ĐỀ TÀI MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN BỐ CÁC NGÀNH DỊCH VỤ Ở NƯỚC TA MỤC LỤC MỞ ĐẦU...3 1.. Tình hình phát triển và phân bố ngành giao thông vận tải ở nước ta...5 1.. Dịch vụ kinh d
Trang 1ĐỀ TÀI MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN BỐ CÁC
NGÀNH DỊCH VỤ Ở NƯỚC TA
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
2.1 Mục đích 4
2.2 Nhiệm vụ 4
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG I: VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN BỐ 5
CÁC NGÀNH DỊCH VỤ Ở NƯỚC TA 5
I Tình hình phát triển và phân bố ngành giao thông vận tải ở nước ta 5
1 Mạng lưới giao thông vận tải 5
2 Tình hình và cơ cấu vận tải 7
II Vấn đề phát triển ngành thông tin liên lạc ở nước ta 9
1 Vai trò của ngành thông tin liên lạc trong nền kinh tế thị trường 9
2 Tình hình phát triển và phân bố ngành bưu chính và viễn thông 10
III Vấn đề phát triển ngành thương mại ở nước ta 12
1 Nội thương 12
2 Ngoại thương 13
IV Vấn đề phát triển ngành du lịch ở nước ta 14
1 Khái niệm về tài nguyên du lịch 14
2 Tài nguyên du lịch 14
3 Tình hình phát triển du lịch và sự phân hóa theo lãnh thổ 17
4 Phát triển du lịch bền vững 18
Trang 2CHƯƠNG II: MỘT SỐ DẠNG CÂU HỎI VỀ CÁC NGÀNH DỊCH VỤ Ở
NƯỚC TA 19
I Dạng câu hỏi có mẫu 19
II Dạng câu hỏi không có mẫu 22
1 Câu hỏi chứng minh 23
2 Câu hỏi giải thích 24
3 Câu hỏi phân tích 31
KẾT LUẬN 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Dịch vụ là khu vực có vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế thếgiới nói chung và mỗi quốc gia nói riêng Đây là khu vực kinh tế rất đa dạng vàphức tạp Trong nền kinh tế đương đại, dịch vụ trở thành hoạt động không thểthiếu được nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền sản xuất và đời sống
xã hội
Khác với ngành công nghiệp và nông nghiệp, dịch vụ là ngành không trựctiếp sản xuất ra của cải vật chất, nhưng lại có ý nghĩa đặc biệt nhờ việc làm tăngthêm giá trị của hàng hóa và là giá trị vô hình Giữa sản phẩm nông nghiệp,công nghiệp với sản phẩm dịch vụ có sự khác nhau rõ rệt về giá trị thương mại,giá trị sử dụng và ngày công lao động được tích lũy trong mỗi sản phẩm
Về cơ cấu, khu vực dịch vụ là một tổng thể của nhiều ngành, hoạt động vàhết sức phức tạp Ở nhiều nước người ta chia các ngành dịch vụ ra thành 3nhóm: dịch vụ kinh doanh, dịch vụ tiêu dùng, dịch vụ công Dịch vụ kinh doanhgồm vận tải và thông tin liên lạc, tài chính, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản…Các dịch vụ tiêu dùng bao gồm các hoạt động bán buôn bán lẻ, du lịch, dịch vụ
cá nhân (như y tế, giáo dục, thể thao)… Các dịch vụ công bao gồm các dịch vụhành chính công, các hoạt động đoàn thể…
Đất nước ta từ khi bước vào công cuộc Đổi mới, khu vực dịch vụ ngàycàng phát triển Nó đảm nhận một vai trò quan trọng trong quá trình thực hiệncác đường lối chiến lược phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, chính trị Nó thamgia vào hầu hết các hoạt động kinh tế - xã hội, góp phần đẩy mạnh mối liên hệliên ngành và liên vùng, đảm bảo phục vụ mọi nhu cầu của sản xuất và đời sống
Trang 4cho từng thành viên trong xã hội Trong nền kinh tế thị trường, dịch vụ còn tạođiều kiện cho nước ta nhanh chóng hội nhập vào nền kinh tế của khu vực và trênthế giới.
Do tính chất quan trọng như vậy, nên trong những năm gần đây, ngànhdịch vụ luôn được quan tâm trong chương trình giảng dạy Địa lí tại các trườngphổ thông, đặc biệt là việc bồi dưỡng học sinh giỏi Với những lý do trên, tôi
viết đề tài “Một số vấn đề phát triển và phân bố các ngành dịch vụ ở nước ta”.
Với Chuyên đề này, tôi mong muốn được đóng góp một số kiến thức và kĩnăng, giúp các em học sinh phổ thông trong các đội tuyển thi học sinh giỏi Địa lí
có thể tìm thấy nhiều điều bổ ích và thú vị trong quá trình học tập
Tuy nhiên, Chuyên đề cũng không tránh khỏi nhiều thiếu sót Tôi rấtmong nhận được sự động viên và những ý kiến đóng góp chân thành của Quýthầy cô và các em học sinh để Chuyên đề hoàn thiện hơn Tôi xin chân thànhcảm ơn!
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề về địa lí kinh tế - xã hội nói chung,ngành dịch vụ nói riêng và cấu trúc đề thi chọn học sinh giỏi Quốc gia, đề tài tậptrung vào việc nghiên cứu sâu về sự phát triển và phân bố của một số ngành dịch
vụ ở nước ta (tập trung vào bốn ngành sau: ngành giao thông vận tải, thông tinliên lạc, thương mại, du lịch), từ đó đưa ra và giải quyết có hiệu quả các dạngcâu hỏi bổ trợ cho đội tuyển thi học sinh giỏi
2.2 Nhiệm vụ
Đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Tổng quan một số vấn đề về sự phát triển và phân bố các ngành dịch vụ
ở nước ta
- Đưa ra và giải quyết có hiệu quả các dạng câu hỏi liên quan đến sự pháttriển và phân bố các ngành giao thông vận tải, thương mại, du lịch
Trang 5NỘI DUNG
CHƯƠNG I: VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN BỐ
CÁC NGÀNH DỊCH VỤ Ở NƯỚC TA
I Tình hình phát triển và phân bố ngành giao thông vận tải ở nước ta
1 Mạng lưới giao thông vận tải
Nhìn chung, nước ta có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển giao thôngvận tải với đầy đủ các loại hình vận tải, bao gồm: vận tải đường bộ (đường ô tô,đường sắt), đường thủy (đường sông, đường biển), đường hàng không và đườngống Trong đó, mạng lưới đường ô tô có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự pháttriển kinh tế - xã hội đất nước
1.1 Đường ô tô
Cho đến nay, về cơ bản, mạng lưới ô tô đã phủ khắp các vùng trong cảnước với tổng chiều dài các loại là 256.684 km Mạng lưới đường ô tô ngàycàng phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng nhằm đáp ứng yêu cầucủa công cuộc đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
Hà Nội và TP Hồ Chí Minh là hai đầu mối giao thông lớn nhất cả nước với cáctuyến lan tỏa nhiều hướng
Các tuyến đường chính:
- Quốc lộ 1 và đường Hồ Chí Minh là 2 trục đường bộ xuyên quốc gia.Quốc lộ 1 chạy từ cửa khẩu Hữu Nghị (Lạng Sơn) đến Năm Căn (Cà Mau) dài2.300 km, là tuyến đường xương sống đi qua các vùng kinh tế của cả nước (trừ
Trang 6Tây Nguyên) Đường Hồ Chí Minh có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển KT-XHcủa dải đất phía Tây đất nước.
- Các tuyến đường bộ xuyên Á đang hội nhập vào hệ thống đường bộ cácnước trong khu vực
1.2 Đường sắt
Đường sắt Việt Nam ra đời từ thời Pháp thuộc Hiện nay, tổng chiều dàiđường sắt của nước ta là 3143 km Mật độ đường sắt đạt 7,5 km/1.000 km2(0,079 km/km2), cao hơn nhiều nước Đông Nam Á Về chất lượng, 84% tổngchiều dài là khổ rộng 1m, khoảng 7% là đường đạt tiêu chuẩn quốc tế khổ rông1,435m và 9% đường lồng
Mạng lưới đường sắt quốc gia phân bố theo 7 trục đường chính là ThốngNhất (Hà Nội – TP Hồ Chí Minh dài 1.729 km), Hà Nội – Lào Cai (285 km),
Hà Nội – Hải Phòng (96 km), Hà Nội – Đồng Đăng (167 km), Hà Nội – TháiNguyên (gần 55 km), Lưu Xá – Kép – Bãi Cháy (162 km) với 303 nhà ga đườngsắt Tuyến đường sắt Thống Nhất (Hà Nội – TP Hồ Chí Minh) là tuyến quantrọng nhất và có ý nghĩa kinh tế lớn nhất Tuyến này chạy suốt theo chiều dài đấtnước, song song với quốc lộ 1A Hai cửa khẩu quốc tế có đường sắt là ĐồngĐăng (Lạng Sơn) và Lào Cai
1.3 Đường sông
Nhờ có mạng lưới sông ngòi, kênh rạch dày đặc, giao thông đường sôngnước ta có cơ hội để phát triển Tuy nhiên mới chỉ sử dụng 11000 km, mật độtrung bình là 136 km/1.000 km2 Các phương tiện vận tải trên sông khá đa dạngnhưng còn ít được cải tiến, hiện đại hóa
Mạng lưới đường sông chủ yếu tập trung ở hai hệ thống sông Hồng - sôngThái Bình và hạ lưu sông Đồng Nai – Mê Kông Đầu mối giao thông quan trọngnhất là Thành phố Hồ Chí Minh
1.4 Đường biển
Ngành vận tải đường biển nước ta cũng có những điều kiện thuận lợi đểphát triển với đường bờ biển dài (3.260 km), địa hình bờ biển thuận lợi cho việc
Trang 7xây dựng các cảng lớn và nhỏ Hiện nay, cả nước có 160 cảng biển lớn, nhỏ,trong đó có 73 cảng quan trọng với 3 cụm cảng trung tâm (Hải Phòng – QuảngNinh, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh – Vũng Tàu) và 6 nhóm cảng: Đông Bắc(nhóm 1 từ Quảng Ninh đến Ninh Bình), Bắc Trung Bộ (nhóm 2 từ Thanh Hóađến Hà Tĩnh), Trung Trung Bộ (nhóm 3 từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi), NamTrung Bộ (nhóm 4 từ Bình Định đến Bình Thuận), TP Hồ Chí Minh – Bà Rịa –Vũng Tàu (nhóm 5) và đồng bằng sông Cửu Long (nhóm 6, bao gồm cả nhómcảng phía Tây Nam và Côn Đảo).
Các tuyến đường biển ven bờ chủ yếu theo hướng Bắc - Nam Quan trọngnhất là tuyến Hải Phòng – thành phố Hồ Chí Minh, dài 1.500 km
Các tuyến đường bay trong nước và quốc tế: Các tuyến bay trong nướcđược khai thác trên cơ sở ba đầu mối chủ yếu là Hà Nội, Thành phố Hồ ChíMinh và Đà Nẵng Ngoài ra, nước ta đã mở các đường bay đến nhiều nước trongkhu vực và trên thế giới
1.6 Đường ống
Vận chuyển bằng đường ống ngày càng phát triển, gồm có đường ống dẫnnước ở thành phố, đường ống dẫn dầu và đường ống dẫn khí Trong tương lai,khi công nghiệp khai thác dầu khí và nhất là công nghiệp lọc hóa dầu phát triển
Trang 8mạnh, mạng lưới đường ống sẽ có điều kiện để được đẩy nhanh nhằm góp phầnthực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Tuyến đường chính: Tuyến đường ống vận chuyển sản phẩm xăng dầuB12 (Bãi Cháy- Hạ Long), tuyến đường ống dẫn khí từ nơi khai thác dầu khíngoài thềm lục địa vào đất liền
2 Tình hình và cơ cấu vận tải
Mạng lưới giao thông ngày càng phát triển để đáp ứng nhu cầu của sảnxuất và đời sống, do đó khối lượng vận chuyển và luân chuyển của ngành GTVTtăng nhanh, tất cả các loại hình đều có xu hướng tăng, tuy mức độ có khác nhau
Luân chuyển (triệu người.km)
Vận chuyển (triệu tấn)
Luân chuyển (triệu tấn.km)
Trang 9đạt 376,5 triệu lượt người thì đến năm 2010 đã tăng 2.194,3 triệu lượt người,tăng 5,8 lần Khối lượng luân chuyển trong thời gian nói trên tương ứng là15.252,4 triệu lượt người.km và 98.079,0 triệu lượt người.km, tăng 6,4 lần Cự livận chuyển trung bình tăng từ 40,5 km (năm 1990) lên 44,7 km (năm 2010).
Đối với vận tải hàng hóa, khối lượng vận chuyển năm 2010 so với năm
1990 tăng 9,1 lần (802,2 triệu tấn và 88,4 triệu tấn), khối lượng luân chuyển tănglên 12,3 lần (218.787,7 triệu tấn.km và 17.766,2 triệu tấn) Khối lượng luânchuyển tăng nhanh hơn khối lượng vận chuyển Cự li vận chuyển trung bìnhtăng từ 201,0 km (năm 1990) lên 272,7 km (năm 2010), tăng 1,4 lần
Về cơ cấu phân theo các loại hình vận tải, nhìn chung đường bộ chiếm ưuthế cả về hành khách và hàng hóa:
Đối với vận tải hành khách, đường bộ chiếm ưu thế tuyệt đối cả về khốilượng vận chuyển và khối lượng luân chuyển Năm 2010, khối lượng vậnchuyển của đường ô tô chiếm tới 91,7% tổng số hành khách vận chuyển của cảnước, tiếp theo là đường thủy (đường sông và đường biển) 7,2%, đường hàngkhông 0,6%, đường sắt 0,5% Cơ cấu khối lượng hành khách luân chuyển có sựcân đối hơn mặc dù vận tải đường ô tô vẫn chiếm ưu thế Năm 2010, khối lượngluân chuyển của đường ô tô đạt 70,6%, đứng thứ 2 là đường hàng không 21,6%,đường sắt đạt 4,5% và đường thủy là 3,2%
Về cơ cấu vận tải hàng hóa, ngành vận tải đường biển chiếm ưu thế trong
cơ cấu khối lượng hàng hóa luân chuyển, còn trong khối lượng vận chuyểnđường ô tô vẫn chiếm ưu thế Năm 2010, tỉ trọng khối lượng hàng hóa củađường ô tô là 72,9%, đường sông 18,0%, đường sắt 1,0%, còn tỉ trọng củangành hàng không không đàng kể Về cơ cấu khối lượng hàng hóa luân chuyển,năm 2010, đứng vị trí số 1 là đường biển với 67,0%, tiếp theo là đường ô tô16,6%, đường sông 14,4%, đường sắt 1,8% và đường hàng không 0,2%
II Vấn đề phát triển ngành thông tin liên lạc ở nước ta
1 Vai trò của ngành thông tin liên lạc trong nền kinh tế thị trường
Trang 10Thông tin liên lạc giúp cho việc giao lưu kinh tế - xã hội trong nước vàquốc tế được thực hiện nhanh chóng.
Trong nền kinh tế thị trường, việc cập nhật thông tin sẽ tạo nên thuận lợidẫn đến thành công trong quản lí, kinh doanh
Với xã hội, thông tin liên lạc phát triển sẽ khắc phục những hạn chế cả vềkhông gian và thời gian làm cho con người gần nhau hơn, đồng thời cũng giúpcon người nâng cao nhận thức về nhiều mặt
Thông tin liên lạc gồm hai hoạt động chính là bưu chính và viễn thông
2 Tình hình phát triển và phân bố ngành bưu chính và viễn thông
Tuy nhiên, hoạt động bưu chính vẫn còn những hạn chế: kỹ thuật còn lạchậu, chưa đáp ứng tốt sự phát triển của đất nước và đời sống nhân dân, phân bốchưa đều trên toàn quốc
c) Phương hướng phát triển
Triển khai thêm các hoạt động mang tính kinh doanh để phù hợp với kinh
tế thị trường Áp dụng tiến bộ về khoa học kĩ thuật như cơ giới hóa, tự động hóa,tin học hóa để đẩy nhanh tốc độ phát triển
2.2 Ngành viễn thông
a) Sự phát triển
Trang 11Trước thời kì đổi mới: Mạng lưới và thiết bị cũ kĩ lạc hậu, dịch vụ nghèo
nàn, đối tượng và phạm vi phục vụ hẹp, chủ yếu phục vụ các cơ quan, doanhnghiệp Nhà nước và một số cơ sở sản xuất
Những năm gần đây: Tốc độ tăng trưởng cao, đạt mức trung bình
30%/năm Với 5 nhà cung cấp dịch vụ viễn thông (VNPT, Viettel, SaigonPostel, EVN Telecom và Hanoi Telecom), đến năm 2005 nước ta đã có trên 15,8triệu thuê bao điện thoại, đạt 19 thuê bao/100 dân Điện thoại đó đến được hầuhết các xã trong toàn quốc Bước đầu có cơ sở vật chất kĩ thuật và mạng lướitiên tiến hiện đại: kỹ thuật analog lạc hậu được thay bằng mạng kỹ thuật số, tựđộng hóa cao và đa dịch vụ Dịch vụ thông tin đa dạng, phong phú Các tuyếntruyền dẫn liên tỉnh viba và cáp quang đã đạt tiêu chuẩn vào loại cao nhất hiệnnay Việt Nam có trên 5000 kênh đi quốc tế qua các hệ thống thông tin vệ tinh
và cáp biển hiện đại
b) Mạng lưới viễn thông
Mạng lưới viễn thông nước ta tương đối đa dạng và không ngừng pháttriển
- Mạng điện thoại: bao gồm mạng nội hạt và mạng đường dài, mạng cốđịnh và mạng di động
+ Mạng điện thoại nội hạt là tổng thể các đài trạm điện thoại, hệ thốngtruyền dẫn và các máy điện thoại thuê bao trên phạm vị một đơn vị lãnh thổhành chính Mạng này đã được tổ chức ở các thành phố, tỉnh lị, thị xã và cáchuyện trng toàn quốc
+ Mạng điện thoại đường dài là tổng thể các trạm điện thoại đường dài,các nút chuyển mạch tự động kết nối và trung chuyển các cuộc gọi lien tỉnh xuấtphát từ các trung tâm chuyển mạch nội hạt thông qua các đường truyền dẫn tiêuchuẩn
Trên toàn quốc hiện nay đã hình thành 4 trung tâm thông tin đường dàicấp vùng (Hà Nội,TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ) và các trung tâm cấptỉnh, huyện, thị
Trang 12Mạng di động hiện đã sử dụng các công nghệ mới với hình thức dịch vụ
đa dạng hơn như công nghệ GSM, CDMA, PHS Ngoài ra, mạng di động còncung cấp các dịch vụ phi thoại như nhắn tin và Internet
Điện thoại quốc tế có 3 cửa chính (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng)với nhiều kênh liên lạc trong nước và quốc tế thông qua vệ tinh và cáp quang
Nhìn chung, mạng điện thoại và số máy điện thoại tăng với tốc độ rấtnhanh: từ năm 1990 đến năm 2005, số thuê bao điện thoại tăng 112 lần; về kĩthuật và công nghệ đã được số hóa hoàn toàn Tuy nhiên, vẫn có sự phân bố rấtkhông đều giữa các vùng và các địa phương từng vùng Năm 2005, Đông Nam
Bộ là vùng dẫn đầu cả nước về số thuê bao (3.110.867 thuê bao, gấp 9,5 lần TâyNguyên - vùng thấp nhất cả nước) và số thuê bao/100 dân là 23,1 (gấp 3,3 lầnvùng Tây Nguyên) Đứng thứ 2 là vùng Đồng bằng sông Hồng (2.613.927 thuêbao và 14,5 số thuê bao/100 dân)
- Mạng phi thoại: đang được phát triển với với nhiều loại hình dịch vụmới, kĩ thuật tiên tiến Bao gồm: mạng Faxcimin (Fax) và mạng truyền trangbáo trên kênh thông tin
- Mạng truyền dẫn: được sử dụng với nhiều phương thức khác nhau: mạngdây trần, mạng truyền dẫn Viba, mạng cáp quang và mạng viễn thông quốc tế
III Vấn đề phát triển ngành thương mại ở nước ta
1 Nội thương
1.1 Tình hình phát triển
Việc buôn bán trao đổi hàng hóa ở nước ta diễn ra từ lâu đời với sự ra đời
và phát triển của một số đô thị như Thăng Long, Phố Hiến, Thanh Hà, Hội An Dưới thời Pháp thuộc hình thành một số chợ với quy mô tương đối lớn như chợĐồng Xuân, chợ Sắt, chợ Rồng, chợ Vinh, chợ Đông Ba, chợ Bến Thành
Đặc biệt phát triển mạnh từ sau Đổi mới, cả nước đã hình thành được thịtrường thống nhất, hàng hóa phong phú đa dạng, đáp ứng nhu cầu ngày càngtăng của nhân dân Sự phát triển của nội thương thể hiện rõ rệt qua tổng mứcbán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của xã hội, năm 1995 cả nước
Trang 13đạt gần 121,2 nghìn tỉ đồng theo giá thực tế, đến năm 2005 tăng lên 480,3 nghìn
tỉ đồng
Thu hút được sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, cơ cấu tổng mứcbán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ phân theo thành phần kinh tế có sự chuyểndịch theo hướng tích cực: khu vực ngoài Nhà nước luôn chiếm tỉ trọng cao nhất
và xu hướng tăng mạnh (1995 là 76,9%, 2005 đạt 83,3% - tăng 6,4%), khu vực
có vốn đầu tư nước ngoài cũng tăng nhanh tỉ trọng tuy nhiên còn chiếm tỉ trọngthấp (1995 là 0,5%, 2005 đạt 3,8% - tăng 3,3%) Giảm tỉ trọng là khu vực Nhànước (giảm 9,7%)
1.2 Phân bố
Hoạt động nội thương diễn ra không đồng đều theo các vùng lãnh thổ:
- Vùng có hoạt động nội thương phát triển mạnh: Đông Nan Bộ, Đồngbằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng
+ Thị trường buôn bán ngày càng được mở rộng theo hướng đa dạng hoá,
đa phương hoá Nước ta đã gia nhập WTO, có quan hệ buôn bán với hầu hết cácnước và vùng lãnh thổ trên thế giới
+ Cơ cấu giá trị xuất, nhập khẩu có sự thay đổi: Trước Đổi mới nước ta có
cán cân xuất nhập khẩu là nhập siêu Năm 1992, lần đầu tiên cán cân xuất nhậpkhẩu tiến tới cân đối, xuất siêu Từ 1993 đến nay tiếp tục nhập siêu nhưng bảnchất khác trước Đổi mới
- Xuất khẩu:
+ Kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng: 1990 đạt 2,4 tỷ USD tăng lên 32,4 tỷUSD vào năm 2005
Trang 14+ Các mặt hàng xuất khẩu ngày càng phong phú: hàng công nghiệp nặng
và khoáng sản, hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp, hàng nông lâmthuỷ sản
+ Thị trường xuất khẩu lớn nhất hiện nay là Hoa Kỳ, Nhật Bản, TrungQuốc
IV Vấn đề phát triển ngành du lịch ở nước ta
1 Khái niệm về tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, giá trị nhânvăn, công trình lao động sáng tạo của con người…có thể được sử dụng nhằmthỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu
du lịch, nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch
2 Tài nguyên du lịch
2.2 Thế mạnh
Trang 15a) Tài nguyên du lịch tự nhiên
Tài nguyên du lịch tự nhiên của nước ta tương đối phong phú và đa dạng.Địa hình: Việt Nam có cả đồi núi, đồng bằng, bờ biển và hải đảo, tạo nênnhiều cảnh đẹp Địa hình cacxtơ với hơn 200 hang động đẹp có khả năng khaithác di lịch Nhiều thắng cảnh nổi tiếng như vịnh Hạ Long, động Phong Nha,khu vực Ninh Bình “Hạ Long cạn” Dọc chiều dài 3260 km đường bờ biển có
khoảng 125 bãi biển lớn nhỏ, trong đó nhiều bãi dài tới 15 – 18 km (Tính đến năm 2014, nước ta có 3 di sản thiên nhiên được UNESCO công nhận: Vịnh Hạ Long vào năm 1994 và năm 2000; vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng công nhận vào năm 2003; Cao nguyên đá Đồng Văn - Hà Giang công nhận năm 2010).
Tài nguyên khí hậu: tương đối thuận lợi cho sự phát triển du lịch Sự phânhóa theo vĩ độ, theo mùa nhất là theo độ cao tạo sự đa dạng của khí hậu Trởngại chủ yếu với hoạt động du lịch là thiên tai (bão, lũ lụt) và phân mùa của khíhậu
Tài nguyên nước: Nhiều vùng sông nước như đồng bằng sông Cửu Long,các hồ tự nhiên (Ba Bể ) và nhân tạo (Hòa Bình, Thác Bà, Dầu Tiếng…) đã trởthành các điểm tham quan du lịch Nước ta có khoảng vài trăm nguồn nướckhoáng thiên nhiên có sức hút cao đối với du khách
Tài nguyên sinh vật: có nhiều giá trị trong việc phát triển du lịch Nước tahiện có hơn 30 vườn quốc gia, trong đó Cúc Phương là vườn quốc gia đầu tiênthành lập năm 1962
b) Tài nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch nhân văn của nước ta rất phong phú, gắn liền với lịch
sử hang ngàn năm dựng nước và giữ nước
Các di tích văn hóa – lịch sử: là loại tài nguyên du lịch nhân văn có giá trịhàng đầu Trên phạm vi toàn quốc, hiện có khoảng 4 vạn di tích các loại, trong
đó có hơn 2600 di tích đã được Nhà nước xếp hạnh Có nhiều di tích đã đượccông nhận là di sản văn hóa thế giới
Trang 16Các lễ hội: diễn ra hầu như trên khắp đất nước và luôn gắn liền với di tíchvăn hóa lịch sử Phần lớn các lễ hội diễn ra vào những tháng đầu năm âm lịchsau tết Nguyên Đán với thời gian dài, ngắn khác nhau Trong số này, có ý nghĩaquốc gia là lễ hội Đền Hùng, còn kéo dài nhất là lễ hội Chùa Hương, tới 3 tháng.Các lễ hội thường thường gắn với sinh hoạt văn hóa dân gian như hát đối đápcủa người Mường, ném còn của người Thái, lễ đâm trâu và hát trường ca thầnthoại Tây Nguyên…
Nước ta còn giàu tiềm năng về văn hóa dân tộc, văn nghệ dân gian vàhàng loạt làng nghề truyền thống với những sản phẩm đặc sắc mang tính nghệthuật cao Đây cũng là một loại tài nguyên nhân văn có khả năng khai thác đểphục vụ mục đích du lịch
(Tính đến năm 2014, nước ta có 18 di sản văn hóa được UNESCO công nhận) :
- Di sản văn hóa phi vật thể:
+ 2008: Nhã nhạc Cung đình Huế, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên.
+ 2011: Thành nhà Hồ.
+ 2012: Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm- Bắc Giang (di sản tư liệu).
+ 2014: Châu bản triều Nguyễn (di sản tư liệu).
+ 1993: Quần thể di tích Cố Đô Huế.
+ 1999: Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn (Quảng Nam).
+ 2009: Mộc bản triều Nguyễn (di sản tư liệu).
Trang 172.2 Hạn chế
- Thiên tai, sự phân mùa của khí hậu
- Tài nguyên du lịch, nhất là tài nguyên du lịch nhân văn đang bị hư hỏng,xuống cấp, cần thường xuyên tôn tạo, bảo vệ
3 Tình hình phát triển du lịch và sự phân hóa theo lãnh thổ
3.1 Tình hình phát triển
Ngành du lịch nước ta có quá trình hoạt động từ những năm đầu thập kỉ
60 của thế kỉ XX Tuy nhiên chỉ thật sự phát triển nhanh từ thập kỉ 90 đến nay
- Về số khách du lịch: khách nội địa tăng nhanh từ năm 1995 – 2007 tăng13,6 triệu lượt khách (tăng 3,5 lần); khách quốc tế có xu hướng tăng nhưng cònbiến động, từ năm 1995 – 2007 tăng 3,0 triệu lượt khách
- Về doanh thu của ngành du lịch tăng nhanh và liên tục: từ năm 1995 đến
2007 tăng 48 nghìn tỉ đồng (tăng 7,0 lần)
- Về cơ cấu khách du lịch quốc tế:
+ Số lượng khách du lịch từ Đông Nam Á đến nước ta chiếm tỉ trọng caonhất: năm 2007 là 16,5%, thứ 2 là Trung Quốc 13,6%, tiếp theo là Hàn Quốc11,2%, số khách khu vực Tây Âu, Bắc Mĩ đến nước ta còn chiếm tỉ lệ nhỏ
+ Cơ cấu khách du lịch quốc tế có sự chuyển dịch: tăng tỉ trọng của củakhu vực Đông Nam Á, các quốc gia khu vực Châu Á – Thái Bình Dương: Hoa
Kì, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ôxtrâylia… Giảm tỉ trọng của một số quốc gia nhưTrung Quốc, Đài Loan…
3.2 Sự phân hóa theo lãnh thổ
Về phương diện du lịch, nước ta chia thành ba vùng: Vùng du lịch Bắc
Bộ, vùng du lịch Bắc Trung Bộ, vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ
Các khu vực phát triển hơn cả tập trung ở 2 tam giác tăng trưởng du lịch
là Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, thành phố Hồ Chí Minh – Nha Trang –
Đà Lạt và ở dải ven biển
Trang 18Các trung tâm du lịch lớn nhất của nước ta là Hà Nội (ở phía Bắc), Thànhphố Hồ Chí Minh (ở phía Nam), Huế - Đà Nẵng (ở miền Trung).
Hãy giải thích vì sao Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng lại
là những trung tâm du lịch lớn nhất của cả nước
Ngoài ra, nước ta còn một số trung tâm du lịch quan trọng khác như: HạLong, Hải Phòng, Nha Trang, Đà Lạt, Vũng Tàu, Cần Thơ…
4 Phát triển du lịch bền vững
Ở nước ta, phát triển du lịch bền vững là một trong những mục tiêu quantrọng hàng đầu của ngành du lịch Sự bền vững phải được thể hiện ở các ba gócđộ: bền vững kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về tài nguyên – môitrường
Để phát triển bền vững, cần phải có hàng loạt giải pháp đồng bộ Trong sốnày nổi lên một số giải pháp chủ yếu như tạo ra các sản phẩm du lịch độc đáo,tôn tạo và bảo vệ tài nguyên – môi trường gắn với lợi ích của cộng đồng, tổ chứcthực hiện theo quy hoạch, giáo dục và đào tạo về du lịch