Câu 2. Cơ sở thường trúMột doanh nghiệp của Nước ký kết được coi là có cơ sở thường trú tại Việt Nam nếu hội đủ ba điều kiện dưới đây:a) Duy trì tại Việt Nam một “cơ sở” như một tòa nhà, một văn phòng hoặc một phần của tòa nhà hay văn phòng đó, một phương tiện hoặc thiết bị,…; vàb) Cơ sở này có tính chất cố định, nghĩa là được thiết lập tại một địa điểm xác định vàhoặc được duy trì thường xuyên. Tính cố định của cơ sở kinh doanh không nhất thiết phụ thuộc vào việc cơ sở đó phải được gắn liền với một vị trí địa lý cụ thể trong một độ dài thời gian nhất định; vàc) Doanh nghiệp tiến hành toàn bộ hoặc một phần hoạt động kinh doanh thông qua cơ sở này.Câu 3. Đối tượng cư trú của VN3.1. Các cá nhân là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:a) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam;Cá nhân có mặt tại Việt Nam theo quy định tại điểm này là sự hiện diện của cá nhân đó trên lãnh thổ Việt Nam;b) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp sau: Có nơi ở đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú; Có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế.Trường hợp cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo quy định tại điểm này nhưng thực tế có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế mà cá nhân không chứng minh được là đối tượng cư trú của nước nào thì cá nhân đó là đối tượng cư trú tại Việt Nam.3.2. Các tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật tại Việt Nam.nếu một đối tượng vừa là đối tượng cư trú của Việt Nam vừa là đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam thì căn cứ vào các tiêu thức theo thứ tự ưu tiên dưới đây để xác định đối tượng đó là đối tượng cư trú của Việt Nam.1. Đối với cá nhân:1.1. Nếu cá nhân đó có nhà ở thường trú ở Việt Nam (nhà thuộc sở hữu hoặc nhà thuê thuộc quyền sử dụng của đối tượng đó) thì cá nhân đó được coi là đối tượng cư trú của Việt Nam.1.2. Nếu cá nhân đó có nhà ở thường trú tại cả hai nước nhưng cá nhân đó có quan hệ kinh tế chặt chẽ hơn tại Việt Nam như việc làm, có địa điểm kinh doanh, nơi quản lý tài sản cá nhân, hoặc có quan hệ cá nhân chặt chẽ hơn tại Việt Nam như quan hệ gia đình, xã hội (ví dụ: hội viên các đoàn thể xã hội, hiệp hội nghề nghiệp…),… thì cá nhân đó được coi là đối tượng cư trú của Việt Nam.1.3. Nếu không xác định được cá nhân đó có quan hệ kinh tế, quan hệ cá nhân tại nước nào chặt chẽ hơn hoặc nếu cá nhân đó không có nhà ở thường trú ở nước nào, nhưng cá nhân đó có thời gian có mặt tại Việt Nam nhiều hơn trong năm tính thuế thì cá nhân đó được coi là đối tượng cư trú của Việt Nam.1.4. Nếu cá nhân đó thường xuyên có mặt cả ở Việt Nam và Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam cũng như không có mặt thường xuyên ở cả hai nước nhưng cá nhân đó mang quốc tịch Việt Nam thì cá nhân đó được coi là đối tượng cư trú của Việt Nam.1.5. Nếu cá nhân đó mang quốc tịch của cả Việt Nam và Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam hoặc không mang quốc tịch của cả hai nước thì Nhà chức trách có thẩm quyền của Việt Nam sẽ giải quyết vấn đề này thông qua thủ tục thỏa thuận song phương với Nhà chức trách có thẩm quyền của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam.”Căn cứ quy định trên, theo pháp luật Việt Nam những nhân viên Việt Nam ký hợp đồng lao động với Công ty nước ngoài, làm việc ở nước ngoài (chỉ ở Việt Nam dưới 183 ngày) nhưng vẫn duy trì nơi ở đăng ký thường trú tại Việt Nam thuộc đối tượng cá nhân cư trú tại Việt Nam. Trường hợp, nếu các nhân viên người Việt Nam đi làm việc cho Công ty ở nước ngoài là đối tượng cư trú đôi của Việt Nam và của nước ký hiệp định với Việt Nam thì sẽ áp dụng Hiệp định thuế để xác định nơi cư trú duy nhất của các cá nhân đó.Câu 8: phạm vi Thuế quốc tế•Phạm vi thuế quốc tế: bao gồm các vấn đề về thuế và thuế quan có mang các yếu tố nước ngoài phát sinh từ các luật thuế của mỗi quốc gia. Các yếu tố nước ngoài xuất hiện trong các TH sau:Đầu tư trực tiếp và gián tiếp qua biên giới của các cá nhân và các tổ chức tài chính.Các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ qua biên giới.Hoạt động tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm qua biên giới của công ty đa quốc gia.Các cá nhân hoạt động kinh doanh hoặc hành nghề độc lập giữa các quốc gia (bác sỹ, kế toán viên, luật sư)Câu 9: Mô hình cty đa quốc gia và mục đích thành lậpCác công ty đa quốc gia có thể xếp vào ba nhóm lớn theo cấu trúc các phương tiện sản xuất:•Công ty đa quốc gia theo chiều ngang sản xuất các sản phẩm cùng loại hoặc tương tự ở các quốc gia khác nhau (ví dụ: McDonalds).•Công ty đa quốc gia theo chiều dọc có các cơ sở sản xuất ở một số nước nào đó, sản xuất ra sản phẩm là đầu vào cho sản xuất của nó ở một số nước khác (ví dụ: Adidas).•Công ty đa quốc gia nhiều chiều có các cơ sở sản xuất ở các nước khác nhau mà chúng hợp tác theo cả chiều ngang và chiều dọc (ví dụ: Microsoft)mục đích thành lập công ty đa quốc giaThứ nhất: đó là nhu cầu quốc tế hóa ngành sản xuất và thị trường nhằm tránh những hạn chế thương mại, quota, thuế nhập khẩu ở các nước mua hàng, sử dụng được nguồn nguyên liệu thô, nhân công rẻ, khai thác các tìêm năng tại chỗ.Thứ hai , đó là nhu cầu sử dụng sức cạnh tranh và những lợi thế so sánh của nước sở tại, thực hiện việc chuyển giao các ngành công nghệ bậc cao.Thứ ba, tìm kiếm lợi nhuận cao hơn và phân tán rủi ro. Cũng như tránh những bất ổn do ảnh hưởng bởi chu kỳ kinh doanh khi sản xuất ở một quốc gia đơn nhất.Ngoài ra, bảo vệ tính độc quyền đối với công nghệ hay bí quyết sản xuất ở một ngành không muốn chuyển giao cũng là lý do phải mở rộng địa phương để sản xuất. Bên cạnh đó, tối ưu hóa chi phí và mở rộng thị trường cũng là mục đích của MNC.Hoạt động MNC, vì được thực hiện trong một môi trường quốc tế, nên những vấn đề như thị trường đầu vào, đầu ra, vận chuyển và phân phối, điều động vốn, thanh toán… có những rủi ro nhất định. Rủi ro thường gặp của các MNC rơi vào 2 nhóm sau:Rủi ro trong mua và bán hàng hóa như: thuế quan, vận chuyển, bảo hiểm, chu kỳ cung cầu, chính sách vĩ mô khác…Rủi ro trong chuyển dịch tài chính như: rủi ro khi chính sách của chính quyền địa phương thay đổi, các rủi ro về tỷ giá, lạm phát, chính sách quản lý ngoại hối, thuế ,khủng hoảng nợ.
Trang 1Chương 1
Câu 2 Cơ sở thường trú
Một doanh nghiệp của Nước ký kết được coi là có cơ sở thường trú tại Việt Nam nếu hội đủ bađiều kiện dưới đây:
a) Duy trì tại Việt Nam một “cơ sở” như một tòa nhà, một văn phòng hoặc một phần của tòa nhàhay văn phòng đó, một phương tiện hoặc thiết bị,…; và
b) Cơ sở này có tính chất cố định, nghĩa là được thiết lập tại một địa điểm xác định và/hoặc đượcduy trì thường xuyên Tính cố định của cơ sở kinh doanh không nhất thiết phụ thuộc vào việc cơ
sở đó phải được gắn liền với một vị trí địa lý cụ thể trong một độ dài thời gian nhất định; vàc) Doanh nghiệp tiến hành toàn bộ hoặc một phần hoạt động kinh doanh thông qua cơ sở này
Câu 3 Đối tượng cư trú của VN
3.1 Các cá nhân là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:
a) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam;
Cá nhân có mặt tại Việt Nam theo quy định tại điểm này là sự hiện diện của cá nhân đó trên lãnh thổ Việt Nam;
b) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp sau:
- Có nơi ở đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú;
- Có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế
Trường hợp cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo quy định tại điểm này nhưng thực
tế có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế mà cá nhân không chứng minh được
là đối tượng cư trú của nước nào thì cá nhân đó là đối tượng cư trú tại Việt Nam
3.2 Các tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật tại Việt Nam.nếu một đối tượng vừa là đối tượng cư trú của Việt Nam vừa là đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam
Trang 2thì căn cứ vào các tiêu thức theo thứ tự ưu tiên dưới đây để xác định đối tượng đó là đối tượng cưtrú của Việt Nam.
1 Đối với cá nhân:
1.1 Nếu cá nhân đó có nhà ở thường trú ở Việt Nam (nhà thuộc sở hữu hoặc nhà thuê thuộc quyền sử dụng của đối tượng đó) thì cá nhân đó được coi là đối tượng cư trú của Việt Nam.1.2 Nếu cá nhân đó có nhà ở thường trú tại cả hai nước nhưng cá nhân đó có quan hệ kinh tế chặt chẽ hơn tại Việt Nam như việc làm, có địa điểm kinh doanh, nơi quản lý tài sản cá nhân, hoặc có quan hệ cá nhân chặt chẽ hơn tại Việt Nam như quan hệ gia đình, xã hội (ví dụ: hội viên các đoàn thể xã hội, hiệp hội nghề nghiệp…),… thì cá nhân đó được coi là đối tượng cư trú của Việt Nam
1.3 Nếu không xác định được cá nhân đó có quan hệ kinh tế, quan hệ cá nhân tại nước nào chặt chẽ hơn hoặc nếu cá nhân đó không có nhà ở thường trú ở nước nào, nhưng cá nhân đó có thời gian có mặt tại Việt Nam nhiều hơn trong năm tính thuế thì cá nhân đó được coi là đối tượng cư trú của Việt Nam
1.4 Nếu cá nhân đó thường xuyên có mặt cả ở Việt Nam và Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam cũng như không có mặt thường xuyên ở cả hai nước nhưng cá nhân đó mang quốc tịch ViệtNam thì cá nhân đó được coi là đối tượng cư trú của Việt Nam
1.5 Nếu cá nhân đó mang quốc tịch của cả Việt Nam và Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam hoặc không mang quốc tịch của cả hai nước thì Nhà chức trách có thẩm quyền của Việt Nam sẽ giải quyết vấn đề này thông qua thủ tục thỏa thuận song phương với Nhà chức trách có thẩm quyền của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam.”
Căn cứ quy định trên, theo pháp luật Việt Nam những nhân viên Việt Nam ký hợp đồng lao độngvới Công ty nước ngoài, làm việc ở nước ngoài (chỉ ở Việt Nam dưới 183 ngày) nhưng vẫn duy trì nơi ở đăng ký thường trú tại Việt Nam thuộc đối tượng cá nhân cư trú tại Việt Nam Trường hợp, nếu các nhân viên người Việt Nam đi làm việc cho Công ty ở nước ngoài là đối tượng cư trú đôi của Việt Nam và của nước ký hiệp định với Việt Nam thì sẽ áp dụng Hiệp định thuế để xác định nơi cư trú duy nhất của các cá nhân đó
Trang 3Câu 8: phạm vi Thuế quốc tế
• Phạm vi thuế quốc tế: bao gồm các vấn đề về thuế và thuế quan có mang các yếu tố nước ngoài phát sinh từ các luật thuế của mỗi quốc gia Các yếu tố nước ngoài xuất hiện trong các TH sau:
- Đầu tư trực tiếp và gián tiếp qua biên giới của các cá nhân và các tổ chức tài chính
- Các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ qua biên giới
- Hoạt động tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm qua biên giới của công ty đa quốc gia
- Các cá nhân hoạt động kinh doanh hoặc hành nghề độc lập giữa các quốc gia (bác sỹ, kế toán viên, luật sư)
Câu 9: Mô hình cty đa quốc gia và mục đích thành lập
Các công ty đa quốc gia có thể xếp vào ba nhóm lớn theo cấu trúc các phương tiện sản xuất:
Công ty đa quốc gia "theo chiều ngang" sản xuất các sản phẩm cùng loại hoặc tương tự ở các quốc gia khác nhau (ví dụ: McDonalds).
Công ty đa quốc gia "theo chiều dọc" có các cơ sở sản xuất ở một số nước nào đó, sản xuất
ra sản phẩm là đầu vào cho sản xuất của nó ở một số nước khác (ví dụ: Adidas).
Công ty đa quốc gia "nhiều chiều" có các cơ sở sản xuất ở các nước khác nhau mà chúng hợp tác theo cả chiều ngang và chiều dọc (ví dụ: Microsoft)
mục đích thành lập công ty đa quốc gia
Thứ nhất: đó là nhu cầu quốc tế hóa ngành sản xuất và thị trường nhằm tránh những hạn chế thương mại, quota, thuế nhập khẩu ở các nước mua hàng, sử dụng được nguồn nguyên liệu thô, nhân công rẻ, khai thác các tìêm năng tại chỗ
Thứ hai , đó là nhu cầu sử dụng sức cạnh tranh và những lợi thế so sánh của nước sở tại, thực hiện việc chuyển giao các ngành công nghệ bậc cao
Thứ ba, tìm kiếm lợi nhuận cao hơn và phân tán rủi ro Cũng như tránh những bất ổn do ảnh hưởng bởi chu kỳ kinh doanh khi sản xuất ở một quốc gia đơn nhất
Ngoài ra, bảo vệ tính độc quyền đối với công nghệ hay bí quyết sản xuất ở một ngành không muốn chuyển giao cũng là lý do phải mở rộng địa phương để sản xuất Bên cạnh đó, tối ưu hóa chi phí và mở rộng thị trường cũng là mục đích của MNC
Trang 4Hoạt động MNC, vì được thực hiện trong một môi trường quốc tế, nên những vấn đề như thị trường đầu vào, đầu ra, vận chuyển và phân phối, điều động vốn, thanh toán… có những rủi ro nhất định Rủi ro thường gặp của các MNC rơi vào 2 nhóm sau:
Rủi ro trong mua và bán hàng hóa như: thuế quan, vận chuyển, bảo hiểm, chu kỳ cung cầu, chínhsách vĩ mô khác…
Rủi ro trong chuyển dịch tài chính như: rủi ro khi chính sách của chính quyền địa phương thay đổi, các rủi ro về tỷ giá, lạm phát, chính sách quản lý ngoại hối, thuế ,khủng hoảng nợ
Trang 5Chương 2
Câu 1 Các biện pháp tránh đánh thuế 2 lần tại VN
1 Biện pháp khấu trừ thuế
Trường hợp một đối tượng cư trú của Việt Nam có thu nhập và đã nộp thuế tại Nước ký kết Hiệpđịnh với Việt Nam, nếu tại Hiệp định, Việt Nam cam kết thực hiện biện pháp khấu trừ thuế thì khi đối tượng cư trú này kê khai thuế thu nhập tại Việt Nam, các khoản thu nhập đó sẽ được tính vào thu nhập chịu thuế tại Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam
và số tiền thuế đã nộp ở Nước ký kết sẽ được khấu trừ vào số thuế phải nộp tại Việt Nam Việc khấu trừ thuế thực hiện theo các nguyên tắc dưới đây:
a) Thuế đã nộp ở Nước ký kết được khấu trừ là sắc thuế được quy định tại Hiệp định;
b) Số thuế được khấu trừ không vượt quá số thuế phải nộp tại Việt Nam tính trên thu nhập từ Nước ký kết theo quy định pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam nhưng cũng không được khấu trừ hoặc hoàn số thuế đã nộp cao hơn ở nước ngoài;
c) Số thuế đã nộp ở Nước ký kết được khấu trừ là số thuế phát sinh trong thời gian thuộc năm tính thuế tại Việt Nam
2 Biện pháp khấu trừ số thuế khoán
Trường hợp một đối tượng cư trú của Việt Nam có thu nhập và phải nộp thuế tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam (theo mức thuế được miễn hoặc giảm như một ưu đãi đặc biệt), nếu tại Hiệp định, Việt Nam cam kết thực hiện Biện pháp khấu trừ số thuế khoán thì khi đối tượng cư trú đó kê khai thuế thu nhập tại Việt Nam, các khoản thu nhập đó sẽ được tính vào thu nhập chịu thuế tại Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam và số tiền thuế khoán sẽ được khấu trừ vào số thuế phải nộp tại Việt Nam Số thuế khoán là số thuế lẽ ra đối tượng cư trú của Việt Nam phải nộp tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam trên khoản thu nhập phát sinh tại Nước ký kết đó, nhưng theo quy định tại luật của Nước ký kết đó được miễn hoặc giảm như một biện pháp ưu đãi đặc biệt
Việc khấu trừ thuế thực hiện theo các nguyên tắc dưới đây:
Trang 6a) Thuế đã nộp hoặc coi như đã nộp ở Nước ký kết được khấu trừ phải là sắc thuế được quy định tại Hiệp định;
b) Số thuế được khấu trừ không vượt quá số thuế phải nộp tại Việt Nam tính trên thu nhập từ Nước ký kết theo quy định pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam;
c) Số thuế đã nộp ở Nước ký kết được khấu trừ là số thuế phát sinh trong thời gian thuộc năm tính thuế tại Việt Nam
3 Biện pháp khấu trừ gián tiếp
1 Trường hợp một đối tượng cư trú của Việt Nam có thu nhập từ Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam mà khoản thu nhập này đã chịu thuế thu nhập doanh nghiệp trước khi được chia cho đối tượng đó và tại Hiệp định, Việt Nam cam kết thực hiện biện pháp khấu trừ thuế gián tiếp thì khi kê khai thuế thu nhập tại Việt Nam, các khoản thu nhập đó sẽ được tính vào thu nhập chịu thuế tại Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam và số thuế gián tiếp
đã nộp ở Nước ký kết sẽ được khấu trừ vào số thuế phải nộp tại Việt Nam Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, số thuế được khấu trừ không vượt quá số thuế phải nộp tại Việt Nam tính trên thu nhập từ nước ngoài theo quy định pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam
Số thuế gián tiếp được khấu trừ là số thuế do một công ty cổ phần là đối tượng của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam đã nộp tại Nước ký kết đó dưới hình thức thuế thu nhập công ty trước khi chia lãi cổ phần cho đối tượng cư trú của Việt Nam với điều kiện đối tượng cư trú của Việt Nam kiểm soát trực tiếp một tỷ lệ tối thiểu quyền bỏ phiếu của công ty cổ phần (thường là 10%)
2 Mặc dù theo quy định trên, Việt Nam chỉ thực hiện biện pháp khấu trừ thuế gián tiếp khi có cam kết tại Hiệp định, nhưng nếu theo quy định của luật Việt Nam, các khoản thu nhập từ nước ngoài của một đối tượng cư trú Việt Nam được khấu trừ thuế gián tiếp thì quy định này vẫn đượcthực hiện
Mặc dù có các quy định như trên về thực hiện các biện pháp tránh đánh thuế hai lần, nhưng nếu theo quy định tại Hiệp định, các khoản thu nhập từ nước ngoài của đối tượng cư trú Việt Nam được miễn thuế tại Việt Nam thì khoản thu nhập này sẽ được miễn thuế và không được trừ số thuế đã nộp tại nước ngoài (tức là chỉ bị đánh thuế một lần và không phải áp dụng biện pháp tránh đánh thuế hai lần) Ví dụ như tiền học bổng của học sinh và sinh viên nước ngoài trong thời
Trang 7gian học tại Việt Nam (Mục 15 Thu nhập của sinh viên, thực tập sinh và học sinh học nghề, Chương II, Thông tư này).
Các quy định về các biện pháp tránh đánh thuế hai lần như trên được nêu tại Điều khoản Biện pháptránh đánh thuế hai lần (thường là Điều 23) của Hiệp định
Câu 2: Sự khác nhau giữa các biện pháp tránh đánh thuế 2 lần
Khác nhau: BP khấu trừ theo số thuế khoán thì khi nộp thuế ở việt nam sẽ được khấu trừ số thuế lẽ
ra phải nộp ở nước kí kết hiệp định với VN, nhưng ở nước kí kết thì được miễn hoặc giảm thuế BPkhấu trừ gián tiếp thì sẽ khấu trừ số thuế đã nộp ở nước kí kết hiệp định với Việt Nam
Câu 3: Các trường hợp đánh trừng thuế
-trường hợp cạnh tranh về nguồn: 1 đối tượng cư trú của 1 quốc gia có thu nhập ở quốc gia khác do
đó cả 2 quốc gia đều tìm cách đánh thuế trên khoản thu nhập đó
Câu 7: Mẫu hiệp định OECD và UN có gì khác nhau
UN đưa ra ít hạn chế đối với đặc quyền thu thuế đối với quốc gia nguồn hơn hơn Còn về cơ bản dựa trên cơ sở của mấu OECD
Câu 9: THU NHẬP TỪ HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ CÁ NHÂN ĐỘC LẬP
Theo quy định tại Hiệp định, thu nhập từ hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập là thu nhập do một
cá nhân là đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam thu được từ hoạt động độc lập để cung ứng các dịch vụ ngành nghề như dịch vụ khoa học, văn học, nghệ thuật, giáo dục hoặc giảng dạy, cụ thể là hoạt động hành nghề độc lập của các bác sĩ, luật sư, kỹ sư, kiến trúc sư,nha sĩ, kế toán và kiểm toán viên
Thu nhập từ hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập không bao gồm hoạt động làm thuê (được quy định tại các Điều khoản thu nhập từ Hoạt động cá nhân phụ thuộc), tiền thù lao giám đốc (được quy định tại Điều khoản Thù lao giám đốc), tiền lương hưu (được quy định tại Điều khoản Tiền lương hưu), phục vụ nhà nước (được quy định tại Điều khoản thu nhập từ Phục vụ Chính phủ), thu nhập của học sinh, sinh viên (được quy định tại Điều khoản thu nhập của Sinh viên), giáo
Trang 8viên và giáo sư (được quy định tại Điều khoản thu nhập của Giáo sư, giáo viên và nhà nghiên cứu)
và hoạt động trình diễn độc lập của các nghệ sĩ và vận động viên (được quy định tại Điều khoản thu nhập của Nghệ sĩ và vận động viên)
Xác định nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập
Theo quy định tại Hiệp định, một đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam tiến hành cung cấp dịch vụ cá nhân độc lập tại Việt Nam sẽ phải nộp thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam trong các trường hợp sau đây:
1 Cá nhân đó hành nghề độc lập thông qua một cơ sở cố định
Thuật ngữ “cơ sở cố định” dùng để chỉ một địa điểm hoặc địa chỉ có tính chất thường xuyên hoặc
ổn định trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mà qua đó một cá nhân thực hiện việc cung cấp dịch vụ ngành nghề (ví dụ như phòng tư vấn khám bệnh, văn phòng kiến trúc sư hay luật sư, ) Nguyên tắc xác định “cơ sở cố định” tương tự như nguyên tắc xác định “cơ sở thường trú” của doanh nghiệp nêu tại Điểm 1.2, Điều 11, Thông tư này
2 Cá nhân đó hiện diện tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế hoặc trong vòng 12 tháng kể từ ngày đến Việt Nam, tùy theo từng Hiệp định
3 Cá nhân đó thu được một tổng số thu nhập nhất định, tùy theo từng Hiệp định, từ việc thực hiện ngành nghề độc lập tại Việt Nam trong khoảng thời gian nhất định (thông thường là trong một năm tài chính)
Câu 10: THU NHẬP TỪ HOẠT ĐỘNG PHỤC VỤ CHÍNH PHỦ
Theo quy định tại Hiệp định, thu nhập từ hoạt động phục vụ Chính phủ là các khoản thu nhập tiền công, tiền lương, tiền lương hưu do Chính phủ, chính quyền địa phương của một Nước ký kết Hiệp định trả cho một cá nhân để người đó thực hiện các nhiệm vụ cho Nước ký kết đó
Xác định nghĩa vụ thuế đối với thu nhập tiền lương từ hoạt động phục vụ Chính phủ
1 Trường hợp người nước ngoài do Chính phủ của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam cử sangViệt Nam làm việc cho các tổ chức của Chính phủ nước đó đặt tại Việt Nam hoặc cho các chương trình hợp tác kinh tế, văn hoá, viện trợ giữa hai nước, thì tiền lương, tiền công do Chính phủ nước ngoài trả cho cá nhân đó sẽ được miễn thuế thu nhập tại Việt Nam cho dù vì mục đích thực hiện các công việc như vậy mà đối tượng đó trở thành đối tượng cư trú của Việt Nam
Ví dụ 59: Ông J là một công dân Nhật Bản làm việc cho văn phòng JICA (thuộc Chính phủ Nhật Bản) tại Việt Nam Thu nhập từ tiền lương của ông J trong thời gian làm việc tại Việt Nam sẽ được miễn thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam (Khoản 1.a, Điều 19, Hiệp định giữa Việt Nam và Nhật Bản).
2 Tiền lương, tiền công do Chính phủ một Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam sẽ chỉ bị đánh thuế tại Việt Nam nếu được trả cho một cá nhân là đối tượng cư trú của Việt Nam để thực hiện các công việc cho Chính phủ nước ngoài tại Việt Nam và cá nhân này thỏa mãn một trong hai điều kiện dưới đây:
a) Mang quốc tịch Việt Nam; hoặc
b) Đã là đối tượng cư trú của Việt Nam trước khi thực hiện các công việc tại Việt Nam phục vụ cho Chính phủ nước ngoài
Trang 9Ví dụ 60: Ông V là một công dân Việt Nam làm việc cho văn phòng JICA (thuộc Chính phủ Nhật Bản) tại Việt Nam Thu nhập từ tiền lương của ông V trong thời gian làm việc tại văn phòng JICA Việt Nam sẽ phải chịu thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân của Việt Nam (Khoản 1.b(i), Điều 19, Hiệp định giữa Việt Nam và Nhật Bản).
Xác định nghĩa vụ thuế đối với thu nhập tiền lương hưu từ hoạt động phục vụ Chính phủ
Khi một cá nhân nhận được tiền lương hưu được trả từ một quỹ do Nhà nước Việt Nam hay các
cơ quan chính quyền địa phương của Việt Nam lập ra (sau đây gọi chung là Nhà nước Việt Nam), hoặc được trả bởi chính Nhà nước Việt Nam do việc làm công trước đó cho Nhà nước Việt Nam thì tiền lương hưu này sẽ chỉ chịu thuế tại Việt Nam; trừ khi cá nhân nói trên vừa là đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam và vừa mang quốc tịch của Nước ký kết đó Trong trường hợp cá nhân nói trên vừa là đối tượng cư trú của Nước ký kết Hiệp định vớiViệt Nam và vừa mang quốc tịch của Nước ký kết đó, thu nhập tiền lương hưu của cá nhân này
sẽ chỉ chịu thuế tại Nước ký kết đó
Ví dụ 61: Ông V là một công dân Việt Nam làm việc cho Chính phủ Việt Nam Khi về hưu, ông V sang sinh sống tại Nhật Bản Khi đó, tiền lương hưu do việc làm công cho Chính phủ Việt Nam
sẽ được miễn thuế thu nhập cá nhân tại Nhật Bản (Khoản 2.a., Điều 19, Hiệp định giữa Việt Nam và Nhật Bản).
Ví dụ 62: Ông J là một công dân Nhật Bản làm việc cho Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản Khi
về hưu, ông J vẫn sinh sống tại Nhật Bản Khi đó, tiền lương hưu do việc làm công cho Chính phủ Việt Nam sẽ chỉ chịu thuế thu nhập cá nhân tại Nhật Bản (Khoản 2.b., Điều 19, Hiệp định giữa Việt Nam và Nhật Bản).
Xác định nghĩa vụ thuế đối với thu nhập tiền lương và tiền lương hưu từ hoạt động kinh
doanh của Chính phủ
Mặc dù đã có các quy định tại các Điều 39 và 40 nêu trên, việc đánh thuế đối với tiền lương, tiềncông hay tiền lương hưu do Chính phủ nước ngoài trả cho một cá nhân vì tham gia các hoạt độngkinh doanh của Chính phủ nước ngoài tại Việt Nam như hoạt động của doanh nghiệp vận tải đường sắt, bưu chính hoặc công ty biểu diễn Nhà nước sẽ được áp dụng theo quy định, tùy theo từng trường hợp, tại các Mục 10 Thu nhập từ hoạt động cá nhân phụ thuộc, Mục 11 Thu nhập
từ thù lao giám đốc, Mục 12 Thu nhập của Nghệ sĩ và vận động viên và Mục 13 Thu nhập từ lương hưu, Chương II, Thông tư này
Trang 10Chương 3 Các phương pháp xác định giá thị trường
2.1 Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập
Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập dựa vào đơn giá sản phẩm trong giao dịch độc lập để xác định đơn giá sản phẩm trong giao dịch liên kết khi các giao dịch này có điều kiện giao dịch tương đương nhau
Đơn giá sản phẩm của giao dịch liên kết được so với giá trị phù hợp nhất thuộc biên độ giá thị trường chuẩn theo đơn giá sản phẩm để điều chỉnh phù hợp với các nguyên tắc quy định
Đối với phương pháp này, khi phân tích so sánh 4 tiêu thức ảnh hưởng, tiêu thức ưu tiên là đặc tính sản phẩm và điều kiện hợp đồng, các tiêu thức bổ trợ là điều kiện kinh tế và chức năng của doanh nghiệp
Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập được áp dụng với một trong các điều kiện sau:
a) Không có sự khác biệt về điều kiện giao dịch khi so sánh giữa giao dịch độc lập và giao dịch liên kết gây ảnh hưởng trọng yếu đến giá sản phẩm;
b) Trường hợp có các khác biệt ảnh hưởng trọng yếu đến giá sản phẩm nhưng các khác biệt này
đã được loại trừ theo các hướng dẫn tại Điều 4 Phần B Thông tư này
Các yếu tố ảnh hưởng trọng yếu đến giá sản phẩm như:
a) Đặc tính vật chất, chất lượng và nhãn hiệu thương mại của sản phẩm;
b) Các điều kiện hợp đồng trong việc cung cấp, chuyển giao sản phẩm như: khối lượng (nếu có ảnh hưởng đến mức giá), thời hạn chuyển giao sản phẩm, thời hạn thanh toán…;
c) Quyền phân phối, tiêu thụ sản phẩm có ảnh hưởng đến giá trị kinh tế;
d) Thị trường nơi diễn ra giao dịch
Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập thường được áp dụng cho các trường hợp:
a) Các giao dịch riêng lẻ về từng chủng loại hàng hóa lưu thông trên thị trường;
b) Các giao dịch riêng lẻ về từng loại hình dịch vụ, bản quyền, khế ước vay nợ;
c) Cơ sở kinh doanh thực hiện cả giao dịch độc lập và giao dịch liên kết về cùng một chủng loại sản phẩm
Trang 12Phương pháp xác định giá bán lại dựa vào giá bán lại (hay giá bán ra) của sản phẩm do doanh nghiệp bán cho bên độc lập để xác định giá mua vào của sản phẩm đó từ bên liên kết.
Giá mua vào của sản phẩm từ bên liên kết được xác định trên cơ sở giá bán ra của sản phẩm trong các giao dịch độc lập trừ (-) lợi nhuận gộp trừ (-) các chi phí khác được tính trong giá sản phẩm mua vào (nếu có) (ví dụ: thuế nhập khẩu, phí hải quan, chi phí bảo hiểm, vận chuyển quốc tế)
Lợi nhuận gộp được tính theo tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá bán ra (doanh thu thuần) và giá bán
ra (doanh thu thuần), phản ánh giá trị doanh nghiệp thu được để bù đắp chi phí hoạt động kinh doanh và có mức lãi hợp lý
Tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá bán ra (doanh thu thuần) được xác định bằng giá trị chênh lệch giữa giá bán ra (doanh thu thuần) và giá vốn sản phẩm mua vào chia cho (:) giá bán ra (doanh thu thuần)
Trường hợp doanh nghiệp có chức năng là đại lý phân phối không có quyền sở hữu sản phẩm và được hưởng hoa hồng đại lý theo tỷ lệ phần trăm (%) trên giá bán của sản phẩm thì tỷ lệ đó đượccoi là tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá bán ra (doanh thu thuần)
Tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá bán ra (doanh thu thuần) của giao dịch liên kết được so với giá trị phù hợp nhất thuộc biên độ giá thị trường chuẩn theo tỷ suất lợi nhuận gộp để điều chỉnh phù hợp với các nguyên tắc quy định tại Điểm 1.2 Khoản 1 Điều 5 Phần B Thông tư này
Đối với phương pháp này, khi phân tích so sánh 4 tiêu thức ảnh hưởng, tiêu thức ưu tiên là chức năng hoạt động của doanh nghiệp, các tiêu thức bổ trợ là điều kiện hợp đồng, đặc tính sản phẩm
và điều kiện kinh tế
Phương pháp giá bán lại được áp dụng với một trong các điều kiện sau:
a) Không có sự khác biệt về điều kiện giao dịch khi so sánh giữa giao dịch độc lập và giao dịch liên kết gây ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá bán ra (doanh thu thuần);b) Trường hợp có các khác biệt ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá bán ra (doanh thu thuần) nhưng các khác biệt này đã được loại trừ theo các hướng dẫn tại Điều 4 Phần
B Thông tư này
Các yếu tố ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá bán ra (doanh thu thuần) như:
Trang 13a) Các chi phí phản ánh chức năng của doanh nghiệp (ví dụ: đại lý phân phối độc quyền, thực hiện các chương trình quảng cáo, khuyến mại, bảo hành );
b) Chủng loại, quy mô, khối lượng, thời gian quay vòng của sản phẩm mua vào để bán lại và tínhchất hoạt động của giao dịch trên thị trường (ví dụ: bán buôn, bán lẻ, );
c) Phương pháp hạch toán kế toán (tức là phải đảm bảo các yếu tố cấu thành lợi nhuận gộp và doanh thu của giao dịch liên kết và giao dịch độc lập là tương đương nhau hoặc cùng được áp dụng chung các chuẩn mực kế toán)
Phương pháp giá bán lại thường được áp dụng cho các trường hợp giao dịch đối với các sản
phẩm thuộc khâu cung cấp dịch vụ đơn giản và thương mại phân phối có thời gian quay vòng từ khi mua vào đến khi bán ra ngắn, ít chịu biến động về tính thời vụ Đồng thời, sản phẩm trước khi được bán ra không qua khâu gia công, chế biến, lắp ráp, thay đổi tính chất sản phẩm hoặc gắn với nhãn hiệu thương mại để làm gia tăng đáng kể giá trị sản phẩm
2.3 Phương pháp giá vốn cộng lãi
Phương pháp giá vốn cộng lãi dựa vào giá vốn (hoặc giá thành) của sản phẩm do doanh nghiệp mua vào từ bên độc lập để xác định giá bán ra của sản phẩm đó cho bên liên kết
Giá bán ra của sản phẩm cho bên liên kết được xác định trên cơ sở lấy giá vốn (hoặc giá thành) của sản phẩm cộng (+) lợi nhuận gộp
Lợi nhuận gộp được tính theo tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá vốn (hoặc giá thành) sản phẩm bán
ra và giá vốn (hoặc giá thành) sản phẩm bán ra, phản ánh mức lợi nhuận hợp lý tương ứng với chức năng hoạt động của doanh nghiệp và điều kiện thị trường
Tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá vốn (hoặc giá thành) được xác định bằng giá trị chênh lệch giữa doanh thu thuần và giá vốn (hoặc giá thành) sản phẩm chia (:) cho giá vốn (hoặc giá thành) Giá vốn (hoặc giá thành) sản phẩm bán ra bao gồm chi phí sản xuất trực tiếp, gián tiếp và không bao gồm chi phí hoạt động tài chính như: chi phí bản quyền, lãi tiền vay,
Trường hợp doanh nghiệp không hạch toán riêng được giá vốn (hoặc giá thành) sản phẩm bán ra,chi phí bán hàng và chi phí quản lý chung thì giá vốn (hoặc giá thành) sản phẩm bán ra làm căn
cứ tính lợi nhuận gộp sẽ bao gồm toàn bộ các khoản chi phí này
Trường hợp doanh nghiệp có chức năng đại lý thu mua sản phẩm không có quyền sở hữu sản phẩm và được hưởng hoa hồng đại lý theo tỷ lệ phần trăm (%) trên chi phí thu mua sản phẩm thì
tỷ lệ đó được coi là tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá vốn
Trang 14Tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá vốn (hoặc giá thành) của giao dịch liên kết được so với giá trị phù hợp nhất thuộc biên độ giá thị trường chuẩn theo tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá vốn (hoặc giá thành) để điều chỉnh phù hợp với các nguyên tắc quy định tại Điểm 1.2 Khoản 1 Điều 5 Phần B Thông tư này.
Đối với phương pháp này, khi phân tích so sánh 4 tiêu thức ảnh hưởng, tiêu thức ưu tiên là chức năng hoạt động của doanh nghiệp, các tiêu thức bổ trợ là điều kiện hợp đồng, đặc tính sản phẩm
và điều kiện kinh tế
Phương pháp giá vốn cộng lãi được áp dụng với một trong các điều kiện sau:
a) Không có sự khác biệt về điều kiện giao dịch khi so sánh giữa giao dịch độc lập và giao dịch liên kết gây ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá vốn (hoặc giá thành);
b) Trường hợp có các khác biệt ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá vốn (hoặcgiá thành) nhưng các khác biệt này đã được loại trừ theo các hướng dẫn tại Điều 4 Phần B Thông
b) Các nghĩa vụ thực hiện hợp đồng (ví dụ: thời hạn chuyển giao sản phẩm, chi phí giám sát chất lượng, lưu kho, lưu bãi, điều kiện thanh toán);
c) Phương pháp hạch toán kế toán (tức là phải đảm bảo các yếu tố cấu thành trong giá vốn (hoặc giá thành) của giao dịch liên kết và giao dịch độc lập là tương đương nhau hoặc cùng được áp dụng chung các chuẩn mực kế toán)
Phương pháp giá vốn cộng lãi thường được áp dụng cho các trường hợp:
a) Giao dịch thuộc khâu sản xuất, lắp ráp, chế tạo, chế biến sản phẩm để bán cho các bên liên kết;
b) Giao dịch giữa các bên liên kết thực hiện hợp đồng liên danh, hợp đồng hợp tác kinh doanh đểsản xuất, lắp ráp, chế tạo, chế biến sản phẩm, hoặc thực hiện các thỏa thuận về cung cấp các yếu
tố sản xuất đầu vào và bao tiêu sản phẩm đầu ra;
c) Giao dịch về cung cấp dịch vụ cho các bên liên kết
Trang 15***Phương pháp giá vốn cộng lãi có thể được vận dụng để xác định lại giá vốn (hoặc giá thành)
có yếu tố giao dịch liên kết của doanh nghiệp dựa vào giá của sản phẩm bán ra đã được xác định theo giá thị trường và tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá vốn (hoặc giá thành)
2.4 Phương pháp so sánh lợi nhuận
Phương pháp so sánh lợi nhuận dựa vào tỷ suất sinh lời của sản phẩm trong các giao dịch độc lậpđược chọn để so sánh làm cơ sở xác định tỷ suất sinh lời của sản phẩm trong giao dịch liên kết khi các giao dịch này có điều kiện giao dịch tương đương nhau
Các tỷ suất sinh lời được tính bằng lợi nhuận (thu nhập) thuần trước thuế thu nhập doanh nghiệp trên doanh thu thuần, trên chi phí hoặc trên tài sản của hoạt động sản xuất kinh doanh theo quy định của chế độ kế toán và báo cáo tài chính Lợi nhuận (thu nhập) thuần trước thuế thu nhập doanh nghiệp có thể được cộng thêm (+) chi phí lãi tiền vay hoặc khấu hao tài sản cố định để xácđịnh hiệu quả sản xuất, kinh doanh trước khi chi trả các khoản chi phí này Các tỷ suất sinh lời thường được sử dụng bao gồm:
Tỷ suất thu nhập thuần trước thuế thu nhập doanh nghiệp trên doanh thu thuần từ hoạt động sản xuất, kinh doanh
Tỷ suất thu nhập thuần trước thuế thu nhập doanh nghiệp trên tổng chi phí từ hoạt động sản xuất,kinh doanh
Không sử dụng tỷ suất thu nhập thuần trước thuế thu nhập doanh nghiệp trên tổng chi phí đối vớicác trường hợp có chi phí phát sinh từ giao dịch liên kết do số liệu chi phí từ giao dịch liên kết đang thuộc phạm vi điều chỉnh xác định giá thị trường
Tỷ suất thu nhập thuần trước thuế thu nhập doanh nghiệp trên tài sản của hoạt động sản xuất kinhdoanh
Tỷ suất này chỉ được sử dụng trong trường hợp doanh nghiệp có tài sản cố định chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng vốn đầu tư (ví dụ: các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp sản xuất, ngànhkhai thác mỏ)
Giá trị tài sản là giá trị trung bình cộng của số dư tài sản đầu kỳ và số dư tài sản cuối kỳ, bao gồm tài sản cố định và tài sản lưu động, không bao gồm các tài sản được sử dụng cho hoạt động đầu tư, góp vốn liên doanh liên kết (ví dụ: mua công trái, mua cổ phần)
Doanh nghiệp lựa chọn một trong các tỷ suất sinh lời nêu trên để so sánh tỷ suất sinh lời của giaodịch liên kết với tỷ suất sinh lời của giao dịch độc lập và có thể sử dụng một hoặc nhiều tỷ suất sinh lời khác được quy định theo chế độ báo cáo tài chính để bổ trợ kiểm tra tính chính xác của
Trang 16tỷ suất sinh lời đã chọn Việc lựa chọn tỷ suất sinh lời được tính trên doanh thu thuần, chi phí hoặc tài sản phụ thuộc vào bản chất kinh tế của giao dịch
Tỷ suất sinh lời của giao dịch liên kết được so với tỷ suất sinh lời phù hợp nhất thuộc biên độ giáthị trường chuẩn để điều chỉnh phù hợp với các nguyên tắc quy định tại Điểm 1.2 Khoản 1 Điều
5 Phần B Thông tư này
Đối với phương pháp này, khi phân tích so sánh 4 tiêu thức ảnh hưởng theo hướng dẫn tại Điều 4Phần B Thông tư này, tiêu thức ưu tiên là chức năng hoạt động của doanh nghiệp, các tiêu thức
bổ trợ là điều kiện hợp đồng, đặc tính sản phẩm và điều kiện kinh tế
Phương pháp so sánh lợi nhuận được áp dụng với một trong các điều kiện sau:
Không có sự khác biệt về điều kiện giao dịch khi so sánh giữa giao dịch độc lập và giao dịch liênkết gây ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất sinh lời;
Trường hợp có các khác biệt ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất sinh lời nhưng các khác biệt này
đã được loại trừ theo các hướng dẫn tại Điều 4 phần B Thông tư này
Các yếu tố ảnh hưởng trọng yếu đến tỷ suất sinh lời như:
a) Các yếu tố về tài sản, vốn và chi phí sử dụng cho việc thực hiện chức năng chính của doanh nghiệp (ví dụ: sản xuất, chế biến trên cơ sở sử dụng máy móc do doanh nghiệp đầu tư có khả năng thu lợi nhuận cao hơn so với việc sản xuất, chế biến trên cơ sở sử dụng máy móc do cơ sở khác cho thuê để gia công);
b) Tính chất ngành nghề hoạt động, nhóm sản phẩm và công đoạn sản xuất hoặc tiêu thụ (ví dụ: thành phẩm được làm từ nguyên vật liệu thô hoặc từ bán thành phẩm);
c) Phương pháp hạch toán kế toán và cơ cấu chi phí của sản phẩm (ví dụ: sản phẩm đang trong giai đoạn khấu hao nhanh so với khấu hao thông thường)
2.5 Phương pháp tách lợi nhuận
KN: Phương pháp tách lợi nhuận dựa vào lợi nhuận thu được từ một giao dịch liên kết tổng hợp
do nhiều doanh nghiệp liên kết thực hiện để xác định lợi nhuận thích hợp cho từng doanh nghiệpliên kết đó theo cách các bên độc lập thực hiện phân chia lợi nhuận trong các giao dịch độc lậptương đương
Giao dịch liên kết tổng hợp do nhiều doanh nghiệp liên kết tham gia là giao dịch mang tính chấtđặc thù, duy nhất, bao gồm nhiều giao dịch liên kết có liên quan chặt chẽ với nhau về các sảnphẩm độc quyền hoặc các giao dịch liên kết khép kín giữa các bên liên kết có liên quan
Trang 17Phương pháp tách lợi nhuận thường được áp dụng trong trường hợp các bên liên kết cùng thamgia nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới hoặc phát triển sản phẩm là tài sản vô hình độc quyềnhoặc các giao dịch trong quy trình sản xuất, kinh doanh chuyển tiếp giữa các bên liên kết từ khâunguyên vật liệu đến thành phẩm cuối cùng để lưu thông sản phẩm gắn liền với việc sở hữu hoặc
sử dụng quyền sở hữu trí tuệ duy nhất
Cách tính: Phương pháp tách lợi nhuận có 2 cách tính:
*** Cách tính thứ nhất: phân bổ lợi nhuận cho từng bên liên kết trên cơ sở chi phí đóng góp;
theo đó, lợi nhuận của mỗi doanh nghiệp liên kết tham gia trong giao dịch được xác định trên cơ
sở phân bổ tổng lợi nhuận thu được từ giao dịch liên kết tổng hợp theo tỷ lệ chi phí đóng gópthực tế trong giao dịch liên kết của doanh nghiệp đó trong tổng chi phí thức tế để tạo ra sản phẩmcuối cùng
***Cách tính thứ hai: phân chia lợi nhuận theo 2 bước như sau:
**Bước thứ nhất: phân chia lợi nhuận cơ bản: mỗi doanh nghiệp tham gia giao dịch liên kết đượcnhận phần lợi nhuận cơ bản tương ứng với các chức năng hoạt động của mình Phần lợi nhuận cơbản này phản ánh giá trị lợi nhuận của giao dịch liên kết tổng hợp mà doanh nghiệp thu được dothực hiện chức năng hoạt động của mình và chưa tính đến các yếu tố đặc thù và duy nhất (ví dụđộc quyền sở hữu hoặc sử dụng tài sản vô hình hoặc quyền sở hữu trí tuệ)
Phần lợi nhuận cơ bản được tính theo tỷ suất lợi nhuận gộp hoặc tỷ suất sinh lời tương ứng vớigiá trị phù hợp nhất thuộc biên độ giá thị trường chuẩn theo tỷ suất lợi nhuận gộp hoặc tỷ suấtsinh lời
**Bước thứ hai: phân chia lợi nhuận phụ trội: mỗi doanh nghiệp tham gia giao dịch liên kết đượcnhận tiếp phần lợi nhuận phụ trội tương ứng với tỷ lệ đóng góp tạo ra tổng lợi nhuận phụ trội(tức là tổng lợi nhuận thu được trừ (-) tổng lợi nhuận cơ bản đã phân chia ở bước thứ nhất) củagiao dịch liên kết tổng hợp Phần lợi nhuận phụ trội này phản ánh lợi nhuận của giao dịch liênkết tổng hợp mà doanh nghiệp thu được ngoài phần lợi nhuận cơ bản nhờ các yếu tố đặc thù vàduy nhất
Phần lợi nhuận phụ trội của mỗi doanh nghiệp được tính bằng tổng lợi nhuận phụ trội thu được
từ giao dịch liên kết tổng hợp nhân với (x) tỷ lệ đóng góp các chi phí hoặc tài sản dưới đây củamỗi doanh nghiệp:
a) Chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm;
b) Giá trị (sau khi đã trừ khấu hao) của tài sản vô hình hoặc quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng đểsản xuất, kinh doanh sản phẩm
Trang 18Chi phí nghiên cứu và phát triển, giá trị của tài sản vô hình, quyền sở hữu trí tuệ phải được xácđịnh trên cơ sở giá thị trường (theo các phương pháp được quy định tại Thông tư này) hoặc chiphí thực tế đóng góp của mỗi bên phù hợp với nguyên tắc hạch toán kế toán đối với chi phí hoặctài sản.
Trang 19Câu 10 Thực trạng chuyển giá ở VN hiện nay Để tăng cường công tác quản lý giá chuyển nhượng cần lưu ý những điểm gì?
Thực trạng hoạt động chuyển giá tại Việt Nam thời gian qua
Với chủ trương mở cửa hội nhập khuyến khích, thu hút vốn đầu tư, trong những năm, qua lượngvốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đổ vào Việt Nam ngày càng tăng, đóng góp đáng kể vào
sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta Cụ thể, năm 2013 đạt gần 22 tỷ USD vốn đăng ký, tăng54% so với năm 2012; vốn giải ngân đạt tương đối cao, lên đến 11,5 tỷ USD; Trong đó, cácCông ty đa quốc gia (MNCs) luôn chiếm một tỷ trọng đáng kể Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư,đến nay, khu vực DN FDI nói chung đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế ViệtNam, với mức đóng góp khoảng 20% GDP, khoảng 45% sản lượng công nghiệp và 1/4 tổng đầu
tư xã hội hàng năm
Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, khu vực FDI hiện chưa tạo được sức lantỏa, mức độ động viên vào ngân sách nhà nước còn thấp, kèm theo đó là các DN FDI luôn báo lỗ
và có dấu hiệu lạm dụng chính sách giá chuyển giao nội bộ để chuyển giá quốc tế Điển hình,năm 2013, Thanh tra Chính phủ đã thực hiện thanh tra việc thu ngân sách tại khu chế xuất và các
DN chế xuất ở TP Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai, có 125/399 DN báo lỗtrong nhiều năm với số tiền lên đến vài nghìn tỷ đồng, trong khi các DN này vẫn tăng trưởngdoanh thu và mở rộng đầu tư Đáng chú ý là có 36 DN hạch toán lỗ liên tiếp trong 3 năm liền với
số lỗ lũy kế 2.858,6 tỷ đồng, 17% DN khác lỗ 2 năm liên tiếp với 1.829,8 tỷ đồng Điển hình các
DN báo lỗ 3 năm liền là: Công ty TNHH Sumitomo Bakelite Việt Nam lỗ 777,67 tỷ đồng; Công
ty TNHH sản phẩm công nghiệp Toshiba Asia lỗ 430 tỷ; Công ty TNHH điện tử Meiko ViệtNam lỗ 300 tỷ đồng…
Với việc báo cáo lỗ như vậy, đa phần các DN này không phải đóng thuế, bên cạnh đó lợi dụngnhững kẽ hở trong những quy định dành cho DN FDI để đề nghị hoàn thuế… Điều này đồngnghĩa với việc ngân sách sẽ mất một khoản thu không nhỏ Ngoài ra, qua khảo sát tại một số địaphương, các DN FDI kinh doanh thua lỗ thường tập trung vào các ngành nghề: gia công maymặc; da giày; sản xuất, kinh doanh chè xuất khẩu; công nghiệp chế biến… Đặc biệt, có đến 90%
DN FDI hoạt động trong lĩnh vực may mặc ở TP Hồ Chí Minh có kết quả kinh doanh thua lỗtrong khi hầu hết các DN trong nước cùng ngành nghề đều có lãi Mặc dù, thua lỗ triền miênsong các DN FDI tại Việt Nam vẫn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh Điều này cho thấy,trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế được mở rộng, tỷ lệ thua lỗ cao tại các DN FDI trongthời gian qua chính là biểu hiện của hoạt động chuyển giá đang diễn ra ngày càng phổ biến, đadạng, trở thành thách thức lớn đối với cơ quan thuế Việt Nam
Trang 20a Hoạt động chuyển giá của công ty Metro Cash & Carry Vietnam
-Việc thanh tra thuế ở Metro chỉ thực sự được rốt ráo thực hiện khi bất ngờ có thông tin, Metro
sẽ được bán cho tập đoàn Berli Jucker (BJC) của Thái Lan với giá chuyển nhượng lên tới 879triệu USD
Hành vi chuyển giá của MCC Việt Nam đã được thanh tra thuế kết luận và việc chấp hành phápluật về thuế đối với Metro Cash & Carry đã được báo cáo Bộ Tài chính và đã được Bộ trưởngchấp thuận Theo đó, tổng giá trị vi phạm cần xử lý đã lên tới 507 tỷ đồng
Trong số này, vi phạm đáng chú ý nhất của doanh nghiệp này là hành vi chuyển giá thông quagiao dịch liên kết với công ty mẹ tại Đức Tổng số lỗ bất hợp lý mà Metro buộc phải giảm sauthanh tra là 335 tỷ đồng
MCC còn phải giảm khấu trừ thuế giá trị gia tăng số tiền là 110 tỷ đồng Đây là khoản tiền thucủa các doanh nghiệp để hỗ trợ quảng cáo, bán hàng trong siêu thị nhưng lại không kê khai khinộp thuế Metro cũng bị truy thu thuế, chủ yếu là thuế nhà thầu đối với lương chuyên gia nướcngoài là 62 tỷ đồng
Ngoài ra, MCC Việt Nam đã bị phát hiện đã trích khấu hao tài sản quá cao, trích dự phòng bấthợp lý dẫn tới khoản lỗ 90 tỷ đồng
Nghi án công ty Coca Cola thực hiện hoạt động chuyển giá
Hơn 20 năm đầu tư kinh doanh tại Việt Nam, Coca Cola liên tục khai lỗ và chưa phải đóng mộtđồng thuế thu nhập doanh nghiệp nào
Trong hơn 20 năm qua, cách để Coca Cola, dù liên tục mở rộng mạng lưới kinh doanh, bán hàng
tốt, nhưng vẫn lỗ nằm ở chi phí nguyên phụ liệu, trong đó chủ yếu là hương liệu được nhập trực
tiếp từ công ty mẹ với giá rất cao
Đơn cử, năm 2010 chi phí do nhập nguyên vật liệu từ công ty mẹ lên đến 1.671 tỷ đồng trêndoanh thu 2.329 tỷ đồng
-Nghi án chuyển giá của Coca Cola có 4 điểm chính cần làm rõ:
Một là, tại sao một doanh nghiệp liên tục nhiều năm liền báo cáo lỗ mà vẫn được phéphoạt động?
Hai là, công ty Coca Cola lấy nguồn ngân sách ở đâu để tiếp tục hoạt động sản xuấttrong khi toàn báo cáo lỗ?
Ba là, trách nhiệm sẽ thuộc về ai?
Trang 21 Bốn là, trong suốt thời gian Coca Cola hoạt động tại Việt Nam, Cục Thuế thành phố HồChí Minh đã ra văn bản yêu cầu công ty này giải trình về vấn trốn thuế này chưa?
Hình thức chuyển giá của các Công ty đa quốc gia (MNCs) tại Việt Nam
Theo kết quả điều tra, khảo sát của Tổng cục Thuế cho thấy, trong 05 năm trở lại đây, có thểnhận diện một số hành vi chuyển giá điển hình đã và đang diễn ra tại Việt Nam như sau:
Một là, chuyển giá thông qua góp vốn đầu tư:
Lợi dụng chính sách thông thoáng về thu hút đầu tư của Việt Nam theo hướng phát huy lợi thế sosánh về tài nguyên thiên nhiên đất đai và nhân công MNCs đã thực hiện chuyển giá để trục lợi.Bên cạnh đó, các MNCs cũng nắm bắt được hạn chế của Việt Nam về nguồn lực tài chính và khảnăng thẩm định giá trị tài sản cố định, các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam thông quaviệc góp vốn bằng dây chuyền máy móc, thiết bị đặc thù được định giá cao hơn nhiều so với giátrị thực tế để thực hiện chuyển giá Việc nâng khống giá trị vốn góp sẽ đem đến một số lợi íchkinh tế như:
- Nhà đầu tư nước ngoài có thể chuyển một phần lợi ích kinh tế ngược trở lại cho mình thông quaviệc trích khấu khao tài sản cố định và phân chia lợi nhuận trên tỷ lệ vốn góp gây thiệt hại chonhà nước và bên liên doanh Việt Nam
- Nâng giá trị vốn góp cao hơn so với thực tế để chiếm tỷ trọng vốn cao hơn so với bên liêndoanh Việt Nam Từ đó, nắm quyền kiểm soát và điều hành DN, thực hiện chuyển giá gây thua
lỗ triền miên khiến DN Việt Nam không còn đủ tiềm lực tài chính để tiếp tục hoạt động sản xuấtkinh doanh, phải bán lại phần vốn góp cho nhà đầu tư nước ngoài và liên doanh trở thành DN100% vốn FDI
Hai là, chuyển giá qua chuyển giao công nghệ.
Đây là hành vi chuyển giá thông qua việc các công ty nước ngoài chuyển giao công nghệ sảnxuất kinh doanh cho bên liên kết tại Việt Nam và thu tiền bản quyền Chuyển giao công nghệ làloại hình chuyển giao tài sản vô hình, việc định giá đối với loại tài sản này rất khó khăn và mangtính đặc thù Lợi dụng đặc tính này, DN liên kết ở nước ngoài thường tính phí bản quyền rất caođối với công ty MNCs tại Việt Nam khiến cho chi phí đầu vào bị đẩy lên cao, kết quả sản xuấtkinh doanh thua lỗ, liên doanh Việt Nam chịu thiệt hại, còn khoản phí bản quyền được trả chobên nước ngoài
Ba là, chuyển giá thông qua chuyển giao nguyên vật liệu, hàng hoá.
Hành vi chuyển giá thông qua chuyển giao nguyên vật liệu, hàng hoá là hành vi chuyển giátương đối phổ biến tại các DN có vốn FDI tại Việt Nam trong những năm qua Đặc biệt là các
DN 100% vốn FDI, diễn ra tại một số ngành nghề chính như: may mặc, da giày, chế biến lươngthực, thực phẩm… Xuất phát từ chênh lệch thuế suất thuế TNDN giữa Việt Nam với các quốcgia khác, để tối thiểu hoá nghĩa vụ thuế của cả hệ thống tập đoàn, công ty mẹ tại nước ngoài đãchi phối đến giá chuyển giao nguyên vật liệu, hàng hoá giữa công ty con với các bên liên kết ởnước ngoài theo hướng chuyển lợi nhuận từ Việt Nam về công ty liên kết tại quốc gia có thuếsuất thuế TNDN thấp hơn thông qua đẩy giá mua nguyên vật liệu đầu vào cao hơn giá thị trường
và hạ giá bán sản phẩm thấp hơn giá thị trường
Trang 22Bốn là, chuyển giá thông qua cung cấp dịch vụ.
Việc cung cấp dịch vụ giữa công ty mẹ với các công ty trong nội bộ tập đoàn và giữa các công tytrong nội bộ tập đoàn với nhau thường rất khó định giá và khó xác định có thực sự phát sinh haykhông Lợi dụng đặc tính này, trong những năm qua, một số tập đoàn đa quốc gia đầu tư vốn vàoViệt Nam thực hiện hành vi cung cấp các dịch vụ quản lý và hỗ trợ quản lý cho cả tập đoàn (dịch
vụ kế toán, tài chính, tư vấn, quản lý tài sản…), tính giá dịch vụ ở mức cao để chuyển lợi nhuận
từ công ty con tại Việt Nam sang công ty mẹ ở nước ngoài nhằm tối thiểu hoá nghĩa vụ thuế củacông ty con tại Việt Nam
Năm là, chuyển giá thông qua chi trả lãi vay vốn sản xuất kinh doanh.
Một trong những hành vi tương đối phổ biến của các DN FDI nhằm tránh nghĩa vụ thuế TNDNtại Việt Nam trong thời gian qua là thực hiện chuyển giá thông qua hình thức vay vốn từ bên liênkết ở nước ngoài và trả lãi suất vay vốn với mức rất cao Với phương thức này, lợi nhuận từ DNFDI tại Việt Nam đã được chuyển sang cho bên liên kết tại nước ngoài có thuế suất thuế TNDNthấp hơn thuế suất thuế TNDN tại Việt Nam, qua đó, tối thiểu hoá nghĩa vụ thuế của cả tập đoàn.Hành vi này thường xảy ra tại các ngành nghề sản xuất kinh doanh có sử dụng vốn lớn như: khaithác mỏ, sản xuất, lắp ráp các phương tiện vận tải…
Để tăng cường công tác quản lý giá chuyển nhượng cần lưu ý những điểm gì?
Trên phương diện pháp lý, cần phân biệt giữa “chuyển giá hợp pháp” là áp dụng các phương pháp chuyển giá theo nguyên tắc giá thị trường và “chuyển giá phi pháp” là áp dụng các phương pháp chuyển giá theo nguyên tắc phi thị trường Theo đó, việc DN sử dụng quyền tự do
định đoạt trong kinh doanh để tận dụng tối đa các quy định của pháp luật, thỏa thuận một mứcgiá chuyển giao hàng hoá, dịch vụ sao cho không vi phạm quy định của các nước có liên quan thìhành vi đó không thể coi là phi pháp khi DN áp dụng các phương pháp chuyển giá theo nguyêntắc giá thị trường
Để hạn chế các MNCs tại Việt Nam áp dụng các phương pháp chuyển giá theo nguyên tắc phi thị
trường trong các giao dịch liên kết với các bên liên quan bên ngoài Việt Nam, trước hết cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý, hành lang pháp lý cần được hoàn thiện theo hướng quy định rõ các hình thức bị coi là chuyển giá phi pháp, các tiêu thức định tính và định lượng để xác định hoạt động chuyển giá; hình thành hệ thống thông tin đầy đủ, xây dựng hệ thống định mức, các chỉ tiêu giám sát để tạo thuận lợi cho các MNCs tại Việt Nam áp dụng các phương pháp chuyển giá theo nguyên tắc giá thị trường và các nguyên tắc này phù hợp.
Cần tăng cường hợp tác quốc tế về quản lý thuế, đặc biệt là hợp tác về chống chuyển giá; xây dựng cơ chế cung cấp, chia sẻ thông tin liên quan tới giá cả các sản phẩm tiêu thụ trên thị trường thế giới và từng nước làm căn cứ để quản lý và xử lý hoạt động chuyển giá Mặt khác, cần tăng cường hoạt động tuyên truyền về thuế, tổ chức hướng dẫn các MNCs tại Việt Nam xác
Trang 23định giá thị trường đối với các giao dịch liên kết nhằm nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế.
Bên cạnh đó, cần thành lập bộ phận chuyên trách thu thập thông tin, theo dõi, giám sát hoạt độngchuyển giá phi pháp để có chế tài xử lý kịp thời Đặc biệt, cần tăng cường năng lực của cán bộthuế; tăng cường hoạt động nghiệp vụ, đặc biệt là hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế
ngành Thuế cần chuẩn bị bổ sung lực lượng công chức thuế có năng lực về chuyên môn nghiệp
vụ, ngoại ngữ và tin học làm công tác quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá tại tất cả các cấp; Tăng cường đào tạo cho đội ngũ này về kỹ năng quản lý giá chuyển nhượng, kèm theo các
bài tập tình huống gắn với thực tế, mở các lớp đào tạo chuyên sâu, trang bị kiến thức về kinh tếngành, trau đồi kỹ năng tin học, ngoại ngữ; Tổ chức các hội nghị, hội thảo để các cục thuế traođổi kinh nghiệm trong công tác quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá; Tổ chức khảo sát, họctập kinh nghiệm thanh tra, kiểm tra giá chuyển nhượng tại các quốc gia đã gặt hái được nhiềuthành công trong quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá
Hệ thống thông tin dữ liệu về người nộp thuế cần bổ sung thêm các thông tin bổ trợ quan trọng
và xây dựng ứng dụng khai thác để phục vụ cho việc phân tích rủi ro, thanh tra giá chuyển nhượng Ngoài cơ sở dữ liệu riêng của ngành Thuế, cơ quan thuế phối hợp với các cơ quan hữu
quan xây dựng cơ sở dữ liệu chung, cho phép DN có thể truy cập và thu thập thông tin, phục vụcho việc xây dựng hồ sơ xác định giá chuyển nhượng, cung cấp cho cơ quan thuế khi có yêu cầu
Tăng cường kiểm soát hoạt động chuyển giá thông qua việc đẩy mạnh hiệu quả hoạt động của từng bộ phận chức năng quản lý: Trước mắt tập trung thanh tra, kiểm tra giá chuyển nhượng đối
với các tập đoàn có nhiều DN thành viên; các ngành nghề có dấu hiệu rủi ro lớn về thuế do hành
vi chuyển giá của DN liên kết như gia công may ; các DN đã và đang thực hiện tái cơ cấu cókhả năng lợi dụng chuyển giá để tránh thuế Xây dựng quy trình triển khai thực hiện và các kỹnăng dành riêng cho nghiệp vụ thanh tra đối với hoạt động chuyển giá; xây dựng bộ tiêu chí phântích, đánh giá rủi ro, lựa chọn DN thanh tra giá chuyển nhượng để áp dụng chung thống nhất trêntoàn quốc
Câu 11: Những điểm mới trong chính sách quản lý giá chuyển nhượng ở VN khi luật quản
lý thuế sửa đổi có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2013
Bổ sung cơ chế thoả thuận trước về phương pháp xác định giá (APA) trong chống chuyển giá ở các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài Việc bổ sung cơ chế APA vừa tạo thuận lợi cho công tác hành thu, chống thất thu, vừa tạo chủ động cho doanh nghiệp FDI trong lập kế hoạch kinh doanh
và thực hiện nghĩa vụ thuế Nội dung cụ thể tại Luật về vấn đề này bao gồm:
- Bổ sung khoản 11 vào Điều 5 (Giải thích từ ngữ) như sau:
“11 Thoả thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế là thoả thuận bằng văn bản giữa cơquan thuế với người nộp thuế hoặc giữa cơ quan thuế với người nộp thuế và cơ quan thuế các nước, vùng lãnh thổ mà Việt Nam đã ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với thuế thu nhập cho một thời hạn nhất định, trong đó xác định cụ thể các căn
Trang 24cứ tính thuế, phương pháp xác định giá tính thuế hoặc giá tính thuế theo giá thị trường Thoả thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế được xác lập trước khi người nộp thuế nộp
hồ sơ khai thuế.”
- Bổ sung khoản 9 vào Điều 9 (Quyền hạn của cơ quan quản lý thuế ) như sau:
“9 Cơ quan thuế áp dụng cơ chế thoả thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế với người nộp thuế, với cơ quan thuế các nước, vùng lãnh thổ mà Việt Nam đã ký kết hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với thuế thu nhập.”
- Bổ sung khoản 3 vào Điều 30 (Nguyên tắc khai thuế và tính thuế) như sau:
“3 Việc áp dụng cơ chế thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế được thực hiện trên cơ sở đề nghị của người nộp thuế và sự thống nhất giữa cơ quan thuế và người nộp thuế theo thỏa thuận đơn phương, song phương và đa phương giữa cơ quan thuế, người nộp thuế và
cơ quan thuế các nước, vùng lãnh thổ có liên quan Chính phủ quy định chi tiết khoản này.”
3 Mở rộng phạm vi thu thập thông tin về người nộp thuế từ nguồn nước ngoài theo các hiệp định, điều ước đã ký để cho phép khai thác thông tin từ nguồn nước ngoài phục vụ công tác quản lý thuế Nội dung cụ thể được thể hiện tại khoản 2 Điều 70 như sau:
“2 Cơ quan quản lý thuế áp dụng các biện pháp nghiệp vụ cần thiết để thu thập, trao đổi, xử lý thông tin trong nước, ngoài nước, thông tin chính thức từ các cơ quan quản lý thuế, cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài theo các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, các văn bản ký kết giữa Việt Nam và các nước liên quan đến lĩnh vực thuế, hải quan
để sử dụng trong công tác quản lý thuế.”
4 Bổ sung nghĩa vụ của người nộp thuế trong việc ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao quản trị doanh nghiệp cũng như phát triển phương thức quản lý thuế điện tử Nội dung cụ thể được thể hiện tại khoản 10 Điều 7 như sau:
“10 Trường hợp người nộp thuế là tổ chức kinh doanh tại địa bàn có cơ sở hạ tầng về công nghệthông tin phải thực hiện kê khai, nộp thuế, giao dịch với cơ quan quản lý thuế thông qua phươngtiện điện tử theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử
Chính phủ quy định chi tiết khoản này”
Trang 25Câu 12: So sánh giá chuyển nhượng và giá tính thuế hải quan
Chỉ tiêu Giá tính thuế hải quan Giá chuyển nhượng
Nhằm phân chia phần thuế GTGT của hànhhóa, dịch vụ đc tạo ra trong nước không trựctiếp tính ra thuế pahir nộp và thuế này do chínhdoanh nghiệp gánh chịu
Về nguyên tác
điều chỉnh
Nhằm tìm ra giá thực tế mà ng muatrả cho ng bán đối vói hàng hóa NK
Giá trị thị trg or giá giao dịch độc lập của HH,
DV bao gồm cả hàng XNK và tiêu thụ trong nc
Trang 26Câu 14: Cơ chế xác định trước về giá tính thuế (APA)
1 APA là thỏa thuận bằng văn bản giữa cơ quan thuế với người nộp thuế hoặc giữa cơ quan thuếvới người nộp thuế và cơ quan thuế các nước, vùng lãnh thổ mà Việt Nam đã ký Hiệp định thuếcho một thời hạn nhất định, trong đó xác định cụ thể các căn cứ tính thuế, phương pháp xác địnhgiá tính thuế hoặc giá tính thuế theo giá thị trường APA được xác lập trước khi người nộp thuếnộp hồ sơ khai thuế thu nhập doanh nghiệp
3 Đối tượng áp dụng APA bao gồm:
a) Các tổ chức, đơn vị có quan hệ liên kết trong một doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế hoạt động tạinhiều địa bàn khác nhau (bao gồm cả các quốc gia, vùng lãnh thổ);
b) Các tổ chức, đơn vị có mối quan hệ là cơ sở thường trú và trụ sở chính của doanh nghiệp.Trong trường hợp này, mỗi một cơ sở thường trú sẽ được xem là một doanh nghiệp (người nộpthuế) riêng và hoàn toàn tách biệt khỏi trụ sở chính hay các cơ sở thường trú khác của doanhnghiệp
4 Các giao dịch được áp dụng APA
a) Các giao dịch mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, chuyển giao hoặc chuyển nhượng hàng hóa,dịch vụ trong quá trình kinh doanh (được gọi chung là giao dịch kinh doanh) giữa các bên cóquan hệ liên kết, trừ các giao dịch kinh doanh liên quan đến hàng hoá, dịch vụ thực hiện bình ổngiá thuộc phạm vi điều chỉnh của Nhà nước theo quy định của pháp luật về giá
b) Người nộp thuế được quyền đề nghị một hoặc nhiều giao dịch liên kết để áp dụng APA.Người nộp thuế có thể gộp chung nhiều giao dịch liên kết có tính chất phụ thuộc lẫn nhau thànhgiao dịch tổng thể để phản ánh tính khách quan phù hợp với thực tiễn, thông lệ kinh doanh tươngứng với chức năng, tài sản và rủi ro kinh doanh liên quan đến nghĩa vụ thuế theo kỳ khai thuếphù hợp với quy định của văn bản pháp luật hướng dẫn về việc xác định giá thị trường trong giaodịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết cho mục đích khai thuế
5 Nguyên tắc áp dụng APA
Trang 271 APA được áp dụng trên nguyên tắc cơ quan thuế và người nộp thuế (là đối tượng áp dụng củaAPA) hoặc cơ quan thuế Việt Nam và cơ quan thuế là đối tác ký kết Hiệp định thuế và người nộpthuế cùng hợp tác trao đổi, đàm phán về việc áp dụng các quy định pháp luật về thực hiện nghĩa
vụ thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các giao dịch liên kết trên cơ sở áp dụng nguyên tắc giaodịch độc lập theo giá thị trường
2 Việc áp dụng APA nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế, giảm chi phí tuân thủ phápluật thuế, xác định giá thị trường trong giao dịch liên kết phù hợp với bản chất hoạt động kinhdoanh làm phát sinh mức lợi nhuận thích hợp để thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập và ngăn ngừaviệc đánh thuế trùng và trốn lậu thuế, giảm thiểu tranh chấp về xác định giá thị trường trong giaodịch liên kết Trong thời gian đàm phán APA, người nộp thuế thực hiện khai, nộp thuế theo quyđịnh của pháp luật hiện hành
3 Các phương pháp xác định giá thị trường trong giao dịch liên kết thuộc phạm vi áp dụng củaAPA được thực hiện theo văn bản pháp quy hướng dẫn về xác định giá thị trường trong giao dịchkinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết Khi lựa chọn phương pháp xác định giá thị trường
áp dụng trong APA, cần căn cứ vào bản chất và phương pháp tính hơn là tên gọi của phươngpháp
Trang 28Ở Việt Nam, khái niệm bán phá giá được định nghĩa như sau: Theo điều 4 của “Pháp lệnh giá” của nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam định nghĩa: “Bán phá giá là hành vi bán hàng hoá, dịch vụ với giá quá thấp so với giá thông thường trên thị trường Việt Nam để chiếm lĩnh thị trường , hạn chế cạnh tranh đúng pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và lợi ích của Nhà nước.”
Các yếu tố xác định bán phá giá
Bán phá giá được xác định dựa vào 2 yếu tố cơ bản là:
1 - Biên độ phá giá từ 2% trở lên;
2 - Số lượng, trị giá hàng hoá bán phá giá từ một nước vượt quá 3% tổng khối lượng hàng nhậpkhẩu (ngoại trừ trường hợp số lượng nhập khẩu của các hàng hoá tương tự mới nước có khốilượng dưới 3%, nhưng tổng số các hàng hoá tương tự của các nước khác nhau được xuất khẩuvào nước bị bán phá giá chiếm trên 7%)
Theo quy định của WTO, biên độ phá giá được xác định thông qua việc so sánh với mức giá cóthể so sánh được của hàng hoá tương tự được xuất khẩu sang một nước thứ ba thích hợp, vớiđiều kiện là mức giá có thể so sánh được này mang tính đại diện, hoặc được xác định thông qua
so sánh với chi phí sản xuất tại nước xuất xứ hàng hoá cộng thêm khoản chi phí hợp lý cho quảntrị, bán hàng, các chi phí chung khác và một khoản lợi nhuận Như vậy, có thể hiểu rằng biên độphá giá là mức chênh lệch giá thông thường của hàng hoá tương tự với mức giá xuất khẩu hiệntại Việc xác định giá thông thường được tính toán rất phức tạp dựa trên cơ sở sổ sách và ghichép của nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất là đối tượng đang được điều tra với điều kiện là sổsách này phù hợp với các nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi và phán ảnh được mộtcách hợp lý của chi phí
Trang 29Để xác định hàng hoá có bị bán phá giá hay không, việc bán phá giá có thể gây thiệt hại đáng kểcho ngành sản xuất trong nước hay không để áp đặt các biện pháp chống phá giá thì điều quantrọng nhất và phức tạp nhất này ở quá trình điều tra về bán pháp giá Ở những quốc gia khácnhau, việc điều tra sẽ được thực hiện bở các cơ quan chức năng khác nhau Theo quy định trongHiệp định về chống bán pháp giá của WTO thì việc điều tra chỉ được tiến hành khi có đơn yêucầu bằng văn bản của ngành sản xuất trong nước hoặc của người dân dành cho ngành sản xuấttrong nước Đơn yêu cầu sẽ được coi là đủ tư cách đại diện cho ngành sản xuất trong nước nếunhư đơn này nhận được sự ủng hộ bởi các nhà sản xuất chiếm tối thiểu 50% tổng sản lượng củasản phẩm tương tự được bắt đầu nếu như các nhà sản xuất bày tỏ ý kiến tán thành điều tra chiếm
ít hơn 25% tổng sản lượng của sản phẩm tương tự được ngành sản xuất trong nước làm ra
Các hình thức bán phá giá
Bán phá giá gồm 2 loại:
a) Bán phá giá chớp nhoáng (bán phá giá độc quyền):là hình thức bán giá xuất khẩu tạm
thời thấp hơn giá nội địa để tăng sức cạnh tranh, loại trừ đối thủ Khi đã đạt được mụcđích thì mức giá sẽ được nâng lên ở mức giá độc quyền Phá giá độc quyền là hành vi viphạm thô bạo nguyên tắc cạnh tranh vì bản chất của nó là hành vi nhằm độc quyền hóa.Phá giá độc quyền làm hủy hoại cạnh tranh và là nguyên nhân trực tiếp gây ra những bất
ổn về kinh tế
Phá giá độc quyền chia làm 2 loại:
•Phá giá chiến lược: là hành vi bán phá giá nằm trong một chiến lược cạnh tranh tổng thể
của nước xuất khẩu
•Phá giá cướp đoạt: là hành vi định giá thấp nhằm mục đích đẩy đối thủ cạnh tranh vào
tình trạng phá sản để giành vị trí độc quyền tại nước nhập khẩu
b) Bán phá giá không độc quyền, biểu hiện ở loại hình thức:
• Bán phá giá bền vững( Chính sách phân biệt về giá cả): Bán phá giá bền vững là xu
hướng bán sản phẩm trên thị trường thế giới với giá thấp hơn giá nội địa nhằm cực đại lợinhuận của nhà sản xuất, xuất khẩu
• Bán phá giá không thường xuyên (Phá giá chu kì): là bán giá xuất khẩu thấp để tránh rủi
ro của thị trường thế giới và giải quyết vấn đề khó khăn về tài chính màcông ty đang cầngiải quyết gấp.Đây là hình thức phá giá mà nhiều doanh nghiệp sử dụng nhằm giải quyếthậu quả của việc sản xuất quá dư thừa loại hàng hóa đó
Trang 30Ngoài ra trên thực tế còn có 2 hình thức bán phá giá khác là:
• Bán phá giá đảo ngược (bán phá giá mở rộng thị trường): là định giá đối với thị trường
nước ngoài cao hơn so với trong nước Đây là việc nhà sản xuất bán hàng hóa với giá cao
ở trong nước nhằm hỗ trợ cho giá thấp ở thị trường xuất khẩu
• Bán phá giá qua lại: bán phá giá qua lại tạo ra sự chênh lệch về giá (khi hàng hóa trong
nước và nước ngoài không có sự khác biệt về giá), từ đó thương mại quốc tế sẽ xảy ra
Câu 2: Tác động của bán phá giá đến nền kinh tế
a Đối với nước xuất khẩu
Mặt tích cực
Bán phá giá giúp cho các doanh nghiệp trong nước xuất khẩu mở rộng thị trường tiêu thụ sảnphẩm, tăng thu được ngoại tệ, giúp tiêu thụ được lượng hàng tồn kho, đặc biệt là các mặt hànglương thực, thực phẩm, quần áo lỗi mốt Tiêu biểu như ở Pháp, ngay từ khi mới vào mùa đã cólượng hàng tồn đọng như: thực phẩm sắp hết thời hạn sử dụng, quần áo , giầy dép hết mốt lêntới 50% số dự trữ bán ra Hàng tồn kho này được mang bán với mức giá thấp hơn 30% giá thịtrường Đến cuối mùa, hàng tồn đọng chỉ còn vài phần trăm lại đựơc bán lại cho những ngườichuyên nghiệp với giá bằng 1/10 giá cũ, họ sẽ đẩy số hàng hoá này ra nước ngoài bán phá giá.Ngoài ra biện pháp bán phá giá còn là công cụ quan trọng trong chính sách Ngoại thương của đấtnước nhằm giúp cho việc thực hiện những mục tiêu cụ thể trong chiến lược phát triển kinh tế xãhội của nước đó
b Đối với nước nhập khẩu
Tác động tích cực
Người tiêu dùng có cơ hội để lựa chọn , tiêu dùng những mặt hàng mới, lạ giá cả dễ chấp nhận
Trang 31Đối mặt với những mặt hàng từ nước ngoài đưa vào với giá rẻ, buộc các dịch vụ trong nước phảitìm cách cải tiến mẫu mã hàng hóa, đổi mới máy móc thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm,tích cực áp dụng công nghệ tiên tiến, tận dụng nguồn nhân lực để hạ chi phí sản xuất nhằm giữvững vị trí trên thị trường và thu được lợi nhuận tối ưu.
Các chủ doanh nghiệp,những người kinh doanh do hám lợi, thu được lợi nhuận cao, do đó tìmmọi cách nhập lậu hàng hoá, trốn thuế gây thất thu cho Ngân sách Nhà nước Hơn nữa do khôngthể cạnh tranh đựơc với hàng nước ngoài nên nhiều xí nghiệp trong nước bị đình trệ sản xuất, bịphá sản hoàn toàn Khi đó nó là nguyên nhân quan trọng gây ra hiện tượng trì trệ, hạn chế tốc độphát triển nền kinh tế của nước nhập khẩu
Về mặt xã hội, việc các xí nghiệp bị đóng cửa sản xuất hoặc ở bên bờ của sự phá sản hoạt độngcầm chừng đã làm cho nhiều công nhân không có việc làm, đời sống khó khăn, thất nghiệp tăng,kèm theo nó là các tệ nạn xã hội cũng gia tăng gây khó khăn cho sự phát triển kinh tế xã hội củanước nhập khẩu
Câu 3: Các biện pháp chống bán phá giá mà một quốc gia có hể áp dụng
Theo quy định của ADA và quy định của pháp luật các nước thành viên các biện pháp chống bánphá giá bao gồm:
- Thuế chống bán phá giá;
- Cam kết về các biện pháp loại trừ bán phá giá của tổ chức, cá nhân sản xuất và xuất khẩu hàng hóa bị yêu cầu áp dụng các biện pháp chống bán phá giá với cơ quan nhà nước có thẩm quyền ápdụng các biện pháp chống bán phá giá hoặc với các nhà sản xuất trong nước nếu được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đồng ý
- Ngoài ra, trước khi áp dụng biện pháp thuế, biện pháp cam kết giá cơ quan điều tra có thể áp dụng các biện pháp tạm thời (i) thuế (ii) đặt cọc khoản tiền tương đương với khoản thuế chống bán phá giá dự kiến (iii) cho thông quan nhưng bảo lưu quyền đánh thuế và nêu rõ mức thuế nhập khẩu thông thường và mức thuế chống bán phá giá dự kiến áp dụng
Thuế chống bán phá giá là thuế nhập khẩu bổ sung của nước nhập khẩu áp dụng cho hàng nhập
khẩu được bán phá giá với mục đích ngăn cản sự tiếp diễn của việc bán phá giá đó nhắm tránh gây thiệt hại cho ngành sản xuất sản phẩm tương tự ở trong nước Cơ quan điều tra chống bán phá giá sẽ quyết định mức thuế chống bán phá giá trên cơ sở biên độ phá giá, theo nguyên tắc
Trang 32mức thuế này có thể tương đương hoặc nhỏ hơn biên độ phá giá.
Cơ quan điều tra sẽ xác định biên độ phá giá và mức thuế chống bán phá giá riêng cho từng nhà sản xuất, xuất khẩu Trường hợp số nhà sản xuất, xuất khẩu quá lớn không thể tính riêng biên độ phá giá được, thì cơ quan chức năng sẽ xem xét giới hạn ở một số nhà sản xuất, xuất khẩu nhất định, trên cơ sở trao đổi với các nhà sản xuất, xuất khẩu liên quan và mức thuế đối với hàng nhậpkhẩu từ các nhà sản xuất, xuất khẩu không được điều tra không vượt quá mức thuế của các nhà sản xuất, xuất khẩu có điều tra
Trường hợp quốc gia xuất khẩu không chịu hợp tác cung cấp thông tin cho quá trình điều tra, thì
cơ quan điều tra bán phá giá của nước nhập khẩu trên cơ sở những thông tin tự thu thập được kết hợp với những thông tin mà bên nguyên đơn đưa ra sẽ quyết định biên độ bán phá giá và mức thuê áp dụng
Biện pháp cam kết: Việc điều tra có thể ngừng hoặc kết thúc mà không cần áp dụng biện pháp
tạm thời hoặc thuế chống bán phá giá, nếu như nhà xuất khẩu tự nguyện cam kết tăng giá hoặc ngừng xuất khẩu phá giá vào thị trường đang điều tra và được cơ quan điều tra nhất trí rằng biện pháp này sẽ khắc phục được thiệt hại Mức tăng giá không nhất thiết phải lớn hơn mà thường là nhỏ hơn biên độ phá giá nếu như đã đủ khắc phục thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước
Cơ quan điều tra sẽ không chấp nhận cho các nhà sản xuất, xuất khẩu cam kết giá nếu thấy việc cam kết không khả thi, chẳng hạn số lượng nhà xuất khẩu quá lớn
Cơ quan điều tra có thể đề nghị nhà xuất khẩu cam kết giá nhưng không bắt buộc phải cam kết Các cơ quan hữu quan của nước nhập khẩu có thể yêu cầu bất kỳ nhà xuất khẩu nào chấp nhận cam kết giá cung cấp thông tin định kỳ về việc thực hiện cam kết giá.Trường hợp nhà xuất khẩu
vi phạm cam kết giá, cơ quan điều tra có thể lập tức áp dụng biện pháp tạm thời trên cơ sở thông tin mà họ có
Câu 4: Bản chất và mục đích của thuế chống bán phá giá
Thuế chống bán phá giá là khoản thuế bổ sung bên cạnh thuế Nhập khẩu thông thường, đánh vàosản phẩm nước ngoài bị bán phá giá vào nước Nhập khẩu Đây là loại thuế nhằm chống lại việc bán phá giá và loại bỏ những thiệt hại do việc hàng Nhập khẩu bán phá giá gây ra Trên thực tế, thuế chống bán phá giá được nhiều nước sử dụng như một hình thức "bảo hộ hợp pháp" đối với sản xuất nội địa của mình Để ngăn chặn hiện tượng lạm dụng biện pháp này, các nước thành viên WTO đã cùng thoả thuận về các quy định bắt buộc phải tuân thủ liên quan đến việc điều tra
và áp đặt thuế chống bán phá giá, tập trung trong một Hiệp định về chống bán phá giá của WTO
- Hiệp định ADA
Về thực chất, thuế chống bán phá giá là một loại thuế nhập khẩu bổ sung đánh vào những hàng hoá bị bán phá giá ở nước nhập khẩu nhằm hạn chế những thiệt hại do việc bán phán giá đưa đếncho ngành sản xuất của nước đó nhằm bảo đảm sự công bằng trong thương mại (nói chính xác đó
là một sự bảo hộ hợp lý cho sản xuất trong nước) Thuế này đánh vào các nhà sản xuất riêng lẻ chứ không phải là thuế áp đặt chung cho hàng hoá của một quốc gia Nguyên tắc chung nêu ra