ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HOÀNG VĂN BA Tên đề tài: “ĐIỀU TRA XÁC ĐỊNH ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CÂY BƯƠNG LÔNG ĐIỆN BIÊN DENDROCALAMUS GIGANTEUS TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN VÀ PHÚ TH
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG VĂN BA
Tên đề tài:
“ĐIỀU TRA XÁC ĐỊNH ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CÂY BƯƠNG LÔNG ĐIỆN BIÊN (DENDROCALAMUS GIGANTEUS)
TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN VÀ PHÚ THỌ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG VĂN BA
Tên đề tài:
“ĐIỀU TRA XÁC ĐỊNH ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CÂY BƯƠNG LÔNG ĐIỆN BIÊN (DENDROCALAMUS GIGANTEUS)
TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN VÀ PHÚ THỌ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
3 ThS Đặng Thị Thu Hà
Thái Nguyên, 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình hay khóa luận nào trước đây
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đều đã được
chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015
Tác giả
Hoàng Văn Ba
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Khóa luận được hoàn thành theo chương trình đào tạo Đại học Nông Lâm Thái Nguyên K43 (2011 - 2015) tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Được sự nhất trí của Ban Giám hiệu và khoa Lâm nghiệp, tôi thực
hiện khóa luận với tên đề tài: “Điều tra xác định đặc điểm phân bố cây
Bương lông điện biên (Dendrocalamus giganteus) tại tỉnh Điện Biên và Phú Thọ”
Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới
TS Trần Công Quân, TS Nguyễn Anh Dũng và ThS Đặng Thị Thu Hà
là những người đã trực tiếp và tận tình giúp đỡ, cung cấp nhiều thông tin bổ ích, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu để tác giả có thể hoàn thành khóa luận
Xin chân thành cảm ơn tới: các thầy, cô giáo khoa Lâm nghiệp Trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Giám đốc và cán bộ công nhân viên
Trung tâm Khoa học Lâm nghiệp vùng Trung tâm Bắc Bộ, cùng bạn bè và gia
đình đã tạo điều kiện, động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và
thực hiện khóa luận
Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình thực hiên khóa luận nhưng do kiến thức và kinh nghiệm lần đầu của bản thân, thời gian cũng như tài liệu tham khảo còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất
định Kính mong quý thầy cô có những đóng góp quý báu, bổ sung để cho
khóa luận hoàn thiện hơn
Xin trân trọng thành cảm ơn !
Phú Thọ, tháng 5 năm 2015
Tác giả
Trang 5
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG KHÓA LUẬN
Bảng 2.1 Phân bố của các loài tre trúc trên thế giới (Biswas
1995) 5 Bảng 4.1 Kết quả điều tra sinh trưởng về đường kính và chiều
cao 25 Bảng 4.2 Kết quả điều tra phân bố cây Bương lông điện biên
theo độ cao 28 Bảng 4.3 Sinh trưởng của Bương lông điện biên theo vùng
sinh thái 29 Bảng 4.4 Phân bố mật độ của Bương lông điện biên theo vùng
sinh thái 30 Bảng 4.5 Đặc diểm địa hình nơi gây trồng Bương lông 32 Bảng 4.6 Sinh trưởng của Bương lông điện biên theo vị trí địa
hình 33 Bảng 4.7 Kết quả tổng hợp các chỉ tiêu về diều kiện lập địa 35 Bảng 4.8 Kết quả điều tra phân bố tại chỗ 37 Bảng 4.9 Chất lượng cây Bương lông điện biên 39
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TRONG KHÓA LUẬN
Biểu đồ 4.1 Phân bố mật độ của Bương lông điện biên theo
vùng sinh thái 26
Biểu đồ 4.2 Chất lượng cây Bương lông điện biên 31
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG KHÓA LUẬN
Hình 4.1 Điều tra sinh trưởng cây Bương lông điện biên 26 Hình 4.2 Điều tra phẫu diện đất 36 Hình 4.3 Bụi cây Bương lông điện biên 37
Trang 9MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN ……… i
LỜI CẢM ƠN . ii
Danh mục bảng trong khóa luận iii
Danh mục các biểu đồ trong khóa luận iv
Danh mục các hình trong khóa luận v
Danh mục các từ viết tắt ……… vi
MỤC LỤC vii
Phần 1: MỞ ĐẦU ……… 1
1.1 Đặt vấn đề ……… 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2 1.2.1.Về lý luận 2
1.2.2.Về thực tiễn 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1.Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
1.3.2.Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ……… 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 4
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 6
2.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 11
2.3.1 Tỉnh Phú Thọ 11
2.3.2 Tỉnh Điện Biên 16
Trang 10Trang Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ……… 21
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 21
3.2 Nội dung nghiên cứu 21
3.2.1 Điều tra đặc điểm phân bố cây Bương lông điện biên theo độ cao (độ cao tuyệt đối, độ cao tương đối) 21
3.2.2 Nghiên cứu xác định đặc điểm phân bố cây Bương lông điện biên theo vùng sinh thái 21
3.2.3 Nghiên cứu đặc điểm phân bố tại chỗ cây Bương lông điện biên 21
3.2.4 Đề xuất vùng phân bố và điều kiện gây trồng cây Bương lông điện biên 21
3.3 Phương pháp nghiên cứu 21
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 21
3.3.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn 22
3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 23
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ……… 24
4.1 Điều tra đặc điểm phân bố cây Bương lông điện biên theo độ cao (độ cao tuyệt đối, độ cao tương đối) 24
4.1.1 Điều tra sinh trưởng cây Bương lông điện biên 24
4.1.2 Phân bố cây Bương lông điện biên theo độ cao 27
4.2 Nghiên cứu xác định đặc điểm phân bố cây Bương lông điện biên theo vùng sinh thái 28
4.3 Nghiên cứu đặc điểm phân bố tại chỗ cây Bương lông điện biên 31
4.3.1 Đặc điểm phân bố theo vị trí địa hình 31 4.3.2 Khả năng sinh trưởng của Bương lôngđiện biên theo vị trí địa
Trang 11Trang
hình ……… 33
4.3.3 Đánh gíá các chỉ tiêu về điều kiện lập địa ……… 34
4.3.4 Đặc điểm phân bố tại chỗ 37
4.3.5 Chất lượng cây Bương lông điện biên 38
4.4 Đề xuất vùng phân bố và điều kiện gây trồng cây Bương lông điện biên ……… 41
Phần 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ ……… 42
5.1 Kết luận 42
5.2 Đề nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO . 44
PHẦN PHỤ LỤC . 46
Trang 12Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa và là nước được
xác định là vùng trung tâm phân bố của tre – trúc, nên rất phong phú và đa dạng về thành phần loài Theo tác giả (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) [6] thì Việt Nam ta có khoảng 216 loài tre, nứa thuộc 25 chi và có thể lên tới 250 loài Cả nước có gần khoảng 1,5 triệu ha, trong đó, hơn 1,4 triệu ha là rừng tự nhiên, 800 nghìn ha là rừng thuần loài và hơn 600 nghìn ha rừng hỗn loài Rừng trồng có gần 74 nghìn ha, chủ yếu là trồng các loài như: Luồng, Mai, Tre bát độ, Bương, Vầu… và 1 số loài tre lấy măng khác Đây là loại lâm sản ngoài gỗ có giá trị kinh tế và có đặc điểm sinh trưởng nhanh và tái sinh mạnh, trồng một lần và khai thác nhiều lần nên luôn có nguồn thu hàng năm, do vậy còn được mệnh danh là cây của người nghèo
Tre - trúc là lâm sản ngoài gỗ có rất nhiều công dụng, từ thân, gốc, rễ,
lá, quả đều được sử dụng triệt để, bộ phận được sử dụng rộng rãi đó là thân khí sinh Do thân khí sinh của tre - trúc có nhiều đặc tính tốt nên sử dụng trong xây dựng nhà cửa, dùng làm đồ gia dụng, làm bố mảng, cầu phao Hiện nay, công nghiệp chế biến đang phát triển, tre - trúc là nguồn nguyên liệu quý giá cho sản xuất giấy cao cấp, cho ván sàn, ván ép, đồ mộc cao cấp, chiếu trúc, than hoạt tính, thủ công mỹ nghệ…, như vậy, tre - trúc thây thế trong nhiều khu vực Với công nghệ chế biến cao, những sản phẩm sản xuất từ tre -trúc không những đẹp mà còn có độ bền cao, khả năng chịu nén, chịu lực tốt Thân tre – trúc có tỷ trọng cao, nhiều lỗ hổng và nhiều chất khoáng, thân tre
được Cacbon hóa có nhiều ứng dụng như làm chất khử mùi, điều hòa ẩm độ,
chặn sung hồng ngoại, ngăn cản điện từ, than được sử dụng nhiều trong cuộc sống Nhiệt lượng 1 kg than hoạt tính có thể dật 7.703 kcal cao hơn so vói than hoạt tính gỗ, thân tre có khả năng lọc nước rất tốt…v.v
Trang 13Gốc, thân tre - trúc có thể tạc tượng, thân ngầm và cành đều có thể sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ Lá một số loài có thể xuất khẩu, lá dùng để chế biến thuốc kháng sinh chống một số bệnh như cảm, cúm… Việt Nam có 10 loài tre -trúc cho măng ăn ngon (Mai ống, Luồng, Lồ ô, Là ngà, Trúc sào, Vầu đắng, Tre gầy, Bương…) Tuy nhiên, các loài cho măng ngon năng suất cao, chất lượng tốt chưa được phát triển, việc khai thác chỉ dừng lại ở mức độ tận dụng Loài Bương lông điện biên, còn có các tên gọi khác nhau như Mạy púa mơi, Bương lớn, Bương lớn điện biên Là một trong những loài tre có kích thước lớn ở Việt Nam, chiều cao 18 - 24 m, đường kinh gốc 12 - 22 cm, có vách dày, chiều dài đốt từ 25 – 30 cm, ít cành nhánh, khả năng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến sản phẩm rất cao Mặt khác, hiện nay việc kinh doanh loài cây này vẫn theo hướng quảng canh, dựa vào kinh nghiệm của người dân địa phương và điều kiện tự nhiên sẵn có là chính nên
năng suất không cao như vốn có của nó Chính vì vậy, đề tài “Điều tra xác định đặc điểm phân bố cây Bương lông điện biên (Dendrocalamus
giganteus) tại tỉnh Điện Biên và Phú Thọ” là hết sức cần thiết để góp phần
cung cấp những cơ sở khoa học về đặc điểm phân bố (gồm độ cao, nơi mọc, kiểu rừng mọc, đất nơi cây mọc…) của loài Bương lông điện biên
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Trang 14Qua quá trình thực hiện đề tài tạo cơ hội tiếp cận phương pháp nghiên cứu khoa học, giải quyết vấn đề khoa học ngoài thực tiễn
Làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đề tài cụ thể
Học tập và hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kỹ thuật trong thực tiễn tại
địa bàn nghiên cứu
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Biết cách tiếp cận thực tế trong vấn đề sản xuất, kinh doanh rừng, quản
lý nguồn tài nguyên rừng hiện nay, nâng cao tính bền vững của hệ sinh thái rừng
Giúp nắm rõ hơn về đặc điểm phân bố và sinh trưởng phát triển của loài Bương lông điện biên
Trang 15
Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học
Bương lông điện biên (Dendrocalamus giganteus), còn có các tên gọi
khác như Mạy púa mơi (dân tộc Thái), Bương lớn, Bương lớn điện biên được ghi nhận bởi nhóm nghiên cứu tre (Lê Viết Lâm và các tác giả 2005) [4] Thân cây Bương lông to, dài, có khả năng chống mối mọt cao nên thường
được dùng làm cột buồm, làm nhà Các dân tộc vùng cao dùng bương lông
làm máng dẫn nước, làm nguyên liệu cho công nghiệp giấy, chế biến thay thế cho gỗ có hiệu quả cao, lá dùng để gói bánh Măng Bương to, ăn ngon, ăn tươi hoặc phơi khô, cũng có thể đóng hộp Một bụi cây to có thể cho tới 180
kg măng tươi/bụi/năm Măng tươi của Bương lông điện biên được thị trường rất ưa chuộng vì có vị hơi đắng rất đặc biệt, măng đầu vụ có thể bán 3.000 -5.000đ/kg; trọng lượng măng lúc khai thác có thể đạt tới 10kg/1măng Có bụi một năm thu được 10 - 15 măng Một số hộ buôn bán còn mua măng tươi về sau đó luộc và bảo quản trong chum, vại to để sử dụng sau này Thân cây có thể dùng làm nguyên liệu chế biến ván ghép thanh, ván sàn hay các sản phẩm khác Tuy nhiên, hiện nay nguyên liệu từ Bương lông điện biên còn ít, do chưa có các nghiên cứu đầy đủ và quy hoạch vùng trồng cho loài cây này
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới tre trúc là nguồn lâm sản ngoài gỗ chiếm vị trí rất quan trọng chỉ sau gỗ Nhiều loài tre trúc là nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành thủ công mỹ nghệ, công nghiệp chế biến nông lâm sản, công nghiệp giấy sợi, công nghiệp chế biến ván nhân tạo, vật liệu trong xây dựng, kiến trúc, giao thông vận tải, Một số loài tre trúc cho măng ăn ngon, đã trở thành nguồn cung cấp thực phẩm có giá trị Các sản phẩm từ tre trúc không còn bó hẹp trong biên giới của một số quốc gia mà đã có mặt ngày càng nhiều trên thị
Trang 16trường quốc tế và được nhiều nước châu Âu, châu Mỹ ưa chuộng Chính vì vị trí quan trọng của tài nguyên tre trúc, nhiều nước trên thế giới có tre trúc và
kể cả những nước sử dụng tre trúc, đã tiến hành nhiều nghiên cứu về tre trúc Các loài tre trúc phân bố tự nhiên ở các vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn
đới, từ vùng thấp tới độ cao 4.000 m (so với mực nước biển), song tập trung
chủ yếu ở vùng thấp tới đai cao trung bình (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) [5] Các loài tre trúc có thể mọc hoang dại hoặc được gây trồng và có một đặc điểm nổi bật là có mặt ở rất nhiều các môi trường sống khác nhau (Dransfield and Widjaja, 1995) Theo (Rao and Rao,1995) [9],[10], cả thế giới có khoảng 1.250 loài tre trúc của 75 chi, phân bố ở khắp các châu lục, trừ châu Âu Châu Á đặc biệt phong phú về số lượng và chủng loại tre trúc với khoảng 900 loài của khoảng 65 chi (Rao and Rao 1995; 1999) [9],[10] Kết quả tại bảng 2.1 là số liệu năm 1995 về sự đa dạng của các loài tre trúc trên thế giới Từ đó tới nay có nhiều loài tre trúc mới đã được tìm ra và phân loại trong đó có Việt Nam làm tăng số loài tre trúc đã được xác định
Bảng 2.1 Phân bố của các loài tre trúc trên thế giới (Biswas, 1995)
chi
Số loài
Diện tích (ha)
Nước-Vùng lãnh thổ
Số chi
Số loài
Diện tích (ha)
Trang 17Tre trên thế giới có phân bố ở 3 khu vực lớn: Châu Á Thái Bình
Dương, Châu Phi và Châu Mỹ Các loài tre lớn thuộc chi Bambusa và
Dendrocalamus phân bố ở khu vực Châu á Thái Bình dương Trên thế giới có
36,77 triệu ha rừng tre Diện tích tre của châu Á là 23,6 triệu ha, trong đó Ấn
độ 11,36 triệu ha, Trung Quốc 5,44 triệu ha, Indonesia 2,08 triệu ha, Lào 1,61
triệu ha, Myanmar 0,85 triệu ha, Việt Nam 0,81 triệu ha (FAO, 2005) [8] Trung Quốc diện tích trồng chuyên lấy măng khoảng 100.000 ha và trên 3 triệu ha rừng chuyên sản suất thân tre và kết hợp với cung cấp măng
Số lượng loài tre - trúc có tới 500 loài và 50 chi
Đài Loan trồng khoảng 9.000 ha Điềm trúc (D latiflorus), hàng năm
xuất khẩu trên 40.000 tấn măng
Tổ chức INBAR năm 1994 đưa ra danh mục 19 loài tre - trúc được ưu tiên đưa vào phương hướng hành động của Quốc tế, 18 loài được ghi nhận là
quan trọng trong đó 10 loài có thể kinh doanh lấy măng
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Việt Nam có thể coi là một đất nước của tre - trúc, có điều kiện thiên
nhiên ưu đãi cho sự sinh trưởng, phát triển của tre - trúc, từ miền ngược đến miền xuôi đâu đâu cũng thấy hiện diện của tre - trúc Tre trúc dễ trồng, sinh trưởng nhanh, sớm cho khai thác, dễ chế biến nên được sử dụng trong rất nhiều các mục đích khác nhau của con người, đặc biệt là người dân nông thôn cả miền đồng bằng và miền núi Nhìn chung, tre trúc có thể được sử dụng trong xây dựng, thực phẩm, phục vụ mục tiêu văn hoá và một số các công dụng khác Do kích thước thân khí sinh lớn có vách dày, cứng và bền nên tre - trúc đã được sử dụng làm vật liệu xây dựng nhà cửa của người dân Thân các cây lớn dùng làm cột nhà, xà nhà, đòn tay, rui mè Các loài có thân
to hay vừa có thân mỏng hơn được dùng làm sàn nhà như trong nhà sàn của
đồng bào dân tộc, đôi khi làm vách và làm mái nhà Hiện nay, tre - trúc chủ
yếu được dùng nhiều ở nông thôn và miền núi, song nhiều nơi ở thành phố
Trang 18vẫn sử dụng tre để gia cố móng nhà thay cho cọc bê tông, vừa rẻ lại bền Một
số công trình xây dựng nhỏ còn dùng tre làm cột chống côppha, cót ép
được dùng để lót đổ bê tông trần nhà Tre - trúc cũng là nguồn nguyên liệu lý
tưởng để sản xuất giấy Thân tre - trúc có chứa lượng sợi cao (40 - 60%) và chiều dài sợi khoảng 1,5 - 2,5 mm (tối đa là 5mm), là nguyên liệu tốt cho sản xuất giấy (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) [6]
Theo nghiên cứu của Lê Viết Lâm tre phân bố ở hầu hết các vùng và độ
cao khác nhau của Việt Nam
* Phân bố theo độ cao: Từ độ cao ngang mặt biển đến những núi cao của Việt Nam như Hoàng Liên, Tây Côn Lĩnh, Ngọc Linh… đều có tre mọc Nhưng về mặt phân bố của tre có thể chia làm 2 đai độ cao rõ rệt: đai độ cao trên 700 m và đai độ cao dưới 700 m Ở đai độ cao trên 700 m hầu hết là các loài tre có thân ngầm mọc tản, tiêu biểu cho khí hậu á nhiệt đới như các chi:
Sặt (Arundinaria), Vầu (Indosasa), Trúc (Phyllostachys), Trúc vuông
(Chimonobambusa)… Còn đai độ cao dưới 700 m hầu hết là các loài tre mọc
cụm tiêu biểu cho khí hậu nhiệt đới thuộc các chi như: Tre (Bambusa), Luồng
(Dendrocalamus)… Cá biệt có những loài tre mọc cụm leo lên đến độ cao
1.000 m như Mai ống (Dendrocalamus aff giganteus), hoặc loài tre mọc tản phân bố xuống độ cao 400 - 500 m như Vầu đắng (Indosasa angustata) [4]
* Phân bố theo vùng sinh thái: các loài tre phân bố theo vùng sinh thái thể hiện rất rõ Nhiều loài tre là các loài đặc hữu hoặc đặc trưng của từng vùng
như: vùng Tây Bắc có Mạy sang (Dendrocalamus membranaceus), Mạy bông
(Bambusa tulda), Mạy bói (Bambusa burmanica), Mạy púa cai na
(Dendrocalamus aff pachystachys) …Vùng Đông Bắc có Vầu đắng (Indosasa
angustata), Trúc sào (Phyllostachys edulis), Trúc cần câu (Phyllostachys sulphurea)… Vùng Trung tâm có Giang (Macclurochloa vietnamensis), Diễn
longgivaginus), Lộc ngộc (Bambusa bicorniculata), Là ngà (Bambusa
Trang 19sinospinosa)… Vùng Bắc Trung Bộ có: Lùng (Bambusa longissima), Mạy
cần (Thyrostachys oliveri), Luồng (Dendrocalamus barbatus) Vùng Nam Trung Bộ có Lồ ô Trung Bộ (Bambusa balcooa), Tre quả thịt
(Schizostachyum sp.nov)… Vùng Tây Nguyên có Le (Gigantochloa sp), Lồ ô (Bambusa procea), Le cỏ (Vietnammosasa pusilla) Vùng Đông Nam Bộ có:
Lồ ô (Bambusa procea), Mum (Gigantochloa mum) Vùng Tây Nam Bộ có Tre mỡ (Bambusa vulgaris), Tre gai (Bambusa blumeana)[4]
Tài nguyên tre của Việt Nam được E.G.Camus & A.Camus (1923) ghi nhận 14 chi, 73 loài Ban thực vật chí thuộc tổng cục lâm nghiệp đã tiến hành
điều tra các loài tre ở lưu vực sông Lô, Gâm, Chảy (1973) và sau đó KS Vũ
Dũng đã đưa ra kết quả điều tra thành phần và phân bố các loại Tre trúc ở miền Bắc Việt nam (1973 – 1975) là 10 chi, 48 loài, 4 dạng, 2 thứ trong đó vùng Đông bắc có tới 36 loài thuộc 9 chi Năm 1978 (Vũ Văn Dũng, 1978) [2] công bố Việt Nam có khoảng 50 loài (Phạm Hoàng Hộ,1999) [3] đã giới thiệu 23 chi, 121 loài nhưng có loài không có mô tả, các loài khác mô tả rất ngắn không đủ các thông tin cần thiết để nhận biết chúng ngoài thực địa Lê Viết Lâm và các tác giả (2005) đã thống kê được 22 chi và 122 loài Tác giả (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) [6] đã giới thiệu 25 chi, 216 loài, công trình của Nguyễn Hoàng Nghĩa có thể coi là một tài liệu duy nhất từ trước đến nay
đã liệt kê đầy đủ nhất về số lượng chi, loài tre với nhiều thông tin có ý nghĩa
về phân bố, đặc tính hình thái, sinh thái, công dụng và có giá trị như một cẩm nang tra cứu, đặc biệt là nhận dạng loài tre
Nghiên cứu của nhóm tác giả (Nguyễn Hoàng Nghĩa, Nguyễn Tử
Ưởng, 2000) [5] với công trình “Tài nguyên tre trúc ở Việt Nam” đã nghiên
cứu về hình thái, trữ lượng diện tích rừng tre trúc ở Việt Nam, tác động của khai thác và đặc điểm cấu trúc rừng tre tróc, nguồn gen và thành phần loài,
đặc điểm sinh trưởng, thực trạng của rừng tre tróc, nguy cơ tàn phá Nghiên
cứu cũng nêu các phương pháp bảo tồn tại chỗ và bảo tồn ngoại vi, phát triển
Trang 20rừng trồng tre trúc, trồng rừng tre trúc trong vườn hộ, giới thiệu một số loài tre trúc, phương thức canh tác và khai thác, sử dụng, các ứng dụng và các giá trị kinh tế, nghiên cứu và phát triển
Theo (Nguyễn Tử Ưởng, 2000) [7], Việt nam có 1.489.068 ha bằng 4,53% diện tích toàn quốc với tổng trữ lượng là 8.400.767.000 cây Trong đó: Rừng tre trúc tự nhiên có 1.415.552 ha bằng 14,99% diện tích rừng tự nhiên với trữ lượng là 8.304.693.000 cây bao gồm: Rừng thuần loại tre trúc có 789.221 ha bằng 8,36% diện tích rừng tự nhiên với trữ lượng là 5.863.091.000 cây; Rừng hỗn giao gỗ tre trúc có 626.331 ha bằng 6,63% diện tích rừng tự nhiên với trữ lượng là 2.441.602.000 cây Rừng tre trúc trồng có 73.516ha bằng 4,99% diện tích rừng trồng với trữ lượng là 96.074.000 cây Quá trình khảo sát đã phát hiện ra một số chi được coi là mới đối với
nước ta là chi Giang (Maclurochloa) với 17 loài, chi Tre quả thịt (Melocalamus) với 10 loài, chi Tre Bidoup (Kinabaluchloa) có 1 loài Một số loài mới được phát hiện là Tre lông Bidoup (Kinabaluchloa) có đặc điểm
ngoại hình giống loài cùng chi ở Malaixia (Wong, 1995) trúc dây Bidoup
(Ampelocalamus) có ngoại hình giống như trúc dây Ba Bể nhiều loài nứa (Schizostachyum), le (Gigantochloa) và lồ ô (Bambusa) Một số chi có nhiều loài là chi Tre (Bambusa) có 55 loài, chi Luồng (Dendrocalamus) có 21 loài, chi Le (Gigantochloa) có 16 loài, chi Nứa (Schizostachyum) có 14 loài và chi Vầu đắng (Indosasa) có 11 loài
Theo (Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn, 2007) [1], tính tới năm
2001, tổng diện tích rừng tre trúc của Việt Nam có khoảng 1.489.000 ha, trong đó 1.415.500 ha là rừng tự nhiên (thuần loài hoặc hỗn loài), và khoảng 73.500 ha là rừng trồng tre trúc Tính tới tháng 12/2004, thì tổng diện tích rừng tre trúc của Việt Nam là 1.563.253 ha
Năm 2004 nhóm định loại tre nứa của đề tài “Điều tra bổ sung thành phần loài, phân bố và một số đặc điểm sinh thái các loài tre chủ yếu ở Việt
Trang 21Nam” giai đoạn 2001-2003 và dự án “Đa dạng loài và bảo tồn exsitu một số loài tre ở Việt Nam” gồm Nguyễn Hoàng Nghĩa, Xia Nianhe, Li Dezhu và Lê Viết Lâm đã thống nhất một danh sách mới bao gồm 133 loài thuộc 24 chi tre trúc ở Việt Nam trong đó có rất nhiều loài cho giá trị sử dụng có giá trị kinh tế cao cần được nghiên cứu phát triển Như vậy, rõ ràng nước ta có nguồn tài nguyên tre trúc vừa rất phong phú lại vừa có giá trị xong đây chưa phải là danh sách hoàn chỉnh
Trong 2 năm 2004 - 2005, (PGS.TS Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) [6] cùng hai chuyên gia phân loại tre Trung Quốc là GS Li Dezhu, Phó Viện trưởng Viện thực vật học Côn Minh, Vân Nam (chuyên gia
chi Dendrocalamus) và GS Xia Nianhe (chuyên gia chi Bambusa) tiếp tục
cộng tác nghiên cứu với các nhà nghiên cứu tre trúc ở nước ta tiếp tục nghiên cứu định danh các loài tre nứa hiện có của Việt Nam ban đầu đã đưa ra danh sách gồm 194 loài của 26 chi tre trúc Việt Nam Phần lớn trong số đó là chưa
có tên Một số chi có nhiều loài là chi Tre gai (Bambusa) có 55 loài thì có tới
31 loài chưa có tên, chi Luồng (Dendrocalamus) có 21 loài với 5 loài chưa
định tên, chi Le (Gigantochloa) có 16 loài với 14 loài chưa có tên, chi Vầu đắng (Indosasa) có 11 loài với 8 loài chưa có tên và chi Nứa
(Schizostachyum) có 14 loài thì có tới 11 loài chưa có tên
Tác giả (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) [6] đã giới thiệu 216 loài tre ở Việt Nam, trong đó có 29 loài thuộc chi Luồng, có mô tả địa điểm phân bố, sinh thái của từng loài khác chi tiết mặc dù số điểm điều tra khảo sát để mô tả chưa nhiều Tác giả đã gọi Bương lông Điện Biên là Bương lớn, Bương lớn Điện
Biên, và sử dụng tên khoa học là Dendrocalamus sinicus Chia et J.L Sun dựa
trên kết quả định loại của hai chuyên gia Trung Quốc (Xia Nianhe và Li Dezhu) Và khẳng định loài này được trồng ở vùng Tây Bắc và có nhiều ở
Điện Biên Dân tộc vùng cao dùng cây để làm máng nước, măng ăn ngon, ăn
Trang 22tươi hoặc phơi khô Tác giả vẫn chưa thấy được những quần thể tự nhiên của loài Bương lông điện biên
2.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
và Tây Bắc (vị trí địa lý mang ý nghĩa trung tâm của tiểu vùng Tây – Đông - Bắc) Phía Đông giáp Hà Tây, phía Đông Bắc giáp Vĩnh Phúc, phía Tây giáp Sơn La, phía Tây Bắc giáp Yên Bái, phía Nam giáp Hoà Bình, phía Bắc giáp Tuyên Quang
b) Địa hình
Phú Thọ là tỉnh miền núi, trung du nên địa hình bị chia cắt, được chia
thành tiểu vùng chủ yếu Tiểu vùng núi cao phía Tây và phía Nam của Phú Thọ, tuy gặp một số khó khăn về việc đi lại, giao lưu song ở vùng này lại có nhiều tiềm năng phát triển lâm nghiệp, khai thác khoáng sản và phát triển kinh tế trang trại Tiểu vùng gò, đồi thấp bị chia cắt nhiều, xen kẽ là đồng ruộng và dải đồng bằng ven sông Hồng, hữu Lô, tả Đáy Vùng này thuận lợi cho việc trồng các loại cây công nghiệp, phát triển cây lương thực và chăn
nuôi
c) Khí hậu
Phú Thọ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có một mùa đông lạnh Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23oC, lượng mưa trung bình trong năm khoảng 1.600 đến 1.800 mm Độ ẩm trung bình trong năm tương đối lớn, khoảng 85 – 87% Nhìn chung khí hậu của Phú Thọ thuận lợi cho việc phát
triển cây trồng, vật nuôi đa dạng
Trang 23d) Thủy văn
Phú Thọ nằm ở trung lưu của hệ thống sông Hồng, tiếp nhận nguồn nước của 3 sông lớn: sông Lô, sông Thao, sông Đà ngoài ra còn có các sông nhỏ, ngòi lớn như: sông Bứa, ngòi Lao, ngòi Giành, ngòi Me chảy ra sông Thao: sông Chảy chảy ra sông Lô, ngòi Lạt chảy ra sông Đà
e) Đặc điểm đất đai
Tài nguyên đất: theo kết quả điều tra thổ nhưỡng gần đây, đất đai của Phú Thọ được chia theo các nhóm sau: đất feralít đỏ vàng phát triển trên phiến thạch sét, diện tích 116.266,27 ha chiếm tới 66,79% Đất thường có độ cao trên 100 m, độ dốc lớn, tầng đất khá dày, thành phần cơ giới nặng, mùn khá Loại đất này thường sử dụng trồng rừng, một số nơi độ dốc dưới 25o có thể sử dụng trồng cây công nghiệp Hiện nay, Phú Thọ mới sử dụng được khoảng 54,8% tiềm năng đất nông – lâm nghiệp; đất chưa sử dụng còn 81,2 nghìn ha, trong đó đồi núi có 57,86 nghìn ha
2.3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
a) Dân số, dân tộc
Dân số trung bình toàn tỉnh năm 2013 ước tính 1.349,3 nghìn người, tăng 0,63% so với năm trước, trong đó: nữ là 685 nghìn người, chiếm 50,76%; dân số thành thị là 249,6 nghìn người, chiếm 18,49%
b) Lao động
Công tác lao động việc làm, đào tạo nghề, tạo việc làm có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được kết quả khá; cơ sở vật chất các trung tâm dạy nghề
được quan tâm đầu tư; việc triển khai kế hoạch đào tạo nghề cho lao động
nông thôn theo Quyết định 1956/QĐ-TTg được chú trọng Năm 2013, giải quyết việc làm 22,1 nghìn người, tăng 4,2%; tạo việc làm mới 14 nghìn người, tăng 3,7% so cùng kỳ; xuất khẩu lao động 2,5 nghìn người, đạt 100%
kế hoạch
c) Trồng trọt
Trang 24Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm 122,3 nghìn ha, bằng 101,07%
kế hoạch và tăng 0,9% so năm trước, trong đó: vụ đông xuân đạt 78,9 nghìn
ha, tăng 0,94%; vụ mùa đạt 43,4 nghìn ha, tăng 0,92% so với cùng vụ năm
2012 Diện tích cây lương thực có hạt đạt 88,4 nghìn ha bằng 102,3% kế hoạch, tăng 2,1% so năm trước Diện tích lúa cấy 69,8 nghìn ha, bằng 101,8%
kế hoạch năm và tăng 0,9% so với cùng kỳ Diện tích ngô gieo trồng 18,6 nghìn ha, bằng 104,3% kế hoạch tăng 6,8% so với cùng kỳ Diện tích trồng
rau xanh các loại 11,8 nghìn ha giảm 0,7%, (riêng vụ đông 8,6 nghìn ha, tăng
2,5%)
d) Chăn nuôi
Chăn nuôi gia súc, gia cầm giữ được ổn định, công tác phòng, chống dịch bệnh trong năm được tăng cường và có hiệu quả đã kịp thời khống chế, dập dịch khi phát sinh, đảm bảo số lượng và sản lượng sản phẩm phục vụ tiêu dùng trên địa bàn Tổng đàn trâu toàn tỉnh thời điểm 01/10/2013 là 70,9 nghìn con, bằng 94,58% kế hoạch và giảm 3,47% so cùng kỳ; tổng đàn bò 91,1 nghìn con, bằng 92,8% kế hoạch và giảm 0,82% so cùng kỳ; tổng đàn lợn là
756 nghìn con, vượt 2,86% kế hoạch và tăng 2,87% so cùng kỳ; tổng đàn gia cầm 11.294 nghìn con, bằng 103,71% kế hoạch và tăng 9,89% so cùng kỳ Trong năm, tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 126 ngàn tấn, tăng 6,5%
có nhiều hộ gia đình đầu tư vào sản xuất thuỷ sản quy mô lớn, đưa một số
Trang 25giống cá có năng suất cao vào nuôi trồng đem lại hiệu quả kinh tế f) Phát triển lâm nghiệp
Công tác quản lý, bảo vệ rừng tiếp tục được chú trọng Diện tích rừng trồng mới trong năm ước đạt 6,6 ngàn ha, vượt 20% kế hoạch và tăng 4% so với cùng kỳ năm trước Tổng sản lượng gỗ khai thác các loại ước đạt 346,8 ngàn m3, tăng 4,59%, trong đó gỗ nguyên liệu giấy khai thác ước đạt 314,8 ngàn m3 chiếm 90,8%; củi khai thác ước đạt 1.362,2 ngàn ste; tre, vầu, luồng
ước đạt 4.085 ngàn cây
2.3.1.3 Kết cấu hạ tầng xã hội
Phú Thọ có 12 đơn vị hành chính gồm thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ, các huyện Đoan Hùng, Hạ Hoà, Thanh Đa, Cẩm Khê, Phù Ninh, Lâm Thao, Tam Nông, Thanh Thuỷ, Thanh Sơn và Yên Lập Thành phố Việt Trì là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá của tỉnh
Công tác phòng chống dịch bệnh nguy hiểm (dịch cúm A H1N1, dịch
Tay - Chân - Miệng) được giám sát chặt chẽ, hiệu quả theo hướng dẫn của Bộ
Y tế, không có trường hợp tử vong; công tác phòng chống HIV/AIDS được duy trì, hoạt động tư vấn và xét nghiệm tại cơ sở y tế được đẩy mạnh Hệ thống y tế tiếp tục được củng cố và phát triển, các bệnh viện đa khoa tuyến huyện và liên huyện được từng bước đầu tư trang thiết bị hiện đại Tăng cường triển khai công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm hiệu quả nhờ sự phối hợp liên ngành trong giám sát, kiểm tra, thanh tra về ATVSTP
b) Giáo dục
Trang 26Chất lượng các cấp học được giữ vững cả về chất lượng giáo dục đại trà và giáo dục mũi nhọn; tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp THPT đạt 98,39%, bổ túc THPT đạt 94,02%; kết quả thi học sinh giỏi quốc gia THPT năm 2013 đạt
46 giải Công tác quản lý giáo dục được chú trọng; giữ vững và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục THCS; tích cực triển khai phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi Phong trào khuyến học, khuyến tài xây dựng xã hội học tập được đẩy mạnh; Hội khuyến học tỉnh đã kịp thời khen thưởng học sinh giỏi, giáo viên giỏi và học sinh nghèo vượt khó
Chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được tăng cường; tập trung giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề cho học sinh Kế hoạch xây dựng trường chuẩn quốc gia, đề án kiên cố hoá trường, lớp học và nhà công vụ giáo viên tiếp tục được triển khai tích cực, có thêm 51 trường được công nhận Trường chuẩn Quốc gia
2.3.1.4 Hiện trạng cơ sở hạ tầng kĩ thuật
a) Giao thông
Mạng lưới giao thông thuận lợi cả về đường bộ, đường sắt và đường thủy Qua địa bàn tỉnh có quốc lộ: 2, 32, 70 Đường cao tốc Nội Bài - Phú Thọ - Lào Cai, đường xuyên Á và đường Hồ Chí Minh đang khởi động xây dựng Đường thủy có cảng Việt Trì (sông Hồng, sông Lô) - là một trong ba (03) cảng sông lớn ở miền Bắc, cảng Yến Mao (Sông Đà), cảng Bãi Bằng (Sông Lô) Phú Thọ còn có tuyến đường sắt dài hơn 100km nối liền Hà Nội, Hải Phòng, Yên Bái, Lào Cai và Côn Minh, Vân Nam (Trung Quốc)
b) Thủy lợi
Trên địa bàn tỉnh Phú Thọ hiện có 2.026 công trình tưới, trong đó có 1.341 hồ, đập dâng, 432 phai dâng, 222 trạm bơm tưới và nhiều công trình tạm Năng lực tưới hiện tại đảm bảo tưới cho 29.500/36.500ha lúa chiêm,
Trang 27chiếm đạt 80,8%; 26.300/33.100ha lúa mùa, đạt 79,6%; 2.100/14.100ha diện tích màu, đạt 15%
Hệ thống kênh tưới hiện có 3.907km kênh các loại, 79,4km đường ống dẫn nước, đều là kênh đất và có mặt cắt hình thang; trong đó kênh cấp I, II là 733km (đã kiên cố hóa 431km); kênh cấp III là 3.173km (đã kiên cố hóa 785km)
Phú Thọ có 13 trạm bơm chuyên tiêu, 31 trạm bơm tưới tiêu kết hợp
đảm bảo tiêu động lực cho 7.300ha và nhiều ngòi tiêu, kênh tiêu đảm bảo tiêu
tự chảy cho 135.100ha
c) Hệ thống điện
Hiện nay hệ thống điện ở Phú Thọ rất ổn định và điện lưới quốc gia đã
được đưa tới 100% xã trong tỉnh bảo đảm đủ điện cho sản xuất và sinh hoạt
Đông Bắc giáp tỉnh Sơn La, phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam nước Cộng hoà
nhân dân Trung Hoa với đường biên giới dài 38,5 km; phía Tây - Tây Nam giáp với tỉnh Luông Pha Băng và Phong Sa Lỳ nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, với đường biên giới dài 360 km
b) Địa hình
Điện Biên có địa hình phức tạp, độ dốc lớn, mức độ chia cắt ngang và chia cắt sâu lớn; được cấu tạo bởi những dãy núi cao và các thung lũng, sông suối nhỏ, hẹp và dốc phân bố khắp nơi trong địa bàn tỉnh Núi cao tập trung ở phía Nam, thuộc ranh giới huyện Điện Biên, Điện Biên Đông và Tuần Giáo
Đó là các dãy núi thượng nguồn sông Mã và Nậm Rốm, đỉnh cao nhất là Pú
Trang 28Huổi Luông (2.178 m), núi Pho Thông (1.908m), Nậm Khẩu Hú (1.747 m), dãy núi Hồ Nậm Nghèn (1.395 m) Xen giữa núi và cao nguyên là các thung lũng hoặc lòng chảo có bề mặt tương đối bằng phẳng, những dạng địa hình này chiếm phần diện tích không lớn Đáng chú ý nhất là lòng chảo Điện Biên Phủ rộng khoảng 150.000 ha với bề mặt bằng phẳng, có nguồn gốc tích tụ trầm tích tạo nên cánh đồng Mường Thanh Đây là cánh đồng rộng nhất trong
4 cánh đồng vùng Tây Bắc (nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc) với diện tích hơn 4.000 ha lúa nước, là vùng lúa trọng điểm của tỉnh Bên cạnh đó, huyện Tuần Giáo cũng có nhiều cánh đồng có khả năng thâm canh và tăng năng xuất lúa nước Các cao nguyên Si Pa Phìn (Mường Chà), Tả Phình (Tủa Chùa) thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi đại gia súc
c) Khí hậu
Điện Biên có khí hậu nhiệt đới gió mùa, vùng núi mùa đông lạnh Suốt mùa đông duy trì một tình trạng khô hanh điển hình của khí hậu gió mùa, còn mùa hè nhiều mưa Nét đặc trưng khí hậu ở tỉnh là sự phân hoá đa dạng theo dạng địa hình và theo mùa
Điện Biên có nhiều nắng, khoảng 1.820 - 2.035 giờ/năm; 115 - 215 giờ/tháng Ba tháng (3 - 5) có nhiều nắng nhất, đạt từ 145- 220 giờ/ tháng Ba tháng mùa mưa (6 - 8) có ít nắng nhất, tuy nhiên vẫn có khoảng 115 - 142 giờ/ tháng
d) Thủy văn
Đặc điểm về thuỷ văn ở Điện Biên là hệ quả của điều kiện địa lý, khí hậu và địa hình Điện Biên nằm ở khu vực đầu nguồn 3 con sông lớn là sông
Đà, sông Mã và sông Mê Kông Trong đó riêng lưu vực sông Đà trên các
huyện Mường Nhé, Mường Chà, Tủa Chùa, Tuần Giáo và thị xã Mường Lay
có diện tích khoảng 5.300 km2 chiếm 55% diện tích tự nhiên toàn tỉnh
e) Đặc điểm đất đai
Trang 29Đất đai tỉnh Điện Biên phong phú, đa dạng với nhiều quá trình hình thành khác nhau Theo nguồn gốc phát sinh có thể chia thành 7 nhóm chính,
đó là: Đất phù sa (12.622,13ha), đất đen vùng nhiệt đới (95,22 ha), đất đỏ
vàng hay còn gọi là đất Feralit (629.806,26 ha), đất mùn - vàng đỏ trên núi (291.818,08 ha), đất mùn Alít trên núi cao (1.136,35 ha), đất đỏ vàng biến đổi
do trồng lúa nước (1.467,04 ha) và đất dốc tụ (1.460,64 ha)
2.3.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
a) Dân số dân tộc
Dân số năm 2007 là 468.282 người, trong đó dân tộc Thái 40,4%, dân tộc H’Mông 28,8%, dân tộc Kinh chiếm khoảng 19,7%, còn lại là các dân tộc khác như: Khơ Mú, Dao, Hà Nhì, Hoa, Kháng, Mật độ dân số là 49 người/km2
b) Lao động
Hiện nay số lao động làm việc trong các ngành kinh tế của tỉnh là 251.125 người chiếm 51,4% dân số
c) Hiện trạng sử dụng đất
Điện Biên có tổng diện tích tự nhiên là 956.290,4 ha, trong đó diện tích
đất đang sử dụng vào sản xuất nông, lâm nghiệp 740.592,2 ha chiếm 77,74% Đất phi nông nghiêp là 20.693,1 ha chiếm 2,16% Đất chưa sử
Trang 30b) Giáo dục
- Năm học 2007 - 2008 toàn tỉnh có 372 trường với 6.220 lớp và 136.384 học sinh
- Đào tạo chuyên nghiệp và dạy nghề:
- Qui mô học sinh đầu năm học 2007 - 2008 của 3 trường chuyện nghiệp
là 3.645 học viên (chỉ tính hệ chính quy)
- Năm 2007 đã cấp bằng tốt nghiệp cho 1.470 sinh viên
- Đào tạo nghề: 3 cơ sở đào tạo nghề đã đào tạo được 4.424 học viên,
trong đó đào tạo hệ dài hạn 4.000 học viên
2.3.2.4 Hiện trạng cơ sở hạ tầng kĩ thuật
a) Giao thông
Hệ thống giao thông đường bộ, gồm:
- Quốc lộ 6A: Từ Hà Nội đến thị xã Mường Lay dài 474 km, trong đó
đoạn chạy qua tỉnh dài khoảng 120km
- Quốc lộ 12: Từ thành phố Điện Biên Phủ đến cửa khẩu Ma Lu Thàng dài 195 km
- Quốc lộ 279: Từ Tuần Giáo qua thành phố Điện Biên Phủ đến cửa khẩu Tây Trang dài 117 km
- Ngoài các tuyến đường quốc lộ, các cửa khẩu lối liền Điện Biên với các tỉnh và các nước Lào - Trung Quốc còn có hệ thống giao thông liên huyện liên xã đáp ứng tốt nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa của nhân dân
c) Hệ thống điện
Nguồn điện: Toàn tỉnh hiện có 6 nhà máy thủy điện vừa và nhỏ với tổng công suất phát là 18,14 MW Hiện đang tiến hành khởi công xây dựng thêm 3 nhà máy thủy điện với tổng công suất phát là 55,4 MW
Mạng lưới điện bao gồm:
Trang 31+ Lưới truyền tải: đường dây 110 KV là 73,73 km; trạm 110KV là 2/2/41 (trạm/máy/MVA)
+ Lưới phân phối: tổng số đường dây 35-22-10-6 KV là 899,91 km; trạm biến áp phân phối 35-22-10-6/0,4 KV là 336/336/36,2 (trạm/máy/MVA) + Đường dây hạ thế 0,4 KV là 662,3 km
Trang 32Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng ngiên cứu của đề tài là cây Bương lông điện biên
3.2 Nội dung nghiêncứu
3.2.1 Điều tra đặc điểm phân bố cây Bương lông điện biên theo độ cao (
độ cao tuyệt đối, độ cao tương đối)
3.2.2 Nghiên cứu xác định đặc điểm phân bố cây Bương lông theo vùng sinh thái
3.2.3 Nghiên cứu đặc điểm phân bố tại chỗ cây Bương lông Điện Biên 3.2.4 Đề xuất vùng phân bố và điều kiện gây trồng cây bương lông điện biên
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Địa điểm điều tra khảo sát phân bố tại 3 xã Mường Phăng, Nà Tấu và
Nà Nhạn thuộc huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên với xã Chân Mộng, huyện
Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ
Lập OTC và dung lượng mẫu:
+ OTC phải bố trí tại các vị trí có tính đại diện cao ở khu vực nghiên cứu Địa hình trong ô phải tương đối đồng đều, các loài cây phân bố đồng
Trang 33đều, cây sinh trưởng bình thường, OTC không đi qua các khe, qua đỉnh hoặc
có đường mòn hay ô tô chạy qua
+ Phương pháp lập OTC: sử dụng địa bàn, thước dây để đo đạc Để thuận lợi cho việc đo đếm đề tài tiến hành lập OTC vói chiều dài cùng với
đường đồng mức, chiều rộng vuông góc với đường đồng mức, chiều rộng
vuông góc với đường đồng mức
- Điều tra nguồn nguyên liệu: diện tích (tổng diện tích ước tính,quy mô trồng tập trung hay phân tán), sản lượng khai thác hàng năm; điều kiện khai thác và vận chuyển, cự li vận chuyển Chất lượng nguyên liệu: chiều dài,
đường kính, tuổi cây, khuyết tật Kết quả điều tra ghi vào phụ biểu 01
- Điều tra theo tuyến ngẫu nhiên, khảo sát bằng phương pháp lập OTC
điển hình tạm thời hoặc khảo sát các hộ gia đình trên những diện tích trồng
Bương lông điện biên có ở dạng lập địa khác nhau, diện tích mỗi OTC 1.000
m2, tổng số 30 OTC trên đó điều tra đo đếm:
• Xác định một số đặc điểm sinh thái nơi trồng: vị trí gây trồng (chân, sườn, đỉnh, khe), độ cao so với mặt nước biển, vùng sinh thái
• Xác định sinh trưởng: đo toàn bộ số khóm trong OTC, mỗi khóm
đo 2/3 số cây trong khóm, đo đường kính ở vị trí 1,3 m và đo
chiều cao bằng thước đo cao, số cây trong bụi, mật độ hiện tại, biện pháp kỹ thuật trồng, chăm sóc khai thác Kết quả ghi vào phụ biểu 01
3.4.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn
Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA)
để thu thập thông tin về năm trồng, nguồn gốc cây con, mật độ trồng, kỹ thuật
trồng, kỹ thuật bón phân đã áp dụng và giá trị sử dụng của cây Bương lông
điện biên trong gia đình cũng như trong công nghiệp hoặc tiểu thủ công
nghiệp