1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông dân vùng ven biển thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn huyện hải hà, tỉnh quảng ninh

166 1,1K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 2,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu chung Trên cơ sở phân tích ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới sinh kế của hộ nông dân và sự cần thiết phải chuyển đổi sinh kế, đề tài xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông dân v

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 2

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hằng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Hữu Khánh đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Kinh tế, Bộ môn Kinh tế nông nghiệp và Chính sách, Bộ môn Kinh tế tài nguyên môi trường, Bộ môn Phân tích định lượng, Bộ môn Phát triển nông thôn và Bộ môn Kế hoạch và Đầu tư, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn

- Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng, năm 2016

Học viên

Nguyễn Thị Hằng

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục iv

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng viii

Danh mục đồ thị, sơ đồ, hình x

PHẦN I MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu 2

1.4 Phạm vi nghiên cứu 3

PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4

2.1 Cơ sở lý luận 4

2.1.1 Các khái niệm 4

2.1.2 Biến đổi khí hậu và sinh kế hộ nông dân vùng ven biển 8

2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới mô hình sinh kế ven biển 14

2.1.4 Ý nghĩa của việc xây dựng mô hình sinh kế 19

2.2 Cơ sở thực tiễn 23

2.2.1 Kinh nghiệm xây dựng mô hình sinh kế thích ững với biển đổi khí hậu trên thế giới 23

2.2.2 Mô hình sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu vùng ven biển ở Việt Nam 26

2.2.3 Kinh nghiệm xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông dân vùng ven biển thích ứng với biến đổi khí hậu ở Việt Nam 36

PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 41

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 41

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 47

Trang 6

3.2 Phương pháp nghiên cứu 51

3.2.1 Quy trình xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông dân ven biển thích ứng với biến đổi khí hậu 51

3.2.2 Khung phân tích 52

3.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 53

3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 54

3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 55

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 56

4.1 Thực trạng sinh kế hộ nông dân vùng ven biển huyện Hải Hà 56

4.1.1 Khả năng bị tổn thương của sinh kế hộ nông dân trước tác động của biến đổi khí hậu 56

4.1.2 Khái quát nguồn lực sinh kế của hộ nông dân 61

4.2 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới sinh kế và sự cần thiết phải chuyển đổi sinh kế của hộ nông dân ven biển huyện Hải Hà 66

4.2.1 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới sinh kế của hộ nông dân 66

4.2.2 Sự cần thiết phải chuyển đổi sinh kế của hộ nông dân ven biển 73

4.3 Xây dựng mô hình sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu cho hộ nông dân ven biển huyện Hải Hà 87

4.3.1 Mô hình thay đổi phương thức trồng trọt thích ứng với biến đổi

khí hậu 87

4.3.2 Mô hình đánh bắt hải sản thích ứng với biến đổi khí hậu 94

4.3.3 Mô hình nuôi trồng thủy sản thích ứng với biến đổi khí hậu 101

4.4 Giải pháp thực hiện việc xây dựng mô hình sinh kế cho các hộ nông dân vùng ven biển huyện Hải Hà 113

4.4.1 Giải pháp về nguồn lực sinh kế của hộ nông dân 114

4.4.2 Giải pháp về kỹ thuật xây dựng mô hình 115

4.4.3 Giải pháp về chính sách để xây dựng mô hình 117

PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 122

5.1 Kết luận 122

5.2 Kiến nghị 123

TÀI LIỆU THAM KHẢO 125

PHỤ LỤC 128

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ACCCRN : Mạng lưới các thành phố châu Á có khả năng chống chịu với BĐKH ADB : Ngân hàng Phát triển Châu Á

AFD : Cơ quan phát triển Pháp

ATNĐ : Áp thấp nhiệt đới

ĐKTN : Điều kiện tự nhiên

ECUD : Dự án Phát triển thân thiện với môi trường và khí hậu

GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo

IPCC : Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu

ISET : Viện Chuyển đổi môi trường và xã hội

KH : Kế hoạch

KH&ĐT : Kế hoạch và đầu tư

Trang 8

KHCN : Khoa học Công nghệ

KTTV : Khí tượng thủy văn

KT-XH : Kinh tế - Xã hội

MCD : Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển cộng đồng

(Centrer for Marinelife Conservation and Community Development) NBD : Nước biển dâng

SRD : Trung tâm Phát triển Nông thôn bền vững

(Centre for Sustianable Rural Deverlopment)

TBNN : Trung bình nhiều năm

TNMT : Tài nguyên môi trường

TTg : Thủ tướng

UBND : Ủy Ban Nhân Dân

WB : Ngân hàng Thế giới

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

2.1 Tác động của biến đổi khí hậu theo vùng địa lý 11

2.2 Tác động của biến đổi khí hậu đến mô hình sinh kế ven biển 13

3.1 Cơ cấu các loại đất huyện Hải Hà 46

3.2 Phân bố lao động theo ngành 48

3.3 Giá trị ngành nông nghiệp huyện Hải Hà 49

4.1 Nguồn lực lao động của các nhóm hộ 62

4.2 Trình độ lao động của thành viên các nhóm hộ 63

4.3 Nguồn lực đất đai của các nhóm hộ 65

4.4 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới các nguồn lực sinh kế của các nhóm hộ 69

4.5 Mức độ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sinh kế hộ nông dân 72

4.6 Ảnh hưởng biến đổi khí hậu đến sinh trưởng của cây trồng 73

4.7 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến mô hình trồng trọt theo giai đoạn 74

4.8 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến mô hình

trồng trọt 77

4.9 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến mô hình nuôi trồng thủy sản 78

4.10 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến một số chỉ tiêu của mô hình nuôi tôm sú theo giai đoạn 79

4.11 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến một số chỉ tiêu của mô hình nuôi cá lồng theo giai đoạn 81

4.12 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến mô hình đánh bắt thủy sản 82

4.13 Sự thay đổi nguồn cá đánh bắt theo giai đoạn 84

4.14 So sánh năng suất sản phẩm của mô hình trồng rau thủy canh và

mô hình canh tác với đất 91

4.15 So sánh hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rau thủy canh và mô hình trồng rau truyền thống 92

Trang 10

4.16 Dự báo khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của mô hình

trồng trọt 93

4.17 Những vấn đề được đáp ứng bởi mô hình đánh bắt thủy hải sản 96

4.18 So sánh hiệu quả kinh tế cho một lần ra khơi của hộ đánh bắt hải sản 97

4.19 Nguồn nhân lực bình quân của nhóm hộ đánh bắt hải sản 99

4.20 Tình hình đất đai và trang thiết bị của nhóm hộ đánh bắt hải sản 99

4.21 Tình hình tài chính của hộ đánh bắt hải sản 100

4.22 Dự báo sự phù hợp của mô hình mới tại vùng ven biển huyện Hải Hà 100

4.23 Nguồn nhân lực của nhóm hộ nuôi trồng thủy sản 102

4.24 Tình hình đất đai và trang thiết bị bình quân của nhóm hộ nuôi trồng thủy sản 103

4.25 Tình hình tài chính bình quân của nhóm hộ nuôi trồng thủy sản 104

4.26 So sánh một số chỉ tiêu của mô hình nuôi tôm truyền thống và mô hình quảng canh cải tiến 108

4.27 So sánh hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm truyền thống và

mô hình quảng canh cải tiến 109

4.28 So sánh một số chỉ tiêu mô hình nuôi tôm truyền thống và mô hình nuôi tôm kết hợp rừng ngập mặn 110

4.29 So sánh hiệu quả kinh tế cho 1 vụ bình quân mô hình nuôi tôm truyền thống và mô hình nuôi tôm kết hợp rừng ngập mặn 111

4.30 Ưu điểm của các mô hình thay đổi sinh kế đề xuất 113

Trang 11

DANH MỤC ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ, HÌNH

3.1 Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm từ năm 2010 – 2014 43

3.2 Nhiệt độ trung bình năm từ năm 2010 - 2014 43

3.3 Lượng mưa trung bình các tháng trong năm từ năm 2010 – 2014 44

3.4 Lượng mưa trung bình năm từ năm 2010 – 2014 44

3.5 Dân số trung bình huyện Hải Hà từ năm 2010 - 2014 48

Số sơ đồ Tên sơ đồ Trang 2.1 Khung sinh kế bền vững 15

2.2 Khung sinh kế bền vững vùng ven biển 18

4.1 Mô hình nuôi tôm và các loại thủy sản kết hợp rừng ngập mặn 105

4.2 Mô hình xây dựng tổ hợp tác đánh bắt hải sản 117

Số hình Tên hình Trang 3.1 Các đơn vị hành chính huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh 41

4.1 Kết quả tính toán xác định vùng ngập của tỉnh Quảng Ninh 68

Trang 12

PHẦN I

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Biến đổi khí hậu (BĐKH) hiện nay là một vấn đề lớn đang được thế giới quan tâm bởi sức ảnh hưởng của nó tới môi trường và cuộc sống con người, không chỉ ở một quốc gia, một khu vực mà trên toàn cầu BĐKH với những hệ lụy là mực nước biển dâng, sự tăng lên của nhiệt độ và những diễn biến thời tiết cực đoan là mối đe dọa đối với cuộc sống con người cũng như sự phát triển kinh tế, xã hội Theo báo cáo của Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) năm 2007, nhiệt

độ bề mặt trung bình của trái đất đã tăng khoảng 0,740C trong vòng 100 năm 2005), dự báo trong 20 năm tới, mỗi thập kỷ sẽ tăng khoảng 0,20C Cũng theo báo cáo này, mực nước biển dâng nằm trong khoảng 28 -58 cm (so với mức nước biển thời kỳ 1989-1999) cùng nhiều biểu hiện thời tiết cực đoan khác Ở Việt Nam, trong vòng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm đã tăng khoảng 0,50C, mực nước biển đã dâng khoảng 20 cm (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008)

(1906-Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nhiều nhất của biến đổi khí hậu Đến cuối thế kỷ 21, dự báo nhiệt độ trung bình năm của Việt Nam có thể tăng khoảng 2,30C, mực nước biển có thể dâng khoảng 0,75-1 mét so với trung bình thời kỳ 1980-1999 Có khoảng 10-12% dân số nước ta sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi BĐKH, chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, gây tổn thất khoảng 10% GDP

Biến đổi khí hậu gây ảnh hưởng tới sinh kế của các hộ dân trên địa bàn huyện Hải Hà Biểu hiện của BĐKH là lượng mưa vào mùa hè liên tục tăng và có thể tăng lên đến 2,5% vào năm 2020; 6,6% năm 2050 và 12,7% năm 2100 (Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, 2013) gây nên hiện tượng nước dâng kết hợp với thủy triều cao là điều kiện gây ra tổn thương cho hệ thống đê bao chắn sóng Điều kiện bất thuận của thời tiết cùng với kiểu địa hình đặc trưng là đồi núi dốc đã gây ra hiện tượng xói mòn đất Theo kịch bản về các mức xói mòn đất tại huyện Hải

Hà đến năm 2020, mức xói mòn cao đến mức nguy hiểm chiếm trên 28% (2020) so

Trang 13

với 12% (2012) Tốc độ xói mòn cao đã ảnh hưởng lớn tới các loại cây trồng, gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành Nông nghiệp trên địa bàn, ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc sống cũng như thu nhập của người dân

Do đó, việc nghiên cứu các mô hình sinh kế cho người dân tại huyện Hải

Hà, tỉnh Quảng Ninh nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu, góp phần nâng cao thu nhập và phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương là rất cần thiết Vì vậy, tôi

thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông dân vùng

ven biển thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở phân tích ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới sinh kế của hộ nông dân và sự cần thiết phải chuyển đổi sinh kế, đề tài xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông dân vùng ven biển nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn huyện Hải

- Xây dựng mô hình sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu cho hộ nông dân trên địa bàn nghiên cứu;

- Giải pháp thực hiện việc xây dựng mô hình sinh kế cho các hộ nông dân vùng ven biển huyện Hải Hà

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Sinh kế của hộ nông dân bao gồm hộ đánh bắt thủy sản, hộ nuôi trồng thủy sản và hộ trồng trọt vùng ven biển trên địa bàn huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh

Trang 14

+ Số liệu nghiên cứu từ năm 2010 đến năm 2014;

+ Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 6/2014 đến năm 2015

Trang 15

PHẦN II

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Các khái niệm

2.1.1.1 Khái niệm sinh kế

Sinh kế là một phương pháp tiếp cận trong phát triển nông thôn, người đi đầu

về ý tưởng này là Robert Chambers (1737 – 1803) và được hoàn thiện bởi Conway vào những năm 1990, theo đó, sinh kế được hiểu một cách đơn giản nhất là phương tiện để kiếm sống Theo Chambers và Conway (1992) thì “Sinh kế bao gồm khả năng, nguồn lực và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người” Scoones (1998) nêu rõ “Sinh kế là bao gồm khả năng, nguồn lực (bao gồm các nguồn lực vật chất và nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người”

Năm 2001, để đưa ra khái niệm chính xác nhằm hướng dẫn cho các hoạt động hỗ trợ của mình, cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) (2001)

định nghĩa: “Sinh kế bao gồm khả năng, nguồn lực cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống cho con người”

Như vậy, sinh kế bao gồm những hoạt động của con người để đạt được mục tiêu dựa vào những nguồn lực sẵn có của họ như các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nguồn vốn, lao động, trình độ phát triển khoa học công nghệ

2.1.1.2 Khái niệm mô hình sinh kế

Mô hình theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 2011) là hình thức diễn đạt ngắn gọn các đặc trưng chủ yếu của một đối tượng theo một phương tiện nào đó để nghiên cứu đối tượng đó Hay mô hình có thể là những đối tượng có cùng hình dạng nhưng được thu nhỏ để mô phỏng, cấu tạo và hoạt động của một vật khác để tiện trình bày, nghiên cứu Như vậy, có thể hiểu mô hình sinh kế là một hình thức diễn đạt ngắn gọn các đặc trưng chủ yếu của một hệ thống sinh kế theo các đối tượng của nó để nghiên cứu đối tượng đó Mô hình sinh kế là một hệ thống sinh kế mà ở đó con người là chủ thể tác động lên các nguồn lực sinh kế để hình

Trang 16

thành nên các hoạt động sinh kế nhằm thực hiện chiến lược sinh kế tạo ra kết quả sinh kế

2.1.1.3 Khái niệm nguồn lực sinh kế

Nguồn lực sinh kế là toàn bộ những yếu tố trong và ngoài đã, đang và sẽ tham gia vào hoạt động sinh kế nhằm thúc đẩy, phát triển, cái biến kết quả sinh kế của hộ gia đình (Hoàng Phê, 2011) Nói cách khác, nguồn lực sinh kế là toàn bộ năng lực vật chất và phi vật chất mà con người có thể sử dụng duy trì hay phát triển sinh kế của họ Hiện nay, việc phân loại nguồn lực sinh kế vẫn chưa có căn cứ cụ thể, vì vậy, có thể dựa vào đặc trưng của từng nhóm nguồn lực để làm căn cứ phân loại Theo đó, nguồn lực sinh kế của hộ bao gồm nguồn lực con người, nguồn lực vật chất, nguồn lực xã hội, nguồn lực tài chính và nguồn lực tự nhiên

2.1.1.4 Khái niệm biến đổi khí hậu

Theo Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi khí hậu (1992),

“Biến đổi khí hậu là “những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu”, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”

Theo đó, sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức sẽ ảnh hưởng tới nguồn tài nguyên thiên nhiên, rừng, các

hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác Nhằm hạn chế sự biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto nhằm hạn chế và ổn định sáu loại khí nhà kính chủ yếu bao gồm: CO2, CH4, N2O, HFCs, PFCs và SF6 Đây là yếu tố then chốt gây ra hiện tượng BĐKH trên toàn cầu, ảnh hưởng nghiêm trọng tới các nguồn lực sinh kế của con người, làm giảm hiệu quả của các hoạt động sinh kế trong tương lai

2.1.1.5 Khái niệm mô hình sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu

Theo Viện Chính sách và chiến lược phát triển Nông nghiệp – Nông thôn IPSARD (2012), mô hình sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu là hệ thống sinh kế

-có khả năng đối phó, giảm nhẹ và phục hồi trước các tác động của thiên tai, thời tiết bất thuận (hạn hán, nắng nóng kéo dài, ngập úng, ) đảm bảo duy trì hoặc tăng năng

Trang 17

suất, sản lượng một các ổn định, đồng thời phù hợp với khả năng và điều kiện kinh

tế xã hội của địa phương, giảm nhẹ phát thải nhà kính ra môi trường

Mô hình sinh kế nhằm giảm nhẹ biến đổi khí hậu là hệ thống sinh kế có khả năng giảm mức độ hoặc cường độ phát thải khí nhà kính nhưng vẫn đảm bảo duy trì khả năng và điều kiện kinh tế xã hội của địa phương

Mô hình sinh kế nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu là hệ thống sinh kế có khả năng điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do biến đổi khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng, đồng thời tận dụng các cơ hội nó mang lại

Theo MARD (2008), để đánh giá mức độ hiệu quả thích ứng với biến đổi khí hậu của một mô hình thích ứng bao gồm 5 tiêu chí: Mức độ hiệu quả trong thích ứng và giảm nhẹ với BĐKH, sự tham gia của cộng đồng địa phương, tính bền vững, tính độc đáo, sáng tạo và có khả năng nhân rộng

Mức độ hiệu quả trong thích ứng và giảm nhẹ với BĐKH thể hiện ở mức độ

tiết kiệm năng lượng và những lợi ích về môi trường (giảm thải nhà kính và các chất gây ô nhiễm môi trường khác) của mô hình giảm nhẹ BĐKH; mô hình có sử dụng năng lượng tái tạo hay không và hiệu quả của việc sử dụng năng lượng tái tạo đó;

mô hình có sử dụng những công nghệ sản xuất tiên tiến, nâng cao được hiệu quả sản

xuất và giảm lượng phát thải hay không

Đối với các mô hình thích ứng với BĐKH, tiêu chí này nhằm đánh giá sự đóng góp của mô hình nhằm giảm thiểu nguy cơ cộng đồng bị ảnh hưởng bởi những tác động do BĐKH gây ra, từ đó có biện pháp tăng cường năng lực thích ứng của

mô hình sinh kế trước tác động của BĐKH

Sự tham gia của cộng đồng địa phương được xây dựng dựa trên nhu cầu, sự

ưu tiên, kiến thức và khả năng của cộng đồng địa phương bằng phương pháp tiếp cận có sự tham gia (đặc biệt là các đối tượng dễ bị tổn thương như người nghèo, trẻ

em, phụ nữ, người cao tuổi, ) để qua đó tăng cường nhận thức và năng lực cho cộng đồng về BĐKH Tiêu chí này được thực hiện dựa trên sự phối hợp chặt chẽ giữa cộng đồng địa phương, các nhà khoa học và các cán bộ quản lý, trong đó, vai

trò của cộng đồng mang tính chủ đạo

Trang 18

Tính bền vững thể hiện mức độ hiệu quả về kinh tế - xã hội – môi trường của

mô hình sinh kế Mô hình phải tập trung giải quyết các vấn đề cấp bách của cộng đồng trong thời kỳ ngắn hạn, trung hạn và định hướng dài hạn bằng cách phát hiện nguyên nhân gây ra tính dễ tổn thương của cộng đồng nghiên cứu, từ đó đưa ra giải pháp linh hoạt nhằm giảm nhẹ tính dễ tổn thương phù hợp với các giá trị văn hóa –

xã hội – kinh tế của địa phương

Tính độc đáo, sáng tạo nhằm đánh giá sự hiệu quả của mô hình thông qua

việc tiếp cận hoạt động sinh kế cộng đồng, việc xây dựng mô hình sinh kế phù hợp với điều kiện địa phương và cho thấy những điểm vượt trội của mô hình so với mô

hình trước đó

Có khả năng nhân rộng được đánh giá dựa trên 3 tiêu chí trước đó Một mô

hình sinh kế có khả năng nhân rộng khi các kết quả của mô hình đó có tác động tích cực rõ rệt đến cộng đồng Việc nhân rộng của mô hình được triển khai khi mô hình

đó có tính đại diện, mô hình được thực hiện thành công với nhiều nhóm cộng đồng

khác nhau và được sự ủng hộ của chính quyền các cấp

Một mô hình sinh kế thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu phải có tính phù hợp và bền vững Trước hết phải phù hợp với các điều kiện văn hóa, xã hội của địa phương; phù hợp với điều kiện kinh tế của hộ gia đình và là mô hình có khả năng ứng dụng rộng rãi, mang tính bền vững Để thực hiện mục tiêu cải thiện, nâng cao cuộc sống cho người dân, các nước, trong đó có Việt Nam đã xây dựng các mô hình sinh kế có khả năng giảm nhẹ và thích ứng với những hệ quả do BĐKH gây ra

2.1.1.6 Khái niệm mô hình sinh kế vùng ven biển thích ứng với biến đổi khí hậu

Mô hình sinh kế cho hộ dân vùng ven biển thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu cũng không nằm ngoài những lý luận về mô hình sinh kế thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu Tuy nhiên, do đặc điểm đặc trưng của vùng ven biển nên đặc điểm của một mô hình sinh kế cho hộ nông dân ở đây có sự khác biệt Do đó, mô hình sinh kế cho hộ dân vùng ven biển thích ứng với biến đổi khí hậu có thể được hiểu là một hệ thống sinh kế có khả năng đối phó, giảm nhẹ và phục hồi trước các tác động của thiên tai, thời tiết bất thuận như xâm ngập mặn, bão, lụt, đảm bảo duy

Trang 19

trì hoặc tăng năng suất, sản lượng một các ổn định, đồng thời phù hợp với khả năng

và điều kiện kinh tế xã hội của vùng ven biển, giảm nhẹ phát thải nhà kính ra môi trường (Hoàng Phê, 2011)

Đặc thù của mô hình sinh kế ven biển là sự lựa chọn các chiến lược sinh kế của hộ gia đình thường phụ thuộc vào nguồn lực sinh kế mà hộ gia đình đó nắm giữ cùng các yếu tố bên ngoài như mùa vụ, thời tiết và nguồn lợi thủy sản Với xu hướng tiếp tục dựa vào việc khai thác các nguồn lực sẵn có ở địa phương để thực hiện các hoạt động sinh kế, nhìn chung, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các cộng đồng ven biển diễn ra một cách chậm chạp (MARD, 2008)

Như vậy, có thể thấy rằng, mô hình sinh kế chính tại các cộng đồng ven biển là hệ thống sinh kế của người dân vùng ven biển có khả năng thích ứng trước các tác động của thiên tai và điều kiện bất thuận của thời tiết Từ đó, mô hình đảm bảo duy trì hoặc tăng năng suất, sản lượng một cách ổn định các sản phẩm sinh kế, giảm nhẹ sự ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới môi trường

2.1.2 Biến đổi khí hậu và sinh kế hộ nông dân vùng ven biển

2.1.2.1 Các biểu hiện của biến đổi khí hậu

Bão, lũ là biểu hiện điển hình nhất của BĐKH Theo kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), sự nóng lên toàn cầu sẽ gia tăng cường độ trung bình của các cơn bão, trong khi đó lại khiến số lượng các cơn bão giảm xuống Nghĩa là sẽ có ít bão hơn nhưng cường độ bão lại mạnh hơn Các nhà khoa học cũng phát hiện ra lượng mưa tại tâm các cơn bão sẽ tăng 20%

Kerry Emmanuel (2013) cho rằng những cơn bão mạnh nhất sẽ tăng lên, nhưng các cơn lốc xoáy nhỏ hơn cũng sẽ gia tăng Nghiên cứu cũng phát hiện ra

"các cơn bão nhiệt đới gia tăng mạnh tại phía tây Bắc Thái Bình Dương", ví dụ

như nơi bão Haiyan vừa xảy ra Một số báo cáo cũng đã kết luận rằng tốc độ gió trung bình trong các cơn bão có khả năng tăng, cũng như tần số xuất hiện các cơn mưa có lượng mưa lớn, nhưng báo cáo cũng lưu ý sự khó khăn của việc kết nối những thay đổi trong những sự kiện thiên nhiên phức tạp như như lốc xoáy với biến đổi khí hậu

Trang 20

Hạn hán là biểu hiện thứ hai của BĐKH Do khí hậu thời tiết bất thường gây nên lượng mưa thường xuyên ít ỏi hoặc nhất thời thiếu hụt Hiện nay, người ta xem xét mức độ hạn hán bằng cách phân tích ở hai bối cảnh khác nhau Trong bối cảnh mưa rất ít, lượng mưa không đáng kể trong thời gian dài hầu như quanh năm, đây là tình trạng phổ biến trên các vùng khô hạn và bán khô hạn Lượng mưa trong khoảng thời gian dài đáng kể thấp hơn rõ rệt mức trung bình nhiều năm cùng kỳ Tình trạng này có thể xảy ra trên hầu khắp các vùng, kể cả vùng mưa nhiều Trong bối cảnh mưa không ít lắm, nhưng trong một thời gian nhất định trước đó không mưa hoặc mưa chỉ đáp ứng nhu cầu tối thiểu của sản xuất và môi trường xung quanh Đây là tình trạng phổ biến trên các vùng khí hậu gió mùa, có sự khác biệt rõ rệt về mưa giữa mùa mưa và mùa khô Bản chất và tác động của hạn hán gắn liền với định loại về hạn hán

Nước biển dâng là biểu hiện thứ ba của BĐKH Theo Viện nghiên cứu biến đổi khí hậu (2008), tác động lớn nhất của biến đổi khí hậu là làm thay đổi và tan chảy của băng trên toàn thế giới, các dòng sông băng và các khối băng có trữ lượng nước rất lớn Sự tan chảy từ từ của các khối băng có thể khiến lượng nước tăng lên che phủ 10% diện tích đất liền trên toàn thế giới Trong hơn một thế kỷ vừa qua, các ngọn núi băng và khối băng ở Nam cực và Bắc Cực đã biến mất một cách nhanh chóng Việc tan chảy các khối băng diễn ra nhanh hơn so với tốc độ tái tạo chúng qua các năm cho thấy biến đổi khí hậu đã làm mất cân bằng của các dòng sông băng

và khối băng trên toàn thế giới Nhiều nghiên cứu cho thấy, khi nhiệt độ tăng lên được duy trì trong một khoảng thời gian dài, các dòng sông băng và núi băng có thể biến mất vĩnh viễn

Khi nghiên cứu về sự tan chảy, các nhà khoa học không chỉ quan tâm đến việc các tảng băng tan chảy như thế nào mà còn xem xét đến tốc độ tan chảy của chúng Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng sự di chuyển của các khối băng ra biển ở cả hai cực đã tăng lên đáng kể, gấp đôi số lượng bình thường trong vài năm Các nhà khoa học cũng chứng minh được rằng mỗi năm có khoảng 82 đến 224 km3băng biến mất trên toàn thế giới

Trang 21

Sa mạc hóa là biểu hiện thứ tư của BĐKH Những năm gần đây, thời tiết bất

thường xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới khiến nhiệt độ toàn cầu tăng cao Mùa đông không còn quá lạnh nhưng kèm theo nhiều hiện tượng như sương muối, các đợt rét đậm rét hại Mùa hè thì trở nên oi ả với nền nhiệt cao hơn nhiều so với những năm trước, bão lũ thường đến sớm và có cường độ mạnh hơn trong mùa mưa Tuy nhiên, tình hình đất nông nghiệp bị hạn hán, bị mưa lũ khiến đất bị xói mòn hoặc khô hạn hoang mạc lại là vấn đề phức tạp nhất ở nhiều quốc gia hiện nay

Sa mạc hóa là một trong những thách thức môi trường lớn nhất thời đại Đó

là hiện tượng suy thoái đất đai ở những vùng khô cằn gây ra bởi sinh hoạt của con người và biến đổi khí hậu Nó không chỉ là gia tăng diện tích sa mạc, bao gồm sự xâm lấn của các hiện tượng cát bay, cát nhảy tạo nên các đụn cát và trảng cỏ mà còn

là xuất phát từ sự suy thoái đất lâu dài, bị khô hạn thành sa mạc hóa

Các hệ sinh thái đất khô cằn rất nhạy cảm với việc khai thác quá mức và sử dụng đất không hợp lý Tình trạng nghèo đói, mất ổn định chính trị, phá rừng, chăn thả quá mức và các hoạt động tưới tiêu nghèo nàn đều đóng góp vào việc “xây dựng” sa mạc hóa Khoảng 1,2 tỷ người của hơn 110 nước đang bị đe doa bởi vấn

đề này (Viện nghiên cứu BĐKH, 2008)

2.1.2.2 Tác động của biến đổi khí hậu đến mô hình sinh kế ven biển

Biến đổi khí hậu và các tác động của nó hiện nay đang là mối quan tâm trên phạm vi toàn thế giới Nhiều cuộc nghiên cứu đã chứng minh rằng, BĐKH có tác động sâu sắc tới con người mà biểu hiện của nó là sự biến đổi trên cả 3 lĩnh vực: Kinh tế (bao gồm các ngành khác nhau như nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, năng lượng, giao thông vận tải, ), xã hội (sức khỏe con người), môi trường (tài nguyên nước, rừng, biển, hệ sinh thái và đa dạng sinh học) ở mọi quốc gia Tuy nhiên, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới con người được nhận thấy rõ ràng nhất ở mỗi vùng địa lý khác nhau, nơi đặc điểm về môi trường, xã hội và kinh tế có những đặc trưng khác nhau Trong đó, dễ tổn thương nhất do BĐKH là các đảo nhỏ, các vùng châu thổ các con sông lớn, dải ven biển và vùng núi

Trang 22

Bảng 2.1 Tác động của biến đổi khí hậu theo vùng địa lý

Vùng

địa lý

Tác động của

biến đổi khí hậu

Ngành chịu tác động của biến đổi khí

hậu

Đối tượng

dễ bị tổn thương

- Giao thông vận tải

- Xây dựng, hạ tầng, phát triển đô thị/nông thôn\

- Môi trường/tài nguyên nước/đa dạng sinh học

- Người già, trẻ em, phụ nữ

- Giao thông vận tải

- Xây dựng, hạ tầng, phát triển đô thị/nông thôn

- Môi trường/tài nguyên nước/đa dạng sinh học

- Gia tăng hiện

tượng thời tiết

- Giao thông vận tải

- Môi trường (nguồn nước, đa dạng sinh học)

- Y tế, sức khỏe cộng đồng

- Dân cư miền núi, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số

- Người già, phụ nữ, trẻ

- Giao thông vận tải

- Xây dựng, hạ tầng, phát triển đô thị

- Môi trường (tài nguyên nước)

- Y tế, sức khỏe cộng đồng

- Kinh doanh, dịch vụ, thương mại, du lịch

- Năng lượng

- Người thu nhập thấp

- Người già, phụ nữ, trẻ

em

(Nguồn: Viện KHKTTV & MT, 2011)

Trang 23

Biến đổi khí hậu có ảnh hưởng trên toàn thế giới (bảng 2.1) BĐKH với biểu hiện của nó chủ yếu là gia tăng bão, áp thấp nhiệt đới, nhiệt độ tăng, hiện tượng xâm ngập mặn và các loại hình thiên tai khác đã ảnh hưởng không nhỏ trên mọi lĩnh vực, ở mọi vùng miền trên cả nước và mọi đối tượng người dân Đặc biệt với vùng ven biển, nơi cuộc sống của người dân bị ảnh hưởng rất lớn bởi sinh kế chủ yếu của

họ là các hình thức đánh bắt, nuôi trồng thủy sản và làm nông nghiệp Việc gia tăng các rủi ro từ khí hậu là một trong những áp lực làm gia tăng khả năng bị tổn thương của những sinh kế dựa vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên của các cộng đồng ven biển Nhìn chung, biến đổi khí hậu gây ảnh hưởng đến sinh kế của người dân nông thôn nói chung và vùng ven biển nói riêng trên một số sinh kế chính như sản xuất nông nghiệp, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản – những sinh kế mà người nghèo chủ yếu dựa vào các nguồn lực tự nhiên để thực hiện các chiến lược sinh kế (Trần Thọ Đạt, 2012)

Những ảnh hưởng cụ thể đối với sản xuất nông nghiệp bao gồm: Mất diện tích đất nông nghiệp do nước biển dâng, mặn hóa các vùng đất canh tác do sự xâm nhập của nước biển, tăng cường lũ lụt và hạn hán, gia tăng dịch bệnh do sự thay đổi của nhiệt độ và lượng mưa, từ đó ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng nông nghiệp, làm giảm cơ hội việc làm, đẩy giá lương thực lên cao và đe dọa đến vấn đề

an ninh lương thực Đối với hoạt động đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, mực nước biển dâng, nhiệt độ tăng, bão lũ, sóng lớn, triều cường và các hiện tượng thời tiết cực đoan sẽ ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến các hệ sinh thái quan trọng và nghề cá ven bờ (như hệ sinh thái rừng ngập mặn, đất ngập nước, hệ sinh thái san hô), từ đó làm thu hẹp và hủy hoại chất lượng môi trường sống của các loài thủy hải sản, làm giảm chất lượng và trữ lượng thủy sản nuôi trồng và đánh bắt ven bờ (UNDP, 2008; Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008; Nguyễn Mậu Dũng, 2010) Tất

cả những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu lên sinh kế ven biển được tổng hợp ở bảng 2.2 dưới đây

Trang 24

Bảng 2.2 Tác động của biến đổi khí hậu đến mô hình sinh kế ven biển Các tác động

của BĐKH sinh kế bị ảnh hưởng Nguồn lực mô hình Chiến lược sinh kế bị ảnh hưởng

Kết quả sinh kế bị ảnh hưởng

Nước biển

dâng

Mất đất canh tác do ngập lụt

Không thể thực hiện được hoạt động trồng trọt trên vùng ngập úng

- Sản lượng thu hoạch giảm

- Thu nhập giảm Đất nông nghiệp bị

nhiễm mặn

Không thể thực hiện các hoạt đồng trồng trọt trên đất nhiễm mặn

- Sản lượng thu hoạch giảm

- Thu nhập giảm

Độ mặn của nước thay đổi, ảnh hưởng đến sinh trưởng của các loài thủy sản

Hoạt động đánh bắt và nuôi trồng bị ảnh hưởng

Các hoạt động nông nghiệp, thủy sản, du lịch bị ảnh hưởng

- Năng suất/sản lượng nông nghiệp, thủy sản giảm; doanh thu từ du lịch giảm

- Thu nhập giảm

Hạn hán

Đất canh tác bị khô hạn

Hoạt động trồng trọt bị ảnh hưởng do thiếu nước tưới

- Năng suất cây trồng giảm

- Thu nhập giảm Tăng độ mặn của

nguồn nước và nhiệt

độ

Hoạt động đánh bắt và nuôi trồng bị ảnh hưởng

- Năng suất giảm

- Thu nhập giảm

Lũ lụt

Đất bị ngập úng Hoạt động trồng trọt bị ảnh hưởng

- Năng suất/sản lượng trồng trọt giảm

- Thu nhập giảm

Sự di chuyển của các loài thủy sản Hoạt động đánh bắt bị ảnh hưởng

- Năng suất/sản lượng trồng trọt giảm

- Thu nhập giảm Ngọt hóa nguồn nước

sử dụng trong nuôi trồng thủy sản

Hoạt động nuôi trồng

bị ảnh hưởng

- Năng suất/sản lượng trồng trọt giảm

- Thu nhập giảm Phá vỡ cơ sở hạ tầng

hiện tại (đê điều, thủy lợi, đường xá)

Hoạt động nông nghiệp, du lịch, đánh bắt thủy sản bị ảnh hưởng

- Năng suất/sản lượng nông nghiệp, thủy sản giảm; doanh thu từ du lịch giảm

- Thu nhập giảm

Bão, triều

cường

Phá vỡ hệ thống đê của các đầm nuôi thủy sản

Hoạt động nuôi trồng

bị ảnh hưởng

- Năng suất/sản lượnggiảm

- Thu nhập giảm

Sự di chuyển của các loài thủy sản Hoạt động nuôi trồng bị ảnh hưởng

- Năng suất/sản lượng giảm

- Thu nhập giảm

(Nguồn: Viện KHKTTV & MT, 2011)

Trang 25

Bảng 2.2 cho thấy sự biến đổi khí hậu tác động đến từng yếu tố cấu thành nên khung sinh kế bền vững vùng ven biển Hiện tượng nước biển dâng, hạn hán, lũ lụt, bão và triều cường là 4 loại hình chủ yếu có tác động mạnh mẽ đến nguồn lực sinh kế của người dân kéo theo sự thay đổi của quyết định chiến lược sinh kế của nông hộ Theo đó, đối với hộ nông dân vùng ven biển, dưới tác động của các loại hình thời tiết cực đoan này, chiến lược sinh kế chủ yếu là các hoạt động liên quan tới nguồn lực tự nhiên như đánh bắt hải sản, nuôi trồng thủy sản và trồng trọt bị ảnh hưởng Từ đó dẫn tới hệ quả về năng suất, sản lượng giảm kéo theo thu nhập của hộ nông dân bị giảm sút Điều đó cho thấy, BĐKH, về bản chất, đã làm giảm kết quả sinh kế hộ nông dân ven biển do ảnh hưởng tiêu cực của nó tới nguồn lực tự nhiên

hộ gia đình

Như vậy, BĐKH có tác động rất lớn tới sinh kế ven biển Hiện tượng này gây

ra ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn tài nguyên thiên nhiên ven biển, từ đó dẫn tới hệ quả về sự giảm sút nguồn lực kinh tế và vật chất, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng cuộc sống của các hộ nông dân

2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới mô hình sinh kế ven biển

2.1.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động sinh kế

Hiện nay, khung phân sinh kế bền vững được sử dụng để xem xét một cách toàn diện tất cả các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động sinh kế của con người Về cơ bản, khung sinh kế bền vững có những thành phần cơ bản là nguồn vốn (tài sản), tiến trình thay đổi cấu trúc, ngữ cảnh thay đổi bên ngoài, chiến lược sinh kế và kết quả chiến lược sinh kế đó

Theo khung sinh kế bền vững (DFID, 2001), các hộ gia đình đều có phương thức kiếm sống (chiến lược sinh kế) dựa vào những nguồn lực sinh kế có sẵn trong bối cảnh chính sách và thể chế nhất định ở địa phương Những nhân tố này cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như bão lụt và các tác động mang tính thời

vụ Sự lựa chọn về chiến lược sinh kế của các hộ gia đình dựa trên những nguồn lực sinh kế hiện tại là kết quả của sự tương tác giữa các nhóm yếu tố này

Nhóm yếu tố về nguồn lực sinh kế được chia làm 5 loại vốn chính: Vốn nhân lực, vốn tài chính, vốn vật chất, vốn xã hội và vốn tự nhiên

Trang 26

Vốn nhân lực (Human Capital) bao gồm các kỹ năng, kiến thức, kinh

nghiệm, khả năng lao động, sức khỏe, trình độ giáo dục mà những yếu tố này giúp con người có thể thực hiện được các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được những kết quả sinh kế khác nhau Ở cấp hộ gia đình, nguồn lực con người là yếu tố quyết định số lượng và chất lượng lao động Nguồn lực này có thể thay đổi tùy theo quy mô hộ gia đình, trình độ kỹ năng, sức khỏe

Vốn tài chính (Financial Capital) bao gồm các nguồn vốn khác nhau mà con

người sử dụng để đạt được các mục tiêu sinh kế, bao gồm các khoản tiền tiết kiệm, tiền mặt, trang sức, các khoản vay, các khoản thu nhập khác

Vốn tự nhiên (Natural Capital) bao gồm các nguồn tài nguyên thiên nhiên có

trong môi trường tự nhiên mà con người có thể sử dụng để thực hiện các hoạt động sinh kế như tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, nước, không khí, đa dạng sinh học, Nguồn vốn tự nhiên thể hiện quy mô và chất lượng đất đai, quy mô

và chất lượng nguồn nước, quy mô và chất lượng các nguồn tài nguyên khoáng sản, quy mô và chất lượng nguồn tài nguyên thủy sản và nguồn không khí

Sơ đồ 2.1 Khung sinh kế bền vững

- Ở các cấp khác

nhau của Chính phủ, luật pháp, chính sách công, các động lực, các qui tắc

thái độ đối với khu vực tư nhân

- Các thiết chế công dân, chính trị và kinh tế (thịtrường, văn hoá)

Các chiến lược SK

- Các tác nhân xã hội (nam, nữ, hộ gia đình, cộng đồng …)

- Các cơ sở tài nguyên thiên nhiên

- Cơ sở thị trường

- Đa dạng

- Sinhtồn hoặc tính bền vững

Các kết quả SK

- Thu nhập nhiều hơn

- Cuộc sống đầyđủ hơn

- Giảm khả năng tổn thương

- An ninh lương thực được cải thiện

- Công bằng xã hội được cải thiện

- Tăng tính bền vững của tài nguyên thiên nhiên

- Giá trị khôngsử dụng của tự nhiên đượcbảo vệ

Trang 27

Vốn vật chất (Physical Capital) bao gồm các tài sản vật chất mà hộ có

được trong hiện tại và có khả năng tăng thêm trong tương lai Nguồn vốn vật của

hộ bao gồm công cụ lao động, công cụ khai thác để thực hiện chiến lược sinh kế của hộ

Vốn xã hội (Social Capital) bao gồm các mối quan hệ giữa con người với con

người trong xã hội mà con người dựa vào đó để thực hiện các hoạt động sinh kế, chủ yếu là các thành viên trong mạng lưới xã hội (các tổ chức chính trị hoặc dân sự), thành viên của các tổ chức cộng đồng, sự tiếp cận thị trường Qua đó, người dân có thể tạo ra cơ hội và thu được lợi ích trong quá trình thực hiện sinh kế

Nguồn vốn sinh kế không chỉ thể hiện ở trạng thái hiện tại mà còn thể hiện khả năng thay đổi trong tương lai Do đó, khi xem xét đến vốn sinh kế, con người không chỉ xem xét đến hiện trạng các nguồn vốn sinh kế mà cần phải xem xét đến khả năng hay cơ hội thay đổi của nguồn vốn đó trong tương lai

Chiến lược sinh kế là cách mà hộ gia đình sử dụng các nguồn lực sinh kế có

sẵn để duy trì cuộc sống và đáp ứng những nhu cầu trong cuộc sống Ví dụ: một

hộ ngư dân duy trì cuộc sống của họ bằng nghề đánh bắt thủy, hải sản thì họ cần phải sử dụng các nguồn lực sinh kế bao gồm nguồn lực tự nhiên (tài nguyên thủy, hải sản); nguồn lực vật chất (tàu, thuyền đánh cá, ngư cụ, bến tàu); nguồn lực con người (lực lượng lao động, sức khỏe, trí thức và kinh nghiệm về khai thác thủy, hải sản); nguồn lực xã hội (thị trường bán sản phẩm); nguồn lực tài chính (tiền sẵn

có, tiền vay) Các nhóm dân cư khác nhau trong cộng đồng có những đặc điểm kinh tế - xã hội và các nguồn lực sinh kế khác nhau nên có những lựa chọn về chiến lược sinh kế khác nhau Các chiến lược sinh kế có thể thực hiện là: sản xuất nông nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, sản xuất công nghiệp quy mô nhỏ, buôn bán, du lịch và di dân

Tiến trình và cấu trúc (Structure and Processes) là yếu tố thể chế, tổ chức,

chính sách và luật pháp xác định hay ảnh hưởng khả năng tiếp cận đến các nguồn vốn, điều kiện trao đổi của các nguồn vốn và thu nhập từ các chiến lược sinh kế khác nhau Các thể chế và chính sách được xây dựng và hoạt động ở tất cả các cấp,

từ cấp hộ gia đình đến các cấp cao hơn như cấp vùng, cấp quốc gia và quốc tế Các

Trang 28

thể chế, chính sách này quyết định khả năng tiếp cận các nguồn lực sinh kế và việc thực hiện chiến lược sinh kế của các cá nhân, hộ gia đình và các nhóm đối tượng khác Do đó, Sự hiểu biết về cấu trúc, tiến trình có thể xác định được cơ hội cho các chiến lược sinh kế thông qua quá trình chuyển đổi cấu trúc

Kết quả của sinh kế (Livelihood outcome) là những thành quả mà hộ gia đình

đạt được khi kết hợp các nguồn lực sinh kế khác nhau để thực hiện các chiến lược sinh kế Các kết quả sinh kế chủ yếu là sự tăng lên của thu nhập, cải thiện phúc lợi, giảm khả năng bị tổn thương, tăng cường an ninh lương thực, sử dụng một cách bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên Các kết quả sinh kế này phản ánh tính bền vững của sinh kế trên 3 phương diện: Kinh tế - Xã hội - Môi trường

Ngữ cảnh dễ tổn thương (bối cảnh bên ngoài) là môi trường bên ngoài mà

con người sinh sống Sinh kế của người dân và nguồn lực sinh kế của họ bị ảnh hưởng rất nhiều bởi 3 yếu tố thuộc bối cảnh bên ngoài, đó là: Các xu hướng, các cú sốc và tính mùa vụ Những nhân tố này không bị điều khiển bởi con người

Các xu hướng bao gồm xu hướng về dân số, nguồn lực sinh kế, các hoạt

động kinh tế cấp quốc gia và quốc tế, tình hình chính trị quốc gia, sự thay đổi của công nghệ,

Các cú sốc bao gồm các cú sốc về sức khỏe (do bệnh dịch), cú sốc tự nhiên (do

thời tiết, thiên tai), cú sốc về kinh tế (do khủng hoảng), cú sốc về mùa màng, vật nuôi

Tính mùa vụ là các yếu tố liên quan đến sự thay đổi giá cả, hoạt động sản

xuất, các yếu tố việc làm mang tính thời vụ

Trong 5 yếu tố cấu thành nên khung sinh kế bền vững, 5 nguồn lực sinh kế đóng vai trò rất quan trọng đối với các hoạt động sinh kế cấp cá nhân, hộ gia đình hoặc một nhóm đối tượng do nó quyết định các chiến lược sinh kế nào sẽ thực hiện

để đạt được các kết quả sinh kế mong muốn Tuy nhiên, các nguồn lực sinh kế này cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thuộc bên ngoài như thể chế - chính sách địa phương Do đó, sự tương tác giữa các nhóm yếu tố này, kết hợp với nhu cầu về sinh

kế, sẽ quyết định các chiến lược sinh kế của các cá nhân, hộ gia đình và các nhóm đối tượng khác

Trang 29

2.1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới mô hình sinh kế ven biển

Năm 2004, trên cơ sở việc xây dựng khung sinh kế bền vững nói chung, IMM đã xây dựng một khung sinh kế mới áp dụng cho các cộng đồng ven biển.Trong khung phân tích này, mô hình sinh kế của các hộ gia đình ven biển chịu tác động của 3 nhóm yếu tố bao gồm: Các nguồn lực sinh kế, các đặc điểm về cá nhân và các yếu tố xã hội, các yếu tố ảnh hưởng gián tiếp

Sơ đồ 2.2 Khung sinh kế bền vững vùng ven biển

(Nguồn: MARD, 2008)

Các nguồn lực sinh kế bao gồm: Nguồn lực về con người, nguồn lực về xã hội, nguồn lực về tài chính, nguồn lực về vật chất và nguồn lực về tự nhiên Nhóm

Trang 30

nguồn lực này giữ vai trò nòng cốt trong khung sinh kế bền vững nói chung và khung sinh kế bền vững vùng ven biển nói riêng bởi tầm quan trọng và sức ảnh hưởng của nó tới chiến lược sinh kế của từng hộ dân cũng như tới cả cộng đồng thực hiện chiến lược đó

Các đặc điểm cá nhân bao gồm: Tôn giáo, tồn tại xã hội, tuổi tác, giới tính, tầng lớp, quyền lực, Nhóm các yếu tố xã hội bao gồm: Cơ cấu chính trị, chính sách, luật pháp, Các nhóm yếu tố này bao quanh cộng đồng ven biển và có tác động trực tiếp tới cộng đồng đó Nguyên nhân chủ yếu là do nó có ảnh hưởng tới sự

ra quyết định của cá nhân tham gia chiến lược sinh kế ven biển cũng như bối cảnh của chiến lược đó

Các yếu tố ảnh hưởng gián tiếp bao gồm: Tính mùa vụ, thiên tai, xu hướng bên ngoài Đây được coi là nhóm yếu tố thể hiện bối cảnh dễ tổn thương của cộng đồng ven biển nếu chịu tác động của các điều kiện bất lợi như của thiên nhiên, của thị trường, môi trường chính trị mang lại

Sự kết hợp của ba yếu tố cũng như sự tương tác giữa chúng là điều kiện cần

và đủ để lựa chọn một chiến lược sinh kế phù hợp cho cộng đồng ven biển nói chung cũng như hộ dân ven biển nói riêng

Sơ đồ 2.2 cho ta thấy các yếu tố cấu thành nên sinh kế của cộng đồng cư dân ven biển, những yếu tố tác động đến nguồn lực sinh kế và kết quả của sinh kế với những hệ quả của nó Ý tưởng chung của khung sinh kế bền vững là các hộ gia đình dựa vào các nguồn lực sinh kế hiện có bao gồm: Nguồn lực con người, nguồn lực về

tự nhiên, nguồn lực vật chất, tài chính và nguồn lực xã hội Sinh kế được vận dụng trong bối cảnh thể chế và chính sách nhất định ở địa phương để thực hiện các chiến lược sinh kế (như sản xuất nông nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng, dịch vụ du lịch, đa dạng hóa các loại hình sinh kế, di dân, ) nhằm đạt được các kết quả sinh kế bền vững vùng ven biển dưới tác động của những yếu tố bên ngoài

2.1.4 Ý nghĩa của việc xây dựng mô hình sinh kế

Xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông dân thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu có ý nghĩa vô cùng quan trọng Mỗi mô hình sinh kế được xây dựng nhằm hướng tới các đối tượng sinh kế khác nhau Do đó, việc xây dựng mô hình sinh kế

Trang 31

thích ứng với BĐKH không chỉ có ý nghĩa với cuộc sống của người dân mà còn có

ý nghĩa với sự phát triển bền vững của địa phương

2.1.4.1 Đối với hộ nông dân

Năm 2011, trong báo cáo kết thúc dự án xây dựng năng lực về biến đổi khí hậu cho các tổ chức xã hội dân sự của Trung tâm phát triển Nông thôn bền vững (SRD) có đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của mô hình sinh kế thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu trong việc cải thiện cuộc sống của người dân nói chung và người dân ven biển nói riêng Trước sự ảnh hưởng của BĐKH lên các nguồn lực sinh kế, việc xây dựng mô hình sinh kế thích ứng với BĐKH thực chất là sự thay đổi các nguồn lực sinh kế, các thói quen hoạt động sinh kế của người dân nhằm giảm thiểu đến mức tối đa những tác động tiêu cực mà BĐKH mang lại (Trung tâm Phát triển Nông thôn bền vững - SRD, 2011) Do đó, về bản chất, ý nghĩa của việc xây dựng các mô hình sinh kế cho hộ nông dân thích ứng với BĐKH là tăng khả năng thích ứng của các nguồn lực sẵn có từ đó thay đổi chiến lược sinh kế của hộ nông dân và cải thiện mức sống của họ Đặc biệt đối với vùng ven biển, đặc điểm hoạt động sinh kế của người nông dân phụ thuộc rất lớn vào nguồn lực tự nhiên và

có sự ảnh hưởng của nguồn lực tài chính, nguồn lực xã hội Vì vậy, xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông dân vùng ven biển thích ứng với BĐKH có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế cũng như xã hội

Thứ nhất, xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông dân vùng ven biển thích

ứng với điều kiện BĐKH làm tăng thu nhập cho người nông dân, nâng cao chất lượng cuộc sống của họ Thực chất, xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông dân thich ứng với BĐKH là làm tăng thu nhập của hộ so với khi chưa có mô hình trong bối cảnh hộ nông dân bị ảnh hưởng của BĐKH Các mô hình sinh kế thích ứng với BĐKH được xây dựng dựa trên các mô hình sinh kế có sẵn tại địa phương Sự thay đổi của khí hậu khiến cho các nguồn lực sinh kế của hộ thay đổi Đối với vùng ven biển, sự thay đổi này là sự giảm sút về chất lượng của nguồn lực tự nhiên Đối với các hộ trồng trọt do tư liệu sản xuất của họ là đất đai bị xâm nhập mặn, ảnh hưởng của mưa lớn kéo dài và bão bất thường khiến cho quá trình sinh trưởng, phát triển

Trang 32

của cây trồng bị ảnh hưởng, gây ra sự sụt giảm về năng suất và chất lượng sản phẩm, từ đó gây giảm sút về thu nhập của hộ

Đối với các hộ nuôi trồng thủy sản, hoạt động sinh kế của họ chủ yếu dựa vào nguồn nước Do ảnh hưởng của BĐKH, hiện tượng xâm nhập mặn cũng như mưa lớn làm ảnh hưởng tới chất lượng nguồn nước như làm thay đổi nồng độ pH, thay đổi hệ thống sinh thái trong môi trường, từ đó làm ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng và phát triển của các loài thủy sinh Khi đó, năng suất nuôi trồng thủy sản bị sụt giảm và kéo theo thu nhập của người nông dân bị giảm sút Xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nuôi trồng thủy sản thích ứng với BĐKH có ý nghĩa trong việc nâng cao thu nhập của người dân bằng việc cải thiện môi trường sống của các loài thủy sản, tận dụng kết hợp các nguồn lực sẵn có như mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến, mô hình nuôi thủy sản dưới tán rừng

Đối với các hộ đánh bắt hải sản, việc đánh bắt sẽ thuận lợi hơn khi mô hình thích ứng với BĐKH được xây dựng Do đặc điểm của hoạt động đánh bắt hải sản ảnh hưởng rất lớn vào hiện tượng thời tiết như mưa, bão, thời gian hoạt động của ngư dân không được kéo dài, dẫn tới lượng đánh bắt hải sản thấp, gây ảnh hưởng tới thu nhập của người dân Xây dựng mô hình sinh kế cho hộ dân đánh bắt hải sản là

sự tác động vào nguồn lực xã hội và nguồn lực vật chất, nâng cao ý thức hợp tác giữa các nhóm người để xây dựng các tổ hợp tác đánh bắt xa bờ, từ đó tăng sản lượng đánh bắt kéo theo sự tăng lên của thu nhập

Thứ hai, xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông dân thích ứng với BĐKH có

ý nghĩa trong việc phát triển nguồn lực sinh kế của hộ

Một là khả năng của các nguồn lực và cơ hội tiệp cận thành công các nguồn

lực sinh kế tăng lên Nhân tố nguồn lực sinh kế vô cùng quan trọng trong việc quyết định hoạt động hay chiến lược sinh kế của hộ gia đình Sự thành công của các chiến lược sinh kế sẽ tùy thuộc vào mức độ hợp lý của con người trong việc sử dụng và quản lý các nguồn lực sinh kế của hộ gia đình

Hai là khả năng nhận thức, kiểm soát sự thay đổi môi trường sinh kế của

người dân được nâng cao Đây là nhân tố ảnh hưởng quan trọng do môi trường sinh kế có tác động trực tiếp tới nguồn lực sinh kế (tài sản sinh kế) của hộ gia

Trang 33

đình Đồng thời, nhận thức rõ ràng và kiểm soát sự thay đổi của môi trường sinh

kế sẽ giúp người dân ra quyết định một cách chính xác, nhằm đảm bảo nguồn tài sản sinh kế cũng như làm giảm đến mức tối đa thiệt hại do ảnh hưởng của sự thay đổi gây nên

Ba là hộ nông dân sẽ có chiến lược sinh kế đúng đắn và hợp lý Một chiến

lược sinh kế đúng đắn và hợp lý là sự kết hợp giữa các nguồn lực dưới tác động của yếu tố nội tại và yếu tố bên ngoài, xây dựng mô hình sinh kế sẽ giúp các hộ dân phát huy tối đa các tác động tích của các yếu tố nội tại và cân bằng sự tác động của yếu tố bên ngoài trên cơ sở nguồn lực sẵn có của nông hộ

2.1.4.2 Đối với địa phương

Xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông dân thích ứng với BĐKH có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương

Về mặt kinh tế, xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông dân vùng ven biển thích ứng với BĐKH là sự can thiệp vào các nguồn lực sinh kế, từ đó khắc phục những tác động tiêu cực của BĐKH đến hoạt động sinh kế, làm tăng thu nhập của

hộ gia đình so với kết quả sinh kế khi chưa có mô hình Khi đó, giá trị GDP của vùng sẽ tăng lên, kinh tế địa phương sẽ đạt mốc cao hơn

Về mặt xã hội, việc xây dựng mô hình sinh kế có ý nghĩa trong việc gắn kết

và phát triển cộng đồng Thông qua mô hình sinh kế, các hộ nông dân ven biển có

cơ hội được trao đổi, học tập kinh nghiệm, cùng nhau thành lập những tổ hợp tác để phát triển hoạt động sinh kế qua nhóm đồng sở thích Khi mô hình sinh kế chưa được xây dựng, các hoạt động sinh kế có thể được thực hiện một cách tự phát, hoạt động thích ứng với BĐKH chỉ mang tính tự phát, không có kế hoạch và bị thụ động trước những rủi ro mà BĐKH mang lại Xây dựng mô hình sinh kế là sự tích lũy các nguồn lực sinh kế, kết hợp các nguồn lực đó dựa vào cộng đồng để hộ dân có thể chủ động hơn trong việc thích ứng với điều kiện bất thuận của thời tiết

Bên cạnh đó, xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông dân vùng ven biển góp phần nâng cao nguồn lực về con người Trên thực tế, các hộ nông dân vùng ven biển có trình độ học vấn thấp, lao động chủ yếu dựa vào kinh nghiệm như trồng trọt, đánh bắt và nuôi trồng thủy, hải sản Vì vậy, xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông

Trang 34

dân thích ứng với BĐKH sẽ góp phần nâng cao trình độ khoa học, kỹ thuật của người nông dân Trong quá trình xây dựng mô hình, các kỹ thuật trồng trọt cũng như nuôi trồng cải tiến sẽ được áp dụng nhằm khắc phục những ảnh hưởng do điều kiện bất thuận của thời tiết mang lại Do đó, trình độ canh tác của người dân sẽ được nâng cao, khoa học công nghệ trong đánh bắt hải sản cũng phát triển Từ đó dẫn tới sự phát triển của cộng đồng

Về mặt môi trường, xây dựng mô hình sinh kế thích ứng với BĐKH nói chung và xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông dân ven biển thích ứng với BĐKH nói riêng là một biên pháp đề cải thiện môi trường tự nhiên Đối với người dân ven biển, trồng trọt, nuôi trồng thủy sản và đánh bắt hải sản là các hoạt động sinh kế chủ yếu Hiện tượng BĐKH sẽ gây ra hiện tượng ô nhiễm môi trường do sự ảnh hưởng của nó lên quá trình sinh trưởng, phát triển của các loại cây trồng cũng như các loài thủy sinh dẫn tới việc sử dụng các loại thuốc một cách tràn lan gây hậu quả nghiêm trọng với môi trường Xây dựng mô hình sinh kế là dựa vào sự phân tích ảnh hưởng của BĐKH lên quá trình nào của hoạt động sinh trưởng các loài để có biện pháp phù hợp về kỹ thuật Qua đó, xây dựng kế hoạch phù hợp cho các hoạt động sinh

kế, từ đó giảm thiểu tối đa của việc sử dụng các loại chất hóa học kích thích lên sự phát triển đối tượng của hoạt động sinh kế gây ô nhiễm môi trường

Như vậy, xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông dân vùng ven biển thích ứng với BĐKH không chỉ có ý nghĩa trong việc cải thiện kinh tế hộ nông dân mà còn có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển bền vững của địa phương

Trang 35

2.2.1.1 Châu Phi cận Xahara

Điều kiện tự nhiên không thuận lợi với hai phần ba diện tích về mặt tự nhiên

là sa mạc hoặc đất đai cằn cỗi, dễ xảy ra hạn hán, lũ lụt và hiện tượng này sẽ gia tăng do BĐKH Sinh kế của người dân tại đây phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Nông nghiệp đóng góp 23% GDP (không tính GDP của Nam Phi) và tạo việc làm cho khoảng 70% dân số được tưới bằng nước mưa Năng lực trữ nước tại khu vực này rất hạn chế, cơ sở hạ tầng yếu kém gây trở ngại lớn cho các nỗ lực thích ứng của khu vực này Do đó, các mô hình sinh kế được xây dựng nhằm giúp người dân khắc phục những ảnh hưởng của thời tiết bất thuận

Mô hình bể nước sinh thái được xây dựng với mục tiêu sử dụng nguồn nước

tự nhiên vốn có để phát triển vùng sản xuất nông nghiệp Theo đó, những bể ngấm được xây dựng bằng chất liệu đất cát pha sẵn có tại địa phương, đặt sâu dưới mặt đất khoảng 1,2 m thông nhau nhằm sử dụng nguồn nước ngầm thấm trong cát sa mạc để làm nguồn nước dự trữ cho tưới tiêu thủy lợi Đồng thời, hệ thống thủy lợi được xây dựng nhằm đưa nước tới tận vùng sản xuất Với mô hình sinh kế này, nguồn lực tự nhiên được tận dụng một cách có hiệu quả hơn khi hơn 40% số hộ đã được sử dụng nước mà trước đây họ không mong có nước để sinh hoạt và hoạt động sản xuất nông nghiệp, từ đó, sinh kế của con người được cải thiện dần để thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu theo hướng bền vững

2.2.1.2 Châu Mỹ La tinh

Tại châu Mỹ La Tinh, các hệ sinh thái có vai trò thiết yếu đang bị đe dọa Các dòng sông băng nhiệt đới ở dãy Andes được sự báo là sẽ biến mất do nhiệt độ trái đất đang ngày một nóng lên khiến cho thời gian và cường độ dòng chảy đến một

số nước trong khu vực sẽ bị đe dọa Hiện tượng này sẽ khiến cho khoảng 77 triệu người bị ảnh hưởng do đe dọa các công trình thủy điện vốn là nguồn cung cấp hơn một nửa lượng điện cho các nước Nam Mỹ Một nguyên nhân khác gây ảnh hưởng tới sinh kế của người dân vùng này là do tình trạng các đại dương ấm lên, hiện tượng axit hóa đại dương sẽ tẩy trắng và làm chết các rạn san hô, làm mất đi nguồn sống của hơn 65% loài cá trong khu vực, khiến cho ngành du lịch bị thiệt hại nghiêm trọng

Trang 36

Mô hình nhà chống ngập thích ứng với nước biển dâng kết hợp với du lịch sinh thái biển được xây dựng với mục đích ổn định cuộc sống cho người dân trước thảm họa của thiên nhiên và khôi phục nguồn sinh kế du lịch cho họ Những ngôi nhà được xây bằng bê tông với 4 -5 cột trụ, cách mặt đất khoảng 1,2 – 1,7 m nhằm tránh hiện tượng nước biển dâng đột ngột Ngoài ra, những căn nhà phía gần biển hay gần vịnh ngập nước được xây dựng với hệ thống giàn lưới phía dưới nhằm làm nơi lưu lại chất dinh dưỡng, hay giá thể cho các loài sinh vật bám sống Như vậy, những căn nhà được thiết kế đặc biệt này là giải pháp khá tối ưu cho địa phương Đồng thời, đây cũng là phương án tối ưu cho du lịch sinh thái biển khi có thể phát triển một quần thể những ngôi nhà nằm cạnh nhau và nối với nhau bằng những cây cầu nhân tạo, tạo nên một khu nghỉ dưỡng tuyệt vời, nhờ đó có thể phát huy thế mạnh về du lịch sinh thái biển

bị ngập trong nước

Mô hình quản lý hệ sinh thái ven biển và phát triển sinh kế cộng đồng nhằm ứng phó với điều kiện BĐKH đã được xây dựng và phát triển thành công Mô hình chủ yếu dựa vào cộng đồng mang tính tổng hợp với các nội dung chính: (i) Tăng cường nhận thức, kiến thức và năng lực về quản lý hệ sinh thái biển, tài nguyên biển, phát triển sinh kế biển trong bối cảnh BĐKH; (ii) Thúc đẩy và hỗ trợ phục hồi

và bảo tồn hệ sinh thái biển, nâng cao quản lý nguồn lợi biển trong điều kiện BĐKH; (iii) Thúc đẩy và hỗ trợ phát triển đa dạng sinh kế biển với phương thức sản xuất, kinh doanh thân thiện môi trường và thích ứng với BĐKH; (iv) Hỗ trợ tổng

Trang 37

hợp kinh nghiệm, chia sẻ thông tin và tác động tới các nhà làm chính sách về vùng BĐKH ven biển Như vậy, nguồn lực sinh kế sẽ được đảm bảo và các hoạt động sinh kế sẽ diễn ra theo hướng bền vững, góp phần làm giảm thiểu những tác động tiêu cực của BĐKH đến cuộc sống của con người

Các mô hình BĐKH trên thế giới được thực hiện bằng cách đa dạng hóa các nguồn lực sinh kế và phát triển nó theo hướng bền vững Sử dụng lợi thế của địa phương, với mục tiêu khắc phục cũng như cố gắng thích ứng với những hệ quả mà

sự thay đổi của khí hậu gây nên, các mô hình sinh kế đã thể hiện được tính hiệu quả của chúng, góp phần cải thiện cuộc sống của người dân tại những vùng bị ảnh hưởng bới BĐKH

2.2.2 Mô hình sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu vùng ven biển ở Việt Nam

2.2.2.1 Vai trò của vùng ven biển đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Theo báo cáo của Viện Kinh tế học (2001) về vùng ven biển của Việt Nam thì trung bình khoảng 100km2 đất liền có 1 km đường bờ biển, trong khi trên thế giới, khoảng 600 km2 đất liền có 1km đường bờ biển Chỉ số biển của Việt Nam là 0,01 và cao gấp 6 lần mức trung bình của thế giới Ngoài ra, cứ khoảng 1km2 đất liền ở Việt Nam thì có khoảng 4 km2 vùng lãnh hải và đặc quyền kinh tế, tỷ lệ này cũng cao khoảng 1,6 lần mức trung bình của thế giới

Diện tích và dân số của các tỉnh, thành phố ven biển của Việt Nam phân bố không đồng đều, chủ yếu tập trung ở vùng ven biển Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung (chiếm khoảng 70% diện tích và 43% dân số trên tổng số 28 tỉnh thành ven biển của đất nước) Mật độ dân số trung bình của các tinh, thành phố ven biển

là 373 người/km2, cao hơn 1,5 lần mật độ trung bình của cả nước

Trong chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam đến năm 2020 được thể hiện trong Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9/02/2007 về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” với quan điểm Việt Nam phải trở thành một quốc gia mạnh

về kinh tế biển, cơ cấu kinh tế hiện đại, thực sự làm động lực thúc đấy kinh tế cả nước phát triển với tốc độ nhanh.Theo đó, các mục tiêu cần đạt được đến năm

2020 là đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế biển và vùng ven biển, đạt mức tăng trưởng bình quân khoảng 1,3 lần mức tăng trưởng bình quân của cả nước, đóng

Trang 38

góp 53 – 55% tổng GDP cả nước, GDP bình quân đầu người vùng ven biển bằng 1,3 – 1,5 lần bình quân chung của cả nước Năm lĩnh vực kinh tế cơ bản của vùng biển và ven biển Việt Nam được xác định theo thứ tự ưu tiên đến năm 2020 lần lượt là: (i) khai thác và chế biến dầu khí, (ii) kinh tế hàng hải, (iii) kinh tế thủy sản, (iv) du lịch biển và kinh tế hải đảo, và (v) xây dựng các khu kinh tế, khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với các khu đô thị ven biển (Bùi Tất Thắng, 2007)

2.2.2.2 Hoạt động sinh kế của hộ dân vùng ven biển Việt Nam

Sinh kế ven biển đối với Việt Nam đóng một vai trò vô cùng quan trọng Đứng trước nguy cơ về biến đổi khí hậu với những biểu hiện rõ rệt đến vùng ven biển Việt Nam, ảnh hưởng lớn tới các nguồn lực sinh kế của hộ dân ven biển, trong những năm qua, chiến lược sinh kế của của các hộ dân đã có sự thay đổi Sinh kế vùng ven biển của Việt Nam chủ yếu tập trung ở các hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp và dịch vụ

Sản xuất nông nghiệp với trồng trọt, chủ yếu là trồng lúa, từ trước đến nay

vẫn là hoạt động kinh tế quan trọng nhất của vùng ven biển Việt Nam và được tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long Những chuyển biến rõ nét của ngành trồng trọt trong những năm vừa qua là: (i) mở rộng qui mô canh tác (diện tích gieo trồng) đối với cây lương thực, cây công nghiệp hàng năm, cây ăn quả và các loại cây trồng khác, (ii) cơ cấu cây trồng được chuyển dịch theo hướng đa dạng hóa, và (iii) tăng cường đầu tư thâm canh, tăng năng suất nhờ tăng cường đầu tư vào các yếu tố đầu vào, sử dụng các loại giống mới và công nghệ sản xuất mới (Trần Thọ Đạt, 2012 ) Tuy nhiên, hoạt động trồng trọt của cư dân ven biển cũng gặp phải những khó khăn rất lớn như thường xuyên phải đối mặt với thiên tai và điều kiện tự nhiên không thuận lợi, hệ hống thuỷ lợi và kết cấu hạ tầng nông nghiệp còn yếu kém, vốn đầu tư và trình độ sản xuất của dân cư còn hạn chế, công nghệ chế biến và bảo quản nông sản còn lạc hậu và giá nông sản thấp, thị

trường tiêu thụ bấp bênh

Hoạt động chăn nuôi cũng đang có những thay đổi theo chiều hướng đa dạng hóa các loại gia súc, gia cầm và vật nuôi Hoạt động chăn nuôi vùng ven biển cũng

Trang 39

gặp một số khó khăn về cơ sở hạ tầng phục vụ chăn nuôi, mạng lưới chế biến và tiêu thụ sản phẩm, công tác thú y và những thiệt hại do bệnh dịch Tình trạng thiếu nước ngọt cũng là một yếu tố hạn chế sự phát triển chăn nuôi ở vùng ven biển

Sản xuất lâm nghiệp với đặc thù của phát triển lâm nghiệp vùng ven biển là

bảo vệ và phát triển diện tích rừng ngập mặn và rừng phòng hộ (chắn sóng, chắn cát, chống gió bão, chống xói lở đất và xâm thực biển), và bảo vệ môi trường sinh thái biển và ven biển hơn là mục đích kinh tế Do chỉ chiếm khoảng 3% diện tích đất lâm nghiệp của cả nước nên vùng ven biển đồng bằng sông Hồng không có thế mạnh về phát triển lâm nghiệp Hoạt động lâm nghiệp vùng ven biển tập trung chủ yếu ở các tỉnh Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung và vùng ven biển Đông Nam

Bộ Thực trạng phát triển lâm nghiệp vùng ven biển Việt Nam còn nhiều hạn chế do tình trạng chặt phá rừng để lấy đất canh tác hoặc làm các đầm nuôi tôm và tình trạng khai thác gỗ, săn bắt động vật hoang dã, thậm chí diễn ra ở khu vực rừng

phòng hộ, rừng đặc dụng và khu bảo tồn thiên nhiên (Trần Thọ Đạt, 2012)

Đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản có vai trò quan trọng đối với sự phát triển

kinh tế - xã hội vùng ven biển Đối với các xã tiếp giáp bờ biển thì thuỷ sản đã trở thành sinh kế chính tạo ra phần lớn thu nhập cho các hộ gia đình Đánh bắt thủy sản

là sinh kế truyền thống từ lâu đời ở vùngven biển Ba ngư trường quan trọng nhất ở Việt Nam là Hải Phòng -Quảng Ninh, Ninh Thuận - Bình Thuận và Cà Mau – Kiên Giang Nuôi trồng thuỷ sản cũng phát triển mạnh ở vùng ven biển với các hình thức

nuôi trồng trên biển và các hình thức nuôi ở ao và đầm

Công nghiệp vùng ven biển có điều kiện thuận lợi để hình thành các vùng,

cụm kinh tế trọng điểm của đất nước Dải ven biển Việt Nam là nơi tập trung phần lớn lãnh thổ của 3 vùng kinh tế trọng điểm của cả nước, đó là tam giác tăng trưởng kinh tế phía Bắc (Quảng Ninh-Hải Phòng-Hà Nội), vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam, Quảng Ngãi - Bình Định) và tam giác tăng trưởng kinh tế phía Nam (TP.Hồ Chí Minh - Đồng Nai - Bà Rịa Vũng Tàu) Các ngành công nghiệp cơ bản và then chốt ở vùng ven biển là: Than, cơ khí,

đóng tàu, nhiệt điện, khai thác và chế biến dầu khí và chế biến thủy sản

Trang 40

Dịch vụ ven biển với lợi thế về vị trí địa lý, có nhiều cảng biển, cửa khẩu,

nhiều địa điểm du lịch, các địa phương ven biển có lợi thế để phát triển nhiều ngành dịch vụ biển như: Vận tải biển, du lịch biển,trong đó du lịch là ngành có đóng góp lớn vào sự phát triển của ngành dịch vụ ở vùng ven biển

2.2.2.3 Hoạt động sinh kế vùng ven biển Việt Nam thích ứng với biến đổi khí hậu

Thích ứng với biến đổi khí hậu là một quá trình diễn ra liên tục và từ lâu ở các cộng đồng ven biển Việt Nam bị ảnh hưởng bởi những rủi ro từ khí hậu Cả phụ

nữ và nam giới đang thường xuyên điều chỉnh các hoạt động sinh kế của mình theo

sự thay đổi của khí hậu phụ thuộc vào nhu cầu và năng lực của họ, đặc biệt là khả năng tiếp cận các nguồn lực sinh kế Các hoạt động thích ứng với BĐKH bao gồm các hoạt động thích ứng trong nông nghiệp và các hoạt động thích ứng trong đánh

bắt, nuôi trồng thủy sản

Các hoạt động thích ứng trong nông nghiệp của người dân ven biển hiện nay chủ yếu là điều chỉnh các hoạt động trồng trọt để thích ứng với tình trạng ngập lụt làm

mất đất canh tác, tình trạng xâm nhập mặn, và các hiện tượng thời tiết cực đoan

Thứ nhất, đối với tình trạng nước biển dâng gây ngập lụt ngày càng có xu

hướng dâng cao đang làm giảm dần diện tích đất canh tác ở các vùng ven biển Trong bối cảnh quỹ đất ngày càng hạn chế, dân số ngày càng gia tăng nên diện tích đất tính trên một hộ gia đình bị giảm dần Điều này đã và đang thúc đẩy những hộ gia đình thực hiện các biện pháp về đầu tư những giống mới có năng suất cao để tăng năng suất trên những vùng đất hạn chế đó, thâm canh trên diện tích đất hiện có bằng cách đầu tư thêm lao động, phân bón, máy móc, thuốc trừ sâu trên một đơn vị diện tích canh tác để tăng sản lượng

Thứ hai, đối với tình trạng xâm nhập mặn do nước biển dâng làm cho một số

cánh đồng không thể cày cấy được Một số biện pháp đã được các hộ gia đình thực hiện là: (i) làm giảm độ mặn bằng cách rửa mặn cho đất (đổ nước ngọt vào ruộng để rửa mặn), (ii) những vùng đất nhiễm mặn được chuyển sang nuôi trồng thủy sản (ví

dụ nuôi tôm), (iii) trồng những giống cây chịu được mặn (ví dụ như giống lúa ngắn ngày hoặc hoa màu), (iv) tăng cường nạo vét kênh mương để tháo nước mặn ra khỏi ruộng đồng

Ngày đăng: 29/05/2016, 13:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Lê Phương Hòa và Lê Công Lương (2011). Các mô hình ứng phó với BĐKH – Kinh nghiệm của các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam. Báo cáo Đánh giá cuối kỳ Dự án "Xây dựng năng lực về biến đổi khí hậu cho các Tổ chức xã hội dân sự", Hà Nội, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng năng lực về biến đổi khí hậu cho các Tổ chức xã hội dân sự
Tác giả: Lê Phương Hòa và Lê Công Lương
Năm: 2011
19. Nghị quyết số 09-NQ/TW của BCH Trung ương Đảng ngày 9/02/2007 về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020
20. Nguyễn Lanh (2010). Thích ứng với tác động của Biến đổi khí hậu. Tài liệu của Khóa tập huấn về “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu” của Viện Công nghệ Châu Á tại Việt Nam AIT-VN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu
Tác giả: Nguyễn Lanh
Năm: 2010
25. SRD (2011). Tài liệu dự án: “Xây dựng năng lực về BĐKH cho các tổ chức xã hội dân sự”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng năng lực về BĐKH cho các tổ chức xã hội dân sự
Tác giả: SRD
Năm: 2011
51. Peter Bruckschen; Susanne Oesmanna; Ján Veizer (1999). “Isotope stratigraphy of the European Carboniferous: proxy signals for ocean chemistry, climate and tectonics”. Chemical Geology 161 (1-3): 127 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Isotope stratigraphy of the European Carboniferous: proxy signals for ocean chemistry, climate and tectonics
Tác giả: Peter Bruckschen; Susanne Oesmanna; Ján Veizer
Năm: 1999
1. ADB (2009). Tác động kinh tế của Biến đổi khí hậu tại Đông Nam Á: Báo cáo khu vực - Những điểm nổi bật. Ngân hàng Phát triển Châu Á Khác
2. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2012). Mô hình sinh kế của hộ nông dân ứng phó với biến đổi khí hậu. Cục Bảo vệ Thực vật, Hà Nội Khác
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2006). Báo cáo môi trường Việt Nam. Hà Nội Khác
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008). Chương trình Mục tiêu Quốc gia Ứng phó với Biến đổi khí hậu - Triển khai thực hiện Nghị quyết số 60/2007/NQ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ Khác
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011). Chiến lược Quốc gia về Biến đổi khí hậu. Ban hành kèm theo Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 05/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ Khác
6. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012). Kịch bản Biến đổi khí hậu và Nước biển dâng cho Việt Nam. NXB Tài nguyên – Môi trường và Bản đồ Việt Nam Khác
8. CCWG (2010). Báo cáo Hội thảo Thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng. Hà Nội, Việt Nam Khác
9. CCWG và DMWG (2011). Hướng dẫn lồng ghép thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm thiểu rủi ro hiểm họa vào các chương trình phát triển. Hà Nội, Việt Nam Khác
13. Liên Hiệp Quốc (1992). Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu. Rio de Janeiro, Brazil Khác
14. Lưu Bích Ngọc và cộng sự (2012). Tác động của biến đổi khí hậu đến biến đổi sử dụng đất và thay đổi sinh kế cộng đồng ở đồng bằng sông Hồng. Báo cáo nghiên cứu của Dự án ClimLand Live-Delta- Hợp phần xã hội học Khác
15. MARD (2008). Sinh kế bền vững cho các Khu bảo tồn biển Việt Nam. Báo cáo dự án, Hà Nội Khác
16. MONRE, DFID và UNDP (2010). Xây dựng khả năng phục hồi: Các chiến lược thích ứng cho sinh kế ven biển chịu nhiều rủi ro nhất do tác động của biến đổi khí hậu ở miền Trung Việt Nam. Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam, Hà Nội Khác
17. Ngân hàng Thế giới (2010). Phát triển và Biến đổi khí hậu. Báo cáo Phát triển Thế giới Khác
18. Nghị định 33/2010/NĐ-CP ngày 31/03/2010 của Chính phủ về quản lý hoạt động khai thác thủy sản của tổ chức, cá nhân Việt Nam trên các vùng biển Khác
21. Nguyễn Mậu Dũng (2010). Biến đổi khí hậu và sản xuất nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Hồng: Thực trạng và Giải pháp. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 159, tháng 9/2010 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1. Khung sinh kế bền vững - nghiên cứu xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông dân vùng ven biển thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn huyện hải hà, tỉnh quảng ninh
Sơ đồ 2.1. Khung sinh kế bền vững (Trang 26)
Sơ đồ 2.2. Khung sinh kế bền vững vùng ven biển - nghiên cứu xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông dân vùng ven biển thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn huyện hải hà, tỉnh quảng ninh
Sơ đồ 2.2. Khung sinh kế bền vững vùng ven biển (Trang 29)
Hình 3.1. Các đơn vị hành chính huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh - nghiên cứu xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông dân vùng ven biển thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn huyện hải hà, tỉnh quảng ninh
Hình 3.1. Các đơn vị hành chính huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh (Trang 52)
Đồ thị 3.3. Lượng mưa trung bình các tháng trong năm từ năm 2010 – 2014 - nghiên cứu xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông dân vùng ven biển thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn huyện hải hà, tỉnh quảng ninh
th ị 3.3. Lượng mưa trung bình các tháng trong năm từ năm 2010 – 2014 (Trang 55)
Đồ thị 3.5. Dân số trung bình huyện Hải Hà từ năm 2010 - 2014 - nghiên cứu xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông dân vùng ven biển thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn huyện hải hà, tỉnh quảng ninh
th ị 3.5. Dân số trung bình huyện Hải Hà từ năm 2010 - 2014 (Trang 59)
Sơ đồ 3.1. Khung phân tích - nghiên cứu xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông dân vùng ven biển thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn huyện hải hà, tỉnh quảng ninh
Sơ đồ 3.1. Khung phân tích (Trang 63)
Hình 4.1. Kết quả tính toán xác định vùng ngập của tỉnh Quảng Ninh - nghiên cứu xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông dân vùng ven biển thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn huyện hải hà, tỉnh quảng ninh
Hình 4.1. Kết quả tính toán xác định vùng ngập của tỉnh Quảng Ninh (Trang 79)
Bảng 4.4. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới các nguồn lực - nghiên cứu xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông dân vùng ven biển thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn huyện hải hà, tỉnh quảng ninh
Bảng 4.4. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới các nguồn lực (Trang 80)
Bảng 4.23. Nguồn nhân lực của nhóm hộ nuôi trồng thủy sản - nghiên cứu xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông dân vùng ven biển thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn huyện hải hà, tỉnh quảng ninh
Bảng 4.23. Nguồn nhân lực của nhóm hộ nuôi trồng thủy sản (Trang 113)
Sơ đồ 4.1. Mô hình nuôi tôm và các loại thủy sản kết hợp rừng ngập mặn - nghiên cứu xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông dân vùng ven biển thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn huyện hải hà, tỉnh quảng ninh
Sơ đồ 4.1. Mô hình nuôi tôm và các loại thủy sản kết hợp rừng ngập mặn (Trang 116)
Bảng 4.29. So sánh hiệu quả kinh tế cho 1 vụ bình quân mô hình nuôi tôm - nghiên cứu xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông dân vùng ven biển thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn huyện hải hà, tỉnh quảng ninh
Bảng 4.29. So sánh hiệu quả kinh tế cho 1 vụ bình quân mô hình nuôi tôm (Trang 122)
Sơ đồ 4.2. Mô hình xây dựng tổ hợp tác đánh bắt hải sản - nghiên cứu xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông dân vùng ven biển thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn huyện hải hà, tỉnh quảng ninh
Sơ đồ 4.2. Mô hình xây dựng tổ hợp tác đánh bắt hải sản (Trang 128)
Bảng 2. Nhiệt độ trung bình của tỉnh Quảng Ninh từ năm 2020 - 2100 ( 0 C) so - nghiên cứu xây dựng mô hình sinh kế cho hộ nông dân vùng ven biển thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn huyện hải hà, tỉnh quảng ninh
Bảng 2. Nhiệt độ trung bình của tỉnh Quảng Ninh từ năm 2020 - 2100 ( 0 C) so (Trang 140)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w