Ôn tập môn tài chính công 2, 3 tín chỉ, ngành Tài chính-Ngân hàng, Đại học Kinh tế Quốc dân. Tài liệu tự tổng hợp để ôn thi. Đảm bảo chất lượng.
Trang 1Table of Contents
Câu 1: Các quan điểm về cân đối ngân sách, nêu và nhược điểm của các quan điểm trên Việt Nam
hiện nay đang áp dụng những quan điểm nào lấy số liệu minh họa 2
I/ Các quan điểm cân đối ngân sách 2
1 Quan điểm ngân sách cân bằng 2
2 Quan điểm về ngân sách chu kỳ 2
3 Quan điểm về ngân sách thâm hụt 3
4 Quan điểm về ngân sách duy nhất và hai ngân sách 4
II/ Quan điểm về cân đối NS ở Việt Nam hiện nay 4
Thực trạng cân đối NSNN: 5
Câu 2 Thâm hụt ngân sách nhà nước và đo lường thâm hụt ngân sách 6
nhà nước ở Việt Nam 6
Câu 3: Nguyên nhân thâm hụt ngân sách, Thực trạng 7
Nguyên nhân thâm hụt NSNN ở một số quốc gia trên thế giới 9
Thực trạng nguyên nhân dẫn đến thâm hụt NSNN ở Việt Nam 10
Câu 5 Tổ chức cân đối ngân sách ở Việt Nam 14
Câu 6 Bội chi ngân sách nhà nước 15
Câu 7 Phân tích cách tính BCNSNN ở Việt Nam hiện nay và đánh giá 17
Câu 8: Biện pháp khắc phục BCNSN, lien hệ VN 20
Câu 9 Quan điểm về nợ công? Thực tiễn quản lý nợ công ở VN 22
Câu 10 Thực trạng và xu hướng cơ cấu thu chi NSNN 2005-2015 24
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ CẢI THIỆN THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 26
Định hướng cân đối NSNN trong thời gian tới: 26
Các biện pháp bù đắp bội chi NSNN Các đảm bảo vấn đề cân đối NSNN 27
Những kiến nghị cải thiện nhằm đảm Nh bảo vấn đề cân bằng thu – chi NSNN 27
Một số giải pháp đặt ra nhằm tăng cường tính bền vững của ngân sách trong thời gian tới: 27
Câu 11: Cải cách cơ cấu thu ngân sách ở Việt Nam 30
12 Phân tích lạm phát có ảnh hưởng như thế nào tới NSNN ở Việt Nam 32
14 Chi NSNN là tấm gương phản chiếu sự lựa chọn đường lối phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia? Hãy phân tích 33
Trang 2Câu 1: Các quan điểm về cân đối ngân sách, nêu và nhược điểm của các quan điểm trên Việt Nam hiện nay đang áp dụng những quan điểm nào lấy số liệu minh họa I/ Các quan điểm cân đối ngân sách
1 Quan điểm ngân sách cân bằng.
“Mỗi năm số thu phải ngang bằng với số chi” Quan điểm này bao gồm hai nguyên tắc
cơ bản: Một là, tổng số những khoản chi không được quá tổng số những khoản thu Hai
là, tổng số những khoản thu của NS không bao giờ được lớn hơn tổng số những khoản
chi của NS Ngoài ra, thuyết này còn đòi hỏi NSNN phải cân bằng ngay cả khi lập dự toán và trong quá trình thực hiện
- Trong một số trường hợp, Thâm hụt hay Bội chi ngân sách là tốt
- Việc cân bằng NS cả trong khâu lập dự toán lẫn trong khâu thực hiện,
và đảm bảo tổng thu bằng tổng chi là rất khó khăn vì thu chi NSNN phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: tình hình kinh tế, chính trị xã hội
- Nhà nước không có vai trò thực sự trong việc đảm bảo cân đối thu chi NSNN
- Để NS cân bằng tuyệt đối, Nhà nước phải tăng thu hoặc giảm chi Tuy nhiên cả hai phương pháp trên đều kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế
2 Quan điểm về ngân sách chu kỳ
Quan điểm này cho rằng NSNN không cần cân bằng hàng năm mà nên cân bằng theo chu
kỳ, vì nền kinh tế phát triển theo chu kỳ, có thời kỳ tăng trưởng, có thời kỳ suy thoái Theo quan điểm này thì nó được áp dụng trong giai đoạn phồn thịnh hay nền kinh tế đangtăng trưởng và việc cân bằng ngân sách nên theo chu kỳ tức là trong ngắn hạn nên biện
2
Trang 3pháp tài trợ thâm hụt NS phù hợp sẽ là: giảm chi tiêu công, tăng thuế và kiện toàn hệ thống thuế, vay nợ.
- Giúp nhà nước thực hiện được các chính sách kinh tế phù
hợp với từng giai đoạn
- Vẫn tuân thủ nguyên tắc cân đối giữa số thu và số chi
trong NSNN
- Hạn chế việc sử dụng số bội thu vào những việc không
cần thiết
- Tạo lập quỹ dự trữ trong giai đoạn phồn thịnh để dự
phòng cho những năm thiếu hụt của thời kỳ suy thoái
- Thực hiện thâm hụt ngân sách để kích thích nền kinh tế
phục hồi và phát triển
- Thực hiện cân đối thu chitheo chu kỳ vẫn còn gặp nhiều khó khăn
- Làm cho nền kinh tế phát triển chậm lại
- Muốn cho nền kinh tế phát triển đạt mức tiên tiếncủa thế giới cần phải biết chấp nhận thâm hụt ngân sách
3 Quan điểm về ngân sách thâm hụt.
Thâm hụt ngân sách, tức số chi vượt số thu ngân sách trong năm tài chính, sẽ được thực hiện nhằm thúc đẩy hoạt động kinh tế đang trong tình trạng trì trệ Tuy nhiên, thâm hụt ngân sách cố ý sẽ có thể mang lại hậu quả nguy hại là gây ra lạm phát Nhưng những
người ủng hộ thuyết này cho rằng “sự phục hồi kinh tế sẽ đem lại nguồn để NSNN trở về
tình trạng cân bằng và đẩy lùi lạm phát”.
- Thúc đẩy kinh tế, giảm gánh nặng
ngân sách
- Phù hợp trong giai đoạn kinh tế suy
thoái, biện pháp tài trợ thâm hụt ngân
sách phù hợp: giảm chi tiêu công, vay
nợ (vay nợ nước ngoài), phát hành
tiền
- Nhờ kích cầu hiệu quả, kinh tế sẽ dần
dần hồi phục và khi đó nhà nước sẽ
- Hậu quả: có thể gây ra lạm phát
- Việc vay nợ trong nước là không thích hợp (Bởi nếu chính phủ huy động được nhiều tiền trong dân thì phần tiền còn lại dành cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của khu vực ngoài quốc doanh sẽ giảm đi)
- Khu vực doanh nghiệp và dân cư sẽ mất đi một nguồn vốn tương ứng có khả năng dành cho đầu tư phát triển kinh tế Vay trong nước để
Trang 4dần cắt giảm chi tiêu Mặt khác, khi
nên kinh tế bước sang giai đoạn hưng
thịnh, thuế sẽ đánh một cách lũy tiến
Kết quả là tránh được lạm phát cao và
NSNN sẽ cân bằng
bù đắp thâm hụt ngân sách luôn chứa đựng nguy cơ kìm hãm các hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế
- Có thể gây tác động tiêu cực đến mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế và xã hội
4 Quan điểm về ngân sách duy nhất và hai ngân sách.
Các nhà kinh tế học cổ điển rất tôn trọng nguyên tắc một ngân sách duy nhất để thuận tiện cho việc thiết lập, thi hành và kiểm soát ngân sách về sau Trong khi đó, các nhà kinh
tế học hiện đại lại cho rằng nên thực hiện hai ngân sách, có nghĩa là NSNN nên chia thành 2 bộ phận: ngân sách điều hành để đảm bảo hoạt động của guồng máy nhà nước và ngân sách đầu tư để tham gia vào lĩnh vực sản xuất đặc biệt của nhà nước Về nguồn tài trợ, vì ngân sách điều hành không tạo ra thu nhập nên phải tài trợ bằng các khoản thu không hoàn lại Trong khi ngân sách đầu tư có tạo ra thu nhập thì nên có thể được tài trợ bằng khoản vay trong hay ngoài nước
II/ Quan điểm về cân đối NS ở Việt Nam hiện nay
Hiện nay nền kinh tế của chúng ta đang trong giai đoạn thoát ra khỏi tình trạng suy thoái, như vậy có thể ngầm hiểu rằng chúng ta đang theo quan điểm thứ 3 về cân đối NSNN Hoặc là, nhà nước chọn giảm thâm hụt ngân sách, kiềm chế lạm phát là mục tiêu chiến lược bao trùm tất cả các mục tiêu khác, tiến tới cân bằng ngân sách thì sẽ duy trì được thế ổn định của nền tài chính nhưng con đường phát triên kinh tế bị chậm lại Hoặc
là, lấy công nghiệp hóa - hiện đại hóa làm mục tiêu trọng yếu để phát triển kinh tế, thì mục tiêu kiềm chế thâm hụt ngân sách phải đặt xuống hàng thứ yếu cho đến khi năng suấtlao động xã hội tăng lên đạt tới mức tiên tiến của thế giới thì phải chấp nhận quan điểm thâm hụt ngân sách
Thực trạng cân đối NSNN:
Xuyên suốt giái đoạn 2009 - 2012, nước ta luôn trong tình trạng bội chi ngân sách
Cụ thể tỷ lệ bội chi ngân sách so với GDP luôn ở mức cao: (>5% ) 5,36% năm 2012; 4,4% năm 2011; 5,5% năm 2010 và 6,9% trong năm 2009 Trừ năm 2011 với tỷ lệ 4,4%,
4
Trang 5các năm còn lại tỷ lệ bội chi ngân sách quyết toán luôn lớn hơn mức tỷ lệ dự toán Đặc biệt là năm 2009 và 2010 khi trong 2 năm này tình hình lạm phát và suy thoái kinh tế đang diễn ra trên toàn thế giới, khiến giá hàng hóa, nguyên vật liệu đầu vào tăng mạnh đồng thời kỳ vọng về phát triển kinh tế giảm Quan điểm của Nhà nước về cân đối
NSNN đó là giảm chi tiêu công và tỷ trọng vay nợ nước ngoài, ưu tiên bù đắp bội chi bằng các khoản vay trong nước và bằng phát hành trái phiếu - đây cũng chính là quan điểm phù hợp với nền kinh tế dần thoát ra khỏi lạc hậu và vươn lên phát triển công
nghiệp hóa như ở nước ta
Mức bội chi ngân sách năm 2013 là 236.769 tỷ đồng, bằng 6,6% tổng sản phẩm trong nước (GDP) Năm 2014 dự toán bội chi ngân sách bằng 5,3% GDP Năm 2015, bội chi ngân sách được điều hành trong phạm vi Quốc hội quyết định là 226 nghìn tỷ đồng, tương đương 5% GDP Tổng chi ngân sách Nhà nước 5 năm 2011-2015 xấp xỉ mục tiêu 5năm đã đặt ra Quy mô chi năm 2015 ước tăng trên 70% so với năm 2010 Tỷ trọng tổng chi so GDP giảm dần từ mức trên 30% GDP năm 2010 xuống khoảng 26% GDP năm
2015 Trong khi đó, tổng chi NSNN (không bao gồm chi trả nợ gốc) năm 2016 theo dự toán tăng tới 11,23% so với thực hiện năm 2015 Nhiệm vụ giữ bội chi NSNN năm 2016 không quá 4,95% GDP theo chuẩn Việt Nam và 3,85% theo chuẩn quốc tế không hề dễ dàng Rõ ràng, siết chặt kỷ luật tài khóa, đặc biệt là kỷ luật chi NSNN là vấn đề cấp thiết
và quan trọng nhất đối với Việt Nam hiện nay nhằm giảm áp lực cân đối NSNN và giảm nhẹ gánh nặng nợ nần cho tương lai
Trang 6Câu 2 Thâm hụt ngân sách nhà nước và đo lường thâm hụt ngân sách
nhà nước ở Việt Nam
a Khái niệm:
Thâm hụt ngân sách (hay còn gọi là bội chi ngân sách nhà nước) là tình trạng các khoản chi của ngân sách nhà nước lớn hơn các khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách
b Phân loại:
* Thâm hụt cơ cấu: Là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng,…
* Thâm hụt chu kì: là khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kì kinh tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân
3 Nguyên nhân dẫn đến thâm hụt ngân sách nhà nước
a Nguyên nhân khách quan:
* Do tác động của chu kì kinh doanh:
* Do tác động của thiên tai chiến tranh, dịch bệnh làm giảm thu, tăng chi dẫn đến thâm hụt:
b Nguyên nhân chủ quan:
* Do quản lí kém dẫn đến thất thoát nguồn thu:
* Thất thu thuế:
* Đầu tư công kém hiệu quả:
* Động cơ tham nhũng dẫn đến những vi phạm về quản lí, kéo theo hậu quả lãng phí ngân sách nhà nước
* Do tác động của chính sách cơ cấu thu chi của nhà nước:
* Do cơ cấu thu chi bất hợp lí:
6
Trang 7* Chưa chú trọng mối quan hệ giữa chi đầu tư và chi thường xuyên:
* Chi ngân sách nhà nước tăng cao không tương ứng với khoản thu:
4 Tác động của thâm hụt ngân sách
* Tăng gánh nặng nợ nần của quốc gia:
III Giải pháp cho thâm hụt Ngân sách nhà nước
1 Phát hành tiền
2 Tăng thu giảm chi
3 Vay nợ: vay trong nước và vay nước ngoài
4 Sử dụng dự trữ ngoại tệ
5 Tăng thuế
Câu 3: Nguyên nhân thâm hụt ngân sách, Thực trạng
1 Nhóm nguyên nhân khách quan
1.1 Tác động của chu kì kinh doanh
Trang 8Ở giai đoạn khủng hoảng làm thu nhập của Nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tang lên để giải quyết những khó khăn mới của kinh tế xã hội Điều đó làm mức bội chi NSNNtăng lên.Ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh thu Nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi không phải tăng tương ứng Điều đó làm giảm mức bội chi NSNN Mức bội chi do tác động của chu kì kinh doanh gây ra gọi là mức bôi chi chu kì.
1.2 Do hậu quả của các tác nhân gây ra
Xã hội luôn phải đối mặt với những rủi ro thiên tai, dịch bệnh và đôi khi phải đối mặt với chính những rủi ro do con người gây ra như chiến tranh, khủng bố, tình trạng dân số gia tăng … mặc dù lập dự toán ngân sách NN đã có những biện pháp đề phòng nhưng đôi khinhững rủi ro xảy ra vượt quá dự đoán để xử lí tình trạng khẩn cấp nhằm ổn định các hoạt động kinh tế xã hội, Nhà nước phải tăng chi và điều đó xảy ra ngoài mong muốn của nhà nước
2 Nhóm các nguyên nhân chủ quan
2.1 Do cơ cấu thu chi ngân sách thay đổi
Khi nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức bội chi NSNN Ngược lại khi giảm đầu tư và tiêu dùng của Nhà nước thì mức bội chi sẽ giảm bớt Mức bội chi do tác động của cơ cấu chính sách thu chi đó gọi là bội chi
cơ cấu
2.2 Do quản lí điều hành NSNN không hợp lí
- Thất thu thuế Nhà nước
Thuế là nguồn thu chính và bền vững nhất cho NSNN bên cạnh những nguồn thu khác như tài nguyên, thu từ doanh nghiệp nhà nước, vay, nhận viện trợ…tuy nhiên do hệ thốngpháp luật còn nhiều bất cập, sự quản lí chưa chặt chẽ đã tạo kẽ hở cho cá nhân tổ chức lợidụng để tránh thuế, trốn thuế gây thất thu một nguồn ngân sách đáng kể
Bên cạnh đó việc giãn thuế, giảm thuế và miễn thuế một mặt giúp các doanh nghiệp có thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì mở rộng sản xuất Tuy nhiên việc miễn thuế, giảm thuế hoặc chậm thu làm ảnh hưởng tới các khoản chi ngân sách khác làm thâm hụt NSNN
- Đầu tư công kém hiệu quả
Trong những năm gần đây nước ta đã tiếp nhận một nguồn vốn lớn từ nước ngoài Nhằm đẩy mạnh đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và các công trình trọng điểm quốc gia phục vụlợi ích phát triển của đất nước Tuy nhiên tình trạng đầu tư dàn trải gây lãng phí ngân sách ở địa phương vẫn chưa được khắc phục triệt để, tiến độ thi công những dự án trọng điểm quốc gia còn chậm, chưa hiệu quả gây lãng phí nguồn ngân sách nhà nước và kìm
8
Trang 9hãm sự phát triển của các vùng miền, nguyên nhân chính gây thâm hụt ngân sách Nhà nước.
Cùng với đó nền hành chính công, dịch vụ công của ta kém hiệu quả,càng làm thâm hụt ngân sách thêm trầm trọng
- Nhà nước huy động vốn để kích cầu
Chính phủ kích cầu qua 3 nguồn tài trợ chính đó là: phát hành trái phiếu Chính phủ, miễngiảm thuế, sử dụng quỹ dự trữ Nhà nước Sử dụng gói giải pháp kích cầu một mặt kích thích tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên sẽ làm mức thâm hụt ngân sách cao 8-12% GDP
- Chưa chú trọng giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên
Đây là một trong những nguyên nhân gây căng thẳng về ngân sách áp lực bội chi ngân sách, (nhất là ngân sách các địa phương) Chúng ta có thể thấy thông qua cơ chế phân cấpnguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách và cơ chế bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu ứng với cácnhiệm vụ chi cụ thể và xác định cụ thể trong dự toán ngân sách hằng năm.Vì vậy khi các địa phương vay vốn để đầu tư sẽ đòi hỏi để đảm bảo nguồn chi thường xuyên để bố trí cho việc vận hành các công trình khi hoàn thành và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy trì, bảo dưỡng các công trình làm giảm hiệu quả đầu tư Chính điều đó làm căng thẳng về ngân sách Để có được kinh phí hoặc phải đi vay để duy trì hoạt động hoặc yêu cầu cấp trên để bổ sung ngân sách, cả hai đều gây áp lực bội chi NSNN
- Quy mô chi tiêu của Chính phủ quá lớn
Tăng chi tiêu của chính phủ một mặt giúp nền kinh tế tăng trưởng tạm thời trong ngắn hạn nhưng lại tạo ra những nguy cơ bất ổn lâu dài như lạm phát và rủi ro tài chính do sự thiếu hiệu quả của các khoản chi tiêu công và thiếu cơ chế giám sát đảm bảo sự hoạt độnglành mạnh của hệ thống tài chính Đa số các nhà kinh tế thường thống nhất rằng chi tiêu của chính phủ vượt quá một ngưỡng nào đó sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế gây ra phân bổ nguồn lực một cách không hiệu quả gia tăng thâm hụt NSNN và lạm phát
3 Nguyên nhân thâm hụt NSNN ở một số quốc gia trên thế giới
3.1 Nhật Bản
Tại Nhật Bản, từ thập kỉ 1990 trở đi, tài chính công của Nhật Bản ngày càng đi xuống và trở thành quốc gia có vấn đề tài chính quan trọng nhất trong số các quốc gia phát triển Tuy là nước có nền kinh tế đứng thứ 3 thế giới nhưng Nhật Bản lại là nước có tỉ lệ nợ công cao nhất trong số những nước phát triển, lên tới 10 nghìn tỉ USD gấp đôi GDP (5
Trang 10nghìn tỉ USD) Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF tổng nợ của chính phủ Nhật Bản đã lên tới 229% GDP (2013).
Nguyên nhân thâm hụt là do:
- Sự suy thoái kéo dài và sự suy giảm nguồn thu từ thuế
- Chính phủ thực thi hàng loạt chính sách giảm thuế từ thập niên 90
- Sai lầm trong lý thuyết kinh tế học của Keynes dựa vào bàn tay nhà nước để cải thiện đàphục hồi nền kinh tế
- Sự gia tăng trong chi tiêu phúc lợi xã hội của Chính phủ vì sự già hóa dân số
3.2 Mỹ
Tại Mỹ, hiện nay số nợ của Chính phủ đã lên đến gần 16 nghìn tí USD, tương đương khoảng 104% GDP hằng năm và gấp đôi con số vào năm 1988 Như vậy có nghĩa là hiện nay mỗi người dân Mỹ phải gánh hơn 50 nghìn USD nợ công
Nguyên nhân là do:
- Hiệu quả của các gói kích thích khổng lồ là chưa cao Cuộc khủng hoảng tài chính tiền
tệ đánh dấu bằng sự sụp đổ của thị trường bất động sản 11/2008, Fed tung ra gói kích thích đầu tiên QE1 nhằm thúc đẩy nền kinh tế Đến năm 2011, Tổng thống Obama đã đưa
ra gói kích thích lên tới 447 tỉ USD,
mặc dù các gói kích thích giúp cho nền kinh tế có nhiều khởi sắc tuy nhiên đã làm nợ công phình to, ngân sách thâm hụt, gây bất lợi cho nền kinh tế Mỹ trong dài hạn
- Chính sách thuế bất hợp lý, chủ yếu thuế ở MỸ thấp với mục tiêu kích thích kinh tế tăngtrưởng chứ không theo đuổi chính sách đánh thuế cao với mục đích tăng thu, đồng thời chính sách vay nợ nước ngoài cao để tăng trưởng kinh tế nên ngân sách bị thâm hụt
II Thực trạng guyên nhân dẫn đến thâm hụt NSNN ở Việt Nam
2.1 Do cơ cấu thu chi ngân sách
Nguồn thu NSNN của Việt Nam khá ổn định, dao động trong khoảng 35% - 40% GDP, tuy nhiên trong cơ cấu nguồn thu NSNN Việt Nam, có nhiều khoản thu chủ yếu nhưng lạikhông ổn định có xu hướng giảm do chúng phụ thuộc quá nhiều vào bên ngoài hay là những khoản thu có tính giới hạn Nước ta có ba nguồn thu chủ yếu là thu từ nội địa, thu
từ dầu thô, thu từ viện trợ không hoàn lại Trong đó nguồn thu từ viện trợ không hoàn lại năm 2006 chiếm 0,81% GDP nhưng đến năm 2013 chỉ chiếm 0,31%, như vậy trong giai
10
Trang 11đoạn 2006-2010 giảm từ trung bình 0,61%GDP xuống còn trung bình 0,31% GDP giai đoạn từ 2010-2013 Hay nguồn thu từ dầu thô, dầu thô là 1 lại tài nguyên khoáng sản hữuhạn Từ năm 2006 đến nay tỷ trọng của dầu thô trong GDP liên tục giảm từ 8,56% năm
2006 xuống còn 3,36% năm 2013 Hiện nay, tính đến tháng 1/2016, giá dầu thô đang là 30$/thùng, mức giảm kỷ lục nhất trong vòng 15 năm trở lại đây Với tình trạng hiện nay,
có thể trong vòng vài năm tới, nguồn thu từ dầu thô sẽ không còn là nguồn thu NSNN chủ yếu
Trái ngược lại với nguồn thu NSNN, các nguồn chi chủ yếu của NSNN nhìn chung đều
có xu hướng tăng lên.Nguồn chi NSNN bao gồm chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển Tuy không thể hiện rõ sự tăng mạnh qua các năm nhưng có thể thấy từ năm 2006-
2010, chi thường xuyên chiếm 17,81% trong tổng GDP đến năm 2011-2013, chi thường xuyên chiếm 19,51% tổng GDP Có thể nhận định rằng nguyên nhân của tình trạng thâm hụt cao kéo dài trong nhiều năm qua đó là do tổng chi NSNN quá cao, tổng thu thấp không đủ để bù đắp Tổng chi NSNN của Việt Nam từ năm 2006 đến nay dao động ở khoảng từ 25%-28% GDP (theo thống kê của ADB ) Con số này cao gấp 1.4 lần của Thái Lan và 1.9 lần của Singapore
2.2 Do điều hành ngân sách nhà nước không hợp lý
- Thất thu thuế nhà nước
Do hệ thống pháp luật nước ta còn nhiều bất cập, sự quản lý chưa chặt chẽ đã tạo ra những kẽ hở cho các cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, tránh thuế Việc trốn thuế, tránh thuế ở Việt Nam thường diễn ra dưới nhiều hình thức và ở nhiều loại thuế khác nhau, chẳng hạn như tổ chức cá nhân mua bán hoá đơn đầu vào khống(thuế GTGT); doanh nghiệp không khai báo đầy đủ doanh thu hay khai khống chi phí (thuế TNDN); chuyển dịch thu nhập; lợi dụng những ưu đãi của pháp luật thuế, chuyển giá
Theo số liệu của Bộ Tài chính, hiện nay có khoảng 20-30% trong tổng số doanh nghiệp FDI đang hoạt động trên các địa bàn kê khai có kết quả kinh doanh lỗ liên tiếp trong 2-3 năm, thậm chí là 10 năm, tuy nhiên dù bị lỗ nhưng các doanh nghiệp này vẫn liên tục mở rộng SX-KD và doanh thu liên tục tăng Trường hợp điển hình có những biểu hiện “đáng ngờ” về chuyển giá, phải nói đến Công ty Coca-Cola Việt Nam Trong hơn 20 năm đầu
tư, kinh doanh tại Việt Nam, Coca-Cola liên tục báo lỗ, lỗ lũy kế tính đến 30/9/2011 của công ty này đã lên tới 3.768 tỷ đồng, vượt cả số vốn đầu tư ban đầu là 2.950 tỷ đồng Do
lỗ liên tục như vậy nên Coca-Cola Việt Nam không phải đóng thuế thu nhập DN, trong khi doanh thu liên tục tăng từ 20-30%/năm Tuy lỗ lớn như vậy nhưng DN này đã có kế hoạch đầu tư thêm 300 triệu USD tại Việt Nam
Trong 6 tháng đầu năm 2013, ngành thuế đã thực hiện thanh tra, kiểm tra 18.198 DN, số thuế xử lý tăng thu qua thanh tra, kiểm tra là 3.185,9 tỷ đồng, số tiền nộp vào NSNN là
Trang 122.342,8 tỷ đồng Trong đó, ngành đã thanh tra, kiểm tra 382 DN lỗ, có dâu hiệu chuyển giá, truy thu và truy hoàn phạt 127,24
tỷ đồng, giảm lỗ qua thanh tra là 444,1 tỷ đồng Tuy nhiên đây chỉ là một góc của bức tranh toàn cảnh về thực trạng thất thu thuế ở VN Hiện nay, ngành thuế đã chuyển sang
cơ chế tự khai, tự nộp nhằm khắc phục những hạn chế của các chính sách Nhà nước
- Đầu tư công kém hiệu quả
Đầu tư công có vai trò quan trọng trong việc phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế và xã hội, tạo động lực thúc đẩy phát triển đất nước Phần vốn này được Nhà nướcgiao cho các bộ, ngành và các địa phương, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị và chính trị - xã hội quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật
Tính chung trong giai đoạn 2001 - 2005, tổng vốn đầu tư công đạt khoảng 286 nghìn tỉ đồng, chiếm trên 23% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; trong giai đoạn 2006 - 2010 ước đạt trên 739 nghìn tỉ đồng, khoảng trên 24% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Như vậy, tỷ trọng vốn nhà nước đầu tư cho các dự án công, các chương trình mục tiêu là rất lớn Bên cạnh
đó, trong những năm gần đây, nước ta đã tiếp nhận một lượng vốn rất lớn từ bên ngoài Tuy nhiên trong thực tế, tình trạng đầu tư dàn trải gây lãng phí ở các địa phương vẫn chưa khắc phục triệt để, tiến độ thi công những dự án trọng điểm quốc gia còn chậm và thiếu hiệu quả, cơ cấu đầu tư chưa hợp lý đã gây lẵng phí nguồn ngân sách nhà nước và kiềm hãm sự phát triển của các vùng miền, là nguyên nhân chính gây ra thâm hụt ngân sách nhà nước
Nhìn vào Niên giám Thống kê Việt Nam năm 2010, sẽ thấy cơ cấu vốn đầu tư phát triển
từ ngân sách nhà nước có sự bất cập Trong tổng số vốn là 316.285 tỷ đồng, thì số vốn dành cho phát triển kinh tế chiếm tới 77,1% Còn số vốn đầu tư vào các ngành thuộc lĩnh vực xã hội, liên quan trực tiếp tới phát triển con người lại có chiều hướng giảm, từ 18,6%năm 2000 xuống còn 15,2% năm 2010 Những con số này thể hiện rõ chính sách tập trung đầu tư phát triển kinh tế và tiết giảm đầu tư cho xã hội Đây là một xu thế không hợp quy luật.Điểm bất hợp lý là nhiều ngành quan trọng của đất nước và là tiền đề cho sựphát triển bền vững chiếm tỷ trọng thấp trong nguồn vốn đầu tư Điển hình là: giáo dục
và đào tạo chỉ chiếm 4,28%; khoa học, công nghệ chiếm 1,17% tổng vốn đầu tư năm
2011 Ngược lại, những ngành có khả năng gây nhiều thiệt hại về môi trường lại chiếm tỷtrọng lớn trong nguồn vốn đầu tư của nhà nước, như ngành khai thác mỏ chiếm từ 6%-9% trong tổng vốn đầu tư năm 2011
- Nhà nước huy động vốn để kích cầu
Chính phủ kích cầu qua 3 nguồn tài trợ chính: Phát hành trái phiếu chính phủ, miễn giảm thuế và sử dụng quỹ dự trữ nhà nước
12
Trang 13Tài trợ thông qua phát hành trái phiếu trong nước có thể chia thành vay nợ từ công chúnghoặc từ hệ thống các ngân hàng thương mại Giả sử Chính phủ phát hành trái phiếu ra công chúng và dùng số tiền huy động được để tài trợ cho gói kích cầu Việc tài trợ cho gói kích cầu này thông qua vay nợ sẽ đẩy lãi suất lên cao và gây sức ép xấu đến khu vực
tư nhân và tăng trưởng kinh tế
Tài trợ qua miễn, giảm, hoãn, chậm việc thu thuế để doanh nghiệp có nguồn đầu tư Biện pháp nay có những nhược điểm nhất định Thứ nhất, trong tình hình bội chi ngân sách như hiện nay (khoảng 5%/năm), việc miễn giảm thuế và chậm thu sẽ ảnh hưởng đến các khoản chi ngân sách khác và hạn chế tác động của việc kích cầu Thứ hai, tổng nguồn thu
từ thuế thu nhập doanh nghiệp hiện nay vào khoảng 100 ngàn tỷ đồng, do vậy lượng thuế
mà các doanh nghiệp được hưởng miễn, giảm, hay chậm thu sẽ không nhiều
Sử dụng quỹ dự phòng để tài trợ cho gói kích cầu thì quyết toán ngân sách nhà nước các năm cho thấy nguồn quỹ dự phòng là quá nhỏ so với gói kích cầu
Chính phủ có thể kết hợp các nguồn tài trợ nói trên để tài trợ cho gói kích cầu, với giả định Chính phủ tiếp tục duy trì cơ cấu các khoản thu - chi khác và mức thâm hụt ngân sách hàng năm như hiện nay, và tìm các nguồn khác để tài trợ cho gói kích cầu Tuy nhiên để huy động nguồn tài trợ này Chính phủ
phải chấp nhận mức thâm hụt NSNN là 7-10% (Theo phân tích của nhóm nghiên cứu từ Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách về nguồn tài trợ cho gói kích cầu 1 tỷ USD)
- Chưa chú trọng đến cơ cấu chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên
Đây là một trong các nguyên nhân gây căng thẳng về ngân sách, áp lực bội chi ngân sách
Có thể thấy rằng cơ cấu chi thường xuyên bao gồm rất nhiều lĩnh vực nhưng trong đó chi cho Quản lý hành chính là lớn nhất trung bình chiếm khoảng 10% trên tổng chi thường xuyên, điều đó cũng chứng tỏ bộ máy nhà nước quá cồng kềnh, và một số bộ phận sở hữunguồn lực tương đối lớn Việc đầu tư cho giáo dục và y tế (2 ngành mà bất cứ nước nào cũng phải phát triển nhất) có lẽ cũng chưa thực sự được đầu tư một cách công bằng và xuyên suốt Trung bình chi cho giáo dục chỉ là xấp xỉ 4,5% cho y tế chưa tới 3% tính trêntổng chi Con số này chưa nói lên tất cả nhưng một phần đánh giá tương đối đúng về thựctrạng nền giáo dục và y tế ở nước ta hiện nay Chúng ta có thể thấy, thông qua các cơ chế phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các ngân sách và cơ chế bổ sung ngân sách từ cấp trên cho cấp dưới Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu ứng với các nhiệm vụ chi cụ thể và đước xác đinh cụ thể trong dự toán hằng năm Vì vậy, khi các địa phương vay vốn để đầu tư sẽ đòi hỏi đảm bảo nguồn chi thường xuyên để bố trí cho việc vận hành các công trình khi hoàn thảnh và khi đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu, bảo dưỡng các công trình, làm giảm hiệu quả đâu tư Chính điều đó luôn tạo sự căng thẳng về ngân sách Để có nguồn kinh phí hoặc phải đi vay để duy trì hoạt động hoặc yêucầu cấp trên bổ sung ngân sách, cả 2 trường hợp đều tạo áp lực bội chi NSNN
Trang 15Câu 5 Tổ chức cân đối ngân sách ở Việt Nam
(nguyên tắc, biện pháp) theo luật NSNN 2015)
1, Nguyên tắc
1.1 Các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật được tổng hợp đầy đủ vào cân đối ngân sách nhà nước, theo nguyên tắc không gắn với nhiệm vụ chi cụ thể Trường hợp có khoản thu cần gắn với nhiệm vụ chi cụ thể theo quy định của pháp luật thì được bố trí tương ứng từ các khoản thu này trong dự toán chi ngân sách để thực hiện Việc ban hành chính sách thu ngân sách phải bảo đảm nguyên tắc cân đối ngân sách trong trung hạn, dài hạn và thực hiện các cam kết về hội nhập quốc tế
1.2 Ngân sách nhà nước được cân đối theo nguyên tắc tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích lũy ngày càng cao để chi đầu tư phát triển; trường hợp còn bội chi thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, tiếntới cân bằng thu, chi ngân sách; trường hợp đặc biệt Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định Trường hợp bội thu ngân sách thì được sử dụng để trả nợ gốc và lãi các khoản vay của ngân sách nhà nước
1.3 Vay bù đắp bội chi ngân sách nhà nước chỉ được sử dụng cho đầu tư phát triển, không sử dụng cho chi thường xuyên
1.4 Bội chi ngân sách trung ương được bù đắp từ các nguồn sau:
a) Vay trong nước từ phát hành trái phiếu chính phủ, công trái xây dựng Tổ quốc và các khoản vay trong nước khác theo quy định của pháp luật;
b) Vay ngoài nước từ các khoản vay của Chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế và pháthành trái phiếu chính phủ ra thị trường quốc tế, không bao gồm các khoản vay về cho vaylại
1.5 Bội chi ngân sách địa phương:
a) Chi ngân sách địa phương cấp tỉnh được bội chi; bội chi ngân sách địa phương chỉ được sử dụng để đầu tư các dự án thuộc kế hoạch đầu tư công trung hạn đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định;
b) Bội chi ngân sách địa phương được bù đắp bằng các nguồn vay trong nước từ phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, vay lại từ nguồn Chính phủ vay về cho vay lại
và các khoản vay trong nước khác theo quy định của pháp luật;
Trang 16c) Bội chi ngân sách địa phương được tổng hợp vào bội chi ngân sách nhà nước và do Quốc hội quyết định Chính phủ quy định cụ thể điều kiện được phép bội chi ngân sách địa phương để bảo đảm phù hợp với khả năng trả nợ của địa phương và tổng mức bội chi chung của ngân sách nhà nước.
1.6 Mức dư nợ vay của ngân sách địa phương:
a) Đối với thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh không vượt quá 60% số thu ngânsách địa phương được hưởng theo phân cấp;
b) Đối với các địa phương có số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp lớnhơn chi thường xuyên của ngân sách địa phương không vượt quá 30% số thu ngân sách được hưởng theo phân cấp;
c) Đối với các địa phương có số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp nhỏhơn hoặc bằng chi thường xuyên của ngân sách địa phương không vượt quá 20% số thu ngân sách được hưởng theo phân cấp
2 Biện pháp
- Khống chế số bội chi NSNN luôn nhỏ hơn chi đầu tư phát triển Do nhu cầu đầu tư nhà nước lớn làm cho ngân sách nhà nước bội chi, việc tìm kiếm nguồn bù đắp thâm hụt ngânsách nhà nước cũng chính là việc tìm kiếm nguồn vốn đầu tư cho phát triển
- Bội chi ngân sách nhà nước được bù đắp bằng nguồn vay trong nước và ngoài nước Vay bù đắp bội chi ngân sách nhà nước không sử dụng cho tiêu dùng, chỉ sử dụng cho mục đích phát triển và bảo đảm bố trí ngân sách để chủ động trả hết nợ khi đến hạn
- Ngân sách địa phương được cân đối sao cho tổng số chi không vượt quá tổng số thu; trường hợp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có nhu cầu đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi ngân sách cấp tỉnh bảo đảm, thuộc danh mục đầu tư trong
kế hoạch 5 năm đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định, nhưng vượt quá khả năng cân đối của ngân sách cấp tỉnh năm dự toán, thì được
phép huy động vốn trong nước và phải cân đối ngân sách cấp tỉnh hàng năm để chủ động trả hết nợ khi đến hạn Mức dư nợ từ nguồn vốn huy động không vượt quá 30% vốn đầu
tư xây dựng cơ bản trong nước hàng năm của ngân sách cấp tỉnh
Câu 6 Bội chi ngân sách nhà nước
1 Khái niệm bội chi ngân sách nhà nước
16
Trang 17Bội chi NSNN là tình trạng chi NSNN vượt quá chi dự toán trong một năm tài khóa, là hiện tượng NSNN không cân đối thể hiện trong sự thiếu hụt giữa cung và cầu về nguồn lực tài chính của nhà nước.
2 Nguyên nhân bội chi ngân sách
2.1 Các nguyên nhân khách quan
-Do kinh tế suy thoái mang tính chu kỳ: Do nền kinh tế suy thoái và khủng hoảng, của cảivật chất tạo ra ít, năng suất lao động của xã hội thấp, thất nghiệp gia tăng, làm cho nguồn thu vào ngân sách nhà nước bị giảm sút, nhưng nhu cầu chi tiêu lại gia tăng để giải quyết những vấn đề khó khăn mới về kinh tế- xã hội như: trợ cấp xã hội, các khoản chi để phục hồi nền kinh tế,… đồng thời nhà nước còn chi tiền để phục hồi nền kinh tế Điều đó dễ dẫn đến tình trạng thu không đủ chi và ngân sách nhà nước bị thâm hụt
-Thiên tai, tình hình bất ổn của an ninh thế giới: Tình hình bất ổn của an ninh thế giới và diễn biến phức tạp của thiên tai sẽ làm gia tăng nhu cầu chi cho quốc phòng và an ninh trật tự xã hội, gia tăng nhu cầu chi NSNN để khắc phục hậu quả của thiên tai
2.2 Các nguyên nhân chủ quan
-Do quản lý và điều hành NSNN bất hợp lý: Quản lý và điều hành NSNN bất hợp lý đượcthể hiện qua việc đánh giá và khai thác nguồn thu chưa tốt; phân bổ và sử dụng NSNN còn nhiều bất cập, gây thất thoát, lãng phí nguồn lực tài chính nhà nước; phân cấp quản lýNSNN chưa khuyến khích địa phương nỗ lực trong khai thác nguồn thu và phân bổ chi tiêu hiệu quả Kết quả là thu NSNN không đủ để trang trải nhu cầu chi tiêu
-Do nhà nước chủ động sử dụng bội chi như một công cụ của chính sách tài khóa để kích cầu -chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng tạo sự tăng trưởng cho nền kinh tế,khắc phục tình trạng suy thoái của nền kinh tế
-Do cách đo lường bội chi ngân sách Ở Việt Nam hiện nay, cách tính bội chi khác với thông lệ quốc tế ở điểm là Việt Nam tính vào chi NSNN tất cả các khoản chi trả nợ cả gốc và lãi Cách tính này cho kết quả định lượng bội chi cao hơn so với cách tính không bao gồm trả nợ gốc
3 Thực trạng bội chi ngân sách
Trong những năm 2011-2015, tỉ lệ thâm hụt ngân sách ở Việt Nam luôn nằm ở ngưỡng trên dưới 5.5% GDP và có xu hướng không ổn định Chi ngân sách luôn ở mức cao.Theo kinh nghiệm quốc tế thì trong điều kiện bình thường, thâm hụt ngân sách ở mức 3% GDPđược coi là đáng lo ngại, còn ở mức 5.5% GDP thì bị xem là đáng báo động
Trang 18Năm 2011, giảm bội chi từ 5,3% GDP xuống còn 4,4%, đây là một động thái tích cực Tuy nhiên, mặc dù giảm bội chi song các khoản chi ứng trước, nợ tạm ứng, thiếu hụt nguồn hoàn thuế đã làm cho kết quả giảm bội chi không có nhiều ý nghĩa về tài khoá.Bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2012 theo báo cáo quyết toán là 173.815 tỷ đồng (5,36% GDP).Chi thường xuyên vẫn còn lãng phí, chi sai chế độ quy định, không đúng mục đích đang có dấu hiệu gia tăng tại các địa phương.Nguyên nhân là do thâm hụt ngân sách và nợ công tăng ở nhiều nước đe dọa đến sự ổn định của nền kinh tế thế giới
Ở trong nước, kinh tế vĩ mô ở nước ta chưa thực sự ổn định, lạm phát và lãi suất đang còn
ở mức cao; thiên tai, bão lũ, dịch bệnh vẫn là những yếu tố phức tạp, khó lường
Mức bội chi ngân sách năm 2013 là 236.769 tỷ đồng, bằng 6,6% tổng sản phẩm trong nước (GDP) Nguyên nhân là do thế giới có sự suy giảm nguồn vốn FDI; suy thoái kinh
tế toàn cầu vẫn diễn ra Ở trong nước, thiếu ổn định về cán cân vĩ mô, sức cầu nền kinh tếcòn yếu đã gây ra tình trạng bội chi NSNN;do tồn kho bất động sản và vật liệu xây dựng lớn.Sức cạnh trang hàng hóa ngày càng khắc nghiệt; thể chế chính sách về thâm hụt NSNN và thu thuế chưa hiệu quả
Năm 2014 dự toán bội chi ngân sách do Bộ Tài chính đưa ra là 224.000 tỷ đồng, bằng 5,3% GDP.Nguyên nhân một phần do tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu vẫn còn
thấp;sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng(việc tham gia đàm phán các hiệp định thương mại tự do: EPA, TPP, EU ), cạnh tranh ngày càng gay gắt; tiềm ẩn nguy cơ lạm phát cao
Trong năm 2015, nguồn thu NSNN bị ảnh hưởng bởi việc giá dầu thế giới liên tục giảm
từ tháng 6/2014 đến nay.Ngoài ra, Chính phủ đã bổ sung số thực hiện vốn
ODA tăng 30.000 tỷ đồng vào cuối năm 2015, tăng bội chi NSNN lên mức 6,11% GDP (dự toán là 5%)
Câu 7 Phân tích cách tính BCNSNN ở Việt Nam hiện nay và đánh giá
1 Phân tích cách tính
Tình trạng mất cân đối của ngân sách nhà nước khi mà thu ngân sách không bù đắp cho chi ngân sách nhà nước trong một thời kỳ nhất định gọi là bội chi ngân sách nhà nước Theo thông lệ quốc tế , có thể tóm tắt báo cáo về ngân sách nhà nước hằng năm như sau :
Bảng : Tóm tắt nội dung cân đối ngân sách nhà nước hằng năm
A Thu thường xuyên ( thuế , phí ,lệ phí ) D Chi thường xuyên
18