Xuất phát từ những thực tế trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tăng cường xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn Thành Phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên” với mong muốn góp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
***
NGUYỄN ANH MINH
TĂNG CƯỜNG XÃ HỘI HÓA TRONG QUẢN LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HƯNG YÊN, TỈNH HƯNG YÊN
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ NGÀNH : 60.34.04.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS PHẠM VĂN HÙNG
HÀ NỘI – 2015
Trang 2Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2015 Tác giả luận văn
Nguyễn Anh Minh
Trang 3Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page ii
LỜI CÁM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và tập thể Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của tôi đến tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới toàn thể các thầy cô giáo Học viện Nông nghiệp Việt Nam cùng các thầy cô giáo trong Khoa Kinh
tế và Phát triển nông thôn đã trực tiếp tham gia giảng dạy, tận tình giúp đỡ tôi trong hai năm học vừa qua
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy giáo PGS.TS Phạm Văn Hùng, người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp và hoàn thành bài luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Công ty TNHH MTV Môi trường và Công trình đô thị Hưng Yên; các cán bộ và các phòng ban tại UBND các xã, phường
và thành phố đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong việc thu thập số liệu và những thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu của đề tài
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới những người thân trong gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 4Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ viii
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
2.1 Cơ sở lý luận về xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt 5
2.1.1 Khái quát chung về quản lý rác thải sinh hoạt 5
2.1.2 Tổng quan về xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt 8
2.1.3 Nội dung tăng cường xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt11 2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt15 2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 17
2.2.1 Kinh nghiệm về công tác xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt ở một số nước trên thế giới 17
2.2.2 Kinh nghiệm về công tác xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt ở các địa phương 19
2.2.3 Đánh giá chung về công tác xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt 21
Trang 5Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iv
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 23
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 23
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 24
3.1.3 Đánh giá chung về địa bàn nghiên cứu 31
3.2 Phương pháp nghiên cứu 32
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu, thông tin 32
3.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu, thông tin 34
3.2.3 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong đề tài 35
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
4.1 Khái quát về xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hưng Yên 37
4.1.1 Tình hình thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt 37
4.1.2 Kết quả xã hội hóa trong thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt 40
4.2 Thực trạng xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hưng Yên 44
4.2.1 Xã hội hóa trong việc phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn 44
4.2.2 Xã hội hóa trong đổi mới tuyên truyền, giáo dục giữ gìn vệ sinh môi trường 48
4.2.3 Xã hội hóa trong xây dựng các mô hình tổ đội vệ sinh môi trường tự quản (mô hình xã hội hóa) 51
4.2.4 Xã hội hóa trong xây dựng các cơ chế chính sách quản lý 54
4.2.5 Xã hội hóa trong đầu tư, huy động nguồn lực phục vụ quản lý rác thải sinh hoạt 58
4.2.6 Xã hội hóa trong công tác thanh tra, giám sát quản lý rác thải sinh hoạt của cộng đồng 63
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hưng Yên 64
Trang 6Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page v
4.3.1 Cơ chế, chính sách, luật pháp liên quan đến xã hội hóa trong quản
lý rác thải sinh hoạt 64
4.3.2 Nhận thức của người dân và cán bộ quản lý về xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt 65
4.3.3 Nguồn lực tài chính đầu tư cho xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt 71
4.3.4 Nguồn lực con người tham gia xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt 72
4.3.5 Các yếu tố khác 73
4.4 Định hướng và giải pháp tăng cường xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hưng Yên trong thời gian tới 74
4.4.1 Định hướng 74
4.4.2 Căn cứ đề xuất giải pháp 75
4.4.3 Một số giải pháp chủ yếu 75
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
5.1 Kết luận 84
5.2 Kiến nghị 85
5.2.1 Đối với UBND thành phố Hưng Yên 85
5.2.2 Đối với cơ quan, chính quyền địa phương 85
5.2.3 Đối với Công ty Môi trường và công trình đô thị Hưng Yên 86
5.2.4 Đối với các Hộ gia đình 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 90
Trang 7Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ Viết Tắt Nội Dung
Trang 8Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vii
DANH MỤC BẢNG
3.1 Tình hình dân số và lao động của thành phố Hưng Yên trong 3 năm
(2012 - 2014) 25 3.2 Kết quả phát triển kinh tế của Thành Phố Hưng Yên trong 3 năm
(2012-2014) 31 4.1 Nguồn gốc phát sinh rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hưng Yên 37 4.2 Thành phần rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hưng Yên 39 4.3 Khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn thành phố Hưng Yên trong 3 năm (2012 - 2014) 39 4.4 Tình hình phân loại RTSH của các hộ điều tra trên địa bàn thành phố
Hưng Yên 46 4.5 Tình hình xã hội hóa công tác truyền thông trên địa bàn thành phố Hưng Yên trong 3 năm (2012 - 2014) 50 4.6 Tình hình xã hội hóa trong xây dựng các mô hình tổ đội vệ sinh môi trường
tự quản ở phường, xã trên địa bàn thành phố Hưng Yên 53 4.7 Tình hình huy động kinh phí để thực hiện công tác quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hưng Yên trong 3 năm (2012 - 2014) 60 4.8 Ý kiến đánh giá của người dân về công tác huy động nguồn lực trong quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hưng Yên 62 4.9 Đánh giá của người dân về hệ thống quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hưng Yên 66 4.10 Ý kiến của người dân về việc tiếp tục tham gia xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt 68 4.11 Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý trên địa bàn thành phố 69
Trang 9Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page viii
DANH MỤC SƠ ĐỒ
4.1 Mô hình thực hiện thu gom, vận chuyển rác thải của Công ty Môi trường
và công trình đô thị Hưng Yên 41 4.2 Mô hình thực hiện thu gom rác thải của Tổ vệ sinh môi trường 43 4.3 Mô hình thu gom rác thải sinh hoạt theo hướng xã hội hóa trên địa bàn
thành phố Hưng Yên 56
Trang 10Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 1
PHẦN I MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Môi trường luôn được coi là một trong những mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia, đặc biệt trong những năm gần đây khi tốc độ đô thị hóa diễn ra ngày một nhanh chóng, sự phát triển kinh tế với tốc độ cao kéo theo những tác động tiêu cực tới môi trường Hiện nay mỗi quốc gia đều đặt cho mình mục tiêu phát triển bền vững, đó là quá trình phát triển kinh tế nhưng vẫn đảm bảo được việc bảo vệ môi trường và Việt Nam cũng không phải ngoại lệ Với sự quan tâm của Nhà nước, hoạt động bảo vệ môi trường ở nước ta đã có những chuyển biến tích cực, đạt được những thành tựu khá to lớn trong những năm qua Những kết quả chủ yếu liên quan đến nhận thức chung của toàn xã hội về bảo vệ môi trường đã được nâng lên một bước; từng người dân, từng thành phần kinh tế đã có ý thức hơn trong bảo vệ môi trường Thực tế cho thấy, gia tăng dân số cùng với quá trình công nghiệp hóa đã và đang gây sức ép lớn cho môi trường nước ta bị xuống cấp nhanh chóng bởi lẽ môi trường hàng ngày đã phải gánh chịu khối lượng lớn và đa chủng loại rác thải từ hoạt động sản xuất, đời sống sinh hoạt và y tế của con người gây ra Đứng trước các thách thức to lớn và yêu cầu bức xúc đối với việc bảo vệ môi trường cần phải đưa ra các giải pháp thiết thực, cụ thể đó là xã hội hóa bảo vệ môi trường
Hiện nay tại các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh… rác thải sinh hoạt đang là một mối lo ngại lớn đối với đời sống người dân Theo đánh giá của Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2011 thì tổng lượng rác thải sinh hoạt ở các đô thị phát sinh trên toàn quốc tăng trung bình 10 - 16% mỗi năm Tại hầu hết các đô thị, khối lượng rác thải sinh hoạt chiếm khoảng 60 - 70% tổng lượng rác thải đô thị (một số đô thị tỷ lệ này lên đến 90%), chủ yếu phát sinh từ các hộ gia đình, các khu tập thể, rác thải đường phố, chợ, các trung tâm thương mại, văn phòng, các cơ sở nghiên cứu, trường học Những tác hại tiêu cực của rác thải đã ảnh hưởng đến đời sống con người như: ô nhiễm môi trường, bệnh tật, cảnh quan môi trường xung quanh Chính
Trang 11Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 2
vì thế, công tác quản lý rác thải sinh hoạt đã trở thành vấn đề hết sức phức tạp, ảnh hưởng ở nhiều địa phương trên cả nước
Thành phố Hưng Yên nằm ở phía Tây Nam của tỉnh, được biết đến là một thành phố trẻ, thành lập năm 2009 nhưng là nơi có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Những năm gần đây cùng với sự phát triển kinh tế của cả tỉnh, thành phố Hưng Yên được đánh giá là một trong những địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối nhanh Cơ cấu kinh tế của thành phố đang dần dần chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên, mặt trái của
sự phát triển là tạo ra khối lượng rác thải ngày càng gia tăng cả về số lượng và chủng loại gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị và sức khỏe của người dân Và mô hình xã hội hóa trong quản lý RTSH đã được đưa ra Từ khi mô hình này được đưa vào áp dụng đã đạt được những thành tựu khá cao và đem lại nhiều kết quả ngoài mong đợi Tuy nhiên, với cơ chế và chính sách chưa minh bạch, đồng thời thiếu thốn về trang thiết bị phục vụ cho công tác thu gom và xử lý RTSH
đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường và sức khỏe cộng đồng Do đó việc cải thiện công tác xã hội hóa trong quản lý RTSH là rất cần thiết
Xuất phát từ những thực tế trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tăng cường
xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn Thành Phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên” với mong muốn góp một phần vào giải quyết các vấn đề khó khăn
hiện nay trong quản lý RTSH của thành phố, đồng thời góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm, tính tự chủ và sự đoàn kết mang tính cộng đồng của các ngành, các cấp, các tổ chức, các đơn vị dịch vụ vệ sinh môi trường và của nhân dân trong toàn tỉnh
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá tình hình xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hưng Yên; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt trong thời gian tới
Trang 12Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về xã hội hóa trong quản
lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hưng Yên;
- Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Hưng Yên;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn nghiên cứu trong thời gian tới
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này được tiến hành nhằm trả lời các câu hỏi liên quan đến xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt ở thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên:
Có những vấn đề lý luận nào liên quan đến xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt? Thực tiễn xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt trên thế giới và Việt Nam hiện nay như thế nào?
Thực trạng xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt ở thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên hiện nay như thế nào? Các yếu tố ảnh hưởng đến xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt ở thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên là gì?
Những giải pháp nào nhằm tăng cường xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên trong thời gian tới
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt và vai trò của các bên liên quan, đối tượng cụ thể bao gồm các tổ chức, cá nhân; các chính sách pháp luật và định hướng liên quan đến xã hội hóa trong quản
lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu lý luận, thực trạng xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hưng Yên Từ đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn nghiên cứu trong thời gian tới
Trang 13Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 4
- Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện dựa trên thu thập các tài liệu có liên quan đến các nội dung nghiên cứu từ năm 2012 đến năm 2014 Thời gian thực hiện đề tài từ 6/2014 – 5/2015
- Phạm vi không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại các xã, phường trên địa bàn thành phố đang thực hiện xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt
Trang 14Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 5
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận về xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt
2.1.1 Khái quát chung về quản lý rác thải sinh hoạt
2.1.1.1 Rác thải sinh hoạt
a) Khái niệm về chất thải
Luật Bảo vệ Môi trường đưa ra định nghĩa chất thải như sau: “Chất thải là vật chất ở dạng rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”
Theo Trần Hiếu Nhuệ và các cộng sự (2010) “Chất thải là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng) Trong đó, quan trọng nhất là các loại chất thải sinh ra từ các hoạt động sản xuất và hoạt động sống”
b) Khái niệm về rác thải sinh hoạt
Theo Nguyễn Xuân Thành (2010) “Rác thải sinh hoạt (chất thải sinh hoạt) là những chất thải có liên quan đến các hoạt động sống hàng ngày của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ thương mại Rác thải sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, giấy vụn,
đồ sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, chất dẻo, thực phẩm thừa, vỏ rau củ quả ” c) Khái niệm về quản lý rác thải sinh hoạt
Theo Nghị định số 59/2007/NĐ-CP thì: “Hoạt động quản lý chất thải bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư cơ sở quản lý chất thải, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khỏe con người” d) Nguồn gốc phát sinh
Theo Trần Hiếu Nhuệ và các cộng sự (2010): khối lượng rác thải sinh hoạt ngày càng tăng do tác động của sự gia tăng dân số, sự phát triển kinh tế - xã hội, sự
Trang 15Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 6
thay đổi tính chất tiêu dùng trong các đô thị và vùng nông thôn Trong đó các nguồn chủ yếu phát sinh rác thải bao gồm:
- Nguồn phát sinh từ các hộ gia đình: Đây là nguồn phát sinh thường xuyên
và lớn nhất, ít có biến động về khối lượng phát sinh Nguồn này được thu thường xuyên hàng ngày với thành phần chủ yếu là chất hữu cơ
- Nguồn phát sinh từ nơi sinh hoạt công cộng: Chợ, nhà hàng, cửa hàng, khách sạn, trung tâm thương mại
- Rác thải từ các cơ quan công sở, trường học
- Rác từ các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng đô thị
e) Thành phần rác thải sinh hoạt
Việc xác định được thành phần của rác thải sinh hoạt tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho phân loại, thu gom và xử lý rác thải Góp phần tiết kiệm được những loại rác thải có thành phần có thể tái chế được, tiết kiệm được thêm chi phí xử lý
chúng
Rác thải sinh hoạt có thành phần rất đa dạng, khác với rác thải công nghiệp, RTSH là một hỗn hợp không đồng nhất Sự không đồng nhất này tạo ra một số đặc tính rất khác biệt trong thành phần của RTSH, mỗi thành phần khác nhau thì có những tính chất khác nhau (Nguyễn Văn Phước, 2010)
2.1.1.2 Các hoạt động của quản lý rác thải sinh hoạt
Để thực hiện tốt công tác quản lý rác thải sinh hoạt cần phân ra các công đoạn, hiểu được đặc trưng, đặc tính từng công đoạn chính trong quá trình quản lý
Từ đó quản lý tốt từng công đoạn này kết hợp việc hoàn thành tốt toàn bộ hệ thống
đó nhằm tạo ra những kết quả tốt nhất Việc quản lý cần tiến hành theo các công đoạn sau:
a) Phân loại rác thải tại nguồn
Theo Nghị định số 59/2007/NĐ-CP: rác thải sinh hoạt thông thường phải được kiểm soát, phân loại ngay tại nguồn và phải được lưu giữ trong các túi hoặc thùng được phân biệt bằng màu sắc theo quy định Các tổ chức, cá nhân có hoạt động
Trang 16Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 7
làm phát sinh rác thải phải có trách nhiệm thực hiện phân loại rác thải tại nguồn và được phân loại theo hai nhóm chính:
+ Nhóm các chất có thể thu hồi để tái sử dụng, tái chế: phế liệu thải ra từ quá trình sản xuất, các thiết bị điện, điện tử dân dụng và công nghiệp, các phương tiện giao thông, các sản phẩm phục vụ sản xuất và tiêu dùng đã hết hạn sử dụng, bao bì bằng giấy, kim loại, thuỷ tinh, hoặc chất dẻo khác…
+ Nhóm các chất thải cần xử lý, chôn lấp: các chất thải hữu cơ (các loại cây, lá cây, rau, thực phẩm, xác động vật, ), các sản phẩm tiêu dùng chứa các hoá chất độc hại
(pin, ắc quy, dầu mỡ bôi trơn, ), các loại rác thải khác không thể tái sử dụng
b) Thu gom, lưu trữ, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt
* Thu gom, lưu trữ, vận chuyển rác thải
Theo Nghị định số 59/2007/NĐ-CP: việc thu gom, lưu giữ, vận chuyển rác
thải thông thường do các công ty dịch vụ, hợp tác xã dịch vụ hoặc hộ gia đình (sau đây gọi tắt là chủ thu gom, vận chuyển rác thải) thông qua hợp đồng thực hiện dịch
vụ Rác thải thông thường tại các đô thị phải được thu gom theo tuyến và theo các phương thức phù hợp với quy hoạch quản lý rác thải đã được phê duyệt Trên các trục phố chính, các khu thương mại, các công viên, quảng trường, các điểm tập trung dân cư, các đầu mối giao thông và các khu vực công cộng khác phải bố trí các phương tiện lưu giữ rác thải Dung tích các thùng lưu giữ rác thải bên trong công trình phải được bảo đảm kích cỡ phù hợp với thời gian lưu giữ Các thùng lưu giữ tại các khu vực công cộng phải phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật và bảo đảm tính mỹ quan Thời gian lưu giữ rác thải không được quá 02 ngày Các phương tiện vận chuyển rác thải phải là phương tiện chuyên dụng, bảo đảm các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật và an toàn, đã được kiểm định và được các cơ quan chức năng cấp phép lưu hành Trong quá trình vận chuyển rác thải, không được làm rò rỉ, rơi vãi,
gây phát tán bụi, mùi
* Lựa chọn phương thức, công nghệ xử lý rác thải
Theo Nghị định số 59/2007/NĐ-CP: việc lựa chọn công nghệ xử lý rác thải phải căn cứ theo tính chất và thành phần của rác thải và các điều kiện cụ thể của
Trang 17Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 8
từng địa phương Khuyến khích lựa chọn công nghệ đồng bộ, tiên tiến cho hoạt động tái chế, tái sử dụng chất thải để tạo ra nguyên liệu và năng lượng Khuyến khích
áp dụng công nghệ tiên tiến để xử lý triệt để rác thải, giảm thiểu khối lượng rác thải phải chôn lấp, tiết kiệm quỹ đất sử dụng chôn lấp và bảo đảm vệ sinh môi trường
2.1.2 Tổng quan về xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt
2.1.2.1 Xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường
Môi trường là tài sản chung của mọi người và mang tính công hữu rõ rệt Môi trường tốt mọi người có quyền được hưởng, môi trường xấu đi thì mọi người đều phải có trách nhiệm bảo vệ Huy động lực lượng cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường là nói đến toàn dân tham gia công tác bảo vệ môi trường, làm cho hoạt động này mang tính xã hội, vì lợi ích chung của xã hội và được mọi người trong xã hội tham gia Khi các cộng đồng tham gia vào các hoạt động giữ gìn môi trường thì
đó là “Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường” Môi trường và các hoạt động về môi trường tự nó đã mang tính xã hội cao, nên công tác bảo vệ môi trường được toàn dân tham gia là một việc làm phù hợp
Chủ trương “Toàn dân tham gia bảo vệ môi trường” được nêu rõ trong các văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước: Nghị quyết 41NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 15-11-2004 về công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước đã nêu một số giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường, đó là: Tạo cơ sở pháp lý và cơ chế, chính sách khuyến khích cá nhân, tổ chức và cộng đồng tham gia công tác bảo vệ môi trường, chú trọng xây dựng và thực hiện các hương ước, qui ước, cam kết về bảo vệ môi trường
và các mô hình tự quản về bảo vệ môi trường của cộng đồng dân cư Phát triển các phong trào quần chúng tham gia bảo vệ môi trường Phát hiện các mô hình, điển hình tiên tiến trong hoạt động bảo vệ môi trường để khen thưởng, phổ biến, nhân rộng Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã khẳng định bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn xã hội, quyền và trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân; khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường Trong Chiến
Trang 18Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 9
lược quốc gia về bảo vệ môi trường (giai đoạn 2001 – 2010 và định hướng đến năm 2020) cũng đã nêu những luận điểm quan trọng là: Nhà nước thực hiện chính sách
xã hội hóa bảo vệ môi trường bằng luật pháp, bằng các văn bản pháp lý để huy động cộng đồng tham gia vào các hoạt động quản lý môi trường các cấp
Trên thực tế, công tác xã hội hóa bảo vệ môi trường đã được thực hiện ở nhiều địa phương, nhiều quốc gia, dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng cho đến nay chưa có một khái niệm chuẩn nào về xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường Tuy nhiên có thể hiểu một cách khái quát rằng xã hội hóa công tác vệ sinh môi trường trong quản lý rác thải sinh hoạt là việc huy động sự tham gia của cộng đồng, của toàn thể xã hội vào công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải đồng thời biến công tác vệ sinh môi trường trở thành quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người dân Kết hợp hài hòa vai trò của nhân dân, các thành phần kinh tế và sự đầu tư của Nhà nước nhằm đảm bảo hiệu quả cao trong quản lý rác thải sinh hoạt Cho tới nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất nào về mô hình xã hội hóa công tác vệ sinh môi trường mặc dù đã được thực hiện khá thành công, đạt nhiều kết quả ngoài mong đợi ở nhiều địa phương Sau đây là một vài quan niệm về xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường
Theo Nguyễn Viết Phổ (2002) “Xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường là việc huy động sự tham gia của toàn xã hội vào sự nghiệp bảo vệ môi trường của đất nước Hay nói cách khác, xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường là phải biến chủ trương bảo
vệ môi trường thành nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tầng lớp trong xã hội từ những nhà hoạch định chính sách, những nhà quản lý tới mọi người dân trong xã hội”
Theo Trần Thanh Lâm (2003) “Xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường là quá trình chuyển hóa tạo lập cơ chế hoạt động và cơ chế tổ chức quản lý mới trong hoạt động bảo vệ môi trường trên cơ sở đồng trách nhiệm, nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của xã hội phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường để đạt được mục tiêu phát triền bền vững”
Trang 19Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 10
Theo Nguyễn Trung Thắng (2010) “Xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường là việc huy động các nguồn lực từ các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, các tổ chức xã hội và cộng đồng tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường”
Qua các quan niệm trên tuy được phát biểu khác nhau nhưng đều cho chúng
ta một quan điểm chung đó là xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường là sự kết hợp hài hòa giữa vai trò của nhân dân và sự đầu tư quản lý của Nhà nước, kết hợp lợi ích của cộng đồng và các thành phần kinh tế cùng tham gia nhằm chia sẻ bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nước và địa phương Khi lực lượng cộng đồng tham gia vào công tác bảo vệ môi trường, Nhà nước sẽ có thêm nguồn lực để giải quyết các vấn đề cần ưu
tiên khác (Đàm Văn Lợi, 2009)
2.1.2.2 Vai trò của xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt
Thực hiện xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt làm giảm ngân sách của Nhà nước, tăng đóng góp của người dân trong việc thu gom rác và duy trì vệ sinh môi trường Nước ta đang trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường việc huy động nguồn vốn tự có trong dân là rất cần thiết cho công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, đặc biệt là giải quyết các vấn đề liên quan đến môi trường đảm bảo một sự phát triển bền vững
Bên cạnh đó, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người dân địa phương cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của xã hội hóa trong quản lý RTSH Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề thất nghiệp đang được Đảng, Nhà nước và người dân rất quan tâm, khi mà xã hội càng phát triển nhu cầu việc đòi hỏi ngày càng tăng
để đáp ứng nhu cầu ngày một cao của người dân Chính điều này đã tạo ra động lực khuyến khích các cá nhân, tổ chức, thành phần kinh tế tham gia vào công tác BVMT hình thành nên các công ty, hợp tác xã, đội dân lập tự quản, tổ cung cấp dịch vụ vệ sinh môi trường tạo điều kiện thu hút một lực lượng lao động đáng kể tạo ra thu nhập cho người dân Từ đó từng bước giải quyết công ăn việc làm, tạo thêm việc làm và cải thiện mức sống của người dân tạo cơ hội cho phép họ có khả năng tiếp cận được với các dịch vụ như y tế, giáo dục,
Trang 20Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 11
Không những vậy, nó còn tạo điều kiện để người dân thực sự làm chủ và có trách nhiệm bảo vệ môi trường sống của mình và cộng đồng, góp phần nâng cao ý thức giữ gìn môi trường trong nhân dân Bảo vệ môi trường là trách nhiệm chung của cả cộng đồng, BVMT chỉ có thể đạt được hiệu quả cao khi mọi người ý thức vai trò và tầm quan trọng của môi trường Từ đó BVMT mới trở thành quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người dân, họ thực sự làm chủ, có trách nhiệm tham gia trực tiếp BVMT sổng của mình và cộng đồng Xã hội hóa công tác VSMT chính là xã hội hóa trong quản lý rác thải là một mảng trong xã hội hóa công tác BVMT Vì vậy Nhà nước cần có các chính sách, giải pháp nhằm khuyến khích sự tham gia của mỗi người dân
vào công tác bảo vệ môi trường (Dẫn theo Nguyễn Thị Thu Lan, 2008)
2.1.3 Nội dung tăng cường xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt
2.1.3.1 Tăng cường phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn theo hướng xã hội hóa
Rác thải sinh hoạt là loạt chất thải do con người sinh ra từ các hoạt động sản xuất, sinh hoạt và tiêu thụ sản phẩm Rác thải nếu phân loại nhằm mục đích tận dụng, tái chế triệt để sẽ trở thành nguồn nguyên liệu từ rác hữu cơ cho nhà máy chế biến phân vi sinh như ủ rác hữu cơ lấy chất mùn , đồng thời tạo nguồn nguyên liệu tái chế cho các nhà máy từ rác thải vô vơ có thể tái chế như: nhựa, kim loại, thủy tinh, vật liệu xây dựng Không những thế còn giảm tỷ lệ rác thải sinh hoạt phải thu gom, vận chuyển xuống còn 85% và xử lý xuống còn 70% so với lượng phát sinh, tiết kiệm được bãi chôn lấp; góp phần làm giảm chi phí trong quá trình quản lý rác thải sinh hoạt Qua đó là cơ sở nhân rộng mô hình phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn thành phố và toàn tỉnh (Dẫn theo Diêm Quốc Dũng, 2014)
2.1.3.2 Đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường
Có thể nói nguồn gốc của rác thải sinh hoạt bắt nguồn từ các hoạt động sống của con người, do đó để nâng cao chất lượng môi trường thì cần phải thay đổi nhận thức của mỗi người và dần thay đổi đến hành vi của họ Mà biện pháp hiệu quả hơn
cả để thay đổi nhận thức của người dân thì cần phải phát huy tối đa hiệu quả các phương tiện thông tin đại chúng trong việc nâng cao nhận thức về vệ sinh môi trường của toàn xã hội Khai thác triệt để các lợi thế này theo hướng tổ chức biên
Trang 21Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 12
soạn chương trình phát thanh truyền thông để chuyển tải đầy đủ nội dung về trách nhiệm vệ sinh môi trường đến người công dân; phổ cập và nâng cao hiểu biết, cung cấp thông tin về vệ sinh môi trường; cổ động liên tục các phong trào toàn dân vệ sinh môi trường, nêu gương điển hình trong công tác vệ sinh môi trường Công tác truyền thông phải nhằm vào các đối tượng là chính quyền địa phương, các tổ vệ sinh của các thôn, khu phố, cộng đồng dân cư và các cơ sở sản xuất, kinh doanh Phát động các đợt thi đua nhân các ngày lễ, tết, ngày nghỉ nhằm xây dựng các tuyến đường xanh, sạch, đẹp do nhân dân tự quản Bên cạnh đó cần thực hiện việc đổi mới và đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức về vệ sinh môi trường, vận động người dân tham gia công tác vệ sinh môi trường Sử dụng các biểu ngữ, áp phích cũng là một cách làm rất hiệu quả đối với công tác tuyên truyền Phát huy vai trò, trách nhiệm của chính quyền cơ sở, các tổ chức chính trị, xã hội và mỗi người dân trong việc tham gia vào xã hội hoá công tác vệ sinh môi trường trên địa bàn thành phố bằng những hành động thiết thực Mặt khác cần tăng cường tuyên truyền vệ sinh môi trường đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh để giúp các cơ sở nhận thức rõ trách nhiệm và tự giác thực hiện các yêu cầu
về vệ sinh môi trường
Tăng cường giáo dục các kiến thức bảo vệ môi trường trong các trường học Việc cung cấp đầy đủ tri thức và xây dựng ý thức tự giác vệ sinh môi trường của các công dân phải được bắt đầu từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường Bên cạnh đó, lồng ghép các kiến thức môi trường một cách khoa học và hợp lý trong các chương trình giáo dục của từng cấp học; khuyến khích các cơ sở giáo dục và đào tạo tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao ý thức tự giác vệ sinh môi trường, thấm sâu tình yêu thiên nhiên đất nước cho học sinh, đặc biệt là ở các trường mầm non, tiểu học (Dẫn theo Nguyễn Kiều Oanh, 2006)
2.1.3.3 Xây dựng các mô hình tổ đội vệ sinh môi trường tự quản (mô hình xã hội hóa)
Việc thực hiện xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt sẽ đạt hiệu quả cao khi xây dựng được các mô hình quản lý phù hợp Trên thực tế với mục đích huy động, phát huy vai trò của cộng đồng dân cư và các thành phần xã hội tham gia vào
Trang 22Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 13
thực hiện xã hội hoá thì việc tổ chức tốt lực lượng, phương tiện tham gia xã hội hoá tại địa bàn xã, phường là yếu tố rất quan trọng trong quá trình triển khai thực hiện Các hoạt động và quá trình thực hiện được triển khai một số nội dung trọng tâm như xây dựng các chương trình, kế hoạch xã hội hóa công tác đảm bảo vệ sinh môi trường trên địa bàn quản lý; giao cho các khu, thôn tổ chức thực hiện; tổ chức thành lập các
tổ, nhóm người lao động, trang bị công cụ, dụng cụ, phương tiện cho công tác vệ sinh môi trường do UBND xã, phường chịu trách nhiệm quản lý Tổ chức các tuyến vận chuyển, quy trình thu gom tập kết rác thải sinh hoạt về các địa điểm quy hoạch trên địa bàn đã quy định
Cùng với đó thực hiện tự quản lý trên các tuyến đường, ngõ xóm; động viên nhân dân giữ gìn vệ sinh môi trường, chấp hành các quy định về quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Phát động các ngành, các cấp, các lực lượng tham gia tổng vệ sinh hàng tuần vào chiều thứ 6, các ngày lễ, tết, ngày kỷ niệm với lực lượng nòng cốt là Hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên, Công đoàn, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân Mặt khác xây dựng phong trào toàn dân vệ sinh môi trường cần chú trọng xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước, cam kết vệ sinh môi trường, trong đó đưa mức thu phí vệ sinh môi trường phù hợp với thực tiễn địa phương để bàn, thống nhất và tổ chức thực hiện Đặc biệt đưa tiêu chí vệ sinh môi trường gắn với gia đình văn hoá; phát triển các mô hình cụm, tổ dân cư văn hóa, cộng đồng dân cư tự quản trong hoạt động xã hội hoá công tác vệ sinh môi trường trên địa bàn (Dẫn theo Nguyễn
Kiều Oanh, 2006)
2.1.3.4 Xây dựng các cơ chế chính sách quản lý phù hợp
Để triển khai công tác xã hội hóa vệ sinh môi trường có hiệu quả, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa người dân và các cơ chế chính sách quản lý của Nhà nước thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi để khuyến khích các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế tham gia giải quyết các vấn đề vệ sinh môi trường Vì vậy cần hoàn thiện các văn bản pháp quy về môi trường, vệ sinh môi trường như các tiêu chuẩn phân công phân cấp quản lý, các tiêu chuẩn vệ sinh môi trường đô thị, các cơ chế chính sách khuyến khích đối với các đơn vị thực hiện vệ sinh môi trường, tăng cường tuyên
Trang 23Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 14
truyền và thay đổi nhận thức của các cấp chính quyền về vai trò của Nhà Nước trong cung ứng dịch vụ công, mạnh dạn đổi mới phương thức quản lý, không ôm đồm những việc mà các chủ thể các thành phần kinh tế khác có thế thực hiện được trong tầm kiểm soát của Nhà nước Mặt khác cần nghiên cứu các cơ chế, chính sách tài chính nhằm củng cố và nâng cao hiệu quả quản lý của các doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích, đóng vai trò chủ đạo trong công tác quản lý xã hội hóa bảo vệ môi trường và tạo điều kiện khuyến khích các thành phần kinh tế khác tham gia để tăng thêm sức cạnh tranh nhằm làm tốt công tác vệ sinh môi trường
Khi đã có sự tham gia của các cá nhân, các tổ chức, các thành phần kinh tế sẽ huy động được một nguồn vổn lớn hiện có trong dân, lực lượng tham gia đông đảo chính những yếu tố quan trọng này đã quyết định đến hiệu quả thành công của công tác xã hội hóa vệ sinh môi trường Vì vậy cần có sự đồng bộ nhất quán trong các chính sách quản lý rác thải sinh hoạt, điều đó sẽ khuyến khích, tạo động lực để cộng đồng tham gia vào lĩnh vực hoàn toàn mới này Bên cạnh đó không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn của cán bộ về môi trường trong các cơ quan quản lý Nhà nước từ phường, xã để đảm nhận tốt công tác vệ sinh môi trường trên địa bàn (Dẫn theo Nguyễn Thị Thu Lan, 2008)
2.1.3.5 Đầu tư, huy động nguồn lực phục vụ công tác quản lý rác thải sinh hoạt
Hiện nay công tác quản lý rác thải đang sử dụng nguồn vốn rất lớn từ ngân sách Nhà nước Khi hoạt động quản lý rác thải được xã hội hoá sẽ đem lại nhiều lợi ích trong đó việc thu hút được nguồn lực về con người và vật chất là quan trọng hơn
cả Thực hiện xã hội hoá bảo vệ môi trường chính là nhằm nâng cao trách nhiệm của toàn cộng đồng, việc huy động nguồn vốn đóng góp từ cộng đồng nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường là hết sức cần thiết, từng bước giảm gánh nặng về chi phí của Nhà nước cho công tác vệ sinh môi trường, đã đến lúc chúng ta phải chuyển sang cơ chế người trực tiếp sử dụng và hưởng dịch vụ phải chi trả cho người cung cấp Vì thế mà công tác quản lý rác thải sẽ có điều kiện phát triển, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, tham gia giải quyết những khâu còn bất cập trong quản lý mà Nhà nước chưa có đủ điều kiện và khả năng làm tốt Thực tế bất
Trang 24Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 15
cứ chủ trương hay quyết định nào của Nhà nước mà được sự đồng tình và ủng hộ của cộng đồng nhân dân thì đó là sự thành công lớn nhất (Nguyễn Đồng Minh, 2013)
2.1.3.6 Công tác thanh tra, giám sát việc quản lý rác thải sinh hoạt của cộng đồng
Thanh tra môi trường các cấp thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra và xử
lý nghiêm các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ Môi trường Các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có trách nhiệm phát hiện, nhắc nhở, ngăn chặn hoặc thông báo kịp thời cho chính quyền địa phương những hành vi vi phạm pháp luật đối với các đơn vị, cơ sở sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm môi trường Đồng thời thực hiện tốt công tác phúc tra kết quả khắc phục ô nhiễm môi trường của cơ sở đó Sự tham gia của họ trong giải quyết các vấn đề rác thải sinh hoạt tại địa phương đòi hỏi phải có nhận thức và
tổ chức thực hiện những hoạt động của mình một cách bài bản và hợp lý nhất (Nghị định số 59/2007/NĐ-CP)
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt
2.1.4.1 Cơ chế chính sách
Trong những năm gần đây rác thải sinh hoạt đang trở thành vấn nạn không chỉ ở đô thị mà ở cả vùng nông thôn Để góp phần thực hiện những mục tiêu, chỉ tiêu bảo vệ môi trường, cấp quốc gia, cấp tỉnh, thành phố cũng đưa ra nhiều quyết định, chương trình kế hoạch để giảm thiểu ô nhiễm môi trường do rác thải sinh hoạt gây ra Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản chính sách pháp luật nhằm thúc đẩy việc quản lý rác thải sinh hoạt có sự tham gia của cộng đồng người dân được tốt
hơn (Luật bảo vệ môi trường, 2005)
2.1.4.2 Nhận thức của người dân
Xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt đang là một vấn đề nóng bỏng hiện nay, cần có sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương, các ban ngành liên quan và đặc biệt là mỗi người dân Tuy nhiên ít người nhận thấy đây là vấn đề lớn mang tính xã hội, có liên quan đến sức khỏe của cộng đồng dân cư Khi mà điều kiện kinh tế chưa đủ mạnh thì việc quản lý các vấn đề môi trường là chưa tốt vì thế cần hình thành những thói quen tốt thay đổi thói quen xấu của người dân Ví dụ ý thức của người dân không vứt rác ra nơi công cộng sẽ hạn chế chi phí xã hội cho
Trang 25Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 16
việc thu gom rác thải tại nơi công cộng Những vùng mà người dân có trình độ, nhận thức xã hội cao hơn thì nhận thức rõ ràng hơn về vấn đề rác thải và tác hại của
nó đối với môi trường và sức khỏe của cộng đồng nên việc quản lý rác thải ở các khu vực ấy cũng khác so nơi khác (Dẫn theo Đỗ Đức Mẫn, 2014)
2.1.4.3 Nguồn lực tài chính
Nguồn lực tài chính có ảnh hưởng rất lớn đến công tác xã hội hóa trong quản
lý rác thải sinh hoạt, nhất là trong quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, nguồn kinh phí thường để dành cho công tác đầu tư các công trình hạ tầng
kỹ thuật và hạ tầng xã hội Chính vì thế muốn làm tốt công tác môi trường nói chung và công tác xã hội hóa trong quản lý rác thải nói riêng thì điều kiện về tài chính phục vụ cho công tác phải đủ lớn để mua trang thiết bị, tuyên truyền, tập huấn
có như vậy thì việc quản lý mới đạt hiệu quả (Nguyễn Tuấn Dũng, 2012)
2.1.4.4 Nguồn lực con người
Trong quá trình triển khai công tác xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt thì yếu tố về nguồn lực con người là hết sức quan trọng Bởi vì hiện nay nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về môi trường còn thiếu và yếu, họ thường phải kiêm nhiệm và không có chuyên môn về lĩnh vực môi trường nhiều Đây cũng là một trong những khó khăn, thách thức cần nhanh chóng khắc phục (Dẫn theo Diêm Quốc Dũng, 2014)
2.1.4.5 Các yếu tố khác
Cơ sở hạ tầng chưa đảm bảo, chưa đồng bộ dẫn đến việc xây dựng và quản lý rác thải còn gặp nhiều khó khăn Mức thu nhập của người dân cũng ảnh hưởng đến công tác xã hội hóa trong quản lý RTSH, nếu mức thu nhập mà cao thì họ sẵn sàng chi một khoản tiền để được sống trong môi trường ít bị ô nhiễm và ngược lại Bên cạnh đó thì việc gia tăng dân số dẫn đến nguồn rác thải sinh hoạt tăng nhanh cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện xã hội hoá trong quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn (Dẫn theo Đỗ Đức Mẫn, 2014)
Trang 26Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 17
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 Kinh nghiệm về công tác xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt ở một
số nước trên thế giới
2.2.1.1 Ở Singapore
Sự nhận thức của cộng đồng về môi trường là yếu tố quan trọng nhất làm cơ
sở để duy trì và phát triển thích hợp cho Singapore về môi trường đô thị Các hộ gia đình được khuyến khích tự thu gom và xử lý rác thải để giảm bớt chi phí Bởi đối với mỗi hộ dân, thu gom rác trực tiếp tại nhà mỗi tháng phải trả phí 17 đô la Singapore, thu gom rác gián tiếp tại các khu dân cư thì mỗi tháng chỉ phải trả phí 7
đô la Singapore Bên cạnh đó, Singapore còn thực hiện nhiều chương trình giáo dục nhằm nâng cao nhận thức và hiểu biết của quần chúng về môi trường, đồng thời động viên họ tham gia tích cực vào việc bảo vệ và giữ gìn môi trường Các chương trình giáo dục về môi trường bao gồm từ tiểu học, trung học đến đại học Bên cạnh
đó thì Bộ Môi trường cũng thường xuyên làm việc với các tổ chức xã hội để thực hiện những chiến dịch giáo dục tới tận các cộng đồng dân cư, tới các công chức và
khu vực tư nhân (Nguyễn Huy Côn, 2012)
2.2.1.2 Ở Nhật Bản
Hiện nay vấn đề bảo vệ môi trường là vấn đề mang tính toàn cầu Chính phủ các nước đang cố gắng tìm ra phương án tối ưu để giải quyết vấn đề này một cách hiệu quả nhất Nhật Bản là một trong những nước châu Á đi đầu trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, đặc biệt là xử lý rác thải rất hiệu quả, bởi vì sản xuất càng phát triển thì chất thải càng nhiều Những điều Nhật Bản đã và đang làm trong vấn đề xử
lý rác thải sẽ là những kinh nghiệm rất quý báu với Việt Nam, nếu chúng ta biết vận dụng kịp thời biến rác thành tài nguyên Mỗi năm Nhật Bản thải ra khoảng 55 – 60 triệu tấn rác nhưng chỉ khoảng 5% trong số đó phải đưa đến bãi chôn lấp, còn phần lớn được đưa đến các nhà máy để tái chế Kinh nghiệm quản lý rác thải của Nhật Bản:
Phân loại ngay tại thùng: trên các thùng rác hai bên vệ đường có vẽ những
loại rác được phép bỏ vào, người dân rất tự nguyện bỏ rác đúng loại vào thùng như
là một thói quen sinh hoạt
Trang 27Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 18
Sản xuất đi kèm tái chế: việc thu gom rác ở Nhật cũng không giống như ở
Việt Nam, chất thải từ hộ gia đình thuộc trách nhiệm quản lý của Nhà nước, còn chất thải từ các công ty, nhà máy… cho tư nhân đấu thầu hoặc các công ty do chính quyền địa phương chỉ định Một điều mà Nhật Bản làm rất chặt chẽ trong việc quản
lý rác thải công nghiệp là các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất phải tự chịu trách nhiệm
về rác thải của mình Và điều này được quy định bởi luật về bảo vệ môi trường
Khu công nghiệp sinh thái: chính phủ Nhật Bản chính thức khuyến khích tận
dụng nguồn tài nguyên từ rác thải tái chế, các công ty tái chế chất thải chủ yếu các mặt hàng như bao bì, gỗ, đồ điện tử….Không những khuyến khích các công ty tái chế, tái sử dụng các chất thải, Nhà nước cũng khuyến khích người dân sử dụng rác
như một nguyên liệu sản xuất, xử lý rác thải hữu cơ làm phân bón cho cây trồng
Giáo dục ý thức người dân: chính quyền địa phương thường xuyên tổ chức
các chiến dịch xanh, sạch, đẹp phố phường nhằm nâng cao nhận thức của nhân dân
và tặng thưởng những cá nhân có thành tích xuất sắc Chương trình này đã được đưa vào trường học và đã tỏ ra hiệu quả Học sinh ngay từ cấp tiểu học đã được dạy về việc ý thức bảo vệ môi trường Do đó ý thức bảo vệ môi trường của người dân Nhật
quả thật đáng để Việt Nam học tập theo (Nguyễn Trọng Nhân, 2007)
2.2.1.3 Ở Trung Quốc
Chìa khóa thành công của Trung Quốc về công tác xã hội hóa vệ sinh môi trường là quá trình lập kế hoạch, xác định trách nhiệm tham gia của các cấp chính quyền, các ngành từ trung ương đến địa phương Sau khi lập kế hoạch việc đảm bảo nguồn tài chính là rất quan trọng Từ những năm 90 của thế kỷ XX đã chi đầu tư bình quân hàng năm tương đương 1-1,3% GDP để bảo vệ môi trường, trong đó ưu tiên cho việc thu gom và xử lý rác thải Riêng thủ đô Bắc Kinh và thành phố Thượng Hải dành mức tương đương 3-4% GDP, trong đó phần kinh phí từ ngân sách chiếm 10-20%, các doanh nghiệp đóng góp 60-70% cộng đồng và các tổ chức xã hội đóng góp 10-20% Đồng thời Trung Quốc cũng coi trọng áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường, trong đó có Luật Thuế môi trường, thu lệ phí đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng đồng bộ, phí thu gom và xử lý rác thải, quỹ môi trường địa phương Ngoài ra, để
Trang 28Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 19
tạo nguồn vốn cho đầu tư bảo vệ môi trường, Chính phủ Trung Quốc đã tăng cường hợp tác với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế trên thế giới, chủ yếu trong 3 lĩnh vực: thực hiện dự án khống chế ô nhiễm, hoàn thiện các chính sách, văn bản pháp luật về môi trường tham khảo kinh nghiệm của các nước và giới thiệu các công nghệ và các quỹ hỗ trợ thông qua nhiều kênh khác nhau Nhờ đó, cho đến nay công tác xã hội hóa trong bảo vệ môi trường nói chung và công tác thu gom và xử lý rác thải nói riêng ở các thành phố lớn của Trung Quốc đã được cải thiện đáng kể, góp phần bảo vệ môi trường, duy trì sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững (Lê Huỳnh Mai và Nguyễn Minh Phong, 2008)
2.2.2 Kinh nghiệm về công tác xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt ở các địa phương
2.2.2.1 Một số văn bản chính sách về công tác xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt ở Việt Nam
- Luật bảo vệ môi trường (BVMT) Việt Nam được Quốc hội nước CHXHCN
thông qua ngày 27/12/1993 và có hiệu lực thi hành từ ngày 10/01/1994 Các bộ luật đổi sau đó (năm 2005) đã chú trọng hơn đến vấn đề rác thải và xử lý rác thải Luật này quy định về hoạt động BVMT chính sách, biện pháp và nguồn lực để BVMT; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong BVMT
- Chỉ thị số 36/CT-TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 25/6/1998 đã xác định: “Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân”
- Nghị quyết số 41/NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã nêu ra một số giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường
- Nghị định 59/2007/NĐ-CP về các quy định liên quan đến vấn đề quản lý rác thải như tất cả mọi người dân, đơn vị, tổ chức xã hội phải chấp hành thực hiện các quy định quản lý rác thải
Trang 29Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 20
- Nghị định 69/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/5/2008 về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y
tế, văn hóa, thể thao, môi trường
- Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 05/09/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030 cũng nêu “ Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của toàn xã hội, là nghĩa vụ của mọi người dân; kết hợp phát huy vai trò của cộng đồng, các tổ chức quần chúng và hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới”
2.2.2.2 Xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt ở một số địa phương
a) Ở Hà Nội
Hiện nay ngoài lực lượng chính là Công ty môi trường đô thị, Hà Nội cũng
đã có một số mô hình xã hội hóa thu gom rác thải, cụ thể HTX Thành Công bắt đầu hoạt động từ năm 2002, phạm vi hoạt động trên địa bàn phường Hạ Đình, quận Thanh Xuân Đến nay đã mở rộng hoạt động ra 12 phường xã thuộc các quận huyện khác HTX đã tạo ra thu nhập và giải quyết việc làm cho 547 xã viên, ngoài ra còn được hưởng tổng vốn đầu tư lên đến 24 tỷ đồng Đội xe của HTX có 60 chiếc, trong
đó có 20 xe ép rác chuyên dùng, 15 xe vận tải, còn lại là xe tưới nước, rửa đường Bình quân mỗi ngày HTX thu gom, vận chuyển khoảng 320 tấn rác sinh hoạt và 115 tấn phế thải xây dựng Ưu điểm của mô hình hoạt động này là có sự góp vốn của các xã viên để đầu tư trang thiết bị phục vụ cho hoạt động chung của HTX Với phương châm tiết kiệm, HTX đã có điều kiện tích lũy để đầu tư thêm phương tiện
và mở rộng quy mô hoạt động Với các điều kiện có đầy đủ phương tiện, HTX đảm nhận cả khâu thu gom và vận chuyển rác trên địa bàn đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc phối hợp giữa hai khâu trong một quy trình hoạt động, đảm bảo vệ sinh
môi trường được tốt hơn (Hoàng Thị Kim Chi, 2008)
b) Ở Thừa Thiên Huế
Nhờ làm tốt công tác xã hội hóa trong việc thu gom và xử lý rác thải nên thành phố Huế đang là 1 trong 10 đô thị sạch nhất của cả nước do Hiệp hội các đô thị Việt Nam bình chọn Kết quả bình chọn này dựa trên các tiêu chí: có nhiều sáng
Trang 30Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 21
kiến làm sạch đô thị, toàn dân không vứt rác ra đường, tỉ lệ thu gom rác thải đạt 80% khối lượng trở lên/ ngày, hè phố được lát gạch hoặc bê tông hoá đạt tỉ lệ từ 70% trở lên Được biết Công ty Môi trường và Công trình đô thị Huế đã phối hợp với các xã, phường tăng cường tuyên truyền thực hiện nếp sống văn minh đô thị, giữ gìn vệ sinh môi trường, đổ rác đúng giờ và đúng nơi quy định; đặt thêm 180 thùng rác trên các tuyến phố trung tâm Công ty đã tính toán xây dựng kế hoạch, lộ trình hợp lý cho từng tổ đội, cá nhân để thu gom và vận chuyển hết lượng rác thải trên 377 km đường phố với tổng lượng rác thải khoảng 4.258 m3/ngày đêm; đồng thời quản lý và vận hành 247,3 km đường điện chiếu sáng, tạo điều kiện cho nhân
dân đi lại thuận tiện (Thông tấn xã Việt Nam, 2010)
c) Ở Thành phố Hồ Chí Minh
TP.Hồ Chí Minh được coi là một trong hai thành phố đi đầu trong cả nước về
xã hội hóa công tác thu gom vận chuyển chất thải Ngoài hệ thống chính quy (Công
ty TNHH một thành viên Môi trường đô thị của thành phố, các công ty dịch vụ công ích) thực hiện công tác quản lý rác thải sinh hoạt đô thị, hệ thống phi chính quy do lực lượng thu gom rác thải sinh hoạt dân lập thực hiện, bao gồm các cá nhân thu gom rác, khoảng 30 nghiệp đoàn thu gom; 05 Hợp tác xã thu gom (Quận 2, Quận 4, Quận 6, Quận Gò Vấp, Quận Thủ Đức) Hệ thống này đã thực hiện việc thu gom 60% tổng lượng CTR đô thị Kết quả cho thấy, tuy tổng lượng phát sinh CTR của thành phố là rất lớn (5.128 tấn/ngày) nhưng TP.Hồ Chí Minh vẫn đạt tỷ lệ thu gom rất cao (95%) Mô hình nêu trên đã được TP.Hồ Chí Minh triển khai từ năm 2003 dưới hình thức xã hội hóa hoàn toàn bằng vốn doanh nghiệp trong và ngoài nước Chính nhờ có sự tham gia của các nhóm đơn vị với sự quản lý và điều phối thống nhất từ cấp chính quyền đến cơ sở, nên công tác quản lý CTR đã đạt được những kết quả tốt, có thể là mô hình quản lý tham khảo cho các địa phương khác (Báo cáo môi trường quốc gia, 2011)
2.2.3 Đánh giá chung về công tác xã hội hóa trong quản lý rác thải sinh hoạt
Trong những năm gần đây, phương thức quản lý môi trường dựa vào cộng đồng đã được nhiều dự án quan tâm và thực hiện, đặc biệt quản lý rác thải sinh hoạt
Trang 31Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 22
với cách tiếp cận dựa vào cộng đồng Khi người dân được tham gia trực tiếp vào các bước trong dự án, được chủ động đưa ra các đề xuất, được giám sát quá trình thực hiện và là những người trực tiếp hưởng lợi thành quả của dự án, họ sẽ tích cực tham gia vào các hoạt động quản lý môi trường Sự tham gia của cộng đồng làm tăng sự đồng thuận và niềm tin của nhân dân đối với các quyết định của chính quyền, tăng cường vai trò của cộng đồng địa phương và tăng cường tính dân chủ trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến xả thải chất thải Tuy Đảng và Nhà nước từ lâu đã có chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, trong đó có xã hội hóa công tác quản lý RTSH, nhưng thực tế còn thiếu nhiều văn bản và cơ chế để cụ thể hóa chủ trương này, nhất là việc ban hành cơ chế, hướng dẫn ở cấp địa phương Đặc biệt là chưa có chế tài phù hợp đối với công tác xã hội hóa, tư nhân hóa đối với hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý RTSH Chính điều này đã khiến cho nhiều doanh nghiệp của các địa phương không muốn tư nhân hóa, mà chỉ muốn duy trì hình thức là công ty công ích của nhà nước và độc quyền quản lý RTSH Vấn đề nảy sinh cả từ phía cộng đồng và chính quyền Nhận thức và năng lực của cộng đồng chưa đảm bảo để thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong công tác quản lý môi trường nói chung và quản lý RTSH nói riêng, đặc biệt là ở các khu vực tập trung đông dân nghèo Người dân vẫn còn tư tưởng “ thu gom, vận chuyển, xử
lý rác thải là trách nhiệm của các nhà quản lý, cấp chính quyền” Ý thức của người dân đối với công tác quản lý RTSH, giữ gìn vệ sinh công cộng còn rất thấp Về phía các nhà quản lý, còn thiếu các văn bản quy định phù hợp nhằm thu hút sự tham gia của các đoàn thể, quần chúng và toàn xã hội, chưa triển khai nhiều các chương trình huy động sự tham gia của cộng đồng trong quản lý RTSH
Trang 32Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 23
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Phía Bắc giáp với huyện Kim Động
- Phía Đông và phía Nam giáp với huyện Tiên Lữ
- Phía Tây giáp với tỉnh Hà Nam
Với vị trí địa lý này, thành phố Hưng Yên có điều kiện thuận lợi để giao lưu kinh tế, hàng hóa và các loại hình khác bằng đường bộ, đường sông với thủ đô Hà Nội và các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Hồng và tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc
3.1.1.2 Đặc điểm thổ nhưỡng, địa hình
Địa hình của Thành phố Hưng Yên tương đối bằng phẳng; không có núi, đồi Hướng dốc của địa hình hơi nghiêng và thấp dần từ Tây Bắc sang Đông Nam Độ cao trung bình khoảng 3,6m so với mực nước biển; cao nhất là 4,8m; thấp nhất là 0,45m Đất đai chủ yếu là đất phù sa
3.1.1.3 Khí hậu thời tiết
Nằm ở vị trí trung tâm của đồng bằng châu thổ sông Hồng, khí hậu tỉnh Hưng Yên nói chung và Thành phố Hưng Yên nói riêng mang đầy đủ những sắc
Trang 33Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 24
thái đặc trưng của vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa - đặc trưng của đồng bằng Bắc
Bộ Khí hậu hằng năm có 2 mùa rõ rệt, đó là mùa mưa và mùa khô
Mùa khô: từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, chịu ảnh hưởng chủ yếu của gió Đông Bắc với thời tiết khô hanh, ít mưa, rét lạnh rõ rệt so với mùa hạ Những ngày lạnh nhất vào tháng 12 và tháng 1 năm sau, có đợt rét đậm xuống tới 5 – 60C Thời tiết nồm và mưa phùn là hiện tượng khá độc đáo của nửa cuối mùa đông ở đồng bằng Bắc Bộ
Mùa mưa: từ tháng 5 đến tháng 10, chịu ảnh hưởng chủ yếu của gió Đông Nam với khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều Lượng mưa trung bình từ 1.500 – 1.600 mm và nhiệt
độ tháng nóng nhất vào mùa hè là 39 – 40oC Đặc biệt, trong tháng 8 và tháng 9 thường
có mưa to gió lớn, đây cũng là tháng thường hay có bão tuy nhiên bão không đổ bộ trực tiếp vào thành phố do vậy ảnh hưởng của bão không lớn bằng các vùng ven biển Theo tài liệu khí tượng được theo dõi nhiều năm thì nhiệt độ trung bình năm đạt tới 23 – 240C; nhiệt độ trung bình thấp nhất là 150C và nhiệt độ cao nhất là 40,40C Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.500 – 1.600 mm nhưng phân bố không đồng đều qua các tháng trong năm Số ngày mưa trung bình trong năm khoảng
147 ngày Tổng nhiệt độ hàng năm là 8.500 – 8.6000C Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 86% và cũng ít thay đổi theo các tháng, thường dao động trên 80% Chính
vì thế mà khí hậu ở thành phố Hưng Yên là khá ẩm ướt
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Dân số và lao động
Trang 34Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 25
Bảng 3.1 Tình hình dân số và lao động của thành phố Hưng Yên trong 3 năm (2012 - 2014)
- Lao động nông nghiệp 14.872 36,24 14.012 33,74 13.478 32,15 96,19 94,22 95,20
- Lao động công nghiệp, xây dựng 10.726 26,14 12.066 29,05 14.807 35,32 122,72 112,49 117,49
- Lao động thương mại, dịch vụ 15.439 37,62 15.454 37,21 13.641 32,53 88,27 100,09 93,99
(Nguồn: Phòng Thống kê thành phố Hưng Yên, 2015)
Trang 35Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 26
b) Lao động
Theo số liệu thống kê của UBND thành phố, năm 2014 tổng số lao động của thành phố hiện có là 41.926 người trong độ tuổi lao động, chiếm 48,5% dân số Trong đó, lao động nông nghiệp chiếm 32,15% tổng số lao động nhưng có xu hướng giảm dần trong giai đoạn từ năm 2012 đến nay, trong khi tỷ trọng lao động công nghiệp và xây dựng tiếp tục tăng đều qua các năm Điều này rất dễ hiểu vì nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa, hơn nữa điều này thể hiện rằng đang có sự phân công lại lao động theo hướng giảm trong nông nghiệp, tăng trong công nghiệp và xây dựng Đây
là tín hiệu đáng mừng đánh dấu bước chuyển dịch kinh tế theo đúng hướng của thành phố Bên cạnh đó lao động dịch vụ từ năm 2012 đến năm 2013 cũng
có sự tăng nhẹ nhưng không đáng kể
Cùng với đó, trình độ của người lao động có bước tiến cao với khoảng 71% lao động đã qua đào tạo, tuy nhiên trong tương lai tới cần nâng cao trình
độ trong đội ngũ lao động hơn nữa để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường Vấn đề việc làm trên địa bàn thành phố cũng có nhiều thuận lợi tuy vẫn còn tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm trầm trọng Đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tệ nạn xã hội Chính vì thế, giải quyết việc làm ổn thỏa sẽ ổn định đời sống, trật tự an ninh xã hội địa phương sẽ tốt hơn
Trang 36Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 27
Nhìn chung, cơ cấu lao động của thành phố có sự biến đổi theo xu hướng tốt, thể hiện tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giảm chuyển đổi cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp, tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ
3.1.2.2 Cơ sở hạ tầng, văn hóa, giáo dục
Theo Báo cáo tổng kết phát triển kinh tế - xã hội của UBND thành phố Hưng Yên năm 2015 cho thấy:
a) Về hệ thống giao thông
Hệ thống đường giao thông trên địa bàn khá thuận lợi, tổng chiều dài đường giao thông nội bộ 102 km; trong đó 67 km nội thành, 35km ngoại thành, 100% đều được trải thảm bê tông; thành phố có 148 tuyến đường Đất dành cho giao thông 180 ha chiếm 19,65% diện tích đất xây dựng đô thị; mật
- Quốc lộ 38B: TP.Hải Dương - TP.Hưng Yên - Ninh Bình
- Quốc lộ 39A: TP.Hưng Yên - Phố Nối (Quốc lộ 5A)
- Quốc lộ 39B: TP.Hưng Yên - Thái Bình (Thái Thụy)
Một số tuyến xe bus liên tỉnh chạy qua địa bàn thành phố Hưng Yên, nối TP.Hưng Yên với các huyện khác trong tỉnh và các tỉnh bạn
b) Về y tế
Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân tiếp tục được quan tâm, khám tại Trung tâm y tế thành phố đạt 31.597 lượt bệnh nhân, đảm bảo đủ thuốc, vật tư cho công tác khám chữa bệnh, không xảy ra tai biến trong quá trình điều trị, tinh thần, thái độ phục vụ bệnh nhân tốt Đưa thêm 02 khu nhà điều trị mới của Trung tâm y tế thành phố vào hoạt động và đang hoàn thiện khu khám bệnh, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức 05 đợt kiểm tra liên ngành
Trang 37Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 28
về vệ sinh an toàn thực phẩm, trong đó: kiểm tra 118 lượt cơ sở, nhắc nhở 31
cơ sở chưa đạt yêu cầu, xử phạt 03 cơ sở với số tiền là 1.800.000 đồng Thực hiện tốt công tác quản lý hành nghề y dược tư nhân, đã phối hợp cùng đoàn kiểm tra của tỉnh kiểm tra 03 đợt đối với 45 cơ sở, nhắc nhở 17 cơ sở chưa đạt yêu cầu, xử phạt 11 cơ sở với số tiền là 11.900.000 đồng Chỉ đạo kiểm tra, đánh giá theo tiêu chuẩn Quốc gia về Y tế giai đoạn 2011 - 2020: Kết quả có 03/12 phường, xã (Phường Quang Trung; xã Bảo Khê, Trung Nghĩa) đủ điểm đạt tiêu chí chuẩn Quốc gia về Y tế giai đoạn II (Hiện đang hoàn thiện hồ sơ trình tỉnh phê duyệt)
Trung tâm y tế thành phố và Trạm y tế phường, xã đã chủ động triển khai các biện pháp phòng chống dịch bệnh, tích cực ngăn chặn kịp thời các bệnh có nguy cơ lây lan như: dịch cúm gia cầm, tiêu chảy cấp, dịch sốt xuất huyết, Rubella Tổ chức sơ kết 2 năm thực hiện Đề án số 02-ĐA/ThU ngày 19/8/2011 của Ban thường vụ Thành ủy về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân thành phố Hưng Yên giai đoạn 2011 - 2015
c) Về giáo dục
Thực hiện tốt các cuộc vận động và phong trào thi đua do ngành giáo dục
và đào tạo phát động Chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao, trong năm học 2013 - 2014: số lượng học sinh yếu kém giảm, tỷ lệ học sinh khá giỏi tăng; 100% trẻ mẫu giáo 5 tuổi ra lớp; 100% trẻ 6 tuổi vào lớp 1; 100% số học sinh hoàn thành chương trình Tiểu học vào lớp 6; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS năm đạt 99,8%; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT thi đỗ vào các trường đại học đạt trên 40%; có 17/17 phường, xã đang hoàn thiện hồ sơ đề nghị công nhận đạt phổ cập giáo dục xóa mù chữ; hoàn thành Chương trình phổ cập giáo dục Tiểu học đúng
độ tuổi mức độ II và phổ cập THCS đạt tỷ lệ cao Bên cạnh đó có 9/9 giáo viên
dự thi được công nhận giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh; Có tổng số 209 giải học sinh giỏi cấp tỉnh và 33 giải học sinh giỏi cấp quốc gia (tăng 93 giải so với năm học trước) Thành phố hiện có 23 trường học đạt chuẩn quốc gia, trong đó 02 trường Mầm non, 13 trường Tiểu học, 08 trường THCS Năm học 2013 - 2014, có 03
Trang 38Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 29
trường Tiểu học được công nhận nâng chuẩn từ mức độ I lên mức độ II (Nguyễn Huệ, Quảng Châu, Hiến Nam) và thêm 01 trường Tiểu học Hồng Nam được công nhận đạt chuẩn quốc gia mức độ I Các trường Mầm non, Tiểu học, THCS chưa đạt chuẩn, đang tiếp tục được đầu tư xây dựng để phấn đấu có thêm trường đạt chuẩn quốc gia (Trường Mầm non: Phố Hiến, Lam Sơn; THCS: Bảo Khê, Trung Nghĩa)
d) Về văn hóa và thông tin
Chỉ đạo thực hiện tốt phong trào thi đua "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" và Chương trình xây dựng nông thôn mới Xây dựng Kế hoạch nâng cao chất lượng thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang
Công tác quản lý lễ hội tiếp tục được chấn chỉnh Phong trào xây dựng gia đình
văn hoá, khu phố, làng văn hoá tiếp tục được quan tâm: Tỉ lệ gia đình văn hoá đạt 89%; cơ quan, đơn vị thuộc thành phố đạt chuẩn văn hoá 87%; hiện thành phố có 83/89 làng, khu phố được công nhận làng, khu phố văn hoá đạt 93,26% Hướng dẫn các di tích trên địa bàn thành phố thực hiện việc tổ chức Lễ hội truyền thống trang trọng, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân, đảm bảo nội dung theo đúng quy định của pháp luật Phối hợp thanh tra, kiểm tra các hoạt động văn hoá
và dịch vụ văn hoá công cộng trên địa bàn; rà soát, chấn chỉnh các hoạt động quảng cáo không đúng qui định
Nhiệm vụ thông tin tuyên truyền được đảm bảo phục vụ tốt các ngày Tết, ngày lễ, ngày kỷ niệm và nhiệm vụ chính trị của địa phương Tiến hành chăng, treo 350 băng zôn khẩu hiệu, 1.600 cờ các loại trên các trục đường chính và cửa ngõ vào thành phố Đài truyền thanh thành phố kịp thời phản ánh chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương, xây dựng 315 chương trình phát thanh gốc và phát lại 311 buổi với 2.872 tin, bài được sử dụng Duy trì phát 02 chương trình trên ngày, nội dung phát thanh tập trung vào các lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội, phát triển đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng, tuyên truyền về chủ trương phát triển của thành phố, chú trọng tuyên truyền vào các ngày kỷ niệm lớn của đất nước và của địa phương
Trang 39Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 30
3.1.2.3 Kết quả phát triển kinh tế của thành phố
Thành phố Hưng Yên là địa phương có diện tích tự nhiên nhỏ nhất so với các huyện trong tỉnh Nhưng với lệ thế trung tâm của tỉnh, trong những năm qua, cùng với sự phát triển chung của cả vùng, nền kinh tế thành phố Hưng Yên đã có những bước chuyển biến tích cực, có nhiều khởi sắc Năm
2014, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân tăng 8,63%/năm Cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp: 9,04%; Công nghiệp - xây dựng: 48,58%; Thương mại - dịch vụ: 42,38% Thu nhập bình quân đầu người đạt 35,2 triệu đồng/năm
Nông nghiệp: Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2014 đạt 836,2 tỷ
đồng, trong đó giá trị trồng trọt đạt 379,6 tỷ đồng; chăn nuôi đạt 348,6 tỷ đồng; dịch vụ nông nghiệp và các hoạt động khác đạt 79,6 tỷ đồng; thủy sản đạt 28,2 tỷ đồng
Công nghiệp - xây dựng: Thời gian qua thành phố tích cực quan tâm,
hỗ trợ về vốn, đất đai, khoa học kỹ thuật tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
mở rộng sản xuất và tăng cường đầu tư sản xuất kinh doanh Bởi vậy giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng có xu hướng tăng mạnh Đây là xu hướng tốt góp phần nhanh chóng tạo việc làm cho lao động thành phố nói chung và lao động ngoại thành nói riêng Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong năm đạt được tốc độ tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: công nghiệp may, sản phẩm từ kim loại, gỗ các sản phẩm khác có tăng nhưng không đáng kể
Thương mại - dịch vụ: Kinh doanh thương mại - dịch vụ vẫn đang tiếp
tục phát triển nhanh, đa dạng, phong phú và có chất lượng; ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong ngành kinh tế của thành phố Từ năm 2012 đến năm 2014 giá trị sản xuất dịch vụ tăng 800 tỷ đồng Điều này tạo cơ hội giải quyết việc làm lớn cho lao động ngoại thành thành phố (Nguồn: UBND thành phố Hưng Yên, 2015)
Trang 40Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 31
Bảng 3.2 Kết quả phát triển kinh tế của Thành Phố Hưng Yên
(Nguồn: UBND thành phố Hưng Yên, 2015)
3.1.3 Đánh giá chung về địa bàn nghiên cứu
Trong những năm qua, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh
ủy, HĐND, UBND tỉnh; sự quan tâm giúp đỡ của các sở, ban, ngành, sự phối hợp của các huyện trong tỉnh; sự đoàn kết nỗ lực, quyết tâm cao của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố, thành phố Hưng Yên đã có bước phát triển nhanh và bền vững trên mọi lĩnh vực Tuy là một đô thị nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ nhưng đến nay thành phố vẫn chưa phát triển mạnh cả
về không gian đô thị lẫn cơ sở hạ tầng do nhiều nguyên nhân Thương mại dịch vụ tăng trưởng chậm, sản xuất công nghiệp - xây dựng cơ bản gặp nhiều khó khăn về vốn, tiến độ một số dự án còn chậm: dự án xây dựng chợ Phố Hiến
Bên cạnh đó, công tác kiểm tra đôn đốc của UBND phường, xã, Đội trật tự đô thị có thời điểm chưa thường xuyên; một số phường, xã vai trò của chính quyền theo phân cấp trong công tác quản lý đô thị còn hạn chế Hiện tượng bày bán hàng, sản xuất trên vẻ hè, dưới lòng đường tại một số điểm vẫn