1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài Hình ảnh quê hương trong thơ Giang Nam

91 2K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 224,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đểthực hiện đề tài này, chúng tôi đã sưu tầm và tra cứu nhiều nguồn tài liệu và thu thập được một số công trình như sau: Bài viết Giang Nam của Vũ Văn Sĩ in trong Nhà thơ Việt Nam hiện đ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Quê hương là hình ảnh gần gũi, tha thiết, mang đậm giá trị tình cảm của conngười Nó luôn hàm chứa sự thân thương, yên bình, da diết trong trái tim và tiềmthức của chúng ta Mỗi người đều có một môi trường sinh trưởng khác nhau Đó cóthể là chốn kinh kỳ phồn hoa đô hội của cố đô Thăng Long 4000 năm văn hiến, vớinhững nét văn hoá cổ truyền, hay là sự yên ả, thanh bình, trầm mặc bên dòng sôngHương, bến Ngự của Thừa Thiên Huế, cũng có thể là miệt vườn sông nước, cây tráisum suê trĩu quả của Cần Thơ – thủ đô miền Tây Nam Bộ Dù ở đâu thì trong mỗi

con người đều ẩn hiện hình bóng quê hương, nơi “chôn rau cắt rốn” của mình.

Hình ảnh ấy được ghi nhận và tái hiện thông qua những kỉ niệm, dẫu vui dẫu buồncũng đều đáng nhớ

Trong mỗi con người đều mang nặng những dấu ấn của quê hương, xứ sở Đó

có thể là giọng nói, cách nói, cách sử dụng phương ngữ, phong tục tập quán, tínngưỡng,… đã ăn sâu và thấm nhuần vào máu, vào xương tự lúc nào chẳng rõ Từ đómới thấy được, con người là sản phẩm của quê hương, quê hương luôn trong tim vàrung cảm theo từng nhịp đập thổn thức Có lẽ nhờ thế mà quê hương là tiếng lòng,

là đề tài của biết bao thi sĩ, văn sĩ, nhạc sĩ và cả hoạ sĩ Về mặt hình thức, nó chỉ làmột từ gồm hai âm tiết nhưng giá trị nội dung và ý nghĩa của nó bao la và vô cùngrộng lớn Nó không rộng vì không gian địa lý mà sâu rộng theo cảm xúc con tim.Chính nó đã phần nào tạo nên sự muôn màu muôn vẻ của quê hương Những vùngđất khác nhau, những kỷ niệm cùng với góc nhìn cảm nhận khác nhau sẽ tạo nênmột quê hương với vẻ đẹp và độ rộng lớn khác nhau Sự phong phú và đa dạng củaquê hương lại thống nhất trong một quê hương chung rộng lớn

Trong văn học, có rất nhiều thể loại viết về đề tài quê hương nhưng thơ là thểloại đặc sắc và được nhiều người chú ý Đã có rất nhiều nhà thơ làm nên tên tuổi vì

hai chữ “quê hương” Đó là đề tài và cũng là nhan đề tác phẩm làm nên tên tuổi Đỗ

Trung Quân, Tế Hanh, Giang Nam,…

Giang Nam - một nhà thơ lão thành, sinh ra và lớn lên trong hai cuộc khángchiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ Ông đã đi, sống, viết và chiến đấu ởnhiều nơi và nhìn rõ, thấu hiểu mọi mặt cuộc sống Nhờ đó, thơ ông mang đậm tínhnhân văn, ấm áp và trữ tình Một nhà thơ viết nhiều về cách mạng, về chiến tranhnhưng với một tâm hồn trẻ trung, lãng mạn, sôi nổi, ngôn ngữ mộc mạc, đơn sơgiàu chất tạo hình Trong thơ ông, ta có thể thấy được góc nhìn của tác giả về quê

Trang 2

hương, đó là một quê hương rất đỗi yên bình, thân thương, gần gũi trong cuộc sốngđời thường, nhưng cũng rất anh hùng, dũng cảm trước kẻ thù xâm lược

Hình ảnh quê hương trong thơ Giang Nam thật là đa sắc muôn hương nhưngnhững nghiên cứu về đề tài này lại được tìm hiểu ở một phạm vi còn hạn hẹp Đaphần chỉ đi sâu, làm rõ hình ảnh quê hương ở khía cạnh một bài thơ (cụ thể là bài

“Quê hương”) Điều đó dễ dẫn đến cách nhìn phiến diện, không bao quát về quê

hương Vấn đề tìm hiểu về nhà thơ Giang Nam cũng được các nhà nghiên cứu quantâm nhưng việc đào sâu để làm rõ thêm giá trị nội dung và nghệ thuật thơ của GiangNam cũng là một việc làm cần thiết

Vị thế của Giang Nam đã được khẳng định và đánh giá đúng với những đónggóp của ông dành cho văn nghệ Giới nghiên cứu, bạn đọc rất trân trọng những tácphẩm của ông Không những thế, tác phẩm của ông cũng được đưa vào giảng dạytrong nhà trường phổ thông

Xuất phát từ tình yêu và những kỉ niệm, hồi ức thân thương, đáng nhớ về quêhương, muốn khám phá, tìm hiểu những nét đẹp ấy cùng với sự yêu thích, trân trọng

óc nhìn bao quát, tài năng sáng tạo độc đáo, phản ánh chân thực về quê hương củanhà thơ Giang Nam, đã tạo động lực thôi thúc chúng tôi chọn và nghiên cứu đề tài

“Hình ảnh quê hương trong thơ Giang Nam” Mặc dù năng lực có hạn và sẽ gặp rất

nhiều khó khăn trong việc nghiên cứu nhưng chúng tôi vẫn cố gắng và quyết tâmtìm hiểu, làm rõ yêu cầu và mục đích của đề tài đặt ra

2. Lịch sử vấn đề

Giang Nam là nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ của dântộc Từ trước đến nay, không ít những công trình nghiên cứu về ông nhưng phạm vicòn khá hạn hẹp và chưa có công trình tổng hợp nên bạn đọc ít nhiều gặp khó khăntrong việc tìm hiểu, học tập và nghiên cứu Những công trình đó phần nhiều chỉ lànhững bài phân tích, suy nghĩ ngắn về một khía cạnh hẹp nào đó của nhà thơ Đểthực hiện đề tài này, chúng tôi đã sưu tầm và tra cứu nhiều nguồn tài liệu và thu

thập được một số công trình như sau: Bài viết Giang Nam của Vũ Văn Sĩ in trong Nhà thơ Việt Nam hiện đại; Quê hương của Hoài Thanh in trong Bình thơ và cách

bình thơ; Giang Nam với quan niệm thơ in trong “Giang Nam tuyển tập thơ” của

Nguyễn Công Lý, Thơ Giang Nam trong Văn học giải phóng miền Nam của Phạm Văn Sĩ; Hoài Thanh có một số bài viết in trong Hoài Thanh toàn tập: Một ít bài thơ vượt tuyến của Giang Nam (1962) Những vần thơ ngời ánh thép mà chan chứa mến thương (1965), Thơ và chuyện trong truyện thơ (1981).Trần Thị Thắng với bài

Trang 3

Giang Nam: Kỉ niệm một thời làm báo và sáng tác, in trong Con chữ soi bóng đời,

Sau đây chúng tôi xin dẫn một số ý kiến, nhận xét, đánh giá,… tiêu biểu:

Nguyễn Văn Long trong Từ điển Văn học đã nhận định về thơ Giang Nam như sau: “Tác phẩm của Giang Nam tập trung viết về con người và cuộc sống ở miền Nam trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, nổi bật là hình ảnh người phụ nữ miền Nam hiền dịu, chịu nhiều đau thương, nhưng kiên trinh, bất khuất [23; tr.527]

Để khẳng định sự thành công và đóng góp của Giang Nam trong mảng đề tài

viết về phụ nữ, Hoài Thanh trong Những vần thơ ngời ánh thép và chan chứa mến thương đã có những lời nhận xét đầy ưu ái: “Giang Nam đã đưa thêm vào thơ ca những nét riêng của người phụ nữ Việt Nam, ngòi bút Giang Nam hết sức trân trọng, hết sức trìu mến đối với phụ nữ và đó chính là ưu điểm lớn của thơ anh”

[59;tr.264]

Phạm Văn Sĩ trong Văn học giải phóng miền Nam đã nhận xét: “Thơ Giang Nam mang tính thời sự nóng hổi” [62; tr.178] Điều này đã làm cho thơ Giang Nam hùng hục khí thế và động lực chiến đấu “tính thời sự nóng bỏng, không khí chiến đấu toát ra từ mỗi bài thơ của Giang Nam như những tia nước cuồn cuộn nổi bọt từ một dòng thác đổ ào ào” [62; tr.180]

Mang đậm yếu tố tình cảm cũng là một đặc trưng nổi bật của thơ Giang Nam,Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã từng khen như thế Tại sao thơ Giang Nam

lại đậm chất tình cảm? Phạm Văn Sĩ đã sử dụng từ “căm thù” để giải thích về điều

đó “Giang Nam lấy căm thù để sáng tác thơ Thơ anh do đó có tiếng nói phát ra từ lòng yêu nước và căm thù giặc để phát huy mạnh mẽ hơn, rộng rãi hơn lòng yêu nước và căm thù giặc của nhân dân.” [62; tr.178]

Nguyễn Công Lý – người đã sưu tầm tuyển tập và có những bài viết sâu sắc

về Giang Nam đã nhận xét thủ pháp nghệ thuật của thơ Giang Nam như sau:

“Giọng điệu và phong cách nghệ thuật, có thể thấy bút pháp thơ Giang Nam vừa hiện thực vừa lãng mạn cách mạng, kết hợp trữ tình với tự sự, một số bài có chất trí tuệ, chính luận” [38; tr.15]

Trong Từ điển Tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam dùng trong nhà trường

của Nguyễn Đăng Mạnh, Bùi Duy Tân, Nguyễn Như Ý đồng chủ biên đã có lời kết

luận: “Thơ Giang Nam như những tia lửa góp thêm vào đóa hoa lửa rực rỡ làm sáng ngời lên hình ảnh miền Nam đau thương và anh dũng” [42; tr.114]

Để có được thành công như thế, đòi hỏi nhà thơ phải là một người yêu thơ,sống hết mình với thơ và xem thơ là một phần cuộc sống, một phần cơ thể mình

Trần Thị Thắng nhận xét: “Giang Nam là người đã dành cả đời hoạt động văn học

Trang 4

nghệ thuật cho cách mạng, anh xứng đáng là nhà thơ của nhân dân, của cách mạng

[69; tr.51]

Thấm đượm tinh thần, tư tưởng văn nghệ của chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nay ở

trong thơ nên có thép/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong” (Khán “Thiên gia thi” hữu cảm) nên Giang Nam đã xem thơ mình là phương tiện, là vũ khí đấu tranh.

Nhà thơ Lê Anh Xuân (Ca Lê Hiến) đã nói “Giang Nam ngồi làm thơ như ngồi vót ngọn chông” [62; tr.180] Cũng với tinh thần đó, Phạm Văn Sĩ đã nhận xét vô cùng ngắn gọn và súc tích, “Thơ Giang Nam là thơ chiến đấu”[62; tr.180]

Với tài năng độc đáo của mình, Giang Nam đã để lại ảnh hưởng không nhỏ

đối với các thế hệ kế thừa Vũ Văn Sĩ đã nói “Chất giọng trữ tình của Giang Nam một thời đã có ảnh hưởng đáng kể đến giọng thơ của các cây bút trẻ miền Nam”

Đó là những nhận xét của các nhà phê bình, nhà nghiên cứu văn học về thơGiang Nam Nói về mảng đề tài quê hương thì thật là một mảnh đất màu mỡ thu hút

sự đầu tư “bút mực” của các văn thi sĩ Vào năm 2007 đã có một tập sách tuyển chọn những bài thơ về quê hương với nhan đề Thơ quê hương và những lời bình.

Tác giả đã tuyển chọn trên 50 bài thơ về quê hương của các tác giả nổi tiếng: TếHanh, Huy Cận, Lê Anh Xuân, Giang Nam,…và chia thành hai giai đoạn trước vàsau Cách mạng tháng Tám

Trong mục Lời nhà xuất bản của quyển Thơ quê hương và những lời bình có ghi nhận: “Năm 2000, với sự cố gắng của các nhà sưu tầm, tuyển chọn, tập Thơ quê hương do Nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành đã được đông đảo công chúng yêu thơ đón nhận Gần 340 bài thơ được tuyển chọn từ hàng nghìn bài thơ viết về quê hương Mỗi bài một vẻ, mỗi nỗi niềm tri kỉ, tri ân – người đọc có thể bắt gặp dáng

vẻ của trăm nghìn vùng quê” [48; tr.11]

Hình ảnh quê hương là cuộc đời, là sự sống luôn rung động và thổn thức trong

tâm hồn Giang Nam Vũ Văn Sĩ trong Nhà thơ Việt Nam hiện đại đã có nhận xét vô cùng xác thực: “Đối với Giang Nam, tình quê hương, đất nước là linh hồn trong

Trang 5

suốt các tập thơ của anh Rất ít bài thơ Giang Nam không nói đến quê hương Quê hương và “vồng khoai luống mía” là “vườn dâu nong kén”, đến những chuyến đò ngang chở lời ca kháng chiến Nhưng chủ yếu là quê hương bị dầy đạp dưới ách thống trị của chế độ Mỹ Diệm khát máu” [80; tr.409 – 410]

Hoài Thanh đã có những ý kiến thấy rõ được sự gắn bó mật thiết và một cái

“duyên” đối với quê hương của Giang Nam: “Bài thơ đầu tiên của Giang Nam được công chúng đặc biệt hoan nghênh là bài Quê hương Tập thơ sắp xuất bản của Giang Nam cũng lấy tên là Quê hương Tấm lòng nhà thơ có khi như quyện theo cảnh sắc quê hương” [66; tr.871] Trong bài viết “Thay lời tựa” cho tập thơ Quê hương xuất bản năm 1962, ông còn nói thêm: “Có những mảnh đất ta chưa hề

đi đến bao giờ mà lại thấy rất quen, mỗi lần nhắc đến bỗng như sống lại cả một thời kỷ niệm Trái lại, có những mảnh đất rất quen, vì cha ông ta đã gửi vào trong

đó biết bao nhiêu vui buồn, bao nhiêu mồ hôi nước mắt, bao nhiêu xương máu thế

mà ta lại thấy hững hờ xa lạ… Món nợ lâu đời ấy đối với quê hương chúng ta phải liệu mà thanh toán Và Giang Nam là một người có nhiều khả năng để trả món nợ này” [60; tr.27] Từ đó, chúng ta thấy rõ hơn cái nghĩa, cái tình sâu nặng của nhà

thơ đối với quê hương, xứ sở

Những công trình nghiên cứu đó đã làm rõ đặc sắc nghệ thuật về nội dung vànghệ thuật cùng những hạn chế trong thơ Giang Nam Những bài viết này là tài liệuquý báu và cần thiết cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu Trên cơ sở kế thừanhững thành tựu của các học giả đi trước, chúng tôi sẽ cố gắng mở rộng và cập nhậtnhững bài thơ viết về quê hương mới nhất, những bài thơ mà ở thời điểm các họcgiả nghiên cứu vẫn chưa ra đời, để làm rõ và phong phú hơn hình ảnh quê hươngcũng như tài năng sáng tạo nghệ thuật của Giang Nam

3. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu Hình ảnh quê hương trong thơ Giang Nam sẽ giúp chúng ta hiểu

sâu sắc hơn về quê hương Khánh Hoà của nhà thơ Giang Nam nói riêng và quêhương ở những vùng đất khác nói chung, mở rộng hơn đó là quê hương Việt Namanh dũng, kiên cường Đặc biệt, giới trẻ sẽ cảm thấy yêu và trân trọng hơn nhữnggiá trị mà cha ông đã để lại và thêm yêu non sông đất nước Việt Nam này Tronggiai đoạn hiện nay, chúng ta đang khẳng định chủ quyền biển đảo quê hương thìtình yêu ấy lại rất cần thiết và quý báu

Đề tài này còn giúp chúng ta thấy được vị thế của nhà thơ trên thi đàn, sựđóng góp to lớn của ông đối với nền thơ ca cách mạng nói riêng và nền văn họcViệt Nam nói chung

Trang 6

Ở đề tài này, chúng tôi muốn tìm hiểu và khám phá những vấn đề chưa được

đề cập, đề cập một khía cạnh hẹp hoặc chỉ gợi mở chưa có điều kiện tìm hiểuchuyên sâu, từ đó có thể giúp người đọc tìm hiểu và bao quát đề tài quê hương dướigóc nhìn đa dạng, phong phú mà nhà thơ Giang Nam đã phản ánh

Đây còn là điều kiện giúp chúng tôi học hỏi và đúc kết kinh nghiệm nghiêncứu khoa học, cung cấp những kiến thức quý báu, nâng cao trình độ của chúng tôi

để phục vụ cho học tập, công việc và nghiên cứu sau này

4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Ở đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu về hình ảnh quê hương Từ quêhương Khánh Hoà của nhà thơ Giang Nam đến những nơi mà Giang Nam sống,chiến đấu và cả quê hương Việt Nam bao la, rộng lớn Tất cả những hình ảnh ấyđều là đối tượng nghiên cứu của đề tài này

Về phạm vi, chúng tôi nỗ lực khảo sát những thi phẩm viết về đề tài quêhương của Giang Nam Vì số lượng tài liệu còn hạn chế nên chủ yếu chúng tôi chỉ

tìm hiểu dựa trên quyển “Giang Nam tuyển tập thơ” của Nhà Xuất bản Hội Nhà

văn ấn hành năm 2013 Giang Nam không những sáng tác thơ mà còn có bút ký,truyện ngắn,… nhưng do yêu cầu của đề tài chúng tôi chỉ dừng lại ở thể loại thơ,nếu có điều kiện chúng tôi sẽ mở rộng phạm vi của đề tài này sau

5. Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành yêu cầu mà đề tài đặt ra, chúng tôi đã sử dụng nhiều phươngpháp trong quá trình nghiên cứu:

Phương pháp lịch sử: Chúng tôi tiếp cận và tìm hiểu cuộc đời nhà thơ Giang

Nam qua các giai đoạn lịch sử và hoàn cảnh xã hội tương ứng, từ đó nhận thức rõhơn về hoàn cảnh sáng tác của các tác phẩm thơ, tạo tiền đề cho sự cảm nhận vàphân tích thấu đáo, làm rõ yêu cầu của đề tài

Phương pháp so sánh: Đây là phương pháp chúng tôi sử dụng để so sánh đề

tài quê hương của Giang Nam với một số nhà thơ khác

Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Để làm sáng tỏ đề tài này, ngoài những

phương pháp nghiên cứu văn học chúng tôi còn sử dụng những phương pháp nghiêncứu về ngôn ngữ để nghiên cứu khía cạnh nghệ thuật và phương pháp nghiên cứu

về lịch sử để tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử, xã hội khi các tác phẩm ra đời

Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng: phương pháp phân tích, phương pháptổng hợp, phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp hệ thống,…

Trang 7

Chương 1 NHỮNG NÉT CHÍNH VỀ NHÀ THƠ GIANG NAM

1.1. Cuộc đời

1.1.1. Tiểu sử

Giang Nam tên thật là Nguyễn Sung, sinh ngày 02 tháng 02 năm 1929 (tứcngày 23 tháng Chạp năm Mậu Thìn - 1928) Bút danh Giang Nam xuất phát từ ý thơ

trong bài Khúc linh cầu của nhà thơ Hồ Dzếnh:

“Tô Châu lớp lớp phù Kiều Trăng đêm Dương Tử, mây chiều Giang Nam.”

Ông sinh ra trong một gia đình nhà Nho bình dân cuối mùa, có truyền thốngyêu nước tại làng Bình Trị, tổng Hiệp Trung, huyện Tân Định, phủ Bình Hoà, tỉnhKhánh Hoà (nay là làng Bình Trị, xã Ninh Bình, huyện Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà)

Từ nhỏ, Giang Nam là một cậu bé thông minh, ham học và thích đọc sách, đặc biệt

là sách văn học Ông đã từng tâm sự:“Tôi học giỏi nhất là môn Văn (cả Pháp lẫn Việt) được học bổng 4 năm liền” [72]

Ông theo học bậc Tiểu học tại quê nhà Sau khi có bằng Sơ đẳng Tiểu học(năm 1941), ông ra Quy Nhơn tiếp tục học và thi đỗ bằng Thành chung tại trườngQuốc học Quy Nhơn Đây là ngôi trường có truyền thống yêu nước, đã đào tạonhiều thế hệ nhân tài cho đất nước: Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Quách Tấn, ĐặngHữu, Lê Văn Thiêm,…

Với tư chất thông minh, hiếu học lại được đào tạo bởi một trường học danh giácùng với những nhà sư phạm giỏi, có phương pháp hay, kiến thức sâu rộng nhiềulĩnh vực và một lòng nhiệt huyết yêu nghề sâu sắc đã tạo nền tảng cho sự thànhcông trên thi đàn của Giang Nam sau này Ông luôn có ấn tượng mạnh mẽ vớinhững giáo sư dạy Hán học, Quốc văn như cụ Ngô Xuân Thọ (thân phụ của nhà thơXuân Diệu, đã từng đỗ Tú tài kép và là thầy dạy Hán văn, người đã hình thành niềmđam mê thơ Đường trong lòng nhà thơ Giang Nam), cụ Trần Cảnh Hảo,… Đó đều

là những bậc thầy danh tiếng, đào tạo ra biết bao thế hệ các nhà văn, nhà thơ chovăn đàn Việt Nam

Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp, trường học đóng cửa, ông trở về quêtham gia cách mạng với sự dìu dắt của anh trai Nguyễn Lưu – người đã truyền nhiệthuyết và niềm tin vào cách mạng cho Giang Nam Khi mới bắt đầu hoạt động cách

Trang 8

mạng, ông tham gia công tác thông tin tuyên truyền tại xã Vạn Thắng và thường gởi

thơ văn đăng trên báo Thắng – tờ báo kháng chiến của tỉnh Khánh Hoà.

Năm 1948, nhờ vào tài chữ nghĩa thông qua thơ văn đăng trên báo Thắng, ông

được đề bạt vượt cấp về Ty Thông tin của tỉnh Tháng 8/1948, ông được kết nạp vàoĐảng Cộng sản Việt Nam Mốc thời gian năm 1948, đánh dấu sự nghiệp vănchương cùng con đường cách mạng của Giang Nam

Sau đó, ông giữ chứng Phó Trưởng ty Văn hoá Thông tin tỉnh Khánh Hoà.Đầu năm 1954, ông được điều về hoạt động ở cơ quan dân chính của tỉnh PhúKhánh Đây cũng chính là nơi chớm nở mối tình sắc son, chung thuỷ của ông và bàPhạm Thị Triều (nhiều tư liệu gọi là Phạm Thị Chiều) – người vợ, người bạn đường

“nâng khăn sửa túi” tiếp thêm sức mạnh cho ông trên cả văn nghiệp và cách mạng.

Năm 1954, sau khi đám cưới được hai ngày, Giang Nam được tổ chức điều raBình Định tham gia đoàn sĩ quan liên bộ đình chiến, chuẩn bị cho việc ký kết Hiệpđịnh Giơnevơ

Đến tháng 7/1954, ông trở lại hoạt động ở Nha Trang Thời gian này, ngoàiviệc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tổ chức giao phó, ông còn tham gia tờ báo hợp

pháp “Gió mới” với vỏ bọc của một anh thợ xưởng cưa Mục đích để tuyên truyền

cách mạng, đưa cách mạng đến gần với quần chúng nhân dân, đặc biệt là tầng lớpthanh niên, giúp thanh niên có lý tưởng đúng đắn, giác ngộ được lý tưởng cáchmạng của Đảng Nhằm để che giấu và tránh sự phát hiện của địch, ông đã sử dụngnhiều bút danh khác nhau: Châu Giang, Lê Minh, Hà Trung Ông cũng sử dụng bútdanh này để viết bài cho báo công khai ở một số tỉnh khác ở Nam Bộ (từ năm 1955đến 1959)

Năm 1958, cả hai vợ chồng Giang Nam được chuyển về công tác ở Biên Hoà

Nói về thời gian này, trong Hồi ký Sống và viết ở chiến trường Giang Nam viết:

“Chúng tôi thuê một căn nhà lá trong một xóm nghèo ở Biên Hoà để ở Hằng ngày

vợ tôi bán bánh bò ngoài chợ, tôi làm công cho một tư sản thầu khoán người Việt… Rồi vợ tôi sinh một cháu gái Đó là nỗi vui mừng của tôi Tuy nhiên công việc của người chủ gắn với mỏ đá ở Long Khánh nên tôi thường xuyên xa nhà” [52;

tr.149]

Năm 1959, ông được tổ chức điều về chiến khu Khánh Hoà (lúc này đóng ởHòn Dù) làm Phó Trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh uỷ Khánh Hoà để chuẩn bị cho tìnhhình mới, củng cố lực lượng và đấu tranh võ trang và vì tình hình đang khó khăn, cơ

sở công khai bị lộ, địch theo dõi gắt gao, ông đành bỏ lại bà Triều và con gái ở BiênHoà

Trang 9

Năm 1960, khi đang công tác tại căn cứ Hòn Dù, Giang Nam được nghe tin bà

Triều và con gái đã bị giặc thủ tiêu “như thế là tôi đã mất hai người thân yêu nhất của mình, một phần của đời tôi, cuộc sống của tôi” [46; tr.350] Chính nỗi đau tột cùng ấy, đã tạo thành xúc cảm cho ra đời bài thơ “Quê hương” - kiệt tác của cuộc đời ông Nói về bài thơ này, Giang Nam đã từng tâm sự: “Theo tôi, đó là giây phút choáng váng nhận được tin buồn đột ngột Nó là giọt nước mắt cuối cùng làm tràn chiếc cốc tình cảm nhớ thương và chờ đợi của tôi Nỗi đau đã đến bật ra thành thơ” [46; tr.351]

Năm 1961 bài thơ Quê hương được tặng giải Nhì về thơ 1960 – 1961 của Tạp chí Văn nghệ Đó là dấu ấn của sự nghiệp cầm bút, đánh dấu sự thành công rực rỡ

trên thi đàn của Giang Nam Nó đã đem tên tuổi Giang Nam đến với mọi người vàlàm rung động bao trái tim độc giả từ Nam chí Bắc

Sau đó, ông được điều về phụ trách bộ phận văn hoá văn nghệ của Ban Tuyênhuấn Khu 6 mới thành lập (gồm các tỉnh Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận,LâmĐồng và một phần ĐắkLắk) Rồi ông được cử đi học Trường Đảng do Trung ươngcục miền Nam mở ở Tây Ninh Khi Hội Văn nghệ Giải phóng Miền Nam thành lập,

ông được giao nhiệm vụ Phó Tổng Thư ký Hội, kiêm Tổng biên tập báo Văn nghệ Giải phóng

Sau giải phóng, ông giữ nhiều cương vị quan trọng trong các tổ chức về vănhọc nghệ thuật của Trung ương và của các tỉnh, thành khác Năm 1976 ông công tác

trong các tổ chức văn nghệ ở TP.Hồ Chí Minh Cuối năm 1977, khi tờ báo Văn nghệ Giải phóng sáp nhận với tờ Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam), ông là Uỷ viên

Thường vụ Ban Chấp hành Hội Nhà văn khoá 2, 3 Đến năm 1978, Giang Namđược điều ra Hà Nội phụ trách mảng văn nghệ miền Nam kiêm Tổng biên tập báoVăn nghệ (1978 - 1980); Trưởng ban Đối ngoại Hội Nhà văn (1981 - 1983);Thường trực Đảng Đoàn Hội Nhà văn Việt Nam Ông còn tham gia Ban vận độngthành lập và là thành viên sáng lập Hội Văn học Nghệ thuật của tỉnh, được bầu làmChủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Phú Khánh, rồi Khánh Hoà (1984 – 1989)

Về chính quyền, ông đã từng là đại biểu Quốc hội và là Uỷ viên Uỷ ban Đốingoại Quốc hội khoá 6 (1976 - 1981) Năm 1989, khi tỉnh Phú Khánh tách thànhtỉnh Phú Yên và Khánh Hoà, Giang Nam được điều về làm Phó Chủ tịch tỉnhKhánh Hoà, phụ trách Văn xã (1989 - 1993) Từ khi về hưu cho đến nay, ông được

đề cử làm Trưởng đại diện của Tuần báo Văn nghệ khu vực miền Trung và TâyNguyên Trong thời gian làm Phó Chủ tịch tỉnh hay khi đã nghỉ hưu thì máu vănchương vẫn cuộn chảy trong lòng ông, vẫn không ngừng thôi thúc ngòi bút của ông.Đến nay, khi đã tiến gần đến tuổi 90 ông vẫn miệt mài bên bàn viết, vật lộn, cặm cụi

Trang 10

với những con chữ, những trang hồi ký chiến tranh cùng với những cuộc Hội thảotrong và ngoài tỉnh.

1.1.2. Con người

Đặc điểm tính cách, lối sống của con người đều hình thành và ảnh hưởng từ xãhội, từ gia đình và hoàn cảnh sống Con người là sản phẩm của xã hội, xã hội thếnào thì hình thành tính cách con người thế ấy

Lúc bấy giờ, dân tộc ta đang trong cảnh“nước mất nhà tan”, không khí kháng

chiến chống ngoại xâm sôi sục và bủa khắp từ Nam chí Bắc, từ thành thị đến nôngthôn Lòng yêu nước, căm thù giặc, tinh thần dân tộc và khí thế cách mạng đã bùnglên và rực cháy trong trái tim mỗi người Việt Nam Sống trong hoàn cảnh ấy, cùngvới việc kế thừa tất cả những truyền thống quý báu của gia đình, từ hiếu học đếnyêu nước đã hình thành nên nhân cách và con người của Giang Nam

Như đã nói ở trên, Giang Nam là một học sinh có niềm đam mê văn học từnhỏ, cùng với sự dạy dỗ nhiệt tình và có tâm huyết của các nhà sư phạm, đã khiếncho lòng đam mê ấy tiến lên vượt bậc và đó cũng là nền tảng căn bản, vững chắchình thành tài năng, bản lĩnh của Giang Nam Ông đã học tập đã tiếp thu nhiều

nguồn tri thức văn học Đông Tây kim cổ, như ông đã từng tâm sự: Tôi yêu thơ Đường với cụ Tú Thọ yêu truyện Kiều, Chinh phụ ngâm với bác Trần Cảnh Hảo, yêu thơ Victo Huygô và văn An – phông – xơ Đôđê bà giáo già người Pháp Có một điều mà nhà trường không dạy nhưng lại do chúng tôi tự học, “tự mê” là thơ lãng mạn, thơ mới của các nhà thơ Việt Nam Tôi say Nguyễn Bính với Lỡ bước sang ngang, say Hàn Mạc Tử với Đây thôn Vĩ Dạ, say Thế Lữ với Giây phút chạnh lòng.” [68; tr.173] Những kiến thức ấy, những nhà thơ, tác phẩm ấy đã có ảnh

hưởng và tác động mạnh mẽ hình thành nên con người, cũng như tác phẩm của ông.Những kiến thức văn chương, những bài giảng văn luôn nằm trong tiềm thức và trí

nhớ của Giang Nam Có lần ông tâm sự: “Tôi “mê” văn học từ hồi còn đi học trường làng và cho đến bây giờ 60 năm sau vẫn còn có thể đọc thuộc lòng hàng trăm bài văn thơ trong các cuốn Quốc văn giáo khoa thư thời ấy” [68;tr.172]

Giang Nam là con người đầy bản lĩnh, nghị lực vượt lên mọi gian nan, nghịchcảnh để sống, để hoạt động Càng phẫn uất, đau khổ bao nhiêu thì sức mạnh nội tâmtrong ông lại trổi dậy bấy nhiêu Đau thương đã chuyển hoá thành sức mạnh Con

người phi thường luôn xuất hiện từ nghịch cảnh trái ngang “lấy nỗi đau vô cùng, làm sức mạnh vô biên” (Dương Hương Ly) Đó là tinh thần, khí phách của người

chiến sĩ cách mạng ngoan cường Chính đau thương ấy đã làm sống dậy tâm hồn thi

Trang 11

sĩ để rồi tạo thành xúc cảm cho ra đời bài thơ Quê hương, mang tên tuổi Giang Nam

vang xa đến mọi miền đất nước

Hết lòng phụng sự cách mạng, phụng sự kháng chiến, Giang Nam đã biết baolần ông hy sinh hạnh phúc gia đình, chấp nhận xa vợ, xa con, sinh ly tử biệt vìnhiệm vụ của tổ chức, của cách mạng Đám cưới chỉ mới được hai ngày, ông phảichuyển đến hoạt động ở Bình Định theo sự phân công của tổ chức Có những lúchoạt động chung địa bàn nhưng vì nhiệm vụ nên họ giữ bí mật và không được gặpnhau Gia đình nhỏ ông xây đắp từ năm 1954 nhưng mãi đến 35 năm sau (năm 1989khi ông được điều về làm Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Khánh Hoà) gia đìnhông mới thực sự đoàn tụ một cách trọn vẹn Cả hạnh phúc và tuổi trẻ của GiangNam đều hiến dâng cho cách mạng và vì mục đích chung của cách mạng, của Tổquốc

Cách mạng chính là yếu tố quan trọng tạo nên cuộc đời và con người GiangNam Để trở thành một nhà thơ nổi tiếng được nhiều người biết đến cũng nhờ cáchmạng Không có cách mạng sẽ không có nhà thơ Giang Nam Từ cuộc sống cáchmạng, từ những điều mắt thấy, tai nghe đã trở thành đề tài của hàng loạt thi phẩm.Ông viết do sự rung động, thúc giục từ con tim cháy bỏng và một bầu máu nóng

Chính con người cách mạng đã tạo nên con người thi sĩ trong Giang Nam Nói

về vấn này, ông tâm sự: “Tôi thấm thía một điều: cuộc chiến đấu ấy là ngọn nguồn cảm xúc lớn, là niềm vui và cả nỗi đau trong thơ tôi [38; tr.8] Con người nhà thơ trong ông được hình thành và lớn lên do cách mạng và nhờ cách mạng

Giang Nam cũng rất nặng tình, nặng nợ với thơ ca, Giang Nam đã từng tâm sự

“Thơ là trái tim, đồng thời là chỗ dựa tinh thần của tôi Những bài thơ đầu tiên của tôi, viết cho mình để mình đọc, để nhắn nhủ với người thân yêu của mình đang ở trong tù Vì vậy nó rất thật, cái hay và cái dở của thơ tôi cũng từ cái gốc ấy mà ra”

[58; tr.403] Lúc có thời gian rảnh là ông lại viết Khi chiến đấu, lúc nào ông cũngđem theo một cây bút chì trong túi và đó đã trở thành đặc điểm các đồng chí đồng

đội nhận diện ông “cái anh mang kính cận, luôn có cây viết chì giắt túi, lúc nào đoàn nghỉ là lôi giấy ra viết viết xoá xoá đó” [77; tr.116] Từ đó, ta thấy được cái

tầm quan trọng của văn chương đối với Giang Nam Ông viết và phản ánh thực tạichiến tranh, với cuộc sống, con người với những xúc cảm chân thành, da diết nhất

Khi làm thơ, ông luôn tâm niệm và xem trọng “tấm lòng người làm thơ đối với cuộc sống, đối với con người” [58; tr.403] Thơ là máu là xương, là chất nuôi sống

tâm hồn và gắn chặt với cuộc đời nhà thơ Mặc dù ở tuổi xưa nay hiếm gặp nhưngGiang Nam vẫn miệt mài sáng tác, cặm cụi với câu thơ, con chữ

Trang 12

Vì luôn có tâm huyết và yêu nghiệp thơ văn nên Giang Nam có những quan

niệm về thơ vô cùng xác đáng và sâu sắc Ông cho rằng“Thơ là tổng hợp của hiện thực và tưởng tượng, của tình cảm và lý trí, của cuộc sống bình thường hàng ngày

và những khoảnh khắc bất ngờ loé sáng của trí tuệ và cảm xúc” [38; tr.8-9]

Trong thơ, Giang Nam không yêu cầu, không chuộng sự cầu kỳ, kiểu cách, màhướng đến sự đơn giản, tình cảm dễ đi vào lòng người, vì thơ là tình cảm của mộtcon tim gửi và chạm đến hàng vạn con tim khác Mục đích của việc làm thơ làtruyền cảm hứng, tình cảm của nhà thơ đến độc giả chứ không phải thử thách độc

giả, đừng “biến thơ thành xiếc chữ nghĩa, người đọc đọc mãi mà không hiểu tác giả muốn nói gì” [38; tr.9]

Ông luôn khuyến khích và cổ vũ cái mới trong thơ từ nội dung đến hình thức

“nếu những tìm tòi đó diễn tả được điều tác giả muốn nói một cách thông minh, chân thật và xúc động” [58; tr.403] và cái mới phát triển phải dựa trên “những đặc điểm Việt Nam, càng phát triển đổi mới càng phải biết và bảo tồn cái gì là Việt Nam, là dân tộc trong thơ” [38; tr.9], tránh những cái mới lệch lạc làm “tầm thường hoá thơ, chạy theo những thác loạn, bệnh hoạn để tự cho mình là mới” [38;

tr.11] Đó là những đặc điểm con người thi sĩ trong Giang Nam – luôn tâm huyết,đam mê và không ngừng đổi mới để phát triển, tiến bộ

Để có được những đặc điểm con người cách mạng, con người thi sĩ là nhờ vàonền tảng vững chắc của con người cá nhân trong ông Trong thời kỳ tham gia cáchmạng, đặc điểm con người cá nhân không thể hiện rõ rệt nhưng đó là nền móng tạodựng nên tính cách điển hình của nhà thơ Giang Nam

Với cương vị là người chồng, người cha, dù không có thời gian để vun đắptình cảm với vợ con nhưng những tình cảm tha thiết ấy luôn âm ỉ cháy và rung độnglòng người qua những dòng thơ, ý văn của Giang Nam Họ luôn là thi hứng, là nhân

vật trữ tình trong nhiều thi phẩm: Lá thư thành phố, Quê hương, Con vào đại học sáng nay, Chùm thơ nhỏ cho em…

Tâm đắc với giá trị truyền thống với dân tộc và cũng tâm đắc với thơ, với nghề

là một nét tính cách đáng trân trọng của nhà thơ Giang Nam Ở ông là sự hoà quyệngiữ con người chung với con người cá nhân giữa con người cách mạng, con ngườithi sĩ và con người cá nhân Nó dung hoà, tác động qua lại làm nên những nét đặcsắc trong tính cách của một chiến sĩ cách mạng kiên trung, khí phách, một nhà thơtâm huyết với thơ, với đời

Trang 13

Những đóng góp của ông đã được ghi nhận, khẳng định bằng những giảithưởng, bằng khen, huy chương về sự nghiệp giải phóng dân tộc và sự nghiệp thơvăn:

Các giải thưởng văn học:

- Giải Ba về truyện ngắn của báo Thống nhất (1959), truyện Những người thợ đá.

- Giải Nhì về thơ 1960 – 1961 của Tạp chí Văn nghệ (1961), bài Quê hương.

- Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu về Văn học Nghệ thuật của Mặt trận Dân tộc Giải

phóng Miền Nam (1960 - 1965), giải chính thức về thơ (1965) cho tập thơ Quê hương (Hội đồng đã chọn 54 tác phẩm và trao 3 loại giải: 2 Giải đặc biệt, 35 Giải

chính thức (không phân hạng) và 17 giải khuyến khích)

- Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật đợt 1 (2001) cho 3 tập thơ: Quê hương, Hạnh phúc từ nay, Thành phố chưa dừng chân

- Các giải thưởng về Văn học và Nghệ thuật của Uỷ ban Nhân dân tỉnh Khánh Hoà:

+ Giải thưởng 25 năm (1975 - 2000) về các tác phẩm và công lao đóng gópcho Văn học Nghệ thuật của tỉnh

+ Giải thưởng năm 2002 cho trường ca Sông Dinh mùa trăng khuyết, giải B + Giải thưởng 5 năm (2001 - 2005) cho 2 tác phẩm Sống và viết ở chiến trường, Sông Dinh mùa trăng khuyết, giải B.

- Tặng thưởng của Uỷ ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt

Nam năm 2002 cho tác giả cao tuổi: trường ca Sông Dinh mùa trăng khuyết.

Với những cống hiến trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và thời đổimới, nhà thơ Giang Nam đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều huân huychương cao quý:

- Huân chương Quyết thắng chống Pháp hạng Nhất (1962)

- Huân chương Quyết thắng chống Pháp hạng Nhất (1975)

- Huân chương Chống Mỹ cứu nước hạng Nhất (1985)

- Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Ba (1997)

- Huân chương Độc lập hạng Ba (1997)

- Huân chương Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật (1997)

- Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng (2008)

Và nhiều Huy chương khác

Trang 14

Nhà thơ Giang Nam đã dành trọn cuộc đời mình cho cách mạng, cho vănnghệ Sống bao nhiêu năm là bấy nhiêu năm ông lo nghĩ cho cách mạng, cho thi ca.

Dù đã lớn tuổi nhưng tinh thần ông vẫn còn minh mẫn, vẫn còn viết văn, làm thơvẫn còn có những ý kiến, sáng kiến để đổi mới xã hội, đổi mới đất nước, đổi mới thi

ca Thật tự hào vì cách mạng Việt Nam, thi đàn Việt Nam có được một chiến sĩ,một nhà thơ anh hùng, tâm huyết và đáng khâm phục như thế

1.2. Con đường thơ của Giang Nam

Giang Nam đã để lại cho nền văn học dân tộc nhiều tác phẩm có giá trị, tái

hiện và khơi dậy không khí một thời oanh liệt miền Nam chống Mỹ “ông đã để lại cho văn học Việt Nam đương đại 12 tập thơ và trường ca, cùng trên 50 bài thơ đã đăng báo nhưng chưa tuyển thành tập; 05 tập truyện và ký cùng một số hồi ký về nghề văn, về chân dung các văn nghệ sĩ bạn bè, đồng nghiệp, một số tham luận tại các Hội thảo khoa học” [38; tr.5] Giang Nam sáng tác và được tặng giải thưởng ở

nhiều thể loại nhưng người đọc vẫn biết đến ông nhiều nhất với cương vị là một thi

sĩ cùng những thi phẩm đặc sắc, cảm động, đi vào lòng người Con đường thơ củaGiang Nam, chúng tôi xin chia thành hai giai đoạn: Thơ Giang Nam trước năm

1975 và thơ Giang Nam sau năm 1975

1.2.1. Thơ Giang Nam trước năm 1975

Giang Nam đến với thơ ca từ những năm kháng chiến chống Pháp, khi ông

còn là học sinh của trường Quốc học Huế Theo Báo Phú Yên, “ông bắt đầu sáng tác thơ vào năm 1946” [75]

Những thành tựu thơ ca của Giang Nam giai đoạn này có thể kể đến: Thơ Giang Nam (1949) – khoảng 30 bài, in đá (litô), Tháng Tám ngày mai (1962); Quê hương (48 bài) – Tập thơ từ miền Nam gởi ra (1965) (tập thơ này đã được NXB Giải phóng in 1962); Người anh hùng Đồng Tháp (trường ca) (1969); Vầng sáng phía chân trời (1975) Tập Thơ Giang Nam trên 30 bài, in đá (litô) năm 1949 hiện

tại vẫn chưa tìm được

Những sáng tác của ông bị ảnh hưởng và tác động mạnh bởi thời cuộc lịch sử,

xã hội và đặc điểm văn học giai đoạn 1954 – 1975 Từ Hiệp định Giơnevơ về ĐôngDương năm 1954, đất nước bị tạm chia thành hai miền Nam – Bắc Miền Bắc tiếptục công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, còn ở miền Nam phải chịu đựng sự xâmlược dã man, tàn độc với công nghệ cao của đế quốc Mĩ Tiếp theo đó, đế quốc Mĩ

nả súng tấn công vào miền Nam Vì nhiệm vụ chính trị khác nhau nên văn học hai

miền có những nét khác nhau nhất định Nhưng “từ năm 1965 về sau thì văn học ở hai miền đều tập trung hơn ở nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam

Trang 15

tiến tới thống nhất đất nước” [39; tr.45] Nếu giai đoạn này, trên đất Bắc, các nhà

thơ viết về cuộc sống, con người trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và niềmtin vào cuộc đời mới dẫu còn lắm thử thách, gian truân thì ở miền Nam, Giang Nam

và một số nhà văn nhà thơ khác lại phản ánh cuộc sống, con người trong khángchiến chống Mỹ cứu nước

Trước hoàn cảnh lịch sử giai đoạn này, văn học vận động theo hướng cáchmạng hoá, đại chúng hoá, vì vậy, yêu cầu văn học phải mang tính dân tộc, tính nhândân, tính Đảng, tính hiện thực Giang Nam đã đáp ứng và phát triển những yêu cầu

đó để nó trở thành những đặc điểm nổi bật nhất trong thơ ông Thơ Giang Namđược xem là thơ cách mạng, thơ chiến đấu Nó như những trang nhật ký, ghi chép,phản ánh tường tận, chi tiết các sự kiện của công cuộc kháng chiến miền Nam, từcác trận tiến công nhỏ lẻ đến những chiến thắng oanh liệt

Năm 1960, bài thơ Quê hương ra đời đã đánh dấu sự nghiệp thơ văn của

Giang Nam, để lại dấu ấn mạnh mẽ trong lòng độc giả Từ bài thơ, ta có thể thấy từnhững điều giản dị, đơn sơ nhưng được rút ra từ máu xương, từ sâu thẳm con timbiết yêu thương, căm hận cũng có thể tạo nên sự phi thường hiếm gặp:

“Hôm nay nhận được tin em Không tin được dù đó là sự thật Giặc bắn em rồi quăng mất xác Chỉ vì em là du kích, em ơi!

Đau xé lòng tôi, chết nửa con người”

(Quê hương)

Bài thơ đã trở thành “nhãn hiệu” cho thơ và nhà thơ Giang Nam Khi nhắc đến

Giang Nam, người ta sẽ nhắc ngay đến Quê hương và ngược lại Đó là sự thành

công và cũng chính là động lực thôi thúc mạnh mẽ cho những tác phẩm của GiangNam

Nối tiếp sự thành công của bài thơ Quê hương, năm 1962, Giang Nam đã xuất bản tập thơ Tháng Tám ngày mai Đây là tập thơ đầu tiên được xuất bản khi nhà thơ

hoạt động ở miền Nam Lúc này miền Bắc đã thắng lợi, xây dựng chủ nghĩa xã hội

nhưng miền Nam vẫn còn “quặn thương đau” luôn lắng nghe tiếng bom “nổ xoáy

óc tim ta” Tuy ở trong Nam nhưng nhà thơ vẫn cảm nhận và vui mừng cho sự thắng lợi độc lập của miền Bắc “yêu thân”, chưa một lần đặt chân đến Từ nhan đề

tập thơ, ta có thể thấy được sự đánh dấu điểm mốc vàng son thắng lợi của dân tộc

Trang 16

ta Đây cũng là hành động mở đường cho những thắng lợi lớn, chiến công oanh liệt,

toàn diện ở “ngày mai”

Giang Nam đã ghi nhận và giúp người đọc hồi tưởng phút giây huy hoàng lịch

sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 Đã trôi qua 14 năm nhưng niềm vui đó,

sự phấn khởi đó vẫn hiển hiện trong ký ức tác giả “như mới hôm qua” Tác giả nhớ

cụ thể từng chi tiết:

“Cơm chín quên ăn chạy ù ra ngõ

Đi cướp chính quyền…ơi ới gọi nhau Cuống quýt say sưa vứt cả áo đội đầu Phút lịch sử nghẹn ngào, tay nắm chặt”

(Bài thơ tháng Tám)

Dù chiến thắng và độc lập ấy chỉ được dựng nên ở một phần Tổ quốc nhưng

đó là động lực, niềm tin cho những bước tiến mạnh mẽ tạo nên sự thống nhất toàndân tộc:

“Tháng Tám hôm qua là trận mở đầu Cho tháng Tám ngày mai long trời lở đất

Có tháng Tám là có ngày thống nhất….”

(Bài thơ tháng Tám)

Bằng việc phản ánh chân thật những điều mắt thấy tai nghe, cùng với nhữngngôn từ mộc mạc, giản dị gần gũi với đời sống và con tim yêu nước cháy bỏng,Giang Nam đã nói lên được tiếng lòng của những người con Nam Bộ, những ngườichiến sĩ cách mạng anh hùng Không những thế, bằng nhãn quan tinh tế và nhân đạocủa mình, Giang Nam đã phát hiện hình ảnh và nỗi lòng của người lính bên kia trậntuyến Đây thực là một đề tài lạ, khó tìm thấy trong sáng tác của các tác giả cùngthời

Ông đã nói lên tiếng lòng, sự trăn trở, hối hận, băn khoăn của chiến sĩ bên kiatrận tuyến khi chính mình đang phá hoại và huỷ diệt quê hương, gia đình mình

“Họng súng anh đang chĩa về phía ấy

Trang 17

Về phía con anh! về phía vợ anh!

Tiếng xa quay vẫn ấm dịu, hiền lành!”

(Tiếng xa quay)

Những hình ảnh thân thuộc của quê hương đã làm anh thức tỉnh và thoáng nỗibăn khoăn nhận ra được sự tàn ác, dã man của chúng trong sự căm thù và phẫn uất:

“Bắn mẹ, bắn vợ ta ư? Trời! quân khốn kiếp!

Anh cắn chặt môi, máu chảy ròng ròng

- Bắn! - Không bao giờ! Không bắn, không!”

(Tiếng xa quay)

Sau đó không lâu, Giang Nam lại ra mắt bạn đọc tập thơ Quê hương Nó đã

phác thảo hoàn cảnh lịch sử và tình hình chiến đấu ở miền Nam, từ con người đếncảnh vật, từ sự khắc nghiệt khó khăn đến sự dã man, tàn ác của quân thù Nhưngtrong hoàn cảnh đó, con người miền Nam vẫn được làm bật nổi lên với vẻ đẹp kiêncường bất khuất, đầy niềm tin và khát vọng ở tương lai tươi sáng

Như tập thơ trước, ở tập này, niềm tin chiến thắng vẫn luôn vẫy gọi trong timmỗi con người Nam Bộ nhưng niềm tin ở đây mãnh liệt và lớn lao hơn Niềm tincủa họ đặt vào những con người kiêu hùng, dũng mãnh:

“Các anh đứng dậy, sân ga lộng gió Anh dũng, hiên ngang nhưng hiền lành cởi mở, Dang cánh tay choàng trọn quê hương

Truyền niềm tin và sức mạnh quật cường.”

Trang 18

không anh, Hoa mùa xuân Nam Bộ, Mừng các anh chiến thắng, Mạnh hơn súng gươm và án tử hình,…Và ông đã dành riêng 1 bản trường ca bi tráng, hào hùng để

ca ngợi đứa con Đồng Tháp – anh hùng Huỳnh Việt Thanh một con người trọn đờiyêu nước, trọn đời gìn giữ tấc đất quê hương:

“Từ đây: đồng cỏ bạt ngàn Anh vào lịch sử hiên ngang, chói loà Anh vào trang sách em thơ Anh vào tiếng hát đưa đò bên sông Máu anh nhuộm cánh sen hồng Mũi chông anh đã thành rừng bao la”

(Người anh hùng Đồng Tháp)

Thơ Giang Nam tập trung đi sâu vào ca ngợi cái đẹp, cái uy dũng, oanh liệtcủa con người và thiên nhiên trong kháng chiến Những nhan đề các tập thơ đều nóilên niềm tin quyết thắng và đầy hy vọng ở tương lai, đầy hy vọng ở những con

người bất khuất: Tháng Tám ngày mai, Người anh hùng đồng tháp, Vầng sáng phía chân trời Họ tin rằng những “người anh hùng” sẽ làm nên “vầng sáng” ở “ngày mai” Thơ ông cũng dùng những ngôn từ mộc mạc, giản dị dễ đi vào lòng người

nhưng ẩn chứa khí thế anh hùng, bất khuất Vì lẽ đó, thơ ông thích hợp làm lờituyên ngôn, vận động, kêu gọi và thúc giục tinh thần chiến đấu của quần chúngnhân dân Một thời thơ Giang Nam đã trở thành công cụ tích cực và đắc lực cho cán

bộ tuyên truyền, vận động:

“Miền Nam ta, mười bốn triệu người, ai không là dũng sĩ? Hoặc trở thành anh hùng, hoặc chịu kiếp ngựa trâu”

(Những anh hùng của chúng ta)

Tóm lại, thơ Giang Nam đã phản ánh được thần thái, hơi thở của cách mạngmiền Nam Những điều ông chứng kiến và trải nghiệm đã chạm đến con tim và tuônchảy thành những dòng thơ rung động lòng người giống như lời Hoài Thanh đã

nhận xét “Giang Nam làm thơ như vậy đó Đau xót, căm thù, mến thương, phấn khởi chất chứa trong lòng đã trào lên đầu ngọn bút” [58; tr.407]

1.2.2. Thơ Giang Nam sau năm 1975

Sau ngày đất nước thống nhất, nhiệm vụ chính trị quan trọng không còn là đấutranh giải phóng dân tộc mà phải phấn đấu, phát triển, đổi mới xã hội về mọi mặt,nâng cao đời sống về cả vật chất và tinh thần cho nhân dân lao động, hướng đến

Trang 19

cuộc sống đầy đủ, ấm no, hạnh phúc Kéo theo đó, thị hiếu thẩm mỹ của con ngườicũng thay đổi, vì vậy văn chương cũng cần phải có sự đổi mới phù hợp để đáp ứngyêu cầu bạn đọc Trước năm 1975, văn chương thường thể hiện cái chung, cái tậpthể, dốc toàn lực đấu tranh giải phóng dân tộc thì bây giờ văn chương đã thể hiệnđược những cung bậc cảm xúc đời thường của con người Nói về vấn đề này,

Nguyễn Lâm Điền đã nhận định:“Sau năm 1975, những vấn đề đặt ra trong cuộc sống những tháng ngày này không chỉ là hiện thực đời sống cách mạng gắn liền với lợi ích của cộng đồng, mà còn là cuộc sống đời thường, riêng tư của mỗi người, mỗi gia đình” [15; tr.25]

Trong giai đoạn này, Giang Nam cũng cho ra đời rất nhiều tác phẩm hướng

đến tư duy, quan niệm mới: Hạnh phúc từ nay (30 bài, chùm thơ tặng người làm ra

ánh sáng có 3 bài, ghi chép nhỏ ở Thuận Hải 4 bài Tổng cổng 37 bài thơ) (1978);

Thành phố chưa dừng chân (24 bài) (1985); Ánh chớp đêm giao thừa (trường ca); Mầu nhiệm trong tập “Nẻo về” in chung với 2 tác giả khác (1999); Sông Dinh mùa trăng khuyết (trường ca) (2002), Thơ với tuổi thơ (tuyển thơ thiếu nhi) (2001); Lắng nghe thời gian (2008), Người đi mở đất (trường ca) và khoảng 50 bài thơ đăng báo

từ 1999 đến nay nhưng chưa tuyển thành tập

Nếu trước đây đối với ông “vầng sáng” vẫn còn ở “phía chân trời” thì bây giờ ông đã khẳng định “hạnh phúc từ nay” Đó cũng là nhan đề của tập thơ ông in

năm 1978 Hạnh phúc đến với con người, với nhân dân từ những đổi thay của xómlàng của cuộc sống không còn nô lệ

Trước đây những chiếc xuồng qua sông phải đi trong đêm tối với súng đạn rantrời:

“Một tràng súng giặc nổ ran Lửa bay chớp đỏ không gian quanh mình”

Trang 20

Phà tươi vui nổi những mạch đời”

(Qua phà Rạch Miễu)

Mặc dù đất nước đã hoà bình, độc lập đã về tay ta, đã làm chủ đất nước nhưng

vì chiến tranh trong một thời gian dài, kinh tế, lao động sản xuất bị đình trệ dẫn đếnđời sống còn nhiều thiếu thốn, khó khăn:

“Có một điều em không nhận ra đâu:

Bát cơm độn mà lòng người đầy đặn Thương Hà Nội còn nghèo sau thắng trận Bồi hồi anh nhìn em, quên ăn…”

(Bữa cơm đầu ở Hà Nội)

Cây lành đã bắt đầu sanh trái ngọt Bao nỗi đau, bao nỗi mất mát hy sinh củathế hệ cha anh đã được đền đáp Họ ngã xuống cho độc lập của đất nước để chúng

ta hưởng được “muôn phần vui nay”

Cảnh sắc tươi vui của hoà bình độc lập còn được Giang Nam miêu tả cụ thể

và chi tiết qua nhiều thi phẩm: Trong căn cứ Đồng Tâm, Về thăm Ấp Bắc, Đà Lạt mùa hoa, Mùa xuân ơi rất tuyệt vời,…

Sau khi đất nước hoà bình, Giang Nam cũng chuyển hướng văn học, nói nhiềuhơn về tình cảm cá nhân, gia đình và tình yêu đôi lứa Tình cảm với đứa con gái duynhất luôn da diết và chất chứa yêu thương Chiến tranh đã cướp đi tình cha con,cướp đi khao khát giản đơn và dung dị Khi hoà bình thống nhất, ông mới có đượccái hạnh phúc, niềm vui của một người cha thực thụ:

“Mười bảy tuổi đời con

Ba mới có niềm vui của những người cha, người mẹ.

Ba vẫn ước được dặn con Những điều rất thừa mà riêng trái tim mới hiểu”

Trang 21

Vẫn mình em chống chọi, vẫn mình em”

(Chùm thơ nhỏ cho em)

Tóm lại, giai đoạn này, thơ Giang Nam tập trung nhiều vào niềm vui, niềmphấn khởi của con người trước chiến thắng vẻ vang và độc lập tự do của dân tộc, cangợi hình ảnh quê hương qua sự đổi thay kỳ diệu từ Nam chí Bắc, từ phố phườngđường xá đến những cánh đồng trĩu nặng phù sa Giang Nam cũng hướng đến conngười cá nhân trong thơ, nói đến những cảm xúc cá nhân, những tình cảm, tình yêuthương gia đình mặn nồng thống thiết

Trang 22

Chương 2 CẢNH SẮC THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƯỜI QUÊ HƯƠNG

TRONG THƠ GIANG NAM

2.1. Cảnh sắc thiên nhiên quê hương trong thơ Giang Nam

2.1.1. Cảnh sắc thiên nhiên với vẻ đẹp yên bình

Cảnh sắc thiên nhiên Việt Nam mang những vẻ đẹp đa dạng và phong phú.Thiên nhiên thuần hậu, mộc mạc với những cánh đồng mênh mông bất tận, cò baythẳng cánh, cùng với hệ thống kênh ngòi chằng chịt, phù sa bồi đắp Cảnh vật hùng

vĩ với những dãy núi cao sừng sững, những cánh rừng trải dài đến vô tận Nhữnghình ảnh ấy, vẻ đẹp ấy luôn in bóng và tồn tại trong tâm hồn của người con xa quê

Nó luôn khơi gợi và dẫn đường cho con người trở về những hồi ức xa xưa

Những hình ảnh làng quê, thiên nhiên luôn gắn bó với tuổi thơ một thời hồnnhiên, trong sáng của Giang Nam:

“Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường, Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ

"Ai bảo chăn trâu là khổ'' Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao.”

(Quê hương)

Mượn một câu trong bài tập đọc để nói về tuổi thơ mình, Giang Nam cũnggợi lên hình ảnh một cánh đồng quê với chú mục đồng trên lưng trâu cùng tiếng

“chim hót trên cao” tạo nên một bức tranh hiền hoà, đầy thanh sắc.

Cùng với những trận đòn roi của mẹ, hình ảnh cánh bướm, tiếng chim, khônggian làng quê thân thuộc đã trở thành biểu tượng đặc trưng cho hình ảnh quê hươngtrong trí óc của cậu học trò tuổi nhỏ Tình yêu dành cho quê hương cũng chỉ giản

đơn và gói gọn vì “… có chim có bướm/ Có những ngày trốn học bị đòn roi”

Xứ sở miền Nam, vùng đất của những “hàng dừa xanh uống nước phù sa và gió nóng” được hậu đãi, được thiên nhiên ban tặng nên sản vật phong phú Đó cũng

là điểm nhấn cho cảnh sắc thiên nhiên Việt Nam giàu đẹp

“Anh nhìn hàng mía em vun Nghe con chim hót bên đường anh đi.

Quê em tốt lúa, xanh mì.

Trang 23

Giếng trong soi bóng những ngày trẻ thơ.”

(Sống giữa quê em)

“Anh biết mùa này thơm chín khắp nơi, Gió, nắng quê ta đã ngọt ngào chất mật.”

(Mùa thơm)

“Thiên nhiên quý người nên cho nhiều đến thế!” Đó là lời giải thích của

Giang Nam về sự trù phú của sản vật thiên nhiên Những cảnh vật ấy làm náo nứctrái tim của những con người yêu thương và gắn bó với nó, ngọt lòng người ở lại và

cũng thắm hồn kẻ ra đi Sự gắn bó yêu thương, hoà quyện giữ “thơm” và “người”

đến nỗi Giang Nam phải thốt lên:

“Đi khắp đất trời vẫn nhớ mùa thơm”

(Mùa thơm)

Sinh ra ở Ninh Hoà, sau này đi học ở Quy Nhơn, tham gia cách mạng ở NhaTrang,… Đó đều là những nơi có vị trí giáp biển nên hình ảnh biển với những cơnsóng vỗ ầm ầm và tiếng gió vi vu luôn gắn bó và xuất hiện trong tiềm thức củaGiang Nam Dù xa biển nhưng tiếng sóng, tiếng gió và những con người phố biểnvẫn luôn hiển hiện và vang vọng trong trái tim Giang Nam

“Từ biển mình đi đánh giặc Mỗi chặng đường xa biển, càng hiểu biển nhiều hơn”

(Biển miền Trung)

Chưa bao giờ ông quên được, nhiều lúc phải thốt lên“hai mươi năm tôi thèm nghe tiếng sóng” Được về với biển là khát khao, niềm hạnh phúc lớn, như đứa con

được chạy về sà vào lòng mẹ Trong lòng Giang Nam, nó không phải một vật vô tri,

vô giác mà là một con người thân thiết, gắn bó, là người bạn tri kỷ nhiều năm gặp

lại, thắm thiết khi “nghe sóng nói những lời thương nhớ” Khi tình cảm nồng nàn,

chất chứa thì những vật vô tri cũng có tâm hồn Giang Nam đã phả cái tình, cái hồnvào biển, vào quê hương để thấu hiểu những lời thiên nhiên tâm sự Biển đã gợi lại

nhiều kỷ niệm từ “những người quen cũ” đến những ký ức tuổi thơ “ánh đèn câu mực” giúp Giang Nam sống lại một quãng đời đã đi qua.

“Tôi về quê biển Miền Trung Nghe sóng nói những lời thương nhớ Nghe gió gọi tên những người quen cũ

Trang 24

Nghe rì rầm ghềnh đá nhấp nhô Nha Trang ơi, biển đêm sóng vồ bờ Ánh đèn câu mực, tuổi thơ sáng trong ký ức”

(Biển miền Trung)

Sau mấy mươi năm trở lại, ngắm nhìn và cảm nhận cái đẹp, cái chân chất nghĩtình của quê hương xứ biển, Giang Nam như bị cuốn hút, vương vấn không muốnrời xa Biển luôn sống trong tim Giang Nam, biển là người thân, là gia đình, là máu

thịt “không thể nào xa biển”

Hơn 100 năm bị sự xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đất nước,cảnh vật thiên nhiên và con người đều chìm trong cuộc sống tối tăm không lối thoát.Cảnh vật mất dần tươi xanh và sức sống Khao khát có được một cuộc đời mới, một

hơi thở mới là niềm đam mê cháy bỏng của biết bao con người.“Mạch đời” mới đã

được xác lập, con người sống trong cảnh tự do, yên bình hạnh phúc Sự ung dung,thanh thản của con người đó cũng là sự thanh thản của con phà trong không khí vui

tươi, nhộn nhịp Khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp với “dòng sông mênh mông”,

tình người ấm áp, sản vật phì nhiêu đã điểm tô thêm cho sự yên bình trù phú củacảnh vật nơi đây

“Đất mận hồng đào, đất của dừa xanh, Phà đi giữa hai bờ lưu luyến

Yêu quá dòng sông mênh mông như biển

Và yêu hơn những bạn mới cùng phà.”

“Hố bom” là biểu tượng của chiến tranh, của sự tàn phá dữ dội nhưng những

“hố bom” giờ đây lại “ngập nước vui đàn cá” chứng tỏ những hậu quả của chiến

tranh đang dần được khắc phục và cuộc sống cũng trở nên ổn định, bình yên Giang

Trang 25

Nam thật là khéo léo và tinh tế khi mượn hình ảnh “hố bom” để nói cuộc sống

thanh bình sau chiến tranh

Cảnh vật đất nước không chỉ dừng lại ở sự yên bình, sạch bóng quân thù màcòn hướng đến sự phát triển mạnh mẽ và cuộc sống no đủ Vì lẽ đó, khung cảnh đấtnước đã dần trở nên nhộn nhịp, sôi động Những cánh đồng lúa rộng lớn, mênhmông, nhà máy mọc lên không ngừng, điện bắt đầu phát sáng và phân bố rộngkhắp,…mở ra một cuộc sống hạnh phúc, an lành:

“Đất trời ta rộng mênh mông Ngọt ngào sao những cánh đồng phù sa Nghe vui tiếng sóng vỗ bờ

Khói nhà máy, chân trời xa rựng hồng”

(Mùa xuân ơi, rất tuyệt vời)

Đỗ Trung Quân đã nói “Quê hương nếu ai không nhớ/ Sẽ không lớn nổi thành người” Mặc dù “suốt đời chưa hiểu hết, lời thiên nhiên với mình” nhưng tình cảm

trong lòng Giang Nam luôn tràn đầy, da diết

“Miền trung ơi miền Trung long lanh màu cát trắng xanh biếc những hàng dừa

là nghìn năm còn mặn.”

(Miền Trung)

Chỉ với vẻ đẹp của “cát trắng”, của dừa xanh nhưng lại có sức cuốn hút đến lạ

thường Chỉ có Giang Nam – đứa con miền Trung, gắn bó tuổi thơ với miền Trungmới hiểu được giá trị của những hình ảnh, cảnh vật giản dị mà chất chứa ấy

“Nghìn năm còn mặn” có thể là chất mặn của muối, của nước biển nhưng cũng có

thể là chất mặn mà, nghĩa tình sâu sắc của người với thiên nhiên và ngược lại.Những bãi cát óng ánh, những hàng dừa xanh tươi sẽ vô tư toả sáng để tô điểm choquê hương giàu đẹp

Cảnh vật thiên nhiên như được hồi sinh sau những năm tháng bị vùi mình

trong lửa đạn Những “búp lá”, “đồng xanh” là biểu tượng của sự thanh bình yên ả,

báo hiệu sự sống trở về trên quê hương, hạnh phúc quay về trong cuộc sống mỗingười

Trang 26

“Hàng me thay lá xanh những con đường Những cây bàng sân nhà đỏ rực

Bầy chim vắng lâu ngày bỗng kéo về náo nức Thành phố lắng nghe tiếng hót trong ngần.”

(Tiếng gọi mùa xuân)

Thành phố đầy sức sống với “hàng me thay lá”, “những cây bàng đỏ rực”cùng sự nô nức, náo nhiệt của những bầy chim xa xa bay về cất tiếng hát trong

lành đằm ấm Những rừng rậm, hàng cây, đường đầy đá sỏi với những tiếng bominh ỏi điếc tai đã rời xa, thay vào đó là sự náo nức, phát triển của một thành phốtrong tiếng ngân vang của bầy chim vỗ cánh tung trời

Cảnh vật thiên nhiên thật tươi đẹp, trữ tình Thiên nhiên uốn mình với vẻ đẹp

tự nhiên vốn có trên ruộng lúa bờ tre, phủ khắp đất nước là màu xanh trải dài vô tận.Những cành cây xanh, hoa đỏ khoe sắc, những tiếng chim hót véo von như muốnnói điều gì Dù trải qua chiến tranh tàn phá nhưng vẻ đẹp ấy vẫn được gìn giữ vàkhông ngừng được cải thiện Cảnh vật của sự yên bình cũng được thể hiện qua cuộcsống đời thường của những người lao động những tiếng sóng vỗ bờ, lời gió biểnhay tiếng rì rầm của những ghềnh đá nhấp nhô Mọi thứ đều tô điểm thêm cho mộtkhung cảnh thiên nhiên yên bình, giản dị

2.1.2. Cảnh sắc thiên nhiên trong sự tàn phá của chiến tranh

“Những lũ giết người”, “những loài quạ Mỹ” đã đến và gieo rắc biết bao tai

hoạ thảm khóc cho cảnh sắc và con người Việt Nam Chúng cướp đi màu xanh củaruộng đồng, màu xanh của cỏ cây hoa trái, màu xanh của bao cuộc đời vất vả

thương đau Một đất nước thuần nông nghiệp nhưng“lúa đã kém xanh” “cây chết khô và đất thì nóng bỏng” thì còn chi sự sống.

“Từng tấc đất khô cằn như sắp chết, Từng căn nhà khao khát bóng dừa xanh.”

Trang 27

(Mẹ Củ Chi)

Giang Nam đã ghi và cảm nhận sự đau xót khi quê hương bị giặc làm biến đổi

Để xây dựng nên những nhà cao ốc, sân bay, chúng đã đốt rừng rậm cây cối, pháhoại mùa màng, nông sản…tước đi vẻ đẹp vốn có của thiên nhiên

“Giặc ủi sân bay: thơm, mì tróc gốc”

“Pháo nổ bên này sông, pháo nổ bên kia sông Hằn học xé màn đêm yên tĩnh”

(Một mặt trời đỏ rực)

“Hoà Khánh”, “Cóc Rinh” hay “Mỹ Thạnh” đều là những xã đã bị địch dùng

bom đạn huỷ diệt Từ đó mới thấy được sự tàn khốc và phá hoại dã man của bomđạn chiến tranh

“Thương vô cùng những Hoà Khánh, Cóc Rinh

Mỹ Thạnh: dừa, tre nát cả thân cành”

(Khánh Hoà, Nha Trang ơi!)

Giang Nam lặp đi lặp lại cụm từ “ba mươi năm” để thấy được sự phá huỷ ấy

không những dữ dội mà còn kéo dài Ba mươi năm đã cướp đi:

Trang 28

“…một vành nón trắng Giếng nước, bờ tre, làn khói xanh nâu.”

(Ngày về của mẹ)

Và nó đã trả lại cho thiên nhiên và con người Việt Nam những bãi đất khôcằn, sỏi đá

“Chúng đã biến đất này thành sa mạc Chỉ có gió gào và xích sắt hằn sâu”

(Ngày về của mẹ)

“Đi giữ quê nhà mà ngỡ mình lạc bước” là sự ngạc nhiên của con người khi

chứng kiến sự tàn phá và thay đổi của quê hương mình Ông không còn nhận ra đó

là vùng đất quê mình nữa Chính chiến tranh đã cướp đi mọi thứ Giang Nam đã vô

cùng sáng tạo khi đặt hình ảnh “cây chết khô” lên trên nền của một mảnh “đất ngọt phù sa” Điều đó càng cho thấy rõ sự phá hoại dã man không ngôn từ nào miêu tả được của bọn “diều hâu, quạ Mĩ”

Cây chết khô trên đất ngọt phù sa

(Người anh hùng Đồng Tháp)

Khung cảnh ảm đạm, thiếu sức sống của thiên nhiên, cây cỏ đã phần nào nóilên sự tàn phá dã man của chiến tranh, sự tác động mạnh mẽ đến cảnh vật xungquanh từ cành cây, đến cục đá đều khô cằn, trơ trọi

2.1.3. Cảnh sắc quê hương trong cảnh khó khăn, đói nghèo

“Nắng, đỉa, muỗi mòng, đói khát”

(Theo bước các anh đi)

Hay là:

“Đất lạnh, hố sâu, cỏ sắc, gai dày

Áo rách, lưng trần, toạc máu, chúng tôi đi…”

(Tiếng hát trên rừng cao)

Đó đều là những cực khổ và thiếu thốn mà con người trong chiến tranh, đặcbiệt người lính phải gánh chịu Họ bước đi với trái tim nóng, đầy lòng yêu nước vàquyết tâm đuổi giặc, không màng đến sự nguy nan, hiểm trở của núi rừng, sự đủ đầyhay thiếu thốn của vật chất Bao trùm lên cả đất nước là khung cảnh đói nghèo và

Trang 29

khó khăn về mọi mặt Những con người chấp nhận đau khổ, chấp nhận gian nan,thử thách vươn lên để chống chọi với kẻ thù xâm lược.

Giang Nam đã nhìn thấy và phản ánh một chi tiết đắt giá nói lên tất cả sự thiếu

thốn con người phải chịu Chỉ với “chiếc kim găm”, ông đã tái hiện lại hình ảnh

người lính với sự thiếu thốn tột độ từ những điều nhỏ nhất:

“Anh nhớ những ngày gian lao kháng chiến Thiếu từ hột muối đến chiếc kim găm

Đêm hành quân lỡ dẫm gai đau điếng Vẫn cắn răng, không chịu tuột sau hàng”

(Món quà bé nhỏ)

Trong vô vàn sự thiếu thốn, muối là thứ có thể nói là thiếu thốn nhất Nhiềungười đã hy sinh cả tính mạng để giữ lấy hạt muối cho đồng chí, đồng đội của mình.Biết bao con người đã bệnh, đã chết vì thiếu muối Muối được xem là niềm khaokhát của mọi người chiến sĩ:

“Ôi những năm dài ăn lá bếp, củ măng Thèm hột muối đồng bằng mặn tê đầu lưỡi”

(Đà Lạt mùa hoa)

Nhưng niềm hy vọng đó lại nhanh chóng bị dập tắt đi bởi những lần chặnđường của giặc Thiếu thốn lại hoàn thiếu thốn Con người lại phải cam chịu những

hệ luỵ, hậu quả khi cơ thể thiếu muối

Những bữa ăn “măng le củ chụp” đã là đáng quý với họ Họ ăn tất cả những

thứ có thể, kể cả lá cây, rễ cây,….Ôi! Gian khổ tột cùng của cuộc đời chiến sĩ

“Có những buổi dừng chân bên bờ suối Nhai lá thay cơm, nhường nhau hạt muối

Mơ thấy quê hương trong giấc ngủ chập chờn”

(Tiếng hát trên rừng cao)

Từ đó, ta thấy được bao quát cái cảnh đói khát, thiếu thốn của con người trongkháng chiến Giang Nam đã phản ánh một cách chân thực và chính xác

“Có bữa đói, ăn nhằm lá độc Say té mà sao miệng vẫn cười”

(Giữa mùa mai nở)

Trang 30

Hai câu thơ có giọng điệu vui tươi, lạc quan nhưng ẩn ý phía sau là lời khẳngđịnh đanh thép và nhấn mạnh sự thiếu thốn của những người chiến sĩ Câu thơ đau

xé lòng người, tình người trong chiến đấu Tưởng tượng làm sao, cảm nhận làm saokhi dân tộc ta đã từng một thời khổ đau và thiếu thốn như thế, lại thêm sự tàn ác, bấtnhân của bọn Mỹ không có trái tim:

“Lúa chín vàng chúng cắt về lợp trại Ôi! Còn đâu bát cơm thơm từng bữa quê nhà”

(Nhớ núi)

Hai hình ảnh đối lập: một bên là sự đói khát “ăn nhằm lá độc”, bên kia là

“lúa chín vàng cắt về lợp trại” Hai hình ảnh đó đã nói lên sự bất nhân của Mỹ, mặt

khác cũng tô đậm thêm sự thiếu thốn lại càng thiếu thốn của con người trong hoàncảnh ấy

Để khẳng định và tạo thêm tính thuyết phục, Giang Nam đã dẫn ra hoàn cảnhđói nghèo của những con người cụ thể:

“Vượt các anh chị em bước lên Chân đất, đầu trần, tóc bay dưới nắng.

Mồ hôi em lăn dài trên má nám

Da dộp, vai phồng, cát bốc lửa dưới chân Khát cháy cổ rồi vẫn trừng mắt, cắn răng”

(Em bước lên)

Ngoài việc cam chịu trước vật chất thiếu thốn, gian khổ trăm bề, con ngườicòn phải đương đầu và tuyên chiến với những khắc nghiệt của thời tiết, khí hậu,thiên tai,…

“Đất sụp dưới chân, mưa dội trên đầu Sốt rét vàng da, mắt mờ, bụng đói.”

(Tiếng hát trên rừng cao)

“Tám năm dài gian khổ Sên, vắt và núi rừng Ôi! Những đêm qua sông Muỗi đốt bầm da thịt!”

(Những vết bầm trên má)

Trang 31

Những trận mưa như trút nước hay những cơn rét rừng là những điều khótránh khỏi, lại cộng thêm với muỗi mòng dày đặc, đỉa lội lền con Ca dao Nam Bộcũng từng phản ánh:

“Xứ đâu hơn xứ Cạnh Đền Muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lềnh tựa bánh canh”

(Ca dao)

Từ đó, tác giả cho người đọc thấu hiểu và bao quát được cảnh vật quê hươngvới đầy rẫy những gian khổ, thiếu thốn và khó khăn

2.1.4. Cảnh sắc thiên nhiên góp phần thể hiện vẻ đẹp dũng cảm, anh hùng

Trong tình cảnh nước sôi lửa bỏng, nhìn thấy giặc ngoại xâm lộng hành bạongược, không chỉ con người căm thù mà cỏ cây, núi rừng cũng oán giận, không chỉcon người muốn tiến lên mà cỏ cây núi rừng cũng muốn cầm súng tấn công Cỏ cây,sông núi Việt Nam như người anh hùng dũng mãnh, kiên gan, không khuất phục,sẵn sàng đương đầu với mọi thử thách, gian nan

“Mặc! Núi quê ta vẫn dựng điệp trùng Tre đổ xuống, rừng măng dày lại mọc Mỗi ngách đường: một ngọn súng hầm chông.”

(Nhớ núi)

Đất nước dẫu vào thế yếu, bị đàn áp, nô dịch, nhưng những anh hùng của tạo

hoá, của thiên nhiên ban tặng cho Việt Nam vẫn kiêu hùng đứng vững “vẫn dựng điệp trùng” Lớp này ngã, lớp khác lại nổi lên liên tiếp, không ngắt quãng Cây cỏ,

núi rừng hiên ngang như những con người Việt Nam hào hùng, máu lửa

“Bao năm gian khổ đã từng Từng ngọn cỏ cũng anh hùng đứng lên”

(Miền Nam có Bác)

Gian khổ, hiểm nguy đã làm sống dậy con người anh hùng trong mỗi ngườichiến sĩ và mọi cảnh sắc thiên nhiên Từ những ngọn cỏ, hàng cây nhưng do thờicuộc đã làm trổi dậy bản tính anh hùng kiên gan chống Mỹ

“Khi ngọn cỏ má ơi cũng theo người đánh Mỹ Chúng con có nghìn mắt nghìn tay”

(Người anh hùng Đồng Tháp)

Trang 32

Chúng bám sát theo những trận càn của giặc, những chiến công oanh liệt của

ta và những con người anh dũng Cỏ cây như một lực lượng siêu hình “ngàn mắt ngàn tay” không ngừng tiếp sức cho người chiến sĩ Những cây dừa xanh bạc ngàn

cũng trở thành người đồng đội, đồng chí kiên gan dõi theo che chở

“Dừa Châu Thành trải lá những đêm mưa Che chở đoàn dân công tải đạn”

Những “hốc núi”, “bờ kinh” cho đến những tấc đất, con đường, đâu đâu cỏ

cây, núi rừng cũng hiên ngang, dũng cảm Trên mảnh đất này, ở đâu có cỏ cây, cónúi rừng, sông núi ở đó có những anh hùng, những tượng đài bất tử

“Ở đâu mỗi bờ kinh, hốc núi Cũng biến thành chiến luỹ, hầm chông?

Ở đâu đất cũng anh hùng Mưa thuốc độc, vẫn xanh rờn lúa khoai?”

(Mười năm)

Dù trong hoàn cảnh khổ đau, khô cằn vì “mưa thuốc độc” nhưng mặt đất vẫn

“xanh rờn lúa khoai” Đó là do sự cam chịu, hy sinh anh hùng của “mẹ đất” yêu

thân Như nhà thơ Lê Anh Xuân đã nói:

“Ôi có phải dừa hút bao cay đắng

Để trổ ra những trái ngọt cho đời.”

(Dừa ơi)

Những dòng sông yên ả, dịu hiền nhưng trước mặt quân thù lại là con sônganh hùng, mạnh mẽ và dữ tợn Bao nhiêu chiến tranh, bao nhiêu sự tàn phá đều bấtkhuất vượt qua để gìn giữ Tổ quốc xóm làng

Trang 33

“Ôi Vàm Cỏ, dòng sông bất khuất Như Thu Bồn, như Cửu Long Giang

(Qua sông Vàm Cỏ)

Với sức tấn công, đả phá dã man, tàn độc của kẻ thù, dân tộc Việt Nam, núi

rừng Việt Nam vẫn anh dũng một lòng “nhoài lên” chống giặc, gìn giữ non sông.

Cỏ cây, hoa lá, núi rừng thiêng liêng đã cất cao lời ca mạnh mẽ, vọng vang, hàosảng về một vùng đất với thiên nhiên anh hùng

Cảnh sắc thiên nhiên quê hương bao hàm nhiều vẻ đẹp, từ dịu dàng, bình dịđến những vẻ đẹp mạnh mẽ, anh hùng Dù trong hoàn cảnh nào, những cảnh sắc ấyvẫn biểu hiện được vẻ đẹp vốn có của mình Trong cảnh yên bình, thiên nhiên nênthơ, trữ tình, yên ả, còn trong chiến tranh, gian nguy, hiểm trở thì mạnh mẽ, kiêuhùng, không khuất phục Đây thực sự là một dấu ấn, một điểm nhấn đặc biệt khi nói

về hình ảnh quê hương

2.2. Con người quê hương trong thơ Giang Nam

Trong mỗi con người, tiềm thức về quê hương luôn chân tình và thống thiết.Với Giang Nam, hình ảnh quê hương, ký ức về đất nước luôn xuất hiện trong tâmhồn ông ở mọi khía cạnh Ngoài thiên nhiên quen thuộc gần gũi, cảnh sắc tươi đẹp,quê hương còn để lại ấn tượng trong Giang Nam bởi những con người hiền lành,chất phác nhưng cũng rất mạnh mẽ, anh hùng Với tài năng, sự tinh tế và tấm lòngyêu quê hương thắm thiết, những nét tính cách ấy đã được Giang Nam thể hiện mộtcách trung thực, cảm động qua những trang thơ

2.2.1. Con người quê hương với vẻ đẹp bình dị chân chất

Con người Việt Nam luôn mang vẻ đẹp chất phác, hiền lành, rất đời thường vàdung dị Nó thể hiện cụ thể qua những tình cảm giản đơn, mộc mạc giữa người vớingười, giữa hậu phương với tiền tuyến, giữa đồng đội, đồng chí với nhau hay đó làtình cảm gia đình thắm thiết, tình cảm dành cho tấc đất ngọn rau, thiên nhiên cảnhvật quê nhà,…

Trong cái lạnh của núi rừng, cái ác liệt của chiến tranh nhưng trong trái timnhững người lính, người chiến sĩ vẫn ấm áp sự yêu thương, chia sẻ

“Đêm giữa rừng trời lạnh đắp chăn chung Khúc khích giành nhau từng hơi lửa ấm.”

(Hoa mùa xuân Nam Bộ)

Trang 34

Trong cuộc sống xa nhà, thiếu vắng tình yêu thương, họ xem đồng chí, đồngđội như anh em ruột thịt, đậm tình, đậm nghĩa với nhau Ở đó, còn có sự yêuthương, chăm sóc của người dân dành cho bộ đội Tình thương ấy được thể hiện từ

những điều đơn giản, bình dị nhất Những hành động nhỏ bé, đơn sơ: “viên thuốc, gói quà”, “quai dép, chiếc ba lô” nhưng lại bộc lộ được tình cảm yêu thương vô bờ

của những người dân hiền lành, chân chất Tình cảm ấy ấm áp như tình yêu thươngcon của cha mẹ, của những đấng sanh thành

“Chiều ấy em đi, các cô các chú,

Lo cho em từng viên thuốc gói quà Xem lại từng quai dép, chiếc ba lô Căn dặn trăm lần sợ chưa nói hết.”

(Cả miền Nam sẽ chuyển thư em)

Thiếu vắng tình cảm gia đình, cha mẹ, vợ con nhưng đổi lại họ được hàng

ngàn cha mẹ, hàng ngàn gia đình, hàng ngàn sự yêu thương từ bà con “miền Nam ruột thịt” Một bài thơ nhưng lại như một câu chuyện kể lại tường tận tình cảm của

“má” của “em” dành cho người lính Chỉ một hành động nhường gối, nhường

mùng nhưng lại vô cùng cảm động

“Thiếp đi còn thấy má Ngồi bên con dịu hiền Còn thấy đôi tay em

Bẻ lá rừng xua muỗi…”

(Những vết bầm trên má)

Những con người cơ cực, nghèo nàn về vật chất nhưng lại chất chứa, giàu có

sự yêu thương Những con người nhỏ bé nhưng trái tim có thể chứa tình thương trờibiển Tình cảm chân thành, sâu lắng đã biến những điều giản dị thành thiêng liêng

và ý nghĩa nhất Chính cái tình cảm của “má” của “em” đã làm “những vết bầm muỗi đốt” hằn mãi nơi trái tim tác giả Đó là vết hằn của sự yêu thương, của tình

quân dân thắm thiết

“Con hiểu rồi má ơi!

Tình má, em, đất nước

Trang 35

Nghe nhói mãi trong lòng Những vết bầm muỗi đốt”

(Những vết bầm trên má)

Nhớ thương những tháng năm bên nhau, chia bùi sẻ ngọt, chia sẻ nhau từngmiếng ăn, chiếc gối để thấy được cái mặn mà tình nghĩa của quân dân Dù khôngcòn bên nhau nhưng tình cảm của họ dành cho nhau không bao giờ dứt

“Khán giả, diễn viên chia tay nhau từng củ sắn Các anh đi rồi, chúng tôi nhớ thương sao!”

(Theo bước các anh đi)

Tình thương mến của người dân dành cho bộ đội, chiến sĩ thật thiết tha dạtdào Vì vậy, có thể nói, trên đất nước Việt Nam, đâu đâu cũng là nhà, đâu đâu cũng

ấm áp và đậm tình quê hương

Những người vợ miền Nam đã chấp nhận bỏ tình riêng vì tình chung đất nước

“khi Tổ quốc cần họ biết sống xa nhau” (Nguyễn Mỹ) Họ nén biết bao thương nhớ

và luôn dành tình cảm thắm thiết nhất dành cho chồng đang đương đầu với giặc dữ,hiểm nguy

“Con nhớ anh thường đêm biếng ngủ

Nó khóc làm em cũng khóc theo Anh gửi về em manh áo cũ Đắp cho con đỡ nhớ anh nhiều!”

(Lá thư thành phố)

Trong tình cảm thương nhớ cha của đứa con đã ẩn chứa cái niềm thương nhớcủa người mẹ và người mẹ còn mượn nỗi nhớ của con để nói lên nỗi nhớ thươngcủa chính con tim mình Trong hoàn cảnh lao khổ ấy, khao khát một cuộc sốnghạnh phúc, đời thường luôn thôi thúc trong tim họ Cái khát khao, mong ước đơngiản đến tội nghiệp Gặp nhau vài ngày đối với họ đã là hạnh phúc, đã là tất cả

“Sống bên nhau mười ngày

Đã là nhiều, em nhỉ (Thương bao đồng chí Mười năm chưa gặp lại người yêu)”

(Một chặng đời ta)

Trang 36

Niềm khao khát hoà bình, khao khát độc lập, khao khát cuộc sống hạnh phúcđoàn tụ chẳng khi nào ngừng trong tim họ Nó luôn là động lực cho những hạnhđộng anh hùng Ôi! Niềm hạnh phúc đơn giản mà sao khó quá.

“Được cùng anh đưa con đi học, Được nấu cho anh món ăn anh thích mỗi ngày

Và trên bàn làm việc của chồng được cắm một cành mai…”

(Một chặng đời ta)

Những năm tháng chiến đấu xa quê với những gian nan, nguy hiểm nhưngtrong lòng người lính luôn ẩn chứa và nhớ thương đến quê hương với những điềubình dị, giản đơn nhất:

“Ôi những bài diễn văn cháy bỏng căm hờn Anh viết đêm xa nhà lại xanh ngọn cờ gốc mít.”

(Đi tìm Tổ quốc)

Những hình ảnh lao động hay cảm xúc của con người sau chiến tranh cũngđược Giang Nam lột tả chân thực và cụ thể Sau bao năm tháng chiến tranh, đươngđầu với giặc với bom đạn, giờ đây những người lính đã trở về với cuộc sống đờithường, với những công việc lao động như họ mong muốn Khi chiến tranh đi qua,

họ trở lại với con trâu với cánh đồng, những công việc đồng án hằng ngày Mụcđích của họ giờ đây không còn là đánh đuổi kẻ thù xâm lược mà là xây dựng mộtcuộc sống mới, cuộc sống đủ đầy hạnh phúc Sau bao vất vả của cuộc đấu tranh đầymáu và nước mắt, hình ảnh con người với vẻ đẹp bình dị hiện rõ trên những cánhđồng sâu, với sự lo toan về những con đập về nước tưới cho cánh đồng để mang vềmột mùa bội thu trĩu hạt

“Đánh Mỹ xong rồi, con đường đi tới lại bắt đầu từ mảnh ruộng con trâu Vẫn là người bám đất, cày sâu Vẫn là đất trộn máu và nước mắt Lại thức trắng đêm bàn về con đập Đưa nước về, tưới ngàn mẫu đồng ta”

(Suy nghĩ buổi vào mùa)

Trang 37

Hình ảnh, vẻ đẹp của con người lao động vùng biển cũng được Giang Nam

khắc hoạ rõ nét Nếu những nông dân trở lại với “mảnh ruộng con trâu” thì con người vùng biển sau “hai mươi năm lại cầm lại mái chèo” Họ luôn gắn chặt cuộc

đời, tình cảm với biển, với quê hương Một hình ảnh ẩn dụ thật đẹp được GiangNam sử dụng để nói lên tấm lòng thuỷ chung, son sắt của con người vùng biển

“máy thiếu dầu, thuyền vẫn không bỏ biển” Cảnh biển, tình biển, muối biển đã ăn

sâu vào từng thớ thịt, đường da của họ

“Trở lại thời ra khơi vào lộng Bằng đôi tay cầm súng, cầm chèo”

(Ra khơi)

Họ “cầm chèo” với hy vọng xây dựng cuộc sống ấm no giàu đẹp, cho “cá bạc phải về lấp lánh đầy khoang” dù sau bao nhiêu năm có thể họ đã quên, đã không

còn quen thuộc với sóng biển, con tàu

Con người bình dị và giàu tình cảm yêu thương khi họ sống với một trái timnóng biết thổn thức trước hoàn cảnh, trước tình cảm của môi trường xung quanh.Con người đẹp với sự ngây thơ, hồn nhiên, yêu lao động, yêu cuộc sống Đất vàngười luôn chiếm được vị thế quan trọng và tình cảm sâu sắc trong lòng họ

2.2.2. Con người quê hương với lòng yêu nước và căm thù giặc

Thực dân Pháp và đế quốc Mĩ đến và cướp đi cuộc sống thanh bình giản dị, đểlại biết bao tai ương, biết bao sự đau khổ cho cuộc sống của nhân dân và cho đấtnước

“Lúa đang chửa, Mỹ rải chất độc Vào rừng ở, Mỹ tìm liệng bom”

(Giữa mùa mai nở)

“Mỹ Diệm quét càn, dồn dân, cướp lúa Rải thuốc độc trên đồng, rạch bụng mẹ moi con”

(Chiếc áo cuối cùng)

Bao nhiêu tội ác, bao nhiêu sự dã man, tàn độc của kẻ thù gieo rải trên đấtnước ta đều được in sâu và để lại những vết hằn đậm nét trong trái tim và trongxương thịt của con người Việt Nam

Trang 38

“Tôi hiểu vì sao những em bé lên ba Cũng biết căm thù chia cắt!”

(Những người ở lại)

Nỗi căm thù lại đến từ những trái tim nhỏ bé ngây thơ là vì thế Chúng cướp đi

sự trù phú, giàu đẹp của đất nước, cướp đi tự do, cuộc sống và sinh mạng của biếtbao con người lao khổ Tội ác chúng càng dày, lòng căm thù và tinh thần yêu nước

của nhân dân ta càng dâng cao Đất nước Việt Nam, con người Việt Nam “nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”.

Nhà thơ Giang Nam khi mới bước chân vào con đường cách mạng ông đã tâmsự:

“Chúng tôi đi giữa súng gươm, tù ngục

Từ những ngày đầu chúng đến: đau thương Chưa biết làm thơ, chỉ biết căm hờn

(Các anh đi rồi, ai bày, ai chỉ?)”

(Theo bước các anh đi)

Cảm xúc đầu tiên trong lòng Giang Nam là nỗi căm hờn sâu sắc Chính lòngcăm hờn đã làm nên tất cả Lòng căm hờn đã trở thành động lực sáng tác, động lực

chiến đấu trong ông Ông đã “lấy căm thù, chọi đại bác xe tăng”.

Chạm đến đất nước Việt Nam là đế quốc Mĩ phải đương đầu với hàng vạn,hàng triệu con người yêu nước và cả hàng triệu cây cỏ, núi rừng

“Từng gốc cây cũng trừng mắt, nghiến răng Từng hòn đất cũng nhoài lên cản giặc.”

(Theo bước các anh đi)

Những gốc cây, hòn đất là những vật vô tri cũng lên tiếng căm hờn Đó là nỗicăm hờn của toàn dân phả vào trong tự nhiên, trong cuộc sống

“Quân giết người đáng nguyền rủa, hãy nghe Nỗi căm giận của đất này cháy bỏng

Trả lại chúng ta Trả lại chúng ta Những cuộc đời tảo tần khuya sớm Gạch, đá ném vào cảnh sát như mưa”

(Người con gái Sài Gòn)

Trang 39

Nỗi căm thù không chỉ lan toả ở bề rộng của không gian mà còn chảy dài vàphủ khắp thời gian, phủ khắp chiều dài lịch sử từ thế hệ này đến thế hệ khác.

“Trận địa này, cha anh đã đi qua Thương nhớ, căm thù truyền bao thế hệ”

(Gởi đảo xa và những trận địa âm thầm)

Ôm nỗi căm hận trong lòng, họ luôn khao khát đứng lên đấu tranh, muốn biếnđau thương thành sức mạnh, chấp nhận hy sinh để đấu tranh, để giành độc lập Họkhông thể chấp nhận đứng chịu cảnh áp bức, bất công

“Ôi phải đứng nhìn tội ác, lặng im Nước mắt chị trào ra, chị nuốt vào mằn mặn Sao thịt da này không là bom nổ mạnh Sao tia mắt này không là lửa đốt xe!”

(Người con gái Sài Gòn)

Bao vết thương căm thù, bao nỗi đau trong con tim và trên da thịt vẫn rỉ máu,

đã thôi thúc và tạo động lực để bùng lên các cuộc nổi dậy đấu tranh Họ đã đứng lênnhư một quy luật tất yếu của vũ trụ, của thiên nhiên

“Mủ cao su chảy dồn thành máu Tức nước ngày mai phải vỡ bờ.”

(Lá thư thành phố)

Họ ý thức được chỉ có đấu tranh mới giành lại độc lập và chỉ có độc lập thìcon người mới có cuộc sống ấm no, hạnh phúc Những khẩu súng đã được cầm lên,tiến thẳng về phía quân thù Họ bước đi với khí thế và quyết tâm, với sức mạnh củamột dân tộc không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ, quyết giữ toàn vẹn bờ cõi,

Tổ quốc, non sông

“Khi giặc Mỹ đến nhà Khẩu súng, mũi chông là câu trả lời duy nhất Mỗi hạt cát Đồng-pan thấm mồ hôi, nước mắt

Lẽ nào để giặc xéo dưới chân?”

(Mùa thắng Mỹ)

Trang 40

Giang Nam đã thể hiện được sự căm thù và lòng yêu nước của nhân dân vớinhiều cung bậc, nhiều khía cạnh khác nhau Bên cạnh lòng căm thù, tác giả còn nóilên ý chí kiên cường, quật khởi nổi dậy chống ngoại xâm và tội ác của đế quốc Mĩ.2.2.3. Con người quê hương với vẻ đẹp bất khuất kiên cường

Lòng căm thù và lòng yêu nước trào dâng đã làm trổi lên những tượng đài bất

tử, những con người bất khuất, kiên cường trước thời cuộc chiến tranh Giang Nam

đã làm nổi bật hình ảnh người chiến sĩ, người dân chân quê, mộc mạc, đậm chất quê

hương, “lớn giữa đưng sình, bắt cá, mò cua”, “ở đợ, chăn trâu, trọn đời đói rách” nhưng mang trong mình “trái tim căm giận bất bình” đã làm nên lịch sử muôn đời

của dân tộc Họ là những con người xuất thân là nông dân bị áp bức, bóc lột, cũng

có những người xuất thân trí thức, rời bỏ mái trường tham gia chiến đấu

“Ơi các chị, các anh tay còn tím mực học trò

ra anh hùng bất khuất, như Giang Nam đã viết:

“Miền Nam là máu, thịt da Càng đau thương, càng tỏ ra thành đồng!”

(Miền Nam có Bác)

Chính hiểm nguy, gian khổ đã làm sống dậy con người tiềm ẩn, con người phi

thường trong mỗi người Biết bao bức “thành đồng” đã được dựng nên từ miền

Nam anh dũng Giang Nam không chỉ khắc hoạ những con người anh hùng, bấtkhuất của dân tộc ta mà ông còn cụ thể và chi tiết hơn khi phân tích từng hình tượng

anh hùng với từng nhiệm vụ khác nhau Những anh bộ đội không quân “lao thẳng

về phía giặc” với một trái tim dũng cảm và một niềm tin quyết thắng.

“Ôi những cánh thiên thần Hiền lành và dũng cảm Đảng gọi: ta bay lên

Ngày đăng: 29/05/2016, 21:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2004), 150 Thuật ngữ Văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 Thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
2. Ngô Văn Ban (2010), Định danh Khánh Hoà xưa và nay, lược khảo và tra cứu một số địa danh, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định danh Khánh Hoà xưa và nay, lược khảo và tra cứu mộtsố địa danh
Tác giả: Ngô Văn Ban
Nhà XB: NXB Văn hoá - Thông tin
Năm: 2010
3. Ngô Thị Hoà Bình (2015), Khuynh hướng tự do hoá hình thức thơ thời kỳ 1954 - 1965 [Internet], [28/4/2016] Lấy từ: URL: http://spnttw.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuynh hướng tự do hoá hình thức thơ thời kỳ 1954 -1965
Tác giả: Ngô Thị Hoà Bình
Năm: 2015
4. Phạm Quốc Ca (2015), Bàn thêm về tứ thơ [Internet], [06/3/2016] Lấy từ: URL:http://vanhien.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về tứ thơ
Tác giả: Phạm Quốc Ca
Năm: 2015
5. Phạm Quốc Ca (2015), Đặc điểm giọng điệu thơ Việt Nam sau 1975 [Internet], [16/4/2016] Lấy từ: URL: http://vanhien.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm giọng điệu thơ Việt Nam sau 1975
Tác giả: Phạm Quốc Ca
Năm: 2015
6. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1981
7. Nguyễn Kim Châu (2015), Bài giảng môn học Các thể thơ Việt Nam, Trường Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng môn học Các thể thơ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Kim Châu
Năm: 2015
8. Trúc Chi (1999), 30 năm một nền thơ cách mạng (chuyên luận văn học), NXB Thanh niên, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: 30 năm một nền thơ cách mạng (chuyên luận văn học)
Tác giả: Trúc Chi
Nhà XB: NXBThanh niên
Năm: 1999
9. Lê Tiến Dũng (2008) Thơ tự do, khuynh hướng chủ yếu trong thơ Việt Nam đương đại [Internet], [28/4/2016] Lấy từ: URL: http://talawas.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ tự do, khuynh hướng chủ yếu trong thơ Việt Nam đươngđại
11. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
12. Nguyễn Lâm Điền (2010), Đặc trưng nghệ thuật thơ Chế Lan Viên, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng nghệ thuật thơ Chế Lan Viên
Tác giả: Nguyễn Lâm Điền
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2010
13. Nguyễn Lâm Điền (2012), Giáo trình Văn học Việt Nam 1945 – 1975, NXB Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Văn học Việt Nam 1945 – 1975
Tác giả: Nguyễn Lâm Điền
Nhà XB: NXB Đạihọc Cần Thơ
Năm: 2012
14. Nguyễn Lâm Điền (2015), Đề cương bài giảng Phương pháp nghiên cứu Văn học, Trường Đại học Tây Đô, Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương bài giảng Phương pháp nghiên cứu Văn học
Tác giả: Nguyễn Lâm Điền
Năm: 2015
15. Nguyễn Lâm Điền (chủ biên) (2015), Giáo trình Văn học Việt Nam 1975 – 2000, NXB Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Văn học Việt Nam 1975 – 2000
Tác giả: Nguyễn Lâm Điền (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Cần Thơ
Năm: 2015
16. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2002
17. Giang Đình, Bích Thuận (2014), Nhà thơ Giang Nam: Bác là tất cả [Internet], [31/02/2016] Lấy từ: URL: http://baokhanhhoa.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thơ Giang Nam: Bác là tất cả
Tác giả: Giang Đình, Bích Thuận
Năm: 2014
18. Hà Minh Đức (1998) Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Nhà XB: NXB Giáodục
19. Bảo Định Giang (1976), Từ trong máu lửa (Tiểu luận – Phê bình – Giới thiệu), NXB Văn học giải phóng, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ trong máu lửa (Tiểu luận – Phê bình – Giới thiệu)
Tác giả: Bảo Định Giang
Nhà XB: NXB Văn học giải phóng
Năm: 1976
20. Nguyễn Thiện Giáp (1985) Từ vựng học tiếng Việt, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Nhà XB: NXB Đại học và Trung họcchuyên nghiệp
10. Lê Đức Dương (2015), Nhà thơ Giang Nam và 70 mùa thu quê hương [Internet], [22/02/2016] Lấy từ: URL:http://m.baokhanhhoa.com.vn Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh quê hương là một đề tài nổi trội và xuyên suốt trong thơ Giang Nam. - Đề tài Hình ảnh quê hương trong thơ Giang Nam
nh ảnh quê hương là một đề tài nổi trội và xuyên suốt trong thơ Giang Nam (Trang 51)
Hình ảnh so sánh trong thơ Giang Nam xuất hiện và phân bố không đều. - Đề tài Hình ảnh quê hương trong thơ Giang Nam
nh ảnh so sánh trong thơ Giang Nam xuất hiện và phân bố không đều (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w