Việc hình thành và rèn luyện kỹ năng nghị luận cho học sinh làphương pháp giúp học sinh có khả năng vận dụng tri thức, hiểu biết về các vấn đề củavăn học và đời sống vào giải quyết các y
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
-***** -
ĐỀ TÀI RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NGHỊ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ XÃ HỘI ĐẶT RA TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC
Người thực hiện:
Người hướng dẫn khoa học:
Hà Nội, tháng 7 năm 2015
A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trang 21.1 Trong dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT, đặc biệt là giảng dạy môn chuyên
và bồi dưỡng học sinh giỏi, ngoài việc trang bị kiến thức thì việc rèn kĩ năng nghịluận có vai trò vô cùng quan trọng, có ý nghĩa quyết định chất lượng và hiệu quả củacông tác giảng dạy Việc hình thành và rèn luyện kỹ năng nghị luận cho học sinh làphương pháp giúp học sinh có khả năng vận dụng tri thức, hiểu biết về các vấn đề củavăn học và đời sống vào giải quyết các yêu cầu thực tế của các dạng đề nghị luận.Công việc này cả ba phân môn cùng đảm nhận, trong đó Làm văn giữ vai trò chủ đạo.Phân môn này giúp học sinh hình thành một hệ thống kỹ năng đảm bảo cho quá trìnhtạo lập văn bản có hiệu quả, từ kỹ năng phân tích tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý chođến lập luận… Trên cơ sở những kỹ năng cơ bản đó, đối với yêu cầu của mỗi dạngnghị luận, học sinh cần được hình thành những kỹ năng riêng trong đó có tầm quantrọng của việc rèn luyện kỹ năng nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tácphẩm văn học
1.2 Nhìn vào hệ thống chương trình Ngữ văn THPT, chúng ta thấy nghị luận xã hội
có ba dạng chủ yếu: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí; Nghị luận về một hiện tượngđời sống; Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học Trong đó,dạng thứ ba dành cho chương trình nâng cao và thường gặp trong một số đề thi họcsinh giỏi Đây là dạng đề mới và khó nhưng cũng đem lại nhiều hứng thú cho thầy vàtrò trong nội dung dạy học Làm văn Dạng đề này nhằm rèn luyện đồng thời năng lựcđọc- hiểu văn bản văn học và năng lực làm văn nghị luận; kết hợp kiểm tra được cảkiến thức văn học, kiến thức xã hội và khả năng nghị luận của người viết Chính vìthế, quan tâm đến những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả rèn luyện kĩ năng viết bàivăn nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học là vô cùng cần thiết
1.3 Trước đây, việc dạy học tác phẩm văn học chủ yếu hướng tới mục tiêu giúp họcsinh hiểu và cảm nhận được giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật đặc sắc, mà nhiều
tiếp nhận các tác phẩm văn học không chỉ định hướng người học cảm nhận, thưởngthức cái hay, cái đẹp mang giá trị thẩm mĩ mà còn phải thấy được ý nghĩa xã hội, tínhthời sự trong đó Kiểu bài nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm vănhọc là một dạng nghị luận xã hội có tính tích hợp, gắn chặt mối quan hệ giữa dạy
Trang 3đọc- hiểu văn bản văn học với thực tế cuộc sống, giúp học sinh biết liên hệ, quan tâmđến các vấn đề xã hội đang diễn ra, khơi dậy khả năng sáng tạo, độc lập trong suynghĩ… Đây cũng là một trong những mục tiêu lớn của việc dạy học Ngữ văn trongnhà trường phổ thông hiện nay.
Qua quá trình dạy học, bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn, chúng tôi nhậnthức rất rõ tầm quan trọng của việc rèn luyện kĩ năng nghị luận về một vấn đề xã hộiđặt ra trong tác phẩm văn học cũng như hiệu quả mà nó mang lại trong việc hìnhthành và nâng cao kĩ năng nghị luận cũng như tạo cho học sinh thói quen tư duy,quan tâm đến các vấn đề xã hội, vận dụng tri thức vào giải quyết các tình huống trongđời sống, có lập trường chính kiến, chủ động, độc lập trong suy nghĩ, bộc lộ quanđiểm Chúng tôi rất coi trọng vấn đề này và xin chia sẻ cùng bạn bè, đồng nghiệpmột số giải pháp mà chúng tôi đã vận dụng, coi đó là kinh nghiệm rút ra từ thực tiễngiảng dạy với mong muốn nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả của việc giảngdạy môn Ngữ văn ở trường chuyên
2 Mục đích của đề tài
- Trong chuyên đề này, chúng tôi tập trung vào vấn đề rèn kĩ năng nghị luận vềmột vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học, đưa ra các giải pháp, cách làm đểrèn kĩ năng viết văn nghị luận nói chung cho học sinh, đồng thời trang bị cho các em
kĩ năng phân tích đề, tìm ý, xây dựng hệ thống ý, lập luận để có thể tạo lập tốt vănbản nghị luận đáp ứng yêu cầu cụ thể của dạng đề này
- Viết về vấn đề này, chúng tôi mong muốn được chia sẻ, học hỏi cách làm,kinh nghiệm cùng các đồng nghiệp để nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạymôn Ngữ văn đáp ứng yêu cầu của giáo dục hiện nay
- Để thực hiện được mục tiêu đề ra, chúng tôi vận dụng một số phương phápnghiên cứu khoa học như khái quát, so sánh, thống kê, phân tích, từ những vấn đề líthuyết đi vào vận dụng thực hành qua một số dạng đề cụ thể
B PHẦN NỘI DUNG
1 Khái lược về văn nghị luận
Tạo lập một văn bản nghị luận là công việc mà học sinh thực hiện thường
Trang 4những tri thức cơ bản về đặc điểm của văn bản này là cần thiết Văn nghị luận trongbảng phân loại văn, thuộc một loại hình lớn, một kiểu văn bản phân biệt với văn tự
sự, văn trữ tình và văn thuyết minh, có vai trò to lớn và rất phổ biến trong đời sống.Xét về phương thức biểu đạt, văn nghị luận là văn thuyết lí, biện luận, giàu tính chất
lí trí Nó vận dụng các phương thức logic như phán đoán, suy lí để xây dựng các tưtưởng, quan niệm, khái niệm, nâng cao năng lực nhận thức lí tính cho con người
Văn nghị luận là thể loại văn viết về những vấn đề thuộc nhiều lĩnh vực đời sống khác nhau như chính trị, kinh tế, văn hoá, triết học…Mục đích của văn nghị luận là bàn bạc, thảo luận, phê phán hay truyền bá tức thời một tư tưởng, quan điểm nào đó … đặc trưng cơ bản của văn nghị luận là tính chất luận thuyết- khác với văn học nghệ thuật, văn chương nghị luận trình bày tư tưởng và thuyết phục người đọc chủ yếu bằng lập luận, lí lẽ… (Theo Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi-
Từ điển thuật ngữ văn học- NXB Đại học quốc gia, 4- 1999).
Nhìn từ đề tài, đối tượng nghị luận, có thể chia văn nghị luận thành hai loạilớn: nghị luận xã hội và nghị luận văn học, trong đó, nghị luận xã hội có ba dạng chủ
yếu (Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí; Nghị luận về một hiện tượng đời sống; Nghị
luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học)
Để tạo lập được một văn bản nghị luận, cần lưu ý tới những yêu cầu cơ bản vềnội dung và hình thức:
Về nội dung tư tưởng, bài văn nghị luận cần nêu được vấn đề mới mẻ, sâu sắc,
có ý nghĩa, thể hiện những tư tưởng, lí tưởng nhân văn cao đẹp của con người Vănnghị luận cần có tình cảm lớn làm thành mạch chìm của văn bản, thiếu tình cảm lớnthì văn nghị luận trở nên khô khan, dù lí lẽ có sắc bén cũng khó đi đến được với tráitim con người
Văn nghị luận đòi hỏi sự chặt chẽ của lập luận, sự xác đáng của luận cứ, sự
chính xác, tinh tế của lời văn; đạt tới yêu cầu thấu lí đạt tình, không chỉ thuyết phục
người ta bằng cách nêu vấn đề, cách luận giải sắc sảo, chặt chẽ mà còn tác động cảtới tình cảm của người đọc (người nghe)
2 Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học.
Trang 5Đây là dạng đề mới trong nội dung dạy học Làm văn Dạng đề này nhằm rènluyện đồng thời năng lực đọc- hiểu văn bản văn học và năng lực tạo lập văn bản nghịluận của người viết Có thể coi đây là dạng đề tích hợp giữa đọc văn và làm văn.
Đặc điểm của dạng đề này là dựa vào một vấn đề xã hội có ý nghĩa sâu sắc nào
đó đặt ra trong tác phẩm văn học, yêu cầu người viết phát biểu quan điểm, bàn bạc,nêu suy nghĩ về ý nghĩa của vấn đề đó Vì vậy, đề đòi hỏi người viết phải có cả kiếnthức về văn học và kiến thức về đời sống xã hội cũng như những kĩ năng phân tíchvăn học và kĩ năng phân tích, đánh giá các vấn đề xã hội Vấn đề xã hội được nghị
luận có thể rút ra từ tác phẩm văn học đã học trong chương trình nhưng cũng có thể
từ một câu chuyện nhỏ, một văn bản văn học ngắn gọn mà học sinh chưa được học
Ví dụ:
Đề 1: Từ đoạn trích vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ, nêu
suy nghĩ của anh (chị) về niềm hạnh phúc khi được sống thực với mình và với mọingười
Kế đó anh ta đánh mất dấu hỏi và chẳng bao giờ hỏi gì nữa Mọi sự kiện bất kì xảy
ra ở đâu, dù trên vũ trụ, trên mặt đất hay ngay trong nhà cũng không làm anh ta quan tâm.
Một vài năm sau anh ta quên mất dấu hai chấm và không còn giải thích hành
vi của mình nữa Cuối đời anh ta chỉ còn lại có dấu ngoặc kép mà thôi Anh ta không phát biểu ý kiến nào của riêng mình nữa, lúc nào cũng trích dẫn lời của người khác Thế là anh ta quên mất cách tư duy hoàn toàn.
Cứ như vậy anh ta đi cho tới dấu chấm hết.
(Theo báo Hà Nội mới, Chủ nhật 15-3-1993).
Câu chuyện trên gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì?
Trang 6Dạng bài này rất dễ lẫn với bài nghị luận văn học vì buộc phải có khâu phântích tác phẩm để xác định vấn đề cần nghị luận Để tránh nhầm lẫn, giáo viên cầnhướng dẫn học sinh xác định và phân biệt rõ sự khác biệt về mục đích và cách thứctiến hành nghị luận Mục đích của nghị luận văn học là bàn bạc, phân tích để đánh giáchất lượng, giá trị về nội dung và nghệ thuật của văn bản còn mục đích của nghị luận
xã hội là phân tích, đánh giá để đưa ra ý kiến, quan điểm về vấn đề xã hội được đặt ra
ở văn bản đó Nghĩa là, người viết phải nhân vấn đề đặt ra trong tác phẩm mà luậnbàn, kiến giải, trình bày quan điểm, tư tưởng, suy nghĩ của cá nhân Khi làm bài nghịluận văn học, cần cắt nghĩa, bình giá cái hay, vẻ đẹp của các yếu tố của văn bản nhưngôn ngữ, hình tượng về cả hai phương diện nội dung, ý nghĩa tư tưởng và đặc sắcnghệ thuật, việc phân tích văn bản là mục đích chính Còn khi làm bài nghị luận vềmột vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học, tác phẩm chỉ là “cái cớ” khởi đầu, làđiểm xuất phát, được khai thác về giá trị nội dung tư tưởng, việc phân tích chỉ làphương tiện, là thao tác đầu tiên khởi đầu cho cả một quá trình sau đó
Với dạng đề này, người viết cần tiến hành hai bước: Trước hết, phải đọc- hiểu vănbản văn học cho trong đề để làm rõ vấn đề xã hội cần bàn luận cùng với các khíacạnh, phương diện biểu hiện của nó Trên cơ sở hiểu vấn đề xã hội đặt ra trong tácphẩm, đi sâu bàn luận về vấn đề ấy như một bài nghị luận xã hội thông thường
3 Kĩ năng nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học.
3.1 Những kĩ năng nghị luận cơ bản
Để làm tốt kiểu bài, trước hết cần tập trung trang bị cho học sinh các kĩ năngviết bài văn nghị luận xã hội nói chung như sau:
* Tích lũy kiến thức:
Đề tài cho bài văn nghị luận xã hội rất đa dạng đòi hỏi người viết phải có vốnkiến thức phong phú Giáo viên cần hướng dẫn để học sinh hình thành ý thức cậpnhật tình hình thời sự, quan tâm đến mọi vấn đề của đời sống xã hội, quan sát, suyngẫm, ghi chép, tích luỹ để vận dụng vào hoạt động tạo lập văn bản
Có thể định hướng học sinh huy động kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau:kiến thức từ sách vở, kiến thức từ đời sống Kiến thức từ sách vở được huy động chủ
Trang 7yếu từ báo chí, sách tham khảo về các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ văn học, lịch
sử, khoa học, tôn giáo đến sách về gương người tốt việc tốt, " Hạt giống tâm hồn",
"Hạt giống hạnh phúc", "Suy nghĩ của những người trẻ",… Điều quan trọng là hướngdẫn các em tìm và lựa chọn sách cần thiết, biết cách đọc, hệ thống hóa kiến thức thunhận được Kiến thức từ đời sống được bồi đắp từ thói quen quan sát những hoạtđộng, sự việc, những vấn đề của cuộc sống xung quanh, cập nhật thông tin và quantrọng hơn là biết suy nghĩ, đánh giá những gì mình nghe được, quan sát được Trên
cơ sở đó, các em hiểu và nắm bắt được bản chất các vấn đề của đời sống Bên cạnh
đó, kiến thức có được từ những trải nghiệm sâu sắc của bản thân trong mọi tìnhhuống của cuộc sống sẽ là minh họa sống động, có sức thuyết phục cao nếu nó đượcvận dụng vào bài văn một cách tự nhiên, chân thành
* Kỹ năng nhận diện, phân tích đề:
Kĩ năng nhận diện, phân tích đề cho đúng và trúng là vô cùng quan trọng, có ýnghĩa định hướng nội dung và phương pháp, góp phần quyết định thành công của bàiviết Để nhận thức chính xác đề văn, học sinh cần đọc kĩ đề và trả lời một số câu hỏi
như: Thực chất đề bài nêu lên và buộc người viết bàn về vấn đề gì? Đề văn này thuộc
loại đề nào? Bài yêu cầu vận dụng những thao tác nghị luận, phương thức biểu đạt nào? Phạm vi kiến thức cần huy động và làm sáng tỏ ở đây là gì?
* Kĩ năng tìm ý và xây dựng hệ thống ý cho bài văn:
Nhận thức đề là cơ sở cho việc tìm ý và xây dựng hệ thống ý cho bài viết Tưtưởng trong bài văn được thể hiện thông qua hệ thống ý Người viết phải xác địnhđược hệ thống luận điểm, luận cứ rõ ràng, lập luận chặt chẽ, phản ánh đúng bản chấtcủa vấn đề, phù hợp với đối tượng, chính xác, mạch lạc, lôgic thì bài văn mới đảmbảo nội dung đúng, đủ, sâu sắc, có sức thuyết phục cao
Trong quá trình xây dựng hệ thống ý cho bài viết, học sinh luôn phải biết tự đặt
ra các câu hỏi: Là gì? Như thế nào? Đúng hay sai? Tại sao lại như thế? Có ý nghĩa
gì? Cần phải làm như thế nào? Bài học rút ra là gì?
Trang 8Một trong những cách để tìm được ý mới, sâu sắc là người viết phải biết lật đi,lật lại vấn đề, bên cạnh chính đề cần tìm ý phản đề hay giả định trong những trườnghợp cần thiết Điều đó giúp cho vấn đề bàn luận được nhìn nhận, đánh giá ở nhiềugóc độ và tăng thêm sức thuyết phục Yêu cầu này phải được đặt ra đối với học sinh
và cần luyện tập để các em thấy nó cần thiết, không thể thiếu đối với tư duy, giảiquyết vấn đề của người học sinh giỏi, tránh được lối viết hời hợt, thuận chiều
* Kỹ năng diễn đạt:
Đối với bài nghị luận xã hội, việc vận dụng kết hợp linh hoạt các thao tác lậpluận giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận… làm cho vấn đề được nhìn nhậnthấu đáo dưới nhiều góc độ khác nhau là rất quan trọng
Việc rèn luyện kỹ năng viết bài cho học sinh là khâu công phu đòi hỏi ở ngườithầy sự tận tâm, lòng kiên trì, bền bỉ Giáo viên cần dành thời gian hướng dẫn họcsinh các kĩ năng tạo lập văn bản nghị luận, định hướng cho các em từ cách phát hiện,
tư duy vấn đề đến cách diễn đạt sao cho vừa khoa học, logic mà vẫn phải đượm "chấtvăn"… Bởi lẽ, một bài văn nghị luận được coi là đạt, là hay ngoài lập luận mạch lạc,sắc sảo vẫn rất cần cái tình của người viết, cách diễn đạt phải "thấu tình đạt lí" Từcách lập luận, trình bày các ý lớn, ý nhỏ; kết hợp giữa lí lẽ và dẫn chứng đến cách lựachọn, sử dụng từ ngữ; từ việc hiểu vấn đề nghị luận đến diễn đạt cái hiểu ấy như thếnào có nhiều mức độ, phải qua rèn luyện, trau dồi mới dần hoàn thiện
Việc giáo viên sửa trên bài, chỉ lỗi và sửa lỗi cho học sinh, chấm trả bài tay đôi
là cách làm rất hiệu quả tuy mất nhiều thời gian Học sinh cũng cần chủ động tự rèn
kĩ năng cho mình dưới hướng dẫn của giáo viên qua các đề bài cụ thể, tham khảo bàiviết của nhau để tự rút kinh nghiệm; tham khảo bài viết hay của học sinh đội tuyểncác khóa trước… Những cách làm này rất phù hợp và hiệu quả đối với các học sinhtrong đội tuyển học sinh giỏi
3.2 Rèn luyện kĩ năng nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
Để làm tốt kiểu bài này, cần rèn cho học sinh các kĩ năng chung đáp ứng yêucầu của bài nghị luận: kĩ năng phân tích đề, tìm ý, xây dựng hệ thống ý, diễn đạt để
Trang 9tạo lập một văn bản hoàn chỉnh Bên cạnh đó, cần trang bị cho các em những kĩ năngphù hợp với đặc trưng riêng của dạng đề Dưới đây là một số kĩ năng cần thiết:
3.2.1 Phân tích đề
- Yêu cầu học sinh đọc kĩ đề, xác định yêu cầu về kiểu bài, xem đây là dạng đềnghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học đã học hay chưa họctrong chương trình
- Nếu là tác phẩm đã được học thì đề thường nêu giới hạn phạm vi vấn đề nghịluận để định hướng cho người viết vì dung lượng những tác phẩm này thường dài, nội
dung phong phú nên khó cho việc xác định vấn đề (Chẳng hạn: “Bài thơ Việt Bắc của
Tố Hữu và bài học: Sống cần có nghĩa, có tình thuỷ chung trọn vẹn”; hoặc “Qua Đời
thừa, nghĩ về ý nghĩa sự tồn tại của mỗi cá nhân trong gia đình và xã hội”; “Từ bài
viết Tiếng mẹ đẻ-nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức của Nguyễn An Ninh, suy
nghĩ về hiện tượng thích dùng tiếng nước ngoài trong đời sống hiện nay”…)
- Nếu là văn bản chưa được học trong chương trình (một câu chuyện ngắn, mộtbài thơ, một trích đoạn…), đề cũng có thể nêu giới hạn vấn đề nghị luận nhưng đa
phần chỉ hỏi: “nêu suy nghĩ của anh (chị) về câu chuyện…” hoặc “Câu chuyện đem
lại cho anh (chị) bài học nhân sinh nào”… thì việc xác định đúng và trúng vấn đềnghị luận khó khăn hơn Học sinh cần đọc thật kĩ văn bản để nắm bắt được tinh thầnchung và xác định vấn đề nghị luận, nội dung nghị luận, phạm vi tư liệu, các thao tácnghị luận và các phương thức biểu đạt sẽ vận dụng
3.2.2 Tìm ý
- Để tìm được ý cho một đề văn, một trong những cách tương đối có hiệu quả
là rèn cho học sinh thói quen đặt ra các câu hỏi và tìm cách trả lời các câu hỏi đó.Việc đặt ra các câu hỏi thực chất là biết soi sáng đối tượng dưới nhiều góc độ, biết lật
đi lật lại vấn đề để tìm hiểu, xem xét cho kĩ càng và thấu đáo
+ Phần tìm ý cần đặt ra các câu hỏi và trả lời các câu hỏi (Văn bản có nội dung
gì? Đặt ra vấn đề gì? Vấn đề đó thực chất là gì? Có những biểu hiện, khía cạnh nào? Tại sao? Có ý nghĩa như thế nào? )
3.2.3 Xây dựng hệ thống ý
Trang 10- Có ý rồi, người viết cần biết tổ chức sắp xếp các ý thành một hệ thống nhằmlàm nổi bật đối tượng, vấn đề nghị luận Đây là kĩ năng xây dựng bố cục, kết cấu chobài viết Tuỳ vấn đề, đối tượng nghị luận, mục đích, cách thức mà người viết có thểsắp xếp ý một cách linh hoạt miễn là lôgic chặt chẽ, làm sáng tỏ vấn đề nghị luận và
có tính thuyết phục cao
- Thông thường bài văn có ba phần, mỗi phần đảm nhận một nhiệm vụ cụ thể:
+ Phần mở bài: Giới thiệu khái quát về tác phẩm và giá trị cơ bản về nội dung
tư tưởng Dẫn dắt vào vấn đề trọng tâm cần làm sáng tỏ
+ Phần thân bài: thường gồm hai phần lớn:
Phần một: Phân tích ý nghĩa, giới thiệu và nêu vấn đề đặt ra trong tác phẩm
văn học Nếu đề văn đã nêu sẵn vấn đề rút ra từ tác phẩm thì phân tích qua vấn đề ấy
đã được thể hiện như thế nào trong tác phẩm Nếu đề không cho sẵn vấn đề thì cầnđọc- hiểu, phân tích để rút ra vấn đề xã hội và ý nghĩa của vấn đề Có thể đặt ra các
câu hỏi để lập ý cho phần phân tích văn bản: Văn bản có nội dung gì? Đặt ra vấn đề
mang ý nghĩa xã hội nào? Vấn đề đó xuất phát từ hoàn cảnh, tình huống thực tế nào của đời sống? Tất nhiên phần phân tích để rút ra vấn đề xã hội cần khái quát, sơ
lược, không quá sa đà vào việc phân tích chi tiết tỉ mỉ hoặc giá trị nghệ thuật
Phần hai (trọng tâm): nghị luận về vấn đề xã hội rút ra từ tác phẩm văn học.
Khi đã có vấn đề (đề tài, chủ đề) cần bàn bạc rồi thì mới bắt đầu làm bài nghị luận xãhội, nêu lên quan điểm, suy nghĩ của bản thân về vấn đề đó, xem xét các khía cạnhcủa vấn đề, bàn bạc mở rộng, liên hệ thực tế, rút ra bài học cho bản thân… Có thể lập
ý bằng các câu hỏi: Vấn đề xã hội được đặt ra thực chất là gì? Có những biểu hiện,khía cạnh gì? Tại sao? Có ý nghĩa như thế nào? Đem đến bài học nào?
+ Phần kết luận: Chốt lại vấn đề, nêu những suy nghĩ, bài học…
Trang 11HS khai thác khái quát giá trị nội dung tư tưởng của tác phẩm, từ đó rút ra ý nghĩa xãhội, vấn đề đạo lí, đạo đức, triết lí nhân sinh, bài học cuộc sống… của nó và nêu quanđiểm, ý kiến bàn bạc về vấn đề đó.
Ví dụ 1: Từ văn bản Cha tôi của Đặng Huy Trứ, anh (chị) hãy phát biểu quan niệm
của bản thân về việc đỗ - trượt trong thi cử.
* Tìm ý: Có thể đặt ra những câu hỏi tìm ý như sau:
+ Văn bản Cha tôi có nội dung gì?
+ Quan niệm về vấn đề đỗ - trượt của người cha trong câu chuyện có gì đángchú ý?
+ Quan niệm đó gợi cho ta suy nghĩ gì về vấn đề đỗ- trượt trong thi cử ngàynay?
+ Có thể rút ra bài học gì về con đường thi cử, phấn đấu của bản thân?
* Dàn ý:
Mở bài: Giới thiệu khái quát nội dung chính của văn bản Cha tôi và quan niệm về
vấn đề đỗ- trượt được đặt ra trong văn bản
+ Khi Đặng Huy Trứ bị truất tiến sĩ và cách học vị cử nhân: người cha lại coinhư không có chuyện gì đáng kể, thậm chí còn cho rằng đó là “phúc cho nhà ta màcũng may lớn cho bản thân Trứ” Ông đã đưa ra một số tấm gương để động viên conkhông nên nản lòng, thoái chí “người ta ai chẳng có lúc mắc sai lầm, quý là ở chỗ biếtsửa chữa”, tin rằng vấp ngã, thất bại sẽ làm cho con người trở nên chín chắn, trưởngthành hơn
Trang 12- Suy nghĩ về chuyện đỗ- trượt trong thi cử ngày nay:
+ Đỗ cao trong thi cử khi còn ít tuổi được xem là biểu hiện của tài năng, thôngminh, thành đạt, là hạnh phúc của bản thân, gia đình, niềm tự hào của dòng họ…
+ Ngược lại việc thi trượt là nỗi buồn, là sự bất hạnh, không may mắn…
- Triết lí về việc đỗ trượt trong thi - cử của Đặng Dịch Trai đã gợi cho ta nhiều bàihọc quý báu:
+ Trong thi cử, đỗ hay trượt là điều bình thường, khi có thi thì cũng có chuyện
đỗ và trượt, có nụ cười và nước mắt cũng như quy luật vận động của cuộc sống cóbiến động thăng trầm, khó khăn và thuận lợi, thành công và thất bại, khổ đau và hạnhphúc… Không nên coi đó là chuyện sinh tử nhưng cũng không được xem thường
+ Đừng thấy chuyện thành đạt dễ dàng mà tự mãn, tự bằng lòng với chínhmình, để rồi lại thất bại Mọi sự thành đạt trong cuộc sống đều phải là kết quả của sự
cố gắng không mệt mỏi
+ Khi thi trượt, thất bại trong cuộc sống cũng không nên bi quan, chán nảntuyệt vọng mà cần rút kinh nghiệm, vượt lên mặc cảm, vượt qua áp lực để tiếp tụckiên trì mục tiêu phấn đấu
+ Thành công không tự mãn, thất bại không nản lòng Đó là bí quyết của thànhcông và hạnh phúc
Kết bài:
Mỗi người nên có quan niệm đúng đắn về chuyện thi cử, đỗ- trượt và rộng hơn,cần có cách nhìn đúng về thành công và thất bại trong cuộc sống Cần nỗ lực phấnđấu trong học tập, lao động để vượt qua những cuộc thi của trường đời Câu chuyệncủa người xưa đến nay vẫn còn ý nghĩa
Ví dụ 2: Quan niệm về chí làm trai của Phan Bội Châu trong Xuất dương lưu biệt có
ý nghĩa như thế nào trong cuộc sống của lớp trẻ ngày nay?
Mở bài: Giới thiệu tác phẩm, nêu vấn đề nghị luận
Thân bài:
1 Quan niệm về chí làm trai thể hiện trong bài thơ:
Quan niệm về chí làm trai của Phan Bội Châu thể hiện như thế nào trong bài thơ?