Thu BHXH có vai trò bảo đảm nghĩa vụ của người SDLĐ và người LĐ được thực hiện Theo Luật BHXH, NSDLĐ có nghĩa vụ đăng ký đầy đủ số lao động thuộc diện tham gia BHXH, đóng đầy đủ số tiền
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-
NGUYỄN QUỐC TOẢN
QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN CHƯƠNG MỸ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-
NGUYỄN QUỐC TOẢN
QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN CHƯƠNG MỸ
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60.34.01.02
Người hướng dẫn khoa học
TS Nguyễn Quốc Oánh
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,
tư liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng
Hà Nội, ngày 8 tháng 12 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Quốc Toản
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu mặc dù gặp nhiều khó khăn, bản thân tôi đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo, lãnh đạo cơ quan, bạn bè, đồng nghiệp, các đơn vị liên quan và gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới
TS Nguyễn Quốc Oánh, Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn, tham gia ý kiến, giúp đỡ, động viên tôi khắc phục, vượt qua khó khăn trong quá trình nghiên cứu để tôi hoàn chỉnh bản luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã cung cấp cho tôi những thông tin, kiến thức, truyền đạt những kinh nghiệm trong quá trình học tâp trên lớp cao học để tôi ứng dụng vào nội dung của bản luận văn
Tôi xin cảm ơn lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ, viên chức Bảo hiểm Xã hội huyên Chương Mỹ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu; trân trọng cảm ơn tới các cơ quan, đơn vị đã cộng tác giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin, dữ liệu, nghiên cứu luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, cổ vũ và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi yên tâm học tập và nghiên cứu
Hà Nội, ngày 8 tháng 12 năm 2015
Học viên
Nguyễn Quốc Toản
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục bảng vii
Danh mục biểu đồ viii
Danh mục sơ đồ viii
Danh mục các chữ viết tắt ix
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở lý luận về quản lý thu bảo hiểm xã hội đối với doanh nghiệp 4
2.1.1 Khái niệm, các loại hình và chế độ bảo hiểm xã hội 4
2.1.2 Thu bảo hiểm xã hội 10
2.1.3 Nguyên tắc, mục tiêu quản lý thu bảo hiểm xã hội 14
2.1.4 Nội dung quản lý thu bảo hiểm xã hội 15
2.1.5 Các yếu tố tác động đến quản lý thu bảo hiểm xã hội 25
2.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý thu BHXH đối với các doanh nghiệp 28
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý thu bảo hiểm xã hội đối với các doanh nghiệp trên thế giới 28
2.2.2 Kinh nghiệm quản lý thu bảo hiểm xã hội đối với các doanh nghiệp ở Việt Nam 30
Trang 62.2.3 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài 33
2.2.4 Một số bài học kinh nghiệm có thể áp dụng cho công tác quản lý thu bảo hiểm xã hội đối với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Chương Mỹ 34
PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 36
3.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội huyện Chương Mỹ 36
3.1.2 Vài nét về cơ quan bảo hiểm xã hội huyện Chương Mỹ 39
3.2 Phương pháp nghiên cứu 42
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 42
3.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 43
3.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 44
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45
4.1 Quy trình quản lý thu bảo hiểm xã hội đối với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Chương Mỹ, Thành phố hà Nội 45
4.2 Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội đối với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội 47
4.2.1 Quản lý đối tượng tham gia BHXH 47
4.2.2 Quản lý tổ chức thu BHXH đối với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Chương Mỹ 53
4.2.3 Quản lý nợ đọng BHXH 63
4.2.4 Công tác kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm 67
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu BHXH đối với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội 69
4.3.1 Hệ thống chính sách BHXH 69
4.3.2 Mức độ hiểu biết về BHXH 71
4.3.3 Mức xử phạt trong vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội 73
4.3.4 Công tác tuyên truyền 75
4.3.5 Sự phối hợp giữa các ngành liên quan 77
Trang 74.4 Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý thu BHXN đối với các
doanh nghiệp trên địa bàn huyện Chương Mỹ 79
4.4.1 Định hướng công quản lý thu BHXH đối với các doanh nghiệp 79
4.4.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý thu BHXN đối với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Chương Mỹ 80
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87
5.1 Kết luận 87
5.2 Kiến nghị 88
5.2.1 Kiến nghị với Nhà nước 88
5.2.2 Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội Việt Nam 90
5.2.3 Kiến nghị với cấp uỷ, chính quyền địa phương 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Số đơn vị và lao động tham gia BHXH trên địa bàn huyện Chương Mỹ
giai đoạn 2010-2014 49
Bảng 4.2 Kế hoạch thu quỹ BHXH ở BHXH huyện Chương Mỹ (2010-2014) 56
Bảng 4.3 Kết quả thu BHXH huyện Chương Mỹ giai đoạn 2010-2014 59
Bảng 4.4 Kết quả thu BHXH theo khối ở huyện Chương Mỹ giai đoạn 2010-2014 60
Bảng 4.5 Nợ đọng BHXH các khối tại BHXH huyện Chương Mỹ giai đoạn 2010-2014 64
Bảng 4.6 Kết quả thực hiện thanh tra, kiểm tra nghĩa vụ đóng BHXH đối với các doanh nghiệp giai đoạn 2010-2014 68
Bảng 4.7 Ý kiến của đơn vị sử dụng lao động về thủ tục tham gia, thủ tục hưởng BHXH 70
Bảng 4.8 Ý kiến của người lao động về mức đóng BHXH 71
Bảng 4.9 Hiểu biết BHXH của người sử dụng lao động 72
Bảng 4.10 Hiểu biết về BHXH của người lao động 73
Bảng 4.11 Đánh giá của cán bộ quản lý về mức xử phạt vi phạm lĩnh vực BHXH 75
Bảng 4.12 Nguồn thông tin tìm hiểu về BHXH của người lao động 76
Bảng 4.13 Tình hình phối hợp giữa BHXH huyện Chương Mỹ với các sở, ngành năm 2014 78
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Số đơn vị và lao động tham gia BHXH của khối Doanh nghiệp Nhà nước giai đoạn 2010-2014 50 Biểu đồ 4.2 Số đơn vị và lao động tham gia BHXH của khối Doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài giai đoạn 2010-2014 51 Biểu đồ 4.3 Số đơn vị và lao động tham gia BHXH của khối Doanh nghiệp ngoài quốc doanh giai đoạn 2010-2014 52 Biểu đồ 4.4 Quỹ lương trích đóng BHXH của các khối đơn vị trên địa bàn huyện Chương Mỹ (2010-2014) 54 Biểu đồ 4.5 Kết quả thu BHXH khối DNNN giai đoạn 2010 - 2014 61 Biểu đồ 4.6 Kết quả thu BHXH khối DNNN giai đoạn 2010 - 2014 62 Biểu đồ 4.7 Kết quả thu BHXH khối Doanh nghiệp ngoài quốc doanh giai đoạn
2010 - 2014 62 Biểu đồ 4.8 Nợ đọng BHXH các khối tại BHXH huyện Chương Mỹ giai đoạn
2010-2014 65
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 4.1 Quy trình quản lý thu bảo hiểm xã hội đối với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Chương Mỹ 45
Trang 10DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LD, VPĐD Liên doanh, văn phòng đại diện
TNLĐ – BNN Tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp
Trang 11PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm xã hội ra đời và phát triển cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của nhân loại Theo tổ chức lao động Quốc tế (ILO) thì nước Phổ (nay là Cộng hòa Liên bang Đức) là nước đầu tiên trên thế giới ban hành chế độ bảo hiểm ốm đau vào năm 1883, đánh dấu sự ra đời của BHXH và coi nó là một trong những chính sách quan trọng nhất trong hệ thống chính sách an sinh xã hội
Ngày nay, BHXH đã trở thành một công cụ hữu hiệu, mang tính nhân văn sâu sắc để giúp con người vượt qua những khó khăn, rủi ro phát sinh trong cuộc sống và trong quá trình lao động như bị ốm đau, chăm sóc y tế, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, mất khả năng lao động, già cả hoặc bị chết, bằng việc lập các quỹ BHXH từ sự đóng góp của các bên tham gia BHXH
và Nhà nước để trợ giúp cho họ khi gặp các rủi ro trên Vì thế, BHXH ngày càng trở thành nền tảng cơ bản cho an sinh xã hội của mỗi quốc gia, của mọi thể chế nhà nước và được thực hiện ở hầu hết các nước trên thế giới
Ở nước ta, Đảng và Nhà nước luôn xác định chính sách BHXH là chính sách có tính nhân văn sâu sắc, có tầm quan trọng và vai trò to lớn đối với cuộc sống con người, là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, đã được Đảng và Nhà nước quan tâm thực hiện ngay từ những ngày đầu thành lập và thường xuyên bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn của đất nước Đảng và Nhà nước ta xác định triển khai thực hiện tốt chính sách BHXH
là tạo nên một mạng lưới an toàn có tính nhân văn góp phần để ổn định cuộc sống về mặt vật chất và tinh thần cho người lao động, đồng thời đảm bảo an sinh
xã hội, đẩy nhanh sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước Để thực hiện quan điểm này ngày 16/02/1995 Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 19/CP thành lập BHXH Việt Nam Bảo hiểm xã hội Việt Nam được tổ chức theo hệ thống dọc 3 cấp, đó là BHXH Việt Nam, BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và BHXH các quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh
Trang 12Theo mô hình hệ thống dọc 3 cấp, Bảo hiểm xã hội huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội được thành lập ngày 15/6/1995 sau 19 năm thành lập, BHXH huyện Chương Mỹ đã không ngừng phát triển Với chức năng nhiệm vụ được giao, BHXH huyện Chương Mỹ đã triển khai, tổ chức thực hiện có hiệu quả chính sách BHXH, BHYT, BHTN góp phần bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn huyện Chương Mỹ
Xác định quản lý thu BHXH là một trong những nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt của ngành nhằm đáp ứng các yêu cầu về tăng trưởng và khả năng cân đối quỹ đảm bảo chi trả các chế độ BHXH cho người lao động Với mục tiêu thu đúng, thu đủ, thu kịp thời theo quy định, giảm số nợ đọng, không ngừng mở rộng đối tượng tham gia, có như vậy người lao động mới sớm được thụ hưởng quyền lợi BHXH BHXH huyện Chương Mỹ đã luôn coi trọng, tập trung lãnh đạo, tổ chức thực hiện tốt và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên, thời gian qua quản lý thu BHXH cũng gặp nhiều khó khăn, bất cập như:
- Số đơn vị, số lao động tham gia BHXH bắt buộc khu vực ngoài nhà nước tỷ lệ tham gia BHXH còn thấp
- Công tác tuyên truyền về chính sách BHXH còn hạn chế nên một bộ phận người sử dụng lao động và người lao động chưa hiểu được bản chất tốt đẹp, tính nhân văn của chính sách BHXH nên chưa tham gia BHXH
- Công tác quản lý còn thiếu đồng bộ, cơ chế phối hợp trong thực hiện Luật BHXH còn nhiều bất cập Chế tài xử phạt chưa đủ mạnh, mức phạt quá nhẹ, tính cưỡng chế của pháp luật chưa nghiêm do đó nhiều chủ sử dụng lao động trốn đóng BHXH, đóng không đủ số người thuộc diện tham gia, không thực hiện trích nộp BHXH kịp thời theo quy định
Để khắc phục những hạn chế, bất cập nói trên, nhằm mở rộng và tăng trưởng nguồn thu BHXH, phát triển bền vững quỹ BHXH trên địa bàn huyện, rất cần có những giải pháp cụ thể
Qua thời gian công tác tại BHXH huyện Chương Mỹ, với những kiến thức
cơ bản tiếp thu từ khoa học, những kinh nghiệm thực tiễn trong công tác thu
BHXH Tác giả chọn đề tài “Quản lý thu BHXH đối với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Chương Mỹ” làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Trang 131.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản
lý thu BHXH đối với các doanh nghiệp, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác quản lý thu BHXH đối với các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội trong thời gian tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề liên quan đến công tác quản lý thu BHXH như cơ chế, chính sách mức đóng BHXH, phương thức đóng, thủ tục thực hiện, hành vi vi phạm và
Mỹ (gồm: quy trình thu, quản lý thu, các yếu tố ảnh hưởng )
b) Phạm vi về không gian: Đề tài được thực hiện trên địa bàn huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội
c) Phạm vi về thời gian: Số liệu thứ cấp được thu thập trong 5 năm từ năm 2010-2014; Số liệu sơ cấp được tập trung thu thập vào năm 2014
Trang 14PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận về quản lý thu bảo hiểm xã hội đối với doanh nghiệp
2.1.1 Khái niệm, các loại hình và chế độ bảo hiểm xã hội
2.1.1.1 Khái niệm quản lý
Để nghiên cứu khái niệm quản lý nhà nước, trước hết cần làm rõ khái niệm “quản lý” Thuật ngữ “quản lý” thường được hiểu theo những cách khác nhau tuỳ theo góc độ khoa học khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội
Theo quan niệm của C.Mác: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân
và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng” (C Mác và Ph Ăng ghen, 1993) Ông cho rằng quản lý là nhằm phối hợp các lao động đơn lẻ để đạt được cái thống nhất của toàn bộ quá trình sản xuất Ở đây Mác đã tiếp cận khái niệm quản lý từ góc độ mục đích của quản lý Theo quan niệm của các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay: Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã
đề ra và đúng với ý trí của người quản lý Theo cách hiểu này thì quản lý là việc
tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của xã hội nhằm đạt được một mục đích của người quản lý Theo cách tiếp cận này, quản lý đã nói rõ lên cách thức quản lý và mục đích quản lý (Nguyễn Danh Long, 2013)
Trang 15Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu
2.1.1.2 Khái niệm doanh nghiệp
Xét theo quan điểm chức năng:
Doanh nghiệp được định nghĩa như sau: "Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy
Xét theo quan điểm phát triển:
Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải Nó sinh
ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được
Xét theo quan điểm luật pháp:
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoạt động kinh tế theo chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế trong phạm vi vốn đầu tư
do doanh nghiệp quản lý và chịu sự quản lý của nhà nước bằng các loại luật và chính sách thực thi
Điều 4, Luật Doanh nghiệp năm 2005 định nghĩa: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”
2.1.1.3 Khái niệm bảo hiểm xã hội
Thuật ngữ “Bảo hiểm xã hội” lần đầu tiên chính thức được sử dụng làm tiêu đề cho một văn bản pháp luật vào năm 1935 (Luật Bảo hiểm xã hội năm
1935 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ) Thuật ngữ này xuất hiện trở lại trong một
Trang 16đạo luật được thông qua tại New Zealand năm 1938 Năm 1941, trong thời gian chiến tranh thế giới thứ hai, thuật ngữ này được dùng trong Hiến chương Đại Tây Dương
Tổ chức Lao động quốc tế (iLO) nhanh chóng chấp nhận thuật ngữ “bảo hiểm xã hội”, đây là mốc quan trọng ghi nhận giá trị của thuật ngữ này, một thuật ngữ diễn đạt đơn giản nhưng phản ánh được nguyện vọng sâu sắc nhất của nhân dân lao động trên toàn thế giới
Thuật ngữ “bảo hiểm xã hội” được hiểu không giống nhau giữa các nước
về mức độ phạm vi rộng hẹp của nó Tuy nhiên, về cơ bản thì thuật ngữ này được hiểu với nghĩa là sự bảo đảm an toàn của xã hội dành cho thành viên của nó thông qua các quy trình của hệ thống công cộng, nhằm giải toả những lo âu về kinh tế và xã hội cho thành viên Nói cách khác, nó góp phần giúp các thành viên trong xã hội và gia đình khắc phục sự suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập thực tế
do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hưu trí, và
tử tuất; đồng thời cung cấp về dịch vụ y tế, trợ cấp gia đình có con nhỏ.
Theo D Pieters bảo hiểm xã hội được hiểu với tư cách là một tổ chức được hình thành với mục đích hỗ tương giữa người với người để đối phó với sự thiếu hụt thu nhập (chẳng hạn như thu nhập từ tiền công lao động), hoặc những tổn thất cụ thể khác
Sinfield thì đề nghị BHXH nên được định nghĩa là một cơ chế bảo đảm an toàn toàn diện cho con người chống lại sự mất mát về vật chất quan điểm của Berghman cũng tương tự như thế, Berghman quan niệm rằng BHXH là một cơ chế bảo hộ toàn diện cho con người chống lại những tổn thất vật chất.Theo Giancarlo Perone bảo hiểm xã hội là một hệ thống bao gồm những lợi ích và dịch
vụ cung cấp cho công dân khi cần thiết, bất kể công dân đó làm công việc gì
Dưới góc độ pháp lý, Bảo hiểm xã hội là một chế định bảo vệ người lao động, sử dụng nguồn tiền đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và được
sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình quân do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hết tuổi lao động hoặc khi chết.
Trang 17Ở Việt Nam theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật BHXH 2006, BHXH được định nghĩa như sau: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần
thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”.
Trong luận văn này, khái niệm BHXH được sử dụng là khái niệm BHXH được xác định trong Luật BHXH ban hành năm 2007
Cho đến nay, có hai loại hình BHXH chủ yếu là BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện
BHXH bắt buộc là loại hình BHXH mà NLĐ và người SDLĐ phải tham gia BHXH tự nguyện là loại hình BHXH mà NLĐ tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng BHXH
Bản chất của BHXH bắt buộc:
BHXH bắt buộc là phạm trù kinh tế xã hội tổng hợp, là một trong những chính sách kinh tế xã hội cơ bản nhất của mỗi quốc gia Nó thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức và quản lý của mỗi quốc gia BHXH bắt buộc có bản chất từ tính người của con người trong xã hội công xã nguyên thuỷ, những khó khăn, rủi ro, bất trắc của cá nhân hay một nhóm người nào đó đã được cộng đồng san sẻ và gánh vác Khi xã hội phát triển,
do sự tiến bộ của khoa học công nghệ, với các cuộc cách mạng công nghiệp và
sự khủng hoảng kinh tế thiên tai, dịch bệnh đã làm cho đời sống của NLĐ bấp bênh, con người đã tự giác nhận ra cần có các quỹ dự trữ tiền tệ nhằm mục đích chia sẻ khó khăn khi NLĐ không may gặp rủi ro như mất việc, hết tuổi lao động,
ốm đau và tử vong Cho đến nay, BHXH bắt buộc trong hệ thống ASXH của các quốc gia trên thế giới phát triển một cách đa dạng, nhiều loại hình và nhiều chế
độ khác nhau
Ở Việt Nam, BHXH là một trong những công cụ của chính sách xã hội được Đảng và Nhà nước ta thực hiện nhằm góp phần ổn định và đảm bảo sự công bằng trong xã hội Cũng như bản chất chung của BHXH trên thế giới, ở Việt
Trang 18Nam hiện nay bản chất của BHXH bắt buộc được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau đây:
- Mối quan hệ giữa các bên của BHXH bắt buộc phát sinh trên cơ sở quan
hệ lao động và diễn ra giữa 03 bên: Bên tham gia BHXH bắt buộc, bên BHXH và bên được BHXH Bên tham gia BHXH bắt buộc là NLĐ và người SDLĐ Bên BHXH thông thường là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ Bên được BHXH là NLĐ và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong BHXH bắt buộc có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con người như: ốm đau, tai nạn lai động, bệnh nghề nghiệp Hoặc cũng có thể là những trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: Tuổi già, thai sản Đồng thời những biến cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải những biến cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tiền tệ tập trung được tích lại Nguồn quỹ này do bên tham gia BHXH bắt buộc đóng góp là chủ yếu, ngoài ra còn được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước
BHXH bắt buộc là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hóa hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ thuê - mướn lao động phát triển đến một mức độ nào đó và hoàn thiện Kinh tế càng phát triển thì BHXH bắt buộc càng đa dạng và hoàn thiện Vì thế có thể nói kinh tế là nền tảng của BHXH bắt buộc hay BHXH bắt buộc không vượt qua trạng thái kinh tế của mỗi quốc gia
Mục tiêu của BHXH bắt buộc là nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm
2.1.1.4 Chế độ bảo hiểm xã hội
Chế độ BHXH là sự cụ thể hoá chính sách BHXH, là hệ thống các quy định
cụ thể và chi tiết, là sự bố trí, sắp xếp các phương tiện để thực hiện BHXH đối với NLĐ Nói cách khác, đó là một hệ thống các quy định được pháp luật hoá về đối
tượng hưởng, nghĩa vụ và mức đóng góp cho từng trường hợp BHXH cụ thể
Các chế độ BHXH là hệ thống các quy định về mức hưởng của từng trường hợp, điều kiện hưởng, mức hưởng và thời hạn hưởng cho người lao động
Trang 19khi họ gặp phải những rủi ro thuộc từng phạm vi bảo hiểm Tùy theo điều kiện,
hệ thống BHXH của mỗi nước có thể có các chế độ BHXH khác nhau trong số 9 chế độ mà Tổ chức Lao động quốc tế quy định Có thể nói, các chế độ là nội dung cốt lõi nhất của BHXH
Theo Công ước số 102 tháng 6 năm 1952 tại Genève của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), hệ thống các chế độ BHXH bao gồm:
(9) Trợ cấp cho người còn sống (Trợ cấp mất người nuôi dưỡng)
Mỗi chế độ BHXH đều căn cứ vào các cơ sở như: kinh tế xã hội, đặc điểm sinh học của người dân, điều kiện và môi trường lao động… Tùy theo điều kiện cụ thể mà mỗi quốc gia tham gia công ước Genève thực hiện ở các mức độ khác nhau, nhưng phải thực hiện ít nhất 3 chế độ, trong đó phải có một trong năm chế
độ (3), (4), (5), (8), (9)
Theo điều 2 của Luật BHXH Việt Nam năm 2006, BHXH bắt buộc nước
ta bao gồm 5 chế độ: chế độ trợ cấp ốm đau, chế độ trợ cấp thai sản, chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí và chế độ tử tuất
Chế độ trợ cấp ốm đau: Chế độ này giúp cho người lao động có được khoản trợ cấp thay thế thu nhập bị mất do không làm việc được khi bị ốm đau Người tham gia được hưởng chế độ này khi có giấy chứng nhận y tế là ốm đau Mức trợ cấp ốm đau cũng được quy định khác nhau theo số năm đóng BHXH
Chế độ trợ cấp thai sản: Giúp lao động nữ và trẻ sơ sinh được chăm sóc cần thiết và có được khoản trợ cấp thay thế cho thu nhập bị mất do không làm việc được khi nghỉ thai sản Chế độ này ở Việt Nam đã tính đến yếu tố điều kiện
Trang 20và môi trường lao động nhằm đảm bào sức khỏe cho sản phụ ở các nhóm lao động khác nhau
Chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp: Chế độ này góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động không may bị tai nạn trong quá trình lao động hoặc do các nguyên nhân trong công việc mà bị mắc bệnh như: môi trường làm việc độc hại, công việc có tính chất căng thẳng Chế độ này còn quy định rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với các trường hợp xảy ra TNLĐ Mức trợ cấp của chế độ này dựa trên cơ sở tỷ lệ suy giảm khả năng lao động
Chế độ hưu trí: Đây là chế độ mà người lao động thường quan tâm nhất, cung cấp một khoản trợ cấp thay thế cho phần thu nhập không còn nhận được từ nghề nghiệp do nghỉ hưu Hiện nay, ở nước ta đã bóc tách được phần lớn các chế
độ ưu đãi xã hội ra khỏi chế độ hưu trí Điều kiện hưởng chế độ này phụ thuộc vào hai yếu tố chủ yếu là độ tuổi nghỉ hưu và số năm đóng BHXH, ngoài ra còn phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe và tính chất công việc
Chế độ tử tuất: Đây là một trong những chế độ BHXH mang tính nhân đạo nhất Chế độ này giúp cho thân nhân người chết có được khoản trợ cấp bù đắp một phần thiếu hụt thu nhập của gia đình khi một người lao động mất đi Chế
độ này ở Việt Nam đã tính đến yếu tố đóng góp của người tham gia bảo hiểm, yếu tố xã hội giữa người sống và người chết, đặc biệt có tính đến yếu tố kế thừa đối với thân nhân người chết
2.1.2 Thu bảo hiểm xã hội
2.1.2.1 Khái niệm thu bảo hiểm xã hội
Thu BHXH là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để bắt buộc các đối tượng phải đóng BHXH theo mức phí quy định hoặc cho phép một số đối tượng tự nguyện tham gia, lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình Trên cơ sở đó hình thành một quỹ tiền tệ tập trung nhằm mục đích bảo đảm cho các hoạt động BHXH
Thu BHXH ở Việt Nam được thực hiện theo 03 cấp: Trung ương; tỉnh, thành phố; quận, huyện, thị xã Trong ba cấp này BHXH cấp tỉnh, thành phố; quận, huyện trực tiếp thu BHXH của các đối tượng, cấp Trung ương có nhiệm vụ tổng hợp số liệu thu trong toàn quốc và nghiên cứu, xây dựng, tham mưu giúp
Trang 21lãnh đạo đưa ra các văn bản chỉ đạo, xử lý trong công tác thu BHXH và trực tiếp chỉ đạo BHXH các tỉnh, thành phố thực hiện thu BHXH
2.1.2.2 Vai trò của thu bảo hiểm xã hội
Một là Thu BHXH có vai trò bảo đảm tạo lập quỹ BHXH và thực hiện chính sách BHXH
Thu BHXH là hoạt động thường xuyên và đa dạng của ngành BHXH nhằm đảm bảo nguồn quỹ tài chính BHXH đạt tập trung, thống nhất Qua đó, đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện và triển khai chính sách BHXH nói chung và giữa những người tham gia BHXH nói riêng
Thu BHXH ở hiện tại ảnh hưởng trực tiếp đến chi và quá trình thực hiện chính sách BHXH trong tương lai BHXH cũng như các loại hình bảo hiểm khác đều dựa trên cơ sở nguyên tắc có đóng có hưởng BHXH đã đặt ra yêu cầu đối với thu nộp BHXH Nếu không thu được BHXH thì quỹ BHXH không có nguồn để chi trả các chế độ BHXH cho NLĐ Do đó, thu BHXH đóng một vai trò quyết định, then chốt trong quá trình đảm bảo ổn định cuộc sống cho NLĐ Để thực hiện chính sách BHXH thuận lợi thì thu BHXH có vai trò như một điều kiện cần
và đủ Bởi thu BHXH là đầu vào, là nguồn hình thành cơ bản nhất trong quá trình tạo lập quỹ BHXH
Thu BHXH có vai trò bảo đảm nghĩa vụ của người SDLĐ và người LĐ được thực hiện
Theo Luật BHXH, NSDLĐ có nghĩa vụ đăng ký đầy đủ số lao động thuộc diện tham gia BHXH, đóng đầy đủ số tiền BHXH của đơn vị và hàng tháng trích
từ tiền lương, tiền công của NLĐ để đóng cho cơ quan BHXH cùng với phần đóng BHXH của NSDLĐ NLĐ có nghĩa vụ đóng đầy đủ, kịp thời BHXH theo quy định Như vậy ngoài quyền của NLĐ và NSDLĐ khi tham gia BHXH thì NSDLĐ và NLĐ có nghĩa vụ đóng BHXH đầy đủ, kịp thời Thu BHXH bảo đảm NSDLĐ và NLĐ thực hiện nghĩa vụ của mình khi tham gia BHXH
Thu BHXH có vai trò trong việc đảm bảo sự công bằng trong BHXH
BHXH không nhằm mục đích kinh doanh, không vì lợi nhuận, nhưng phân phối trong BHXH là sự chuyển dịch thu nhập mang tính xã hội, là sự phân
Trang 22phối lại thu nhập BHXH dựa trên nguyên tắc NLĐ bình đẳng trong nghĩa vụ đóng góp và hưởng quyền lợi BHXH thông qua hoạt động của mình BHXH tham gia vào phân phối và phân phối lại thu nhập xã hội giữa những NLĐ thế hệ trước với thế hệ sau, giữa những ngành nghề sản xuất, giữa những người thu nhập cao và người có thu nhập thấp, giữa những người khoẻ mạnh, may mắn có việc làm ổn định và những người ốm, yếu, gặp phải những biến cố rủi ro trong lao động sản xuất và trong cuộc sống Vì vậy, BHXH góp phần làm giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo đồng thời góp phần thực hiện công bằng xã hội
Thu BHXH là khâu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để BHXH thực hiện được vai trò trên Bởi lẽ, thu BHXH đảm bảo nguồn lực để chính sách BHXH được thực thi Bên cạnh đó, ngoài việc đảm bảo cho quỹ BHXH tập trung về một mối, thu BHXH còn đóng vai trò như một công cụ thanh tra, kiểm tra số lượng người tham gia BHXH ở từng cơ quan, đơn vị, địa phương hoặc trên phạm vi toàn quốc Bởi thu BHXH cũng được tổ chức tập trung, thống nhất, có sự ràng buộc chặt chẽ từ trên xuống dưới, đảm bảo an toàn tuyệt đối về tài chính, đảm bảo độ chính xác trong ghi chép kết quả đóng BHXH của từng cơ quan đơn vị cũng như của từng NLĐ Hơn nữa, hoạt động thu BHXH là hoạt động có tính kế thừa, số thu BHXH một phần dựa trên số lượng người và số tiền lương, tiền công tham BHXH
để tạo lập lên quỹ BHXH - nguồn lực để thực hiện chính sách BHXH
2.1.2.3 Quy trình thu bảo hiểm xã hội
Quy trình thu BHXH là tổng thể các công việc phải thực hiện theo các bước khác nhau trong quá trình thực hiện thu BHXH để đạt được mục tiêu đề ra với hiệu quả cao nhất Để thực hiện tốt nhất mục tiêu của quản lý thu BHXH một quy trình thu tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị sử dụng và cán bộ chuyên trách thu của cơ quan BHXH
Quy trình thu bảo hiểm xã hội bắt buộc:
Như đã trình bày ở trên, có hai loại hình BHXH là BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện Thu BHXH của mỗi loại hình có quy trình khác nhau
Trang 23Quy trình thu BHXH bắt buộc gồm 2 bước Bước 1, đơn vị sử dụng lao động thực hiện các thủ tục theo quy định của cơ quan quản lý Bước 2, cơ quan BHXH thực hiện các việc xử lý hồ sơ và thực hiện thu BHXH
Ở bước 1, đơn vị sử dụng lao động căn cứ vào số lao động phải tham gia BHXH theo quy định, đơn vị sử dụng lao động lập tờ khai mẫu (A01-TS) và danh sách lao động tham gia BHXH mẫu (D02a-TS) để đăng ký tham gia BHXH cho lao động thuộc đơn vị mình Khi có tăng, giảm lao động tham gia BHXH hoặc tăng, giảm mức lương tham gia BHXH của người lao động, đơn vị
sử dụng lao động lập biểu báo tăng, báo giảm (mẫu D02a-TS) để nộp cơ quan BHXH Định kỳ hàng tháng đơn vị sử dụng lao động có trách nhiệm phải trích nộp 8% tiền lương của người lao động và 18% quỹ tiền lương của đơn vị nộp
cơ quan BHXH qua tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH mở tại ngân hàng, không nộp tiền mặt trực tiếp tại cơ quan BHXH
Ở bước 2, cơ quan BHXH nhận tờ khai, danh sách tham gia BHXH của đơn vị sử dụng lao động, danh sách báo tăng, giảm lao động, tăng, giảm tiền lương tham gia BHXH Kiểm tra, đối chiếu và nhập vào phần mềm chuyên thu BHXH đảm bảo chính xác hồ sơ cá nhân, mức tiền lương đóng BHXH của từng lao động, quỹ tiền lương tham gia BHXH của từng đơn vị Chuyển hồ sơ sang
bộ phận cấp sổ BHXH, thẻ BHYT để cấp sổ BHXH, thẻ BHYT cho những lao động tăng mới, xác nhận quá trình tham gia BHXH trên BHXH để giải quyết các chế độ BHXH cho lao động giảm tham gia BHXH Hàng tháng in thông báo số phải đóng BHXH và số đã nộp của từng đơn vị sử dụng lao động ( mẫu C12-TS) gửi đơn vị sử dụng lao động
Quy trình thu bảo hiểm xã hội tự nguyện cũng gồm 2 bước:
Bước 1, người không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc có nhu cầu tham gia BHXH đến cơ quan BHXH huyện nơi đăng ký hộ khẩu thường trú
để đăng ký kê khai tham gia BHXH theo các mức tùy theo thu nhập của mình
để đóng BHXH, có thể đăng ký đóng hàng tháng, quý, 6 tháng hoặc một năm một lần
Trang 24Bước 2, cơ quan BHXH kiểm tra việc kê khai và viết phiếu thu tiền, cấp
sổ BHXH và xác nhận trên sổ BHXH khi người tham gia BHXH tự nguyện dừng đóng
2.1.3 Nguyên tắc, mục tiêu quản lý thu bảo hiểm xã hội
2.1.3.1 Nguyên tắc
Quản lý thu BHXH được thực hiện theo các nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc thống nhất công bằng, công khai, dân chủ, minh bạch:
Đây là nguyên tắc cao nhất trong quản lý thu BHXH cũng như trong hoạt động BHXH nói chung Bởi lẽ, chỉ có như vậy mới thực hiện được vai trò và mục đích của thu BHXH, tạo ra được một nguồn lực to lớn để thực hiện các chế
độ BHXH cho NLĐ và cung cấp nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước
Nguyên tắc này đòi hỏi chính sách, chế độ BHXH và cơ chế tạo lập và sử dụng quỹ được thực hiện thống nhất trong toàn quốc Chế độ đóng góp và hưởng thụ được thực hiện công bằng đối với mọi đối tượng, không phân biệt đối xử theo giới tính, dân tộc, địa giới hành chính… Bên cạnh đó, quỹ BHXH được công khai, được thanh tra, kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý Nhà nước và các tổ chức xã hội
Tất cả các chế độ chính sách đối với mọi đối tượng được áp dụng và điều chỉnh một cách thống nhất trong toàn ngành đảm bảo đầy đủ quyền lợi của NLĐ, đảm bảo công bằng, công khai, dân chủ
Trong quản lý thu BHXH, mục tiêu quan trọng và phải luôn hướng tới là mục tiêu công bằng, công khai và dân chủ Cơ chế dựa trên một hệ thống tiêu chí phản ánh đầy đủ các nội dung cần quản lý được xây dựng Hệ thống đó được xây dựng một cách công khai, dân chủ, được mọi người, mọi đơn vị tham gia thảo luận và thống nhất trước khi tổ chức thực hiện Hệ thống đó cũng được bổ sung, sửa đổi hoàn chỉnh từng bước trong quá trình tổ chức, thực hiện để phù hợp với thực tiễn hoạt động của từng đơn vị tổ chức, cá nhân và điều kiện, hoàn cảnh của đất nước
Trang 25- Nguyên tắc hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần:
Quỹ ốm đau và thai sản, quỹ TNLĐ-BNN, quỹ hưu trí và tử tuất (của BHXH bắt buộc), quỹ BHXH tự nguyện, quỹ BHTN được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần Chỉ có như vậy mới đảm bảo sự an toàn và cân đối lâu dài của quỹ BHXH Mặt khác, nguyên tắc này cũng nhằm tạo cơ sở điều chỉnh tỷ lệ đóng đối với từng quỹ, đảm bảo phù hợp với từng giai đoạn
2.1.3.2 Mục tiêu
- Đảm bảo thu đúng đối tượng
Nghĩa là các đối tượng trong diện tham gia BHXH theo quy định của Luật BHXH đều phải tham gia BHXH
- Đảm bảo thu đủ số lượng
Số người trong diện tham gia và số tiền phải đóng được thu đầy đủ để đảm bảo quyền lợi cho người tham gia khi họ được hưởng các chế độ BHXH
- Đảm bảo thời gian theo Luật định
Người lao động và người sử dụng lao động phải trích nộp BHXH theo đúng thời gian quy định trong Luật BHXH
2.1.4 Nội dung quản lý thu bảo hiểm xã hội
2.1.4.1 Quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội
* Xác định các đối tượng thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội
Đối tượng thuộc diện tham gia BHXH gồm người lao động và đơn vị tham gia BHXH bắt buộc cho người lao động:
Người lao động tham gia BHXH bắt buộc là công dân Việt Nam, bao gồm: Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức, kể cả cán bộ, công chức cấp xã; Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên và hợp đồng lao động không xác định thời hạn theo quy định của pháp luật về lao động; người lao động, xã viên, cán bộ quản lý làm việc và hưởng tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động từ đủ 3 tháng trở lên trong các hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã thành lập, hoạt động theo Luật Hợp tác xã
Trang 26+ Người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương, tiền công thuộc các chức danh quy định tại Khoản 13, Điều 4 Luật Doanh nghiệp, gồm: chủ sở hữu, giám đốc doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh công ty hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc và các chức danh quản lý khác do Điều lệ công ty quy định + Công nhân quốc phòng, công nhân công an làm việc trong các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang
+ Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ
sĩ quan nghiệp vụ và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật thuộc Công an nhân dân; người làm công tác Cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, Công
an nhân dân
+ Hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an nhân dân; học sinh Cơ yếu hưởng phụ cấp được đào tạo về kỹ thuật, nghiệp vụ mật mã do Ban Cơ yếu Chính phủ quản lý
+ Người lao động đã tham gia BHXH bắt buộc mà chưa nhận trợ cấp BHXH một lần trước khi đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng với doanh nghiệp Việt Nam trúng thầu, nhận thầu, công trình ở nước ngoài
+ Phu nhân, phu quân trong thời gian hưởng chế độ phu nhân, phu quân tại các cơ quan Việt Nam ở nước ngoài mà trước đó đã tham gia BHXH bắt buộc
+ Người lao động đã tham gia BHXH bắt buộc mà chưa nhận trợ cấp BHXH một lần trước khi đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo các loại hợp đồng: Một là, hợp đồng với tổ chức sự nghiệp, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài dưới hình thức thực tập, nâng cao tay nghề và doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài có đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài Hai là, hợp đồng cá nhân + Cán bộ, công chức, viên chức quy định tại Khoản 3, Điều 5 Nghị định
số 132/2007/NĐ-CP ngày 08/8/2007 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế được đơn vị đóng tiếp một lần cho số tháng còn thiếu để được hưởng chế độ hưu trí
Trang 27+ Người lao động được tự đóng BHXH bắt buộc, gồm: người lao động đã
đủ tuổi đời để hưởng chế độ hưu trí nhưng còn thiếu thời gian đóng BHXH không quá 6 tháng quy định tại Khoản 9, Điều 58 Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006; Khoản 7, Điều 50 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP ngày 19/4/2007 của Chính phủ được tự đóng tiếp một lần thông qua đơn vị cho số tháng còn thiếu để được hưởng chế độ hưu trí; Người lao động có thời gian đóng BHXH chưa đủ 15 năm, còn thiếu tối đa không quá 6 tháng (kể cả người lao động đang bảo lưu thời gian đóng BHXH) mà bị chết, nếu có thân nhân đủ điều kiện hưởng chế độ tuất hằng tháng thì thân nhân được đóng tiếp một lần cho số tháng còn thiếu thông qua đơn vị nơi người lao động làm việc trước khi chết hoặc đóng trực tiếp cho cơ quan BHXH nơi cư trú
+ Cán bộ không đủ tuổi tái cử, tái bổ nhiệm giữ các chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, còn dưới 02 năm (24 tháng) công tác mới đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định, được cơ quan có thẩm quyền quyết định cho nghỉ công tác chờ đủ tuổi nghỉ hưu quy định tại Điều 4 Nghị định số 67/2010/NĐ-CP ngày 15/6/2010 của Chính phủ, được đóng tiếp BHXH bắt buộc, BHYT thông qua đơn vị đến khi đủ tuổi nghỉ hưu
+ Người lao động dôi dư theo quy định tại Khoản 3, Điều 3 Thông tư số 38/2010/TT-BLĐTBXH ngày 24/12/2010 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 91/2010/NĐ-CP ngày 20/8/2010 của Chính phủ quy định chính sách đối với người lao động dôi dư khi sắp xếp lại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu, được Nhà nước đóng một lần đối với số tháng còn thiếu thay cho người lao động và người sử dụng lao động vào quỹ hưu trí, tử tuất để giải quyết chế độ hưu trí theo quy định
- Đơn vị tham gia BHXH bắt buộc cho người lao động bao gồm:
+ Cơ quan của Đảng, Nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước ở Trung ương, cấp tỉnh, huyện đến cấp xã và đơn vị thuộc lực lượng vũ trang
Trang 28+ Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp thuộc tổ chức chính trị, đơn vị sự nghiệp thuộc tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội khác
+ Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (kể cả các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang) và Luật Đầu tư
+ Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã
+ Hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động
+ Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam có sử dụng lao động là người Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước Quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác
+ Các tổ chức khác có sử dụng lao động được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật
- Thống kê, lập danh sách các đơn vị sử dụng lao động thuộc đối tượng tham gia BHXH trên địa bàn huyện
Việc thống kê, lập danh sách các đơn vị sử dụng lao động thuộc đối tượng tham gia BHXH trên địa bàn huyện rất quan trọng trong quản lý thu BHXH nhằm nắm bắt được số đối tượng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, từ đó phục vụ cho công tác quản lý thu có hiệu quả Ngoài việc lập danh sách NLĐ đã tham gia BHXH bắt buộc tại các đơn vị, doanh nghiệp đang tham gia BHXH thì việc rà soát, thống kê các đơn vị, doanh nghiệp chưa tham gia BHXH cho NLĐ để có kế hoạch tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về BHXH để NSDLĐ và NLĐ hiểu để có ý thức tham gia, từ đó tăng nguồn thu BHXH
2.1.4.2 Tổ chức thực hiện quy trình thu bảo hiểm xã hội
- Xác định nguồn thu BHXH
Hàng năm, căn cứ vào kế hoạch thu do BHXH thành phố giao và tình hình thực tế tại địa phương, BHXH huyện xác định nguồn thu BHXH trên địa bàn huyện và thực hiện đảm bảo thu đúng, thu đủ và hoàn thành kế hoạch thu do
Trang 29BHXH thành phố giao Nguồn thu BHXH gồm: tiền đóng BHXH của người lao động; tiền đóng BHXH của người sử dụng lao động; tiền hỗ trợ của Nhà nước; tiền sinh lời từ đầu tư quỹ BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác
- Thực hiện các bước trong quy trình thu BHXH
Quản lý thu BHXH được thực hiện qua các bước sau:
Bước 1: Lập kế hoạch, giao kế hoạch thu
Để thực hiện quản lý thu, cần có một kế hoạch thu BHXH thích hợp với
cơ chế quản lý kinh tế, giải quyết được hàng loạt vấn đề cả lý luận và thực tiễn Lập kế hoạch, dự toán thu là một khâu rất quan trọng, được thực hiện một cách thường xuyên theo từng năm ở tất cả các đơn vị BHXH từ trung ương đến địa phương Kế hoạch thu BHXH là cơ sở để tổ chức thực hiện và quản lý công tác thu ở từng đơn vị nói riêng và trên phạm vi toàn hệ thống BHXH nói chung; để các cơ quan BHXH tổ chức thực hiện và quản lý các công tác khác của BHXH như hoàn thiện hệ thống chế độ chính sách, quản lý và bảo tồn phát triển quỹ BHXH, đảm bảo cân đối quỹ lâu dài Kế hoạch lập ra càng sát với thực tế, phù hợp với điều kiện chung về kinh tế xã hội từng địa bàn thì công tác tổ chức thực hiện
và điều hành công tác thu quỹ BHXH càng chủ động và được thực hiện tốt hơn Việc lập kế hoạch thu BHXH được thực hiện cụ thể như sau:
+ Đối với đơn vị sử dụng lao động: Hàng năm đơn vị phải căn cứ vào số lao động đang sử dụng để lập danh sách lao động và quỹ tiền lương trích nộp BHXH cho năm sau của đơn vị mình theo mẫu quy định và gửi cho cơ quan BHXH huyện trực tiếp quản lý mình vào tháng 10 hàng năm
+ Đối với cơ quan BHXH cấp huyện, hàng năm cơ quan căn cứ vào danh sách lao động và quỹ tiền lương trích nộp của các đơn vị sử dụng lao động nộp lên để lập dự toán thu gửi cho cơ quan BHXH cấp tỉnh, thành phố trước ngày 15/12 hàng năm
+ Đối với cơ quan BHXH cấp tỉnh, thành phố: Hàng năm căn cứ vào danh sách lao động và quỹ tiền lương trích nộp của các đơn vị sử dụng lao động trực tiếp quản lý và dự toán thu của các cơ quan BHXH quận huyện nộp lên để lập kế hoạch tổng hợp thu BHXH trên địa bàn tỉnh, thành phố cho năm sau và gửi lên BHXH Việt Nam
Trang 30Bước 2: Xác định đối tượng tham gia BHXH và mức thu
Việc phát triển thêm các đối tượng tham gia BHXH, phát hiện thêm các đối tượng thu, tạo nguồn thu cho quỹ BHXH nhằm tạo nên một quỹ BHXH ngày càng lớn, mang tính xã hội sâu sắc, tăng cường công bằng xã hội Điều này góp phần tạo ra một quỹ BHXH độc lập hơn và từng bước tự chủ trong công tác chi trả chế độ, giảm thiểu sự phụ thuộc vào ngân sách Nhà nước
Căn cứ cơ bản để tiến hành hoạt động thu BHXH của người lao động là tiền lương tháng, đối với người sử dụng lao động là tổng quỹ lương của những người lao động tham gia BHXH trong các doanh nghiệp, tổ chức Tiền lương bình quân làm căn cứ đóng BHXH gồm có lương theo ngạch, bậc, chức vụ hợp đồng và các khoản phụ cấp
Đối với BHXH, BHYT, BHTN bắt buộc:
* Mức đóng = Tỷ lệ đóng BHXH x Tiền lương, tiền công tháng
* Tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc
- Đối với đơn vị thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định:
+ Tiền lương đóng gồm tiền lương theo ngạch, bậc và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có), hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có) đối với NLĐ trong các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập, cán bộ công chức, viên chức được cơ quan có thẩm quyền của Đảng, Nhà nước luân chuyển, điều động, phân công hoặc tuyển dụng vào làm việc theo chỉ tiêu biên chế được giao tại các Hội được
tổ chức, hoạt động theo Nghị định 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ; NLĐ trong các đơn vị là DNNN hoặc DNNN chuyển cổ phần, cán bộ, viên chức theo chỉ tiêu biên chế làm việc tại các Hội có tính chất đặc thù theo quy định tại Quyết dịnh số 68/2010/QĐ-TTg ngày 01/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ Trong đó, thời hạn đăng ký thang lương, bảng lương do Nhà nước quy định với cơ quan quản lý Nhà nước về lao động phải theo đúng quy định tại Thông tư
số 28/2007/TT-BLĐTBXH ngày 05/12/2007 của Bộ LĐ - TB&XH;
+ Hợp đồng trong các cơ quan Nhà nước và đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tiền lương theo thỏa thuận của NSDLĐ và NLĐ, có thể áp dụng theo Nghị
Trang 31định 204/NĐ-CP hoặc ký hợp đồng bằng tiền nhưng không thấp hơn lương tối thiểu chung tại thời điểm đóng;
Mức tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng thấp nhất bằng lương tối thiểu chung, cao nhất bằng 20 lần lương tối thiểu chung
- Đối với đơn vị thực hiện chế độ tiền lương do NSDLĐ quy định
+ Tiền lương do NSDLĐ tự quy định là tiền lương, tiền công ghi trong HĐLĐ nhưng mức lương tham gia không thấp hơn lương tối thiểu vùng thời điểm đóng + 7% đào tạo (trừ 1 số chức danh không cần đào tạo) Nếu làm việc trong điều kiện nặng nhọc, độc hại thì phải cộng thêm 5%
+ Bảng lương đơn vị tự xây dựng phải đảm bảo khoảng cách giữa 2 bậc liền kề tối thiểu 5% và phải đăng ký bảng lương với cơ quan quản lý Nhà nước
về lao động theo đúng quy định tại Thông tư số 28/2007/TT-BLĐTBXH ngày 05/12/2007 của Bộ LĐ - TB&XH
Mức tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng là tiền lương, tiền công ghi trong HĐLĐ nhưng thấp nhất bằng lương tối thiểu vùng, cao nhất bằng 20 lần lương tối thiểu chung
Bước 3: Tiếp xúc với các đơn vị sử dụng lao động, tổ chức thu và đôn đốc các đơn vị nộp BHXH
Đây là căn cứ để biến những tiềm năng của quỹ BHXH thành những nguồn thu thực tế, là nhiệm vụ mang tính trọng tâm, được tiến hành thường xuyên, liên tục đối với tất cả các đơn vị BHXH địa phương
Đối với các đơn vị sử dụng lao động mới thành lập, chưa đăng ký kê khai tham gia BHXH, cơ quan BHXH phải chủ động tiếp xúc, gặp gỡ với các đơn vị
đó để thực hiện các công việc sau:
+ Tuyên truyền, giải thích các chế độ chính sách về BHXH và quyền lợi, nghĩa vụ của người lao động và chủ sử dụng lao động
+ Hướng dẫn các đơn vị này lập và gửi các danh sách lao động và tiền lương, danh sách lao động điều chỉnh tăng giảm mức nộp BHXH cho cơ quan BHXH quản lý theo biểu mẫu quy định; làm thủ tục cấp sổ BHXH cho lao động
Trang 32+ Thống nhất với đơn vị sử dụng lao động về thời gian làm việc, phương thức thu nộp BHXH, thông báo các thông tin liên quan như số hiệu tài khoản của các bên, địa điểm giao dịch…
Đối với các đơn vị sử dụng lao động đã đăng ký tham gia BHXH, các cán
bộ quản lý thu cần thường xuyên tiếp xúc với họ, làm công tác điều tra, theo dõi sát sao để đảm bảo những thông tin họ nhận được về số lao động, tiền lương là xác thực Đôn đốc và tổ chức thu BHXH theo mức quy định, các đơn vị sử dụng lao động phải nộp tiền vào tài khoản thu của BHXH huyện Chương Mỹ chậm nhất vào cuối tháng Kiểm tra, đối chiếu nộp BHXH của quý trước; nếu có chênh lệch giữa số đã nộp và số phải nộp thì phải nộp tiếp vào đầu quý sau nếu chênh lệch thiếu; coi như đã nộp trước cho quý sau nếu đó là chênh lệch thừa Trường hợp các đơn vị sử dụng lao động chậm nộp hàng tháng thì ngoài việc nộp phạt số tiền chậm trả tính theo mức lãi suất tiền gửi ngân hàng tại thời điểm truy nộp, các đơn vị còn phải nộp phạt theo quy định của pháp luật về xử phạt hành chính
Bước 4: Thống kê số liệu và báo cáo BHXH TP
Các phòng (bộ phận) nghiệp vụ chịu trách nhiệm mở sổ theo dõi, chuyển
dữ liệu, lập báo cáo và kế hoạch các loại theo quy định Khi lập báo cáo phải đối chiếu số liệu liên quan giữa các loại sổ và biểu báo cáo BHXH huyện chịu trách nhiệm lập và gửi lên BHXH tỉnh Thành phố Báo cáo tháng trước ngày 03 tháng sau, Báo cáo quý trước ngày 10 tháng đầu quý sau, Báo cáo năm trước ngày 10 tháng 01 năm sau Vào các ngày thứ ba và thứ sáu hàng tuần, BHXH huyện chuyển toàn bộ dữ liệu về BHXH tỉnh Thành phố qua đường truyền FTP theo quy định hiện hành BHXH cấp quận huyện cần phải thường xuyên cập nhật thông tin, dữ liệu của người tham gia BHXH, BHYT để phục vụ kịp thời cho công tác nghiệp vụ và quản lý
Tổ chức phân loại, lưu trữ và bảo quản hồ sơ, tài liệu thu BHXH, BHYT đảm bảo khoa học để thuận tiện cho việc khai thác và sử dụng Thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin để quản lý người tham gia BHXH, BHYT, cấp sổ BHXH, thẻ BHYT cho người tham gia BHXH, BHYT bắt buộc
Trang 332.1.4.3 Kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm trong quản lý thu bảo hiêm xã hội
Cơ quan BHXH không thực hiện thanh tra trong quản lý thu BHXH mà chỉ có chức năng kiểm tra và phối hợp với các cơ quan chức năng kiểm tra trong quản lý thu BHXH, sau đó kiến nghị với uBND các cấp hoặc Thanh tra Sở Lao động- Thương binh và Xã hội đề nghị ra quyết định xử phạt đối với những trường hợp vi phạm pháp luật về BHXH
Cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật quy định về đóng BHXH, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật
Người sử dụng lao động có hành vi vi phạm pháp luật về đóng BHXH từ
30 ngày trở lên thì ngoài việc phải đóng số tiền chưa đóng, chậm đóng và bị xử
lý theo quy định của pháp luật, còn phải đóng số tiền lãi của số tiền chưa đóng, chậm đóng theo mức lãi suất của hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH trong năm
* Quy định về xử phạt vi phạm hành chính:
Theo Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính Phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, BHXH, người sử dụng lao động có các hành vi không đóng BHXH cho toàn bộ NLĐ thuộc diện tham gia BHXH, đóng BHXH không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH, chậm đóng BHXH bắt buộc, hoặc đóng BHXH bắt buộc không đúng mức quy định thì
bị xử phạt hành chính
Trang 34Người sử dụng lao động chậm đóng BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp hoặc đóng BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp không đúng mức quy định có thể bị phạt đến 75.000.000 đồng Tổ chức vi phạm sẽ bị phạt gấp đôi cá nhân vi phạm Cụ thể, người sử dụng lao động sẽ bị phạt tiền với mức từ 12-15% tổng số tiền phải đóng BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng
Bên cạnh đó, người sử dụng lao động sẽ bị phạt tiền với mức từ 18-20% tổng số tiền phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng nếu không đóng BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp cho toàn bộ người lao động thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp
Nếu người lao động có hành vi thỏa thuận với người sử dụng lao động không tham gia BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp cũng sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng
Ngoài bị xử phạt, người sử dụng lao động sẽ bị buộc truy nộp số tiền BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp chưa đóng, chậm đóng; bị buộc đóng lãi của số tiền BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp chưa đóng, chậm đóng
- Thẩm quyền xử phạt, chỉ có Chủ tịch UBND các cấp, Chánh thanh tra
Bộ LĐTBXH, Chánh thanh tra Sở LĐTBXH
* Khởi kiện đơn vị vi phạm pháp luật về thu nộp BHXH:
Khởi kiện là biện pháp cuối cùng của cơ quan BHXH trong việc xử lý các đơn vị vi phạm pháp luật về đóng BHXH
Để khởi kiện đơn vị nợ BHXH, cơ quan BHXH tiến hành kiểm tra, phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về đóng BHXH, lập biên bản về vụ việc vi phạm Biên bản ghi rõ ngày, tháng, năm, nội dung cụ thể vụ việc, có đủ chữ ký, đóng dấu của NSDLĐ, công đoàn của đơn vị SDLĐ ( nếu có), trưởng đoàn kiểm tra hoặc BHXH Hết thời hạn ghi nhận trong biên bản về sai phạm kể trên, NSDLĐ không thực hiện nghĩa vụ với cơ quan BHXH thì cơ quan BHXH có trách nhiệm làm văn bản đề nghị Chánh thanh tra Sở LĐTBXH hoặc Chủ tịch UBND các cấp
Trang 35tiến hành xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật BHXH của NSDLĐ
Hết thời hạn quy định trong quyết định xử phạt hành chính nhưng NSDLĐ vẫn không thực hiện nghĩa vụ đóng BHXH theo quy định của pháp luật, thì cơ quan BHXH tiến hành khởi kiện NSDLĐ ra Tòa án dân sự
2.1.5 Các yếu tố tác động đến quản lý thu bảo hiểm xã hội
a) Mức độ hiểu biết về BHXH
Mức độ hiểu biết về vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH của chủ doanh nghiệp và nhất là người lao động còn khá hạn chế Đây là nguyên nhân gây ra tình trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH Nguyên nhân chính khiến các doanh nghiệp không nộp BHXH là do chủ sử dụng lao động không quan tâm, lợi dụng kẽ hở của Luật BHXH để trục lợi và chiếm dụng vốn, không
ít trường hợp chủ doanh nghiệp trích tiền lương của người lao động để đóng BHXH nhưng không thực hiện chuyển nộp cho cơ quan BHXH hoặc khi các cơ quan thanh tra, xử lý thì doanh nghiệp mới chịu nộp Trong khi đó, đa số người lao động thiếu hiểu biết về Luật BHXH để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của người lao động, hoặc biết nhưng không dám đấu tranh sợ bị mất việc làm Thời gian qua, do việc chậm nộp, trốn nộp BHXH, nộp không đầy đủ của một số doanh nghiệp dẫn đến hậu quả là một bộ phận người lao động không được giải quyết chế độ ốm đau, thai sản, nhiều người không thể chuyển công tác do không được chốt sổ BHXH
b) Mức xử phạt trong vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội
Trong những năm gần đây, các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT đang có chiều hướng gia tăng, gây ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi của người lao động Thực tế, những hành vi vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT xảy ra rất đa dạng, với nhiều hình thức khác nhau, có nhiều trường hợp gây ra hậu quả nghiêm trọng, không chỉ thiệt hại về vật chất, ảnh hưởng đến quỹ BHXH, BHYT mà còn gây ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội và ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân vào chính sách của Đảng và Nhà nước
Trang 36Các hành vi vi phạm đa phần là xử lí vi phạm hành chính, mà các mức đóng vi phạm này chưa đủ lớn để khiến các đối tượng không dám vi phạm, hiện nay mức nộp phạt chậm đóng đối với đơn vị nợ tiền BHXH chỉ là 14,2%/1 năm tương đương với mức 1,183%/1 tháng, mức nộp phạt chậm đóng đối với đơn vị
nợ tiền BHYT chỉ là 9%/1năm tương đương với mức 0,75%/1 tháng, mức phạt quá nhỏ khiến cho người chủ sử dụng lao động đôi lúc cố tình vi phạm, không đóng BHXH cho người lao động, chủ động lấy tiền đóng BHXH của người lao động để đầu tư kinh doanh sinh lời, ảnh hưởng quyền lợi của người lao động cũng như gây thiệt hại nặng nề cho Quỹ BHXH, để hạn chế những điều này, đòi hỏi có các quy định sửa đổi kịp thời về mức phạt chậm đóng, cũng như các quy định về việc truy cứu trách nhiệm hình sự các đối tượng cố tình vi phạm, những điều này sẽ góp phần chấm dứt tình trạng vi phạm luật BHXH, giúp công tác thu được diễn ra thuận lợi, đảm bảo quyền lợi người lao động
c) Công tác tuyên truyền
Công tác tuyên truyền đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế vi phạm pháp luật về BHXH, hiện nay còn nhiều doanh nghiệp và người lao động còn chưa hiểu biết về quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia BHXH dẫn đến các doanh nghiệp và người lao động chưa có ý thức tự giác tham gia BHXH mà chỉ coi đó
là một điều kiện bắt buộc để có thể sản xuất kinh doanh theo các quy định của Nhà nước
Người lao động chưa ý thức được những quyền lợi mà mình được hưởng khi tham gia BHXH, trong khi đó người sử dụng lao động lại muốn tiết kiệm một phần chi phí sản xuất kinh doanh đáng lẽ ra phải đóng góp BHXH cho người lao động của mình
Có lúc, có nơi người lao động và người sử dụng lao động đã đồng tình với nhau để không tham gia BHXH, họ mong có được thêm một khoản thu nhập từ nguồn tiền đóng vào BHXH, họ sử dụng tiền đóng BHXH để chia nhau Cũng có tình trạng một số doanh nghiệp (trong đó có cả những doanh nghiệp Nhà nước)
đã cố tình chiếm dụng số tiền đóng BHXH cho người lao động để sử dụng làm vốn hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó gây ra tình trạng né tránh, nợ đọng tiền
Trang 37đóng BHXH Đây là nguyên nhân chủ yếu làm cho công tác hạn chế vi phạm pháp luật về BHXH không đạt được hiệu quả cao
d) Hệ thống chính sách BHXH
Giữa chính sách pháp luật về chấp hành luật BHXH nói chung và chính sách về bảo hiểm xã hội nói riêng có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau, chính sách tiền lương là tiền đề và cơ sở cho việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bởi vì cơ sở để tính toán mức đóng và mức hưởng bảo hiểm xã hội của chúng ta hiện nay là phụ thuộc vào mức lương tối thiểu do nhà nước quy định, như vậy khi nhà nước nâng mức lương tối thiểu lên đồng nghĩa với việc mức đóng bảo hiểm xã hội cũng phải tăng lên
Theo kết quả một điều tra mới đây của Bộ Lao động thương binh xã hội: Doanh nghiệp nhà nước có tốc độ tăng tiền lương quá nhanh so với tốc độ tăng năng suất lao động, còn doanh nghiệp ngoài quốc doanh tiền lương tăng chưa tương xứng với tốc độ tăng lợi nhuận và tốc độ tăng năng suất lao động Hiện nay mức thu nhập thực tế mà các doanh nghiệp trả cho người lao động đã cao hơn nhiều so với lương tối thiểu Nhưng hầu hết các doanh nghiệp đều nộp BHXH theo mức lương tối thiểu chứ không nộp theo mức thu nhập thực tế của người lao động Việc các doanh nghiệp không lấy mức thu nhập thực tế của người lao động làm cơ sở tính phần trăm nộp BHXH đã không chỉ làm thiệt thòi
về quyền lợi cho người lao động mà còn gây thất thu quỹ BHXH
e) Sự phối hợp giữa các ngành liên quan
Chính sách BHXH chịu sự tác động, đan xen của nhiều chính sách khác như tiền lương, tiền công… Vì vậy, để thực hiện tốt chính sách BHXH rất cần sự phối hợp chặt chẽ của nhiều cơ quan trong đó có các cơ quan như Cục Thuế, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Thanh tra Nhà nước, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Công an tỉnh… Bởi khi DN thành lập phải đăng ký chế độ tiền lương và số lao động mà DN sẽ áp dụng đối với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội
Trang 382.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý thu BHXH đối với các doanh nghiệp
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý thu bảo hiểm xã hội đối với các doanh nghiệp trên thế giới
a Hoạt động quản lý thu BHXH ở Liên bang Mỹ
Mức đóng BHXH: được chia ngang bằng cho chủ sử dụng lao động và người lao động, mỗi bên đóng 7,65% tiền lương của người lao động (trong đó đóng cho BHYT là 1,45%) Khu vực nông nghiệp và phi chính phủ thì người lao động phải đóng 15,3% tiền lương tháng
Khi đóng phí BHXH người lao động được cấp thẻ BHXH, họ có thể được nhận tối đa 4 thẻ BHXH trong một năm Khi thực hiện chi trả trợ cấp cho người lao động thì cơ quan BHXH sẽ thu lại thẻ BHXH đó để lưu trữ
Số tiền thu BHXH được dành dưới 1% cho chi phí quản lý hành chính, 70% chi cho trợ cấp hưu trí, 19% chi cho trợ cấp y tế, 10% chi trợ cấp khuyết tật
và nhân thân
Ngoài hình thức BHXH bắt buộc, Liên bang Mỹ còn thực hiện loại hình BHXH tự nguyện, quỹ hưu trí của ngành Người lao động có thể vừa tham gia hình thức BHXH bắt buộc vừa tham gia chế độ BHXH tự nguyện Hiện nay có khoảng hơn nửa lực lượng lao động nước Mỹ tham gia BHXH tự nguyện Theo
số liệu của viện nghiên cứu trợ cấp của người lao động thì có tới 97% lao động nông nghiệp và 40% lao động tiểu thủ công nghiệp, phí chính quy tham gia BHXH tự nguyện Loại hình BHXH tự nguyện chỉ thực hiện chế độ hữu chí Quỹ BHXH tự nguyện của Mỹ rất lớn chiếm 50% thu nhập quốc dân của toàn nước
Mỹ và chiếm 20% thị trường tài chính Mỹ Mức đóng góp vào quỹ BHXH tự nguyện của người lao động và chủ sử dụng lao động được quy định trong Luật BHXh do Quốc hội Mỹ ban hành
Mức trợ cấp của BHXH tự nguyện không cố định, phụ thuộc vào mức đóng góp của người lao động và hiệu quả đầu tư tăng trưởng Số tiền mà người lao động đóng hàng năm cùng với lãi thu được từ đầu tư bao nhiêu, mức trợ cấp được hưởng sẽ được thông báo hàng năm tới người lao động Nhà nước sẽ bảo
hộ cho quỹ BHXH tự nguyện trong các trường hợp quỹ có nguy cơ đỗ vỡ
Trang 39Việc thu phí BHXH tự nguyện thông qua tài khoản cá nhân Do vậy, người lao động làm việc trong các doanh nghiệp hay làm việc cho chính phủ không thẻ trốn nộp BHXH vì mọi thu nhập của họ đều thông qua tài khoản cá nhân
Nếu người lao động làm việc trong các cơ sở tư nhân, trả cộng bằng tiền mặt thì Chính phủ khó có thể kiểm soát được Việc thu BHXH sẽ do người lao động tự kê khai và trích nộp trên cơ sở tự nguyện, tuy nhiên trên thực tế số này rất ít Người dân tự ý thức được quyền lợi của họ khi tham gia BHXH, nên họ tự nguyện đóng vào quỹ BHXH
b Hoạt động quản lý thu BHXH ở Thái Lan
Cho đến nay, Thái Lan vẫn còn hai Luật An sinh xã hội (tức BHXH) đang cùng có hiệu lực Một đạo luật ban hành năm 1990 và một đạo luật ban hành năm
1994 (sửa đổi, bổ sung một số điều trong đạo luật năm 1990 và được gọi chính thức là Luật An sinh xã hội lần thứ 2)
Việc quy định người tham gia BHXH không thống nhất ở các chế độ, cụ thể: đối với các chế độ trợ cấp mất khả năng lao động, hưu trí, tử tuất, ốm đau và thai sản, những người bắt buộc phải tham gia là những người làm việc trong các doanh nghiệp có từ 10 lao động trở lên, còn đối với các chế độ tai nạn lao động là những người làm việc trong các ngành công nghiệp hoặc các hãng thương mại có từ
10 lao động trở lên, các ngành khác không bắt buộc Tuổi nghỉ hưu ở Thái Lan quy định chung cho cả nam và nữ đối với các viên chức chính phủ từ Trung ương đến địa phương; với quân đội, cảnh sát là 60 tuổi; các đối tượng khác là 55 tuổi Điểm đáng chú ý ở đây là, Luật An sinh xã hội không áp dụng đối với các quan chức chính phủ và các viên chức thường xuyên, các viên chức tạm tuyển là việc theo ngày và theo giờ của chính quyền trung ương, chính quyền tỉnh và chính quyền địa phương; trừ các viên chức tạm tuyển làm theo tháng Các đối tượng này đươc điều chỉnh bằng một đạo luật khác, theo đó họ chỉ phải đóng 3% tiền lương theo tháng để nhận được chi phí điều trị khi ốm đau và lương hưu do Chính phủ đảm bảo sau khi đã đủ các điều kiện về tuổi đời và thời gian phục vụ
c Hoạt động quản lý thu BHXH ở Cộng hòa Liên Bang Đức
Đức là nước đầu tiên trên thế giới thực hiện chế độ BHXH Bộ luật đầu tiên được ban hành vào năm 1883 Hiện nay, Cộng Hòa Liên Bang Đức đang thực hiện các chế độ BHXH: hưu trí, y tế, thai sản, thất nghiệp, tai nạn lao động
Trang 40và chăm sóc người già Quỹ BHXH được hình thành từ đóng góp của người sư dụng lao động, người lao động và hỗ trợ của nhà nước Tổng mức đóng góp vào quỹ BHXH là 41,5% quỹ tiền lương (cho chế độ hưu trí 19,3%, y tế, thai sản 14%, tai nạn lao động, thất nghiệp 6,5%, chăm sóc người già 1,7%); trong đó người sử dụng lao động đóng một nửa và người lao động đóng một nửa Quỹ BHXH thực hiện cơ chế tài khóa hàng năm theo nguyên tắc ”hoán đổi”, tức là thu trong năm để chi phí trong năm đó, không có tích lũy Trường hợp thu không
đủ chi thì nhà nước cấp bù
Hiện nay, hàng năm ngân sách nhà nước (NSNN) Đức phải hỗ trợ quỹ BHXH rất lớn Năm 2000 số chi trả BHXH là 400.000 tỷ DM nhưng số thu chỉ đạt 300.000 tỷ DM, NSNN bù 100.000 tỷ DM Tổng số chi cho chế độ hưu trí chiếm 75% Từ năm 2001, NSNN trợ cấp cho quỹ BHXH ngày càng nhiều Do
đó, Chính phủ Đức đang đệ trình lên Quốc hội một số điều chỉnh luật nhằm cân đối quỹ, giảm dần sự hỗ trợ của NSNN bao gồm: Nâng tuổi nghỉ hưu từ 65 lên
67 và điều chỉnh mức đóng, mức hưởng theo một trong hai giải pháp sau:
Nâng dần mức đóng, dự kiến đến 2030 mức đóng cho chế độ hưu trí tăng
từ 19,3% lên 26%; ý kiến này giới chủ và Liên đoàn lao động không đồng ý Giảm dần tỷ lệ hưởng Dự kiến đến năm 2030 lương hưu trí bằng 50% của năm 2000 Phương án này Liên đoàn lao động không đồng ý
Để dung hòa, Chính phủ đưa ra phương án ổn định chế độ hưu và mức đóng góp hiện nay nhưng hình thành thêm một loại bảo hiểm bổ sung
Do mức đóng góp cho quỹ cao nên mức thụ hưởng từ các chính sách an sinh xã hội của Đức cũng cao Thu nhập của người lao động, moi thanh toán đều thông qua hệ thống ngân hàng Việc khai thuế và trích nộp BHXH rất chặt chẽ,
có khai sai, kiểm tra từ hệ thống ngân hàng, Chính phủ cũng buộc phải nộp và có thể bị phạt, mức phạt rất cao Do đó, hầu như cẩ người lao động và chủ các doanh nghiệp không ai nghĩ đến việc trốn tránh trích nộp BHXH
2.2.2 Kinh nghiệm quản lý thu bảo hiểm xã hội đối với các doanh nghiệp ở Việt Nam
2.2.2.1 Kinh nghiệm của BHXH quận Đống Đa
Quận Đống Đa là quận lớn với nhiều cơ quan hành chính, sự nghiệp và nhiều doanh nghiệp đóng trên địa bàn nên số thu BHXH hàng năm rất lớn, năm