1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lý luận giá trị lao động và thực tiễn phát triển kinh tế thị trường ở việt nam

16 1,9K 15

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 43,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, để tìm hiểu về thực tiễn phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam, ta cần có hiểu biết sâu hơn về “Học thuyết giá trị lao động” của C.Mac thể hiện được bản chất và nguồn gốc của

Trang 1

MỤC LỤC Trang

A MỞ ĐẦU 2

B.NỘI DUNG 3

I LÝ LUẬN GIÁ TRỊ LAO ĐỘNG 3

1 Lịch sử ra đời học thuyết kinh tế cổ điển 3

2 Thuyết giá trị lao động của C.Mac 4

II THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA 9 1 Một số nét nổi bật của nền kinh tế nước ta trước khi chuyển sang nền kinh tế thị trường 9

2 Nền kinh tế nước ta dưới sự quản lý của nhà nước Việt Nam 10

C.KẾT LUẬN 16

TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 2

MỞ ĐẦU

“Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin” là một lý thuyết khoa học cách mạng quan trong quá trình xây dựng và phát triển của các nước

xã hội chủ nghĩa trên thế giới.Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng và Bác đã vận dụng và phát triển sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin để giải quyết thành công những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Đến nay, những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn là nền tảng, là kim chỉ nam cho hành động của Đảng và Chính phủ trong sự nghệp xây dựng và bảo vệ đất nước

Theo lý thuyết Mác – Lênin, sản xuất của cải, vật chất là nền tảng của đời sống xã hội Vì thế nền kinh tế có vai trò rất quan trọng đối với một quốc gia bởi kinh tế là kết quả của quá trình lao động sản xuất của cải, vật chất Không nằm ngoài quy luật khách quan ấy, nền kinh tế cũng là điều kiện để nước ta tồn tại và phát triển Trải qua bao khó khăn thử thách, nhà nước và nhân dân ta đã và đang xây dựng được nền kinh tế ổn định và trên đà phát triển Đó là quá trình chuyển mình quan trọng và tất yếu từ nền kinh tế hàng hóa sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế thị trường thực chất là sự phát triển cao hơn của nền kinh tế hàng hóa Do vậy, để tìm hiểu về thực tiễn phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam, ta cần có hiểu biết sâu hơn về “Học thuyết giá trị lao động” của C.Mac thể hiện được bản chất và nguồn gốc của kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trường Chính vì lý do đó mà em đã chọn đề tài trên cho

bài tiểu luận này: “Lý luận giá trị lao động và thực tiễn phát triển kinh tế thị

trường ở Việt Nam”.

Trang 3

B.NỘI DUNG

I LÝ LUẬN GIÁ TRỊ LAO ĐỘNG

1 Lịch sử ra đời học thuyết kinh tế cổ điển

Vào cuối thế kỷ XVIII, ở nước Anh và Pháp học thuyết kinh tế

cổ điển xuất hiện Vào thời kỳ này, sau khi tích luỹ được khối lượng tiền tệ lớn, giai cấp tư sản tập trung phát triển lĩnh vực sản xuất Vì vậy, các công trường thủ công trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp và nông nghiệp phát triển mạnh mẽ, diễn ra việc tước đoạt ruộng đất của nông dân, hình thành giai cấp vô sản và chủ chiếm hữu ruộng đất Sự tồn tại của chế độ phong kiến không chỉ kìm hãm sự phát triển của chủ nghĩa tư bản mà còn làm sâu sắc hơn mâu thuẫn trong giai cấp qúy tộc Giai cấp này cũng dần bị tư sản hoá Nếu trong thời kỳ chủ nghĩa trọng thương sự hoạt động của tư bản chủ yếu là trong lĩnh vực lưu thông thì do kết quả sự phát triển của công trường thủ công, tư bản đã chuyển sang lĩnh vực sản xuất Nhiều vấn đề kinh tế của sản xuất được đặt ra vượt quá khả năng giải thích của học thuyết kinh tế của chủ nghĩa trọng thương Điều đó đòi hỏi phải có học thuyết kinh tế mới soi đường Học thuyết kinh tế cổ điển xuất hiện

Học thuyết kinh tế cổ điển là xu hướng của tư tưởng kinh tế tư sản phát sinh trong thời kỳ hình thành phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Các nhà kinh tế học của trường phái này lần đầu tiên chuyển đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất, nghiên cứu các vấn đề kinh tế của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa đặt ra Lần đầu tiên họ xây dựng một hệ thống các phạm trù và các quy luật của nền kinh tế thị trường như phạm trù giá trị, giá cả, lợi nhuận, tiền lương, địa tô, các quy luật giá trị cung cầu, lưu thông tiền tệ Lần đầu tiên họ áp dụng phương pháp trừu tượng hoá nghiên cứu mối liên hệ nhân quả để vạch ra bản chất và các quy luật vận động của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Họ ủng hộ tư tưởng tự do kinh tế, chống lại sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế Tuy vậy những kết luận của họ còn mang tính lịch sử, lẫn lộn giữa yếu tố khoa học và yếu tố tầm thường

Trang 4

Học thuyết kinh tế cho rằng giá trị hàng hoá là do lao động sản xuất ra

hàng hoá quyết định Người đặt nền móng đầu tiên cho học thuyết này là Petty

(W Petty) và Boaghinbe (P Boisguilbert), rồi đến Xmit (A Smith) và Ricacđô (V Ricardo), là những người đóng góp lớn vào học thuyết giá trị lao động Tuy vậy, phải qua nhiều thế kỉ trao đổi hàng hoá, con người mới dần dần hiểu ra được thực thể của giá trị và nhận thức được quy luật giá trị Phải chờ đến Mac thì thuyết giá trị lao động mới phát triển đầy đủ Nhờ phát hiện được tính hai mặt của lao động mới khẳng định được lao động nào tạo ra giá trị hàng hoá, Mac đã phân tích nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, khám phá ra giá trị sức lao động được xem là hàng hoá, quy luật giá trị thặng dư và hệ thống các quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản, qua

đó làm cho nhận thức về quy luật giá trị được đầy đủ hơn

2 Thuyết giá trị lao động của C.Mac

*Hàng hóa và lao động sản xuất hàng hóa

- Hai thuộc tính của hàng hóa

Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nhất định nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán Trong mỗi hình thái kinh tế -

xã hội khác nhau, sản xuất hàng hóa có bản chất khác nhau, nhưng một vật phẩm sản xuất ra thì đều có hai thuộc tính cơ bản là:

+ Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của vật phẩm có thể thỏa mãn

nhu cầu nào đó của con người (ví dụ : gạo để ăn, vải để mặc, xe đạp để đi,……) Giá trị sử dụng của hàng hóa do thuộc tính tự nhiên của hàng hóa quy định, nó là nội dung vật chất của của cải Giá trị sử dụng của hàng hóa không phải cho bản thân người sản xuất hàng hóa, mà là cho người khác, cho xã hội thông qua trao đổi, mua bán Trong kinh tế hàng hóa, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi

+ Giá trị hàng hóa: muốn hiểu giá trị hàng hóa phải đi từ giá trị trao đổi Giá

trị trao đổi là quan hệ tỉ lệ về số lượng trao đổi giữa các giá trị trao đổi khác nhau Hai sản phẩm có giá trị sử dụng khác nhau có thể trao đổi được với nhau theo một tỉ lệ nhất định, vì chúng đều là sản phẩm lao động, đều có cơ sở chung

là đều có hao phí sức lao động của con người

Lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa ẩn giấu trong hàng hóa chính là

Trang 5

cơ sở để trao đổi Vậy, giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa Giá trị là cơ sở của giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi là

hình thức biểu hiện của giá trị Giá trị là một phạm trù lịch sử, gắn liền với nền

sản xuất hàng hóa Giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hóa Giá trị hàng hóa biểu hiện mối quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa

Hàng hóa là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị, nhưng đây là sự thống nhất của hai mặt đối lập

- Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa

+Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những

nghề nghiệp chuyên môn nhất định Mỗi một lao động cụ thể có mục đích,

phương pháp, công cụ lao động, đối tượng lao động và kết quả lao động riêng Chính những cái riêng đó phân biệt các loại lao động cụ thể khác nhau.Ví dụ: lao động của người thợ may và lao động của người thợ mộc là hai loại lao động cụ thể khác nhau Lao động của người thợ may có mục đích là làm ra quần áo chứ không phải là bàn ghế, còn phương pháp là may chứ không phải là bào, cưa, có công cụ lao động là kim, chỉ, máy may chứ không phải là cái cưa, cái bào và lao động của người thợ may thì tạo ra quần áo để mặc, còn lao động của người thợ mộc thì tạo ra ghế để ngồi và tương tự như thế là thợ hồ và thợ máy Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa

Trong xã hội có nhiều loại hàng hóa với những giá trị sử dụng khác nhau là do có nhiều loại lao động cụ thể khác nhau Nếu phân công lao động xã hội càng phát triển thì càng có nhiều giá trị sử dụng khác nhau để đáp ứng nhu cầu của xã hội

+ Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa khi đã gạt

bỏ những hình thức cụ thể của nó, hay nói cách khác, đó chính là sự tiêu hao sức lao động (tiêu hao sức bắp thịt, thần kinh) của người sản xuất hàng hóa nói chung Chính lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa mới tạo ra giá trị của hàng hóa Như vậy, có thể nói, giá trị của hàng hóa là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Đó cũng chính là mặt chất của giá trị hàng hóa Lao động trừu tượng mang phạm trù lịch sử

Trang 6

Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa phản ảnh tính chất tư

nhân và tính chất xã hội của lao động của người sản xuất hàng hóa Mỗi người sản xuất hàng hoá sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào là việc riêng của bọn họ

Vì vậy, lao động đó mang tính chất tư nhân, và lao động cụ thể của họ là biểu hiện của lao động tư nhân Đồng thời, lao động của người sản xuất hàng hóa là lao động xã hội vì nó là một bộ phận của toàn bộ lao động xã hội trong hệ thống phân công lao động xã hội Phân công lao động xã hội tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất hàng hóa Họ làm việc cho nhau, thông qua trao đổi hàng hóa Việc trao đổi hàng hóa không thể căn cứ vào lao động cụ thể mà phải quy lao động cụ thể về lao động chung đồng nhất - lao động trừu tượng Do

đó, lao động trừu tượng là biểu hiện của lao động xã hội

Giữa lao động tư nhân và lao động xã hội có mâu thuẫn với nhau Mâu thuẫn

đó được biểu hiện: sản phẩm do người sản xuất hàng hóa nhỏ tạo ra có thể không

ăn khớp với nhu cầu của xã hội Mức tiêu hao lao động cá biệt của người sản xuất hàng hóa cao hơn so với mức tiêu hao mà xã hội có thể chấp nhận Mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội là mầm mống của mọi mâu thuẫn trong nền sản xuất hàng hoá Chính vì những mâu thuẫn đó mà sản xuất hàng hoá vừa vận động phát triển, vừa tiềm ẩn khả năng khủng hoảng

- Lượng giá trị của hàng hóa

Thước đo lượng giá trị của được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết Là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa trong điều kiện bình thường của

xã hội, tức là với một trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ khéo léo trung bình

và cường độ lao động trung bình so với hoàn cảnh xã hội nhất định

Do thời gian lao động xã hội cần thiết luôn thay đổi nên lượng giá trị của hàng hóa cũng là một đại lượng không cố định Sự thay đổi này phụ thuộc vào năng suất lao động và mức đọ phức tạp hay đơn giản của lao động Lương giá trị của hàng hóa thay đổi theo năng suất lao động: quan hệ tỉ lệ nghịch Lao động giản đơn là sự hao phí sức lao động mà bất kỳ một người bình thường có khả năng lao động cũng có thể thực hiện được Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải

Trang 7

được đào tạo, huấn luyện Như vậy, lượng giá trị của hàng hóa được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết, giản đơn trung bình

- Cấu thành lượng giá trị hàng hóa

Theo W.Petty thì lượng giá trị hàng hóa = v

Theo A.Smith thì lượng giá trị hàng hóa = v+m

Theo D.Ricardo thì lượng giá trị hàng hóa = c1+v+m

Theo Mac để sản xuất ra hàng hóa cần phải chi phí lao động gồm lao động quá khứ tồn tại trong các yếu tố tư liệu sản xuất như máy móc, công cụ, nguyên vật liệu và lao động sống Vì vậy, lượng giá trị hàng hóa được cấu thành bởi cả giá trị của những tư liệu sản xuất đã sử dụng, tức là giá trị cũ (ký hiệu là c) và hao phí lao động sống của người sản xuất trong qua trình tạo ra sản phẩm, tức là giá trị mới (ký hiệu là v+m) Giá trị hàng hóa = giá trị cũ tái hiện + giá trị mới Ký hiệu là W = c+v+m

- Sự phát triển của hình thái giá trị

+ Hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên của giá trị: Hình thái này xuất hiện

khi công xã nguyên thủy tan rã, xuất hiện trong giai đoạn đầu của trao đổi hàng hóa, trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên, trao đổi trực tiếp vật này lấy vật khác theo thỏa thuận Hàng hóa mà giá trị của nó được biểu hiện ở một hàng hóa khác gọi là giá trị tương đối Hàng hóa mà giá trị của nó dùng để biểu hiện giá trị của một hàng hóa khác được gọi là vật ngang giá Trong hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên tỷ lệ trao đổi chưa cố định

+ Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng: Khilao động sản xuất, năng suất lao

động phát triển hơn, trao đổi diễn ra thường xuyên hơn thì giá trị có hình thái tiến

bộ hay mở rộng.Ví dụ: 1m vải = 10kg thóc, 1 con gà hay 0.1 chỉ vàng Ở đây, giá trị của một hàng hóa được biểu hiện ở giá trị sử dụng của nhiều hàng hóa khác

Trang 8

nhau có tác dụng làm vật ngang giá Hình thái biểu hiện giá trị của một hàng hóa

đã được mở rộng, tuy nhiên vẫn trao đổi trực tiếp, chưa có tỷ lệ nhất định

+ Hình thái giá trị chung: sự phát triển không ngừng của lao động sản xuất

và phân công lao động xã hội cùng với sự ra đời của tiểu thủ công nghiệp, hàng hóa được đưa ra trao đổi thường xuyên, đa dạng và ngày càng nhiều hơn Nhu cầu trao đổi phức tạp hơn, thị trường được mở rộng đòi hỏi phải có một vật trung gian mà vật trung gian đó phải được cố định lại ở một thứ hàng hóa được nhiều người ưa chuộng Ví dụ: 10kg thóc, 2 con gà, 0.1 chỉ vàng = 1m vải Ở đây tất cả các hàng hóa đều được biểu hiện giá trị của mình ở một thứ hàng hóa đóng vai trò là vật ngang giá chung Tuy nhiên, vật ngang giá chưa ổn định ở thứ hàng hóa nào Mỗi địa phương có một hàng hóa làm vật ngang giá chung khác nhau

+ Hình thái tiền tệ: lao động sản xuất phát triển, năng suất lao động nâng cao

nên yêu cầu có một hàng hóa đóng vai trò làm vật ngang giá chung thống nhất để đáp ứng được sự phát triển của xã hội và lưu thông hàng hóa Khi vật ngang giá chung được cố định tại một hàng hóa độc tôn và phổ biến thì hình thái tiền tệ của giá trị xuất hiện, tiền tệ ra đời

3 Biểu hiện của giá trị lao động trong nền kinh tế thị trường

Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ngày nay (cũng như hầu hết các nền kinh tế hiện đại ngày nay) là một nền kinh tế chịu sự chi phối của cả bàn tay vô hình và bàn tay hữu hình tức là có sự phối hợp điều tiết giữa cơ chế thị trường và các kế hoạch của chính phủ để nền kinh tế vận hành một cách có hiệu quả nhất Cơ chế thị trường là cơ chế vận động mà hệ thống quy luật trung tâm là giá trị Các quy luật khác nhau như quy luật cung cầu, quy luật giá cả, cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ chỉ là những biểu hiện của giá trị Giá trị còn là cơ sở để chính phủ điều tiết nền kinh tế thông qua thuế, chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ… Tất cả những công cụ, phương tiện quy luật trên chính là cách thức biểu hiện của hoạt động và vận dụng giá trị trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 9

II THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA

1 Một số nột nổi bật của nền kinh tế nước ta trước khi chuyển sang nền kinh tế thị trường

Mỹ nền kinh tế của nước ta đã bị tàn phá nặng nề về cơ sở hạ tầng Kinh tế của

đất nớc chủ yếu dựa vào nông nghiệp nhng nông nghiệp lại nghèo nàn lạc hậu Bên cạnh đú các nghành nghề hoạt động yếu kém, thiếu thốn về cơ sở vật chất,về nền tảng khoa học do đó không thể làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế Thêm nữa cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp mà đất nớc ta còn mất đi sự viện trợ của Liên Xô và các nớc XHCN cũ, cấm vận kinh tế, đặc biệt là lệnh cấm vận kinh tế của Mĩ Chính vì vậy, giai đoạn 1975-1985 nền kinh tế của nớc ta chậm phát triển Những mâu thẫu nội tại từ nền kinh tế nớc ta đòi hỏi phải đổi mới kinh

tế để thoát khỏi khủng hoảng và thúc đẩy các yếu tố hàng hoá phát triển

Tháng 2 năm 1986 Đại hội toàn quốc lần thứ VI, Đảng cộng sản Việt Nam

đã tự phê phán nghiêm túc và đề ra đổi mới toàn diện xã hội Sau Đại hội lần thứ

VI của Đảng, nước ta thực hiện chớnh sỏch đổi mới, chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch húa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xó hội chủ nghĩa, cú sự quản lý của Nhà nước

2 Nền kinh tế nước ta dưới sự quản lý của nhà nước Việt Nam

* Những mục tiêu, thành tựu -hạn chế và biện pháp khắc phục

Nhờ chuyển sang nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa dới sự lãnh đạo của Đảng trong hơn 10 năm thực hiện đổi mới nền kinh tế nớc ta

đã đạt đợc những thành tựu to lớn trong tất cả các nghành, các thành phần kinh tế

Về nông nghiệp: Từ một nền nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu hiện nay nông nghiệp nớc ta có nhiều đổi mới Sự nghiệp công nghiệp hoá -hiện đại hoá đa máy móc vào sản xuất nông nghiệp đã giải phóng dần dần sức lao động của ngời dân.Việc áp dụng khoa học kỹ thuật, đa phân bón, thuốc trừ sâu, các giống lúa mới, kỹ thuật canh tác mới vào sản xuất đã nâng cao năng suất lao động Sản lợng nông nghiệp không những đáp ứng nhu cầu của ngời dân mà còn d thừa để xuất khẩu Thành tựu to lớn đó phải kể đến là nớc ta đứng thứ 3 trên thế giới về xuất khẩu gạo

Trang 10

Về công nghiệp: Từ một nền công nghiệp nhỏ bé, hiện nay công nghiệp

đã đóng vai trò to lớn trong nền kinh tế của đất nớc Nhiều nhà máy lớn với thiết

bị máy móc hiện đại đợc xây dựng và phát triển mạnh Nếu nh trớc đây chỉ có nghành công nghiệp khai khoáng, đóng tàu, dệt may thì nay đã phát triển thêm các nghành công nghiệp mới nh các nghành: chế tạo máy, chế biến thực phẩm, công nghiệp chế biến hàng tiêu dùng, công nghiệp điện tử đặc biệt là nhà máy chế biến dầu thô ở Dung Quất - Quảng Ngãi, đây là nhà máy lọc dầu vào loại lớn nhất ở khu vực Đông Nam Á

Ngành du lịch và dịch vụ trong những năm gần đây phỏt triển đem lại thu nhập lớn cho nền kinh tế nớc ta Các khu du lịch nổi tiếng, di tích lịch sử đợc bảo tồn tôn tạo hàng năm thu hút lợng du khách rất lớn cả trong nớc và trên quốc tế Ngành giao thông vận tải đáp ứng khá đầy đủ nhu cầu của nền kinh tế Hệ thống cầu đờng đợc nâng cấp và sửa chữa nhiều Xây dựng nhiều tuyến đờng và cầu phà, đảm bảo lu thông đợc nhanh chóng, phù hợp với tốc độ vận động của kinh tế thị trờng, không những phát triển giao thông đờng bộ mà cả giao thông đ-ờng thuỷ, đđ-ờng hàng không cũng phát triển đáng kể

Trong thơng nghiệp: những năm gần đây còn mở rộng các quan hệ kinh tế

Đặc biệt là các nớc trong khu vực Đông Nam Á Luật đầu t nớc ngoài với những

điểm tạo điều kiện cho phía đầu t đã ngày càng thu đợc những hợp đồng kinh tế quan trọng Thật đáng mừng với con số 1644 dự án đầu t đợc cấp giấy phép với tổng số vốn là 21,8 tỷ USD tính từ năm 1996-1998

Ta đã biết, công bằng xã hội là một đặc trng cơ bản của xã hội mới, là ớc mơ khát vọng của nhân dân, là động lực thúc đẩy mọi ngời vơn lên trong cuộc sống Muốn nh vậy, các nhà lãnh đạo của nớc ta phải luôn vạch ra đờng lối chỉ

đạo cho các hoạt động diễn ra theo đúng quy luật Một số giải pháp mà nhà nớc ta

đã thực hiện là: bên cạnh việc phát triển kinh tế thị trường là chính sách đẩy mạnh khoa học kỹ thuật, khuyến khích tài năng sáng chế, phát minh bảo vệ môi trờng, chống buôn lậu và làm hàng giả Xây dựng hệ thống pháp luật đảm bảo quyền bình đẳng cho các doanh nghiệp, mà pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thợng tầng, pháp luật nói chung và pháp luật hành chính nói riêng có mối quan hệ biện chứng với kinh tế Đồng thời , nền kinh tế thị trờng đã quyết định sự hiện diện của pháp luật hành chính với những quy định mới, quyết định toàn bộ nội dung và tính chất cũng nh cơ chế điều chỉnh của pháp luật hành chính đã tạo

ra hành lang pháp lý mới đảm bảo tính quyền lực nhà nớc đồng thời đảm bảo nguyên tắc tự do, dân chủ Vai trò của pháp luật hành chính đối với nền kinh tế thị trờng thể hiện ở các mặt sau: về cơ cấu sở hữu;cơ chế kinh tế; về xác định địa

vị pháp lý hành chính của cơ quan nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng; về cơ chế

Ngày đăng: 29/05/2016, 19:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w