1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa bc15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại ý yên nam định

125 790 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 9,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM LÊ THỊ NGUYỆT ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA BC15 TRÊN HAI MỨC BÓN ĐẠM KHÁC NHAU TẠI Ý YÊN - NAM ĐỊNH LUẬN VĂN TH

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

LÊ THỊ NGUYỆT

ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ ĐẾN SINH TRƯỞNG

VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA BC15 TRÊN HAI MỨC BÓN ĐẠM KHÁC NHAU TẠI Ý YÊN - NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

LÊ THỊ NGUYỆT

ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA BC15 TRÊN HAI MỨC BÓN

ĐẠM KHÁC NHAU TẠI Ý YÊN - NAM ĐỊNH

Chuyên ngành: Khoa học cây trồng

Mã số: 60.62.01.10

Người hướng dẫn khoa học

TS Tăng Thị Hạnh

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ một công trình khoa học nào khác Các thông tin trích dẫn

sử dụng trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Lê Thị Nguyệt

Trang 4

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới tất cả những bạn bè, đồng nghiệp, người thân và gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này

Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của đồng nghiệp và bạn đọc

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Học viên

Lê Thị Nguyệt

Trang 5

2.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và Việt Nam 3

2.1.4 Tình hình sản xuất và cơ cấu giống lúa ở huyện Ý Yên – Nam Định 6

2.2.3 Một số nghiên cứu về lượng đạm bón cho cây lúa trên thế giới và

2.3 Các kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng và

2.3.1 Đặc điểm hấp thu dinh dưỡng qua lá ở cây trồng 19 2.3.2 Các kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng và

Trang 6

3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22

3.4.3 Phương pháp xử lý phân bón lá và các biện pháp kỹ thuật áp dụng 24

4.1 Ảnh hưởng của phân bón lá đến khả năng sinh trưởng, phát triển của giống

lúa BC15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại Ý Yên – Nam Định 29 4.1.1 Ảnh hưởng của phân bón lá đến thời gian sinh trưởng của giống lúa

BC15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại Ý Yên – Nam Định 29 4.1.2 Ảnh hưởng của phân bón lá đến chiều cao cây của giống lúa BC15 trên

hai mức bón đạm khác nhau tại Ý Yên – Nam Định 30 4.1.3 Ảnh hưởng của phân bón lá đến khả năng đẻ nhánh của giống lúa BC15

trên hai mức bón đạm khác nhau tại Ý Yên – Nam Định 32 4.2 Ảnh hưởng của phân bón lá đến một số chỉ tiêu sinh lý của giống lúa

BC15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại Ý Yên – Nam Định 34 4.2.1 Ảnh hưởng của phân bón lá đến chỉ số diện tích lá (LAI) của giống lúa

BC15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại Ý Yên – Nam Định 34 4.2.2 Ảnh hưởng của phân bón lá đến khối lượng chất khô (DM) của giống lúa

BC15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại Ý Yên – Nam Định 38 4.2.3 Ảnh hưởng của phân bón lá đến tốc độ tích lũy chất khô (TĐTLCK) của

của giống lúa BC15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại Ý Yên – Nam

4.2.4 Ảnh hưởng của phân bón lá đến tình hình sâu bệnh hại của giống lúa

BC15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại Ý Yên – Nam Định 41 4.3 Ảnh hưởng của phân bón lá đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng

suất của giống lúa BC15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại Ý Yên –

4.4 Ảnh hưởng của phân bón lá đến hệ số kinh tế giống lúa BC15 trên hai

Trang 7

mức bón đạm khác nhau tại Ý Yên – Nam Định 49 4.5 Ảnh hưởng của phân bón lá đến chỉ tiêu chất lượng gạo giống lúa BC15

trên hai mức bón đạm khác nhau tại Ý Yên – Nam Định 50 4.6 Hiệu quả kinh tế của các công thức phân bón lá đối với giống lúa BC15

Trang 8

FAO

KL

: Tổ chức lương thực thế giới : Khối lượng

LAI

LSD

: Chỉ số diện tích lá : Sai khác giữa các công thức

NSLT : Năng suất lý thuyết

NSTT : Năng suất thực thu

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới giai đoạn 2006 – 2013 4 Bảng 1.2 Tình hình sản xuất lúa tại Việt Nam giai đoạn 2006 - 2013 5 Bảng 1.3 Tình hình sản xuất lúa tại tỉnh Nam Định giai đoạn 2006 – 2013 5 Bảng 1.4 Tình hình sản xuất lúa tại huyện Ý Yên - Nam Định 8 Bảng 1.5 Cơ cấu giống lúa vụ Xuân, vụ Mùa năm 2012 của huyện Ý Yên –

Bảng 4.1 Ảnh hưởng của phân bón lá đến thời gian sinh trưởng của giống lúa

BC15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại Ý Yên – Nam Định 29 Bảng 4.2 Ảnh hưởng của phân bón lá đến chiều cao cây của giống lúa BC15

trên hai mức bón đạm khác nhau tại Ý Yên – Nam Định 31 Bảng 4.3 Ảnh hưởng của phân bón lá đến khả năng đẻ nhánh của giống lúa BC15

trên hai mức bón đạm khác nhau tại Ý Yên – Nam Định 33 Bảng 4.4a Ảnh hưởng của phân bón lá đến chỉ số diện tích lá (LAI) của giống

BC15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại Ý Yên – Nam Định 35 Bảng 4.4b Ảnh hưởng của phân bón lá đến chỉ số diện tích lá (LAI) của giống

Bảng 4.5a Ảnh hưởng của phân bón lá đến khối lượng chất khô tích lũy của

giống lúa BC15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại Ý Yên – Nam

Bảng 4.5b Ảnh hưởng của phân bón lá đến khối lượng chất khô tích lũy của

Bảng 4.6a Ảnh hưởng của phân bón lá đến tốc độ tích lũy chất khô của giống lúa

BC15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại Ý Yên – Nam Định 40 Bảng 4.6b Ảnh hưởng của phân bón lá đến tốc độ tích lũy chất khô của giống

Trang 10

Bảng 4.7 Ảnh hưởng của phân bón lá đến tình hình sâu bệnh hại của giống lúa

BC15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại Ý Yên – Nam Định 42 Bảng 4.8a Ảnh hưởng của phân bón lá đến các yếu tố cấu thành năng suất và

năng suất giống lúa BC15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại Ý

Bảng 4.8b Ảnh hưởng của phân bón lá đến các yếu tố cấu thành năng suất và

năng suất giống lúa BC15 tại Ý Yên – Nam Định 45 Bảng 4.9 Ảnh hưởng của phân bón lá đến hệ số kinh tế giống lúa BC15 trên

hai mức bón đạm khác nhau tại Ý Yên – Nam Định 50 Bảng 4.10 Ảnh hưởng của phân bón lá đến chỉ tiêu chất lượng gạo giống lúa BC15

trên hai mức bón đạm khác nhau tại Ý Yên – Nam Định 51 Bảng 4.11 Hiệu quả kinh tế của phân bón lá đến giống lúa BC15 trên hai mức

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang 12

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Cây lúa (Oryza sativa L.) là 1 trong 3 loại cây lương thực chủ yếu của loài

người Hàng ngày lúa gạo cung cấp khoảng 23% năng lượng cho con người, trong đó có 90% gluxit, 1 - 3% lipit, 7 - 10% protein, các vitamin A, E, D, đặc biệt là vitamin nhóm B như B1, B2, B6 Không những mang lại giá trị dinh dưỡng cao, lúa gạo còn là nguyên liệu cho ngành chăn nuôi, công nghiệp chế biến để tạo ra nhiều sản phẩm khác nhau Đối với một số nước như Việt Nam, Thái Lan thì lúa gạo còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao góp phần vào việc tăng thu ngoại tệ cho quốc gia

Việt Nam là một trong 20 quốc gia sử dụng phân bón cao nhất thế giới (Vũ Hữu Yêm, 2004) Trong khi nhiều nước phát triển đang có xu hướng giảm

sử dụng phân bón thì các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam lại có chiều hướng sử dụng tăng mạnh Lượng phân bón sử dụng tăng trung bình 9% mỗi năm trong 15 năm qua và trong thời gian tới có xu hướng tăng khoảng 10% mỗi năm) Và phân đa lượng (đạm, lân, kali) vẫn đang được sử dụng rất phổ biến, đồng thời lượng phân đạm được bón quá nhiều cho lúa Bên cạnh đó hệ số sử dụng phân đạm thấp (30 – 40%) gây lãng phí và ô nhiễm môi trường do lượng dư thừa mà cây không sử dụng hết Vì vậy, bón phân đạm cho lúa để vừa đạt được năng suất cao vừa giữ được cân bằng dinh dưỡng trong đất, tránh lãng phí và bảo vệ môi trường là

rất cần thiết (Bertrand et al, 2001)

Hiện nay các hình thức bón phân cho lúa ngày càng đa dạng thông qua các dạng hấp thụ dinh dưỡng của cây như qua rễ, qua lá, qua các bộ phận khác trên cây

Sự kết hợp hợp lý giữa các cách thức bón sẽ mang lại hiệu quả tốt nhất đối với cây trồng và môi trường sống Phân bón lá là hỗn hợp của một số phân đa lượng, vi lượng và một số chất điều hoà sinh trưởng (Lê Văn Tri, 2001) Dùng phân bón lá có nhiều ưu điểm: Chất dinh dưỡng được cung cấp cho cây nhanh hơn bón vào đất, hiệu suất sử dụng dinh dưỡng cao hơn, chi phí thấp hơn, ít ảnh hưởng đến môi trường và đất trồng (Nguyễn Huy Phiêu và cs, 1994) Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng bón phân qua lá có tác dụng bổ sung dinh dưỡng hiệu quả, kịp thời cho cây đặc biệt vào các giai đoạn khủng hoảng về dinh dưỡng Hiệu quả sử

Trang 13

dụng của phân bón lá phụ thuộc vào loại cây, từng giai đoạn sinh trưởng phát triển, điều kiện sinh thái…

BC15 là giống lúa hiện đang được trồng phổ biến tại Ý Yên, với năng suất đạt 47,4 – 48,4 tạ/ha (năm 2012) ở mức bón đạm 90 kg/ha Việc sử dụng nhiều phân đạm không những không làm tăng năng suất lúa mà còn làm tăng tỷ lệ sâu bệnh hại trên đồng ruộng, dư lượng phân hóa học làm tăng tình trạng ô nhiễm môi trường

Vì vậy để nâng cao hiệu quả kinh tế cần cung cấp phân bón hợp lý, sử dụng phân bón lá kết hợp bón phân hoá học ở mức thấp, đảm bảo cung cấp đầy

đủ các chất dinh dưỡng cho cây Do đó việc kết hợp bón phân qua rễ và qua lá cho cây lúa để tăng năng suất và chất lượng đồng thời giảm lượng phân bón qua

rễ là điều cần thiết

Xuất phát từ thực tế đó tôi tiến hành đề tài: “Ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa BC15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại Ý Yên - Nam Định”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Lựa chọn được loại phân bón lá và mức phân đạm phù hợp nhằm xây dựng quy trình canh tác lúa đem lại hiệu quả kinh tế cao

1.3 YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI

- Xác định ảnh hưởng của phân bón lá đến các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển

và năng suất của giống lúa BC15 trên hai mức bón đạm khác nhau

- Đánh giá ảnh hưởng của phân bón lá đến các mức độ nhiễm sâu bệnh hại của giống lúa BC15 trên hai mức bón đạm khác nhau

- Đánh giá hiệu quả kinh tế của phân bón lá đến giống lúa BC15 trên hai mức bón đạm khác nhau

Trang 14

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA GẠO TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2.1.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới

Hiện nay có trên 100 nước trồng lúa ở hầu hết các châu lục trên thế giới Tuy nhiên, sản lượng gạo vẫn tập trung chủ yếu ở các nước châu Á (nơi chiếm tới 90% diện tích gieo trồng và sản lượng)

Trong từng châu diện tích, năng suất của các vùng khác nhau không giống nhau Tại châu Á lúa được trồng ở 26 nước trong số 45 quốc gia của châu lục Ở châu Mỹ lúa trồng ở 28 trong số 41 quốc gia Ở châu Âu lúa được trồng 11 trong số 28 nước còn ở châu Úc và châu Đại dương 5 trong số 11 quốc gia có trồng lúa Châu Á sản xuất khoảng 92% tổng sản lượng lúa gạo thế giới, châu

Mỹ (4,7%), châu Phi (2,7%), châu Úc và châu Đại dương sản xuất khoảng 0,2% tổng sản lượng lúa gạo của thế giới Mười nước châu Á: Bangledet, Myanma, Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, CHDCND Triều Tiên, Thái Lan, Philippin và Nhật Bản sản xuất khoảng 90% sản lượng lúa gạo của châu Á và khoảng 88,6% sản lượng gạo của thế giới Riêng hai nước Ấn Độ và Trung Quốc sản xuất 67% tổng sản lượng lúa gạo của châu Á và khoảng 57% tổng sản lượng của thế giới Những nước dẫn đầu về năng suất lúa ở châu Á là CHDCND Triều Tiên: 75 tạ/ha, Hàn Quốc: 62 tạ/ha, Nhật Bản: 59 - 62 tạ/ha, Trung Quốc: 57 - 58 tạ/ha

Thống kê của tổ chức lương thực thế giới (FAO, 2014) cho thấy, diện tích trồng lúa trên thế giới đã gia tăng rõ rệt từ năm 2006 đến 2013 Trong vòng 19 (từ năm 1961 đến 1980), diện tích trồng lúa trên thế giới tăng bình quân 1,53 triệu ha/năm Từ năm 1980, diện tích lúa tăng chậm và đạt cao nhất vào năm

1999 (156,8 triệu ha) với tốc độ tăng trưởng bình quân 630.000 ha/năm Từ năm

2000 trở đi diện tích trồng lúa thế giới có nhiều biến động và có xu hướng giảm dần, đến năm 2006 còn ở mức 155,3 triệu ha, sau năm 2008 diện tích trồng lúa lại có xu hướng tăng và đều qua các năm

Dưới đây là bảng số liệu về diện tích, năng suất và sản lượng lúa toàn thế giới giai đoạn 2006 – 2013

Trang 15

Bảng 1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới giai đoạn 2006 – 2013

Theo dự báo của Ban nghiên cứu kinh tế Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, trong giai đoạn 2007 – 2017, các nước sản xuất gạo ở châu Á sẽ tiếp tục là nguồn xuất khẩu gạo chính của thế giới, bao gồm Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ Riêng xuất khẩu gạo của hai nước Thái Lan và Việt Nam sẽ chiếm khoảng nửa tổng lượng gạo xuất khẩu thế giới Một số nước khác cũng sẽ đóng góp giúp tăng sản lượng gạo thế giới như:

Ấn Độ, các tiểu vùng Sahara châu Phi, Bangladesh, Philippines, Brazil

2.1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam

Việt Nam là một trong những nước có điều kiện khí hậu nhiệt đới nên rất thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng, trong đó đặc biệt là cây lúa Từ lâu cây lúa đã trở thành cây lương thực chủ yếu và có ý nghĩa đáng kể trong nền kinh tế xã hội của đất nước Với địa bàn trải dài trên 15 vĩ độ Bắc bán cầu,

đã hình thành những vùng đồng bằng châu thổ trồng lúa phì nhiêu trong đó đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là 2 vựa lúa lớn nhất của nước ta, cung cấp nguồn lương thực chủ yếu nuôi sống cả mấy chục triệu con người

Hàng năm cây lúa cung cấp 85 - 87% tổng sản lượng lương thực trong nước, tuy rằng diện tích của Việt Nam chỉ đạt 33,1 triệu ha, đất sử dụng cho nông nghiệp là 7,4 triệu ha (chiếm 2% diện tích tự nhiên) - diện tích trồng lúa là 4,25 triệu ha, còn lại là cây trồng cạn và cây lương thực khác

Trang 16

Bảng 1.2 Tình hình sản xuất lúa tại Việt Nam giai đoạn 2006 - 2013

Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (triệu tấn)

Qua bảng 1.2 cho thấy, diện tích gieo cấy lúa nước ta thay đổi không đáng

kể, năm 2006 cả nước trồng được 7,30 triệu ha, năm 2009 là 7,40 triệu ha, đến năm 2013 là 7,90 triệu ha Theo dự báo, trong giai đoạn tới diện tích trồng lúa có

xu hướng giảm do tốc độ đô thị hóa ngày càng mạnh Để đảm bảo an ninh lương thực trong điều kiện diện tích có hạn, nước ta đã không ngừng đưa kỹ thuật tiến

bộ mới, đặc biệt là các giống lai nên năng suất tăng từ 48,90 tạ/ha năm 2006 lên 55,70 tạ/ha năm 2013

Do năng suất cao nên sản lượng lúa tăng một cách nhanh chóng từ 35,85 triệu tấn năm 2006, đến 44,04 triệu tấn năm 2013 Theo đánh giá của IRRI, Việt Nam là nước có tốc độ tăng trưởng về lúa nhanh nhất khu vực Châu Á Thái Bình Dương trong thập kỷ 90 tốc độ tăng sản lượng lúa gạo của Việt Nam tăng là 2,8% trong khi của thế giới tăng là 1,1% và khu vực là 1,0%

2.1.3 Tình hình sản xuất lúa tại tỉnh Nam Định

Bảng 1.3 Tình hình sản xuất lúa tại tỉnh Nam Định giai đoạn 2006 – 2013

Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)

Trang 17

Qua bảng số liệu 1.3 cho thấy, từ năm 2006 đến 2013 diện tích canh tác lúa tại tỉnh Nam Định giảm 2248 ha Nguyên nhân là do tỉnh dành một số quỹ đất nông nghiệp cho phát triển một số khu công nghiệp, công ty may và nút giao thông trọng điểm như: khu công nghiệp Hòa Xá, khu công nghiệp đúc đồng Ý Yên Mặt khác cũng do quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng có hiệu quả kinh

tế cao hơn như: Trồng đậu tương, khoai tây, khoai sọ, khoai lang, trồng rau, lạc, hoa màu .Tuy nhiên sang năm 2010 diện tích lúa lại tăng 91 ha so với năm

2009 Nguyên nhân là do một số cây trồng không có hiệu quả hoặc không có đầu

ra nên nông dân đã chuyển về canh tác lúa

Mặc dù diện tích lúa giảm nhưng năng suất và sản lượng lúa ở Nam Định đều tăng lên qua các năm Từ năm 2006 - 2013 năng suất tăng 49,16 tạ/ha đến 59,01 tạ/ha Sản lượng tăng từ 553625 tấn/ha lên 656512 tấn/ha Nguyên nhân do việc tăng cường du nhập một số giống lúa mới, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất

2.1.4 Tình hình sản xuất và cơ cấu giống lúa ở huyện Ý Yên – Nam Định

2.1.4.1 Điều kiện tự nhiên

Là một vùng đồng bằng chiêm trũng điển hình trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, huyện Ý Yên tỉnh Nam Định là vùng đất có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc khai thác, sử dụng để phát triển kinh tế, đặc biệt là trong ngành nông nghiệp

* Vị trí địa lý:

Huyện Ý Yên nằm ở phía Tây tỉnh Nam Định (thuộc khu vực Trung tâm của Đồng bằng Sông Hồng)

- Phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam

- Phía Nam, phía Tây giáp tỉnh Ninh Bình

- Phía Đông giáp huyện Nghĩa Hưng và huyện Vụ Bản (tỉnh Nam Định) Toàn huyện có 31 xã và 1 thị trấn, diện tích tự nhiên là 24129,74 ha, dân số

227200 người (2010)

* Địa hình:

Là vùng đất hình thành sớm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, Ý Yên nằm trong vùng đất trũng hơn cả, địa hình không đồng đều Địa hình Ý Yên chủ yếu là đồng bằng nhưng có vùng tương đối cao có vùng lại rất thấp và bị chia cắt nhiều bởi hệ thống kênh mương dày đặc Nhìn chung địa hình chính của vùng là địa hình đồng bằng độ dốc < 1% và có xen

Trang 18

kẽ đồi thấp với một số đặc điểm riêng

* Đất đai:

Huyện Ý Yên thuộc vùng đất phù sa cũ do hệ thống sông Hồng bồi đắp từ lâu, cho nên đất đai của huyện có thành phần cơ giới thịt trung bình pha cát rất thích hợp trồng các loài cây nông nghiệp và cây lâu năm

* Chế độ thuỷ văn:

Là một vùng có địa hình đồng bằng thấp trũng, trên địa bàn huyện Ý Yên

có một hệ thống sông ngòi tương đối dày, hướng dốc đặc trưng của lưu vực là hướng Bắc Nam Đặc biệt là có hai con sông lớn chảy qua phía Tây và phía Nam của huyện, đó là: sông Đào dài 10km và sông Đáy dài 30 km

* Khí hậu:

Huyện Ý Yên nằm trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ nên ở đây mang đầy

đủ đặc điểm khí hậu của vùng đồng bằng khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm với bốn mùa rõ rệt, có mùa đông lạnh khô do chịu tác động mạnh của gió mùa Đông Bắc

và có một số đặc điểm khí hậu chung của tỉnh Nam Định Nhiệt độ trung bình cả năm là 250 Lượng mưa trung bình lớn nhất cả tỉnh với lượng mưa bình quân cả năm là khoảng 1750mm Hướng gió chính là hướng Đông Nam và hướng Tây Bắc Chế độ bức xạ mặt trời của vùng tương đối ổn định qua các năm với tổng số giờ nắng cả năm là 1358 giờ Độ ẩm trung bình năm của huyện tương đối ổn định

và khá cao: 86%

* Các nguồn tài nguyên

+ Thảm thực vật: Cây trồng chủ yếu là cây lúa, ngoài ra cũng có một số loại cây hoa màu khác như ngô, khoai, đỗ và một số loại rau màu khác Các loài cây gỗ chủ yếu như bạch đàn, phi lao, xà cừ, phượng,… Cây ăn quả: nhãn, táo,

đu đủ, hồng xiêm, … Cây mọc tự nhiên ở dạng cây bụi

+ Động vật: Thành phần các loài động vật trong huyện nghèo nàn, chủ yếu là các loài gia cầm, gia súc như gà, lợn, trâu, bò

+ Tài nguyên khoáng sản: Có các loại khoáng sản khai thác đều có chất lượng khá tốt và chủ yếu tập chung ở các xã Yên Lợi, Yên Nhân, Yên Minh

2.1.4.2 Tình hình sản xuất lúa tại huyện Ý Yên - Nam Định

Qua bảng 1.4 cho thấy từ năm 2005 đến 2009 theo chủ trương của tỉnh về

sử dụng quỹ đất nông nghiệp cho phát triển công nghiệp, do đó diện tích đất nông

Trang 19

nghiệp tại huyện giảm 774 ha Mặt khác diện tích giảm là do nông dân của huyện tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong đó chủ lực là khoai tây Từ năm 2009 đến 2010 diện tích đất nông nghiệp tăng lên 340 ha, nguyên nhân là do khoai tây trồng không có hiệu quả kinh tế, nông dân chuyển sang trồng lúa Nhưng sau đó diện tích đất nông nghiệp của huyện lại giảm dần qua các năm Năm 2012 diện tích đất nông nghiệp toàn huyện giảm còn 13573 ha Tuy nhiên năng suất lúa lại tăng do huyện áp dụng các giống lúa mới trong đó có giống lai F1 chiếm đến 11,2 - 14,5% sản lượng lúa của toàn huyện, mặc dù diện tích giảm nhưng từ năm 2005 - 2011 năng suất và sản lượng lúa lại tăng lên qua các năm Riêng năm 2012 năm suất lúa giảm 672 tấn so với năm 2011 Nguyên nhân là năng suất lúa năm 2012 tăng nhưng diện tích lúa giảm 34 ha so với năm 2011 do vậy sản lượng lúa giảm

Bảng 1.4 Tình hình sản xuất lúa tại huyện Ý Yên - Nam Định

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Nam Định 2013)

2.1.4.3 Cơ cấu giống lúa của huyện Ý Yên – Nam Định

Qua bảng số liệu 1.5 ta thấy cơ cấu giống lúa của huyện khá đa dạng, phong phú Nhìn chung cơ cấu lúa vụ Xuân và vụ Mùa không chênh lệch nhau nhiều Thực hiện chủ trương của huyện về chuyển dịch cơ cấu cây trồng, trong

đó đưa lúa lai GS9 vào sản xuất Năm 2012 giống lúa lai GS 9 chiếm 11,2%

cơ cấu giống lúa ở vụ Xuân và 14,5% cơ cấu giống lúa ở vụ Mùa, cơ cấu giống của huyện chủ yếu là giống lúa thuần chiếm 60,5% ở vụ Xuân và 61,3%

ở vụ Mùa

Trong các giống lúa thuần thì giống lúa BC15 là giống được trồng phổ biến nhất, chiếm 58% cơ cấu giống lúa trong toàn huyện ở vụ Xuân và 57,3% ở vụ Mùa Mặc dù huyện có chủ trương đưa lúa lai vào sản xuất và thí điểm tại một số xã như: Yên Phú, Yên Minh, Yên Trung Tuy nhiên lúa lai đòi hỏi kỹ thuật thâm canh cao, do vậy nông đa số nông dân trong toàn huyện vẫn chọn giống lúa BC15 đưa vào sản xuất

Trang 20

Bảng 1.5 Cơ cấu giống lúa vụ Xuân, vụ Mùa năm 2012

của huyện Ý Yên – Nam Định

(ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (tấn)

Tỷ lệ* (%)

(Nguồn: Phòng NN&PTNN huyện)

Ghi chú: * Tính theo diện tích gieo trồng của giống

2.1.4.4 Tình hình sử dụng phân bón cho lúa tại huyện Ý Yên- Nam Định

Theo kết quả điều tra của Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Ý Yên năm 2012 cho thấy các loại phân hoá học được sử dụng bón cho lúa như: Đạm, NPK, Phân lân Lâm Thao, Kali, Đầu Trâu L1, L2 Phân đạm dùng

để bón lót, bón thúc và bón đón đòng cho lúa, mức bón đã tăng dần từ 75 kg năm

2008 lên đến 90 kg năm 2012, phân lân chủ yếu dùng để bón lót, phân kali chủ yếu bón thúc và bón đón đòng

Trang 21

Bảng 1.6 Tình hình sử dụng phân bón cho lúa tại Ý Yên – Nam Định trong

(Nguồn: Phòng NN&PTNN huyện)

Theo khuyến cáo của Phòng NN & PTNT huyện, liều lượng phân bón cho lúa áp dụng như sau:

Đối với lúa lai: 10 tấn phân chuồng + 90 kg N/ha + 70 kg P2O5/ha + 80 - 90kg K2O/ha, đối với lúa thuần: 10 tấn phân chuồng + 90 kg N/ha + 70 kg

P2O5/ha + 80 - 90 kg K2O/ha

Qua bảng 1.6 chúng tôi thấy rằng lúa BC15 là giống lúa thuần do đó liều lượng đạm bón là 90 kg N/ha là khuyến cáo chính

2.2 ĐẶC ĐIỂM HÚT DINH DƯỠNG CỦA CÂY LÚA

2.2.1 Đặc điểm hút dinh dưỡng đạm của cây lúa

N là một yếu tố dinh dưỡng quan trọng, quyết định sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng N là một trong những nguyên tố cơ bản của cây trồng, là thành phần cơ bản của axit amin, axit nucleotit và diệp lục Trong thành phần chất khô của cây có chứa từ 0,5 – 6% N tổng số Hàm lượng N trong lá liên quan chặt chẽ với cường độ quang hợp và sản sinh lượng sinh khối Đối với cây lúa thì

N lại càng quan trọng hơn, nó có tác dụng trong việc hình thành bộ rễ; thúc đẩy nhanh quá trình đẻ nhánh và sự phát triển thân lá của lúa dẫn đến làm tăng năng suất lúa Do vậy, N thúc đẩy cây sinh trưởng nhanh (chiều cao, số dảnh) và tăng kích thước lá, số hạt, tỷ lệ hạt chắc, hàm lượng protein trong hạt Đạm ảnh hưởng đến tất cả các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lúa

Nhu cầu N của cây lúa đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới đi sâu nghiên cứu và có nhận xét chung là: nhu cầu N của cây lúa có tính chất liên tục

Trang 22

từ đầu thời kỳ sinh trưởng cho đến lúc thu hoạch Trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa, có hai thời kỳ mà nhu cầu dinh dưỡng N cao nhất

đó là thời kỳ đẻ nhánh rộ và thời kỳ làm đòng Ở thời kỳ đẻ nhánh rộ cây hút nhiều N nhất (Cục khuyến nông và khuyến lâm, 1998)

Giai đoạn đẻ nhánh thiếu N sẽ làm năng suất lúa giảm do đẻ nhánh ít, dẫn đến số bông ít Nếu bón không đủ lượng phân đạm sẽ làm thấp cây, đẻ nhánh kém, phiến lá nhỏ, lá có thể biến thành màu vàng, bông đòng nhỏ, từ đó làm cho năng suất giảm Nhưng nếu bón thừa N lại làm cho cây lúa có lá to, dài, phiến lá mỏng, dễ bị sâu bệnh, dễ lốp đổ; ngoài ra chiều cao phát triển mạnh, nhánh vô hiệu nhiều, trỗ muộn, năng suất giảm Khi cây lúa được bón đủ N thì nhu cầu tất

cả các chất dinh dưỡng khác như lân và kali đều tăng (Đỗ Thị Thọ, 2004)

Lượng N cây hút ở thời kỳ đẻ nhánh quyết định tới 74% năng suất Bón nhiều N làm cây lúa đẻ nhánh khoẻ và tập trung, tăng số bông/m2; số hạt/bông, nhưng trọng lượng nghìn hạt (P1000) ít thay đổi

Theo các tác giả Bùi Huy Đáp (1980), Đào Thế Tuấn (1980) và Nguyễn Hữu Tề (1997): thông thường cây lúa hút 70% tổng lượng N là trong giai đoạn đẻ nhánh, đây là thời kỳ hút N có ảnh hưởng lớn đến năng suất, 10 – 15% là hút ở giai đoạn làm đòng, lượng còn lại là từ giai đoạn sau làm đòng đến chín

Qua nhiều năm nghiên cứu, Đào Thế Tuấn đã đi đến nhận xét: Cây lúa được bón N thoả đáng vào thời kỳ đẻ nhánh rộ thúc đẩy cây lúa đẻ nhánh khoẻ và hạn chế số nhánh bị lụi đi Ở thời kỳ đẻ nhánh của cây lúa, N có vai trò thúc đẩy tốc độ ra lá, tăng tỉ lệ N trong lá, tăng hàm lượng diệp lục, tích luỹ chất khô và cuối cùng là tăng số nhánh đẻ (Đào Thế Tuấn, 1980)

Theo tác giả Nguyễn Như Hà (2005), cây lúa cũng cần nhiều N trong thời

kỳ phân hoá đòng và phát triển đòng thành bông, tạo ra các bộ phận sinh sản Thời

kỳ này quyết định cơ cấu sản lượng: số hạt/bông, khối lượng nghìn hạt (P1000)

Tiềm năng năng suất của các giống lúa chỉ được thể hiện khi được bón đủ phân Do đó bón thừa đạm cũng không tốt, mà thiếu đạm cũng không tốt Nếu bón thiếu đạm thì cây lúa sẽ thấp, đẻ nhánh kém, phiến lá nhỏ, hàm lượng diệp lục giảm, lúc đầu lá có màu vàng nhạt ở ngọn lá rồi dần cả phiến lá biến thành màu vàng Thiếu đạm còn làm cho số bông và số hạt ít, năng suất bị giảm Còn nếu bón thừa đạm cây lúa sẽ hút nhiều đạm làm tăng hô hấp, tăng lượng gluxit tiêu hao Vì thế gluxit tích lũy do quang hợp tiêu hủy theo sự hút đạm Hút nhiều

Trang 23

đạm làm cho lá to, dài, phiến lá mỏng, nhánh đẻ vô hiệu nhiều, lúa trỗ muộn, cây cao vóng sẽ dẫn đến hiện tượng đổ non, khả năng chống chịu kém và làm giảm năng suất một cách rõ rệt

Chính vì vậy cần bón phân đạm hợp lý cho mỗi giống lúa, hợp lý cho từng thời kỳ của lúa trong những điều kiện cụ thể (chất đất, điều kiện khí hậu, kỹ thuật thâm canh, vốn đầu tư…) để mỗi giống lúa đó thể hiện được hết tiềm năng năng suất

2.2.2 Các dạng phân đạm dùng bón cho lúa

Phân đạm có nhiều loại, phổ biến nhất là urea (CO(NH2)2) có 46% đạm nguyên chất, đạm a môn nitrat (NH4NO3 - còn gọi là đạm 2 lá) có 30 - 40% đạm nguyên chất, đạm sunfat (NH4)2SO4 - còn gọi là SA) có 19 - 21% đạm nguyên chất, đạm clorua a môn (NH4Cl) có 22 - 24% đạm nguyên chất Ngoài ra còn có một số đạm không phổ biến rộng như dung dịch amoniac (NH3), canxi xianmit (CaCN2), a môn bicacbonat (NH4HCO3), a môn cacbonat (NH4)2CO3), đạm trong phân phốt phát DAP

Dù có nhiều loại nhưng phân đạm chỉ có 2 dạng, dạng a môn (NH4) và dạng nitrat (NO3) và được cây đồng thời sử dụng cả 2 dạng này Theo Nguyễn Văn Bộ (2003) cho biết để có năng suất 1 tấn thóc (kèm theo cả rơm rạ), cây lúa lấy đi từ đất và phân bón 2,22 kg N, trong đó 14,6 kg N trong hạt và 7,6 kg N trong rơm rạ

Để có năng suất 6 tấn/ha, cây lúa cần là 162 kg N/ha, trong đó có 115 kg

N từ phân bón, 2 kg N từ nước mưa, 5 kg N từ nước tưới, và 40 kg N từ cố định khí

N2 Tất nhiên cây chỉ sử dụng 63 kg N cho hạt lúa, 40 kg N cho rơm rạ, còn lại 60

kg N bị thất thoát, trong đó thất thoát do trực di chiếm 10 kg và thất thoát do bay hơi chiếm 50 kg Với dạng đạm nitrat, quá trình bay hơi theo đường khử nitrat: NO3 -

NO2 - N2O - N2 Với dạng đạm a môn, quá trình bay hơi khí NH4 - NH3

Trong tổng sản lượng các loại phân đạm thì urea chiếm đến 70%, trong đó

có đến 55% dùng cho cây lương thực Bởi có lượng dùng lớn như vậy nên sự thất thoát của phân urea được thế giới nghiên cứu nhiều nhất Quan sát cho thấy phân urea thất thoát nhiều bởi chúng tan quá nhanh trong môi trường nước, ở nhiệt độ

10oC thì sau 7 ngày 100% urea đã tan hoàn toàn, ở nhiệt 26oC thì sau 4 ngày đã tan hết Việc làm cho phân chậm tan là một hướng nghiên cứu cải tiến và cho ra đời các sản phẩm urea chậm tan như áo hạt phân bằng một màng mỏng, viên thành cục lớn bón dúi sâu vào gốc Tuy nhiên các cải tiến trên không phổ biến

Trang 24

rộng rãi vì hiệu quả không cao

Về cơ chế bay hơi của đạm các nghiên cứu cho thấy do trong môi trường

tự nhiên luôn tồn tại men ureaza, dưới tác dụng của men này thì NH4 trong urea được giải phóng nhanh quá, cây không hấp thu kịp nên một phần chuyển thành dạng NH3 bay hơi, phần khác chuyển sang dạng NO3, từ đấy chuyển sang dạng

NO2 rồi N2 bay vào không khí Bởi vậy việc hạn chế hoạt động của men ureaza được coi là chìa khoá để hạn chế việc thất thoát phân urea

2.2.3 Một số nghiên cứu về lượng đạm bón cho cây lúa trên thế giới và Việt Nam

* Một số nghiên cứu về lượng đạm bón cho cây lúa trên thế giới:

Các nghiên cứu ở ruộng cao sản của Philippin cho thấy với giống lúa IR36 sản lượng là 9,8 tấn hạt/ha và 8,3 tấn rơm/ha thì lượng đạm có trong rơm rạ là 7,6 kg/tấn thóc, trong hạt là 14,6 kg/tấn thóc (De Datta S., 1981) tổng số là 22,2 kg N/tấn thóc

Nói chung ở các ruộng cao sản với năng suất lúa là 5 tấn/ha thì có thể lấy

đi từ đất với lượng đạm là 110 kg N Theo Datta S và Morris R (1984) thì khi bón đạm urê vào đất, cây lúa sử dụng rất ít do tỷ lệ đạm bay hơi dạng NH3 Cũng theo De Datta S (1981) cho rằng đạm là yếu tố hạn chế năng suất lúa có tưới Như vậy, để tăng năng suất cho lúa nước cần tạo điều kiện cho cây lúa hút được nhiều đạm Sự hút đạm của cây lúa không phụ thuộc vào nồng độ đạm xung quanh rễ mà được quyết định bởi nhu cầu đạm của cây

Do vậy mặc dù cây lúa được bón một lượng đạm khoáng khá lớn, lượng

sử dụng đạm từ đất vẫn chiếm khoảng 50 – 80% hoặc còn cao hơn Phần lớn lượng đạm cung cấp cho cây lúa từ đất được khoáng hóa từ các hợp chất hữu cơ Quá trình và tốc độ khoáng hóa chất hữu cơ chịu ảnh hưởng bởi nhiệt độ, độ ẩm, chế độ nước, số lượng và chất lượng chất hữu cơ, tỷ lệ cấp hạt sét và nhiều yếu tố khác (Broadlent F., 1979)

Tuy vậy, trong đất luôn luôn xảy ra hai quá trình thuận nghịch là khoáng hóa các hợp chất hữu cơ có chứa đạm và cố định các dạng đạm vô cơ dưới dạng hữu cơ cây trồng khó hấp thụ Lượng đạm khoáng bị cố định ở hữu cơ có thể lên đến 34 g N/1 kg C ở rễ và gốc lúa

Theo nghiên cứu của Yoshida S (1981): ở các nước nhiệt đới các chất dinh dưỡng cần để tạo ra một tấn thóc trung bình là: 20,5 kg N : 5,1 kg P2O5 và

Trang 25

4,4 kg K2O Trên nền phối hợp 90 kg P2O5/ha – 60 kg K2O/ha thì hiệu suất phân đạm và năng suất lúa tăng nhanh ở các mức bón từ 40 – 120 kg N/ha Khi sử dụng đạm hợp lý, năng suất lúa được tăng lên nhờ số dảnh hữu hiệu tăng, chiều dài bông tăng, tăng số hạt trên bông, tăng trọng lượng nghìn hạt (Yoshida S., 1976) Và lượng đạm cây hút ở thời kỳ đẻ nhánh quyết định tới 70% năng suất lúa Bón đạm nhiều làm cho cây lúa đẻ nhánh khoẻ và tập trung tăng số bông/m2,

số hạt trên bông, nhưng trong lượng nghìn hạt ít thay đổi

Theo kết quả nghiên cứu của Sinclari T., (1989), hiệu suất bón đạm cho lúa rất khác nhau 1 kg N cho từ 3,1 - 23 kg thóc

Trong đất ngập nước, lượng phân đạm bón vào thường bị mất đi do nhiều nguyên nhân khác nhau Do đó, tỷ lệ đạm cây hút được trên lượng đạm bón vào, chỉ vào khoảng 30-50 % ở vùng nhiệt đới (De Datta S., 1981), tùy thuộc vào tính chất đất, phương pháp, số lượng, thời gian bón đạm và những kỹ thuật khác Tỷ

lệ này có xu hướng cao khi mức đạm bón thấp, và bón đạm sâu vào trong đất hoặc bón thúc ở các thời kỳ sinh trưởng về sau Hiệu suất sử dụng đạm là số kg hạt lúa khô thu được khi cây hấp thu 1 kg đạm Ở vùng nhiệt đới, hiệu suất sử dụng đạm vào khoảng 50, tức nếu mỗi kg đạm cây lúa hút được sẽ sản sinh ra khoảng 50 kg hạt Như vậy, nếu so với lượng đạm bón vào ruộng, với tỷ lệ sử dụng đạm thông thường là 30 - 50%, thì hiệu suất sử dụng đạm sẽ là 15 - 25, tức (0,3 – 0,5) * 50 =15 - 25 kg lúa/kg đạm bón Như vậy, ta có thể tính toán năng suất lúa và nhu cầu phân đạm theo công thức:

Y = Y0 + dYf Hoặc Y = Y0 + (Hiệu suất sử dụng phân đạm) * Nf Trong đó:

dYf = Phần năng suất tăng lên khi bón đạm

Công thức thể hiện mối tương quan giữa năng suất muốn đạt được với điều kiện đất đai môi trường và lượng phân đạm bón vào

Trang 26

* Một số nghiên cứu về lượng đạm bón cho cây lúa ở Việt Nam

Phân đạm có vai trò quan trọng trong việc làm tăng năng suất và sản lượng lúa Việt Nam Hơn 2/3 lượng phân đạm ở Việt Nam sử dụng bón cho lúa (Trần Thúc Sơn, 1996)

Tăng liều lượng đạm (0 – 150 kg/ha) đã làm tăng số dảnh biomac và tăng lượng đạm tích lũy trong cây lúa Lượng tăng này rõ hơn khi bón phối hợp với phân chuồng và tăng liều lượng bón lân (Trần Thúc Sơn, 1996)

Theo Trần Thúc Sơn (1996), hệ số sử dụng phân đạm của cây lúa ở 2 vùng đất như sau:

Bảng 1.7: Hiệu quả sử dụng đạm với cây lúa ở đất phù sa sông Hồng

Trên đất bạc màu, khi bón lượng đạm từ 40 - 80 kg N/ha thì hiệu suất 1kg N

là 10 - 13,5 kg thóc ở vụ mùa, bón trên 120 kg N/ha hiệu suất giảm xuống còn 5 - 6

kg thóc/1kg N (Trần Trúc Sơn, Đặng Văn Hiến, 1996)

Theo nghiên cứu của Trần Thúc Sơn (1999) thì hàm lượng đạm tổng

số trong một số loại đất lúa chính ở miền Bắc biến thiên khá rộng, từ 0,3 - 2,05 g N/kg đất tùy thuộc vào loại đất phát sinh và hàm lượng chất hữu cơ trong đất Hàm lượng đạm tổng số cao ở trên đất phù sa không được bồi đắp hàng năm của hệ thống sông Hồng (1,25 - 2,05 g/kg đất), thấp nhất ở đất ven biển (0,135 – 0,630 g/kg đất)

Theo Vũ Hữu Yêm (1995), trong đất Việt Nam, hàm lượng đạm thấp

Trang 27

nhất là đất bạc màu (0,042%) và cao nhất là đất lầy thụt (0,62%) đất có hàm lượng đạm trung bình là đất phù sa sông Hồng (0,12%) Hàm lượng đạm trong đất ít phụ thuộc vào đá mẹ mà chủ yếu vào điều kiện hình thành đất

Ngoài ra còn có một phần nhỏ là do bị khuyếch tán N2 khí quyển và sản phẩm của quá trình phản nitrat hóa như N2, N2O, NO, NO2 nằm trong tướng khí của đất

Trong đất luôn xảy ra 2 quá trình ngược nhau, đó là quá trình khoáng hóa chất hữu cơ có đạm, giải phóng đạm vô cơ và các nguyên tố khác như S,

P, K, Mg… và quá trình các muối vô cơ đơn giản được cơ thể vi sinh vật hấp thụ và tái tạo chất hữu cơ bằng các cơ thể vi sinh vật, làm cho hàm lượng đạm vô cơ trong đất tạm thời giảm đi

Quá trình khoáng hoá các chất mùn được thực hiện bởi vi sinh vật, một phần đạm của quá trình này do sinh vật sử dụng, phần còn lại giải phóng

ra cung cấp cho cây trồng Tỷ lệ C/N là hết sức quan trọng trong quá trình này, nó cho biết quá trình khoáng hoá xảy ra có thuận lợi không, lượng đạm khoáng được tạo ra trong quá trình này Giữa hàm lượng đạm tổng số và hàm lượng chất hữu cơ trong đất lúa có mối quan hệ chặt chẽ Tuỳ theo loại phát sinh mà tỷ lệ C/N biến động từ 7,0 – 11,9 (Trần Thúc Sơn, 1999)

Quá trình chuyển hoá đạm trong đất được thực hiện theo hình sau :

Hình 1.1: Chuyển hóa đạm trong đất

N trong hợp chất hữu cơ

NH2

Trang 28

Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Bùi Huy Đáp (1980) cho biết rằng ở thời kỳ đẻ nhánh, nhất là khi đẻ rộ cây lúa hút nhiều đạm nhất, thông thường cây lúa hút 70% lượng đạm cần thiết Đây là thời kỳ hút đạm có ảnh hưởng lớn nhất

đến năng suất lúa, quyết định tới 74% năng suất Đạm làm tăng diện tích lá rõ rệt,

diện tích lá tăng thì quang hợp tăng làm cho sự tích lũy chất khô cũng tăng lên, tuy nhiên hiệu suất quang hợp chỉ tăng theo lượng phân đạm bón cho lúc lúa lá còn thấp, khi hệ số lá đã cao đạt trị số cực đại thừa đạm vào lúc này sẽ làm giảm hiệu suất quang hợp và có ảnh hưởng đến năng suất và tính chống chịu

Quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa trải qua rất nhiều thời kỳ và mỗi thời kỳ đó quyết định một phần năng suất Để sản xuất được một ruộng lúa năng suất cao có hai quan điểm: quan điểm thứ nhất là từ chất khô tích luỹ và quá trình vận chuyển của chúng Còn quan điểm khác là từ các yếu tố cấu thành năng suất

Viện Nông hoá - Thổ nhưỡng đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của đất, mùa vụ và liều lượng phân N bón đến tỷ lệ N cây lúa hút Không phải do bón nhiều N thì tỷ lệ N của lúa sử dụng nhiều Ở mức phân đạm 80 kg N/ha, tỷ lệ sử dụng N là 46,6%, so với mức N này có phối hợp với phân chuồng tỷ lệ N hút được là 47,4% Nếu tiếp tục tăng liều lượng phân N đến 160 kg N/ha và 240 kg N/ha có bón phân chuồng thì tỷ lệ N mà cây lúa sử dụng cũng giảm xuống Trên đất bạc màu so với đất phù sa sông Hồng thì hiệu suất sử dụng N của cây lúa thấp hơn Khi bón liều lượng N từ 40 kg N/ha – 120 kg N/ha thì hiệu suất sử dụng phân giảm xuống, tuy lượng N tuyệt đối do lúa sử dụng có tăng lên Đồng thời phản ứng của phân N đối với lúa phụ thuộc vào thời vụ, loại đất và giống lúa trên đất phù sa sông Hồng Trên đồng bằng sông Cửu Long đất phù sa được bồi hàng năm có bón 60 kg P2O5/ha và 30 kg K2O/ha làm nền thì khi có bón N đã làm tăng năng suất lúa từ 15 - 48,5% trong vụ Đông Xuân và vụ Hè Thu tăng từ 8,5 - 35,6% Hướng chung của 2 vụ đều bón đến mức 90 kg N/ha có hiệu quả cao hơn

cả, bón trên mức 90 kg N/ha này năng suất lúa tăng không không đáng kể (Nguyễn Thị Lẫm, 1994)

Bón N làm tăng trọng lượng chất khô tích luỹ và như vậy sẽ làm tăng năng suất hạt Trong giai đoạn đẻ nhánh đến đẻ nhánh rộ, hàm lượng đạm trong thân lá cao, sau đó giảm dần, nhưng cần tập trung đạm vào giai đoạn này (Phạm Văn Cường, 2008) Kết quả thí nghiệm trong chậu cho thấy trên đất phù sa sông

Trang 29

Hồng, bón đạm đơn độc làm tăng năng suất lúa lai 48,7%, trong khi đó năng suất giống CR203 chỉ tăng 23,1% với thí nghiệm đồng ruộng, bón đạm, lân cho lúa lai

có kết quả rõ rệt Nhiều thí nghiệm trong phòng cũng như ngoài đồng ruộng cho thấy, 1kg N bón cho lúa lai tăng năng suất 9 - 18 kg thóc, so với lúa thuần thì tăng 2 - 13 kg thóc Như vậy, trên các loại đất có vấn đề như đất bạc màu, đất glây, khi các yếu tố khác chưa được khắc phục về độ chua, lân, kali thì vai trò của phân đạm không phát huy được, nên năng suất lúa lai tăng có 17,7% trên đất bạc mà và 11,5% trên đất glây (Phạm Văn Cường, 2005)

Đạm có vai trò quan trọng trong việc hình thành đòng và các yếu tố cấu thành năng suất khác: Số hạt/bông, khối lượng 1000 hạt và tỷ lệ hạt chắc Đạm còn làm tăng hàm lượng protein trong gạo nên làm tăng chất lượng gạo Lượng đạm cần thiết để tạo ra 1 tấn thóc từ 17 đến 25 kg N, trung bình 22,2 kg N Ở các mức năng suất cao, lượng đạm tạo ra 1 tấn thóc ngày càng cao (Phạm Văn Cường, 2005)

Bón lượng đạm cao (120 kg N/ha, 90 kg N/ha) cho số nhánh hữu hiệu, sự tích luỹ chất khô và các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất thực thu cao hơn

so với lượng đạm 60 kg N/ha (Phạm Văn Cường và cs, 2009)

Với số bông/m2 vai trò của lượng bón cũng đồng biến với kết quả là cao nhất số bông/m2 đạt được khi bón 120 kg N/ha và thấp nhất là không bón N Nhưng số hạt/bông và tỷ lệ hạt chắc chỉ tăng khi lượng bón từ 0 - 90 kg N/ha, còn khi tăng đến 120 kg N/ha các chỉ tiêu này bắt đầu giảm (Nguyễn Thị Lan

và Đỗ Thị Hường, 2009)

Số bông/m2 và số hạt/bông tăng lên khi tăng lượng đạm bón từ 0 – 45 - 90kg N/ha; năng suất hạt cũng tăng lên nhưng tiếp tục tăng lượng đạm đến 90 kg N/ha thì năng suất không tăng nữa Các mức đạm bón không ảnh hưởng rõ rệt đến số hạt/bông nhưng khi tăng lượng đạm bón từ 120 kg N/ha - 140 kg N/ha thì

số hạt/bông có xu hướng giảm (Tăng Thị Hạnh và cs, 2013)

Do các yếu tố này có mối quan hệ lẫn nhau rất chặt chẽ nên muốn tăng năng suất lúa không thể chỉ tác động riêng rẽ từng yếu tố mà phải tác động tổng hợp vào chúng Nhưng điều tiết các yếu tố đó ở mức độ nào là thích hợp nhất để cho năng suất tối đa là một vấn đề mà nhiều nhà khoa học đang quan tâm

Trang 30

2.3 CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN

LÁ ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT LÚA

2.3.1 Đặc điểm hấp thu dinh dưỡng qua lá ở cây trồng

Dinh dưỡng qua rễ là con đường chủ yếu nhưng không phải duy nhất vì cây có thể hấp thụ một phần dinh dưỡng qua lá (Vũ Hữu Yêm, 2004) Các chất khoáng xâm nhập vào cây qua bề mặt lá thường phải đi qua khí khổng và cũng có

thể thấm qua lớp cutin mỏng

Khí khổng là những khe hở nhỏ nằm trên biểu bì của lá, được cấu tạo bởi hai tế bào bảo vệ hình hạt đậu quay vào nhau để một khe hở nhỏ thông giữa khoảng gian bào của lá với môi trường bên ngoài gọi là vi khẩu Lỗ khí khổng có kích thước trung bình 100 µm2 (dài 7 – 10 µm, rộng 3 – 12 µm), số lượng khá lớn, có thể chiếm tới 1% diện tích lá Ở lúa số lượng khí khổng/ mm2 lá là 47 (mặt trên: 33, mặt dưới: 14), vì thế khi phun dung dịch dinh dưỡng nên phun cả hai mặt lá (Lê Văn Tri, 2001 và Nguyễn Văn Uyển, 1995)

Cây trồng có tổng diện tích bề mặt lá tiếp xúc với phân bón thường cao hơn gấp 8 – 10 lần diện tích bộ lá che phủ Các chất dinh dưỡng được vận chuyển

tự do theo chiều từ trên xuống dưới với vận tốc 30 cm/h Do đó năng lực hấp thu

từ lá cũng cao hơn gấp 8 – 10 lần so với từ rễ Vì vậy, cây trồng có khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng qua lá đạt 90 - 95% trong khi nếu bón qua đất cây chỉ sử dụng được 40 – 50% lượng phân bón (Nguyễn Thị Kim Thanh và Phạm Thị Thanh Thủy, 2008)

Sự hấp thu dinh dưỡng qua lá phụ thuộc vào sự đóng mở của khí khổng Muốn cho phân bón lá phát huy được hiệu quả thì phải phun vào lúc lỗ khí khổng đang mở Cơ chế đóng mở khí khổng rất phức tạp chịu ảnh hưởng các yếu tố ngoại cảnh như ánh sáng, độ ẩm không khí, độ ẩm đất, nhiệt độ và tình trạng sinh

lý của cây Ánh sáng quá mạnh, độ ẩm quá khô, nhiệt độ cao hơn 300C đều làm cho khí khổng đóng Vì vậy, để nâng cao hiệu quả phân bón lá thì phun phân trong điều kiện nhiệt độ không khí nhỏ hơn 30oC, trời nắng nhẹ, không mưa để tránh phân bị rửa trôi, không có gió khô và cần cung cấp đủ nước cho cây qua rễ (Lê Văn Tri, 2002)

Cung cấp dinh dưỡng bằng cách phun cho cây các hợp chất chứa N, P, K tinh khiết, cây hấp thu qua lá, các chất dinh dưỡng phát huy tác dụng rất nhanh Phân bón lá có tác dụng rất tốt khi bộ rễ cây yếu, khi cây có nụ, có hoa, nhằm

Trang 31

tăng cường quá trình tổng hợp các chất đường bột và tích luỹ dinh dưỡng vào quả

và hạt Phân bón lá còn cung cấp các dinh dưỡng vi lượng như bo, molipden, magiê, đồng, mangan, kẽm,… Ở những nơi thiếu các nguyên tố vi lượng đã cho hiệu quả rất rõ như tăng cường sự sinh trưởng, lá xanh, đẻ khoẻ, hạt to hơn, tỷ lệ lép thấp, chịu rét tốt hơn (Nguyễn Văn Hoan, 2003)

Phân bón lá có tác dụng làm cho cây lúa phát triển bộ lá tốt, tăng khả năng đẻ nhánh, giảm tỷ lệ nhánh vô hiệu, tăng số bông trên m2, hạt mẩy hơn, tăng năng suất lúa nhưng số hạt chắc trên bông không khác biệt rõ rệt Tuy nhiên, phân bón lá giúp cho lúa phát triển mạnh hơn, nên tỷ lệ đổ ngã của cây lúa cũng tăng theo,

do đó khi sử dụng các loại phân bón lá cần phải cân đối lại phân nền để giảm tối

suất cá thể Nồng độ phun 30 ppm là phù hợp nhất

Hoàng Ngọc Thuận (2005) đã nghiên cứu phân bón lá Pomior và được Bộ

NN và PTNN công nhận là tiến bộ kỹ thuật Pomior là một dạng phức hữu cơ bao gồm các nguyên tố đa, trung, vi lượng và các chất kích thích sinh trưởng

Gần đây có nhiều chế phẩm phân bón lá được các nhà khoa học khảo nghiệm hiệu lực trên các loại cây trồng khác nhau Kết quả khảo nghiệm của bộ khoa học và công nghệ TP Hồ Chí Minh (2006) cho thấy rằng hiệu lực 3 loại phân bón lá: Phala-C, Phala-R, Phala-V, năng suất tăng từ 13 – 20% đối với ngô và lúa,

13 – 14% với cà phê

Ở Philippin dùng phân bón lá cho tăng năng suất lúa 1,5 lần so với dùng

Trang 32

phân bón gốc qua rễ và gấp 3,3 lần khi không bón phân Khi dùng phân bón lá cây lúa khoẻ hơn, cứng cáp hơn, chịu được sâu bệnh, không làm chua đất như khi bón nhiều và liên tục phân bón hoá học vào đất Hạt thóc chắc hơn, tỷ lệ gạo gãy không đáng kể, làm cho gạo của Philippin phù hợp với thị trường quốc tế Dùng phân bón lá, lượng bón chỉ tốn bằng 1/4 so với phân bón qua đất (Nguyễn Huy Phiêu và cs, 1994)

Những ảnh hưởng quan sát được của việc bón phân qua lá là tăng năng suất cây trồng, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, phản ứng của cây trồng phụ thuộc vào giống, dạng phân bón, nồng độ và số lần bón, cũng như từng giai đoạn phát triển của cây trồng (Dương Văn Đảm, 1994)

Theo nhiều nghiên cứu của Nguyễn Huy Phiêu và cs (1994) việc sử dụng phân bón lá có hiệu quả nhất ở các giai đoạn sau:

- Giai đoạn đẻ nhánh: Bổ sung dinh dưỡng qua phân bón lá, làm tăng số nhánh hữu hiệu, cây sinh trưởng và phát triển khỏe

- Giai đoạn chuẩn bị hình thành đòng : Hỗ trợ cho việc hình thành đòng to, bông lớn nhiều hạt

- Giai đoạn chuẩn bị phát đòng (trước trỗ từ 10 – 15 ngày đến khi trỗ 1– 2%) làm lúa trỗ đồng loạt Ngoài ra quá trình tích luỹ tinh bột từ cây vào hạt nhanh hơn, lá đòng giữ xanh lâu, hiệu suất quang hợp cao hơn, hạt lúa chắc mẩy, trọng lượng 1000 hạt tăng, hạt lép giảm

Gần đây có nhiều chế phẩm phân bón lá được các nhà khoa học khảo nghiệm hiệu lực trên các loại cây trồng khác nhau Kết quả khảo nghiệm của bộ khoa học và công nghệ TP HCM (2006) cho thấy rằng hiệu lực 3 loại phân bón lá: Phala-C, Phala-R, Phala-V, năng suất tăng từ 13 – 20% đối với ngô và lúa, 13 – 14% với cà phê

Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều chế phẩm, phân bón lá được bán rộng rãi và được bà con nông dân sử dụng như: NitraMa (Magnesium Oxide 15%, Nitrate 11%), Bortrac (B 15%), Đầu Trâu 502 (NPK: 30, 12, 10; Ca, Mg,

Zn, Cu, Bo, Fe, Mn, Mo ), Thiên Nông, Yogen (Con én đỏ), K– Humate, HPC– HIPHOS, Fivalua, Komix, Mymix, Atonik

Trang 33

PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

- Các loại phân bón lá

+ Đầu Trâu 502: (Công ty phân bón Bình Điền)

Thành phần: N: 30%, P2O5: 12%, K2O: 10%, CaO: 0,05%, MgO: 0,05%, Zn: 0,05%, Cu: 0,05%,B: 0,02%, Fe: 0,01%, Mn: 0,01%, Mo: 0,001%, Penac P, GA3, αNAA, βNOA: 0,002%

+ Komic BFC.201 (Công ty Thiên Sinh)

Thành phần: N: 2.6%, P2O5: 7,5%, K2O: 2,2%, Mg: 800ppm, Mn: 30ppm, Zn: 200ppm, Cu: 100ppm, B: 50ppm

+ K - Humat 18000ppm (Công ty Minh Đức)

Thành phần: N: 7,5%, P2O5: 2%, K2O: 0,3%, Vi lượng: Cu: 900ppm, Zn: 900ppm, Bo: 900ppm, Mg: 400ppm, Mo: 70ppm, S: 1300ppm, Mn: 1200ppm

+ Chitosan:

Thành phần: N > 7,00%; P205 > 5,00%; K20 > 3,00%, Chitosan > 0,002%; axit amin > 0,002%; dextran > 0,002%; B > 0,03%; Mo > 0,0005%; Fe > 0,02%; Cu > 0,07%; Mn > 0,05%; Mg > 0,02%; Ca > 0,01%;

- Giống: Giống lúa BC15 (Công ty giống cây trồng Thái Bình) có một số đặc điểm chủ yếu sau:

+ Thời gian sinh trưởng: Miền Bắc vụ Xuân 130 – 135 ngày, vụ Mùa 110 – 115 ngày Các tỉnh từ Đà Nẵng trở vào vụ Đông Xuân 115 - 120 ngày, vụ Hè Thu 105 – 110 ngày

+ Đẻ nhánh khỏe; tái sinh mạnh sau thiên tai và dịch bệnh; bông to dài, số hạt trên bông cao

+ Khả năng thích ứng rộng, có thể gieo cấy được ở các vùng miền trên cả nước + Năng suất trung bình đạt 60 - 75 tạ/ha, thâm canh tốt có thể đạt 80 tạ/ha + Hạt gạo trong, cơm dẻo, ngon, đậm

3.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Thí nghiệm được thực hiện trong vụ Xuân và vụ Mùa năm 2014 tại huyện

Ý Yên - Nam Định

Trang 34

3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng của giống lúa

BC15 trên các mức bón đạm khác nhau

- Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá đến tình hình sâu bệnh hại của giống lúa BC15 trên các mức bón đạm khác nhau

- Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá đến yếu tố cấu thành năng suất

và năng suất giống lúa BC15

3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Ô thí nghiệm được đắp bờ ngăn cách, bờ được che phủ bằng nilon và chìm sâu 8cm dưới mặt đất

Trang 35

Nền: Tất cả các công thức được bón: 10 tấn phân chuồng + 60 kg P2O5/ha + 60 kg K2O/ha

3.4.3 Phương pháp xử lý phân bón lá và các biện pháp kỹ thuật áp dụng

- Phương pháp xử lý phân bón lá

+ Thời kỳ phun: Đẻ nhánh - Trỗ

+ Liều lượng theo chỉ dẫn trên bao bì sản phẩm cụ thể như sau:

Đầu Trâu 502: Pha 1 gói 10ml với 8 – 10 lít nước/bình/sào

Komic BFC.201: Pha 1gói 20ml với 8 – 10 lít nước/bình/sào

K - Humat 18000ppm: Pha 1 gói 15ml với 8 – 10 lít nước/bình/sào Chitosan: Pha 5 ml với 8 – 10 lít nước/bình/sào

+ Cách phun: Dùng bình bơm điện có vòi hoa sen úp, kích thước hạt nước nhỏ dạng sương mù Hòa tan phân với nước vào bình bơm theo đúng nồng độ, liều lượng, phun ướt đều, đẫm lên tán lá lúa Che nilon giữa các ô nhỏ khi phun tránh phân bón lá bay sang ô bên cạnh

- Các biện pháp kỹ thuật áp dụng

Mạ được gieo bằng phương pháp mạ dược

+ Ngày gieo:18/01/ 2014 (vụ Xuân) và 10/06/2014 (vụ Mùa)

+ Ngày cấy: 20/02/2014 (vụ Xuân) và 29/06/2014 (vụ Mùa)

3.4.4 Các chỉ tiêu theo dõi

* Chỉ tiêu về thời gian sinh trưởng:

- Thời gian sinh trưởng: Tính từ khi gieo mạ đến khi thu hoạch

- Thời gian đẻ nhánh: Tính từ khi gieo đến khi cây lúa đạt số rảnh tối đa

- Thời gian làm đòng: Tính từ ngày gieo đến khi có 50 % số cây hóa đòng

- Thời gian bắt đầu trỗ (trỗ 10%) : 10% số khóm/ô bắt đầu trỗ

- Thời gian trỗ hoàn toàn (trỗ 80%): 80% số khóm/ô trỗ

- Thời gian chín: trên 10 khóm đó theo dõi thấy 90% số hạt chuyển vàng trên bông chính

Trang 36

* Chỉ tiêu sinh trưởng:

- Số nhánh:

+ Số nhánh trung bình/khóm: Theo dõi 2 tuần/lần bằng cách đếm trục tiếp

số nhánh của mỗi khóm lúa

+ Sức đẻ chung = Dảnh tối đa/ dảnh cơ bản

+ Tỷ lệ đẻ nhánh hữu hiệu = số nhánh thành bông/ số nhánh tối đa

Đánh giá khả năng đẻ nhánh theo thang điểm 5 cấp của IRRI

LAI = Khối lượng lá toàn cây/ khối lượng 1dm2 lá x 10-2 (m2/khóm) Chỉ số diện tích lá LAI (m2 lá/m2 đất):

* Chỉ tiêu về sâu bệnh: (đánh giá theo IRRI )

Trang 37

- Sâu đục thân: theo dõi (ở giai đoạn đứng cái làm đòng) tỷ lệ dảnh chết

ở giai đoạn đẻ nhánh - làm đòng và bông bạc ở giai đoạn vào chắc đến chín ở 5 khóm điều tra, với 3 lần nhắc lại, đánh giá theo thang điểm

Điểm 0: Không bị hại

Điểm 1: Từ 1 - 10% dảnh hoặc bông bị hại

Điểm 3: Từ 11 - 20% dảnh hoặc bông bị hại

Điểm 5: Từ 21 - 30% dảnh hoặc bông bị hại

Điểm 7: Từ 31 - 50% dảnh hoặc bông bị hại

- Sâu cuốn lá :

Điểm 0: Không có cây bị hại

Điểm 1: Từ 1 - 10% cây bị hại

Điểm 3: Từ 11 - 20 % cây bị hại

Điểm 5: Từ 21 - 35% cây bị hại

Điểm 7: Từ 36 - 60% cây bị hại

Điểm 9: Từ 61 - 100% cây bị hại

- Bệnh khô vằn:

Điểm 0: Không có triệu chứng hại

Điểm 1: Vết bệnh ở vị trí thấp hơn 20% chiều cao cây

Điểm 3: Vết bệnh ở vị trí 20 - 30% chiều cao cây

Điểm 5: Vết bệnh ở vị trí 31 - 45% chiều cao cây

Điểm 7:Vết bệnh ở vị trí 46 - 65% chiều cao cây

Điểm 9: Vết bệnh ở vị trí trên 65% chiều cao cây

- Bệnh đạo ôn :

Điểm 0: Không thấy có vết bệnh

Điểm 1: Các vết bệnh màu nâu hình kim châm ở giữa chưa xuất hiện vùng sinh sản bào tử

Điểm 2: Vết bệnh nhỏ, tròn hoặc hơi dài, đường kính 1 – 2 mm có viền nâu rõ rệt, hầu hết các lá dưới đều có vết bệnh

Điểm 3: Dạng hình vết bệnh như ở điểm 2 nhưng vết bệnh xuất hiện đáng kể ở các lá trên

Điểm 4: Vết bệnh điển hình cho các giống nhiễm, dài 3 mm hoặc hơn, diện tích vết bệnh trên lá dưới 4% diện tích lá

Điểm 5: Vết bệnh điển hình chiếm 4 - 10% diện tích lá

Điểm 6: Vết bệnh điển hình chiếm 11 - 25% diện tích lá

Trang 38

Điểm 7: Vết bệnh điển hình chiếm 26 - 50% diện tích lá

Điểm 8: Vết bệnh điển hình chiếm 51 - 75% diện tích lá

Điểm 9: Hơn 75% diện tích lá bị bệnh

- Bọ trĩ:

Điểm 1: 1/3 lá thứ nhất về phía ngọn bị cuộn lại

Điểm 3: 1/3 diện tích lá về phía ngọn của lá thứ 1, 2 bị cuộn lại

Điểm 5: 1/2 diện tích lá về phía ngọn của lá thứ 1, 2, 3 bị cuộn lại

Điểm 7: toàn bộ lá bị cuộn lại, lá biến vàng rõ rệt

Điểm 9: cây hoàn toàn bị héo, sau đó biến vàng nặng và bị khô sạch

* Chỉ tiêu về năng suất:

- Số bông/m2: Đếm toàn bộ số bông có từ 10 hạt trở lên của các cây theo dõi, từ đó lấy giá trị trung bình/khóm x khóm/m2= số bông/m2

- Số hạt chắc/bông: Đếm toàn bộ số hạt chắc/bông của 10 khóm ở 3 lần nhắc lại rồi từ đó lấy giá trị trung bình và suy ra số hạt chắc/bông

- Số hạt lép/bông: Đếm toàn bộ số hạt lép/bông của 10 khóm ở 3 lần nhắc lại rồi từ đó lấy giá trị trung bình và suy ra số hạt lép/bông

- Tổng số hạt/bông (hạt)

- Khối lượng nghìn hạt (g): Hạt thóc đã tách ra khỏi bông, phơi khô đến

độ ẩm 13 - 14%, tiến hành cân khối lượng 1000 hạt bằng cách như sau: Đếm mỗi lần 500 hạt, cân 2 lần được khối lượng P1, P2 nếu chênh lệch không quá 5% thì khối lượng 1000 hạt được tính theo công thức: P1000 hạt (g) = P1 + P2; nếu quá 5% thì đếm tiếp P3

- Năng suất thực thu (tạ/ha): gặt riêng từng ô mỗi ô 5m2 ở giữa, tuốt hạt, cân tươi, phơi khô, quạt sạch loại bỏ hạt lép, lửng, đo độ ẩm, cân tổng khối lượng

ô để tính năng suất hạt (độ ẩm 13%), lấy 2 kg thóc tươi đem phơi đến khối lượng không đổi rồi xác định độ ẩm hạt

- Hệ số kinh tế

Tổng KLCK

Trang 39

* Chỉ tiêu phẩm chất gạo (Khối lượng thóc đáng giá: 1kg)

* Hiệu quả kinh tế tập trung xác định các chỉ tiêu:

+ Thu nhập thuần = Tổng thu nhập - Tổng chi

+ Hiệu quả 1 đồng chi phí = Tổng thu/Tổng chi phí

Trong đó: Tổng thu nhập/ha = Sản lượng x giá bán

Tổng chi phí/ha: Giống, phân bón, thuốc trừ sâu, nilon, công lao động

3.4.5 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được xây dựng thành cơ sở dữ liệu trên Excel Sau đó số liệu được

xử lý bằng chương trình IRRISTAT 4.0

Trang 40

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA GIỐNG LÚA BC15 TRÊN HAI MỨC BÓN ĐẠM KHÁC NHAU TẠI Ý YÊN – NAM ĐỊNH

4.1.1 Ảnh hưởng của phân bón lá đến thời gian sinh trưởng của giống lúa BC15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại Ý Yên – Nam Định

Thời gian sinh trưởng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: thời vụ, điều kiện thời tiết, đặc tính nông sinh học của giống và kỹ thuật canh tác

Bảng 4.1 Ảnh hưởng của phân bón lá đến thời gian sinh trưởng của giống lúa

BC15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại Ý Yên – Nam Định

Ghi chú: P0: Phun nước lã, P1: Đầu Trâu 502, P2: Komic BFC.201, P3: K - Humat18000 ppm, P4: Chitosan, N1:

60 kg N/ha, N2: 90 kg N/ha, BĐ trỗ: bắt đầu trỗ, TGST: thời gian sinh trưởng

Kết quả (bảng 4.1) cho thấy các nền đạm khác nhau không ảnh hưởng nhiều đến thời gian sinh trưởng của lúa giống BC15 trong cả hai vụ Xuân và Mùa Tuy nhiên khi tăng lượng đạm bón thì thời gian sinh trưởng

Ngày đăng: 29/05/2016, 13:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới giai đoạn 2006 – 2013 - ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa bc15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại ý yên   nam định
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới giai đoạn 2006 – 2013 (Trang 15)
Bảng 1.5. Cơ cấu giống lúa vụ Xuân, vụ Mùa năm 2012 - ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa bc15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại ý yên   nam định
Bảng 1.5. Cơ cấu giống lúa vụ Xuân, vụ Mùa năm 2012 (Trang 20)
Hình 1.1: Chuyển hóa đạm trong đất - ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa bc15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại ý yên   nam định
Hình 1.1 Chuyển hóa đạm trong đất (Trang 27)
Bảng 4.1. Ảnh hưởng của phân bón lá đến thời gian sinh trưởng của giống lúa - ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa bc15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại ý yên   nam định
Bảng 4.1. Ảnh hưởng của phân bón lá đến thời gian sinh trưởng của giống lúa (Trang 40)
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của phân bón lá đến khả năng đẻ nhánh của giống lúa BC15 - ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa bc15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại ý yên   nam định
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của phân bón lá đến khả năng đẻ nhánh của giống lúa BC15 (Trang 44)
Bảng 4.4a. Ảnh hưởng của phân bón lá đến chỉ số diện tích lá (LAI) của giống - ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa bc15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại ý yên   nam định
Bảng 4.4a. Ảnh hưởng của phân bón lá đến chỉ số diện tích lá (LAI) của giống (Trang 46)
Bảng 4.5b. Ảnh hưởng của phân bón lá đến khối lượng chất khô tích lũy của - ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa bc15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại ý yên   nam định
Bảng 4.5b. Ảnh hưởng của phân bón lá đến khối lượng chất khô tích lũy của (Trang 50)
Bảng 4.6b. Ảnh hưởng của phân bón lá đến tốc độ tích lũy chất khô - ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa bc15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại ý yên   nam định
Bảng 4.6b. Ảnh hưởng của phân bón lá đến tốc độ tích lũy chất khô (Trang 52)
Bảng 4.7. Ảnh hưởng của phân bón lá đến tình hình sâu bệnh hại của giống lúa - ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa bc15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại ý yên   nam định
Bảng 4.7. Ảnh hưởng của phân bón lá đến tình hình sâu bệnh hại của giống lúa (Trang 53)
Bảng 4.9. Ảnh hưởng của  phân bón lá đến hệ số kinh tế  giống lúa BC15 trên hai - ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa bc15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại ý yên   nam định
Bảng 4.9. Ảnh hưởng của phân bón lá đến hệ số kinh tế giống lúa BC15 trên hai (Trang 61)
Hình 1: Gieo mạ thí nghiệm - ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa bc15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại ý yên   nam định
Hình 1 Gieo mạ thí nghiệm (Trang 124)
Hình 3 : Ruộng thí nghiệm giai đoạn chín( CT1 – Phun phân bón lá Đầu trâu) - ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa bc15 trên hai mức bón đạm khác nhau tại ý yên   nam định
Hình 3 Ruộng thí nghiệm giai đoạn chín( CT1 – Phun phân bón lá Đầu trâu) (Trang 125)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm