Ủy ban Cạnh tranh Công nghiệp của Mỹ đưa ra khái niệm cạnh tranh đối với một quốc gia như sau: “Cạnh tranh đối với một quốc gia thể hiện trình độ sản xuất hàng hóa dịch vụ đáp ứng được đ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh: "Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm giấy của Công ty TNHH một thành viên My Lan" là công trình nghiên cứu
của cá nhân tôi Các thông tin, số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, nghiêm túc do tôi tự nghiên cứu, khảo sát và thực hiện
Mọi thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Học viên thực hiện
Nguyễn Ánh Tuyết
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập nghiên cứu và thực hiện đề tài tôi đã nhận được sự giúp đỡ
từ thầy cô giáo và các đồng nghiệp
Trước hết cho phép tôi được gửi lời cám ơn các thầy cô giáo Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã dạy và giúp đỡ tôi trong suốt khóa học
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Lê Văn Liên và các thầy cô trong bộ môn Kế toán tài chính đã tận tình hướng dẫn, đóng góp ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo, cán bộ công nhân viên công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên My Lan đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Ánh Tuyết
Trang 52.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sản phẩm trong doanh nghiệp 15
Trang 63.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 32
4.1 Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty TNHH My Lan giai đoạn 2012
Trang 7VPA Hiệp hội Giấy và bột giấy Việt Nam
WEF Diễn đàn kinh tế thế giới
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình lao động của công ty giai đoạn 2012 - 2014 27 Bảng 3.2 Một số máy móc, thiết bị của công ty tính đến năm 2014 28 Bảng 3.3 Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của công ty giai đoạn 2012 - 2014 31
Bảng 4.1 Cơ cấu doanh thu của My Lan giai đoạn 2012 - 2014 39 Bảng 4.2 Cơ cấu doanh thu các sản phẩm giấy của My Lan giai đoạn 2012 - 2014 40 Bảng 4.3 Doanh thu và mức tăng trưởng doanh thu của My Lan so với một số đối
Bảng 4.4 Thị phần tính theo doanh thu của My Lan và một số đối thủ cạnh tranh
Bảng 4.5 Thị phần tính theo doanh thu của các sản phẩm giấy của My Lan so với
một số đối thủ cạnh tranh giai đoạn 2012 - 2014 43 Bảng 4.6 Mức giá bán lẻ và giá đại lý một số sản phẩm công ty đang phân phối
Bảng 4.7 Mức giá bán lẻ một số sản phẩm công ty đang phân phối so với một số
Bảng 4.8 Số lượng đại lý của công ty giai đoạn 2012 - 2014 49
Bảng 4.10 Số lượng đại lý của My Lan so với các đối thủ cạnh tranh giai đoạn 2012
Bảng 4.11 Phân bổ chi phí cho hoạt động quảng cáo của công ty giai đoạn 2012 - 2014 53 Bảng 4.12 Tỷ lệ chi phí quảng cáo so với doanh thu của công ty My Lan 54 Bảng 4.13 Tình hình tài chính của công ty giai đoạn 2012 – 2014 57 Bảng 4.14 Một số chỉ số tài chính của công ty giai đoạn 2012 - 2014 58 Bảng 4.15 Ma trận SWOT cho sản phẩm giấy của công ty My Lan 61
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 3.2 Quy trình công nghệ sản xuất giấy vệ sinh của công ty My Lan 30 Hình 3.3 Quy trình công nghệ sản xuất khăn giấy Napkin, lau tay, nhà bếp, khăn
Hình 4.1 Đánh giá của khách hàng về chất lượng sản phẩm giấy của công ty 43 Hình 4.2 Đánh giá của khách hàng về kênh phân phối các sản phẩm giấy của công ty 43 Hình 4.3 Đánh giá của khách hàng về mức độ nhận diện thương hiệu của My Lan 44
Hình 4.5 Mô hình hệ thống phân phối sản phẩm của công ty My Lan 49
Trang 10PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Giấy là một mặt hàng tiêu dùng thiết yếu đối với nhu cầu của nhân dân Phát triển sản xuất các sản phẩm giấy là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong ba chương trình lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa, học tập, sản xuất công nghiệp của người dân, đồng thời góp phần không nhỏ cho nền kinh tế đất nước phát triển
Hòa vào xu thế mở cửa, hội nhập của nền kinh tế quốc tế, các sản phẩm giấy nước ngoài được nhập khẩu tương đối dễ dàng vào trong nước, các công ty giấy nước ngoài cũng dễ dàng vào trong nước đầu tư sản xuất, kinh doanh Quá trình đó làm cho sự cạnh tranh giữa giấy nội và giấy ngoại nhập, giữa công ty giấy trong nước và công ty giấy nước ngoài ngày càng gay gắt Trong khi đó công nghệ sản xuất giấy nước ta lạc hậu so với các nước trong khu vực, chất lượng nguyên liệu đầu vào không tốt và không ổn định, lạm phát cao, thiếu vốn… Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến chất lượng các sản phẩm giấy thấp, năng suất lao động thấp, giá thành cao làm cho doanh nghiệp không có lãi hoặc lợi nhuận thấp Các doanh nghiệp sản xuất giấy Việt Nam đã không ngừng cố gắng nâng cao trình độ quản lý, hiện đại hóa dây chuyền sản xuất, cải tiến mẫu mã, hạ giá thành sản phẩm để tồn tại và phát triển trên thị trường Song trong thời gian qua năng lực sản xuất và cạnh tranh của sản phẩm giấy trong nước còn thấp so với tiềm năng Tình trạng đó là do tác động tổng hợp của nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân cơ bản là chưa có định hướng chiến lược và một hệ thống các giải pháp toàn diện, đồng bộ, có hiệu lực nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm giấy trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Vậy làm thế nào để doanh nghiệp luôn đứng vững trên thị trường với tư thế
tự chủ? Việc nâng cao năng lực cạnh tranh là yếu tố quyết định thành công hay thất bại của doanh nghiệp Trong xu thế hội nhập hiện nay cạnh tranh là một vấn đề
Trang 11không thể tránh khỏi đối với các doanh nghiệp Nó buộc các doanh nghiệp phải luôn tự đổi mới mình để tồn tại và phát triển bởi vậy không còn con đường nào khác
là phải chủ động nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường
Xuất phát từ nhu cầu thực tế, với nhận thức về tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nên tôi đã chọn và đi sâu vào nghiên
cứu đề tài "Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm giấy của Công ty TNHH một
thành viên My Lan" làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm của công ty My Lan, từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trên thị trường trong thời gian tới
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là năng lực cạnh tranh sản phẩm giấy của công ty TNHH một thành viên My Lan
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung: Đề tài nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm giấy của công ty và đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trên thị trường nội địa trong thời gian tới
Trang 12+ Về không gian: Đề tài được nghiên cứu tại Công ty TNHH My Lan
+ Về thời gian: Số liệu thu thập trong 3 năm từ năm 2012 đến năm 2014
1.4 NHỮNG CÂU HỎI ĐẶT RA TRONG NGHIÊN CỨU
Để làm rõ nội dung nghiên cứu, đề tài trả lời các câu hỏi sau:
- Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của công ty là gì?
- Thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm của công ty hiện nay như thế nào?
- Những nguyên nhân nào làm ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sản phẩm giấy của công ty?
- Những giải pháp nào để nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm giấy của công ty trong thời gian tới là gì?
Trang 13PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Khái niệm và vai trò của cạnh tranh
2.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh là một thuật ngữ đã được sử dụng từ khá lâu song trong những năm gần đây được nhắc đến nhiều hơn, nhất là ở Việt Nam Bởi trong nền kinh tế
mở hiện nay, khi xu hướng tự do hóa thương mại ngày càng phổ biến thì cạnh tranh
là phương thức để đứng vững và phát triển của doanh nghiệp Nhưng “cạnh tranh là gì” thì vẫn đang là một khái niệm chưa thống nhất, các nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm cạnh tranh dưới nhiều góc độ khác nhau
Theo diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và
Phát triển Kinh tế OECD: “Cạnh tranh là khả năng các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế” (Nguyễn Duy Bột, 2007) Khái niệm trên đã cố gắng kết hợp cả hoạt động cạnh
tranh của doanh nghiệp, của ngành và quốc gia
Ủy ban Cạnh tranh Công nghiệp của Mỹ đưa ra khái niệm cạnh tranh đối với
một quốc gia như sau: “Cạnh tranh đối với một quốc gia thể hiện trình độ sản xuất hàng hóa dịch vụ đáp ứng được đòi hỏi của thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và
mở rộng được thu nhập thực tế của nhân dân nước đó trong những điều kiện thị trường tự do và công bằng xã hội” (Chu Văn Cấp, 2003) Trong khái niệm này người ta đề cao vai trò của các điều kiện cạnh tranh là “tự do và công bằng xã hội”
Như vậy, xét trên góc độ vĩ mô các khái niệm về cạnh tranh đều cho thấy mục tiêu chung của hoạt động cạnh tranh là thỏa mãn tối đa nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế, tạo việc làm và thu nhập cao cho nền kinh tế
Các nhà kinh tế của trường phái tư sản cổ điển quan niệm: “Cạnh tranh là một quá trình bao gồm các hành vi phản ứng Quá trình này tạo ra cho mỗi thành viên thị trường một dư địa hoạt động nhất định và mang lại cho mỗi thành viên một phần xứng đáng so với khả năng của mình” (Phạm Hồng Thúy, 2004) Theo quan
niệm này cạnh tranh chủ yếu là cạnh tranh về giá, vì thế lý thuyết giá cả gắn chặt với lý thuyết cạnh tranh
Trang 14Khi nghiên cứu về cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, Mác cũng đã đưa ra khái niệm về cạnh tranh: “Cạnh tranh tư bản là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch” (C Mac, 2004) Như vậy cạnh tranh
là hoạt động của các doanh nghiệp trong nền sản xuất hàng hóa với mục đích ganh đua, giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhuận cao
Kế thừa những tính hợp lý và khoa học của các quan niệm về cạnh tranh trước đây, luận văn cho rằng để đưa ra một khái niệm đầy đủ cần chỉ ra được chủ thể cạnh tranh, tính chất, phương thức và mục đích của quá trình cạnh tranh Theo
đó chúng ta có thể quan niệm “cạnh tranh là một quá trình kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế (quốc gia, ngành hay doanh nghiệp) ganh đua với nhau để chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cùng các điều kiện sản xuất và tiêu thụ sản phẩm có lợi nhất nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận” (Trần Sửu, 2006)
Như vậy về bản chất, cạnh tranh là mối quan hệ giữa người với người trong việc giải quyết lợi ích kinh tế Bản chất kinh tế của cạnh tranh thể hiện ở mục đích lợi nhuận và chi phối thị trường Bản chất xã hội của cạnh tranh bộc lộ đạo đức kinh doanh và uy tín kinh doanh của mỗi chủ thể cạnh tranh trong quan hệ với những người lao động trực tiếp tạo ra tiềm lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và trong mối quan hệ với người tiêu dùng và đối thủ cạnh tranh khác
Cạnh tranh là một trong những quy luật của nền kinh tế thị trường, nó chịu nhiều chi phối của quan hệ sản xuất giữ vị trí thống trị trong xã hội, nó có quan
hệ hữu cơ với các quy luật kinh tế khác như quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật cung cầu…, đây là một đặc trưng gắn với bản chất của cạnh tranh Quy luật cạnh tranh chỉ ra cách thức làm cho giá trị cá biệt thấp hơn giá trị
xã hội, do đó nó làm giảm giá cả thị trường, nó tạo ra sức ép làm gia tăng hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất, nó chỉ ra ai là người sản xuất kinh doanh thành công nhất (Trần Sửu, 2006)
2.1.1.2 Năng lực cạnh tranh
Khi nói tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ không thể không bàn tới năng lực cạnh tranh của các sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất cung cấp Vì doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh thì một trong những yếu tố quan trọng là các hàng hóa dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp phải có năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ thể hiện năng lực của
Trang 15sản phẩm, dịch vụ đó thay thế một sản phẩm, dịch vụ khác đồng nhất hoặc khác biệt, có thể do đặc tính, chất lượng hoặc giá cả sản phẩm, dịch vụ Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ là một trong những yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Như vậy, người ta thường phân biệt năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ Nhưng nếu trên cùng một thị truờng, có thể nói, năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là hai khái niệm rất gần với nhau
Theo Bùi Xuân Phong - Giảng viên khoa quản trị kinh doanh - Học viện
Công nghệ Bưu chính Viễn thông: “Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ
là khả năng sản phẩm, dịch đó được sử dụng được nhiều và nhanh chóng khi trên thị trường có nhiều doanh nghiệp cùng cung cấp loại sản phẩm, dịch vụ đó”
(Bùi Xuân Phong, 2007)
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ chính là năng lực nắm giữ và nâng cao thị phần của loại sản phẩm, dịch vụ do chủ thể sản xuất và cung ứng nào đó đem
ra để tiêu thụ so với sản phẩm, dịch vụ cùng loại của các chủ thể sản xuất, cung ứng khác đem đến tiêu thụ ở cùng một khu vực thị trường và thời gian nhất định Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ có thể hiểu là sự vượt trội so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại trên thị trường về chất lượng và giá cả với điều kiện các sản phẩm, dịch vụ tham gia cạnh tranh đều đáp ứng được các yêu cầu của người tiêu dùng, mang lại giá trị sử dụng cao nhất trên một đơn vị giá cả làm cho sản phẩm, dịch vụ có khả năng cạnh tranh cao hơn
Khi đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm, dịch vụ người ta thường sử dụng các chỉ tiêu chính như: sản lượng, doanh thu, lợi nhuận, thị phần Các chỉ tiêu này là biểu hiện bên ngoài của năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ cho thấy kết quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của sản phẩm, dịch vụ Khi đem so sánh với đối thủ, chúng thể hiện một cách trực giác sức mạnh tổng thể và vị thế hiện tại của sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp trên thị trường
2.1.1.3 Lợi thế cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh được hiểu như là các đặc điểm hay các biến số của sản phẩm hoặc nhãn hiệu, mà nhờ có chúng doanh nghiệp tạo ra một số tính trội hơn, ưu việt hơn so với những người cạnh tranh trực tiếp (Trần Sửu, 2006)
Lợi thế cạnh tranh được coi là bên ngoài khi chúng dựa trên chiến lược phân
Trang 16biệt sản phẩm, hình thành nên giá trị cho người mua, hoặc bằng cách giảm chi phí
sử dụng, hoặc bằng cách tăng khả năng sử dụng Lợi thế này tạo cho Doanh nghiệp
"Quyền lực thị trường"
Lợi thế cạnh tranh bên trong dựa trên tính ưu việt của Doanh nghiệp trong việc làm chủ chi phí sản xuất Nó tạo nên giá trị cho người sản xuất bằng cách tạo ra cho Doanh nghiệp một giá thành thấp hơn so với người cạnh tranh chủ yếu
Theo Báo cáo trong hội nghị của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) tổ chức tại Học viện phát triển quản lý quốc tế ở Lausanne năm 2005 thì lợi thế cạnh tranh là khả năng thiết kế, sản xuất và tung ra thị trường những hàng hoá và dịch vụ có đặc tính giá cả và phi giá cả để hình thành một sự kết hợp có đặc tính hấp dẫn hơn so với các đối thủ khác
Trong nội dung luận văn này, tác giả tiếp cận khái niệm lợi thế cạnh tranh
là những năng lực riêng biệt của doanh nghiệp được thị trường chấp nhận và đánh giá cao thông qua đó doanh nghiệp có thể tạo ra được tính trội hơn hay ưu việt hơn
so với các đối thủ cạnh tranh khác ở trong ngành (Phạm Hồng Thúy, 2004)
2.1.1.4 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một quy luật tất yếu khách quan
Nó diễn ra hết sức gay gắt và khốc liệt, nhưng không phải là sự huỷ diệt mà là sự thay thế Thay thế những doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả, sử dụng lãng phí nguồn nhân lực xã hội bằng những doanh nghiệp khác làm ăn có hiệu quả hơn, đáp ứng nhu cầu xã hội, thúc đẩy nền kinh tế quốc gia phát triển
Vì vậy, nếu doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu thị trường thành đặc tính sản phẩm, làm cho sản phẩm phù hợp với nhu cầu về chất lượng, mẫu mã, giá cả, dịch vụ bán hàng Từ những cố gắng nỗ lực đó của doanh nghiệp đã dần nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm dịch vụ, nói cách khác là tạo ra ưu thế cho sản phẩm về giá cả, uy tín, chất lượng Tuy nhiên cũng phải lưu ý rằng, để đạt được điều này không phải đơn giản bởi các đối thủ cạnh tranh cũng ý thức được điều kiện để tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường Đồng thời nó trở nên khó khăn hơn khi cạnh tranh không chỉ diễn ra trong một ngành, trong một quốc gia mà vượt cả ra bên ngoài, lan ra phạm vi khu vực và toàn cầu Doanh nghiệp sẽ không chỉ cạnh tranh với các đối thủ trong nước
mà cả với các đối thủ nước ngoài Chính vì vậy, việc nâng cao năng lực cạnh tranh càng cần thiết hơn nữa nếu doanh nghiệp không muốn đào thải và thôn tính
Trang 17Tóm lại, nâng cao năng lực cạnh tranh trở thành điều kiện cần và đủ để doanh
nghiệp tồn tại và phát triển trong xu thế công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cũng như tiến trình thương mại khu vực và thế giới
2.1.2 Nội dung về năng lực cạnh tranh sản phẩm
2.1.2.1 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh
Có rất nhiều chỉ tiêu dùng để đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm Tuy nhiên, khi xem xét, nghiên cứu và phân tích cụ thể tình hình thực tế mỗi lĩnh vực hoạt động sẽ còn có thể sử dụng các tiêu chí khác mà phạm vi nghiên cứu chưa thể bao quát đầy đủ Dưới đây là một số yếu tố chủ yếu thường được xem xét khi đánh giá về năng lực cạnh tranh của sản phẩm trong doanh nghiệp
a/ Sản lượng, doanh thu của sản phẩm, dịch vụ
Có rất nhiều chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ, trong
đó sản lượng và doanh thu là một trong các chỉ tiêu quan trọng hàng đầu Khi sản lượng tiêu thụ của một sản phẩm dịch vụ hàng năm tăng cao, tức sản phẩm dịch vụ đó duy trì và phát triển thị phần Cũng tương tự như vậy, doanh thu hàng năm cao và có tốc độ tăng trưởng hợp lý chứng tỏ giá cả sản phẩm được duy trì ổn định, sản phẩm đó được thị trường chấp nhận và có khả năng cạnh tranh cao Còn nếu như khối lượng tiêu thụ lớn nhưng doanh thu không cao, điều đó chứng tỏ rằng giá cả sản phẩm dịch vụ có
sự giảm sút và năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ đó phần nào bị giảm đi
b/ Thị phần sản phẩm
Thị phần sản phẩm của doanh nghiệp là phần thị trường sản phẩm doanh nghiệp đã chiếm lĩnh được Thực chất nó là phần phân chia thị trường của doanh nghiệp đối với các đối thủ cạnh tranh trong ngành Thị phần của doanh nghiệp so với các đối thủ khác nói lên sức mạnh mà doanh nghiệp có thể giành được trong cạnh tranh Để so sánh về mặt qui mô kinh doanh và vị thế trên thị trường, thì việc
so sánh thị phần các sản phẩm dịch vụ chính của doanh nghiệp là chỉ tiêu quan trọng mà doanh nghiệp cần phải so sánh, phân tích, đánh giá Thị phần của doanh nghiệp thường được xác định về mặt hiện vật (khối lượng sản phẩm) và về mặt giá trị (doanh thu)
- Công thức xác định thị phần của doanh nghiệp về mặt hiện vật:
Thị phần số lượng sản phẩm của doanh nghiệp =
Qhv
Q
Trang 18+ TRdn : là doanh thu sản phẩm của doanh nghiệp thực hiện được
+ TR: Doanh thu còn lại sản phẩm hiện có trên thị trường
c/ Thị phần so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất
Bên cạnh chỉ tiêu thị phần của doanh nghiệp nói chung thì thị phần của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất cũng là tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Thị phần so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất được tính theo công thức
Thị phần so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất =
DTdn
x 100
DT Trong đó:
+ DTdn : là doanh thu của doanh nghiệp thực hiện được
+ DT: Doanh thu của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất
Khi sử dụng phương pháp này có thể lựa chọn từ 3 đến 5 đối thủ mạnh nhất Tùy theo lĩnh vực cạnh tranh khác nhau mà có những lựa chọn khác nhau
Chỉ tiêu này đơn giản và dễ tính toán hơn nhiều so với chỉ tiêu thị phần, do doanh nghiệp thường có nhiều thông tin hơn về đối thủ cạnh tranh và thị phần mà các đối thủ cạnh tranh mạnh nhất nắm giữ thường là khu vực thị trường có lợi nhuận cao hơn và rất có thể doanh nghiệp cần phải chiếm lĩnh thị trường này
d/ Uy tín và thương hiệu sản phẩm, dịch vụ
Ngày nay uy tín của thương hiệu sản phẩm, dịch vụ ngày càng trở nên quan trọng Cùng một mức chất lượng, giá cả và mẫu mã như nhau, những sản phẩm, dịch
Trang 19vụ có thương hiệu uy tín được nhiều người biết đến có giá cao hơn nhiều Không những thế, nhãn hiệu thương mại của Công ty càng có uy tín sẽ tạo cho người tiêu dùng lòng tin, độ tin cậy đối với sản phẩm, dịch vụ Khi tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ của công ty, người tiêu dùng sẽ còn phải băn khoăn nhiều cũng như mất nhiều thời gian để tìm hiểu về sản phẩm mình định mua Như vậy, nhãn hiệu thương mại có thể coi là một tài sản vô hình mà công ty đã tạo dựng được trong một thời gian nhất định Thương hiệu thể hiện uy tín của doanh nghiệp, nó cũng thể hiện chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp, đặc trưng sản phẩm của doanh nghiệp, biểu tượng hay hình ảnh của doanh nghiệp Khi thương hiệu sản phẩm, dịch vụ đã xâm nhập được vào thị trường nó sẽ mang lại nhiều lợi ích cho nhà sản xuất sản phẩm đó, thể hiện là:
+ Khách hàng sẽ tin tưởng vào chất lượng sản phẩm, dịch vụ
+ Khi tin tưởng vào sản phẩm, khách hàng sẽ rất yên tâm khi tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ đó
+ Có nhãn hiệu trên thị trường sẽ dễ thu hút khách hàng mới và doanh nghiệp
có thể mở rộng thêm thị trường của mình
+ Doanh nghiệp sẽ đạt được lợi nhuận hơn khi mở rộng thị trường mới vì được đông đảo khách hàng biết đến
+ Với một nhãn hiệu có uy tín trên thị trường, doanh nghiệp sẽ tạo ra sự tự hào cho khách hàng sử dụng sản phẩm đó
+ Tạo ra được uy tín với khách hàng thì doanh nghiệp sẽ có thể thu hút được nguồn nhân tài quý hiếm và vốn đầu tư từ bên ngoài vào doanh nghiệp dễ dàng hơn Như vậy, uy tín của sản phẩm thông qua nhãn hiệu sản phẩm, dịch vụ trên thị trường giúp khách hàng tin tưởng vào chất lượng sản phẩm, dịch vụ, yên tâm sử dụng
và như vậy sẽ phân phối tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đó dễ dàng hơn, giá bán sản phẩm, dịch vụ có thể cao hơn Qua đó doanh nghiệp sẽ nâng cao được khả năng cạnh tranh sản phẩm, dịch vụ của mình trên thị trường
2.1.2.2 Các công cụ sử dụng trong cạnh tranh
a Sự khác biệt về sản phẩm, dịch vụ
Hầu hết các doanh nghiệp cho rằng sản phẩm là yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bởi nó tác động trực tiếp đến người tiêu dùng Yếu tố này thường thể hiện chủ yếu qua những mặt sau:
Trang 20Về tính năng, công dụng của sản phẩm: chất lượng sản phẩm, tính hữu dụng
của sản phẩm, bao bì Tuỳ theo những sản phẩm khác nhau để chúng ta lựa chọn những nhóm chỉ tiêu khác nhau có tính chất quyết định trình độ của sản phẩm Doanh nghiệp sẽ chiến thắng trong cạnh tranh nếu như lựa chọn trình độ sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thị trường Hay nói cách khác khi trình độ của hàng hoá, dịch vụ càng phù hợp với nhu cầu thị trường thì có năng lực cạnh tranh càng cao
Chất lượng của sản phẩm: Chất lượng sản phẩm là tập hợp các thuộc tính
của sản phẩm, đáp ứng vai trò và phù hợp với tên gọi sản phẩm Chất lượng sản phẩm là một chỉ tiêu tổng hợp thể hiện ở nhiều mặt khác nhau như: tính chất cơ lý hoá, hình sáng, màu sắc, bao bì Các chỉ tiêu này có những đặc trưng riêng đối với từng loại sản phẩm Muốn bán được sản phẩm, các doanh nghiệp phải luôn giữ vững và nâng cao chất lượng sản phẩm của mình Nói một cách khác, nâng cao chất lượng sản phẩm là một quy luật bắt buộc trong nền kinh tế thị trường, là vũ khí cạnh tranh quan trọng nhất và là vấn đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp
Chất lượng sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho khách hàng, tác động trực tiếp đến người tiêu dùng nên nó quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Nó đảm bảo cho doanh nghiệp mở rộng được thị phần, tiêu thụ sản phẩm nhiều hơn, đảm bảo thu hồi vốn nhanh để sản xuất Ngày nay, tư tưởng lấy giá thành hoặc giá bán là vũ khí cạnh tranh của sản phẩm và doanh nghiệp đã dần được thay đổi và dần chuyển sang các nhân tố khác, đặc biệt là chất lượng, tạo ra tính khác biệt của sản phẩm, dịch vụ so với các đối thủ cạnh tranh Hai doanh nghiệp có giá thành giống nhau nhưng vì có kỹ thuật sản xuất khác nhau nên tạo ra sản phẩm có chất lượng khác nhau, do đó tạo ra năng lực cạnh tranh khác nhau Trên thương trường nếu nhiều hàng hoá có công dụng như nhau, giá cả bằng nhau thì người tiêu dùng sẵn sàng mua hàng hoá nào có chất lượng cao hơn Do đó, đây là công
cụ đầu tiên và quan trọng mà doanh nghiệp sử dụng để thắng các đối thủ cạnh tranh Hơn nữa, quá trình tập trung vào việc giảm giá thành có thể sẽ hướng doanh nghiệp một cách vô ý thức đến chính sách phòng ngự, không dám mạnh dạn đầu
tư để mang lại sự đổi mới
Kiểu cách mẫu mã sản phẩm: Việc nghiên cứu kiểu cách, mẫu mã của hàng
hoá để phù hợp với tâm lý, sở thích của khách hàng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường Kiểu cách mẫu mã của sản phẩm phải phù hợp với từng thị trường, tức là phù hợp với tâm lý tập quán tiêu dùng của từng khu vực, mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ, mỗi dân tộc và các bộ
Trang 21phận khách hàng khác nhau Ngoài ra kiểu cách, mẫu mã sản phẩm phải phù hợp với sở thích của mỗi lứa tuổi khác nhau của khách hàng, đồng thời không được làm phương hại đến tập quán, truyền thống văn hoá của dân tộc nước nhập khẩu
Với mỗi kiểu cách mẫu mã sản phẩm đẹp sẽ tạo điều kiện cho sản phẩm đó nhanh chóng xâm nhập vào các thị trường khó tính nhất, là yếu tố quan trọng để có thể nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm
b Giá bán sản phẩm dịch vụ
Giá cả với tư cách là công cụ cạnh tranh của các nhà sản xuất được hiểu là số tiền mà người bán dự kiến nhận được của người mua thông qua trao đổi hàng hoá, dịch vụ trên thị trường Giá cả được hình thành là do chi phí, nhu cầu của thị trường
và do chính sách của các Công ty quyết định Giá cả có vai trò rất quan trọng, là khâu cuối cùng thể hiện kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Giá cả quyết định việc mua hàng hoá hay không của người tiêu dùng, mặt khác nó c@n quyết định tình hình biến động của thị trường Thông qua giá cả, các doanh nghiệp có thể nhận biết được sự tồn tại, sức chịu đựng cũng như khả năng cạnh tranh của mình trên thương trường
Do vậy, chiến lược đầu tư của doanh nghiệp là hạ giá thành để cho phép các doanh nghiệp vượt qua đối thủ bằng cách sản xuất sản phẩm với giá thấp hơn Với chiến lược này, doanh nghiệp sẽ có hai lợi thế: Một là, vì hạ được giá thành thấp hơn, doanh nghiệp có quyền quyết định giá bán sản phẩm rẻ hơn các đối thủ cạnh tranh mà vẫn thu được lợi nhuận ngang bằng họ; hai là, khi cạnh tranh giá cả xảy ra, thG doanh nghiệp dẫn đầu trong hạ giá thành vẫn có được lợi thế cần cự tốt hơn các đối thủ khác vì có chi phí thấp hơn
Trong thực tế mỗi doanh nghiệp đều có chính sách định giá hợp lý trên từng thị trường, từng đoạn thị trường, với từng đối tượng khách hàng khác nhau ở từng thời điểm khác nhau để làm sao đẩy nhanh được tốc độ tiêu thị sản phẩm, tối đa hoá lợi nhuận Việc định giá bán của các sản phẩm của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường không chỉ thuần tuý dựa vào phần giá trị hao phí cho sản phẩm và cộng thêm một tỉ lệ thích hợp mà vẫn phải tính thêm ảnh hưởng của một số yếu tố thời vụ và yếu tố thời gian Do đó việc xây dựng chính sách giá “động” là một yêu cầu tất yếu khách quan đối với mỗi sản phẩm của doanh nghiệp Tuỳ theo điều kiện thực tế, sản phẩm có thể áp dụng các chính sách giá khác nhau như sau:
Chính sách một giá: Thực chất của chính sách này là đưa ra cùng một kiểu
Trang 22giá đối với tất cả khách hàng với cùng điều kiện cơ bản, cùng khối lượng Chính sách này có thể xác định giá cả dễ hơn nhưng nếu không cẩn thận dễ rơi vào tình trạng cứng nhắc, làm yếu khả năng cạnh tranh
Chính sách bán với mức giá thấp: Chính sách này thường được áp dụng khi
sản phẩm của doanh nghiệp mới tham gia vào thị trường, vì thế chưa tạo được sự thân quen, uy tín với khách hàng Bán với giá thấp hơn so với thị trường, hy vọng sẽ thu hút được sự chú ý của khách hàng đối với sản phẩm và tạo điều kiện thâm nhập vào thị trường tốt hơn
Chính sách bán với mức giá cao: Chính sách này sẽthu hút một bộ phận quan
trọng khách hàng cao cấp, có thu nhập cao, sở thích tức thời nhưng với điều kiện chất lượng và hình thức của sản phẩm phải cao hơn hẳn sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh
Chính sách giá linh hoạt: Thực chất của chính sách này là đưa ra các giá
khác nhau với từng loại khách hàng với cùng một loại sản phẩm và với cùng một khối lượng
Chính sách giá phân biệt: Tiến hành bán cùng một loại sản phẩm nhưng theo
những mức giá khác nhau Mục đích của chính sách này là nhằm khai thác triệt để
độ đàn hồi của những nhu cầu khác nhau, trên cơ sở đó doanh nghiệp hy vọng tăng được khối lượng hàng bán, mở rộng được thị trường, tăng lợi nhuận
Chính sách giá theo chu kỳ sống của sản phẩm: có 3 hình thức:
+ Giá hớt váng: doanh nghiệp sẽ cố gắng bán sản phẩm với mức giá cao nhất thị trường trước khi nhằm vào nhóm khách hàng nhạy cảm giá
+ Giá thâm nhập: chính sách này đòi hỏi bán ở mọi thị trường ở mức giá thấp Chính sách này thực hiện ở nơi không có thị trường lý tưởng, nơi mà toàn bộ đường cung - cầu có giãn nhịp nhàng
+ Giá giới thiệu: đây là việc giảm giá nhằm gây chú ý cho khách hàng để tăng sản phẩm mới thâm nhập vào thị trường
Chính sách bán phá giá: Doanh nghiệp bán sản phẩm của mình với mức giá thấp hẳn so với giá thị trường, thậm chí là thấp hơn giá thành Chính sách bán phá giá là vũ khí cạnh tranh để đánh bại đối thủ, loại họ khỏi thị trường, khi áp dụng chính sách phá giá, doanh nghiệp phải có thế mạnh về tài chính, có tiềm lực về khoa học công nghệ, có uy tín lớn trên thị trường hoặc khi doanh nghiệp bị tồn đọng sản
Trang 23phẩm quá nhiều và quá lâu chỉ trên cơ sở này doanh nghiệp mới thu hồi được vốn
và gạt bớt các đối thủ cạnh tranh Tuy nhiên chỉ nên áp dụng chính sách này trong một thời gian nhất định vì chính sách bán phá giá chỉ có thể loại bỏ được một số đối thủ nhỏ nhưng khó đánh bại được các đối thủ lớn Khi tham gia một số thị trường doanh nghiệp cần thận trọng, nếu Chính phủ nước sở tại có ban hành Luật chống phá giá thì không thể áp dụng biện pháp này
c Hệ thống phân phối
Kênh phân phối có thể định nghĩa là một tập hợp các công ty, cá nhân có tư cách tham gia vào quá trình lưu chuyển sản phẩm hay dịch vụ (tiêu dùng hay công nghiệp) từ người sản xuất đến người tiêu dùng
Việc lựa chọn, tổ chức hệ thống kênh phân phối có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Giá cả, doanh thu của sản phẩm, dịch vụ phụ thuộc khá nhiều vào việc tổ chức, sử dụng kênh phân phối, chất lượng đội ngũ bán hàng, dịch vụ bán hàng sau phân phối và do vậy có ảnh hưởng quan trọng đến sức cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ
Xây dựng được một kênh phân phối hợp lý sẽ giúp cho doanh nghiệp có điều kiện tập trung đầu tư vào công việc sản xuất của mình, làm cho quá trình lưu thông hàng hoá được nhanh chóng Bất cứ nhà sản xuất nào cũng nỗ lực thiết lập hệ thống phân phối bán hàng hoá, dịch vụ đến người tiêu dùng một cách trực tiếp hay gián tiếp thông qua trung gian hay một công ty chuyên về phân phối hàng hoá
Cạnh tranh về phân phối được thể hiện qua các nội dung sau:
- Khả năng đa dạng hoá các kênh và chọn được kênh chủ đạo Ngày nay, các doanh nghiệp thường có một cơ cấu sản phẩm rất đa dạng Thích ứng với mỗi sản phẩm đó có các biện pháp cũng như các kênh phân phối khác nhau Việc phân định đâu là kênh phân phối chủ lực có ý nghĩa quyết định trong việc tối thiểu hoá chi phí dành cho tiêu thụ sản phẩm
- Tìm được những người điều khiển đủ mạnh Đối với các doanh nghiệp sử dụng các đại lý độc quyền thì cần phải xem xét đến sức mạnh của doanh nghiệp thương mại làm đại lý cho doanh nghiệp Điều này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, có vốn lớn và đủ sức chi phối được lực lượng bán hàng trong kênh trên thị trường Đối với các doanh nghiệp sử dụng nhiều kênh phân phối và trực tiếp quản lý các kênh phân phối phải tìm ra được kênh phân phối chủ đạo, chiếm tỷ lệ chính trong tỷ lệ tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Trang 24- Có hệ thống bán hàng phong phú Đặc biệt là hệ thống các kho, các trung tâm bán hàng Các trung tâm này phải có được cơ sở vật chất hiện đại
- Có nhiều biện pháp để kết dính các kênh lại với nhau.Đặc biệt nhữngbiện pháp quản lý người bán và điều khiển người bán đó
- Có những khả năng hợp tác giữa các người bán trên thị trường, đặc biệt là trong các thị trường lớn
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sản phẩm trong doanh nghiệp
2.1.3.1 Các yếu tố bên ngoài
- Yếu tố kinh tế: Môi trường kinh tế bao gồm các chính sách phát triển kinh tế,
chính sách thương mại, chính sách cạnh tranh, chính sách đầu tư, chính sách hợp tác với nước ngoài… Các chính sách và biện pháp kinh tế như vậy nhằm khuyến khích hay hạn chế, ưu tiên hay kìm hãm sự phát triển của từng ngành cụ thể, do đó ảnh
hưởng tới năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp thuộc ngành đó
Bên cạnh đó, sự phát triển nền kinh tế được thể hiện thông qua GDP Do đó khi GDP đạt mức cao tức là nền kinh tế đang phát triển theo xu hương tích cực, làm tăng thu nhập cũng như khả năng thanh toán của người dân sẽ tăng lên Ngoài ra nền kinh tế diễn ra theo xu hướng tích cực còn thể hiện ở các chỉ số lạm phát thấp, thuế không tăng, giá cả ổn định Đây chính là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp phát triển Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng cao làm cho thu nhập của dân cư tăng, khả năng thanh toán cho họ dẫn tới sức mua (cầu) các loại hàng hoá và dịch vụ tăng lên, đây
là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp Doanh nghiệp nào có khả năng nắm bắt được những cơ hội này thì sẽ thành công và khả nãng cạnh tranh cũng sẽ tãng lên
Trang 25Tỷ giá hối đoái và giá trị đồng tiền trong nước có tác động nhanh chóng và sâu sắc đối với từng quốc gia nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng trong điều kiện kinh tế mở Nếu đồng nội tệ tăng giá các doanh nghiệp trong nước sẽ giảm khả năng cạnh tranh ở thi trường nước ngoài, vì khi đó giá bán của hàng hoá tính bằng đồng ngoại tệ sẽ cao hơn đối thủ canh tranh Hơn nữa khi đồng nội tệ lên giá sẽ khuyến khích nhập khẩu, vG giá hàng nhập khẩu giảm, và như vậy khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước sẽ bị giảm ngay trên thị trường trong nước
Tuy nhiên, khi nền kinh tế diễn ra theo xu hướng tiêu cực, lạm phát tăng cao, giá tăng, sức mua của người dân giảm sút lại làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Lãi suất cho vay của các ngân hàng cũng ảnh hưởngrất lớn đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, nhất là đối với các doanh nghiệp còn thiếu vốn phải vay ngân hàng Khi lãi suất cho vay của ngân hàng cao, chi phí của các doanh nghiệp Sự ổn định về chính trị đem lại sự lành mạnh hoá xã hội, sự ổn định kinh tế
Hệ thống luật pháp rõ ràng đã tạo ra một hành lang thông thoáng, bảo đảm sự bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh và cạnh tranh có hiệu quả Qua đó, một mặt tạo thuận lợi cho mọi doanh nghiệp kinh doanh, mặt khác doanh nghiệp dựa vào đó mà điều chỉnh hoạt động của mình để hài hoà lợi ích của các doanh nghiệp khác trong xã hội và trên trường quốc tế, đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp trên đạ bàn, trong và ngoài nước Việc chấp hành luật pháp nghiêm minh của các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp sẽ đưa lại hiệu quả kinh doanh tốt Ngược lại việc thực thi pháp luật không nghiêm minh, thiếu trong sáng thì tất sẽ dẫn đến doanh nghiệp vào con đường bất chính như là trốn thuế, gian lận thuế hay sản xuất kinh doanh hàng giả, hàng nhái, gian lận thương mại… Trong môi trường pháp lý không lành mạnh, nhiều khi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không được đánh giá đúng thực chất của nó Điều này sẽ dẫn đến thiệt hại về kinh tế lớn và rối loạn trật tự xã hội Chẳng hạn, các luật thuế có ảnh hưởng đến điều kiện cạnh tranh, đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần và trên mọi lĩnh vực Hay chính sách của chính phủ về xuất nhập khẩu, về thuế xuất nhập khẩu cũng sẽ ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất trong nước
Trang 26- Yếu tố văn hoá, xã hội
Văn hoá có thể coi là những nét riêng biệt về tinh thầnh, vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân nhờ vào văn hoá mà con người tự thể hiện ý thức của bản thân
Những đặc trưng của văn hoá tới tiêu dùng:
+ Văn hoá ấn định những điều cơ bản về giá trị, sự thụ cảm, sự ưa thích và những sắc thái đặc thù của sản phẩm vật chất và phi vật chất
+ Văn hoá ấn định cách cư xử được xã hội chấp nhận
Với mỗi các nhân, văn hoá được hấp thụ ngay từ thời khắc đầu tiên của đời sống con người và theo họ suốt cuộc đời Với xã hội văn hoá được giữ gìn truyền bá qua các thiết chế của nó như gia đình, nền giáo dục, tôn giáo Nhà nước,…
Ở mỗi vùng khác nhau sẽ tạo ra những thuận lợi và khó khăn cho doanh nghiệp trong cạnh tranh là khác nhau do văn hoá xã hội của từng vùng là khác nhau Giá trị văn hoá phái sinh, lối sống, thị hiếu… có tác động một cách gián tiếp đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua khách hàng và cơ cấu nhu cầu của thị trường
- Các đối thủ cạnh tranh hiện có và các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Các đối thủ cạnh tranh hiện có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Nhất là các doanh nghiệp có quy mô năng lực sản xuất và mức độ cạnh tranh trong ngành
Mỗi đối thủ khi tham gia vào thị trường đều muốn huy động những khả năng của mình nhằm thoả mãn đến mức cao nhất mọi yêu cầu của người tiêu dùng Bởi vậy nếu muốn tồn tại và đứng vững thì đòi hỏi doanh nghiệp phải không ngừng củng cố, nâng cao khả năng cạnh tranh của mình để có thể theo kịp và vượt lên đối thủ cạnh tranh khác
Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn có khả năng tham gia vào ngành sẽ tác động đến mức độ canh tranh của ngành trong tương lai
2.1.3.2 Các yếu tố bên trong
a Trình độ tổ chức quản lý
Năng lực tổ chức, quản lý doanh nghiệp được coi là yếu tố quyết định sự tồn tại
Trang 27và phát triển của doanh nghiệp nói chung cũng như năng lực cạnh tranh doanh nghiệp nói riêng Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp được thể hiện ở các mặt sau:
- Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý: được thể hiện qua trình độ học vấn,
kiến thức liên quan tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (từ pháp luật, thị trường, ngành hàng,… đến kiến thức về xã hội, nhân văn)
- Năng lực hoạch định (hoạch định chiến lược, kế hoạch, điều hành tác nghiệp): Năng lực hoạch định không chỉ dừng lại ở việc vạch ra những bước công
việc cần thực hiện để nâng cao chất lượng các hoạt động tác nghiệp bên trong doanh nghiệp, mà còn phải tạo ra những thế và lực mới giúp cho doanh nghiệp có thể đứng vững và phát triển ở môi trường cạnh tranh khắc nghiệt bên ngoài Theo M Porter, năng lực quản lý còn thể hiện ở tốc độ thay thế nhân sự trước các biến đổi
- Năng lực tổ chức, quản lý doanh nghiệp: thể hiện ở việc sắp xếp, tổ chức bộ
máy quản lý và phân định chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận Việc hình thành bộ máy quản lý doanh nghiệp theo hướng tinh, gọn, nhẹ và hiệu quả cao có ý nghĩa quan trọng không chỉ bảo đảm ra quyết định nhanh chóng, chính xác, mà còn làm giảm tương đối chi phí quản lý của doanh nghiệp Nhờ đó mà nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Năng lực lãnh đạo và điều khiển: Điều khiển là một trong năm nhiệm vụ
quan trọng nhất của công tác quản trị Năng lực này thể hiện qua việc đánh giá công tác hoạt động tác nghiệp, đưa ra các các điều chỉnh cần thiết, cũng như những giải pháp kịp thời, hiệu quả trước những biến đổi từ phía môi trường Nhờ đó, những bất cập, khuyết tật hiện tại ở hệ thống quản lý sẽ được khắc phục tốt và doanh nghiệp sẽ
có được một hệ thông điều khiển có hiệu quả hơn
- Năng lực kiểm soát và hệ thống thông tin: thể hiện qua khả năng thu thập,
phân tích, xử lý và phân phối thông tin trong tổ chức Qua đó, nhận diện những cơ hội và nguy cơ tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
b Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là yếu tố năng động nhất, quyết định hiệu quả sản xuất kinh doanh Lực lượng lao động sử dụng phương tiện, thiết bị để sản xuất ra sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, tham gia cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá quá trình sản xuất Trình
độ của lao động tác động rất lớn đến chất lượng và độ tinh xảo của sản phẩm, ảnh hưởng lớn đến năng suất và chi phí của doanh nghiệp Đây là một yếu tố tác động trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Để nâng cao sức cạnh tranh,
Trang 28doanh nghiệp cần chú trọng bảo đảm cả chất lượng và số lượng lao động, nâng cao tay nghề của người lao động, khuyến khích người lao động tham gia vào quá trình quản lý và cải tiến
c Công nghệ, cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật
Công nghệ sản xuất là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Công nghệ phù hợp cho phép rút ngắn thời gian sản xuất, giảm mức tiêu hao năng lượng, tăng năng suất, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm Công nghệ còn tác động đến tổ chức sản xuất, đến trình độ tự động hoá của doanh nghiệp Công nghệ phát triển làm rút ngắn chu kỳ sống của sản phẩm hiện tại, đây là cơ hội cạnh tranh cho các sản phẩm, ngành nghề mới nhưng lại thách thức không nhỏ cho các ngành kinh doanh hiện tại, nếu không nắm bắt và ứng dụng kịp thời với sự phát triển này
Kết cấu hạ tầng bao gồm hạ tầng vật chất - kỹ thuật và hạ tầng xã hội, bao gồm
hệ thống giao thông, mạng lưới điện, hệ thống thông tin, hệ thống giáo dục - đào tạo… Đây là tiền đề quan trọng, tác động mạnh đến hoạt động của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến chất lượng và giá cả của sản phẩm Với hạ tầng tốt, các doanh nghiệp có điều kiện tiết giảm chi phí bốc xếp vận chuyển Hệ thống thông tin viễn thông phát triển giúp các doanh nghiệp tiếp cận nhanh chóng và đa chiều các thông tin kinh tế thương mại, tranh thủ được cơ hội và giảm thiểu rủi ro Muốn có hệ thống kết cấu hạ tầng hoàn thiện, chất lượng tốt như thế, thì nhà nước với tư cách là người đại diện cho quyền lợi xã hội cần quan tâm đầu tư đúng mức
d Khả năng tài chính
Năng lực tài chính là yếu tố trung tâm phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp trong cạnh tranh Năng lực tài chính của doanh nghiệp được thể hiện ở quy mô vốn, khả năng huy động và sử dụng vốn, khả năng quản lư tài chính Trong sản xuất kinh doanh, để đáp ứng các nhu cầu về vốn, doanh nghiệp có thể huy động từ rất nhiều nguồn, chiếm dụng tạm thời của các nhà cung cấp, hoặc khách hàng, vay các tổ chức tài chính hay huy động vốn trên thị trường chứng khoán Bên cạnh đó, đánh giá khả năng tài chính cũng cần xem xét khả năng cho thuê hoặc bán và thuê lại; vốn lưu động, tính linh hoạt của cơ cấu vốn đầu tư Phân tích tài chính sẽ hiểu được sâu rộng trong toàn doanh nghiệp, bởi lẽ mọi hoạt động của doanh nghiệp đều được phản ánh ra bên ngoài thông qua lăng kính tài chính
Trang 292.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1.Bài học kinh nghiệm của một số đơn vị về nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm
2.2.1.1 Bài học kinh nghiệm của công ty giấy Bãi Bằng
Giấy Bãi Bằng là một trong những đơn vị tiên phong, đi đầu trong ngành giấy Việt Nam Hiện nay, công ty có các sản phẩm chính là giấy in, giấy viết và giấy photocopy, trong đó giấy viết thường chiếm tỷ trọng khoảng 40-60% Mặc dù là đơn vị tiên phong, đi đầu, tuy nhiên trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt như hiện nay, ban lãnh đạo công ty cũng đã áp dụng nhiều biện pháp để không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh cho các sản phẩm của mình, cụ thể như:
- Nâng cao chất lượng các sản phẩm đã có thông qua cải tiến kỹ thuật: Từ năm 2010, Nhà máy đã thực hiện giải pháp cải tạo hệ thống đối lưu và ống bộ hâm
để giảm tốc độ mài mòn ống, tăng hiệu quả thu hồi bụi, tăng hiệu suất lò Giải pháp này đã giảm tiêu hao than cho sản xuất 1 tấn hơi giảm từ 163,7 kg xuống còn 140
kg Số lượng than tiết kiệm được là: 24.305 tấn than, đồng thời giảm tiêu thụ điện sản xuất từ 8,4 kWh/tấn hơi xuống còn 7 kWh/tấn hơi, tiết kiệm được 667,67 MWh điện Tổng giá trị làm lợi trên 1,1 tỷ đồng
Những năm tiếp theo Nhà máy Giấy Bãi Bằng luôn có những cải tiến mới về mặt kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, cũng như tiết giảm tiêu hoa điện năng Năm 2011, Nhà máy cải tiến máy nghiền bột tại phân xưởng giấy, vừa nâng cao chất lượng bột sau nghiền, tăng khả năng thoát nước và hình thành tờ giấy, tăng hiệu quả chạy máy góp phần giảm tiêu hao điện 6.858 MWh/năm, đồng thời, giảm chi phí bảo dưỡng, mua sắm thiết bị, tiết kiệm trên 3, 2 tỷ đồng
- Phát triển sản phẩm mới, chất lượng tương đương giấy ngoại: Trước sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của các loại giấy ngoại, công ty giấy Bãi Bằng đã tiến hành nghiên cứu đầu tư dòng sản phẩm giấy photocopy cao cấp CleverUp Đây là một bước đột phá trong việc đa dạng hóa sản phẩm của Giấy Bãi Bằng Sản phẩm mới này không chỉ được chú trọng nâng cao chất lượng mà còn khoác trên mình tên gọi, mẫu mã hoàn toàn mới
CleverUp là dòng sản phẩm giấy photocopy cao cấp được sản xuất trên dây chuyền hiện đại do Hãng E.C.H Will (CHLB Đức) chế tạo tại Nhà máy Giấy Bãi Bằng thuộc Tổng công ty Giấy Việt Nam (Vinapaco)
Để cho ra đời CleverUp, công ty đã tiến hành nghiên cứu thị trường kỹ lưỡng
Trang 30từ tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu khách hàng, đối thủ cạnh tranh… đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm bằng việc đầu tư gần như nâng cấp toàn bộ dây chuyền sản xuất (giá trị đầu tư khoảng 300 tỷ đồng) Trong đó có các hạng mục liên quan “trực tiếp” đến chất lượng giấy như cải tạo hệ thống ép keo, ép quang, lắp thêm lưới đỉnh, lắp đầu đo màu online, trang bị hệ thống điều khiển tự động Giấy CleverUp được sản xuất trên dây chuyền công nghệ mới, được nâng cấp nên có chất lượng tương đương với các sản phẩm giấy photocopy cao cấp nhập ngoại đang có trên thị trường Việt Nam, phù hợp nhu cầu và tính chất công việc của người Việt Với độ trắng 90% ISO, khả năng bắt mực cao cho phép in, photocopy ra những văn bản, hình ảnh đẹp có độ sắc nét cao
2.2.1.2 Bài học kinh nghiệm của công ty cổ phần giấy Sài Gòn
Đầu tư trang bị dây chuyền sản xuất hiện đại, nhờ đó tái sử dụng 90% nước thải
và tái chế giấy - đây là một trong những yếu tố chính đưa công ty cổ phần Giấy Sài Gòn trở thành đơn vị có năng lực cạnh tranh cao trong ngành giấy Việt Nam
- Tiên phong về công nghệ tái chế: Một trong những mục tiêu của Giấy Sài Gòn là phát triển bền vững, thân thiện với môi trường Để thực hiện điều đó, Giấy Sài Gòn đã không tiếc tiền mua hệ thống chuẩn bị bột giấy theo công nghệ tái chế mới nhất của tập đoàn Kadant Lamort (Pháp) với hệ thống nghiền thủy lực tốc độ cao và sàng áp hiện đại Công nghệ này có thể lọc tái sử dụng tối đa các sợi bột từ hầu hết các loại giấy đã qua sử dụng, giảm thiểu chất thải cần xử lý nhưng vẫn đảm bảo các loạt bột giấy đạt tiêu chuẩn tương đương giấy nguyên chất ở đầu ra Hệ thống chuẩn bị bột giấy này đạt công suất 800 tấn/ngày
Ở công đoạn xeo giấy, các dây chuyền hiện đại cũng góp phần tích cực vào khả năng tái chế Hai dây chuyền PM4 và PM6 chuyên về giấy công nghiệp và giấy tiêu dùng đều có thể sản xuất các loại giấy thành phẩm từ nguyên liệu bột giấy tái chế (bao bì carton cũ, giấy loại, giấy đã qua sử dụng), điều không phải dây chuyền công nghệ nào cũng làm được
Không chỉ có sự trợ giúp của máy móc, Giấy Sài Gòn còn huy động sức người thông qua việc thiết lập hệ thống thu mua nguyên liệu, tận dụng nguồn giấy loại trong cộng đồng Năm 2005, Giấy Sài Gòn bắt đầu xây dựng hệ thống này ở khu vực miền Trung và Tây Nam Bộ với ba trạm thu mua ở TP HCM và Đồng Nai Chỉ tính riêng trong năm 2012, Giấy Sài Gòn đã thu mua trung bình 4000 tấn giấy bìa carton, gần 2800 tấn giấy viết mỗi tháng Bên cạnh đó, Giấy Sài Gòn còn mở rộng việc thu mua giấy loại qua kênh nhập khẩu để đảm bảo nguồn cung cho sản xuất,
Trang 31tiết kiệm chi phí sản xuất, đồng thời hạn chế ô nhiễm môi trường
Ý thức tiết kiệm chi phí đi đôi với bảo vệ môi trường đã đưa đến việc Giấy Sài Gòn áp dụng công nghệ xử lý nước thải hiện đại hàng đầu hiện nay của Eimco (Phần Lan), đạt công suất 17.000m3/ngày thông qua việc dùng vi sinh hiếm khí, thời gian lưu bể ngắn, độ hòa tan tốt, không cần đến hóa chất và tiết kiệm điện Công nghệ tiên tiến giúp Giấy Sài Gòn tái sử dụng tới 90% lượng nước thải từ sản xuất, không chỉ góp phần giảm bớt chi phí về nước mà còn đem lại thương hiệu xanh thân thiện với môi trường khi nước thải đạt tiêu chuẩn với ngành sản xuất giấy
- Đổi mới chiến lược sản phẩm: Song song với việc tiết kiệm nguyên liệu, giảm chi phí đầu vào và áp dụng công nghệ tiên tiến, Giấy Sài Gòn còn liên tục cải tiến quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm thông qua công tác nghiên cứu thị trường
Một trong những công việc quan trọng mà Giấy Sài Gòn xác định phải làm đầu tiên là nghiên cứu nhu cầu thực tế và đón đầu những yêu cầu tiềm năng của khách hàng Đây sẽ là những cơ sở đầu tiên để Giấy Sài Gòn xác định những sản phẩm phù hợp trước khi đưa vào sản xuất và tung ra thị trường
Với ba loại mặt hàng giấy tiêu dùng, giấy công nghiệp và giấy nguyên liệu, công ty đã xác định những phân khúc thị trường khác nhau, từ bình dân đến cao cấp Riêng với mặt hàng giấy tiêu dùng, công ty bỏ qua khu vực bình dân để tập trung vào hai khu vực trung và cao cấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng trong nước
Hướng tới thị trường quốc tế, Giấy Sài Gòn dã nghiên cứu thị trường và quyết định chọn các quốc gia châu Á, châu Phi, nơi sản phẩm của công ty có khả năng cạnh tranh lớn nhất Hiện nay, các thị trường này là nơi nhập khẩu các loại giấy công nghiệp chất lượng cao của Giấy Sài Gòn Đây cũng là mặt hàng thế mạnh của công ty nên Giấy Sài Gòn đã đầu tư nhiều máy móc, tăng cường diện tích nhà xưởng cho sản xuất Để thuyết phục được khách hàng, công ty đã đưa ra mức giá thấp hơn từ 3 đến 5% so với các nhãn hàng khác và thấp từ 5 đến 7% so với hàng nhập khẩu có chất lượng tương đương, còn với thị trường xuất khẩu, công ty đảm bảo hai vấn đề giá cả và chất lượng luôn được giữ vững và tương đương với nhiều nhãn hàng quốc tế khác trên thị trýờng
Trang 322.2.2 Bài học về nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm cho công ty TNHH
My Lan
Trên cơ sở một số bài học về nâng cao năng lực cạnh tranh của các đơn vị trong ngành nêu trên, tác giả đã rút ra một số kinh nghiệm cho công ty TNHH My Lan, cụ thể là:
Thứ nhất, phát triển trình độ thiết bị, công nghệ là điều kiện tiên quyết trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh: Nếu doanh nghiệp ứng dụng thiết bị, công nghệ phù hợp sẽ cho phép rút ngắn thời gian sản xuất, tăng năng suất lao động, hạ giá thành nhưng vẫn nâng cao chất lượng sản phẩm Ngoài ra, công nghệ mới và phù hợp còn giúp doanh nghiệp nâng cao trình độ cơ khí hóa, tự động hóa của mình
Thứ hai, chú trọng nghiên cứu phát triển các sản phẩm mới: Đây là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc cải tiến kỹ thuật, cải tiến mẫu mã và chất lượng sản phẩm, nâng cao năng suất và hợp lý hóa sản xuất Trong điều kiện hiện nay, khi
mà khoa học công nghệ phát triển nhanh như vũ bão thì yếu tố này lại càng tác động mạnh mẽ đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, bởi vì nếu không chịu đổi mới thì sản phẩm của doanh nghiệp chắc chắn sẽ trở nên lỗi thời, không thể cạnh tranh cùng các sản phẩm cùng loại trên thị trường
- Thứ ba, tạo được thương hiệu và dấu ấn đặc thù riêng của từng dòng sản phẩm: Chú trọng tăng cường tăng cường thêm sức mạnh về cơ sở vật chất, năng lực sản xuất, đặc biệt là rất chú trọng tạo cho mình một thương hiệu riêng, với những đặc thù riêng, tạo nhiều đẳng cấp và phong thái khác nhau cho từng dòng sản phẩm
Trang 33PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
- Tên gọi: Công ty TNHH một thành viên My Lan
- Địa chỉ: 19B/5 Nguyễn Văn Cừ - Long Biên - Hà Nội
My Lan Trải qua gần 20 năm hình thành và phát triển các sản phẩm của công ty đều được Cục sở hữu trí tuệ được cấp văn bằng bảo hộ độc quyền và đạt được nhiều giải thưởng cao như: giải thưởng thương hiệu vàng Thăng Long, giải thưởng hàng Việt Nam chất lượng cao, được các cấp, các ngành tặng nhiều giấy khen, bằng khen Hiện nay sản phẩm của công ty đã có mặt ở hầu khắp các tỉnh thành trong cả nước góp một phần không nhỏ vào sự phát triển chung của toàn xã hội đồng thời có thể cạnh tranh với bất kỳ sản phẩm của các doanh nghiệp có tiếng khác trên thị trường và được người tiêu dùng đánh giá cao
3.1.2 Cơ cấu tổ chức quản lý
Là công ty một thành viên nên cơ cấu tổ chức của công ty theo mô hình quản
lý trực tuyến chức năng, cơ cấu này của đơn vị vừa đảm bảo chế độ một thủ trưởng vừa phát huy quyền độc lập tự chủ và tính sáng tạo giữa các phòng ban
Trang 34Hình 3.1: Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty
(Nguồn: Công ty TNHH My Lan) Chức năng của các phòng ban được cụ thể như sau:
- Giám đốc: là người chịu trách nhiệm cao nhất trong việc điều hành quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật và cán bộ công nhân viên về kết quả sản xuất kinh doanh của công ty
- Phó Giám đốc: là người trợ giúp cho giám đốc giải quyết các công việc trong toàn công ty theo sự phân công của giám đốc Chủ động, tích cực triển khai thực hiện nhiệm vụ được phân công và chịu trách nhiệm trước giám đốc về hiệu quả các hoạt động
- Phòng kế toán: có nhiệm vụ ghi chép, phản ánh toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh trong đơn vị, qua đó giám sát các mặt tài chính của công ty Cuối kỳ lập báo cáo tổng hợp xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
- Phòng Kho vận: có nhiệm vụ bảo quản, lưu trữ toàn bộ nguyên vật liệu thành phẩm hàng hóa của công ty
- Phòng kinh doanh: có nhiệm vụ thực hiện triển khai các tổ chức hoạt động kinh doanh, tổ chức nghiên cứu thị trường, tổ chức các mạng lưới bán hàng, xây dựng các đại lý bán hàng và phân phối hàng hoá Căn cứ vào kế hoạch sản xuất kinh
Phòng quản
lý CL
Phòng quản trị bảo vệ Phó Giám đốc
Phân xưởng khăn rút
Phân xưởng giấy lau tay
PX giấy
vệ sinh
Phân xưởng giấy nhà bếp
Phân xưởng giấy tembo
Trang 35doanh để xác định các định mức tiêu thụ Lập các kế hoạch triển khai và cung ứng sản phẩm trên thị trường đảm bảo cho sản phẩm luôn được lưu thông thông suốt trên thị trường Xây dựng, thực thiện việc quảng bá sản phẩm, các hoạt động hỗ trợ bán hàng và dịch vụ sau bán hàng Chuẩn bị các văn kiện ký kết hợp đồng, kiểm soát hoạt động của các cửa hàng và các đại lý
- Phòng kỹ thuật: chịu trách nhiệm về kỹ thuật quy trình công nghệ sản xuất
và thiết bị máy móc trong toàn công ty, nghiên cứu sản phẩm mới, thiết kế, cải tiến mẫu mã bao bì Quản lý máy móc sửa chữa, chuẩn bị những phụ tùng cần thay thế, theo dõi việc sử dụng máy móc thiết bị cũng như việc cung cấp điện cho toàn công
ty trong quá trình sản xuất
- Phòng kế hoạch sản xuất: Phụ trách toàn bộ quá trình sản xuất ra sản phẩm
có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch sản xuất của toàn công ty Xác định định mức tiêu hao nguyên, nhiên vật liệu cho sản xuât và quản lý các định mức đã được ban hành
- Các phân xưởng sản xuất: là nơi diễn ra các hoạt động sản xuất sản phẩm trực tiếp Thực hiện các kế hoạch sản xuất theo đúng thời gian, đảm bảo đúng quy trình và thoả mãn các yêu cầu kỹ thuật, chất lượng cần thiết
- Phòng quản lý chất lượng: Chịu trách nhiệm kiểm tra chất lượng các nguyên liệu đầu vào, kiểm tra việc tuân thủ quy trình công nghệ, kỹ thuật và chất lượng sản phẩm hàng hóa đầu ra trước khi xuất xưởng đưa ra thị trường
- Phòng quản trị bảo vệ: tổ chức công tác bảo vệ công ty, tham mýu cho giám đốc về: công tác nội bộ, tài sản, tuần tra kiểm tra hoạt động ra vào công ty, phòng ngừa tội phạm, xử lý vi phạm tài sản, giữ gìn an ninh trật tự công ty
3.1.3 Tình hình lao động của công ty
Hiện nay công ty có trên 100 lao động trong đó chủ yếu là nữ chiếm đa số Công ty có đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, giàu kinh nghiệm đảm bảo hoạt động hiệu quả Công ty áp dụng hình thức quản lý hoàn toàn bằng máy tính, đã nhận được chứng chỉ quốc tế ISO 9001-2000 và chứng chỉ CE cho chất lượng dịch vụ, sản xuất và dịch vụ thiết kế sau bán hàng đạt tiêu chuẩn quốc tế, nhờ vậy có thể theo kịp xu hướng và nhu cầu của thị trường Tình hình nhân sự của Công ty được phân theo bảng sau:
Trang 36Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 27
Bảng 3.1: Tình hình lao động của công ty giai đoạn 2012 - 2014
Tiêu chí
BQ
SL (người)
Tỷ lệ (%)
SL (người)
Tỷ lệ (%)
SL (người)
Tỷ lệ (%)
SL (người)
Tỷ lệ (%)
SL (người)
Tỷ lệ (%)
Trang 37- Tổng số nhân viên của công ty trong giai đoạn 2012 - 2014 có xu hướng tăng nhưng số lượng không nhiều: năm 2012 số nhân viên là 90 người, đến năm 2013 tăng lên 96 người (tăng 6,67 % so với năm 2012) và năm 2014 tăng lên 98 người
- Cơ cấu nhân sự theo giới tính: do đặc thù là công ty hoạt động trong lĩnh vực sản xuất các sản phẩm giấy nên số lượng nhân viên nữ chiếm ưu thế hơn so với nhân viên nam Năm 2012 trong tổng 90 nhân viên thì nữ chiếm 64 người (tương đương 71,11 %); năm 2013 và năm 2014 tỷ lệ này lần lượt là 70,83% và 70,4%
- Cơ cấu nhân sự theo hình thức làm việc: Trong cơ cấu lao động, công ty
My Lan cũng đã xây dựng được tỷ lệ hợp lý giữa bộ phận trực tiếp sản xuất và bộ phận quản lý, kinh doanh Bộ phận quản lý kinh doanh chỉ chiếm từ 5% đến 6% trong cơ cấu lao động
- Cơ cấu nhân sự theo trình độ: số nhân sự là lao động phổ thông chiếm tỷ
lệ lớn: năm 2012 chiếm 90% tương đương 81 người; năm 2013 tỷ lệ này là 89,58% và năm 2014 là 88,78% Còn lao động trình độ trung cấp và cao đẳng, đại học, trên đại học chiếm tỷ lệ thấp trong tổng số nhân sự công ty Tính đến năm 2014 số nhân sự trình độ đại học, trên đại học là 5 người, trình độ cao đẳng
và trung cấp là 6 người
3.1.4 Thực trạng máy móc và công nghệ sản xuất
- Thực trạng máy móc
Bảng 3.2: Một số máy móc, thiết bị của công ty tính đến năm 2014
Mô tả thiết bị (loại, kiểu,
nhãn hiệu) Nước sản xuất lượng Số Năm sản xuất Công suất (tấn/năm) trạng Tình
Máy cuộn giấy tự động hoàn
(Nguồn phòng kỹ thuật: Công ty TNHH My Lan)
Trang 38- Đặc điểm về quy trình công nghệ
Công ty luôn nhận thức rằng quy trình công nghệ là yếu tố cơ bản tác động mạnh mẽ và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm Chất lượng sản phẩm và năng suất lao động phụ thuộc trình độ hiện đại, cơ cấu, khả năng làm việc theo thời gian của máy móc thiết bị Muốn sản phẩm có chất lượng, đủ khả năng cạnh tranh thì phải có công nghệ mới, hiện đại, phù hợp với nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng và khả năng cạnh tranh của công ty
Chiến lược sản xuất sản phẩm của công ty giấy My Lan là sản xuất sản phẩm giấy ăn, giấy vệ sinh cao cấp phục vụ cho nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng Nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường Vì vậy, công ty đã thanh lý những máy móc cũ và thay vào đó là máy móc thiết bị công nghệ mới tự động Đây là dây chuyền công nghệ hiện đại và đồng bộ, có khả năng đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của thị trường Song việc khai thác hết khả năng của máy móc hiện nay của công ty còn hạn chế, chỉ đạt khoảng 80% công suất thiết kế Hiện nay công ty đang áp dụng hệ thống chất lượng Iso 9001-2000 có những ưu việt sau: + Chu trình sản xuất ngắn;
+ Dây chuyển tự động và cơ giới cao;
+ Mặt bằng sản xuất gọn, chi phí xây dựng cơ bản nhỏ;
+ Chi phí nguyên liệu thấp, giá thành hạ, hiệu quả kinh doanh cao;
+ Chất lượng sản phẩm tốt, mẫu mã đẹp
- Quy trình công nghệ sản xuất giấy vệ sinh
Nguyên liệu: sau khi mua về cho lên máy sau đó được quấn lõi tự động, chia cuộn tự động, cắt thành từng cuộn, bọc nilong cho từng cuộn, đóng thành dây mỗi dây 6 cuộn hoặc 10 cuộn, cuối cùng đóng bịch mỗi bịch 10 dây và lưu kho
Trang 39Hình 3.2: Quy trình công nghệ sản xuất giấy vệ sinh của công ty My Lan
(Nguồn phòng kỹ thuật: Công ty TNHH My Lan)
- Quy trình sản xuất khăn giấy Napkin, lau tay, nhà bếp, khăn rút hộp được sử dụng từ trong gia đình, các nhà hàng cao cấp đến rút dùng trong các nhà hàng, quán ăn bình dân quy trình như sau:
Hình 3.3: Quy trình công nghệ sản xuất khăn giấy Napkin, lau tay, lau bếp,
khăn rút hộp của công ty My Lan
(Nguồn phòng kỹ thuật: Công ty TNHH My Lan)
Giấy cuộn
Cuộn lõi
Bắn hạn sử dụng Dồn giấy
Đóng gói Lưu kho
Cắt cuộn Cắt
Dồn gói
Hàn tự động
Đóng thùng Giấy cuộn lớn
Trang 40Giấy cuộn lớn sau khi mua về cho lên máy cắt kích thước tùy từng mặt hàng và tự động chia gói theo số lượng cân nặng và số tờ sau đó giấy sẽ tự động được cho vào túi nilong hoặc hộp sau đó công nhân sẽ cho vào thùng hoặc bịch
để đóng gói và lưu kho
3.1.5 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty
Với chặng đường phát triển khá dài, công ty TNHH My Lan cũng đã thu được một số kết quả nhất định, đặc biệt là từ năm 2012 đến nay
- Lợi nhuận trước thuế của My Lan thu được trong giai đoạn 2012 - 2014
có xu hướng tăng trưởng tốt và tương đối ổn định Năm 2012 lợi nhuận trước thuế của đơn vị đạt 5.131 triệu đồng, năm 2013 tăng lên 5.972 triệu đồng (tăng 16,4% so với năm 2012); đến năm 2014 giá trị lợi nhuận trước thuế của My Lan tiếp tục tăng lên đạt mức 6.104 triệu đồng (tăng 2,2% so với năm 2013) Với sự gia tăng này phần nào phản ánh được hiệu quả hoạt động kinh doanh của đơn vị, đặc biệt là trước áp lực cạnh tranh gay gắt từ nhiều đối thủ lớn trong ngành
Bảng 3.3: Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của công ty
giai đoạn 2012 - 2014
Đơn vị: triệu đồng Tiêu chí 2012 2013 2014
2013/2012 2014/2013
BQ Giá
trị
Tỷ lệ (%)
Giá trị
Tỷ lệ (%)
LN trước thuế 5.131 5.972 6.104 841 16,39 132 2,20 486,5 Nộp ngân sách NN 1.128 1.341 1.447 213 18,89 106 7,90 159,5 Thu nhập BQ của
(Nguồn: phòng kế toán - Công ty TNHH My Lan)
- Không chỉ tăng trưởng về lợi nhuận trước thuế mà giá trị nộp ngân sách nhà nước của My Lan cũng không ngừng tăng lên theo các năm, tăng từ 1.128 triệu đồng năm 2012 lên 1.447 triệu đồng năm 2014
- Mức thu nhập bình quân của cán bộ nhân viên đơn vị không có nhiều thay đổi trong các năm của giai đoạn 2012 - 2014 Theo đó, năm 2012 mức thu nhập bình quân của cán bộ nhân viên đơn vị ở mức 5,2 triệu đồng/người/tháng; đến năm 2013 vẫn tiếp tục duy trì mức thu nhập này và sang năm 2014 chỉ tiêu này có tăng trưởng, nhưng không đáng kể, đạt 5,4 triệu đồng/người/tháng