1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Phân tích các tác phẩm thơ hiện đại việt nam văn 9

51 1,1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 48,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn Phân tích bài thơ Nói với con của Y Phương. Bài làm của một bạn học sinh lớp 9 tại Hà Nội.“Con cựa mình êm ả Thôi ngủ nữa đi con Cái trăng cao chưa tròn Tay bố vòng hai thở Cho con liền giấc ngon”.(Hai bàn tay em – Huy Cận)Tấm lòng của người cha thi sĩ dành cho con cũng nồng nàn, ấm áp đâu kém gì tình mẹ yêu con, ru con, đưa con vào giấc ngủ. Lòng yêu thương con cái, ước mong con trưởng thành, nên người vốn là tình cảm cao đẹp của con người Việt Nam từ bao đời nay. Bài thơ Nói với con của Y Phương cũng khơi nguồn từ mạch cảm xúc ấy. Với giọng điệu thiết tha, trìu mến, bài thơ đã thể hiện lời tâm tình, thủ thỉ của người cha đối với con.Bài thơ giản dị mộc mạc trong ngôn từ, hình ảnh, nhưng đã đi vào lòng người bởi cái âm điệu nhẹ nhàng, thiết tha của lời cha nhắn nhủ, tâm tình với con về cội nguồn quê hương. Đây là bài thơ được viết theo thể thơ tự do, gieo vần, nhịp theo dòng cảm xúc. Bao trùm toàn bài là cách nói, cách nghĩ, cách viết của người dân tộc, mộc mạc đơn sơ nhưng chân thành, tha thiết thông qua hình ảnh người cha nói với con, tâm tình dặn dò trìu mến, ấm áp và tin cậy. Con lớn lên trong tình yêu thương, sự nâng đỡ của cha mẹ, trong cuộc sống êm đềm của quê hương.Mở đầu bài thơ là cách diễn đạt bằng hình ảnh cụ thể, độc đáo, đặc sắc trong tư duy và cách diễn đạt của người miền núi:Chân phải bước tới cha Chân trái bước tới mẹ Một bước chạm tiếng nói Hai bước chạm tiếng cười”Chỉ bốn câu thôi mà không khí gia đình đầm ấm yêu thương được bộc lộ rõ nét. Cách thể hiện cảm nghĩ của bài thơ thật độc đáo. Đứa con chập chững tập đi, từng bước đều nghiêng ngả, từng tiếng nói, tiếng cười của con đều được cha mẹ nâng niu, dìu dắt. Con biết đi, biết nói là sự kiện lớn trong cuộc sống gia đình, cả nhà luôn rộn rã tiếng nói cười, đâu chỉ là niềm vui riêng của người mẹ mà còn là sự thổn thức của người cha. Thi sĩ Huy Cận cũng từng tâm sự về cái giây phút tuyệt vời ấy của mình:“Được tin con tập đi Cha mừng không ngủ được Cha nằm đêm thầm thì Từng tiễn chân con bước”.Đứa con trưởng thành trong cuộc sống lao động cần cù của cha mẹ, trong khung cảnh thiên nhiên thơ mộng xinh đẹp của quê hương. Nhìn con lớn lên từng ngày cha mẹ sung sướng mãn nguyện. Con là cuộc đời, là tất cả đối với mẹ cha. Bà mẹ Tà Ôi đã bộc lộ niềm hạnh phúc ấy khi có bên mình đứa con trong lao động tỉa bắp:“Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ, con nằm trên lưng”(Nguyễn Khoa Điềm)Cha mẹ yêu con, càng yêu thương mảnh đất chôn nhau cắt rốn của con, mảnh đất do tổ tiên, ông bà để lại. Niềm tự hào về dân tộc mình đã bật thành lời từ trái tim chân thành của người cha:“Người đồng mình yêu lắm con ơi Đan lờ cài nan hoa Vách nhà ken câu hát”.Các động từ “cài”, “ken” vừa diễn tả động tác lao động cụ thể, vừa nói lên sự hòa hợp, gắn bó giữa hiện thực và lãng mạn trong đời sống vật chất, tinh thần của người vùng cao. Đời sống tinh thần nên thơ, nên nhạc khiến cho công việc đỡ nhọc nhằn và con người có thêm niềm vùi, niềm tin vào cuộc đời. Người cha muốn nói với con rằng chính mảnh đất nơi ta sinh ra và lớn lên là cội nguồn hạnh phúc lớn lao vô tận: “Rừng cho hoaCon đường cho những tấm lòng Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời”Chính quê hương đã tạo cho cha mẹ cuộc sống hạnh phúc bền lâu. Và trong cái nôi hạnh phúc ấy, con cái là hoa trái, là kết quả ngọt ngào của duyên đôi lứa.Phẩm chất của người đồng mình và ước muốn của cha về con thể hiện rất rõ hét qua từng câu thơ. Quê hương là ơn nặng nghĩa đầy. Cha mẹ muốn con ý thức về điều ấy. Người cha nhắc nhở con phải xứng đáng với những gì đẹp đẽ nhất mà dân tộc đã trao cho, quê hương đã ban tặng:“Người đồng mình thương lắm con ơiCao đo nỗi buồnXa nuôi chí lớnDẫu làm sao thì cha vẫn muốnSống trong thung không chê thung nghèo đóiSống như sông như suốiLên thác xuống ghềnhKhông lo cực nhọc,Đó là cách sống hiên ngang, bất khuất vượt lên mọi khó khăn gian khổ để khẳng định khí phách và phẩm chất tốt đẹp của mình. Gian lao, thử thách, lên thác, xuống ghềnh chỉ là cơ hội cho người đồng mình thêm vững lòng, bền chí, tự tin vào mình hơn như cụ Phan Bội Châu , đã từng nhận định:“Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả Anh hùng hào kiệt có hơn ai”.Thế hệ cha, mẹ và anh đã từng sống như thế. Cha cũng muốn con phát huy phẩm chất tốt đẹp ấy để đáp trả ân tình với quê hương, với người đồng mình.Người cha còn giúp con ý thức một điều: cái vẻ ngoài trông thô sơ và rất đỗi bình thường của người đồng mình lại chứa đựng một tâm hồn cao đẹp:“Người đồng mình thô sơ da thịtChẳng mấy ai nhỏ bé đâu conNgười đồng mình tự đục đá kè cao quê hươngCòn quê hương thì lầm phong tục”. ,Người dân tộc sống giữa núi rừng, thiên nhiên, mây ngàn và đá núi. Vất vả biết bao nhiêu Họ đã phải chắt chiu từng mầm sống nhỏ nhoi để xây dựng quê hương từ không thành có. Họ nghèo thật nhưng họ rất giàu có về sự kiên cường, sức sống bền bỉ, làm nên giá trị cao quý của truyền thống dân tộc, truyền thống quê hương. Cũng chính họ đã tự đục chân dung mình vào đá núi vĩnh hằng. Tinh thần của họ đâu khác gì với tinh thần và lí tưởng sống của Nguyễn Công Trứ năm xưa:“Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông”.Sống giữa một dân tộc như thế, một quê hương nhiều truyền thống hào hùng tốt đẹp như thế, các thế hệ kế thừa phải sống sao cho xứng đáng? Người cha ân cần khuyên nhủ con:“Con ơi tuy thô sơ da thịt Lên đườngKhông bao giờ nhỏ bé được Nghe con”.Tuy chỉ là những lời ngắn gọn, cô đọng nhưng giọng điệu thật nhẹ nhàng thấm thía mà không kém phần cương quyết Con hãy giữ vững và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, quê. hương. Có như vậy mới xứng đáng với công sinh thành dưỡng dục của mẹ cha, của người đồng mình yêu thương bao bọc, xứng đáng với truyền thống mạnh mẽ, hào hùng, dũng cảm của quê hương.Nói với con là một bài thơ hay của Y Phương. Với cách dẫn dắt tự nhiên, giọng điệu thiết tha trìu mến rõ qua từng từ ngữ, hình ảnh, bài thơ thể hiện tình cha yêu con, muốn con nên người nên chĩ dạy con biết yêu quê hương và tự hào về truyền thống tốt đẹp của người đồng mình.Hãy luôn nghĩ về tình cảm mà cha mẹ dành cho mình để sống xứng đáng hơn với sự yêu thương bao bọc ấy:“Nuôi con cho được vuông tròn Mẹ thầy dầu dãi xương mòn gối cong Con ơi giữ trọn hiếu trung Sớm hôm chăm chỉ kẻo uổng công mẹ thầy”.

Trang 1

Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu

Cuộc kháng chiên chống Pháp trường kì là điểm hội tụ của những ngườichiến sĩ có cùng nhiệt huyết chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc Ở đó có hàngtriệu trái tim yêu nước đã giã từ bờ tre, giếng nước của quê nhà ra đi đánh giặc Cuộc sống vất vả, gian nan trong chiến đấu đã gắn kết họ lại với nhau trong tình đồng chí Bài thơ Đồng chí của Chính Hữu đã ghi lại tình cảm cao quí ấy của những người chiến sĩ một cách sâu sắc

Lời thơ thật mộc mạc, tự nhiên như những lời tâm sự Những thành ngữ đi vào trong thơ làm cho ta cảm giác như chính cuộc sống hàng ngày của người lính được hiện lên trước mắt ta vậy Họ đến từ những miền quê khác nhau, người thì từ đồng bằng ven biển lên, kẻ thì từ vùng trung du xuống, nhưng họ đã dễ dàng gần gũi, thông cảm với nhaubởi cùng ra đi từ những vùng quê nghèo khó, vất vả:

Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau

Súng bên súng đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri ki

Trang 2

Mặc dù chẳng hẹn nhưng họ lại gặp nhau và trở thành đồng chí Họ cảm nhận được sự gắn bó keo sơn khi sát cánh bên nhau trong cuộc chiến đấu đầy gian khổ Lời thơ thật mộc mạc mà gần gũi nghe như văn

kể chuyện về cuộc đời của những người lính trong lửa đạn chiến tranh

Câu thơ Súng bên súng đầu sát bên đầu vừa có ý nghĩa tả thực, vừa mang ý nghĩa tượng trưng Những người lính luôn gắn bó bên nhau lúc chiến đấu cũng nhứ lúc sinh hoạt cùng đồng đội, “súng bên súng” là cùng chung hành động, “đầu sát bên đầu” là cùng chung lí tưởng tạo nên một nguồn sức mạnh

Người lính đã cùng nhau sẻ chia gian lao, vất vả trong buổi đầu của cuộc kháng chiến còn nhiều gian khổ thiếu thốn:

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

Họ cùng sẻ chia những giá trị vật chất tuy chẳng là bao nhưng thấm đẫm tình đồng đội Cùng đắp chung một chiếc chăn bông trong những đêm rừng sương lạnh, đây là điều kiện thuận lợi để người lính dễ dàng trao đổi tâm tình cho nhau Vì thế mà họ trở thành “tri kỉ” của nhau

Hai tiếng “Đồng chí” được đột ngột tách thành một câu thơ riêng biệt

có đi kèm một dấu chấm cảm, chia bài thơ thành hai nửa Nửa trên là qui nạp, nữa dưới là diễn dịch Hai nửa ấy như muốn làm rõ thêm tình

Trang 3

cảm thiêng liêng của người chiến sĩ, làm lay động hàng triệu trái tim người đọc

Những vần thơ như mang nặng bâng khuâng, thương nhớ của những người chiến sĩ:

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay

Đây là sự hi sinh cao cả của người lính Họ lên đường ra mặt trận mặc

dù ruộng vườn nhà cửa phải bỏ hoang Người lính đã vì cái chung mà hi sinh cái riêng, đặt quyền lợi của đất nước lên trên quyền lợi của bản thân mình Thật cảm động hình ảnh Gian nhà không mặc kệ gió lung lay.Hai chữ “mặc kệ” được cất lên, đó là một sự nỗ lực về tâm lí, một sự cố gắng để vượt lên trên những tình cảm nhớ thương dằn lòng bởi họ thấm nhuần cái chân lí “nước mất nhà tan”

Chính tình yêu quê hương của người chiến sĩ đã làm cho những vật vô tri vô giác cũng như dâng lên một nỗi nhớ:

Trang 4

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.

Đây cũng là cớ để gợi lên nỗi nhớ quê hương, nhớ cái giếng nước trong mát lành, nhớ gốc đa rợp bóng mát của quê mình Họ luôn mang theo bên mình cả quê hương vào trong cuộc chiến đấu gian nan

Mặc dù buổi đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp còn nhiều khó khăn,thiếu thốn nhưng người chiến sĩ cách mạng vẫn vượt qua:

Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay

Họ đã động viên nhau, sưởi ấm cho nhau bằng hơi ấm của tình người, tình đồng đội để vượt qua những cơn sốt rét, vượt lên những khó khăn của thời tiết khắc nghiệt:

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Trang 5

Đầu súng trăng treo.

Trong cảnh “rừng hoang sương muối” người lính đứng bên nhau phục kích chờ giặc, Sức mạnh của tình đồng đội đã giúp họ vượt lên tất cả mọi khó khăn

Trong khó khăn, những người lính vẫn ung dung, chủ động, vẫn sát cánh bên nhau “chờ giặc tới” Người lính càng yêu đời hơn bởi nơi đây còn có một người bạn tri âm tri kỉ, người bạn đó là vầng trăng thơ

mộng Đối với những người lính ra đi từ chốn đồng quê, trăng đã trở nên gần gũi, giờ đây họ lại mang vầng trăng ấy vào trong chiến trường

ác liệt Nó như thức cùng người chiến sĩ trong những đêm khuya chờ giặc tới

Không những thế, hình ảnh vầng trăng thơ mộng còn tượng trưng cho

vẻ đẹp tâm hồn của người lính Trong không khí căng thẳng vì đối đầu với địch, người lính vẫn luôn hướng về ánh sáng trong trẻo của vầng trăng và hướng về lí tưởng chiến đấu vì hòa bình của dân tộc

Bằng những chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ giản dị, bài thơ Đồng chí của Chính Hữu đã thể hiện vẻ đẹp tinh thần và sự gắn bó keo sơn của ngườicách mạng, vẻ đẹp của họ đáng được nâng niu, trân trọng

Trang 6

Đề bài: Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật đã gợi cho

em những suy nghĩ gì?

Phạm Tiến Duật là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong, thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước Bài thơ về tiểu đội xe không kính là một trong những bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ của ông: giọng điệu sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, tinh nghịch mà sâu sắc

Câu thơ tự nhiên như một lời nói thường ngày, mang đậm chất văn xuôi:

Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

Chiến tranh khốc liệt của giặc Mĩ, “bom giật”, “bom rung” đã gây ra baotổn hại cho những chiếc xe ấy Và nó còn gợi lên cảm giác rằng tính mạng của người lính cũng luôn bị đe dọa

Một sự đối lập khá độc đáo được tác giả sử dụng trong đoạn thơ này: đitrong mưa bom bão đạn mà người lính vẫn luôn ung dung, bình thản Người lính thật khẳng khái, bất chấp bom đạn:

Trang 7

Ung dung buồng lái ta ngồi!

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng

Đây là một cái nhìn tự do như coi thường tất cả những hiểm nguy và vất vả trong cuộc chiến Đây là cái nhìn của những con người bản lĩnh Cái nhìn của người lính trong tiểu đội xe không kính là cái nhìn ung dung, bình thản, tập trung cao độ Mặc dù xe không kính như thế

nhưng người lính vẫn bình tĩnh, tự tin để ra tiền tuyến, vẫn có cái nhìn ngạo mạn trước hiểm nguy Người lái xe không kính thật bản lĩnh Lòng căm thù giặc đã giúp họ vững vàng tay lái để đưa tiểu đội ra tiền tuyến Tình yêu Tổ quốc đã làm người chiến sĩ bất chấp mọi khó khăn, gián khổcủa cuộc chiến tranh Ý chí chiến đấu đã làm người lính lái xe không cảm thấy vất vả khi xe không có kính Xe không kính đã làm người chiến

sĩ gần gũi với thiên nhiên, hòa nhập với thiên nhiên trên đường ra trận:

Nhìn thấy gió xoa vào mắt đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

Vì không có kính chắn gió nên người lính nhìn thấy rõ hơn “Con đường chạy thẳng vào tim” – con đường vừa mang giá trị hiện thực vừa mang

ý nghĩa tượng trưng thật độc đáo: con đường đi đã được nâng lên

thành con đường cách mạng, con đường ở trong tim của mỗi người chiến sĩ, con đường giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Không

có kính là một mất mát lớn nhưng đã tạo điều kiện thuận lợi cho người

Trang 8

lính có dịp chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thiên nhiên Không chỉ là mặt đất

mà cả bầu trời đầy sao, cánh chim như ùa vào buồng lái:

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa như ùa vào buồng lái

Trong cuộc chiến tranh khốc liệt, chính tình yêu thiên nhiên và cả vẻ đẹp lãng mạn trong tâm hồn đã giúp người chiến sĩ vượt qua những khó khăn

Khổ sở là như thế, nhưng đối với người lính thì có hề chi, họ bất chấp mọi hiểm nguy:

Không có kính, ừ thì có bụi,

Bụi phun tóc trắng như người già

Hai tiếng “ừ thì” chắc nịch nhưng nhẹ nhàng, không hề phàn nàn, kêu

ca Dường như những gian khổ, nguy hiểm của chiến tranh cũng không ảnh hưởng đến tinh thần đầy lạc quan của người lính

Vì xe không có kính nên nắng thì có bụi mà mưa thì xối xả Ngồi trong buồng lái nhưng chẳng khác nào là ở ngoài trời Hai chữ “ừ thì” được lặp lại đã khẳng định được thái độ sẵn sàng bất chấp khó khăn, cũng như có bụi thì chưa cần rửa, khi có mưa, áo có ướt cũng chưa cần thay:

Trang 9

Chưa cần thay lái trăm cây số nữa

Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi

Ý chí chiến đấu giải phóng miền Nam tạo ra sức mạnh vô biên thúc giục người lính chạy thêm “trăm cây số nữa” Một qui luật tự nhiên không gìthay thế được: mưa rồi sẽ tạnh, gió sẽ lùa vào, áo sẽ “khô mau thôi” Những người lính hiện lên trong câu thơ thật hồn nhiên, vui vẻ, lạc quan

Chính tình yêu Tổ quốc, tinh thần giải phóng miền Nam thống nhất đất nước đã tạo ra một sức mạnh lớn lao dể người lính vượt qua mọi gian khổ hiểm nguy trong cuộc chiến tranh khốc liệt

Chiếc xe không kính ấy đã chở tiểu đội ra chiến trường miền Nam đánh

Mỹ, thống nhất nước nhà Tuy tác giả không nói ra ngồi trên chiếc xe bị quân thù tàn phá đi ra từ chốn bom rơi ấy là những người lính như thế nào nhưng người đọc đều hình dung được rằng đó là những người dạn dày và gan góc trong bom đạn:

Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước

Mà lòng phơi phới dậy tương lai

Trang 10

Một sự trẻ trung, yêu đời lại được thể hiện trong một chi tiết ngộ

nghĩnh Họ lại gặp nhạu trên đường đi tới và đã ‘‘bắt tay qua cửa kính

vỡ rồi” Tình bạn, tình đồng chí không bị ngăn cách bởi cái không thuận lợi của hoàn cảnh mà trái lại nó càng khăng khít hơn, tiếp thêm sức mạnh cho nhau để hoàn thành nhiệm vụ

Tình đồng chí, đồng đội giữa những người, lính Trường Sơn đã được thể hiện một cách sâu sắc, họ là những người cùng chí hướng:

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

Giữa đất trời tự do phóng khoáng, họ cùng nhau dựng bếp Hoàng Cầm, cùng nhau xây dựng lí tưởng, cùng nhau nhóm ngọn lửa cách mạng Không cần lạ quen, chỉ cần “chung bát đũa” là những người lính có thể họp lại thành một gia đình, Vì thế mặc dù xa nhà, xa quê hương đi chiếnđấu nhưng người lính không hề cảm thấy cô đơn Họ mắc võng để nghỉ ngơi, chuyện trò cùng nhau trong những giây phút thanh thản ngắn ngủi rồi lại đi Điệp ngữ “lại đi” nối tiếp nhau như cuộc đời của những người lính cứ đi về phía trước Chính nhờ những chuyến đi ấy mà họ lại

có cảm giác “trời xanh thêm” Nó không chỉ có ý nghĩa tả thực mà còn mang ý nghĩa tượng trưng: đó không chỉ là màu xanh của bầu trời mà còn là màu xanh của hòa bình, của hi vọng về một tương lai tốt đẹp hơn

Trang 11

Sự đối lập giữa hai phương diện vật chất và tinh thần, giữa bên ngoài vàbên trong chiếc xe đã làm nổi bật phẩm chất tốt đẹp của anh bộ đội cụ

Hồ Các anh đã vượt qua tất cả:

Không có kính, rồi xe không có đèn

Không có mui xe, thùng xe có xước

Những chiếc xe còn thiếu nhiều thứ mà đáng lẽ ra nó cần phải có

Nhưng đó chỉ là những thứ vật chất, nếu thiếu thì các anh vẫn khắc phục được Các anh đã nhấn mạnh thêm một cái “có” thật cần, đó là lí tưởng cộng sản, lí tưởng yêu nước căm thù giặc:

Chỉ cần trong xe có một trái tim

Đây là “trái tim” của một con người đầy nhiệt huyết chiến đấu vì miền Nam yêu thương, và vì thế xe vẫn băng ra tiền tuyến, mặc dù: “Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi”

Với những câu thơ gần gũi như những lời nói thường ngày đậm chất văn xuôi, Phạm Tiến Duật đã xây dựng được một hình tượng độc đáo: những chiếc xe không kính vẫn băng băng trên con đường ra trận Và qua hình ảnh những chiếc xe, tác giả đã làm nổi bật lên hình ảnh của những người lính gan góc, dũng cảm, bất chấp khó khăn nguy hiểm ở Trường Sơn thời chống Mĩ

Trang 12

Đề bài: Đoàn thuyền đánh cá là một tác phẩm hay của nhà thơ Huy Cận.Anh chị hãy phân tích bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận để làm

rõ điều này

Huy Cận là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới Ông đã để lại chó đời nhiều áng văn hay, nổi tiếng Bài thơ Đoàn thuyềnđánh cá được viết khi ông đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh, được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước, tiếp xúc với cuộcsống lao động và niềm vui trước cuộc sống mới của nhân dân

Bài thơ mở đầu bằng hình ảnh “mặt trời”, nó được ví như quả cầu lửa khổng lồ đang dần dần chìm xuống biển khơi Ánh sáng rực rỡ, huy hoàng được bùng cháy trước khi lịm tắt Theo nhịp tuần hoàn của thời gian, vũ trụ đã đi vào trạng thái nghỉ ngơi, được tác giả nói rõ hơn trongcác phép nhân hóa:

Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Sóng đã cài then, đêm sập cửa

Cảnh trời biển quê hương đã được Huy Cận giới thiệu một cách tài tình.Mặt trời lặn, sóng cài then giữ chặt cánh cửa đêm Màn đêm buông xuống, con người đã bắt dầu một buổi lao động đầy hăng say, náo nức Công việc đánh, cá vốn rất nguy hiểm, lại vào ban đêm nên càng nhọc nhằn gấp bội Nhưng người đánh cá trong bài thơ này hiện lên với tinh

Trang 13

thần sôi nổi bởi họ làm chủ được công việc, làm chủ thiên nhiên và cả bản thân mình Họ cất lên tiếng hát để quên đi cực nhọc và như muốn góp cùng với gió làm căng những cánh buồm để chiếc thuyền băng băng trên biển cả:

Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!

Vùng biển quê hương thật giàu và đẹp Biển lấp lánh những đàn cá thu như đoàn thoi dệt vào lòng biển Đấy là một loài cá ngon nổi tiếng Không những thế, những đàn cá ấy còn mang một vẻ đẹp diệu kì với muôn luồng sáng loang loáng dưới đại dương Câu cầu khiến “Đến dệt lưới ta đàn cá ơi!” đã thể hiện một niềm hi vọng, ao ước của những người chài lưới muốn có một chuyến đi bội thu Người dân chài đã bộc

lộ niềm vui trước, biển trời

Thuyền càng lướt ra khơi, biển cả càng rộng lớn, tràn ngập ánh trăng Trăng đang lơ lửng trên không và gió càng lồng lộng Tất cả đã tạo nên một bức tranh trên biển thật đẹp và tráng lệ Bầu trời, biển cả như cùngtham gia vào công việc lao động của con người Con thuyền càng lướt

ra xa thì càng không hề nhỏ bé mà lại rất hùng dũng, hiên ngang.,

Trên biển có muôn ngàn loài cá khác nhau: nào cá chim, cá đé, cá nhu,

cá song… Các loài cá ấy đã tạo nên rất nhiều màu sắc khác nhau trong lòng biển cả:

Trang 14

Cá nhụ, cá chim, cùng cá đé

Cá song lấp lánh đuốc đen hồng

Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe

Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long

Nhờ có trí tưởng tượng như thế nên Huy Cận đã miêu tả các loài cá hết sức đẹp và đặc sắc Cá vốn là một con vật hết sức bình thường nhưng ông đã chắp cánh cho nó trở nên hết sức huyền ảo Sự tài hoa của ngòi bút Huy Cận đã được phát huy khá rõ nét Tất cả tiếng sóng biển, tiếng

cá quẫy, tiếng gió thổi đã tạo thành một hợp âm rì rào ở biển Hạ Long

về đêm Bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp đã được vẽ nên bằng ngôn từ,nhờ cây bút tài hoa của Huy Cận

Từ “hát” trong bài thơ được lặp lại ba lần Nêu như đầu bài thơ chỉ là một câu hát thì đến đây, câu hát ấy đã trở thành bài ca gọi cá vào:

Ta hát bài ca gọi cá vào,

Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao

Biển cho ta cá như lòng mẹ

Nuôi lớn đời ta tự buổi nào

Trang 15

Khi đoàn thuyền ra khơi, con người cất lên tiếng hát; khi đoàn thuyền đánh cá trên biển và kể cả lúc trở về bên thì người lao động cũng đều hát Họ vượt lên mọi khó khăn nguy hiểm để cất lên những câu hát yêu đời.

Hụy Cận đã sử dụng phép so sánh thật độc đáo: biển cả rộng lớn như lòng mẹ bao dung Biển cả hào phóng luôn cho con người bao sản vật quí hiếm, nuôi lớn chúng ta không biết tự khi nào Khi mới lọt lòng mẹ, biển đã cho chúng ta cá và cứ tiếp tục mãi như người mẹ cho con khônglấy lại bao giờ

Trời càng về sáng thì nhịp điệu lao động càng hối hả hơn: “Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng” Lúc này con người càng cảm thấy vui bởi họ vừa có được chuyến đi biển bội thu Nhờ vào thành quả lao động, người dân chài hình dung một cuộc sống tốt đẹp hơn sẽ đến với họ trong tương lai “Rạng đông" vè “nắng hồng” không những là hình ảnh thiên nhiên

mà còn biểu tượng cho một tương lai tươi sáng, một cuộc sống ấm no hạnh phúc

Mặt trời lúc này đã bừng sáng, đoàn thuyền hăng hái ra về như chạy đua cùng mặt trời Nó đã tạo nên một hình ảnh hết sức sống động, lãngmạn

Trang 16

Trong không gian thiên nhiên rộng lớn, con người đã làm chủ, chinh phục được thiên nhiên để khẳng định mình Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương đồng về hình ảnh thiên nhiên và người lao động Mở đầu bài thơ

là hình ảnh mặt trời và câu hát, kết thúc bài thơ cũng là hình ảnh mặt trời và câu hát, nhưng ở đầu bài thơ là tiếng hát hăng hái ra khơi, còn cuối bài thơ là tiếng hát thắng lợi trở về Hình ảnh “mặt trời” ở đầu bài thơ thì chìm xuống đỏ ối, kết thúc bài thơ thi rực rỡ như xua tan đi mànđêm đen tối, một ngày mới lại bắt đầu

Bằng sự liên tưởng và tựởng tượng phong phú, Huy Cận đã khắc họa nhiều hình ảnh đẹp, tráng lệ và đã thể hiện sự hài hòa giữa thiên nhiên

và con người lao động, bộc lộ niềm vui, niềm tự hào của nhà thơ đối vớiđất nước và cuộc sống xây dựng đang mỗi ngày một đi lên

Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn nêu cảm nhận về bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt

Khi lớn lên ai cũng nhớ về những kỉ niệm của tuổi thơ Có thể là kỉ niệm với người mẹ thân yêu, với người cha tôn kính, có thể là với người bà trân trọng Với Bằng Việt, kỉ niệm tuổi thơ đáng nhớ nhất của mình là hình ảnh người bà tần tảo sớm hôm Hiện diện cùng bà là hình ảnh bếp lửa Nó đã khơi nguồn cảm xúc để tác giả nhớ về bà và viết về bà qua bài thơ đậm chất trữ tình: Bếp lửa

Mở đầu bài thờ là hình ảnh bếp lửa:

Trang 17

lo lắng, chăm chút, che chở cho đứa cháu nhỏ của người bà Từ hình ảnh bếp lửa, người cháu lại nhớ thương khi nghĩ về bà:

Cháu thương bà biết mấy nắng mưa

Đọng lại trong câu thơ là chữ “thương”, thể hiện tình cảm của người cháu dành cho bà Bà vất vả, lặng lẽ trong khung cảnh “biết mấy nắng mưa”, làm sao tính được có bao nhiêu mưa nắng khổ cực đã đi qua đời

bà Cháu thương người bà vất vả, tần tảo để khi nhớ về bà, trong kí ức của cháu hiện về những gian khổ thời còn bé!

Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi

Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy

Trang 18

Nạn đói năm 1945 đã khiến bao người phải chịu cảnh lầm than, phải chết đi Năm ấy, Bằng Việt mới lên bốn tuổi Sống trong hoàn cảnh ấy thì làm sao tránh được những cơ cực Từ ghép “mòn mỏi” được chia tách ra, đan xen với từ đói đã gợi cái cảm giác nạn đói ấy vừa kéo dài vàcòn làm khô cạn sức người lẫn gia súc Kỉ niệm đáng nhớ nhất đối với người cháu là khói bếp, luồng khói được hun từ bếp lửa thân thuộc:

Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói …

Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay

Giờ đây nghĩ lại, cháu như đang sống lại những năm tháng ấy Câu thơ

ấy sức truyền cảm đặc biệt khiến người đọc không khỏi có cảm giác cay cay nơi sống mũi Tuổi thơ ấy lớn lên trong cảnh hoang tàn của chiến tranh Quê hương, xóm làng bị giặc tàn phá Cuộc sống khó khăn song hai bà cháu cũng được an ủi bởi tình cảm hàng xóm láng giềng Bởi trong hoàn cảnh chung của nhiều gia đình Việt Nam lúc ấy, những

người lớn phải tham gia kháng chiến, ở nhà chỉ còn cụ già và cháu nhỏ:

Mẹ cùng cha công tác bận không về

Và vì thế chỉ có hai bà cháu côi cút bên nhau Bà kể chuyện ở Huế cho cháu nghé, bà dạy cháu học, chỉ cháu làm Bao công việc bà đều lo hết

vì bố mẹ bận công tác không về Bà là chỗ dựa cho cháu, và đứa cháu

Trang 19

ngoan ngoãn là nguồn vui sống của bà Những kỉ niệm của tuổi thơ đều gắn liền với hình ảnh “bếp lửa”, bởi “lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói", đã sớm phải lo toan “Cháu cùng bà nhóm lửa” trong tám năm ròng rã Tám năm đó nó cũng không phải là dài lắm nhưng sao cứ kéo dài lê thê trong lòng cháu Cho nên, nhớ về tuổi thơ, người cháu lại “chỉnhớ khói hun nhèm mắt” Cảm giác ấy chân thật và xúc động Cái làn khói bếp của ngày xưa ấy như bay đến tận bay giờ làm cay nơi sống mũi Ngày xưa cay vì khói còn giờ đây sống mũi lại cay khi nhớ về tuổi thơ và cũng vì thương nhớ đến người bà.

Người cháu nghĩ đến bà rồi nghĩ đến quê hương, đến loài chim tu hú

“Tu hú” được nhắc lại bốn lần, tiếng kêu của nó trên đồng xa như sự cảm thông cho cuộc sống đói nghèo trong chiến tranh của hai bà cháu

Và trong lời kể của bà có cả “tiếng tu hú sao mà tha thiết thế” Tâm hồntrẻ thơ của cháu chợt dậy lên một mong mỏi:

Tù hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà

Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa

Kỉ niệm của tuổi thơ đã được đánh thức, ở đó có hình ảnh người bà tần tảo sớm hôm và có hình ảnh cả quê hương

Trang 20

Từ những hồi tưởng về tuổi thơ, người cháu đã suy ngẫm về cuộc đời của bà Bà đã hi sinh cả đời mình để nhóm bếp lửa và giữ cho ngọn lửa luôn ấm áp, tỏa sáng trong gia đình:

Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ

Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm

Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm

Bà là người phụ nữ tần tảo, giàu đức hi sinh Bếp lửa bà nhen mỗi sớm mai không chỉ bằng rơm rạ mà còn được nhen lên bằng chính ngọn lửa trong lòng bà, ngọn lửa của sự sống, lòng yêu thương và niềm tin

tưởng Từ bếp lửa bình dị, quen thuộc, người cháu nhận ra bao điều “kìdiệu” và “thiêng liêng” Ngọn lửa được nhóm lên từ chính bàn tay bà đãnuôi lớn tuổi thơ cháu: “Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi thơ” Bà lặng

lẽ chịu đựng, hi sinh để: “Bố ở chiến khu, bố còn việc bố” Chính vì thế, đứa cháu đã cảm nhận được trong bếp lửa bình dị mà thân thuộc có nỗi vất vả, gian lao của người bà

Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi

Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui

Trang 21

Trong bài thơ có tới mười lần người bà hiện diện cùng bếp lửa với vẻ đẹp tần tảo, hi sinh, yêu thương con cháu Và từ “bếp lửa”, tác giả đã điđến hình ảnh “ngọn lửa”:

Rồi sớm chiều lại bếp lửa bà nhen

Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn

Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…

Người cháu năm xưa giờ đã trưởng thành, đi xa Trước mắt có những

“niềm vui trăm ngả”, “có khói trăm tàu”, “có lửa trăm nhà”, một thế giới rộng lớn với bao điều mới mẻ được hiện ra Nhưng đứa cháu vẫn không ngừng hỏi: “Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?” Mỗi ngày đều tự hỏi “Sớm mai này” là mỗi ngày cháu đều nhớ về bà, Hình ảnh người bà luôn làm ấm lòng và nâng đỡ cháu trên bước đường đi tới

Bằng Việt đã sáng tạo hình tượng “bếp lửa” vừa mang ý nghĩa thực vừa mang ý nghĩa tượng trưng Giọng điệu tâm tình trầm lắng, giàu chất suy

tư đã làm say lòng người đọc Và bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt như một triết lí thầm kín Những gì đẹp đẽ của tuổi thơ đáng được trân trọng và nó sẽ nâng đỡ con người suốt hánh trình dài rộng của cuộc đời Bằng Việt đã thể hiện lòng yêu thương, biết ơn bà sâu sắc Lòng biết ơn chính là biểu hiện cụ thể của tình yêu quê hương, đất nước khi

đã đi xa

Trang 22

Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn nêu cảm nhận về bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy.

Nguyễn Duy là một gương mặt tiêu biểu trong lớp nhà thơ trẻ thời chống Mĩ cứu nước Bài thơ Ánh trăng của ông rất hay và đặc sắc Nó gợi nhắc đạo lí “Uống nước nhớ nguồn” và đánh thức trong mỗi con người chúng ta những kí ức đã lãng quên và nhắn nhủ chân tình với mình cũng như mọi người về lẽ sống chung thủy, nghĩa tình

Bài thơ mở đầu bằng bốn dòng thơ ngắn, Nguyễn Duy như đã tìm về với tuổi thơ mình:

Hồi nhỏ sống với đồng

Với sông rồi với bể

Hồi chiến tranh ở rừng

Trang 23

Trần trụi với thiên nhiên

Hồn nhiên như cây cỏ

Có phải chăng trong hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, con người ta sống

và đối xử với nhau chân thành hơn, vị tha hơn Đó lá cái thời sống hồn nhiên, trong sáng như cây cỏ, không biết dối trá, giả tạo Những tình cảm tự nhiên, chân thực thì sẽ vững bền theo dòng thời gian Mối quan

hệ thắm thiết giữa người và trăng làm cho nhân vật trữ tình tự khẳng định một tâm niệm:

Ngỡ không bao giờ quên

Cái vầng trăng tình nghĩa

Nhưng có nào ngờ nhân vật trữ tình ấy đã vội lãng quên Ngỡ là như thế nhưng đâu hay:

Từ hồi về thành phố

Quen ánh điện, cửa gương

Vầng trăng đi qua ngỡ

Như người dưng qua đường

Trang 24

Chính sự thay đổi khi hòa bình lập lại, người lính trở lại xây dựng quê hương, cuộc sống mỗi người ngày càng tốt tốt đẹp hơn để rồi họ quên

đi những tháng ngày gian khổ đã qua Ánh trăng được thay bằng ánh điện, có những tiện nghi, vật chất đầy đủ làm cho con người mau thích nghi và đồng thời cũng mau quên Tác giả không có ý phê phán “ánh điện”, “cửa gương” mà muốn nhắc nhở mọi người rằng đừng để nhữnggiá trị vật chất ấy điều khiển chúng ta, đừng coi vầng trăng – người bạn tri kỉ ngày nào – chỉ như người qua đường

Nhưng khi những gía trị vất chất kia tan biến thi cũng là lúc “người dưng” trở về:

Trang 25

Ngửa mặt lên nhìn mặt

Có cái gì rưng rưng

Như là đồng là bể

Như là sông là rừng

Ngỡ như một giấc chiêm bao, những kỉ niệm đẹp xưa kia những tưởng

đã mất nhưng nay lại hiện về, khiến nhân vật trữ tình xấu hổ, chỉ dám nhận lại của trăng một nửa quá khứ đẹp đẽ, còn nửa kia dành cho sự ănnăn vì đã quên đi vầng trăng vầng trăng ấy còn mang một ý nghĩa tượngtrưng: là biểu tượng cho vẻ đẹp mộc mạc và biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình không thể nào quên và cũng không được quên Đó có lẽ là lờihối cải sâu kín của Nguyễn Duy cho những “lãng quên” của mình

Mặc cho con người ta vô tình, lãng quên nhưng ánh trăng muôn đời tròn vành vạnh, không trách móc hay đòi hỏi điều gì:

Trăng cứ tròn vành vạnh

Kể chi người vô tình

Ánh trăng im phăng phắc

Đủ cho ta giật mình

Ngày đăng: 30/05/2016, 19:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w