- Theo quan hệ điều hành và căn cứ vào tính chất của chủ thể thực hiện thủ tục: TTHC là trình tự về thời gian, không gian và là cách thức giải quyết công việc của cơ quan hành chính nhà
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP – 2016
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN ĐỨC MINH
TỔ CHỨC THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA Ở NGÀNH LAO ĐỘNG –
THƯƠNG BINH
VÀ XÃ HỘI TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10 Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đỗ Kim Chung
HÀ NỘI - 2016
Trang 3Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Đức Minh
Trang 4Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc GS.TS Đỗ Kim Chung đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,
Bộ môn kinh tế nông nghiệp và chính sách, Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ công chức, viên chức Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Giang đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Học viên
Nguyễn Đức Minh
Trang 5Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iv
MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục từ viết tắt vii
Danh mục bảng vii
Danh mục sơ đồ, hình, đồ thị ix
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5
2.1 Cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa 5
2.1.1 Các khái niệm, đặc điểm về triển khai thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” 5
2.1.2 Quy trình thực hiện cơ chế một cửa 13
2.1.3 Vai trò của thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa 16
2.1.4 Nội dung nghiên cứu về triển khai thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” 17
2.1.5 Yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa 25
2.2 Cơ sở thực tiễn 29
2.2.1 Triển khai có hiệu quả các thủ tục hành chính với công dân theo cơ chế một cửa ở một số nước khác trên thế giới 29
Trang 6Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page v
2.2.2 Triển khai TTHC theo cơ chế “một cửa” tại Việt Nam 31
2.2.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra 34
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 36
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 36
3.1.2 Đặc điểm về phát triển Kinh tế - Xã hội 39
3.2 Phương pháp nghiên cứu 41
3.2.1 Phương pháp tiếp cận 41
3.2.2 Chọn điểm nghiên cứu 42
3.2.3 Thu thập số liệu 42
3.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 43
3.2.5 Phương pháp phân tích 43
3.2.6 Chỉ tiêu phân tích 44
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45
4.1 Thực trạng tổ chức thực hiện các thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa ở ngành Lao Động - Thương Binh và Xã Hội tỉnh Bắc Giang 45
4.1.1 Căn cứ các quy định về thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa của ngành Lao Động - Thương Binh và Xã Hội 45
4.1.2 Quy trình giải quyết TTHC theo cơ chế “một cửa” 45
4.1.3 Tổ chức bộ phận giao dịch một cửa 49
4.1.4 Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ 51
4.1.5 Triển khai nội dung TTHC theo cơ chế một cửa 53
4.1.6 Kết quả thực hiện các TTHC theo cơ chế một cửa của ngành Lao Động - Thương Binh và Xã Hội tỉnh Bắc Giang 56
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa đối với ngành LĐTBXH tỉnh Bắc Giang 85
4.2.1 Các quy định của Nhà nước đối với việc thực hiện các TTHC 85
4.2.2 Sự phản hồi của người dân về TTCCHC theo cơ chế một cửa 85
4.2.3 Tinh thần quyết tâm, tổ chức, chỉ đạo điều hành của cấp trên và của ngành 86
Trang 7Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vi
4.2.4 Năng lực, trình độ, đạo đức phẩm chất của cán bộ, công chức 87
4.2.5 Cơ sở vật chất, trang thiết bị và ứng dụng công nghệ thông tin để thực hiện các thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa ở ngành LĐTBXH 89
4.2.6 Cải cách hành chính công 90
4.2.7 Phí và lệ phí 90
4.3 Các giải pháp hoàn thiện việc thực hiện thủ tục hành chính với theo cơ chế một cửa ở ngành Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Giang 90
4.3.1 Xây dựng các quy định về thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa 91
4.3.2 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức 91
4.3.3 Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức 91
4.3.4 Hiện đại hóa nền hành chính 92
4.3.5 Cải cách hành chính công 92
4.3.6 Tiếp nhận và bàn giao hồ sơ 92
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94
5.1 Kết luận 94
5.2 Kiến nghị 96
5.2.1 Đối với UBND tỉnh 96
5.2.2 Đối với các sở, ban ngành 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 99
Trang 8Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 9Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page viii
DANH MỤC BẢNG
3.1 Thống kê diện tích và địa hình tỉnh Bắc Giang 37
3.2 Số lượng đơn vị hành chính trên địa bàn Tỉnh Bắc Giang 39
3.3 Tăng trưởng GDP và cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Giang 41
3.4 Thông tin thứ cấp được thu thập 42
4.1 Thống kê một số tiêu chí thực hiện cải cách hành chính năm 2014 48
4.2 Số cán bộ, công chức làm việc tại bộ phận một cửa 51
4.3 Trang thiết bị tại Bộ phận Một cửa 52
4.4 Đánh giá của cán bộ nhân viên về trang thiết bị phục vụ quá trình làm thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa 53
4.5 Tổng số TTHC được công khai và giải quyết theo cơ chế một cửa năm 2012 - 2014 58
4.6 Tổng số hồ sơ tiếp nhận năm 2012 – 2014 58
4.7 Tổng số hồ sơ tiếp nhận của một số lĩnh vực điển hình 59
4.8 Kết quả giải quyết TTHC theo cơ chế một cửa qua 3 năm 61
4.9 Kết quả giải quyết TTHC qua cơ chế một cửa tại một số lĩnh vực điển 61
4.10 Kết quả giải quyết TTHC tại các phòng ban chuyên môn qua 3 năm 62
4.11 Kết quả giải quyết và trả qua bộ phận một cửa năm 2012 64
4.12 Kết quả giải quyết và trả qua bộ phận một cửa năm 2013 65
4.13 Kết quả giải quyết và trả qua bộ phận một cửa năm 2014 67
4.14 Kết quả giải quyết thủ tục xác nhận và hưởng chế độ ưu đãi đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học 68
4.15 Kết quả giải quyết thủ tục quyết định trợ cấp tiền tuất hàng tháng đối với vợ hoặc chồng liệt sĩ lấy chồng hoặc vợ khác 69
4.16 Kết quả giải quyết thủ tục cấp giấy phép lao động cho lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam 70
4.17 Kết quả giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp 72
4.18 Đánh giá sự hài lòng của người dân về sự phục vụ hành chính 74
Trang 10Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page ix
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH, ĐỒ THỊ
Số sơ đồ Tên sơ đồ Trang
2.2 Quy trình thực hiện cơ chế một cửa liên thông 14 4.1 Quy trình triển khai việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ theo cơ chế
4.3 Đánh giá của người tham gia thực hiện các thủ tục hành chính đối
với đạo đức, phẩm chất của cán bộ, công chức liên quan 88
Trang 11Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 1
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính luôn là vấn đề bức xúc, được Chính phủ và các cấp, các ngành quan tâm Ở nhiều cơ quan hành chính nhà nước, thủ tục hành chính còn rườm rà, thiếu công khai, minh bạch; quy trình, thời gian giải quyết công việc không rõ ràng đã gây phiền hà, lãng phí thời gian, tiền bạc, công sức của công dân và cán
bộ, công chức
Khi tình trạng giải quyết thủ tục hành chính không minh bạch, công khai, bên cạnh tính thiếu hiệu quả trong giải quyết công việc sẽ phát sinh nhiều tiêu cực, làm mất lòng tin của nhân dân với các cơ quan Đảng và Chính quyền Có thể nói thủ tục hành chính hiện nay đã trở thành một phần của môi trường hoạt động kinh tế - xã hội, trong đó việc tổ chức thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa đối với Ngành Lao động - Thương binh Xã hội có ý nghĩa quan trọng đối với cả nước nói chung và đối với tỉnh Bắc Giang nói riêng trong giai đoạn hiện nay
Thực hiện cơ chế "một cửa" cũng đã góp phần tăng cường năng lực, trách nhiệm của cán bộ, công chức và cơ quan nhà nước, kỹ năng, nghiệp vụ hành chính, cũng như tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhằm xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Mặt khác, cơ chế "một cửa" đã điều chỉnh mối quan hệ giữa nhân dân và công chức, tạo cơ chế giám sát, quản lý của nhân dân đối với cơ quan nhà nước, giữa lãnh đạo với cán bộ, công chức thuộc quyền, thể hiện rõ bản chất của công tác cải cách thủ tục hành chính đặc biệt là đối với ngành thương binh xã hội
Xác định lĩnh vực lao động, thương binh và xã hội có nhiều thủ tục hành chính (TTHC), liên quan trực tiếp đến quyền lợi, chế độ chính sách của công dân, lãnh đạo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội luôn đổi mới phương thức quản
Trang 12Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 2
lý, điều hành công việc Quán triệt chủ trương cải cách hành chính (CCHC) của tỉnh, Sở chỉ đạo các phòng chuyên môn thực hiện giải quyết công việc theo cơ chế “Một cửa” tập trung tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Sở
Nhờ chủ động triển khai ứng dụng phần mềm điện tử, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, công chức, viên chức, đến nay, đạt 91,6% TTHC thực hiện tại Bộ phận này Từ tháng 7- 2013 đến nay, Sở tiếp tục triển khai “Một cửa điện tử liên thông” với 8 huyện, TP, giải quyết 10 TTHC với 26 mục thuộc lĩnh vực người có công Nếu như trước đây, người dân phải trực tiếp lên Sở nộp hồ sơ và thường đi lại nhiều lần nếu chưa đầy đủ giấy tờ, thông tin thì nay khi thực hiện “Một cửa điện tử liên thông”, công dân chỉ cần đến bộ phận
“Một cửa” của xã làm thủ tục; cán bộ huyện 1 lần lên Sở nhận kết quả và nộp hồ
sơ gốc Cách làm này rút ngắn quy trình, tiết kiệm thời gian, giảm đáng kể chi phí đi lại cho người dân và cán bộ cơ sở”
Việc triển khai thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa tại ngành Lao động - Thương Binh và Xã Hội trên địa bàn tỉnh Bắc Giang còn thiếu đồng
bộ, thủ tục giải quyết một số loại hồ sơ hành chính còn bị cắt khúc theo cấp hành chính, chưa tạo thành quy trình giải quyết thống nhất từ Trung ương đến địa phương nên còn gây phiền hà cho tổ chức, công dân khi thực hiện các giao dịch hành chính Công tác tuyên truyền về cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế
"một cửa" tiến hành chưa mạnh và thiếu chiều sâu Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động của bộ phận "một cửa" của cơ quan hành chính thuộc ngành tại các cấp ở một số địa phương chưa được quan tâm hỗ trợ đầy đủ, thiếu thông tin, không cập nhật kịp thời các quy định mới, nhiều nơi công khai thủ tục nhưng lại thiếu mẫu đơn, mẫu tờ khai
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Tổ chức thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa ở ngành Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Giang” làm luận văn nghiên cứu của mình
Trang 13Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 3
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu việc tổ chức thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa
ở ngành Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Giang, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa ở ngành và đề xuất giải pháp hoàn thiện việc tổ chức thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa ở ngành tại tỉnh Bắc Giang trong những năm tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn việc tổ chức thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa ở ngành Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Giang;
- Đánh giá được thực trạng triển khai các thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa ở ngành Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Giang;
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa ở ngành Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Giang;
- Đề xuất được các giải pháp hoàn thiện việc tổ chức thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa ở ngành Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Giang trong những năm tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các vấn đề có tính lý luận và thực tiễn trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa ở ngành Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Giang
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi nội dung
Luận văn tập trung nghiên cứu quy trình tổ chức thực hiện thủ tục hành chính tại 04 TTHC điển hình: Thủ tục xác nhận và hưởng chế độ ưu đãi đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, Thủ tục quyết định trợ cấp tiền tuất hàng tháng đối với vợ hoặc chồng liệt sĩ lấy chồng hoặc vợ khác, Thủ tục cấp giấy phép lao động cho lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam Thủ
Trang 14Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 4
tục giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp theo cơ chế một cửa ở ngành Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Giang
Trang 15Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 5
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa
2.1.1 Các khái niệm, đặc điểm về triển khai thực hiện thủ tục hành chính theo
và tư pháp là ba nhóm thủ tục: thủ tục lập pháp, thủ tục hành pháp và thủ tục tư pháp Trong hoạt động quản lý nói chung và trong hoạt động của cơ quan nhà nước nói riêng, để giải quyết được bất cứ công việc nào cũng đều cần có những
thủ tục phù hợp (Hoàng Thị Hồng Quyên, 2015)
Khái ni ệm thủ tục hành chính
Có nhiều cách hiểu khác nhau về thủ tục hành chính Nhưng theo tinh thần nội dung các văn kiện của Đảng và các văn bản pháp luật thì “thủ tục hành chính được hiểu là tổng thể những hành vi pháp lý cần thiết phải thực hiện theo cách thức, trình tự do pháp luật xác định nhằm tổ chức nhiệm vụ, quyền hạn hay quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong quản lý hành chính nhà nước
Thủ tục hành chính là bộ phận cơ bản của thể chế hành chính Nhà nước, là công cụ của cơ quan hành chính Nhà nước được sử dụng để giải quyết công việc cho công dân, tổ chức, là cơ sở để xác định tính hợp pháp của nền công vụ
Theo các cách tiếp cận khác nhau thì TTHC cũng được hiểu khác nhau Một số cách tiếp cận chủ yếu là:
Trang 16Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 6
- Theo cách tiếp cận thông thường: TTHC là hồ sơ, giấy tờ mà người dân cần phải nộp cho cơ quan chính quyền khi đến để giải quyết công việc về hành chính (Nguyễn Văn Thân, 2009)
- Theo quan hệ điều hành và căn cứ vào tính chất của chủ thể thực hiện thủ tục: TTHC là trình tự về thời gian, không gian và là cách thức giải quyết công việc của cơ quan hành chính nhà nước trong mối quan hệ với các cơ quan,
tổ chức và cá nhân công dân (Nguyễn Văn Thân, 2009)
- Theo khoa học pháp lý: toàn bộ các quy tắc pháp lý quy định về trình
tự, trật tự, thực hiện thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong việc giải quyết nhiệm vụ nhà nước và công việc liên quan đến công dân tạo thành hệ thống quy phạm thủ tục, có tính bắt buộc các cơ quan nhà nước cũng như các cán bộ, công chức nhà nước phải tuân theo trong quá trình giải quyết công việc thuộc chức năng và thẩm quyền của mình Nó nhằm bảo đảm cho công việc đạt được mục đích đã định, phù hợp với thẩm quyền, chức năng do luật quy định cho các cơ quan trong hoạt động quản lý nhà nước (Lê Chi Mai, 2003)
- Xét trong nội bộ của bộ máy hành chính, TTHC là cách thức giải quyết công việc, là trình tự thực hiện thẩm quyền của các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước để giải quyết các công việc cụ thể của cơ quan mình
- Xét trong mối quan hệ với đối tượng quản lý, TTHC được hiểu là quan
hệ giữa cơ quan nhà nước với công dân trong quá trình giải quyết công việc của dân, theo yêu cầu bảo vệ quyền lợi của công dân và của nhà nước, cũng như thực hiện đúng nghĩa vụ của các bên (Lê Chi Mai, 2003)
Tóm lại, TTHC là một loại quy phạm pháp luật quy định trình tự về thời gian, về không gian khi thực hiện một thẩm quyền nhất định của bộ máy nhà nước, là cách thức giải quyết công việc của các cơ quan nhà nước trong mối quan
hệ với các cơ quan, tổ chức và cá nhân công dân; đồng thời nó cũng gắn với thái
độ, cách thức ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức và cá nhân
Trang 17Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 7
Khái ni ệm thực hiện thủ tục hành chính
Thực hiện TTHC được hiểu là việc cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bằng trình độ, kỹ năng chuyên môn đã được đào tạo, áp dụng các TTHC để giải quyết nhu cầu cho cơ quan, tổ chức, cá nhân theo đúng quy định của pháp luật (Nguyễn Văn Thân, 2009)
+ Nguyên tắc thực hiện TTHC:
− Công khai, minh bạch
− Khách quan, công bằng
− Liên thông, kịp thời, chính xác, không gây phiền hà
− Quyền được phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức
− Đề cao trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong giải quyết công việc cho cá nhân, tổ chức (Hoàng Thị Hồng Quyên,2015)
+ Nghĩa vụ của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện TTHC:
− Cơ quan nhà nước phải quy định rõ ràng về chế độ công vụ, quy chế làm việc để tránh tình trạng vô trách nhiệm, giảm bớt phiền hà trong quá trình giải quyết công việc
− Công khai hóa các TTHC dưới các hình thức thích hợp
− Thường xuyên tiến hành rà soát các TTHC liên quan đến hoạt động của cơ quan nêu trong các văn bản quy phạm pháp luật của các cấp có thẩm quyền
− Có sự phân công trách nhiệm rõ ràng và sự hợp tác chặt chẽ trong quá trình thực hiện các TTHC
− Có cán bộ đủ trình độ nghiệp vụ để thực thi công vụ
− Thực hiện đầy đủ các giai đoạn trong giải quyết các vụ việc cụ thể
Khái ni ệm về cải cách thủ tục hành chính
Theo nghĩa chung nhất, cải cách là một biện pháp được thực hiện để giải quyết những đòi hỏi của thực tiễn với mục tiêu rõ ràng, chương trình cụ thể và yêu cầu phải hoàn tất trong một thời gian nhất định
CCHC có thể được hiểu như là một quá trình thay đổi nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả hành chính, cải tiến tổ chức, chế độ và phương pháp hành chính
Trang 18Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 8
cũ, xây dựng chế độ và phương thức hành chính mới trong lĩnh vực quản lý của
bộ máy hành chính nhà nước Cải cách TTHC là điều kiện cần thiết để tăng cường củng cố mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân, tăng cường sự tham gia quản lý nhà nước của nhân dân Cải cách thủ tục được coi là khâu đột phá trong cải cách nền hành chính nhà nước, nghĩa là để tạo sự chuyển động của toàn bộ hệ thống nền hành chính quốc gia; TTHC là khâu được chọn đầu tiên, cải cách thủ tục hành chính sẽ gây ra sự chuyển động của toàn bộ hệ thống khi bị tác động (Hoàng Thị Hồng Quyên, 2015)
Hiện nay TTHC ở nước ta còn nhiều nhược điểm: hình thức đòi hỏi quá nhiều giấy tờ, gây phiền hà cho nhân dân; nặng nề, nhiều cửa, nhiều cấp trung gian, rườm rà, không rõ ràng về trách nhiệm; không phù hợp với yêu cầu của thời
kỳ mở cửa và hội nhập TTHC thiếu thống nhất, thường bị thay đổi một cách tuỳ tiện, thiếu công khai, minh bạch
Hậu quả của những nhược điểm trên là gây phiền hà cho việc thực hiện quyền tự do, lợi ích và công việc chung của cơ quan, gây trở ngại cho việc giao lưu và hợp tác giữa nước ta với nước ngoài, gây ra tệ cửa quyền, bệnh giấy tờ trong hệ thống cơ quan hành chính, là nơi thuận lợi cho nạn tham nhũng, lãng phí phát sinh, hoành hành
Chính vì vậy, cải cách TTHC là yêu cầu bức xúc của nhân dân, doanh nghiệp, của các tổ chức và nhà đầu tư nước ngoài, là khâu đột phá của tiến trình CCHC nhà nước Trong tiến trình phát triển và hội nhập, cải cách TTHC có một vai trò đặc biệt quan trọng Nếu TTHC nói riêng, nền hành chính nói chung không được hay chậm cải cách thì sẽ là một rào cản kìm hãm sự phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước ta Nghị quyết 38/CP ngày 1/5/1994 của Chính phủ “Về cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức” là khâu đột phá trong CCHC nhà nước đã phát huy tác dụng và đạt được những kết quả nhất định trong thời gian qua Tuy nhiên, trước yêu cầu hội nhập ngày càng sâu rộng, TTHC cần phải cải cách mạnh mẽ hơn nữa
Ngày 17/9/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số TTg phê duyệt Chương trình tổng thể Cải cách hành chính nhà nước giai đoạn
Trang 19136/2001/QĐ-Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 9
2001-2010, trong đó nêu rõ một trong chín mục tiêu cụ thể của chương trình cải cách là: “Xoá bỏ về cơ bản các thủ tục hành chính mang tính quan liêu, rườm rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân; hoàn thiện các thủ tục hành chính mới theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho dân”
Ngày 04/9/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số TTg, mục đích thể chế hóa mối quan hệ TTHC giữa Chính phủ và xã hội thông qua việc sử dụng cơ chế một cửa
Ngày 10/01/2007, Thủ tướng đã ban hành Quyết định số 30/QĐ-TTg nhằm phê chuẩn dự án đơn giản hóa TTHC trong tất cả các lĩnh vực của quản lý nhà nước từ năm 2007 đến năm 2010 Văn phòng Chính phủ được giao nhiệm vụ theo dõi đôn đốc việc thực hiện quyết định của các cơ quan hành chính tại tất cả các cấp Quyết định 30 tập trung vào bốn lĩnh vực: đơn giản hóa TTHC trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước; đơn giản hóa các điều kiện kinh doanh; đơn giản hóa các mẫu đăng ký, các bản kê khai hành chính được sử dụng cho các hồ sơ TTHC; và các cơ chế để tiếp nhận và giải quyết các ý kiến phản hồi và kiến nghị của cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp về các cơ chế chính sách và các thủ tục không phù hợp
Ngày 22/6/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định 93/2007/QĐ-TTg, thay thế Quyết định 181/2003/QĐ-TTg, về việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
Hiện nay, cải cách TTHC được đặt ra trong môi trường hội nhập và phát triển, với những yêu cầu của quá trình cải cách TTHC cơ bản là:
- Bảo đảm tính thống nhất của hệ thống TTHC
- Bảo đảm sự chặt chẽ của hệ thống TTHC
- Bảo đảm tính hợp lý của TTHC
- Bảo đảm tính khoa học của quy trình thực hiện các TTHC đã ban hành
- Bảo đảm tính rõ ràng và công khai của các TTHC
- Dễ hiểu, dễ tiếp cận
- Có tính khả thi
Trang 20Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 10
- Bảo đảm tính ổn định cần thiết của quy trình TTHC
Để đáp ứng yêu cầu trên và để phù hợp với những yêu cầu của hành chính phát triển và hội nhập, chúng ta cần phải xây dựng những cơ chế thích hợp cho việc thực hiện các TTHC đã ban hành
Những cơ chế đã, đang được nghiên cứu, xây dựng và đưa vào áp dụng trong tiến trình phát triển và hội nhập hiện nay là thực hiện cải cách TTHC theo hướng một cửa tiến tới một dấu, thông qua các hình thức:
Nghị quyết 30c/NQ-CP về chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011 – 2020 đã nêu rõ nhiệm vụ cải cách TTHC bao gồm:
- Cắt giảm và nâng cao chất lượng TTHC trong tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước, nhất là TTHC liên quan tới người dân, doanh nghiệp;
- Trong giai đoạn 2011 - 2015, thực hiện cải cách TTHC để tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, giải phóng mọi nguồn lực của xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, bảo đảm điều kiện cho nền kinh tế của đất nước phát triển nhanh, bền vững Một số lĩnh vực trọng tâm cần tập trung là: đầu tư; đất đai; xây dựng; sở hữu nhà ở; thuế; hải quan; xuất khẩu, nhập khẩu; y tế; giáo dục; lao động; bảo hiểm; khoa học, công nghệ và một số lĩnh vực khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định theo yêu cầu cải cách trong từng giai đoạn;
- Cải cách TTHC giữa các cơ quan hành chính nhà nước, các ngành, các cấp và trong nội bộ từng cơ quan hành chính nhà nước;
- Kiểm soát chặt chẽ việc ban hành mới các TTHC theo quy định của pháp luật;
Trang 21Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 11
- Công khai, minh bạch tất cả các TTHC bằng các hình thức thiết thực và thích hợp; thực hiện thống nhất cách tính chi phí mà cá nhân, tổ chức phải bỏ ra khi giải quyết TTHC tại cơ quan hành chính nhà nước; duy trì và cập nhật cơ sở
dữ liệu quốc gia về TTHC;
- Đặt yêu cầu cải cách TTHC ngay trong quá trình xây dựng thể chế, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tăng cường đối thoại giữa Nhà nước với doanh nghiệp và nhân dân; mở rộng dân chủ, phát huy vai trò của các tổ chức và chuyên gia tư vấn độc lập trong việc xây dựng thể chế, chuẩn mực quốc gia về TTHC; giảm mạnh các TTHC hiện hành; công khai các chuẩn mực, các quy định hành chính để nhân dân giám sát việc thực hiện;
Tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về các quy định hành chính để hỗ trợ việc nâng cao chất lượng các quy định hành chính và giám sát việc thực hiện TTHC của các cơ quan hành chính nhà nước các cấp (Đỗ Ngọc Lan, 2010)
Khái ni ệm về cơ chế một cửa
Khái niệm quy chế “một cửa” lần đầu tiên được sử dụng trong Quyết định
số 366/HĐBT ngày 07/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), ban hành quy chế thẩm định các dự án có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài Theo
đó, bộ phận “một cửa” được hiểu là nguyên tắc làm việc của các ban quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất của Thành phố Hồ Chí Minh
Theo Quyết định số 181/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, quy chế
“một cửa’ được hiểu là quy chế giải quyết mọi công việc của tổ chức, công dân thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính Nhà nước Từ tiếp nhận yêu cầu tới trả kết quả giải quyết TTHC đều thông qua một đầu mối là “Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả”
Cùng với yêu cầu phát triển và hội nhập, cải cách thủ tục hành chính ở nước ta từng bước được định hình về nội dung, phương hướng triển khai với những bước đi, cách làm nhằm bảo đảm bộ máy hành chính phục vụ tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Trên lộ trình thực hiện Nghị quyết 38/CP của Chính phủ, cơ chế “một cửa” đã ra đời và được thí điểm rộng rãi trên cả nước
“Cơ chế “một cửa” là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân bao gồm
Trang 22Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 12
cả tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của một cơ quan hành chính nhà nước, từ hướng dẫn, tiếp nhận giấy tờ, hồ sơ, giải quyết đến trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối duy nhất là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của cơ quan hành chính nhà nước đó” (Trịnh Thị Mai, 2012)
Thực chất, “Cơ chế “một cửa” là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức,
cá nhân thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp hoặc giữa các cấp hành chính từ hướng dẫn, tiếp nhận giấy tờ, hồ sơ giải quyết đến trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của một cơ quan hành chính nhà nước
2.1.1.2 Đặc điểm của việc triển khai thực hiện các thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa ở ngành Lao Động – Thương Binh và Xã Hội
Bộ TTHC bao gồm nhiều lĩnh vực, trong 1 lĩnh vực bao gồm nhiều thủ tục hành chính khác nhau
TTHC được điều chỉnh bằng các quy phạm TTHC
TTHC là trình tự thực hiện thẩm quyền trong quản lý hành chính nhà nước TTHC rất đa dạng, phức tạp Tính đa dạng, phức tạp đó được quy định bởi hoạt động quản lý nhà nước
So với các quy phạm nội dung của Luật Hành chính thì TTHC có tính năng động hơn và đòi hỏi phải thay đổi nhanh hơn một khi thực tế cuộc sống đã
có những yêu cầu mới
Cơ quan cung cấp dịch vụ hành chính công của Sở Lao Động Thương Binh và Xã Hội tỉnh Bắc Giang có số lượng cán bộ, công chức làm việc tại Bộ phận này căn cứ vào lĩnh vực công tác được áp dụng thực hiện theo cơ chế “ một cửa”, thông thường cán bộ có khoảng 4 đến 5 người nhưng lại phục vụ một lượng lớn người dân đến làm thủ tục hành chính
Nhận thức của người dân về TTHC còn hạn chế, mơ hồ
Bị giới hạn bởi nguồn lực: Cán bộ công chức, viên chức Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả nhiều nơi chuyên môn nghiệp vụ còn chưa cao; chưa đáp ứng được nhu cầu đặc thù công việc được giao, giải thích và hướng dẫn công dân còn chưa rõ ràng khiến người dân phải đi lại nhiều lần
Trang 23Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 13
2.1.2 Quy trình thực hiện cơ chế một cửa
Có thể mô tả quy trình thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế này qua sơ đồ:
Sơ đồ 2.1 Quy trình thực hiện cơ chế một cửa
Trong nhiều năm nay, cải cách hành chính nổi lên thành một vấn đề bức xúc
Ở nhiều cơ quan nhà nước, những TTHC rườm rà, những quy trình không rõ ràng đã làm lãng phí rất nhiều thì giờ, tiền bạc, công sức của công dân và cán bộ công chức Khi tình trạng giải quyết TTHC không tốt, bên cạnh tính thiếu hiệu quả trong giải quyết côn việc sẽ phát sinh ra những tệ nạn làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng và Chính phủ Có thể nói TTHC hiện nay đã trở thành một phần của môi trường hoạt động kinh tế - xã hội trong thời kì công nghiệp hóa - hiện đại hóa, khi chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường Một chính quyền mạnh không chỉ thể hiện ở đường lối chính trị mà còn phải thể hiện ở cách thực hiện các hoạt động hành chính, Do đó, việc thực hiện
cơ chế một cửa, một cửa liên thông nhằm đạt một số yêu cầu như sau:
Việc thực hiện cơ chế “một cửa liên thông” nhằm đạt được bước chuyển căn bản trong quan hệ và thủ tục giải quyết công việc giữa cơ quan hành chính nhà nước với tổ chức, công dân, giảm phiền hà cho tổ chức, công dân, chống tệ quan liêu, tham nhũng, cửa quyền của cán bộ, công chức Cơ chế “một cửa liên thông” góp phần nâng cao chất lượng công vụ, ý thức tổ chức kỷ luật cũng như tinh thần, thái độ phục vụ tổ chức, công dân của đội ngũ cán bộ, công chức
Tổ chức,
công dân
có yêu cầu
Bộ phận tiếp nhận
và trả kết quả
Các phòng ban chuyên môn
Thủ trưởng cơ quan
Trang 24Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 14
Gửi Trả
Sơ đồ 2.2 Quy trình thực hiện cơ chế một cửa liên thông
+ Khái niệm
“Cơ chế một cửa liên thông” là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan hành chính nhà cùng cấp hoặc giữa các cấp hành chính từ hướng dẫn, tiếp nhận giấy tờ, hồ sơ, giải quyết đến trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của một cơ quan hành chính nhà nước (Đỗ Ngọc Lan, 2010)
+ Quy trình làm việc
Tổ chức, cá nhân có yêu cầu giải quyết công việc được quy định áp dụng
cơ chế một cửa liên thông liên hệ, nộp hồ sơ tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của một cơ quan hành chính nhà nước theo quy định
Cán bộ, công chức làm việc tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả có trách nhiệm xem xét hồ sơ của tổ chức, cá nhân:
a Trường hợp yêu cầu của tổ chức, cá nhân không thuộc thẩm quyền giải quyết thì hướng dẫn để tổ chức, cá nhân đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết
b Trường hợp hồ sơ chưa đúng, chưa đủ theo quy định thì hướng dẫn cụ thể một lần, đầy đủ để tổ chức, cá nhân bổ sung, hoàn chỉnh
Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả căn cứ vào tính chất công việc có trách nhiệm xem xét, xử lý theo quy trình sau:
Tổ chức,
CD có yêu
cầu
Cơ quan liên quan
Các phòng ban chuyên môn
Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
Thủ trưởng
cơ quan
Cơ quan liên quan
Trang 25Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 15
a Trình lãnh đạo trực tiếp để giải quyết theo trách nhiệm thẩm quyền
b Trực tiếp liên hệ với các cơ quan liên quan để giải quyết hồ sơ Các cơ quan liên quan có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ, giải quyết theo thẩm quyền, đúng thời gian quy định
c Nhận kết quả, trả lại cho tổ chức, cá nhân, thu phí, lệ phí theo quy định của pháp luật
Cơ chế “một cửa điện tử” góp phần làm rõ, đúng trách nhiệm của bộ máy
cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong giải quyết công việc liên quan đến tổ chức, công dân; góp phần sắp xếp lại tổ chức bộ máy các cơ quan hành chính nhà nước theo hướng gọn nhẹ, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả
+ Vai trò, ý nghĩa của cơ chế “một cửa, một cửa liên thông”
Việc áp dụng cơ chế “một cửa” và “một cửa liên thông” là một biện pháp hữu hiệu trong cải cách thủ tục hành chính, đồng thời đẩy nhanh tốc độ cải cách hành chính trên các nội dung khác
Quá trình xây dựng quy trình thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”,
“một cửa liên thông” buộc các cơ quan hành chính nhà nước phải tiến hành rà soát lại toàn bộ những thủ tục hành chính có liên quan, các yêu cầu về hồ sơ giấy
tờ, mẫu văn bản Qua đó, các cơ quan chủ động phát hiện ra những bước, những yêu cầu, thủ tục không cần thiết, rườm rà để loại bỏ; hệ thống hóa, hợp lý hóa hệ thống văn bản, mẫu thủ tục, quy trình thủ tục
Quy trình thủ tục được hợp lý hóa, khoa học làm giảm thiểu thời gian cũng như sự phức tạp của các thủ tục hành chính khiến cho tiến độ giải quyết các thủ tục hành chính của cán bộ, công chức nhà nước được đẩy nhanh hơn, tình trạng dồn ứ, chậm giải quyết các hồ sơ hành chính vì thế mà sẽ giảm đáng kể Cùng với đó, việc đẩy mạnh công khai hóa thủ tục hành chính, quy trình thủ tục, các loại giấy tờ hồ sơ, lệ phí sẽ làm tăng tính minh bạch trong quản lý nhà nước, chống lại hiện tượng sách nhiễu của cán bộ công chức lợi dụng sự thiếu thông tin hiểu biết của công dân để gây khó dễ Đây là điều hết sức quan trọng giúp gia tăng sự hài lòng, củng cố niềm tin của nhân dân vào hoạt động quản lý nhà nước (Hoàng Thị Hồng Quyên, 2015)
Trang 26Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 16
2.1.3 Vai trò của thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa
Các quy ết định hành chính được thi hành một cách có hiệu quả
Nếu không thực hiện các thủ tục hành chính cần thì một quyết định hành chính sẽ không được đưa vào thực tế hoặc bị hạn chế tác dụng (Trần Đức Phương, 2010)
Thủ tục càng cơ bản thì ý nghĩa này càng lớn, bởi thủ tục cơ bản thường tác động đến giai đoạn cuối cùng của quá trình thi hành quyết định hành chính, đến hiệu quả của việc thực hiện chúng
Vi ệc thi hành các quyết định được thống nhất và có thể kiểm tra được tính hợp pháp, hợp lý cũng như các hệ quả của việc thực hiện các quyết định hành chính tạo ra
Đây là ý nghĩa hết sức quan trọng của thủ tục hành chính vì thủ tục hành chính sẽ góp phần đảm bảo cho các quyết đình hành chính được công khai đến mọi đối tượng sẽ tạo điều kiện cho những đối tượng phải thi hành quyết định hành chính hiểu rõ mình phải làm gì, bên cách đó còn giúp kiểm tra các quyết định hành chính có hợp pháp và hợp lý không vì một quyết định hành chính phải trải qua nhiều bước do đó có thể kiểm tra tính hợp pháp và hợp lý của những quyết định hành chính trong những bước đó (Trần Đức Phương, 2010)
T ạo ra khả năng sáng tạo trong việc thực hiện các quyết định quản lý
Thủ tục hành chính liên quan đến quyền lợi công dân, do vậy, khi xây dựng hợp lý và vận dụng tốt vào đời sống nó sẽ có ý nghĩa rất thiết thực, làm giảm sự phiền hà củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước với dân, công việc sẽ được giải quyết nhanh chóng kịp thời và chính xác theo đúng yêu cầu của cơ quan nhà nước, góp phần chống được tệ nạn tham nhũng, sách nhiễu (Trần Đức Phương, 2010)
Là công c ụ điều hành cần thiết của tổ chức hành chính
Thủ tục hành chính là công cụ điều hành của các tổ chức hành chính nếu thiếu thủ tục hành chính thì hoạt động điều hành của những tổ chức hành chính không thể thực hiện được vì hoạt động điều hành có mối quan hệ gắn bó mật thiết với thủ tục hành chính, thủ tục hành chính là phương tiện là công cụ cho hoạt đọng điều hành của các tổ chức hành chính (Trần Đức Phương, 2010)
Trang 27Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 17
2.1.4 Nội dung nghiên cứu về triển khai thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”
2.1.4.1 Xây dựng các quy định về thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa của ngành lao động thương binh và xã hội
Hệ thống văn bản pháp luật có tính chất định hướng đối với việc triển khai các thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, vì thế khi mà hệ thống pháp luật đồng bộ, đầy đủ và có tính áp dụng thực tiễn cao sẽ là điểm mấu chốt nâng cao hiệu quả công tác quản lý cũng như công tác thực hiện các thủ tục hành chính Bên cạnh đó, mỗi địa phương đều có những đặc thù riêng vì vậy trong công tác chỉ đạo thực hiện ngoài việc tuân thủ theo các quy định của Nhà nước thì các cơ quan cũng nên xem xét thực tế địa phương để đưa ra được những văn bản chỉ đạo sao cho phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội của địa phương đó, như vậy mới đạt hiệu quả cao (Trần Đức Phương, 2010)
2.1.4.2 Quy trình giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”
Tiếp nhận hồ sơ:
Khi tiếp nhận hồ sơ của tổ chức, công dân, viên chức bộ phận một cửa có trách nhiệm kiểm tra kỹ các loại giấy tờ cần thiết của từng hồ sơ, hướng dẫn cho công dân, tổ chức kê khai, bổ sung (nếu thiếu) Khi hồ sơ đã đủ thành phần theo quy định thì viên chức nhận hồ sơ, viết giấy hẹn ngày trả kết quả (trừ các thủ tục thực hiện trong ngày) (Nguyễn Thị Thanh, 2010)
Bộ phận một cửa bàn giao hồ sơ đã nhận ngày 02 lần vào cuối các buổi của ngày làm việc tại các cơ quan, đơn vị chuyên môn liên quan để giải quyết khi
đã có chữ ký phê duyệt của Chánh văn phòng Khi bàn giao hồ sơ cho các cơ quan chuyên môn, có xác nhận của bên giao và bên nhận hồ sơ
Đối với hồ sơ tiếp nhận và hoàn trả trong ngày, bộ phận một cửa có trách nhiệm bàn giao và nhận kết quả tại cơ quan, đơn vị chuyên môn 02 lần/ngày: trước 10 giờ và trước 16 giờ Hồ sơ nhận sau 16 giờ sẽ tính vào thời gian giải quyết của ngày làm việc tiếp theo
• Việc xem xét giải quyết hồ sơ của các cơ quan, đơn vị:
Trang 28Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 18
Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị chuyên môn chịu trách nhiệm giải quyết khi nhận hồ sơ của tổ chức và công dân từ bộ phận một cửa bàn giao đúng thời gian quy định Nếu hồ sơ không đúng quy định, phải bổ sung thêm hoặc cần phải xem xét lại thì không quá 20% (tối đa không quá 5 ngày) tổng thời gian thực hiện thủ tục (kể từ ngày nhận hồ sơ do bộ phận tiếp nhận và trả kết quả chuyển đến)
cơ quan chuyên môn phải có văn bản gửi bộ phận tiếp nhận và trả kết quả để trả lời công dân, tổ chức Văn bản phải nêu rõ lý do trả lại hồ sơ và hướng khắc phục (nếu có) Việc trả lại hồ sơ không quá một lần, nếu công dân, tổ chức đã thực hiện đúng hướng dẫn mà hồ sơ vẫn chưa đầy đủ thì cơ quan hướng dẫn phải tự hoàn thiện hồ sơ cho tổ chức, công dân
Đối với hồ sơ tiếp nhận và trả kết quả trong ngày, thủ trưởng cơ quan chuyên môn có trách nhiệm giải quyết và bàn giao kết quả ngay cho bộ phận một cửa để trả cho tổ chức, công dân, cụ thể như sau: đối với những hồ sơ tiếp nhận trước 10 giờ thì các cơ quan chuyên môn trả kết quả cho bộ phận một cửa trong buổi sáng; hồ sơ nhận sau 10 giờ thì trả kết quả cho bộ phận tiếp nhận và trả kết quả huyện vào đầu giờ buổi chiều; hồ sơ nhận trước 15 giờ thì cơ quan chuyên môn trả kết quả cho bộ phận tiếp nhận và trả kết quả huyện trong buổi chiều, những hồ sơ nhận sau 15 giờ thì trả kết quả vào đầu giờ buổi sáng ngày làm việc tiếp theo
• Thẩm quyền giải quyết công việc:
Đối với những loại công việc thuộc thẩm quyền ký của thủ trưởng cơ quan, đơn vị chuyên môn thì thủ trưởng cơ quan, đơn vị ký giải quyết sau đó chuyển kết quả về bộ phận tiếp nhận và trả kết quả để trả cho tổ chức, công dân
Những hồ sơ thực hiện theo cơ chế một cửa liên thông thủ tục liên quan đến xã, thị trấn thì chủ tịch UBND các xã, thị trấn căn cứ vào số lượng ngày quy định hoàn chỉnh thủ tục, ký bàn giao, chuyển trả cơ quan chuyên môn cấp huyện
đã bàn giao hồ sơ
Những hồ sơ thuộc thẩm quyền ký của UBND huyện, chủ tịch UBND huyện thì cơ quan, đơn vị chuyên môn tham mưu trình ký, trả kết quả tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả để trả tổ chức, công dân
Trang 29Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 19
• Về thu phí, lệ phí:
Các khoản phí, lệ phí thuộc các lĩnh vực giải quyết theo cơ chế một cửa được thu tại bộ phận một cửa; bộ phận một cửa có trách nhiệm nộp ngân sách nhà nước, trích sử dụng theo quy định
2.1.4.3 Công tác tổ chức và hoạt động
Bộ phận một cửa thuộc Văn phòng Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh, chịu sự quản lý toàn diện của Văn phòng Sở, do một lãnh đạo Văn phòng phụ trách và các cán bộ, công chức do Lãnh đạo Văn phòng Sở bố trí phù hợp với tình hình thực tế
Cán bộ, công chức làm việc tại bộ phận “một cửa” chịu sự quản lý, điều hành của Văn phòng Sở và Lãnh đạo phụ trách bộ phận một cửa Nhiệm vụ cụ thể của cán
bộ, công chức làm việc tại bộ phận “một cửa” do Chánh Văn phòng Sở phân công
- Chức năng, nhiệm vụ của bộ phận một cửa:
+ Bộ phận “một cửa” là nơi tiếp tổ chức, công dân tại nơi làm việc của bộ phận một cửa khi có yêu cầu giải quyết công việc trong phạm vi thẩm quyền của
Sở được quy định giải quyết theo cơ chế “một cửa”
+ Các trường hợp yêu cầu giải quyết công việc nhưng không thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở, thì các cán bộ, công chức tại bộ phận có trách nhiệm hướng dẫn tổ chức, công dân đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết
+ Hướng dẫn công dân và tổ chức thực hiện về thủ tục, hồ sơ theo quy định, kiểm tra, cập nhật dữ liệu vào phần mềm và sổ theo dõi, viết phiếu tiếp nhận đối với các hồ sơ được thụ lý Đối với các hồ sơ chưa hoàn chỉnh thì hướng dẫn để tổ chức, cá nhân bổ sung hoàn chỉnh theo quy định
+ Cán bộ, công chức tiếp nhận hồ sơ, chuyển hồ sơ đã thụ lý cho lãnh đạo phụ trách bộ phận một cửa để kiểm tra, xác nhận; sau đó bàn giao cho các phòng, đơn vị chuyên môn giải quyết theo thẩm quyền chức năng, nhiệm vụ
+ Theo đúng ngày hẹn trả kết quả ghi trên giấy biên nhận hồ sơ, cán bộ, công chức thụ lý hồ sơ có trách nhiệm trả kết quả, hướng dẫn tổ chức, cá nhân nộp phí, lệ phí theo quy định (nếu có)
Trang 30Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 20
+ Trực tiếp liên hệ với các phòng, đơn vị chuyên môn liên quan để giải quyết công việc
- Trách nhiệm của Chánh văn phòng Sở, Lãnh đạo phụ trách bộ phận một cửa:
+ Quản lý cán bộ, công chức làm việc tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả Sở + Kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc chấp hành nội quy, quy chế của bộ phận một cửa; chấn chỉnh về tác phong, lề lối, thái độ làm việc của các viên chức; kịp thời chấn chỉnh những sai sót trong quá trình giải quyết các thủ tục hành chính đối với tổ chức, cá nhân
+ Theo dõi, kịp thời nắm bắt tình hình tiếp nhận, giải quyết hồ sơ của các cán bộ, công chức thuộc bộ phận “một cửa” của Sở và phối hợp với Lãnh đạo, chuyên viên các phòng, đơn vị, phòng Lao động – TB&XH các huyện, thành phố kịp thời giải quyết những vấn đề vướng mắc xảy ra, đặc biệt đối với những hồ sơ liên quan đến nội dung làm việc của nhiều cơ quan, đơn vị
+ Kiểm soát các TTHC thực hiện theo cơ chế một cửa; yêu cầu các cơ quan liên quan thực hiện theo đúng bộ TTHC đã được UBND tỉnh công bố áp dụng đối với Sở; báo cáo Lãnh đạo Sở phụ trách về các trường hợp còn có ý kiến không thống nhất cách giải quyết
+ Nhận xét, đánh giá đối với các cán bộ, công chức tại bộ phận một cửa theo quy định Báo cáo Lãnh đạo Sở xem xét, xử lý đối với những cán bộ, công chức không thực hiện đúng nội quy, quy chế hoạt động của bộ phận một cửa + Báo cáo Lãnh đạo Sở, UBND tỉnh về tình hình thực hiện nhiệm vụ của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả huyện theo định kỳ tháng, quý, năm và chịu trách nhiệm
về các hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả Sở Đồng thời đề xuất với Lãnh đạo Sở các vấn đề có liên quan, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của bộ phận một cửa (Trịnh Thị Mai, 2012)
- Trách nhiệm của viên chức làm việc tại bộ phận một cửa:
Cán bộ, công chức làm việc tại bộ phận một cửa thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành, quy chế, quy định của cơ quan và của bộ phận tiếp nhận
Trang 31Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 21
và trả kết quả của Sở; chịu sự phân công, điều động của Lãnh đạo Sở và Chánh văn phòng Sở
+ Cán bộ, công chức làm việc tại bộ phận một cửa có trách nhiệm xem xét
hồ sơ của tổ chức, cá nhân đến liên hệ công tác:
+ Trường hợp yêu cầu của tổ chức, công dân không thuộc phạm vi giải quyết thì hướng dẫn để tổ chức, cá nhân đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết;
+ Trường hợp hồ sơ chưa đúng, chưa đủ theo quy định thì hướng dẫn cụ thể một lần để tổ chức, cá nhân bổ sung, hoàn chỉnh;
+ Đối với các loại công việc theo quy định giải quyết trong ngày làm việc không được ghi giấy hẹn thì tiếp nhận và giải quyết ngay, sau đó trình lãnh đạo
có thẩm quyền ký, trả kết quả cho tổ chức, công dân, thu phí, lệ phí theo quy định của pháp luật;
+ Đối với các loại công việc theo quy định được ghi giấy hẹn thì tiếp nhận
và viết giấy biên nhận hồ sơ, hẹn ngày trả kết quả, chuyển hồ sơ đến phòng, đơn
vị chức năng có liên quan giải quyết, trả kết quả cho tổ chức, công dân, thu phí,
lệ phí theo quy định của pháp luật
+ Cán bộ, công chức làm việc tại bộ phận một cửa có trách nhiệm gửi hồ
sơ đến các phòng, đơn vị chuyên môn có liên quan giải quyết, đồng thời có ý kiến góp ý nhằm đảm bảo giải quyết công việc theo đúng thời gian quy định
+ Cán bộ, công chức làm việc tại bộ phận một cửa phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trong giải quyết công việc của tổ chức và công dân, chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về quy chế văn hóa công sở, quy chế làm việc, nội quy, quy chế của bộ phận một cửa
+ Cán bộ, công chức làm việc phải có thái độ giao tiếp với tổ chức và công dân đúng mực Tuyệt đối nghiêm cấm các hành vi gây khó khăn hoặc tiêu cực trong giải quyết công việc của tổ chức và công dân
Trách nhiệm và mối quan hệ của các đơn vị, Sở Lao động- Thương binh
và Xã hội với bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Sở:
Thủ trưởng các đơn vị chuyên môn, Giám đốc Sở có trách nhiệm phân công CBCC vào sổ theo dõi, cập nhật vào phần mềm, xem xét, giải quyết hồ sơ
Trang 32Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 22
đã được ký xác nhận do bộ phận một cửa huyện chuyển đến theo đúng quy định; định kỳ 2 lần trong ngày truy cập phần mềm dịch vụ công để theo dõi việc giao, nhận, giải quyết hồ sơ
Chịu trách nhiệm chỉ đạo xem xét hồ sơ, giải quyết hồ sơ bảo đảm thời gian quy định Việc sử dụng thời gian giải quyết hồ sơ được quy định cụ thể theo từng thủ tục hành chính theo sự thống nhất giữa các cơ quan, đơn vị, được niêm yết công khai tại bộ phận một cửa (trừ các thủ tục thực hiện trong ngày)
Chịu trách nhiệm về chuyên môn và thời hạn giải quyết các TTHC trước Giám đốc Sở
Nếu hồ sơ không giải quyết được, hoặc cần phải xem xét lại thì đơn vị chuyên môn phải có văn bản nêu rõ lý do trả lại và hướng dẫn hoàn thiện gửi về
bộ phận một cửa để trả lời tổ chức và công dân (Lê Quang Dân, 2008)
2.1.4.4 Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
Yêu cầu:
Đội ngũ công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả đảm bảo
đủ về số lượng và có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp đáp ứng yêu cầu công việc; (Nguyễn Thị Thanh, 2010)
- Có phẩm chất, đạo đức tốt, tinh thần trách nhiệm và tính chuyên nghiệp cao;
- Có tác phong, thái độ chuẩn mực, có khả năng giao tiếp tốt với cá nhân, tổ chức;
Trách nhiệm:
- Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ quy chế hoạt động của Bộ phận tiếp nhận
và trả kết quả;
- Tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức thực hiện TTHC đầy đủ,
rõ rành, chính xác đảm bảo cá nhân, tổ chức chỉ phải bổ sung hồ sơ một lần;
- Tiếp nhận hồ sơ hành chính của cá nhân, tổ chức quy định;
- Chủ động tham mưu, đề xuất sáng kiến cải tiến việc thực hiện TTHC; kịp thời phát hiện, kiến nghị với cơ quan, người có thẩm quyền để sửa đổi, bổ sung, thay đổi hoặc hủy bỏ, bãi bỏ các quy định về TTHC không khả thi hoặc không phù hợp với tình hình thực tế của địa phương;
Trang 33Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 23
- Mặc đồng phục trong quá trình thực thi nhiệm vụ;
- Thực hiện các quy định khác của pháp luật
Quyền lợi:
- Được tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ và văn hóa ứng xử, giao tiếp với cá nhân, tổ chức;
- Được hưởng chế độ hỗ trợ theo quy định
Quản lý công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả:
Công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Sở chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của Chánh Văn phòng Sở Lao động – Thương binh
và Xã hội
2.1.4.5 Hệ thống cơ sở vật chất
Diện tích phòng làm việc của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Sở là 30m2 Trong tổng diện tích làm việc của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả phải dành khoảng 5% diện tích để bố trí nơi ngồi chờ cho cá nhân, tổ chức đến giao dịch Ngoài ra, còn bố trí ghế ngồi chờ ở phía ngoài phòng làm việc của bộ phận một cửa Thực hiện theo Khoản 1 Điều 12 Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Trang thiết bị làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Sở được thực hiện như sau:
Được trang bị tối thiểu: Màn hình Tivi hiển thị tiến độ giải quyết thủ tục hành chính, máy photocopy, hệ thống mạng LAN kết nối Internet bằng công nghệ cáp quang (gồm địa chỉ IP tĩnh), máy vi tính và lưu điện, máy in, máy quét (Scanner), máy quét mã vạch, thiết bị phát sóng wifi, phần mềm quản lý hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính Tủ đựng tài liệu, điện thoại bàn, bàn và ghế làm việc, biển tên, chức danh, quạt hoặc điều hòa nhiệt độ, ghế ngồi chờ, hòm thư góp ý, bảng niêm yết quy chế, hướng dẫn cho công dân
Khuyến khích các đơn vị trang bị: máy xếp hàng tự động, camera quan sát (gồm màn hình), máy tính bảng, bảng thông báo điện tử đèn LED
Trang 34Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 24
Trang thiết bị của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đại:
Được đặt tại vị trí trang trọng của cơ quan hành chính nhà nước, thuận tiện cho cá nhân, tổ chức trong quá trình thực hiện các giao dịch hành chính
Được bố trí khoa học theo các khu chức năng, bao gồm: Khu vực cung cấp thông tin, thủ tục hành chính; khu vực đặt các trang thiết bị điện tử, kể cả máy lấy số xếp hàng tự động, tra cứu thông tin, thủ tục hành chính, tra cứu kết quả giải quyết TTHC; khu vực tiếp nhận và trả kết quả được chia thành từng quầy tương ứng với từng lĩnh vực khác nhau; bố trí đủ ghế ngồi chờ, bàn để viết dành cho cá nhân, tổ chức đến giao dịch;
Có phần cứng của hạ tầng công nghệ thông tin và các thiết bị chuyên dụng theo quy định; có đủ điều kiện để thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4;
áp dụng phần mềm điện tử theo quy định
2.1.4.6 Triển khai nội dung thủ tục hành chính ở một số lĩnh vực tiêu biểu
a Thủ tục xác nhận và hưởng chế độ ưu đãi đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học (Phục lục I)
b Thủ tục quyết định trợ cấp tiền tuất hàng tháng đối với vợ hoặc chồng liệt sĩ lấy chồng hoặc vợ khác (Phục lục II)
c Thủ tục cấp giấy phép lao động cho lao động nước ngoài làm việc tại Việt
Nam (Phụ lục III)
d Thủ tục Giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp (Phục lục IV)
2.1.4.7 Giám sát và đánh giá về việc triển khai TTHC theo cơ chế “một cửa”
Để đánh giá khách quan chất lượng cung cấp dịch vụ hành chính công chúng ta cần đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của các cơ quan hành chính nhà nước Thông qua đó, bộ phận “một cửa” nắm bắt được yêu cầu, mong muốn của người dân, tổ chức để có những biện pháp cải thiện chất lượng phục vụ và cung cấp dịch vụ của mình nhằm nâng cao sự hài lòng và lợi ích của người dân, tổ chức
Bằng bộ phiếu lấy ý kiến của người dân về các lĩnh vực: Thủ tục xác nhận và hưởng chế độ ưu đãi đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; Thủ tục quyết định trợ cấp tiền tuất hàng tháng đối với vợ hoặc chồng liệt sĩ
Trang 35Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 25
lấy chồng hoặc vợ khác; Thủ tục cấp giấy phép lao động cho lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam; Thủ tục Giải quyết chế độ trợ cấp thất nghiệp Thông qua các tiêu chí:
a) Tiếp cận dịch vụ:
- Phương thức tìm hiểu thông tin về TTHC của công dân
- Mức độ dễ dàng, thuận tiện trong việc tìm hiểu thông tin về TTHC
- Mức độ đầy đủ, chính xác của thông tin về TTHC
- Trang thiết bị tại nơi giải quyết TTHC
b) Thủ tục hành chính:
- Mức độ công khai đầy đủ các quy định về TTHC
- Mức độ đơn giản, dễ kê khai của hồ sơ làm TTHC
- Mức độ thuận tiện trong thực hiện quy trình TTHC
c) Sự phục vụ của viên chức bộ phận một cửa:
- Thái độ giao tiếp, đúng mực của công chức giải quyết TTHC
- Sự rõ ràng, dễ hiểu trong hướng dẫn của công chức giải quyết TTHC
- Mức độ thành thạo, tuân thủ đúng quy trình giải quyết công việc của công chức giải quyết TTHC
d) Kết quả giải quyết TTHC:
- Thời gian giải quyết TTHC: Số lần đi lại để làm thủ tục, việc trả kết quả
có đúng hẹn không?, thời gian giải quyết TTHC có hợp lí không?
- Giải quyết phản ánh, kiến nghị của cơ quan hành chính nhà nước
e) Sự hài lòng về sự phục vụ hành chính
2.1.4.8 Kết quả thực hiện về việc triển khai TTHC theo cơ chế “một cửa
- Triển khai được bao nhiêu lĩnh vực, bao nhiêu thủ tục hành chính?
- Bao nhiêu thủ tục làm tốt, bao nhiêu thủ tục làm chưa tốt?
- Sự hài lòng của người dân đối với thủ tục hành chính?
2.1.5 Yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các thủ tục hành chính theo
cơ chế một cửa ở ngành Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Giang
Trang 36Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 26
Trong nghiên cứu này, tác giả nêu ra một số yếu tố chủ yếu sau:
2.1.5.1 Các quy định của Nhà nước đối với việc thực hiện các thủ tục hành chính
Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực cải cách hành chính nói chung và cải cách thủ tục hành chính nói riêng Đặc biệt, Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 ban hành kèm theo Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17-9-2001 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định phải đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính với mục tiêu cơ bản là "Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính nhằm bảo đảm tính pháp lý, hiệu quả, minh bạch và công bằng trong khi giải quyết công việc hành chính Loại bỏ những thủ tục rườm rà, chồng chéo dễ bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó khăn cho dân Mở rộng cải cách thủ tục hành chính trên tất cả các lĩnh vực, xóa bỏ kịp thời những quy định không cần thiết về cấp phép và thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, kiểm định, giám định" (Nguyễn Ngọc Hiếu, 2001)
2.1.5.2 Sự phản hồi của người dân về thủ tục cải cách hành chính theo cơ chế một cửa
Như chúng ta đã thấy việc giải quyết các thủ tục hành chính thường xuyên diễn ra với mỗi người dân Sự hài lòng về các dịch vụ công là một yếu tố hết sức quan trọng ảnh hưởng đến việc cải cách các thủ tục hành chính Bất kỳ người dân nào đi giải quyết thủ tục hành chính cũng đều không muốn gặp sự rắc rối, phiền
hà Nếu sự hài lòng của người dân càng nhiều, thì họ sẽ đánh giá tốt hơn về việc thực hiện các thủ tục cải cách hành chính theo cơ chế một cửa và ngược lại
2.1.5.3 Tinh thần quyết tâm, tổ chức, chỉ đạo điều hành của cấp trên và ngành Lao động -Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Giang đối với việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính
Việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính là một trong những giải pháp trọng tâm cần có sự quan tâm, tổ chức, chỉ đạo điều hành từ các cấp lãnh đạo của tỉnh nói chung và của ngành Lao động- Thương binh và Xã hội nói riêng Việc quan tâm triển khai nhằm góp phần phát triển kinh tế, ổn định trật tự - an ninh xã hội; từ đó tạo thuận lợi hơn cho người dân
Trang 37Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 27
Công tác quản lý, chỉ đạo điều hành của ngành Lao động - Thương binh
và Xã hội được quản lý bằng việc ban hành các Quyết định nhằm thể chế hóa
chương trình tổng thể Cải cách hành chính của nhà nước và cụ thể hóa vào tình hình của địa phương giải quyết kịp thời, có hiệu quả những vướng mắc trên lĩnh vực như bảo trợ, người có công, lĩnh vực việc làm và an toàn lao động, lĩnh vực dạy nghề và phòng chống tệ nạn xã hội bằng cơ chế “ một cửa” (Trần Đức Phương, 2010)
2.1.5.4 Năng lực, trình độ, đạo đức phẩm chất của cán bộ, công chức phụ trách công việc thực hiện các thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa ở ngành Lao động - Thương binh và Xã hội
Năng lực, trình độ của cán bộ, công chức phụ trách công việc thực hiện các thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng quyết định đến tính kết quả thực hiện TTHC; cán bộ, công chức có tư cách phẩm chất đạo đức, tư cách tốt, kết hợp với trình độ chuyên môn tốt thì công việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn về cải cách hành chính sẽ thuận lợi, phát triển Ngược lại nếu tư cách phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực chuyên môn thấp thì sẽ cản trở đến quá trình cải cách thủ tục hành chính
Trình độ là yếu tố bên trong ảnh hưởng đến năng lực viên chức Trình độ được hiểu là trình độ học vấn, trình độ tri thức của mỗi cán bộ, công chức có trước khi đảm nhận vị trí việc làm Tùy theo từng vị trí việc làm mà trong quá trình công tác, viên chức sẽ được đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ Việc đánh giá trình độ của cán bộ, công chức sẽ được đánh giá qua trình độ nhận thức chính trị và trình độ chuyên môn nghiệp vụ Trình độ là yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến năng lực giải quyết công việc của mỗi
cá nhân Bởi lẽ cá nhân có trình độ được đào tạo càng cao thì khả năng tiếp thu cũng như khả năng vận dụng những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo để giải quyết công việc càng lớn
Phẩm chất đạo đức là yếu tố bên trong ảnh hưởng đến năng lực của mỗi cá nhân Nếu như trình độ được đào tạo có thể hiểu là trí tuệ của cán bộ, công chức thì đi đôi với nó phải có phẩm chất đạo đức Phẩm chất đạo đức được thể hiện ở
Trang 38Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 28
phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống sự trong sáng, thành thật, trung thực, không cơ hội, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, biết hy sinh lợi ích cá nhân để phục vụ cho lợi ích tập thể, lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân Phải thể hiện được đúng vai trò cán bộ, công chức phải là công bộc của nhân dân
Để đánh giá năng lực của cán bộ, công chức không thể không đánh giá phẩm chất đạo đức của họ (Nguyễn Ngọc Hiếu, 2001)
2.1.5.5 Cơ sở vật chất, trang thiết bị và ứng dụng công nghệ thông tin để thực hiện các thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa ở ngành Lao động - Thương binh và Xã hội
Với tiến độ thông tin như hiện nay, cơ sở vật chất, trang thiết bị và ứng dụng công nghệ thông tin để thực hiện các thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa là những phương tiện cần thiết để trợ giúp cho công việc giải quyết các thủ tục hành chính được nhanh chóng, đầy đủ, chính xác và hiệu quả hơn Nếu như thủ tục hành chính cần đơn giản, nhanh gọn mà cơ sở vật chất trang thiết bị và ứng dụng công nghệ thông tin không đáp ứng được thì sẽ làm việc thực hiện giải quyết các thủ tục hành chính bị trì trệ, không đạt kết quả cao và ngược lại (Lê Chi Mai, 2003)
2.1.5.6 Cải cách hành chính công
Cải cách hành chính là một quá trình tiến hành những sửa đổi, cải tiến mang tính cơ bản và có hệ thống đối với hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, cải cách tài chính công là một đòi hỏi khách quan và phù hợp với các điều kiện đảm bảo tính khả thi của cải cách Nó xuất phát từ thực trạng tài chính công hiện nay và yêu cầu về cải cách hành chính nhà nước trong những năm tới Nhận thấy cải cách tài chính công và cải cách hành chính nhà nước có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, những biến động của bộ phận này luôn tác động kéo theo sự thay đổi của bộ phận kia
Cải cách tài chính công không chỉ mang lại lợi ích cho nhà nước, cơ quan, đơn vị trực tiếp sử dụng các nguồn lực tài chính công mà còn mang lại lợi ích cho mọi tầng lớp nhân dân, những người có quyền giám sát việc sử dụng các nguồn lực tài chính công, đồng thời là người thụ hưởng dịch vụ công được cung cấp bởi những nguồn lực tài chính công Tuy nhiên, cải cách tài chính công là vấn đề nhạy cảm,
Trang 39Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 29
luôn tiềm ẩn những khó khăn, thách thức, vì vậy, cần phải được quan tâm chỉ đạo và
có biện pháp thực hiện một cách thường xuyên, có chương trình, kế hoạch cho từng giai đoạn, với những biện pháp cụ thể (Đỗ Ngọc lan, 2010)
2.1.5.7 Phí và lệ phí
Khi thực hiện giải quyết thủ tục hành chính, phí và lệ phí là vấn đề người dân luôn quan tâm Thủ tục hành chính đơn giản hóa, không rườm rà và phù hợp với mức lệ phí mà người dân phải thanh toán Mức phí và lệ phí cần niêm yết công khai, minh bạch để tạo được lòng tin cho người dân Nếu vấn
đề về phí và lệ phí hợp lý sẽ nhằm đẩy mạnh công tác quản lý thu phí và lệ phí được thực hiện tốt hơn, tập trung hơn và tăng thu cho ngân sách nhà nước
Vì vậy, cần phải có cơ quan độc lập với cơ quan chuyên môn để đánh giá
và xác định một cách khách quan những công việc và thủ tục cần đơn giản hoá Bên cạnh đó kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện quy trình lập pháp, việc ban hành văn bản pháp luật mới, phải song song với việc đánh giá những phí tổn phát sinh khi ban hành Luật và những lợi ích mà Luật đó mang lại Kinh nghiệm của nước Đức thì để xây dựng và phát triển thành công chính quyền điện tử, 4 yếu tố quan trọng được xác định là: Thứ nhất, quyết tâm chính trị của Chính phủ, đặc biệt là
Trang 40Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 30
của người đứng đầu; Thứ hai, chú trọng khâu đào tạo công chức; Thứ ba, cải tiến quy trình, quy chế làm việc và tổ chức, hoạt động bộ máy hành chính; Thứ tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật (mạng điện tử) Về nội dung cải cách hành chính, nước Đức tập trung vào giảm gánh nặng hành chính cho người dân và doanh nghiệp, giảm quan liêu và chi tiêu công, phi tập trung hoá, đẩy mạnh hành chính điện tử Mục tiêu là xây dựng nền hành chính hướng tới phục vụ cộng đồng Xu hướng chung của các nước này là đặc biệt quan tâm đến các giải pháp kiểm soát đầu ra, tính toán chi phí quản lý đối với từng loại, từng lĩnh vực hoạt động, kể cả phí tổn mà người dân và doanh nghiệp phải gánh chịu khi thực hiện thủ tục hành chính và các quy định của pháp luật Trong chương trình cải cách hành chính của nước Đức, vấn đề xây dựng và phát triển nền hành chính điện tử được xác định là trọng tâm ưu tiên Việc phát triển dịch vụ Cơ chế một cửa tại Nhật Bản không chỉ mang lại lợi ích cho cộng đồng thương mại với việc giảm thiểu thời gian và chi phí mà còn mang lại lợi ích cho các cơ quan quản lý nhờ tăng cường sự trao đổi thông tin, khả năng quản lý, giám sát cũng như hiệu suất công việc
Cơ chế một cửa tại Nhật Bản không chỉ là một giao diện đơn giản giữa các
hệ thống thành phần mà hệ thống này cho phép người sử dụng thực hiện tất cả các nghiệp vụ liên quan đến các cơ quan quản lý bằng một lần nhập liệu và truyền dữ liệu duy nhất Đối với thủ tục nhập khẩu/xuất khẩu, dịch vụ Cơ chế một cửa góp phần rất lớn trong việc giảm bớt thời gian thông quan hàng hóa cũng như hợp lý hóa luồng công việc của người xuất, nhập khẩu