nghệ Tĩnh, như lề lối trong sinh hoạt hò hát
Trên cơ sở những nhận xét đó, ta thấy họ Trị Thiên có những mốitương quan ảnh hưởng tới dân ca Nghệ Tĩnh, như lề lối trong sinh hoạt hò hát
Trang 12Tiến trình một cuộc hò khoan giã gạo Trị Thiên giống như tiến trình hátphường vải Nếu thủ tục một cuộc hát phường vải phải qua ba chặng: chặngthứ nhất gồm hát dạo, hát chào, hát mừng và hát hỏi, chặng thứu hai hát đố,hát đối, chặng thứ ba gồm hát mời, hát tình nghĩa và hát tiễn thì ở cuộc hò giãgạo Trị Thiên đúng thủ tục cũng trải qua các chặng hò mời, hò chào, hò vàocuộc và hò từ tạ Về phương diện văn học, một số lượng lớn câu hò giốngnhau giữa hò Trị Thiên với dân ca Nghệ Tĩnh, chứng tỏ sự tương quan ảnhhưởng ấy, ví như câu hò đối đáp nam nữ ở Trị Thiên với câu hát ví củaphường vải Nghệ Tĩnh hoàn toàn giống nhau.
Nữ : Đồn rằng chàng học kinh thi
Cá nằm dưới cỏ, chữ chi rứa chàng?
Nam : Anh đây chẳng học kinh Thi
Cá nằm dưới cỏ có khi cá tràu,Tuy nhiên khó mà tìm thấy ảnh hưởng của âm điệu hò Nghệ Tĩnh trên
hò Trị Thiên Khảo sát trên thực địa ta có thể tìm được vài nơi ở Trị Thiêncòn lưu truyền lối hát giặm Nghệ Tĩnh như các thôn Lương Viễn, Viễn Trình,Quảng Bình là nơi có nhiều mối tương quan đến hò Trị Thiên hơn cả Theo sựnghiên cứu của chúng tôi, Quảng Bình là nơi phát sinh nhiều làn điệu hò đủcác thể loại: hò nghi lễ, hò lao động sản xuất và nghề nghiệp, hò sinh hoạt vuichơi Trong số đó hò lao động có một vị trí đáng kể và có ảnh hưởng mạnhđến hò Trị Thiên Có thể giải thích hiện tượng này bằng các nguyên do về địa
lí, lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa
2.1.2 Qúa trình biến chuyển của hò Trị Thiên
Nhìn tổng quát, quá trình biến chuyển của hò Trị Thiên có những giaiđoạn sau:
Giai đoạn chuyển tiếp: Tiếp tục sử dụng các làn điệu hò trên cạn,dưới nước sẵn có Trên cơ sở đó, có những thay đổi về hình thức và về lốidiễn xướng sao cho phù hợp với sinh hoạt và con người địa phương trong môitrường sống mới
Trang 13 Giai đoạn ổn định, phát triển: Khi cuộc sống dần dần đi vào nề nếp,các làn điệu hò, hát ổn định và có cơ hội phát triển Đủ các thể loại hò laođộng, nghi lễ, vui chơi, đồng thời phát triển Người ta vui với công việc và cótâm lí dùng sinh hoạt hò hát để thúc đẩy động tác lao động, thể hiện tâm tìnhbộc lộ thái độ, tín ngưỡng tâm linh, ở từng nơi, từng lúc, một số làn điệu đượcsang tạo để đáp ứng nhu cầu thời sự hoặc sinh hoạt cộng đồng, nghề nghiệp.
Hò trong giai đoạn này giảm dần tính chất khẩn trương của công việc mà tăngthêm tính chất trữ tình
Giai đoạn suy thoái biến dạng: Khi cuộc sống văn minh cơ khí ngàycàng phát triển, khi những phương tiện máy móc, điện lực thay thế dần thaythế càng phương tiện thủ công, khi các phương tiện giải trí ngày càng nhiềuthì hò ngày càng suy thoái Nó chỉ tồn tại như cái bong ngày một nhạt màuvới thời gian Nó là điều khó thể tránh được khi máy móc thay thế con ngườilàm văn nghệ Con người không còn là chủ thể sang tạo một cách hồn nhiên
và toàn vẹn như trước Thời điểm này gióng lên tiếng chuông báo tử cho một
số thể loại hò vốn từ lâu có mặt trong đời sống tinh thần và tỉnh cảm củangười dân Trị Thiên
Về mặt cụ thể, trong giai đoạn chuyển tiếp ta có thể kể đến hò kéo thácdùng khi đẩy bè qua thác, kéo gỗ qua đèo, hò đẩy nốc để đẩy thuyền mắc cạnvới lối xướng xô đơn giản đã được sử dụng khi lao động tập thể
Hò giã vôi Hò giã gạo, hò nện (hay hò hụi), hò mái đẩy, mái nhì hẳn àđược khai sinh trong cùng một thời điểm Có ý kiến cho rằng hò giã vôi đượcsáng tạo trước tiên ở Quảng Bình, vào đầu thế kỉ XVII, khi quân Nguyễn xâylũy Trường Dục và lũy Thầy để chống nhau với quân Trịnh Điệu hò lao độngnày rõ rang là phù hợp với tiến trình của cuộc giã vôi Do đó có tác động nângcao năng suất lao động, nên ảnh hưởng của hò giã vôi đã lan dần vào TrịThiên những năm đó
Hò mái thì ngày càng phát huy tác dụng do âm điệu mượt mà, sâu lắngcủa nó Cũng từ sức cuốn hút đó, người dân Trị Thiên đã sáng tạo thêm làn
Trang 14điệu hò mái nhì Hải Thanh (hay Như Lệ), phổ biến ở làng Như Lệ, xã HảiThanh Quảng Trị Làn điệu này xuất hiện trong thời kì chống Pháp, là biếnđiệu của hò mái nhì, có tác dụng kêu gọi những người con đất Việt lầm lỡtrong đồn giặc Pháp mau trở về với dân tộc, nhân dân.
Hò giã gạo (hò khoan Trị Thiên) cũng có đời sống tương tự Do lối đốiđáp sinh động, biến tấu linh hoạt, âm điệu nhịp nhàng vui tươi, hò giã gạo đãđược đưa vào cuộc vui chơi giải trí Ngày nay, lối hò giã gạo đối đáp lại đượctrình diễn trong các thuyền du lịch trên sông Hương để giới thiệu cho dukhách trong và ngoài nước biết một sinh hoạt văn nghệ dân gian một thờivắng bóng ở Trị Thiên
Hò đập nắp được phát sinh tương đối muộn ở Quảng Trị
Hò bài thai – bài chòi có cuộc sống dài hơn, có lẽ nó gắn liền với phongtục tập quán của dân tộc Vào những ngày tết cổ truyền, loại hò này lại xuấthiện như đáp ứng yêu cầu vui chơi của nhân dân Cho đến những năm támmươi của thế kỉ này, nó vẫn tồn tại Đến nay thì đã mất dấu
Trường tồn lâu hơn cả là loại hò ru con Về các làng quê Trị Thiên, talại nghe tiếng hò ru con êm ái thiết tha Sinh hoạt nông thôn Trị Thiên chưađược điện khí hóa, hiện đại hóa một cách toàn diện nên hò ru vẫn còn chỗđứng Cho đến một lúc nào đó, khi máy móc thay thế sinh hoạt, lao động conngười, làn điệu hò này có nguy cơ biến dạng hoặc mất dấu, như trường hợplàn điệu hò ô, hò xay lúa, hò quét vôi thịnh hành một thuở, khi đời sống nôngnghiệp, thủ công nghiệp tồn tại và phát triển ở Trị Thiên
Tuy nhiên, có một loại hò tưởng chừng mất dấu, nay lại thấy xuất hiện,
đó là hò đưa linh Sinh hoạt hò này được tái lập theo với sự phục hồi các lễhội cổ truyền Sự trở lại của hò đưa linh trong đời sống cơ khí hiện đại là mộtchứng cớ cho ta thấy yếu tố tín ngưỡng tâm linh vẫn còn sâu đậm trong nếpsống, nếp nghĩ của dân Trị Thiên
Hò là sản phẩm của con người trong đời sống Nó được khai sinh, pháttriển và tàn lụi theo đời sống vật chất và tinh thần của con người Một điều
Trang 15cần chú ý là trong quá trình biến chuyển, nó được bồi đắp bởi những ngườitrong tầng lớp trí thức nho học hò tuy có mặt ở miền Bắc khá lâu, nhưngtrong quá trình biến chuyển, nó không được các nho sĩ trí thức tham gia đậm
đà và để lại các cong trình văn học như ở Trị Thiên
2.2 Hò Trị Thiên trong mỗi tương quan với dân ca Việt Nam
Đặt trong mối tương quan chung về dân ca gắn liền với nghi lễ, miềnBắc phong phú loại này hơn các vùng miền Trung và miền Nam: hát Dậm,
Dô, Xoan, Ải Lao…, từ dân ca nghi lễ phát triển thành dân ca lễ hội Các lớpliên tục từ các lời ca khẩn nguyện đến lời cầu mong chúc nhau về công việclàm ăn, biểu lộ tình cảm giữa con người với nhau, cuối cùng là hát giaoduyên: “Những cuộc hát như vậy vừa gắn với nghi lễ nông nghiệp (hội mùa)
và nghi lễ tế thần (tế thành hoàng)
Ở Trị Thiên, hình thức dân ca nghi lễ còn được thấy trong các hìnhthức hát “sắc bùa”, hát “tập chèo” ở Phò Trạch xã Phong Bình, hò “đưa linhchèo cạn”, hát “bả trạo” ở vùng đồng bằng và ven biển Trong các loại hò hátnày thì loại dân ca tế thần như ở miền Bắc không thấy xuất hiện Điều này cóthể giải thích được khi ta biết đất Bắc là đất cổ so với Trị Thiên là nơi mới ổnđịnh và phát triển từ thế kỉ XIV, vì vậy ở Trị Thiên lại nặng về dân ca nghi lễ
có liên quan đến đời sống con người trần tục Hát sắc bùa là loại hình thức đihát và dán bùa để trừ yêu ma quỷ quái, đem lại tài lộc cho gia đình được sắc
Hò đưa linh được diễn xướng khi cử hành tang lễ để đưa linh hồn người chếtqua bên kia thế giới Trong hò đưa linh ta cũng thấy các sinh hoạt hò lao độngchèo thuyền trên sông nước
Ở dân ca lao động, đặc điểm quan trọng là sự kết hợp gắn bó giữa nhịpđiệu lao động và xúc cảm của con người trong lao động Ở những giai đoạnsớm của lịch sử phát triển văn học dân gian, yếu tố nhịp điệu đóng vai tròquan trọng hơn xúc cảm của con người Nhưng trong tiến trình xã hội, yếu tốxúc cảm giãn nở dần và có khi lấn át yếu tố nhịp điệu