Đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện ở các vùng ôn đới để đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ quá thấp vào mùa đông đến bò Bos taurus và phản ứng của gia súc về sinh lý, năng suất khi được
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN ANH DŨNG
ẢNH HƯỞNG CỦA STRESS LẠNH VÀ MỨC ĐỘ CHO ĂN ĐẾN TRAO ĐỔI CHẤT CƠ BẢN, TỶ LỆ TIÊU HÓA CÁC CHẤT DINH DƯỠNG VÀ MỘT SỐ TẬP TÍNH Ở BÊ NUÔI THỊT
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NGUYỄN ANH DŨNG
ẢNH HƯỞNG CỦA STRESS LẠNH VÀ MỨC ĐỘ CHO ĂN ĐẾN TRAO ĐỔI CHẤT CƠ BẢN, TỶ LỆ TIÊU HÓA CÁC CHẤT DINH
DƯỠNG VÀ MỘT SỐ TẬP TÍNH Ở BÊ NUÔI THỊT
CHUYÊN NGÀNH : CHĂN NUÔI
MÃ SỐ : 60.62.01.05
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS.VŨ CHÍ CƯƠNG PGS.TS ÐẶNG THÁI HẢI
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được công bố trong bất kỳ luận văn, luận án nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên
Nguyễn Anh Dũng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã luôn nhận được sự hướng dẫn và dạy dỗ tận tình của các thầy cô giáo Sự động viên, ủng hộ của bạn bè đồng nghiệp và người thân trong suốt thời gian 2 năm học tập và làm luận văn tốt nghiệp
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Vũ Chí Cương, Phó viện trưởng Viện Chăn nuôi; PGS.TS Đặng Thái Hải, giảng viên Học viện Nông Nghiệp Việt Nam; TS Phạm Kim Cương, phó bộ môn Dinh Dưỡng, Thức ăn Chăn nuôi, Viện Chăn nuôi; đã luôn tạo điều kiện, giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian học tập, thực hiện đề tài tốt nghiệp này Tôi cũng gửi lời cám ơn chân thành và sâu sắc tới các anh, chị hiện công tác tại Bộ môn Dinh Dưỡng, Thức ăn Chăn nuôi, Viện Chăn nuôi, các thầy cô giáo đang công tác tại khoa Chăn nuôi – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn vật nuôi, Viện Chăn nuôi đã luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi, sẵn lòng giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài này
Tôi cũng xin bày tỏ tình cảm và tình yêu chân thành của mình tới gia đình, những người luôn cổ vũ, động viên, tạo mọi điều kiện và giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành tốt luận án tốt nghiệp của mình
Hà Nội, ngày 19 tháng 04 năm 2015
Học viên Nguyễn Anh Dũng
Trang 51.2.3 Cơ chế thần kinh thể dịch trong điều hòa thân nhiệt ở gia súc 6
1.4 Tình hình nghiên cứu stress nhiệt trên gia súc nhai lại tại Việt Nam và trên
1.4.1 Tình hình nghiên cứu stress nhiệt trên gia súc nhai lại trên thế giới 20 1.4.2 Tình hình nghiên cứu stress nhiệt trên gia súc nhai lại tại Việt Nam 22
3.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ và mức độ cho ăn đến mức thu nhận thức ăn 32 3.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ và mức độ cho ăn tới tiêu hóa các chất dinh
3.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ và mức độ cho ăn tới hàm lượng urê huyết 38
Trang 63.4 Ảnh hưởng của nhiệt độ và khẩu phần ăn tới quá trình sử dụng năng lượng
3.4.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ đên quá trình thu nhận năng lượng trong
3.4.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ và mức độ cho ăn đến quá trình sử dụng
3.5 Ảnh hưởng của nhiệt độ và khẩu phần ăn tới các phản ứng sinh lý, tập tính
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG
2.2 Thành phần hóa học của hai loại thức ăn dùng trong thí nghiệm 27 3.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ mức độ cho ăn đến lượng thức ăn thu nhận thức ăn 32 3.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ và mức độ cho ăn tới tiêu hóa các chất dinh dưỡng 35 3.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ và khẩu phần cho ăn tới hàm lượng urê huyết 39 3.4 Ảnh hưởng của nhiệt độ và các mức ăn đến thu nhận năng lượng thức ăn 40
3.6 Ảnh hưởng của nhiệt độ và khẩu phần ăn tới các tập tính của bê thịt 44
Trang 9MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Môi trường trong đó có nhiệt độ, có ảnh hưởng lớn đến khả năng sản xuất và sinh sản vật nuôi, và là yếu tố chính liên quan đến tổn thất trong chăn nuôi gia súc
(Pierre et al., 2003) Đối với những nước nhiệt đới như Việt nam, ảnh hưởng của
nhiệt độ cao (nóng) thường được quan tâm rất nhiều Tuy nhiên, do biến đổi khi hậu, gần đây nhiệt độ thấp (lạnh) ở một số tỉnh miền núi phía Bắc cũng đang thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và quản lý vì chúng gây ra các tổn thất kinh tế khá lớn cho chăn nuôi gia súc nhai lại
Thời tiết rất lạnh xảy ra vào mùa đông năm 2008 và 2011 ở vùng cao miền núi phía bắc Việt Nam là ví dụ điển hình về các tác động tiêu cực của thời tiết lạnh đến chăn nuôi gia súc nhai lại Nhiệt độ thấp nhất được ghi nhận tại một số khu vực miền núi trong năm 2008 là dưới 00C (ví dụ ở Sa Pa -10C và Mẫu Sơn -20C) và băng giá xuất hiện cùng với nhiệt độ thấp diễn ra trong nhiều ngày ở nhiều tỉnh như Lạng Sơn, Lào Cai, Hà Giang, Sơn La và Lai Châu Hậu quả là, chỉ riêng tỉnh Sơn La, số lượng gia súc chết trong năm 2008 là 6.490 con trâu và 2.109 bò, trong năm 2011 là 7.138 con trâu và 5.728 bò Theo Tổng cục Thống kê (tháng 2 năm 2014), do ảnh hưởng của nhiệt độ xuống quá thấp trong thời gian dài nên có khoảng 2 nghìn con trâu, bò bị chết đói và chết rét, chủ yếu là trâu, bò già và bê, nghé non Ước tính số lượng trâu 2/2014 của cả nước giảm khoảng 2% so với cùng kỳ năm 2013; số lượng
bò giảm khoảng 1%
Đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện ở các vùng ôn đới để đánh giá ảnh
hưởng của nhiệt độ quá thấp vào mùa đông đến bò Bos taurus và phản ứng của gia
súc về sinh lý, năng suất khi được nuôi trong nhiệt độ quá lạnh Tuy nhiên các
nghiên cứu kiểu này trên bò Bos indicus nuôi trong các điều kiện nhiệt đới gần như
không có và rất cần được tiến hành Các nghiên cứu trước đây được thực hiện cho thấy khi kéo dài thời gian tiếp xúc với môi trường lạnh đã làm tăng quá trình trao đổi chất cơ bản cũng như tăng quá trình sản nhiệt (Slee, 1971) Tính ngon miệng cũng được kích thích khi thời tiết lạnh, có thể do tăng quá trình trao đổi chất nhờ
Trang 10tăng lượng thức ăn thu nhận (Young, 1975) Thời tiết lạnh kích thích gia súc ăn vào, nhưng nếu tiếp xúc lâu với thời tiết lạnh có thể làm giảm lượng thức ăn thu nhận và làm quá trình trao đổi chất cơ bản tăng 20-30% (Young, 1987) Webster (1970) báo cáo rằng quá trình trao đổi chất cơ bản của gia súc tăng lên để duy trì nhiệt độ cơ thể không đổi, do đó có ít năng lượng sẵn sàng cho sinh trưởng và đã làm giảm hiệu quả sử dụng thức ăn Young (1981) giải thích rằng chức năng đường ruột bị ảnh hưởng do lạnh đã làm giảm mức độ tiêu hóa các chất dinh dưỡng, dẫn đến giảm hiệu quả sử dụng thức ăn Đối với cừu, tỷ lệ tiêu hóa chất khô của thức ăn giảm trung bình 0,31% khi nhiệt độ giảm đi 10C và đối với bê ở ngoài chuồng nuôi có tỷ
lệ tiêu hóa chất khô thức ăn giảm trung bình 8% so với bê nuôi ở trong chuồng kín
ấm áp (Christopherson, 1976) Việc giảm tỷ lệ tiêu hóa chất khô khi giảm 10C đối với bê là 0,21% và bê đực thiến là 0,08% Điều này cho thấy chức năng cơ quan tiêu hóa của gia súc non bị ảnh hưởng rõ rệt hơn so với gia súc lớn hơn hoặc trưởng thành (Christopherson ,1976) Tuy nhiên, quá trình sản nhiệt tăng đáng kể và không ảnh hưởng ở mức dinh dưỡng khác nhau Việc gia tăng sản nhiệt trong điều kiện lạnh là do tăng quá trình dị hóa mỡ của cơ thể (Blaxter và Wainman, 1961)
Bò châu Âu (Bos taurus) có xu hướng chịu lạnh tốt (Praks, 1997) Đây là
lý do vì sao sau các nghiên cứu vào những năm 70 và 80 của thế kỷ trước, hiện không có nhiều các nghiên cứu về ảnh hưởng của stress nhiệt do lạnh đến sử dụng chất dinh dưỡng và năng suất của bò được tiến hành gần đây (Praks, 1997)
Để đối phó và giảm thiểu ảnh hưởng của của nhiệt độ thấp đến gia súc nhai lại, ngoài các nghiên cứu về stress do nóng, các nghiên cứu về ảnh hưởng của stress lạnh đối với gia súc nhai lại cũng rất cần được tiến hành Một lý do quan trọng khác
nữa là các nghiên cứu trước đây về stress lạnh chủ yếu tiến hành trên bò Bos tarus
các tài liệu nghiên cứ về đáp ứng đối với stress lạnh trên bò Bos indicus gần như không có
Nhằm bổ sung và làm phong phú thêm tri thức của chúng ta về đáp ứng của
bò Bos indicus, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng của stress lạnh trên gia súc nhai lại,
được sự tài trợ của dự án ACIAR, LPS/2008/049 Chúng tôi tiến hành đề tài nghiên
cứu "Ảnh hưởng của stress lạnh và mức độ cho ăn đến trao đổi chất cơ bản, tỷ lệ
tiêu hóa các chất dinh dưỡng và một số tập tính ở bê nuôi thịt”
Trang 11Mục đích nghiên cứu
Mục đích chung của nghiên cứu này là đánh giá tương tác giữa nhiệt độ thấp của môi trường và mức ăn tới lượng thức ăn thu nhận, tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng, trao đổi chất cơ bản, giá trị dinh dưỡng của khẩu phần, và một số tập tính ở
bê nuôi thịt
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Hiểu biết chung về bò Vàng Việt Nam
Bò Vàng Việt Nam là một giống bò thuộc nhóm Bos indicus Giống bò Vàng
của Việt Nam có nguồn gốc từ nhiều giống bò của các nước lân cận như Lào, Campuchia, Mianma, Ấn Độ và Trung Quốc nhưng chủ yếu được hình thành từ hai giống bò Trung Quốc và Ấn Độ Qua nhiều đời tạp giao giữa các giống
bò trên đã hình thành nên giống bò Vàng Việt Nam Đó là kết quả của quá trình chọn lọc và thích nghi tự nhiên.Vùng phân bố chủ yếu ở Hà Giang, Lạng Sơn, Thanh Hóa, Nghệ An, Phú Yên (vi.wikipedia.org, 2014)
Theo Trần Trung Thông và cs (2010) giống bò Vàng Việt Nam có chung màu lông vàng, song cũng biểu thị sự đa dạng về ngoại hình như màu sắc lông, tầm vóc cơ thể và được nuôi ở hầu hết các địa phương trên cả nước Đặc điểm chung nhất của giống là sắc lông màu vàng, da mỏng, lông mịn, tầm vóc nhỏ bé Khối lượng bò cái trung bình là 160 - 200 kg và bò đực là 250 - 300 kg Kết cấu thân hình cân đối, bò cái tiền thấp, hậu cao, bò đực tiền cao, hậu thấp Đầu bò cái thanh hơn
bò đực, sừng nhỏ, ngắn, trán phẳng hoặc hơi lõm; trong khi đó, ở bò đực mõm ngắn, mạch máu nổi rõ, mắt to nhanh nhẹn Cổ bò cái thanh, nhưng cổ bò đực to, dày Yếm kéo dài từ hầu đến vú, cổ có nhiều nếp nhăn nhỏ Giống bò Vàng Việt Nam có một số ưu điểm nổi bật, chịu đựng tốt với điều kiện nhiệt đới nóng ẩm, thích nghi được với phương thức chăn nuôi tận dụng, đầu tư ít; bò thành thục sớm, mắn đẻ Song, bò có nhược điểm lớn nhất là không đáp ứng với yêu cầu chăn nuôi thâm canh và hiệu quả kinh tế thấp vì sinh trưởng chậm, năng suất thịt và sữa rất thấp, tỷ
lệ thịt xẻ thấp Ngoài những đặc điểm nêu trên, giống bò Vàng Việt Nam được sử dụng chủ yếu cho cày kéo Khả năng cày kéo của bò tốt, có thể làm việc được ở nhiều địa hình khác nhau Đồng thời, bò còn được sử dụng làm nguồn lực kéo xe, kéo gỗ, ở hầu hết các vùng nông thôn trong cả nước
Cũng theo nhóm tác giả trên, khối lượng trung bình của giống bò Vàng Việt Nam từ 2 đến 5 tuổi là 199,06 kg, biến động từ cao nhất 356 kg đến thấp nhất 105
kg Đối với kích thước một số chỉ tiêu chính của giống bò Vàng Việt Nam như dài
Trang 13thân chéo được xác định là 111,71 cm, cao nhất là 138 cm và thấp nhất là 91 cm; vòng ngực trung bình là 138,33 cm, cao nhất là 176 cm và thấp nhất là 108 cm; các chỉ tiêu cao vây và cao khum trung bình là 115,45 cm và 116,63 cm và dài tai trung bình là 17,82 cm, dài nhất là 21 cm và ngắn nhất là 15 cm
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Định nghĩa và khái niệm stress
Từ "stress" trong tiếng Anh có nghĩa là sức ép, áp lực Trong sinh học thuật ngữ "stress" mang ý nghĩa khác, có tính khái quát rộng hơn (Nguyễn Xuân Tịnh và cs., 1996)
Stress là trạng thái mất cân bằng nội môi của cơ thể, là trạng thái sinh lý không bình thường xảy ra do tác động của các yếu tố bất lợi trong và ngoài cơ thể Khi điều kiện ngoại cảnh thay đổi, phải chịu các tác nhân stress, cơ thể không duy trì được trạng thái cân bằng nội môi, con vật sẽ lâm vào trạng thái stress và phải trải qua quá trình stress để thích nghi với ngoại cảnh mới Khi tác nhân stress vượt quá giới hạn chịu đựng, sự duy trì cân bằng nội môi gặp khó khăn, con vật bị stress nặng và có thể bị chết
Khi gia súc lâm vào trạng thái stress thì hầu như toàn bộ năng lượng của cơ thể đều được huy động sử dụng để vượt qua stress Do đó năng lượng cho tích lũy
để tăng trọng, để sinh sản, để tiết sữa đều bị suy giảm nghiêm trọng dẫn đến sự sụt giảm năng suất vật nuôi về mọi mặt gây tác hại cho chăn nuôi (Nguyễn Xuân Tịnh và cs., 1996)
Stress nhiệt là hiện tượng có thể ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi ở tất cả các vùng: ôn đới, nhiệt đới và cận nhiệt đới trên hành tinh này Gia súc
bị stress nhiệt phải trải qua hàng loạt các thay đổi về trao đổi chất và sinh lý
(Mahr-un-Nissa et al., 1999) Những thay đổi này là rất cần thiết cho sự đáp ứng và sự sống còn của gia súc (Mahr-un-Nissa et al., 1999) Dinh dưỡng cân bằng vô cùng
quan trọng trong stress nhiệt, sự không cân bằng dinh dưỡng có thể là có ảnh hưởng
rất tiêu cực tới năng suất (Christopherson và Kennedy, 1983; Beede et al., 1983)
Cơ quan nhận cảm nhiệt độ lạnh hay nóng nằm trên da cũng như ở tủy sống gia súc (Bligh, 1973; Johnson, 1976) Cơ quan nhận cảm nhiệt độ liên tục cung cấp
Trang 14các thông tin cho hệ thần kinh trung ương về tình trạng nhiệt độ bên ngoài, trao đổi năng lượng của cơ thể (Young, 1981) Gia súc vì thế có thể đáp ứng về sinh lý với môi trường xung quanh và đáp ứng với tập hợp các thông tin nhận được từ cơ quan thụ cảm (Young, 1981)
1.2.2 Nhiệt độ trung tính, nhiệt độ tới hạn cận trên và cận dưới
Bò thịt cũng như các loại gia súc khác, có một khoảng nhiệt độ được gọi là nhiệt độ trung tính Vùng nhiệt độ này được giới hạn là nhiệt độ nguy kịch cận trên
và nhiệt độ nguy kịch cận dưới
Vùng nhiệt trung tính là vùng nhiệt mà tại đó nhiệt sản sinh trong trao đổi
chất là thấp nhất (Kadzere et al., 2002) Tại vùng này năng suất bò là cao nhất, chi
phí cho các hoạt động sinh lý của cơ thể là thấp nhất (Johnson, 1987) Thông thường vùng nhiệt trung tính thay đổi từ nhiệt độ nguy kịch cận dưới tới nhiệt độ nguy kịch cận trên Các cận này phụ thuộc vào tuổi gia súc, loài, giống, lượng thức
ăn thu nhận, thành phần khẩu phần, khả năng thích nghi, năng suất, kiểu chuồng trại,… (Yousef, 1985) Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng vùng nhiệt trung tính của bò sữa là khoảng từ 50C tới 250C Theo Britt Hicks (2007) khoảng nhiệt mà bò sống thoải mái nhất là khoảng từ 150C tới 250C
Nhiệt độ môi trường mà dưới đó tốc độ sản xuất nhiệt của gia súc ở trạng thái nghỉ phải tăng lên để duy trì cân bằng nhiệt chính là nhiệt độ nguy kịch cận dưới
Nhiệt độ môi trường mà tại đó gia súc tăng sản xuất nhiệt, do nhiệt độ cơ thể tăng lên vì thải nhiệt do bốc hơi không đủ đó chính là nhiệt độ nguy kịch cận trên (Yousef, 1985) Khi nhiệt sinh ra trong cơ thể vượt quá khả năng thải nhiệt do bốc hơi, nhiệt độ cơ thể tăng lên và gia súc có thể bị chết do thân nhiệt quá cao (Allan
và Dan, 2005) Thông thường nhiệt độ cơ thể bò là 38,50C Bò bị stress nhiệt khi nhiệt độ cơ thể cao hơn 39,20C
1.2.3 Cơ chế thần kinh thể dịch trong điều hòa thân nhiệt ở gia súc
Hệ thần kinh trung ương là cơ quan phối hợp và điều hòa các chức năng tối quan trọng của cơ thể, một trong các chức năng đó là duy trì thân nhiệt, với sự tham
ra của các nơron thần kinh cảm giác (nơron hướng tâm) và nơron vân động (nơron
ly tâm), hệ thần kinh giao cảm và phó giao cảm, các tuyến nội tiết và các hormon
Trang 15Bởi vậy, khi nhiệt độ môi trưởng thay đổi sẽ tác động vào trung khu điều tiết nhiệt ở vùng dưới đồi (Hypothalamus), rồi chuyển lên vỏ não Từ vỏ não, các hưng phấn truyền ra theo thần kinh vận động đến cơ để điều khiển các hoạt động có thể làm tăng hoặc giảm cường độ trao đổi chất Mặt khác, từ vùng dưới đồi hưng phấn tác động lên hệ thần kinh thực vật, qua đó chi phối các tuyến mồ hôi, sự co giãn mao mạch, kích thích hoặc ức chế tuyến giáp, tuyến trên thận tiết hormon tham gia điều tiết thân nhiệt thông qua sự tăng giảm trao đổi chất (Nguyễn Xuân Tịnh và cs., 1996)
Một số hormon tham gia quá trình điều hòa nhiệt như hai hormon adrenalin và noradrenalin của miền tủy thượng thận kích thích quá trình chuyển hóa gluxit: tăng glucose huyết, thyroxin của tuyến giáp kích thích quá trình trao đổi chất (sản nhiệt) Các hormon của thùy trước tuyến yên có liên quan đến điều hòa nhiệt gồm có: Somatotropin hormon tác động trực tiếp lên các tế bào của cơ thể, adrenocorticotropin hormon kiểm soát hoạt động tiết corticoid của tuyến thượng thận; ngoài ra trong các hormon của thùy sau tuyến yên chỉ có vasopressin kiểm soát huyết
áp và loại bỏ nước từ thận là có liên quan đến điều hòa nhiệt (Jean Pagot, 2002)
Như vậy, hệ thần kinh và các tuyến nội tiết đóng vai trò tối quan trọng trong điều hòa thân nhiệt ở gia súc Khi có bất cứ một trục trặc nào trong hệ thống này, các hoạt động điều khiển không bình thường dẫn đến thân nhiệt gia súc sẽ bị rối loạn từ đó gây nên các trạng thái bệnh lý khác nhau
1.3 Stress do lạnh và ảnh hưởng đến bò thịt
1.3.1 Stress do lạnh
Theo Young (1981), khoảng 2/3 gia súc ở Bắc Mỹ được nuôi trong khu vực
có nhiệt độ vào tháng 1 dưới 00C và ít nhất có 3 tháng mùa đông nhiệt độ thấp hơn
00C Lạnh được trải nghiệm ở từng cá thể, nên ảnh hưởng của lạnh rất khác biệt giữa các cá thể và phụ thuộc vào tuổi, giống, dinh dưỡng, giai đoạn sinh lý và đáp ứng với nhiệt độ thấp cũng như quản lý (Ashley, 2013) Vì phụ thuộc vào nhiều yếu
tố nên nhiệt độ nguy kịch cận dưới - là nhiệt độ mà dưới nó gia súc phải tăng tốc độ sản nhiệt từ cơ thể để đảm bảo đẳng nhiệt (Young, 1981; Young, 1986), hay là nhiệt độ tại đó gia súc cảm thấy lạnh và phải tăng nhiệt sản xuất ra trong cơ thể để giữ ấm (Wagner, 1988), cho các loại bò cũng rất khác nhau (Bảng 1.1)
Trang 16Bảng 1.1: Nhiệt độ nguy kịch cận dưới ở bò thịt (Christopherson, 1985)
Đáp ứng lâu dài với nhiệt độ thấp
Đáp ứng lâu dài với nhiệt độ thấp đầu tiên làm tăng cách nhiệt, phát triển tấm áo khoác (lông dài ra và dầy lên) mùa đông để chống lạnh Đáp ứng tiếp theo là đáp ứng về thích nghi trao đổi chất với nhiệt độ thấp như tăng trao đổi cơ bản Trao đổi cơ bản là một chỉ thị về đáp ứng trao đổi chất để thích nghi với lạnh Các gia súc thích nghi với lạnh tồn tại và bị ảnh hưởng do lạnh ít hơn so với gia súc chưa thích nghi và gia súc non (Ashley, 2013) Bò có xu hướng ở lại vùng tiểu khí hậu có nhiệt độ trên nhiệt độ nguy kịch cận dưới (lower critical temperature (LCT): -230C (Houseal and Olson, 1995)
Tóm lại, stress lạnh ở bò được hiểu là trạng thái mà tại đó do tác động của thời tiết lạnh, vật nuôi bắt đầu xuất hiện các điều chỉnh ở mức độ mô bào và toàn bộ
Trang 17cơ thể gia súc, giúp chúng tránh được các rồi loạn chức năng sinh lý và làm cho gia
súc thích nghi tốt hơn với môi trường ngoài Theo Kadzere et al (2002), để duy trì
được trạng thái đẳng nhiệt, gia súc cần ở trạng thái cân bằng nhiệt với môi trường
1.3.2 Các ảnh hưởng của stress lạnh đến gia súc nhai lại
+ Lượng thức ăn ăn vào, tiêu hóa các chất dinh dưỡng, giá trị năng lượng của thức ăn
Tính ngon miệng được kích thích khi thời tiết lạnh, có thể do tăng quá trình trao đổi chất mà tăng lượng thức ăn ăn vào (Young, 1975) Thời tiết lạnh kích thích gia súc ăn vào, nhưng nếu tiếp xúc lâu với thời tiết lạnh có thể làm giảm lượng thức
ăn ăn vào (Young, 1987) Graham et al (1982) cho thấy cừu bị stress do lạnh chăn
thả đã tăng lượng chất khô ăn vào từ 20% đến 40% để tạo nhiệt giữ ấm cơ thể Tương tự Baile và Forbes (1974) cũng quan sát thấy tăng lượng thức ăn ăn vào ở bò
bị stress lạnh Khi stress lạnh lượng thức ăn ăn vào thường tăng (Kennedy et al.,
1986; Minton, 1986; Young, 1986) Tuy nhiên tùy thuộc vào chất lượng khẩu phần
và sự thích ứng với nhiệt độ lạnh của bò (Young, 1986)
Ngược lại, cũng có quan sát cho thấy bò cái chỉ chăn thả không lại ăn ít hơn
khi nhiệt độ lạnh (Adams et al., 1986) và lượng thức ăn ăn vào đã giảm 44% trong thời gian nhiệt độ là -15 và -27°C (Adams et al., 1986) Kartchner (1996) thấy một
kết quả tương tự ở bò chăn thả ngoài trời lạnh Khi giảm lượng cỏ ăn vào, bò phải huy động mỡ dự trữ để giữ nhiệt cơ thể (Webster, 1974) Kennedy and Milligan (1978) thậm chí lại quan sát thấy lượng thức ăn ăn vào không đổi khi bò bị lạnh, stress lạnh đã làm giảm hoạt động lên men ở dạ cỏ 1/3, nhưng lên men sau dạ cỏ thì không bị ảnh hưởng bởi stress do lạnh Mossberg và Jönsson (1996) nghiên ứu ảnh hưởng của nhiệt độ ở bò đực sinh trưởng thấy không có hoặc có rất ít ảnh hưởng của nhiệt độ đến lượng năng lượng ăn vào Khi bị stress lạnh bò nghỉ để dự trữ năng lượng và giảm gặm cỏ cho đến khi nhiệt độ ấm hơn (Malechek and Smith, 1976) Nhiệt độ lạnh có tương quan với lượng chất hữu cơ ăn vào (Malechek và Smith,
1976; Adams et al., 1986)
Thông thường người ta giả sử rằng lạnh kích thích lượng thức ăn ăn vào tăng lên để phù hợp với tăng nhu cầu trao đổi chất của cơ thể gia súc
Trang 18Young (1981) giải thích rằng chức năng đường ruột bị ảnh hưởng do lạnh đã làm giảm mức độ tiêu hóa các chất dinh dưỡng, dẫn đến giảm hiệu quả sử dụng thức ăn Đối với cừu, tỷ lệ tiêu hóa chất khô của thức ăn giảm trung bình 0,31% khi nhiệt độ giảm đi 10C và đối với bê nuôi ở ngoài trong điều kiện lạnh có tỷ lệ tiêu hóa chất khô thức ăn giảm trung bình 8% so với bê nuôi ở trong chuồng kín ấm áp (Christopherson, 1976) Việc giảm tỷ lệ tiêu hóa chất khô khi giảm 10C đối với bê
là 0,21% và bê đực thiến là 0,08% cho thấy chức năng cơ quan tiêu hóa của gia súc non là yếu tố bị ảnh hưởng rõ rệt hơn so với gia súc lớn hơn hoặc trưởng thành (Christopherson ,1976) Tỷ lệ tiêu hóa mùa đông thường thấp hơn mùa hè, tỷ lệ tiêu hóa cho gia súc nhai lại thường giảm vào mùa đông (NRC, 1981) Khi lạnh nhai lại tăng, vận động của dạ cỏ dạ lá sách, dạ múi kế tăng, tốc độ vận chuyển dưỡng chấp
trong đường tiêu hóa tăng, dung tích dạ dạ bốn túi giảm (Kennedy et al., 1976; Kennedy et al., 1977; Gonyou et al., 1979) do đó giảm hiệu quả tiêu hóa (Christopherson, 1976; Kennedy and Milligan, 1978; Nicholson et al., 1980) Giảm
tiêu hóa vật chất khô do lạnh đã được nhiều tác giả đề cập (Christopherson, 1976;
Kennedy và Milligan, 1978; Nicholson et al., 1980; Kennedy, 1985)
Do thay đổi trong dạ cỏ nên tiêu hóa giảm đặc biệt là tiêu hóa thức ăn thô (Young và Degan,1981), chủ yếu là do tốc độ vận chuyển dưỡng chấp trong đường tiêu hóa tăng và đường tiêu hóa vận động nhiều hơn (Young, 1981) Christopherson (1976) thấy chức năng tiêu hóa của gia súc nhai lại còn non và nhỏ bị ảnh hưởng đáng kể hơn do lạnh so với gia súc lớn tuổi
Bò cái đang cho con bú mẫn cảm với lạnh hơn bò sinh trưởng Theo các tác giả ở Canada, nhu cầu thức ăn có thể tăng hơn 30 - 70% do ảnh hưởng của lạnh mùa
đông (Jordan et al., 1968; Hironaka and Peters, 1969) Tăng nhu cầu về thức ăn mùa
đông có thể chủ yếu là do giảm tiêu hóa và tăng nhu cầu duy trì Cừu và bào thai
không bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ thấp (Jordan et al., 1968; Hironaka and Peters
Trang 19protein trong khi bò trong nhà chỉ dùng 14% năng lượng ăn vào dưới dạng protein, đây là nguyên nhân tại sao NEg của thức ăn trong điều kiện lạnh lại thấp (Delfino
và Mathison, 1991)
Do tiêu hóa giảm, nhu cầu năng lượng cho duy trì tăng đã làm giảm tính sẵn
có của năng lượng ăn vào cho tăng trọng Nghiên cứu trước đó (Suleiman and Mathison, 1979) cho thấy có sự giảm đáng kể hiệu quả sử dụng năng lượng trao đổi (ME) cho tăng trọng trong mùa đông
Trong điều kiện nhiệt độ bình thường tỷ lệ tiêu hóa năng lượng không bị ảnh hưởng khi lượng thức ăn ăn vào tăng (Delfino and Mathison, 1991) Kết quả này hơi ngược so với bình thường: tỷ lệ tiêu hóa giảm khi lượng thức ăn ăn vào tăng lên (Tyrrell and Moe, 1975; ARC, 1980) Tuy nhiên cũng có các nghiên cứu cho kết quả tương tự trên khẩu phần lúa mạch (Webster, 1976, do Wainman, 1977 trích
dẫn; Deffino et al., 1988) Berger et al.(1981) cho rằng tinh bột trong lúa mạch dễ
tiêu hóa so với tinh bột trong lúa mỳ, ngô và cao lương và Waldo (1973) thấy rằng khoảng 94% tinh bột trong lúa mạch bị tiêu hóa ở dạ cỏ Khi quá lạnh Young (1975) thấy hàm lượng glucose và axit béo tự do trong máu tăng Baile và Della-Fera (1993) báo cáo rằng hàm lượng axit béo tự do trong máu tăng đi kèm với lượng thức ăn ăn vào giảm
Tăng tốc độ dòng dưỡng chấp trong đường tiêu hóa khi bị stress lạnh làm
tăng tốc độ thoát khỏi dạ cỏ của các hạt thức ăn có kích thước nhỏ (Gonyou et al., 1979) Nicholson et al (1980) báo cáo rằng stress lạnh làm giảm tỷ lệ tiêu hóa của
các dạng thức ăn dài, đã chặt và thức ăn dạng viên của cỏ khô Bò vỗ béo khi bị
stress lạnh tăng hoạt động của dạ cỏ (Gonyou et al.,1979) Pearce and Moir (1964)
thấy tăng nhai lại đi kèm với tăng tốc độ ra khỏi dạ cỏ của dưỡng chấp trong đường tiêu hóa và hệ quả là tỷ lệ tiêu hóa giảm Lạnh đã làm thay đổi phản xạ của các cơ quan thụ cảm hóa học thông qua ảnh hường đến dòng máu lưu thông và do đó ảnh hưởng đến hấp thu dinh dưỡng Đã có bằng chứng cho thấy tốc độ dòng máu đến
đường tiêu hóa của gia súc nhai lại tăng lên khi lạnh (Thompson et al.,1978) Tăng tốc độ dòng máu đã làm tăng hấp thu axit béo bay hơi từ dạ cỏ (Thompson et al.,
1978) Leek and Harding (1975) báo cáo rằng hạ thấp hàm lượng axit béo bay hơi
Trang 20trong dạ cỏ (do bị hấp thu) sẽ làm giảm yếu tố ức chế đầu vào đối với trung tâm dạ
dày, hậu quả là vận động của dạ dày tăng lên Kennedy et al (1982) thấy có sự
giảm rất đáng kể tốc độ sản xuất axit béo bay hơi ở dạ cỏ ở cừu stress do lạnh Giảm axit béo bay hơi ở dạ cỏ cừu stress do lạnh trùng với giả thiết là giảm axit báo bay hơi thì vận động của đường tiêu hóa tăng, tốc độ dòng dưỡng chấp tăng
(Mahr-un-Níssa et al., 1999)
Graham et al (1980) chứng minh rằng nhiệt độ thấp lạnh đã làm tăng mất
mát năng lượng ăn vào trong nước tiểu và phân nên làm giảm ME ăn vào sẵn có Adams (1987) cho rằng tỷ lệ tiêu hóa giảm khi lạnh đã có ảnh hưởng lớn đến nguồn cung dinh dưỡng cho gia súc và do đó ảnh hưởng đến năng suất Christopherson and Kennedy (1983) kết luận rằng thiếu năng lượng ở gia súc stress nhiệt do lạnh
đã điều chỉnh chức năng của đường tiêu hóa, tăng hoạt động của dạ dày và ruột, tăng tốc độ của dòng dưỡng chấp và do đó giảm tỷ lệ tiêu hóa
Có thể kết luận rằng các yếu tố chủ yếu làm giảm hiệu quả sử dụng năng lượng khi lạnh là tăng nhu cầu năng lượng cho duy trì và nhiều năng lượng ăn vào được tích trữ dưới dạng protein (Delfino and Mathison, 1991)
Các quan sát từ rất sớm thấy stress lạnh đã làm dung tích dạ cỏ giảm (Degen and Young, 1980) Tỷ lệ tiêu hóa cũng giảm do stress lạnh: 0,2 đơn vị cho 10C giảm
đi (Young and Christopherson, 1974; Christopherson, 1976) Sự thay đổi chức năng của đường tiêu hóa, giảm tỷ lệ tiêu hóa không phụ thuộc vào lượng thức ăn ăn vào
mà chủ yếu phụ thuộc vào dung tích đường tiêu hóa, tốc độ của dòng chảy dưỡng chấp trong đường tiêu hóa và hàm lượng hormon tuyến giáp trạng lưu thông trong
máu (Westra and Christopherson, 1976; Kennedy et al., 1977) Tốc độ của dòng chảy
dưỡng chấp ra khỏi dạ cỏ làm giảm phân giải chất hữu cơ trong dạ cỏ nhưng đồng thời tăng hiệu quả sinh tổng hợp của vi sinh vật và tăng lượng thức ăn thoát qua khỏi
dạ cỏ không được tiêu hóa (Kennedy et al., 1976; Kennedy and Milligan, 1978)
Cơ chế mà nhiệt độ môi trường ảnh hưởng đến tốc độ dòng chảy dưỡng chấp trong đường tiêu hóa có liên quan đến hoạt động của tuyến giáp (Levin, 1969;
Miller et al., 1974; Westra and Christopherson, 1976; Kennedy et al., 1977)
Methane được tạo ra ít hơn khi bò bị stress lạnh (Kennedy and Milligan,
Trang 211978) Cần nói thêm rằng ở gia súc nhai lại bị stress lạnh nhiều chất dinh dưỡng sẽ thoát khỏi sự phân giải của vi sinh vật dạ cỏ và được gia súc (vật chủ) sử dụng trực
tiếp (Kennedy et al., 1976) Ames (1976) khuyến cáo và chứng minh trong một thí
nghiệm nuôi dưỡng là khi bị stress do lạnh, hàm lượng protein của khẩu phần gia súc nhai lại có thể giảm mà không có ảnh hưởng gì
+ Trao đổi cơ bản
Stress nhiệt làm tăng nhu cầu năng lượng cho duy trì, giảm năng lượng cho
sinh trưởng mô và giảm năng suất (Ames et al., 1994) Tương tác giữa dinh dưỡng
và stress nhiệt làm thiếu hụt chất dinh dưỡng và kết quả là khả năng chống chọi với stress của gia súc giảm (National Dairy Council, 1980) Strees lạnh làm tăng nhu cầu duy trì của gia súc (Hidiroglou and Lessard, 1970) vì chúng cần nhiều năng
lượng cho tạo nhiệt (Graham et al., 1959) và tiêu hóa thức ăn kém (NRC, 1981) Vì
nhu cầu năng lượng trao đổi ME tăng, nên ME dành cho mục đích sản xuất giảm (McBride and Christopherson, 1984) Bị stress lạnh kéo dài làm tăng trao đổi cơ bản để tăng sản xuất nhiệt (Slee, 1971)
Các nghiên cứu trước đây cho thấy khi kéo dài thời gian tiếp xúc với môi trường lạnh đã làm tăng quá trình trao đổi chất cơ bản cũng như tăng quá trình sản nhiệt (Slee, 1971) Tiếp xúc lâu với thời tiết lạnh có thể làm giảm lượng thức ăn ăn vào và làm quá trình trao đổi chất cơ bản tăng 20-30% (Young, 1987) Webster (1970) báo cáo rằng quá trình trao đổi chất cơ bản của gia súc tăng lên để duy trì nhiệt độ cơ thể không đổi, do đó có ít năng lượng sẵn sàng cho sinh trưởng nên hiệu quả sử dụng thức ăn giảm Tuy nhiên, quá trình sản nhiệt tăng đáng kể và không bị ảnh hưởng bởi mức dinh dưỡng khác nhau Việc gia tăng sản nhiệt trong điều kiện lạnh là do tăng quá trình dị hóa mỡ của cơ thể (Blaxter and Wainman, 1961) Khi bị lạnh một thời gian dài, gia súc sẽ tăng trao đổi cơ bản (Slee and Sykes, 1967) Young and Degan (1981) tính toán rằng cường độ trao đổi cơ bản của bò tăng khoảng 2,9 kJ/kg khối lượng 0,75 cho mỗi một đơn vị nhiệt độ môi trường giảm đi
Ở các vùng thuộc vĩ độ bắc, đồng cỏ chăn thả mùa đông thường có chất lượng thấp, điều này góp phần làm cho stress nhiệt do lạnh trầm trọng hơn (Houseal and Olson, 1995)
Trang 22Quá lạnh có thể ảnh hưởng tiêu cực đến cân bằng nhiệt của bò, tăng nhu cầu năng lượng (Webster, l97l) Các ảnh hưởng này có thể giảm thiểu nếu bò có chuồng che chắn (Webster, 1970) Nhiệt sản xuất lúc đói – FHP (Fasting heat production) hay nhu cầu duy trì ở bò nuôi ngoài trời lạnh cao hơn 18% so với FHP của bò nuôi trong nhà, đồng thời hệ số sử dụng năng lượng trao đổi cho duy trì Km của bò nuôi ngoài trời thấp hơn 14% so với giá trị này ở bò nuôi trong nhà mùa đông (P <0.01) (Delfino and Mathison, 1991) Kết quả là nhu cầu năng lượng trao đổi cho duy trì (MEm) của bò nuôi ngoài trời cao hơn 41% nhu cầu này ở bò nuôi trong nhà (Delfino and Mathison, 1991)
Bò bị stress lạnh giảm đáng kể hiệu quả và năng suất (Young, 1981) Bò bị stress lạnh sản xuất nhiệt trong trạng thái duy trì có thể tăng đến 30 - 40% (Webster, 1970; Slee, 1971; Young, 1975) Thêm vào đó tốc độ trao đổi chất ở bò vỗ béo tăng xấp xỉ 2 kcal/kg khối lượng 0,75 cho mỗi một độ giảm đi khi nhiệt độ thấp hơn nhiệt
độ tối thấp (Christopherson and Young, 1986) Khi tăng lượng thức ăn cho ăn vẫn không làm thay đổi được tỷ lệ năng lượng mất đi trong phân (Delfino and Mathison, 1991) Phần năng lượng thô mất đi trong nước tiểu giảm từ 7,4% ở mức cho ăn thấp xuống 5,0% ở mức cho ăn cao nhưng sai khác không có ý nghĩa (Delfino and Mathison, 1991) Lượng năng lượng mất đi trong khí methane giảm 19% (P < 0,05) khi tăng lượng cho ăn (7,0 xuống 5,7%) (Delfino and Mathison, 1991)
Nhu cầu năng lượng thuần cho duy trì (NEm) tăng lên (P <0.01) 18% ở bò bị lạnh (Delfino and Mathison, 1991) Nhu cầu MEm ở bò nuôi nhà mùa đông là 101 kcal/kg khối lượng0,75 ước tính theo phương pháp của Lofgreen and Garrett (1968) Trong khi đó, nhu cầu MEm ở bò nuôi ở ngoài trời trong điều kiện lạnh tương ứng
là 142 kcal/kg khối lượng0,75, cao hơn 41% (P <0 01) so với nhu cầu này ở bò nuôi trong nhà mùa đông (Delfino and Mathison, 1991) Bằng phương pháp hồi qui
đa chiều hai giá trị trên tính được là 104 và 140 kcal/ kg khối lượng0,75(Delfino and Mathison, 1991) Kết quả là nhu cầu vật chất khô cần thiết đáp ứng cho nhu cầu duy trì tăng lên (P < 0,01) từ 35,2 đến 49,5 g/kg khối lượng0,75 (Delfino and Mathison, 1991) Giá trị NEm của lúa mạch cho bò nuôi trong nhà là 1,96 Mcal/kg VCK, trong khi đó giá trị này là 1,64 Mcal/kg VCK, thấp hơn 16% (Delfino and
Trang 23Mathison, 1991) Hiệu quả sử dụng ME cho duy trì Km là 0,64 và 0,55 cho bò nuôi trong và ngoài trời mùa đông (Delfino và Mathison, 1991) Giá trị NEg của lúa mạch cho bò ngoài trời là 0,81 Mcal/kg VCK, thấp hơn 41% (P < 0.01) so với giá trị này ở bò nuôi trong nhà (Delfino and Mathison, 1991) Kết quả là hiệu quả sử dụng ME cho tăng trọng Kg là 0,45 và 0,27 cho bò nuôi trong nhà và ngoài trời mùa đông (Delfino and Mathison, 1991)
Thông thường biến động về hiệu quả sử dụng năng lượng cho duy trì là nhỏ khi xác định nó trong điều kiện gia súc không sản xuất và trong vùng nhiệt thích hợp (Moe and Tyrrell, 1973) Tuy nhiên trong điều kiện stress lạnh, khi mà hormon
và trao đổi chất thay đổi thì năng lượng tiêu dùng cho duy trì cao lên (Young, 1981) Trong nghiên cứu của Delfino and Mathison (1991) cũng cho kết quả tương
tự: nhu cầu NE cho duy trì của bò tăng 18% Ngược lại, Birkelo et al (1991) cho
thấy mùa vụ không có ảnh hưởng đến FHP hay nhu cầu MEm ở bò
Khi sử dụng phương trình chuyển đổi ME sang NEg của Garrett (1980), đã được NRC (1984) sử dụng và được Delfino and Mathison (1991) kiểm chứng thấy : giá trị NEg: 1,37 Mcal/kg vật chất khô (VCK) cho khẩu phần lúa mạch ở bò nuôi trong nhà, khác với giá trị này ở bò nuôi ngoài trời lạnh NEg: 1,29 Mcal/kg VCK khẩu phần (Delfino and Mathison, 1991) NE của khẩu phần đã giảm 41% khi nuôi
bò ngoài trời lạnh chứng tỏ việc sử dụng một giá trị NEg là không đúng trong điều kiện lạnh Hiệu quả sử dụng ME cho tích lũy ở mô bào được coi như là một trong các biến để tính hàm lượng ME của khẩu phần (ARC, 1980; NRC, 1984) Như vậy một giải thích khả dĩ cho hàm lượng NE của khẩu phần thấp là do ME của khẩu phần giảm trong điều kiện lạnh (Delfino and Mathison, 1991) Giảm rất mạnh hàm lượng ME của khẩu phần ở bò nuôi ngoài trời lạnh không thấy rõ trong thí nghiệm
của Delfino and Mathison (1991) Bởi vì theo Kennedy et al (1982) nhiệt độ không
có ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêu hóa của khẩu phần được tiêu hóa nhanh, khẩu phần nhiều tinh bột Kết quả tương tự cũng được ghi nhận (McBride and Christopherson, 1984; Young and Degan, 1981) Chuyển hóa các khẩu phần nhiều tinh bột thậm chí còn được cải thiện khi lạnh (Delfino and Mathison, 1991) Kennedy and Milligan (1978) báo cáo rằng sản xuất methane giảm 30% khi cho ăn khẩu phần nhiều tinh
Trang 24bột trong điều kiện lạnh Còn có một số các yếu tố khác chứ không phải do giảm
ME của khẩu phần mà NE của khẩu phần cho bò trong điều kiện lạnh giảm (Delfino and Mathison, 1991)
Vì bò nuôi ngoài trời lạnh tích lũy nhiều năng lượng dưới dạng protein so với bò nuôi trong nhà (21% và 14%), khác biệt về hiệu quả tích lũy mô bào có thể giải thích hiệu quả sử dụng ME cho tăng trọng thấp ở bò nuôi ngoài trời lạnh (Delfino and Mathison, 1991) Old and Garrett (1985), thấy tích lũy mỡ ở bò sinh trưởng và vỗ béo hiệu quả về năng lượng sử dụng hơn tích lũy protein từ 5 đến 6 lần Theo tác giả này hiệu quả sử dụng ME cho sinh trưởng mô là 49% - 58% cho
mỡ và 10%-11% cho tích lũy protein Byers (1982) cho kết quả tương tự: hiệu quả
sử dụng ME cho tích lũy mỡ là 60% - 70% và cho tích lũy protein là: 10% - 40% Geay (1984) cho rằng hiệu quả này là 75% và 20% cho tích lũy mỡ và protein Như vậy, tăng trọng ngày, tỷ lệ năng lượng/tăng trọng bị ảnh hưởng tiêu cực của nhiệt độ thấp và lượng thức ăn ăn vào thấp (Delfino and Mathison, 1991) Nhu cầu năng lượng cho duy trì tăng và giá trị NEg giảm khi bò được nuôi ngoài trời lạnh (Delfino and Mathison, 1991) Ảnh hưởng của lạnh đến NEg của khẩu phần có thể là do hậu quả của của việc năng lượng được tích lũy dưới dạng protein khi lạnh nên không hiệu quả (Delfino and Mathison, 1991) Như vậy hiệu quả sử dụng ME cho tăng trọng khi bò nuôi trong điều kiện stress lạnh cần xem xét lại (Delfino and Mathison, 1991) Các tác giả trên đề nghị sử dụng hai phương trình khác nhau để tính sản xuất nhiệt mùa đông ở bò như sau:
- Cho bò nuôi trong nhà mùa đông (không bị stress do lạnh): Lượng nhiệt sản
xuất ra - HP = 1,8119 + 0,0019 x ME, r = 0,71, SE = 0,04, (P < 0,001); ME ăn vào = 103,7 + 7,82 x protein) + 1,07 x fat, r = 0,82, SE = 14,2 (P < 0,001); Năng lượng giữ
lại trong cơ thể = 35,22 + 1,29 x VCK, r = 0,55, SE = 13,1 (P < 0,05)
- Cho bò nuôi ngoài trời mùa đông (bị stress do lạnh): Lượng nhiệt sản xuất
ra - HP = 1,882 + 0,0019 x ME, r = 0,90, SE = 0,02, (P < 0,001); ME ăn vào =
140,29 + 8,79 x protein + 1,42 x mỡ, r = 0,77, SE = 19,5 (P < 0,001); Năng lượng
giữ lại trong cơ thể = 49,47 + 0,76 x VCK, r = 0,53, SE = 10,0 (P < 0,05)
Trang 25Theo Birkelo et al (1989) có ảnh hưởng của mùa vụ đến nhiệt sản xuất lức
đói hay nhu cầu duy trì (Fasting Heat Production - FHP), FHP thấp trong mùa thu, đông và xuân so với mùa hè Khi nhiệt độ vượt khỏi vùng nhiệt trung tính ở cận trên hay cận dưới, năng suất bò giảm (NRC, 1996) Dưới cận dưới trao đổi chất tăng để duy trì nhiệt độ cơ thể, vì vậy nhu cầu duy trì tăng, tổng nhu cầu năng lượng tăng (NRC,1996) Tốc độ trao đổi đói (trao đổi cơ bản) tăng lên phụ thuộc vào nhiệt
độ thấp, nhiệt độ càng thấp trao đổi cơ bản càng tăng (NRC,1981) Đối với bò cái
ôn đới nhiệt độ cận dưới là −21°C (Webster, 1974).Theo Hidiroglou and Lessard (1971) nhu cầu duy trì là 4,23 kg TDN/ngày cho bò nuôi ngoài trời lạnh so với 3,64
kg TDN/ngày cho bò nuôi trong nhà Giá trị này cao hơn nhu cầu của NRC (1963)
66% (2,55 kg TDN/ngày cho duy trì) Riêng Kennedy et al (2005) thấy rằng HP
không bị ảnh hưởng của stress do lạnh
Hiệu quả của sinh trưởng ở gia súc nhai lại phụ thuộc vào tỷ lệ lượng ME
được giữ lại so với số lượng ME được biến thành nhiệt (Robinson et al.,1986) Bò
là động vật đẳng nhiệt, sống trong môi trường nhiệt độ biến đổi nên chúng phải
tương tác và thích nghi với nhiệt độ môi trường (Koknaroglu et al.,2005) Như vậy,
các điều kiện môi trường, nhất là nhiệt độ qui định nhu cầu năng lượng cho duy trì
của chúng (Koknaroglu et al.,2005) Xing-Tai Han et al (2003) tiến hành một
nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của nhiệt độ (Ta) đến trao đổi cơ bản trên bò vàng
Trung quốc đang sinh trưởng (Bos taurus, n = 30, 1,0 – 3,5 tuổi, 75 - 240 kg) ở Tây
Tạng ở độ cao (2000 – 2800 m) Nhiệt sản xuất lúc đói hay nhu cầu duy trì (Fasting heat production-FHP) được xác định ở cả hai mùa hè và đông ở Tây tạng trong
buồng hô hấp ở nghiên cứu này (Xing-Tai Han et al.,2003) Kết quả cho thấy FHP
mà Xing-Tai Han et al (2003) tìm thấy tương đương với các nghiên cứu khác của
(Webster, 1970) ở bò sinh trưởng và (Young, 1975) ở bò trưởng thành, trong các
nghiên cứu này FHP tăng từ 30 đến 40 % Xing-Tai Han et al (2003) thấy FHP
của bò vàng Trung quốc tăng dần khi nhiệt độ giảm dần Cũng trong nghiên cứu này tác giả đã chỉ ra rằng FHP của bò vàng Trung quốc ở nhiệt độ -15; - 10 và - 50C tương ứng là: 303; 291 và 278 MJ/kg khối lượng0,75 FHP mùa đông luôn luôn cao
hơn FHP mùa hè và giảm dần theo tuổi (Xing-Tai Han et al., 2003) (Bảng 1.2 )
Trang 26Bảng 1.2: Ảnh hưởng của mùa vụ và tuổi bò đến FHP(kJ/kg KLCT 0,75 )
Huuskonen and Joki-Tokola (2003) thấy khi lạnh hơn bò tăng trọng thấp hơn
và hiệu quả sử dụng thức ăn kém hiệu quả hơn Nhiệt độ thấp có tương quan với giảm thời gian gặm cỏ và lượng cỏ ăn vào, điều này đã làm giảm điểm thể trạng ở
bò và giảm khả năng sinh sản do lượng ăn vào thấp (Malechek and Smith, 1976; Adams, 1989) Một phần do tăng nhu cầu năng lượng nên bò giảm tăng trọng hoặc
có tăng trọng rất thấp khi quá lạnh (Webster, 1970; Hidiroglou and Lessard, 1971) Theo Delfino and Mathison (1991): bò đực thiến Hereford nuôi ngoài trời và trong nhà nhiệt độ 16,9 ± 2,70C và -7,6 ± 6,80C thì bò nuôi trong nhà tăng trọng cao hơn 49% (P <0,001), FCR tốt hơn 51% so với bò nuôi ngoài trời Bò ngoài trời giữ lại năng lượng ít hơn 65% (P < 0,001) Kết quả này tương tự với kết quả của Suleiman
và Mathison (1979): bò nuôi trong nhà, hạn chế thức ăn tăng trọng cao hơn bò nuôi ngoài trời lạnh 32% và yêu cầu ít thức ăn hơn 27% cho 1 kg tăng trọng Các nghiên cứu khác thấy tăng trọng và hiệu quả thức ăn bò vỗ béo ngoài trời lạnh mùa đông tăng trọng thấp hơn, FCR cao hơn bò nuôi trong nhà (Milligan and Christison, 1974) Họ thấy bò nuôi trong nhà tăng trong cao hơn bò nuôi ngoài trời lạnh 30%
và sử dụng thức ăn tốt hơn 50% Milligan and Christison (1974) tính được hệ số tương quan giữa tăng trọng và hiệu quả sử dụng thức ăn với nhiệt độ (khi nhiệt độ dưới -30,6 0C) tương ứng là -0,74 và 0,86
Tương tự Bennett and O’Mary (1965) đã thấy tăng trọng ở bò trong nhà cao hơn 34% so với tăng trọng ở bò nuôi ngoài trời lạnh
Trang 27Hidiroglou and Lessard (1971) trong một nghiên cứu đã thấy: FCR của bò là
như nhau nhưng tăng trọng của bò nuôi ở ngoài trời lạnh giảm 31% Muhamed et
al. (1983) thấy tăng trọng của bò là 1,12 và 1,05 kg/ngày cho bò nuôi trong nhà và ngoài trời lạnh mặc dù lượng chất khô ăn vào như nhau Bò đực thiến nuôi trong nhà tăng trọng cao hơn 0,22 kg và FCR tốt hơn (51%) so với bò nuôi ngoài trời lạnh (Delfino and Mathison, 1991)
Gần đây một nghiên cứu lặp lại của Demircan et al (2007) thấy rằng quả
đúng là: bò nuôi trong điều kiện lạnh có tăng trọng thấp hơn so với mùa hè, hiệu quả sử dụng thức ăn cũng kém hơn ở mùa đông so với mùa hè
+ Hàm lượng các hormon, urê huyết
Đáp ứng tăng lượng chất khô thức ăn ăn vào khi stress lạnh liên quan đến hoạt động của tuyến giáp trạng (Gale, 1973) Tăng hoạt động của tuyến giáp trạng làm tăng chuyển động của dạ cỏ dạ múi khế và tăng tốc độ dòng chảy dưỡng chấp
trong đường tiêu hóa (Westra and Chritopherson, 1976; Gonyou et al.,1979)
Không thấy có sự khác biệt về hàm lượng cortisol ở bò nuôi trong nhà và nuôi ngoài trời lạnh chứng tỏ stress lạnh không ảnh hưởng đến hàm lượng Cortisol
(Brougek et al.,1997)
Tăng hàm lượng cortisol thường do nhiệt độ quá lạnh (Stanko et al.,1991) Khuynh hướng là cortisol sẽ giảm sau khi bị lạnh 2h (Stanko et al.,1991) Hàm lượng
cortisol cho bê Brahman bị stress lạnh và bê Brahman bình thường là tương tự nhau
(Stanko et al.,1991) Hàm lượng urê huyết không bị ảnh hưởng bởi tuổi, nhiệt độ (Stanko et al.,1991) Cortisol tăng khi quá lạnh (McEwen, 1998; Lay and Wilson,
2004) nhưng không kéo dài trừ phi gia súc không đáp ứng được hoặc stress do lạnh lặp
lại (Erminio Trevisi et al.,2009) Hàm lượng cortisol cao hơn ở mùa hè (8.91ng/ml) so với mùa đông (1.92ng/ml) (P<0.05) (Chandra Bhan et al.,2012) Cơ chế hoạt động của
Cortisol trong stress do lạnh vẫn chưa được hiểu rõ (Young, 1981) Hàm lượng urê huyết mùa đông (16 mmol/lít) thấp hơn trong mùa hè ở bò tơ HF
Trang 28+ Tập tính
Các nghiên cứu về tập tính ở bò thịt khi bị lạnh chủ yếu tập trung vào tập tính tập tính bú sữa của bê (Cartwright and Carpenter, 1961; Somerville và
Lowman, 1979, Day et al.,1987), tập tính gặm cỏ của bò (Malechek và Smith,
1976; Ferrer Cazcarra và Petit, 1995a; Ferrer Cazcarra and Petit, 1995b; Farruggia
et al.,2006), ảnh hưởng của stress xã hội (bầy đàn) sau khi nhập các nhóm bò khác
nhau vào một nhóm (Mench et al.,1990; Ingrand et al.,1999; Ingrand et al.,2000) và
ảnh hưởng của khu vực chăn thả đến tập tính (Houseal and Olson, 1995; Wassmuth
et al., 1999, Olson et al.,2000; Olson and Wallander, 2002) Hiện rất thiếu các
nghiên cứu về tập tính của bò khi thời tiết lạnh khi nuôi bò thịt trong nhà
Ảnh hưởng lâu dài của lạnh và sự thích ứng (các thay đổi sinh lý để đáp ứng)
có sự tham gia của một tổ hợp các hormon và các thay đổi sinh lý trong cơ thể gia súc Kết quả là sản xuất nhiệt và trao đổi cơ bản tăng lên do đó nhu cầu năng lượng cần cho duy trì tăng lên (Young, 1981) Ảnh hưởng tổng hợp của stress do lạnh là năng suất giảm, hiệu quả sử dụng thức ăn giảm đi (Young, 1981)
Stress do lạnh là một thách thức quan trọng đối với chăn nuôi và phải được giải quyết, để từ đó chúng ta hiểu được tương tác giữa gia súc và môi trường sống của chúng như thế nào Chỉ khi có được các tri thức này chúng ta mới có thể sử dụng các nguồn lợi thông minh và hiệu quả hơn trong sản xuất thịt sữa Stress lạnh thường làm: Tăng lượng thức ăn ăn vào, tăng nhai lại, tăng vận động - chuyển động của đường tiêu hóa, tăng tốc độ dòng chảy của thức ăn và chất dinh dưỡng trong dạ
cỏ xuống các dạ dày và ruột phía dưới, tăng trao đổi cơ bản và nhu cầu duy trì, tăng tiêu thụ ôxy, tăng hàm lượng các hormon: adrenalin, cortisol, giảm dung tích dạ cỏ, giảm tỷ lệ tiêu hóa (Praks, 1997), giảm tăng trọng giảm hiệu quả sử dụng thức ăn
1.4 Tình hình nghiên cứu stress nhiệt trên gia súc nhai lại tại Việt Nam và trên thế giới
1.4.1 Tình hình nghiên cứu stress nhiệt trên gia súc nhai lại trên thế giới
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về stress nhiệt ở bò sữa Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng bò sữa cũng giống như tất cả các động vật có vú khác,
Trang 29có "vùng thoải mái" - hay vùng nhiệt trung tính (khoảng nhiệt độ giữa 5 - 25°C) Khi nhiệt độ cao hơn nhiệt độ cận trên, bò sữa rơi vào trạng thái "thừa nhiệt" và nhiệt độ đo được ở trực tràng lúc đó sẽ vượt qua 102°F (38,9°C), khi đó bò sữa sẽ
cố gắng để thải lượng nhiệt thừa này ra khỏi cơ thể Bò sữa thải nhiệt thông qua 4
cơ chế: dẫn nhiệt, bức xạ, đối lưu, bốc hơi Nếu cơ thể không thải nhiệt kịp thời bò
sữa sẽ lâm vào trạng thái stress nhiệt Mc Dwell et al (1976) đề nghị sử dụng chỉ số
nhiệt ẩm THI để làm chỉ thị về stress nhiệt THI nhỏ hơn hoặc bằng 70 là thích hợp với bò sữa, 75 - 78 là stress, trên 78 là stress nghiêm trọng Khi gia súc lâm vào trạng thái stress nhiệt, cơ thể bò sữa sẽ có những đáp ứng trở lại để duy trì hoạt động cơ thể trong giới hạn sinh lý bình thường Năng suất sữa thấp là ảnh hưởng trực tiếp của nhiệt độ (giảm 15 - 40%) Trong một đàn, năng suất ở bò cao sản giảm nhiều hơn so với ở bò năng suất thấp Nhiều nghiên cứu đã chỉ rõ rằng yếu tố môi trường gây ra khoảng 40% biến động về số lượng thức ăn thu nhận trong mùa hè và khoảng 50% biến động về năng suất sữa trong những điều kiện đó Thành phần casein, tỷ lệ mỡ
sữa giảm khi bò bị stress nhiệt (Kadzere et al., 2002; Srikandakumar, 2004)
Srikandakumar (2004) cũng cho biết stress nhiệt làm tăng nồng độ K+ và Ca2+ huyết
thanh Theo Collier et al (1982), pH dạ cỏ giảm khi bò bị stress nhiệt: nồng độ chất
điện giải trong dịch dạ cỏ, đặc biệt là K+ và Na+ cũng giảm
Stress nhiệt lạnh có thể làm tăng nguy cơ nhạy cảm với một số bệnh cho bê
như là tiêu chảy, viêm phổi, nhiềm trùng rốn (Lanette Butler et al.,2006)
Theo Jeffer Jadebrog (2011), thức ăn thu nhận sẽ tăng và nhu cầu năng lượng sẽ cao hơn để đáp ứng nhu cầu của động vật bị ảnh hưởng bởi thời tiết lạnh Nếu năng lượng không được cung cấp trong điều kiện cực kỳ lạnh, bò sẽ huy động
mỡ trong cơ thể và có thể cả cơ bắp để đáp ứng nhu cầu năng lượng cần thiết cơ bản của mình Nếu điều này xảy ra trong một thời gian dài, bò tiêu thụ tất cả các chất béo cơ thể và một lượng đáng kể của cơ bắp; có thể chết do tác động của stress lạnh Gió và thời tiết lạnh lẽo đóng vai trò lớn trong việc ảnh hưởng nhu cầu năng lượng của động vật Trong chăn nuôi có thể làm giảm ảnh hưởng của gió lạnh bằng cách dùng chắn gió cho gia súc hoặc trong trường hợp tốt nhất, cung cấp một nơi
Trang 30trú ẩn để gia súc được bảo vệ, nhờ đó có thể làm giảm đáng kể tác động của stress lạnh gây ra bởi gió lạnh
Khi nghiên cứu stress lạnh trên bê thịt Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ ước tính hàng năm có khoảng 95000 bê bị chết do ảnh hưởng của tress lạnh và tình trạng hạ
thân nhiệt Còn Kaluyn Water et al (2012) thì cho rằng bê con được sinh ra trong
thời tiết lạnh và đặc biệt là đẻ khó thì rất mẫn cảm với stress lạnh, giảm tỷ lệ sống sót Giải pháp giảm ảnh hưởng của stress lạnh là cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho
bò mẹ, can thiệp kịp thời khi bò khó đẻ, đảm bảo bê sơ sinh có đầy đủ sữa non một cách kịp thời sẽ tăng khả năng cho bê có cơ hội phát triển trong điều kiện lạnh giá Nhận biết các dấu hiệu stress lạnh kịp thời và điều chỉnh phù hợp để giữ ấm cho bê cũng làm tăng tỷ lệ sống sót
Steve Boyles (2013) cho rằng các yếu tố tạo ra stress trong suốt các tháng mùa đông bao gồm có nhiệt độ lạnh, gió, tuyết, bùn Yếu tố đầu tiên được nhắc tới
là ảnh hưởng của nhiệt độ tới vật nuôi Các yếu tố này đã làm thay đổi nhu cầu năng lượng duy trì hàng ngày của vật nuôi Một điều đáng quan tâm là trong khi nhu cầu năng lượng tăng lên thì kéo theo nhu cầu protein cũng tăng lên theo Một
số công bố đã chỉ ra rằng Các nhu cầu ấy của bê thịt có xu hướng tăng về tỷ lệ trong suốt các tháng mùa đông Thậm chí một số báo cáo còn cho rằng vật nuôi cần được cung cấp nhiều thức ăn hơn trong các tháng mùa đông lạnh giá Nước là yếu
tố dinh dưỡng vô cùng quan trọng Nếu nước không được cung cấp đầy đủ bò sẽ giảm lượng thức ăn thu nhận
1.4.2 Tình hình nghiên cứu stress nhiệt trên gia súc nhai lại tại Việt Nam
Ở Việt Nam đến hiện tại chúng ta có rất ít nghiên cứu được thực hiện để tìm
ra giải pháp nhằm giảm thiểu tác động của stress nhiệt đối với bò thịt Đặc biệt là stress nhiệt lạnh đối với bò Có thể vì nhiều lý do khác nhau như: kinh phí, con người, trang thiết bị kỹ thuật, nên mục tiêu này khó đạt được Đinh Văn cải và cs (2001–2003) khi nghiên cứu ảnh hưởng của stress nhiệt lên sinh lý, sinh sản bò lai hướng sữa và bò thuần nhập nội cho thấy khi bò cái đã mang thai từ các nước ôn đới
Trang 31nhập vào các vùng nhiệt đới thì trọng lượng bê sinh ra thấp hơn (17% - 20%) so với các nước chính quốc (do stress vận chuyển, thức ăn, nhiệt độ môi trường thay đổi)
Vũ Chí Cương và cs (2007) khi nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ, ẩm độ, chỉ
số ẩm nhiệt –THI (Temperature humidity index) đến lượng nước uống, lượng thức ăn thu nhận và năng suất, chất lượng sữa của bò lai F1, F2 nuôi tại Ba Vì trong mùa hè Các tác giả đã thấy rằng, nhiệt độ, độ ẩm tương đối, chỉ số ẩm nhiệt đã có ảnh hưởng tiêu cực tới lượng nước thu nhận, vật chất khô thu nhận và sản lượng sữa của bò sữa vào mùa hè Những ảnh hưởng này trên bò F2 trầm trọng hơn so với bò F1
Đặng Thái Hải và cs (2006) đã nghiên cứu ảnh hưởng của stress nhiệt đến một số chỉ tiêu sinh lý, lượng thức ăn thu nhận và nước uống thu nhận trên đàn bò lai F1 (50%HF) nuôi tại Huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây nuôi trong mùa hè Báo cáo đã chỉ ra rằng stress nhiệt có ảnh hưởng tới lượng thức ăn thu nhận và nước uống tiêu thụ, lượng thức ăn thu nhận giảm và lượng nước tiêu thụ tăng
Đặng Thái Hải và cs (2008) đã nghiên cứu ảnh hưởng của stress nhiệt đến một số chỉ tiêu sinh lý trên đàn bò lai hướng sữa nuôi tại Huyện Nghĩa Đàn, Tỉnh Nghệ An nuôi trong mùa hè Báo cáo đã chỉ ra rằng chỉ số nhiệt ẩm THI ở trong chuồng nuôi và môi trường trong thời gian theo dõi ở Nghĩa Đàn, Nghệ An luôn cao hơn 70 Các chỉ tiêu sinh lý khác như thân nhiệt đo tại trực tràng, nhịp tim, nhịp thở đều có tương quan dương với yếu tố stress nhiệt, các chỉ tiêu sinh lý này đều có
xu hướng tăng dần theo thời gian trong ngày và thường cao nhất vào buổi chiều Ảnh hưởng của stress nhiệt đến các chỉ tiêu sinh lý này ở bò F2 có xu hướng cao hơn bò F1
Các nghiên cứu trước đây chỉ chủ yếu tập trung vào đối tượng là con bò sữa Hiện tại ở nước ta chưa có một nghiên cứu nào chi tiết về stress nhiệt trên bê thịt, đặc biệt là stress nhiệt lạnh trên bê thịt để định hướng cho phát triển chăn nuôi trong mùa đông Do vậy việc khuyến cáo phương pháp làm giảm tác động của stress lạnh trên trâu bò vụ đông gặp rất nhiều khó khăn
Từ yêu cầu cấp bách của thực tiễn đặt ra cho chúng ta cần có các nghiên cứu
để xác định ảnh hưởng của stress nhiệt lạnh tới động vật nhai lại nói chung, bê nuôi
Trang 32thịt nói riêng Nghiên cứu sẽ giúp chúng ta biết được stress lạnh có tác động như thế nào tới bê nuôi thịt, từ đó đưa ra được các biện pháp nhằm hạn chế sự ảnh hưởng bất lợi của stress lạnh
1.5 Những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu này
Ảnh hưởng của stress do nhiệt độ thấp trên bò Bos indicus chưa từng được
nghiên cứu tại Việt nam Vì lý do trên việc tiến hành nghiên cứu này là hết súc cấp bách và là một đòi hỏi cả về khoa học và thực tiễn Tuy nhiên vì đây là một nghiên cứu mới lại khá hạn chế về kinh phí nên chỉ tập trung được ở hai nhiệt độ 100C và
40C và chỉ tập trung nghiên cứu trong phòng thí nghiệm: phòng thí nghiệm khí hậu học (climatic room) có buồng hô hấp (respiration chamber) đặt ở trong Thí nghiệm này mới chỉ tiến hành tìm hiểu ảnh hưởng của hai nhiệt độ và ba mức ăn (khẩu phần) đến lượng thức ăn ăn vào, tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng, trao đổi năng lượng, giá trị năng lượng của khẩu phần, hàm lượng urê trong máu và một số thay đổi tập tính trong điều kiện có kiểm soát Ngoài ra, một thí nghiệm ở 200C và sau
đó xác định nhiệt sản xuất ra trong điều kiện đói cũng được tiến hành để có tài liệu tham khảo
Trang 33Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này gồm ba giai đoạn thí nghiệm được tiến hành trong phòng khí
hậu học, có buồng trao đổi chất đặt trong phòng
2.1 Nội dung nghiên cứu
Giai đoạn 1: Xác định lượng thức ăn ăn vào, tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng, trao đổi năng lượng và giá trị năng lượng của khẩu phần, hàm lượng urê trong máu và một số thay đổi tập tính ở nhiệt độ 200C
Giai đoạn 2 và 3: Xác định ảnh hưởng của nhiệt độ thấp (100C, 40C) và mức dinh dưỡng (khẩu phần ăn) đến lượng thức ăn ăn vào, tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng, trao đổi năng lượng, giá trị năng lượng của khẩu phần, hàm lượng urê trong máu và một số thay đổi tập tính, tăng trưởng của động vật thí nghiệm
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu
+ Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: tại Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn vật nuôi, Viện Chăn nuôi Quốc gia
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 06/2014 đến tháng 4/2015
+ Đối tượng nghiên cứu
Ba khẩu phần ăn: dưới mức duy trì (A), mức duy trì (B) và cao hơn mức duy trì (C)
Gia súc và thiết kế thí nghiệm:
Sáu bê đực giống bò Vàng Việt nam, có lứa tuổi 9 – 10 tháng tuổi, khối lượng bình quân 153 kg, mua từ Thanh Hóa, sau thời gian thích nghi 1 tháng được sử dụng trong một thí nghiệm thiết kể kiểu hoán vị (Cross over hay Change over hay Carry-over design) (Olsson and Engstrand, 2002) (Bảng 2.1.) Được thực hiện trên cùng một nhóm 6 bê đực ở các giai đoạn khác nhau
Thí nghiệm được tiến hành theo 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn 6 tuần và được lặp lại
3 lần sao cho mỗi gia súc được sử dụng lần lượt hết 3 khẩu phần, 3 nhiệt độ thí nghiệm Trong mỗi đợt thí nghiệm có hai ngày gia súc vẫn ăn uống và theo dõi bình thường
Trang 34nhưng chúng ở trong buồng hô hấp để đo trao đổi năng lượng, sau mỗi lần lặp lại hoặc chuyển sang giai đoạn khác, gia súc có thời gian chuyển tiếp giai đoạn 7 ngày
Sơ đồ bố trí thí nghiệm được thể hiện ở bảng 2.1
4 0 C hoặc 10 0 C hoặc 20 0 C
+ Thức ăn và khẩu phần
Khẩu phần ăn cho bò hay mức ăn A, B, C được xác định dựa trên nhu cầu duy trì của Kearl (1982), INRA (1989) và NRC (2000): 0,5 MJ ME/kgBW0,75 (ME: Matabolisable energy – Năng lượng trao đổi; BW0,75: Metabolic body weight - Khối lượng trao đổi) Cách tính toán như sau: nhu cầu duy trì cho bò = khối lượng trao đổi của bò (kg BW0,75) x 0,5 MJ ME/ngày Với mục tiêu nghiên cứu ảnh hưởng của mức ăn hay khẩu phần đến các bê thí nghiệm chúng tôi lấy khẩu phần A = 90% nhu cầu duy trì, B = 100 % nhu cầu duy trì và C = 110 % nhu cầu duy trì để làm thí nghiệm Thức ăn để thiết lập khẩu phần là rơm và thức ăn tinh BS 18 – Công ty