Trong giới hạn của chuyên đê “Hệ thống hóa kiến thức và các dạng câu hỏi,bài tập phần sông ngòi lớp 10 trong bồi dưỡng học sinh giỏi môn địa lí” nhằm mụcđích hệ thống các nội dung kiến t
Trang 1… Do đó, sông ngòi là một trong những yếu tố được con người quan tâm hàng đầu.
Sông ngòi là yếu tố tự nhiên có mối quan hệ chặt chẽ với các thành phần tựnhiên khác và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau Vì vậy với nội dungkiến thức này đòi hỏi giáo viên bồi dưỡng đội tuyển phải có sự nghiên cứu đầy đủ,chính xác, khoa học và cách truyền đạt phương pháp làm bài mang lại hiệu quả chohọc sinh
Trong giới hạn của chuyên đê “Hệ thống hóa kiến thức và các dạng câu hỏi,bài tập phần sông ngòi lớp 10 trong bồi dưỡng học sinh giỏi môn địa lí” nhằm mụcđích hệ thống các nội dung kiến thức cơ bản về yếu tố sông ngòi: các nhân tố ảnhhưởng tới chế độ nước sông, mối quan hệ của sông ngòi với các thành phần tựnhiên khác, giá trị kinh tế, các dạng bài tập có liên quan… Hi vọng chuyên đề sẽ làtài liệu hữu ích trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi
Trang 2II MỤC ĐÍCH CHUYÊN ĐỀ
- Cung cấp các kiến thức cơ bản về khái niệm sông ngòi, các nhân tố ảnhhưởng tới chế độ nước sông, mối quan hệ với các thành phần tự nhiên khác (Khíhậu, địa hình, thực vật…), giá trị kinh tế của sông ngòi nhằm phục vụ cho bồidưỡng học sinh giỏi quốc gia một cách chính xác đầy đủ và khoa học
- Giới thiệu các dạng câu hỏi, bài tập về sông ngòi trong các đề thi học sinhgiỏi quốc gia và quá trình tập huấn đội tuyển
- Định hướng cho giáo viên và học sinh các phương pháp giảng dạy và họctập nội dung phần sông ngòi có hiệu quả
CẤU TRÚC CHUYÊN ĐỀ
A PHẦN MỚ ĐẦU
B PHẦN NỘI DUNG
PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ SÔNG NGÒI
I Khái niệm chung
II Các nhân tố ảnh hưởng tới chế độ nước sông
III Mối quan hệ giữa sông ngòi với các thành phần tự nhiên khác
VI Giá trị kinh tế của sông ngòi
PHẦN II: BÀI TẬP
Các dạng câu hỏi, bài tập liên quan đến sông ngòi trên Trái Đất và sông ngòiViệt Nam
C PHẦN KẾT LUẬN
Trang 3B – PHẦN NỘI DUNG
PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ SÔNG NGÒI
I KHÁI NIỆM CHUNG
1 Định nghĩa sông ngòi.
Trong thủy quyển, sông ngòi có lượng nước ít nhất : 2210 km3\ chỉ chiếmkhoảng 0,0003% của tổng lượng thuỷ quyển Tuy vậy, sông ngòi lại có vai trò rấtquan trọng Trong lớp vỏ địa lí, sông ngòi là một thành phần chủ yếu trong quátrình tuần hoàn và trao đổi vật chất (nước, muối ) và năng lượng (nhiệt) một cách
cụ thể Ngoài ra, sông ngòi lại có một số lượng lớn và rải rộng trên khắp các lục địanên tạo điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển của con người
Hiểu biết về sông ngòi cũng khá phức tạp và trải qua một thời kì lịch sử lâudài Thời Cố đại, người ta thường quan niệm sông ngòi là nước; về sau, để phânbiệt với các đối tượng khác trên lục địa, người ta gọi sông ngòi là nước chảy Gần
đây, định nghĩa về sông ngòi mới chính xác dần lên Trước hết là : “Sông ngòi là
những dải trũng có độ dốc một chiều trong đó nước chảy thường xuyên theo trọng lực” Sau đó là: “Sông ngòi là những dòng chảy thường xuyên” Cuối cùng, để biểu
thị cho các thành phần khác nhau của dòng chảy'” có thể nói: “Sông ngòi là tổng
thể của các dòng chảy thường xuyên”.
2 Các hình thái sông ngòi.
Khi nghiên cứu về sông ngòi, người ta thường chú ý tới các đặc trưng thủy văn vì
là các yếu tố cơ bản Tuy vậy, các đặc trưng hình thái cũng có ảnh hưởng nhất địnhđến lượng dòng chảy cũng như chế độ nước sông Do đó, để hiểu biết toàn diện vềsông ngòi không thể bỏ qua các đặc trưng hình thái
a Hệ thống sông ngòi:
Nước rơi từ khí quyển hay nước tuyết và bãng tan sau một thời gian cháy tràntrên mặt đất dốc sẽ tập trung lại thành dòng chảy Các dòng cháy nhỏ chảy vào cácdòng chảy lớn hơn rồi cuối cùng đổ vào một dòng chảy lớn nhất để tiêu nước vàomột đối tượng nhận nước nào đó: hồ đầm, biển và đại dương Các dòng chảy trong
Trang 4phạm vi nào đó hợp thành một hệ thống sông ngòi Trong mỗi hệ thống, dòng chảy
lớn nhất được gọi là dòng chính; còn các dòng chảy nhỏ hơn chảy vào dòng chính gọi là các phụ lưu Mỗi hệ thống sông thường có nhiều phụ lưu và người ta đã tiến
hành phân cấp theo các phương pháp khác nhau Ngày nay, theo phương pháp mới,dòng chảy nào chỉ nhận được nước chảy tràn và nước suối gọi là phụ lưu cấp 1 Phụlưu cấp 1 này đổ vào dòng chảy nào, dòng chảy dó gọi là phụ lưu cấp 2 Cứ nhưvậy cho tới phụ lưu cuối cùng là dòng chảy đổ trực tiếp vào dòng chính Các phụlưu thường tồn tại ở thượng và trung lưu Ngược lại, ở phía hạ lưu lại có những
dòng chảy chia bớt nước cho dòng chính gọi là chi lưu Đối với các chi lưu, người
ta cũng tiến hành phân cấp Dòng chảy nào trực tiếp chảy ra từ dòng chính gọi làchi lưu cấp 1, dòng chảy nào từ chi lưu cấp 1 chảy ra gọi là chi lưu cấp 2 và cứnhư vậy cho tới chi lưu cuối cùng Số lượng chi lưu bao giờ cũng ít hơn các phụlưu Trong hệ thống sông Hồng : Sông Hồng là dòng chính; các sông: Đà, Lô,Chảy là các phụ lưu ; còn các sông: Đáy, Trà Lí, Ninh Cơ là các chi lưu
Hình 1: Sơ đồ hệ thống sông Hồng
b Hình dạng lưới sông:
Là sự kết hợp của dòng chính, các phụ lưu và các chi lưu Hình dạng lưới sôngcũng có ảnh hưởng nhất định đến quá trình tập trung nước và đặc điểm lũ trên sông
Trang 5Có 3 dạng lưới sông cơ bản là: lông chim (Mêkông, Ba ), song song (hệ thống Mã
- Chu, hệ thống Đại - Kiến) và nan quạt (hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình).Trong các dạng lưới sông trên, dạng nan quạt thường có lũ lớn, đột ngột có thể gâylụt lội cho hạ lưu
Các hệ thống sông ngòi thường tách biệt nhau, song cũng có khi kết hợp với
nhau, nhất là ở phía hạ lưu để tạo thành một mạng lưới sông ngòi Các hệ thống
sông: Hồng - Thái Bình tạo thành mạng lưới sông ngòi Bắc Bộ; các hệ thống sôngCửu Long - Đồng Nai hợp thành mạng lưới sông ngòi Nam Bộ
Sự phát triển của hệ thông sông ngòi, nhất là chiều dài dòng chảy, thường
được biếu thị qua mật độ sòng ngòi
Nói chung, ờ những nơi mưa nhiều, đất đá ít thấm, mật độ sông ngòi sẽ dày
hơn Mật độ sông ngòi ở nước ta vào khoảng 1 km/km2 Mật độ sông ngòi cũng cóảnh hưởng quan trọng tới chế độ nước sông Nơi có mật độ lớn, chế độ nước thường
ít khắc nghiệt hơn các nơi khác
c Lưu vực sông ngòi:
Một phạm vi nhất định của bề mặt lục địa tập trung nước để cung cấp cho sông
ngòi gọi là lưu vực sông Nguồn nước cung cấp cho sông ngòi chủ yếu là từ bề mặt
đất và một phần khác là do nước dưới đất Do đó, lưu vực sông bao gồm 2 bộ phận :lưu vực mặt và lưu vực ngầm Hai lưu vực này cũng có khi không trùng nhau, nhất
là nơi có địa hình Cacxtơ phát triển, nhưng người ta thường cho là thống nhất và lấylưu vực mặt làm cơ sở Như vậy, lưu vực sông là một thế tích, song thường đượchiểu đơn giản là một diện tích
Ranh giới của các lưu vực sông khác nhau là đường phân thuỷ Tại các lưu vực
cũng tồn tại các đường phân thuỷ khác nhau: đường phân thuỷ mặt và đường phânthuỷ ngầm Hai đường phân thuỷ này cũng có khi không trùng nhau ; song cũngnhư lưu vực mặt, đường phân thuỷ mặt cũng được lấy làm cơ sở Đường phân thuỷmặt có thể được xác định dễ dàng theo các đường đỉnh núi, còn ở đồng bằng côngviệc này khó khăn hơn nhiều
Trang 6mà đột nhiên biến đổi do hiện tượng bắt dòng Khi hiện tượng này xảy ra, diện tíchlưu vực sẽ biến đổi theo Trên các dãy núi, khi có sườn bất đối xứng dễ xảy ra bắtdòng về phía sườn dốc Hiện tượng này cũng thường xảy ra : sông Kì Cùng ớ LạngSơn bị Tả Giang bắt dòng về Trung Quốc
Lưu vực sông có tác dụng quan trọng tới dòng chảy sông ngòi Trước hết, kíchthước lưu vực có ánh hưởng trực tiếp tới lượng dòng chảy Nói chung, lưu vực sôngcàng lớn, lưu lượng nước sẽ lớn theo ; ngược lại lưu vực nhỏ, lưu lượng sẽ nhỏ đi.Đồng thời, diện tích lưu vực cũng có ảnh hưởng tới chế độ nước sông do tác dụng
điều tiết tự nhiên Các lưu vực lớn thường bao gồm nhiều thành phần tự nhiên khác
nhau nên có tác dụng điều hoà dòng chảy hơn ; còn các lưu vực nhỏ thường mangnhững đặc trưng riêng biệt (vùng karst, vùng rừng ) Ngoài ra, hình dạng lưu vựccũng có tác dụng nhất định đến quá trình tập trung nước và đặc điểm lũ Nói chung,lưu vực sông nhỏ và dài, tương ứng với dạng lưới sông hình lông chim thường sảnsinh lũ bộ phận hay lũ đơn ; ngược lại, lưu vực dạng tròn, thường tương ứng vớidạng lưới sông hình nan quạt nên thường gây lũ toàn phần hay lũ kép, kéo dài và cóthể xảy ra lũ lụt ở hạ lưu
Theo Vê-li-ca-nôp (V.A.Vêlicanov), lưu vực sông có dạng tròn là phổ biếnhơn: lưu vực sông Hồng, sông Thái Bình ; còn lưu vực có dạng dài ít phổ biếnhơn : lưu vực sông Mêkông, sông Ba Đặc biệt hệ thống Mêkông lại được điều tiếtnước bởi Biển Hồ ở Cam-pu-chia (Campuchia) nên lũ xảy ra ít đột ngột
- Hình ảnh các dạng lưu vực sông:
Trang 7d Lòng sông
Là bộ phận thấp nhất của thung lũng trong đó có nước chảy thường xuyên
Do lượng nước trong sông luôn thay đổi nên kích thước của lòng sông cũngthay đổi theo Lòng sông ứng với lượng nước nhỏ nhất về mùa cạn gọi là lòng nhỏhay lòng sông gốc; còn lòng mở rộng ứng với lượng nước lớn nhất trong mùa lũ gọi
là lòng lớn hay lòng cả Lòng sông ứng với lượng nước bình thường nào đó gọi làlòng sông hoạt động hay lòng thường xuyên
Hình dạng mặt bằng của lòng sông cũng khá phức tạp Lòng sông rất ít khi
thẳng mà thường uốn khúc quanh co Nguyên nhân của hiện tượng này có thể là
nguyên nhân của địa chất hoặc địa mạo (uốn khúc sơn văn), song chú yếu là do quyluật chuyển động của nước trong sông (uốn khúc thuỷ văn) Hệ số uốn khúc đượcxác định bằng công thức sau :
K L L'
Trong đó: L' là chiều dài thực và L là chiều dài đường chim bay
Hệ thống này tỷ lệ nghịch với độ dốc lòng sông và tỷ lệ thuận với tuổi tác củasông ngòi Do đó, sông dù chảy theo một đứt gãy thẳng tắp hay một sông đào cũnguốn khúc cong queo Tuy nhiên, nếu khúc uốn quá lớn, sông sẽ đổi dòng và để lạicác hồ móng ngựa ven sông (Hồ Tây ở Hà Nội) Nhìn chung, độ uốn khúc và kíchthước của các khúc uốn có xu hướng giảm dần từ hạ lưu về thượng lưu theo định
Trang 8luật Su - ren (Surell)
Hình 2: Khúc uốn và hồ móng ngựa
3 Các dòng chảy sông ngòi
Trong các đặc trưng của sông ngòi, quan trọng nhất là các đặc trưng thuỷ văn.Các đặc trưng này được thể hiện qua các dòng chảy sông ngòi; nước, bùn cát, ion Trong các dòng chảy này, dòng chảy nước là quan trọng nhất, quy định sự tồn tại vàphát triển của sông ngòi Đây là dòng chảy biểu thị cho bản chất của sông ngòi,đồng thời lại có ảnh hưởng lớn tới các dòng chảy khác
a Dòng chảy nước :
Dòng chảy nước thường được gọi là dòng chảy Đây là dòng chảy cơ bản vìbiểu thị cho sự tồn tại và phát triển của sông ngòi và có vai trò quan trọng nhấttrong tự nhiên cũng như đời sống con người Trong lớp vỏ địa lí, sông ngòi là khâuquan trọng nhất trong quá trình tuần hoàn nước, đồng thời kéo theo các quá trìnhtuần hoàn khác : muối, nhiệt Trong nền kinh tế - xã hội, nước cung cấp cho tướiruộng, nước cho công nghiệp và năng lượng (than trắng), là phương tiện giao thôngthuỷ (đường sông), chăn nuôi thuỷ sản và nước cho ăn uống, sinh hoạt hàng ngày
b Dòng chảy cát bùn:
Dòng chảy cát bùn là dòng chảy bao gồm các vật chất rắn: sỏi, cuội… nhất làbùn cát, nên cũng được gọi là dòng chảy rắn
Tùy theo phương thức vận động, các nhà thủy văn thường chia phù sa thành 2 loại
cơ bản: Lơ lửng và đáy Phù sa lơ lửng thường có kính thước nhỏ và chuyển động
lơ lửng trong dòng nước Phù sa đáy có kích thước lướn hơn và chuyển động trên
Trang 9đáy sông Quá trình hình thành bùn cát trong sông chủ yếu là do động năng củadòng nước Do cáo động năng nên dòng sông thường xâm thực mặt đất dốc tronglưu vực và ngay cả trong long sông.
c Dòng chảy nhiệt:
Dòng chảy nhiệt là lượng nhiệt mà sông ngòi hấp thụ và vận chuyển ra khỏilưu vực Nguồn gốc của nhiệt sông là bức xạ Mặt Trời, quan trọng là tiềm nhiệt bốchơi và ngoài ra là trao đổi nhiệt với khí quyển và thạch quyển Nghiên cứu về dòngchảy nhiệt có ý nghĩa rất lớn đối với việc dự báo sông ở các miền vĩ độ cao: thờigian và độ dày lớp đóng băng Ngoài ra cũng có thể điều hòa nhiệt cho ruộng lúanước, chống ô nhiễm nhiệt…
d Dòng chảy ion:
Dòng chảy ion là dòng chảy của các chất hòa tan, nhất là các ion trong nướcsông Do nước là một dung môi nên ngay từ nước mưa và tuyết tan đã chứa mộtlượng hòa tan song chủ yếu là nước sông và nước ngầm đã hòa tan nhiều chất nhiềuchất Dòng chảy ion góp phần quan trọng trong tuần hoàn muối trong lớp vỏ địa lí.Ngoài ra, nó cũng có vai trò nhất định trong sản xuất công và nông nghiệp, nhất làchống ô nhiễm sông ngòi
II CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SÔNG NGÒI
1 Các nhân tố ảnh hưởng tới dòng chảy
Sông ngòi thường xuyên có nước chảy Lượng nước trong sông không lớn lắm2.120 km3 song tổng lượng dòng chảy của sông ngòi lại lên tới hơn 41.103km3/năm.Như vậy, sông ngòi thường xuyên phải được cung cấp nước Nguồn nước cung cấpcho sông ngòi cũng khá phức tạp, chủ yếu là các điều kiện khí tượng, thuỷ văn Song quá trình này lại thông qua bề mặt lưu vực, tức là các điều kiện tự nhiên kháccũng như các hoạt động kinh tế của xã hội loài người
1.1.Các nhân tố tự nhiên :
Trong tổng thế địa lí tự nhiên của lưu vực, sông ngòi có tác dụng tích cực tới cácthành phần khác, song các yếu tố này cũng ảnh hưởng mạnh mẽ tới dòng chảy sông
Trang 10ngòi, về quá trình hình thành dòng chảy nước của sông ngòi, có thể phân chia tácđộng này thành các nhóm khác nhau :
a Nhóm nhân tố khí tượng - thuỷ văn:
Đây là nhóm nhân tố quan trọng nhất vì có tác dụng quyết định tới số lượng và
cả chế độ nước trong sông
+ Nhân tố khí tượng: Nhân tố khí tượng giữ vai trò rất lớn lao, thể hiện trong phương trình cân bằng nước của lưu vực Trong khí tượng, lượng nước rơi có ảnh
hưởng lớn nhất Những nơi có lượng nước rơi phong phú, lượng dòng chảy sẽ lớn;ngược lại, những nơi lượng nước rơi nghèo nàn dòng chảy sẽ giảm đi
Hình thức và nhất là cường độ nước rơi cũng có ảnh hưởng nhất định tới nước
sông Với cùng lượng mưa, song cường độ nhỏ, thời gian mưa kéo dài, lũ xảy rakhông thể đột ngột như khi có cường độ lớn, thời gian mưa ngắn, lúc đó lũ sẽ xảy ravới cường suất lớn Ở nước ta, Cục Thuỷ văn (1966) lại xác định cường độ mưa vớicác chỉ tiêu cụ thể như sau: mưa nhỏ khi cường độ mưa nhỏ hơn 25 mm/ngày, mưavừa khi cường độ mưa từ 25 - 50 mm/ngày, mưa lớn khi cường độ mưa là 50 - 100mm/ngày và mưa rất lớn khi cường độ mưa lớn hơn 100 mm/ngày Nói chung, khicường độ mưa lớn, nhất là mưa rất lớn thường sinh lũ lớn và có thể gây lụt lội.Cuối cùng chế độ mưa rơi cũng có ảnh hưởng trực tiếp tới chế độ nước sông.Nơi nào có chế độ mưa rơi điều hoà (xích đạo, ôn đới hải dương) chế độ nướcsông cũng điều hoà Còn trong các miền khí hậu gió mùa, chế độ nước sông cũngphân làm 2 mùa rõ rệt: mùa lũ và mùa cạn Đặc biệt, những nơi có chế độ nước rơithất thường, chế độ nước sông cũng suy lạc theo
Nếu nước rơi cung cấp nước cho sông ngòi; ngược lại, bốc thoát hơi nước lạilàm giảm lượng nước trong sông; tức là có tác dụng tiêu cực đối với dòng chảy.Hiện tượng bốc thoát hơi xảy ra trên bề mặt đất ẩm và cả trong rừng cây (thoát hơi
sinh lí) Còn nhiệt độ không khí ảnh hưởng phức tạp hơn: giảm độ ẩm tương đối và
tăng cường cho quá trình bốc hơi, đồng thời lại làm tuyết và băng tan để cung cấpnước cho sông ngòi
Trang 11- Nhân tố thuỷ văn : Nhân tố thuỷ văn cũng có ảnh hưởng nhất định đến dòng chảy nước Trước hết là vai trò của hồ đầm Vai trò này cũng khá phức tạp đối với
chế độ nước cũng như lượng nước trong sông Hồ đầm có thể là nguồn cung cấpnước cho sông: Ngũ hồ đối với sông Lo-răng (St.Laurence), La-đô-ga (Ladoga) đốivới sông Nê-va (Neva) Đồng thời, hồ đầm cũng có thể trao đổi nước với sôngngòi như: Biển Hồ (Campuchia) với sông Cửu Long Do có quan hệ thuỷ văn vớisông ngòi nên hồ đầm có tác dụng điều tiết lớn
hạ lưu lại do bão và nước dồn từ biển Ban-tích vào)
Còn đối với lượng dòng chảy sông ngòi, vai trò của hồ đầm khá phức tạp ởvùng khí hậu ẩm ướt, hồ đầm không có tác dụng lớn; nhưng ở miền khí hậu khôhạn, hồ đầm có thể làm giảm lượng dòng chảy sông ngòi tới 15 - 17%, do tăngcường quá trình bốc hơi trong lưu vực Như vậy, tác dụng của hồ đầm chắc chắn làphụ thuộc vào điều kiện khí hậu địa phương
Đặc biệt, một vài sông ngòi lại nhận được nước của hệ thống sông bên cạnh.
Như ở nước ta, sông Hồng đã cung cấp nước qua sông Đuống cho sông Thái Bìnhtại trạm Phả Lại tới 76%, trong khi cả 3 sông Cầu, Lục Nam, Thương chỉ có 24%
Do đó, nhiều khi lũ sông Hồng chảy sang có thể gây lụt lội lớn bên hệ thống sôngThái Bình
Ôn-đê-kôp (E.M.Oldekov) nhận thấy rằng nhóm nhân tố khí tượng thuý văn tuy rất
Trang 12quan trọng song chỉ có tác dụng khoảng 75 - 85% tới lượng dòng chảy sông ngòi,còn lại sẽ là vai trò của bề mặt đệm Như vậy, các nhân tố bề mặt lưu vực cũng cóvai trò nhất định đối với dòng chảy sông ngòi Tuy vậy, tác động này cũng kháphức tạp tuỳ thuộc vào từng nhân tố cụ thể.
Địa hình: Trong nhóm nhân tố bề mặt, địa hình giữ vai trò quan trọng nhất.
Địa hình có thể ảnh hưởng đến dòng chảy nước qua nhiều yếu tố: độ dốc lưu vựclàm tăng tốc độ chảy, quá trình tập trung lũ và cường xuất nước dâng , mật độ và
độ sâu chia cắt, có thể làm tăng lượng dòng chảy, tác dụng điều tiết tự nhiên của lưuvực Tác dụng này càng rõ trong các lưu vực kín; còn trong các lưu vực hở, kếtquả xảy ra sẽ ngược lại Vai trò này càng đặc biệt lớn trong các lưu vực có địa hìnhkarst phát triển Tuy vậy, tác động mạnh mẽ hơn cả vẫn là độ cao và hướng sườn.Cao độ của khối núi và nhất là độ cao bình quân của lưu vực sẽ làm tăng lượngdòng chảy, khi chưa vượt quá độ cao giới hạn
Đặc biệt, hướng sườn ảnh hưởng lại càng lớn Ở nước ta, ảnh hưởng này cũngxảy ra ở nhiều nơi như: cánh cung Đông Triều, khối núi Thượng nguồn sôngChảy…
+ Rừng cây: Ảnh hướng của rừng cây cũng khá lớn, song đa dạng và phức
tạp hơn nhiều Trước hết, tán cây rừng có thể chặn lại một phần nước mưa để làmướt lá, cành và thân cây rồi bốc hơi ngay ở đó Rêu, địa y khô cũng thấm một lượngnước mưa nhất định Rễ cây rừng lại làm tăng lượng nước ngấm tới 2,5 lần so vớivùng đồi núi trọc Rừng cây cũng làm giảm nhiệt độ trong rừng khoảng 2-30C sovới bên ngoài và do đó, có thể làm giảm bốc hơi trong rừng tới 2-5 lần so với nơikhông rừng Từ những đặc điểm trên,tác động của rừng rất phức tạp nhất là đối vớilượng dòng chảy nước của sông ngòi Một số tác giả nhận thấy rừng có tác dụngtích cực, tức là làm tăng lượng dòng chảy sông ngòi Như vậy, tác dụng của rừngcây đối với dòng chẩy sông ngòi, ngoài mật độ và loại rừng, còn phải kể đến vai tròcủa khí hậu nữa
Về mặt điều tiết dòng chảy, rừng cây bao giờ cũng có tác dụng tích cực, tương
tự như một hồ nước tự nhiên trong lưu vực
Trang 13Các nhân tố khác: đất (thổ nhưỡng) và đá (nham thạch) cũng có tác dụng nhấtđịnh đối với dòng chảy sông ngòi
Nhân tố con người :
Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người không ngừng phải tiến hànhsản xuất nên luôn luôn tác động đến môi trường địa lí, trong đó đặc biệt là sôngngòi Con người lấy nước sông để phục vụ cho sinh hoạt, cung cấp nước cho ngànhsản xuất công nghiệp, nhất là cho nông nghiệp Vai trò của con người ngày càng lớnlao vì dân số và nhu cầu về nước ngày càng lớn Các động tác này có thể trực tiếphoặc gián tiếp đối với sông ngòi
+ Hoạt động thuỷ lợi: Thuỷ lợi có tác động trực tiếp đến sông ngòi Trong các
biện pháp thuỷ lợi, việc xây dựng các hệ thống thuỷ nông để lấy nước tưới ruộng làquan trọng
Ở nước ta, hồ Hoà Bình trên sông Đà có thể làm giảm mực nước lũ lớn nhất,
từ 14,1m (1945) xuống còn 12m; đồng thời lại có thể làm tăng mực nước mùa cạn
từ 1,7 m lên tới 4,5m cho Hà Nội ở phía hạ lưu sông Hồng Đặc biệt, con người cóthể chuyển nước từ lưu vực sông nhiều nước tới các lưu vực ít nước Nhân dânTrung Quốc có những kế hoạch tá thuỷ (vay nước) của các sông phía nam (DươngTử) lên các sông phía bắc (Hoàng Hà) qua các kênh đào lớn Ở nước ta, nhân dân ta
đã chuyển nước từ Đa Nhim xuống Krông Fa (Ninh Thuận) và ngày nay cũng đãchuyển nước từ các sông La Ngà, Đa Quao xuống các sông Ninh Thuận và BìnhThuận
+ Hoạt động lâm nghiệp : Lâm nghiệp được coi như biện pháp gián tiếp đối
với sông ngòi Trong quá trình mở rộng phạm vi sản xuất và khai thác rừng, conngười có thể chặt phá bừa bãi làm giảm diện tích rừng, song ngược lại cũng có thểtrồng lại rừng khi cần thiết Hoạt động này cũng có ảnh hưởng tới lượng dòng chảy
ở nước ta, trên lưu vực sông Đà, do rừng bị chặt phá nhiều nên lượng dòng chảymùa lũ tăng 5%, ngược lại mùa cạn lại giảm đi 36% nên nói chung lượng dòng chảytrung bình năm của sông Đà đã giảm đi 9% so với khi còn rừng
Trang 14Nhân tố Ảnh hưởng đến tốc độ dòng chảy
Độ dốc lòng sông ( hay độ chênh của
mặt nước)
Độ chênh càng nhiều, tốc độ dòng chảycàng lớn
Chiều rộng của lòng sông - Khúc sông rộng, nước chẩy chậm
- Khúc sông hẹp, nước chảy nhanh hơn
3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chế độ nước sông.
1.3 Chế độ mưa, băng tuyết, hồ đầm
a Chế độ mưa:
Ở vùng khí hậu nóng hoặc những nơi địa hình thấp của khí hậu ôn đới, nguồntiếp nước chủ yếu là nước mưa, nên chế độ nước sông phụ thuộc vào chế độ mưa ởnơi đó Nếu có chế độ mưa theo mùa thì có chế độ nước theo mùa, mưa quanh nămthì nước sông đầy quanh năm…
Ví dụ: Lưu vực sông A-ma-zon nằm trong khu vực xích đạo, mưa rào quanh năm,sông lại có nhiều phụ lưu nằm 2 bên đường xích đạo nên mùa nào lòng sông cũngnhiều nước Việt Nam nằm trong khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa và có chế độ mưatheo mùa vì vậy cho nên chế độ nước sông cũng theo mùa: vào mùa mưa cũngtrùng với mùa lũ của sông và mùa khô cũng là mùa cạn của sông
b Băng tuyết:
Ở miền ôn đới lạnh và miền núi cao, nước sông chủ yếu do băng tuyết tan cungcấp Mùa xuân đến khi nhiệt độ cao, băng tuyết tan sông được tiếp nước… nên mùaxuân là mùa lũ
Ví dụ sông I-ê-nit-xây chảy ở khu vực ôn đới lạnh, mùa đông nước đóng băng,mùa xuân đến băng tan, nên nước lớn thường gây ra lụt Sông lại chảy theo hướngNam lên Bắc nên băng tan ở thượng lưu trước, nước lũ dồn xướng hạ lưu Trongkhi đó, ở hạ lưu băng chưa tan nên đã chắn dòng nước lại gây lụt lớn
c Nước ngầm:
Ở những nơi đất đá thấm nhiều nước, nước ngầm có vai trò đáng kể trong việcđiều hòa chế độ nước sông
1.3.Địa thế, thực vật, hồ đầm:
Trang 15c Hồ đầm:
Hồ, đầm nối các sông có tác dụng điều hòa chế độ nước sông Khi nước sônglên, một phần chảy vào hồ, đầm Khi nước xuống, nước ở hồ đầm lại chảy ra làmcho sông đỡ cạn
III MỐI QUAN HỆ GIỮA SÔNG NGÒI VỚI CÁC THÀNH PHẦN TỰ NHIÊN
1 Sông ngòi với khí hậu.
Sông ngòi là hệ quả của khí hậu Đặc điểm của khí hậu (chế độ mưa) ảnhhưởng trực tiếp đến chế độ nước sông (đối với các sông có nguồn cung cấp nướchoàn toàn phụ thuộc vào chế độ mưa)
Chế độ mưa rơi cũng có ảnh hưởng trực tiếp tới chế độ nước sông Nơi nào cóchế độ mưa rơi điều hoà (xích đạo, ôn đới hải dương) chế độ nước sông cũng điềuhoà Còn trong các miền khí hậu gió mùa, chế độ nước sông cũng phân làm 2 mùa
rõ rệt: mùa lũ và mùa cạn Đặc biệt, những nơi có chế độ nước rơi thất thường, chế
độ nước sông cũng suy lạc theo
Nếu nước rơi cung cấp nước cho sông ngòi; ngược lại, bốc thoát hơi nước lạilàm giảm lượng nước trong sông; tức là có tác dụng tiêu cực đối với dòng chảy
Còn nhiệt độ không khí ảnh hưởng phức tạp hơn: giảm độ ẩm tương đối và tăng
cường cho quá trình bốc hơi, đồng thời lại làm tuyết và băng tan để cung cấp nướccho sông ngòi Như vậy, sự bốc hơi nước ở các sông ngòi, hồ đầm, đại dương có vaitrò quan trọng đối với khí hậu Sông ngòi cũng tác động và ảnh hưởng nhất định
Trang 16đến khí hậu Những nơi nào có nhiều sông ngòi, hồ đầm thì khí hậu nơi đó cũngđiều hòa và dễ chịu hơn so với những vùng ít và không có nước( như hoang mạc
…)
Có thể nói sông ngòi và khí hậu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại
và ảnh hưởng đến nhau Chính vì vậy người ta nói: “sông ngòi chính là hàm số của
khí hậu”.
2 Sông ngòi với địa hình.
Trước hết, địa hình tác động đến dòng chảy sông ngòi thông qua nhiều yếu tốnhư hướng, độ dốc, đặc điểm hình thái, địa chất … Địa hình có thể làm thay đổimật độ sông ngòi, diện tích lưu vực, chiều dài, độ dốc và tốc độ của dòng chảy.+ Hướng của sông ngòi thường trùng với hướng của cấu trúc địa hình ở khu vực đó.Nếu khu nực đó có hướng cấu trúc địa hình là Tây Bắc – Đông Nam thì sông ngòicũng có hướng Tây Bắc – Đông Nam, hướng địa hình là vòng cung thì hướng củasông cũng có hướng vòng cung…
+ Địa hình trẻ hay già, đồng bằng hay miền núi tác động lớn đến dòng chảy củasông ngòi: có khúc thì chảy êm đềm, có khúc nhiều thác ghềnh sông đào long dữdội, có sự thay đổi đột ngột từ thượng lưu xuống hạ lưu
+ Địa chất: tính thấm nước của nhan thạch, của lớp vỏ phong hóa, tính chất dễ hòatan của đá vôi có tác động tới hình thái lưu vực và đặc điểm thủy chế của sông ngòi
Sông chảy qua vùng diệp thạch thường có thung lũng rộng, thoải và đối xứngcòn khi đi qua vùng đá kết tinh thì thung lũng hẹp và sâu Sông ở vùng đá vôithường có sườn cao, vách đứng
Sông chảy qua vùng đá rắn thường lắm thác ghềnh
Ở vùng núi đá vôi, mật độ sông ngòi thấp nhất, đồng thời lượng dòng chảymặt giảm rõ rệt Vùng đá badan có lớp vỏ phong hóa dày, khả năng thấm nước lớnlàm giảm dòng chảy mặt, mật độ sông suối cũng thưa
Ngược lại sông ngòi cũng tác động vào địa hình, làm thay đổi địa hình, tạonên 1 số dạng địa hình Sự bồi đắp phù sa của sông ngòi tạo ra các dạng bậc thềm
Trang 17của địa hình, các bãi bồi Chính nhờ phù sa của sông ngòi đã bồi đắp tạo nên cácđồng bằng.
Mối quan hệ chặt chẽ giữa sông ngòi với địa hình và khí hậu nên đã có nhận định
nói rằng: “Sông ngòi chính là sản phẩm của địa hình và khí hậu”.
3 Sông ngòi với thực vật
Thực vật có vai trò quan trọng trong việc điều hòa dòng chảy của sông ngòi.Nhờ có thực vật mà khi nước mưa rơi xuống một lượng nước khá lớn được giữ lại ởtán cây, phần còn lại khi xuống tới mặt đất, một phần bị lớp thảm mục giữ lại, mộtphần len lỏi qua các rễ cây thấm dần xuống đất tạo nên mạch nước ngầm, điều hòadòng chảy của sông ngòi giảm lũ lụt
Bên cạnh đó sông ngòi cũng có vai trò rất lớn đối với thực vật Thực vật đều làcũng cơ thể sống cần có đầy đủ 5 yếu tố để sinh trưởng và phát triển trong đó yếu tốnước giữ vai trò quan trọng nhất Thiếu nước thực vật sẽ chết và không tồn tại.Tóm lại, sông ngòi có mỗi quan hệ gắn bó, mật thiết, tác động qua lại với cácthành phần tự nhiên khác Con người cần phải hiểu rõ mối quan hệ này để có cáinhìn và tác động đúng đắn vào các thành phần tự nhiên theo chiều hướng có lợi,bảo vệ tài nguyên đặc biệt là tài nguyên nước
IV GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA SÔNG NGÒI
- Sông ngòi bồi đắp tạo nên các đồng bằng Tất cả các đồng bằng châu thổ lớn trênthế giới đều do phù sa của các con sông bồi đắp nên như đồng bằng Amazon dosông Amazon bồi đắp, đồng bằng Ấn Hằng do 2 con sông là sông Ấn và sông Hằngbồi đắp … Ở Việt Nam, 2 đồng bằng châu thổ lớn nhất nước ta là đồng bằng sôngHồng và đồng bằng sông Cửu Long là do phù sa sông Hồng và sông Cửu Long bồiđắp
- Sông ngòi là nguồn cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất, đặc biệt làtrong sản xuất nông nghiệp