Trong những năm qua, hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp ở Hà Nội đã đạt được một số kết quả nhất định như tổ chức bộ máy quản lý chặt chẽ, gọn nhẹ hơn trước; hoạt động trong các ng
Trang 1
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-
NGUYỄN THÚY ANH
NGHIÊN CỨU TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HỢP TÁC
XÃ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐÔNG ANH,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI , NĂM 2015
Trang 2
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-
NGUYỄN THÚY ANH
NGHIÊN CỨU TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HỢP TÁC
XÃ NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐÔNG ANH,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm
Tác giả luận văn
Nguyễn Thúy Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể và cá nhân Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến những cá nhân và tập thể đó
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo hướng dẫn, PGS.TS Phạm Bảo Dương, người đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy cô giáo Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể UBND và người dân tại các xã trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu để nghiên cứu luận văn văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn tới những người thân và bạn bè đã động viên, khích
lệ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Hà Nội, ngày tháng năm
Học viên
Nguyễn Thúy Anh
Trang 5
MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục bảng vii
Danh mục sơ đồ, đồ thị ix
Danh mục hộp x
Danh mục chữ viết tắt xi
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 3
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
2.1 Cơ sở lý luận về tổ chức hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp 5
2.1.1 Hợp tác xã 5
2.1.2 Hợp tác xã nông nghiệp 7
2.1.3 Tổ chức và hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp 9
2.1.4 Nội dung nghiên cứu về tổ chức hoạt động của HTXNN 15
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp 16
2.2 Cơ sở thực tiễn về tổ chức hoạt động của HTXNN 19
2.2.1 Tình hình tổ chức và hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp ở một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm 19
Trang 62.2.2 Tình hình tổ chức và hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp ở Việt
Nam và bài học kinh nghiệm 27
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 30
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 30
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 31
3.2 Phương pháp nghiên cứu 38
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 38
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 40
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 41
3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 41
3.2.5 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá 41
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44
4.1 Khát quát thực trạng hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội 44
4.2 Thực trạng tổ chức hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Đông Anh 46
4.2.1 Tổ chức HTXNN trên địa bàn huyện Đông Anh 46
4.2.2 Hoạt động của HTXNN trên địa bàn huyện Đông Anh 59
4.2.3 Đánh giá công tác tổ chức, quản lý và hoạt động của HTXNN trên địa bàn huyện Đông Anh 73
4.2.4 Ưu và nhược điểm trong công tác tổ chức hoạt động của HTXNN và khả năng phát triển loại hình HTXNN trên địa bàn huyện Đông Anh 82
4.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức hoạt động của HTXNN trên địa bàn huyện Đông Anh 85
4.3.1 Chính sách của Nhà nước và địa phương về hỗ trợ phát triển HTX 85
4.3.2 Sự quan tâm của chính quyền địa phương 87
4.3.3 Nhu cầu và nhận thức, hiểu biết của người dân về HTXNN 90
4.3.4 Yếu tố cán bộ quản lý HTXNN 93
4.3.5 Sự phối kết hợp giữa các cấp trong phát triển hợp tác xã 96
Trang 74.4 Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác tổ chức và nâng cao hiệu
quả hoạt động của HTXNN trên địa bàn huyện 96
4.4.1 Hoàn thiện, tăng cường thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển HTX 96
4.4.2 Nâng cao sự quan tâm của CQĐP trong hỗ trợ phát triển HTX 98
4.4.3 Đẩy mạnh quy hoạch vùng sản xuất 99
4.4.4 Đổi mới và nâng cao nhận thức, hiểu biết của người dân về vai trò, bản chất của HTX 99
4.4.5 Đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ HTX100 4.4.6 Tăng cường sự phối kết hợp giữa các cấp, các ngành trong thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển HTX 101
PHẦN V KẾT LUẬN………… ………95
5.1 Kết luận……… 95
5.2 Kiến nghị……… 95
5.2.1 Đối với cấp ủy Đảng, Nhà nước 104
5.2.2 Đối với chính quyền địa phương 104
5.2.3 Đối với các HTX 104
5.2.4 Đối với các hộ nông dân, hộ xã viên 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 8DANH MỤC BẢNG
2.1 So sánh HTX NN kiểu cũ và HTXNN kiểu mới 12
3.2 Tình hình dân số và lao động huyện Đông Anh qua 3 năm (2012 - 2014) 35 3.3 Cơ cấu kinh tế của huyện Đông Anh giai đoạn 2012-2014 37
3.4 Đối tượng và nội dung điều tra về HTXNN 39
3.5 Thông tin số liệu thu thập và nguồn thu thập 40
4.1 Số lượng HTX trước và sau khi có Luật HTX đổi mới 45
4.2 Đánh giá, phân loại HTX theo tiêu chí của Liên minh HTX 45
4.3 Số lượng thành viên trong bộ máy quản lý HTXNN 51
4.4 Số lượng tổ, nhóm dịch vụ của HTXNN 52
4.5 Tình hình vốn sử dụng của các HTXNN năm 2014 55
4.6 Quy mô xã viên và tỷ lệ xã viên sử dụng dịch vụ của HTXNN 56
4.7 Phân công công việc đối với các tổ, nhóm dịch vụ HTXNN 58
4.8 Một số hoạt động dịch vụ của các HTXNN đa ngành 59
4.9 Công tác thủy nông ở các HTXNN đa ngành 61
4.10 Lượng vật tư nông nghiệp cung ứng bình quân/năm của HTX 62
4.11 Hoạt động dịch vụ chuyển giao KHKT của HTX năm 2014 63
4.12 Lượng sản phẩm bao tiêu bình quân/năm của HTX 65
4.13 Tỷ lệ xã viên sử dụng các dịch vụ của HTXNN đa ngành 66
4.14 Lượng nhập giống đầu vào của các HTX đơn ngành 68
4.15 Mức tiêu thụ sản phẩm của các HTX đơn ngành 69
4.16 Kết quả sản xuất kinh doanh của các HTX năm 2014 71
4.17 Hoạt động của các HTXNN trên địa bàn huyện Đông Anh 72
4.18 Đánh giá của xã viên về công tác quản lý của HTXNN 73
4.19 Đánh giá của xã viên về mức độ đáp ứng dịch vụ các HTXNN đa ngành 77 4.20 Đánh giá của xã viên về chất lượng quy trình hoạt động các HTXNN đơn ngành 78
4.21 Đánh giá lợi ích mang lại cho xã viên HTX 79
Trang 94.22 Ưu điểm và nhược điểm đối với mỗi loại hình HTXNN 82
4.23 Mức độ ảnh hưởng của các chính sách đối với công tác tổ chức, quản lý và hoạt động của HTXNN 85
4.24 Mối quan hệ trong công tác quản lý của HTX với CQĐP 88
4.25 Nhu cầu của xã viên đối với các hoạt động dịch vụ của HTXNN 91
4.26 Trình độ học vấn, chuyên môn của xã viên HTXNN 92
4.27 Kinh nghiệm trong quản lý của cán bộ HTX 93
4.28 Mức độ quan trọng của việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ HTX 96
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức hợp tác xã nông nghiệp 11
Sơ đồ 2.2 Mô hình hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới 13
Sơ đồ 4.1 Sơ đồ bộ máy quản lý HTXNN trên địa bàn huyện Đông Anh 48
Sơ đồ 4.2 Tổ chức theo các tổ dịch vụ của HTX SX DVNNTH Đông Hội 53
Sơ đồ 4.3 Tổ chức theo các nhóm SX &TT của HTXSX&TTRAT Đạo Đức 54
Sơ đồ 4.4 Quy trình chuỗi giá trị khép kín trong hoạt động của HTX đơn ngành 67
Số đồ thị Tên đồ thị Trang Đồ thị 4.1 Đánh giá lợi ích mang lại cho xã viên HTXNN 80
Đồ thị 4.2 Mức thù lao bình quân của cán bộ HTXNN 95
Trang 11DANH MỤC HỘP
4.1 Ý kiến của xã viên về công tác quản lý của HTXNN 75 4.2 Ý kiến của cán bộ HTX về quản lý của chính quyền địa phương 90 4.3 Ý kiến của xã viên về nhận thức đối với HTX 92
Trang 12DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
SX&TT Sản xuất và tiêu thụ
Trang 13Trong những năm qua, hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp ở Hà Nội
đã đạt được một số kết quả nhất định như tổ chức bộ máy quản lý chặt chẽ, gọn nhẹ hơn trước; hoạt động trong các ngành, lĩnh vực đã có chuyển biến và tạo ra bước phát triển mới; từng HTX có điều lệ phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ riêng Tình hình tài chính của các HTX cũng đã có sự phân định rõ ràng; thu hút, giải quyết việc làm và thu nhập ổn định cho hàng trăm ngàn xã viên và lao động; tham gia thực hiện các chương trình xóa đói giảm nghèo, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn và từng bước tham gia các chương trình xã hội hóa trong phát triển kinh tế, xã hội của thủ đô Hà Nội
Trong xu thế phát triển chung của Hà Nội, thời gian qua, các cấp ủy và chính quyền huyện Đông Anh đã quan tâm vận động phát triển HTX, đã đẩy mạnh các
Trang 14mặt phối hợp hoạt động với Liên minh HTX Thành phố và Chi cục PTNT Hà Nội Mặc dù các HTX được huyện đánh giá có đóng góp không nhỏ phát triển kinh tế địa bàn, giữ vững vai trò hỗ trợ kinh tế hộ và ổn định đời sống xã hội, nhưng chất lượng hoạt động của các HTX ở Đông Anh chưa thoát khỏi cảnh yếu kém kéo dài Cụ thể, với loại hình phổ biến ở Đông Anh là HTXNN, hầu như các HTX đều đã chuyển đổi mô hình tổ chức quản lý theo Luật HTX 2003, có bổ sung thêm ngành nghề kinh doanh Nhưng thực tế đến nay, các khâu dịch vụ HTX vẫn mang nặng tính phục vụ, chủ yếu dịch vụ truyền thống cũ mà chưa bứt phá tìm kiếm dịch vụ có lợi nhuận Đa số các HTX "tự" bó hẹp hoạt động trong nông nghiệp Số ít HTX hoạt động trên lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nhưng quy mô nhỏ, vốn nghèo
Phân loại HTX nông nghiệp hoạt động ở Đông Anh theo tiêu chí của Liên minh HTX thành phố Hà Nội, hầu hết các HTX đều ở mức khá và trung bình, bên cạnh các HTXNN quy mô toàn xã cung cấp các khâu dịch vụ cho xã viên, điểm sáng đáng kể đó là các HTX chuyên ngành trong từng xã có quy mô nhỏ theo thôn, với số lượng xã viên còn thấp nhưng đã có những đổi mới trong phương thức tổ chức, hoạt động nên đạt được những kết quả bước đầu
Từ những vấn đề nêu trên, câu hỏi đặt ra đó là: Thực trạng tổ chức hoạt động của HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện đã thực sự có hiệu quả chưa? Mô hình hoạt động của HTXNN đã thực sự thiết thực với nhu cầu của người dân chưa? Cần
có phương thức đổi mới như thế nào để HTX nói chung và HTX nông nghiệp nói riêng trên địa bàn huyện có thể được mở rộng và phát triển?
Từ những vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tổ chức hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố
Hà Nội” Đồng thời đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức, quản lý và hoạt
động của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức, quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Đông Anh
Trang 151.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu thực trạng tổ chức và hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện trong thời gian tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tổ chức và hoạt động của HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện Đông Anh – thành phố Hà Nội
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của HTXNN trên địa bàn huyện Đông Anh – thành phố Hà Nội
- Phạm vi thời gian:
+ Nghiên cứu thực trạng: từ năm 2012 đến năm 2015
+ Phương hướng, giải pháp đến năm 2020
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
- Hợp tác xã nói chung và HTX nông nghiệp nói riêng đóng vai trò như thế nào đối với sự phát triển chung của huyện?
Trang 16- Hiện nay, HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện được tổ chức và hoạt động
theo những loại hình nào? Hiệu quả đem lại từ loại hình hoạt động của HTX nông nghiệp như thế nào?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến tổ chức hoạt động của HTX nông nghiệp
tại huyện Đông Anh?
- Để hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX nông nghiệp trên địa bàn huyện Đông Anh cần phải có những giải pháp gì?
Trang 17PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận về tổ chức hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp
2.1.1 Hợp tác xã
2.1.1.1 Một số khái niệm về hợp tác xã
Theo Liên minh HTX quốc tế (International Cooperative Alliance - ICA):
“HTX là một tổ chức tự trị của những người tự nguyện liên hiệp lại để đáp ứng các
nhu cầu và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hóa thông qua một
xí nghiệp cùng sở hữu và quản lý dân chủ” Năm 1995, định nghĩa này được hoàn
thiện thông qua tuyên bố: "HTX dựa trên ý nghĩa tự cứu giúp mình, tự chịu trách
nhiệm, bình đẳng, công bằng và đoàn kết Theo truyền thống của những người sáng lập ra HTX, các xã viên HTX tin tưởng vào ý nghĩa đạo đức về tính trung thực, cởi
mở, trách nhiệm xã hội và quan tâm chăm sóc người khác" Định nghĩa của ICA đề
cập đến yếu tố chính của HTX là tính tự nguyện của các thành viên tham gia HTX thực sự phải hình thành từ sự tin tưởng vào sự giúp đỡ lẫn nhau chứ không phải dựa trên mệnh lệnh, trên sự cưỡng ép Trong HTX thực sự, xã viên tự nguyện gia nhập
và có quyền tự do rời bỏ HTX Ngược lại, sẽ là những HTX gượng ép
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “HTX là sự liên kết của những người
đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên kết nhau lại trên
cơ sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài sản mà họ đã chuyển giao vào HTX phù hợp với các nhu cầu chung và giải quyết những khó khăn đó chủ yếu bằng sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bằng cách sử dụng các chức năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác, phục vụ cho lợi ích vật chất và tinh thần chung” Bộ
Nông nghiệp Hoa Kỳ cho rằng: HTX là cơ sở kinh doanh do những người sử dụng
tự làm chủ và tự quản lý, lợi nhuận được chia dựa trên cơ sở của việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ Định nghĩa này nhấn mạnh đến 3 nguyên tắc chung của HTX, đó là:
xã viên tự làm chủ, tự quản lý và phân chia lợi nhuận theo mức độ sử dụng hàng hóa, dịch vụ của xã viên
Trang 18Theo Luật HTX được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
thông qua năm 2003, "HTX là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình,
pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra.” Theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của
từng xã viên tham gia HTX, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách
pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của HTX theo quy định của pháp luật."
Theo Điều 3 Luật HTX được thông qua năm 2012: “Hợp tác xã là tổ chức
kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ,
tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã.”
2.1.2.1 Đặc điểm của hợp tác xã
HTX là tổ chức kinh tế tập thể Các xã viên là chủ của hợp tác xã, toàn quyền quyết định những vấn đề tổ chức, hoạt động và phân phối lợi ích trong hợp tác xã trên cơ sở những quy định của Luật Hợp tác xã và những văn bản có liên quan;
- Hợp tác xã có thể được thành lập khi có số lượng xã viên từ 7 trở lên, được đăng ký và hoạt động tất cả các ngành, nghề mà pháp luật không cấm;
- Hợp tác xã có tư cách pháp nhân, hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, bình đẳng với các doanh nghiệp khác Hợp tác xã tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích lũy và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật;
- Hợp tác xã là tổ chức mang tính xã hội, rộng mở cho tất cả những ai có nguyện vọng trở thành thành viên hợp tác xã Hợp tác xã ra đời dựa trên nguyên tắc dân chủ, bình đẳng, công khai và đoàn kết, mỗi xã viên có 1 phiếu bầu;
- Mục tiêu hoạt động của hợp tác xã là mang lại lợi ích vật chất và tinh thần cho tất cả các xã viên, tập thể và cộng đồng; Xã viên có trách nhiệm và nghĩa vụ tuân thủ, thực hiện tốt những quy định trong Điều lệ của hợp tác xã (Cẩm nang hợp tác xã năm 2012)
Trang 192.1.2 Hợp tác xã nông nghiệp
2.1.2.1 Khái niệm
Theo Nghị định số 43/1997/NĐ-CP của ngày 29/4/1997, tại Điều 1, chương
1 của Điều lệ mẫu HTX Nông nghiệp của Việt Nam đã ghi rõ: “Hợp tác xã nông
nghiệp là tổ chức kinh tế tập thể do nông dân, hộ gia đình nông dân có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật Hợp tác xã để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh nông nghiệp và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.”
Như vậy, hợp tác xã nông nghiệp là hợp tác xã hoạt động trong nông nghiệp, được thành lập bới những thể nhân và pháp nhân tự nguyện góp vốn và công sức nhằm giúp nhau thỏa mãn lợi ích chung trong lĩnh vực nông nghiệp
2.1.2.2 Đặc điểm của hợp tác xã nông nghiệp
- Hợp tác xã nông nghiệp là một tổ chức kinh tế hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp:
+ Được thành lập để tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nông nghiệp;
+ Là một tổ chức kinh tế của nông dân, có đặc trưng gắn với hộ nông dân
- Hợp tác xã nông nghiệp là tổ chức kinh tế mang tính xã hội cao:
+ HTX nông nghiệp trước hết là để đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng của nông dân về sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nông nghiệp;
+ Nông dân gia nhập hợp tác xã vì họ cần được hợp tác xã phục vụ, cần hợp tác
xã trợ giúp những việc mà họ không thể tự làm hoặc làm một mình không có hiệu quả, khắc phục được những nhược điểm và hạn chế khi sản xuất kinh doanh đơn lẻ;
+ Hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nông nghiệp của hợp tác xã chỉ là công cụ nhằm làm tăng thêm lợi ích, hiệu quả sản xuất kinh doanh của hộ nông dân; + Mục tiêu của hợp tác xã là phục vụ nhu cầu, lợi ích chung của xã viên, không phải vì lợi nhuận Như vậy, hợp tác xã là một tổ chức kinh tế mang tính hợp tác có tính
xã hội sâu sắc, hỗ trợ các hộ nông dân tăng cạnh tranh trong kinh tế thị trường;
+ Hợp tác xã là một tổ chức dân chủ, xã hội cao của nông dân, trong đó các thành viên được bình đẳng, phát huy vai trò của cộng đồng dân cư nông nghiệp trong quản lí xã hội, kinh doanh
Trang 20- Đối tượng tham gia hợp tác xã bao gồm tất cả những người nông dân, hộ nông dân và pháp nhân Khi tham gia hợp tác xã, xã viên hợp tác xã bắt buộc phải góp vốn, còn việc góp sức là tuỳ thuộc vào từng loại hình hợp tác xã, vào yêu cầu của hợp tác xã và nguyện vọng của xã viên, không bắt buộc xã viên phải góp sức
- Việc thành lập hợp tác xã dựa trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện xuất phát từ nhu cầu, lợi ích chung, các thành viên liên kết lại với nhau để phát huy sức mạnh tập thể của từng thành viên, cùng giúp đỡ lẫn nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của từng thành viên
- Hợp tác xã có tư cách pháp nhân và chỉ chịu trách nhiệm trả nợ trong giới hạn vốn điều lệ, vốn tích lũy và các nguồn vốn khác của hợp tác xã tại thời điểm tuyên bố phá sản xã viên cũng chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ trong phạm vi vốn góp của mình (Cẩm nang hợp tác xã năm 2012)
2.1.2.3 Vai trò của hợp tác xã nông nghiệp trong thời kỳ đổi mới
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, phong trào hợp tác xã nông nghiệp trải qua những thăng trầm, nhưng luôn giữ vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân, đóng góp quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước Kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, hợp tác xã dần chuyển từ sản xuất tập trung sang mô hình cung cấp dịch vụ đầu vào, đầu ra cho bà con xã viên và
có những vai trò sau đây đối với nông nghiệp, nông thôn và nông dân:
- Hợp tác xã nông nghiệp góp phần thúc đẩy kinh tế hộ phát triển, giúp nhau tăng sức cạnh tranh, khai thác các nguồn tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật để phát triển, góp phần thúc đẩy quá trình xã hội hoá sản xuất, thực hiện tốt vai trò là cầu nối giữa các hộ sản xuất, xã viên với nhà nước và các tổ chức kinh tế nhà nước;
- Hợp tác xã nông nghiệp góp phần đưa tiến bộ khoa học, công nghệ, thiết bị
kỹ thuật hiện đại tới người nông dân trong các khâu sản xuất nông nghiệp và nông thôn; phát triển và mở rộng các hoạt động dịch vụ và hệ thống khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công và khuyến thương; đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và thực hành nông nghiệp cho lao động nông nghiệp, nông thôn; tổ chức thực hiện việc phổ cập thông tin khoa học - kỹ thuật và thông tin thị trường đến các xã, thôn;
- Hợp tác xã nông nghiệp góp phần đưa tiến bộ khoa học, công nghệ, thiết bị
kỹ thuật hiện đại tới người nông dân trong các khâu sản xuất nông nghiệp và nông thôn; phát triển và mở rộng các hoạt động dịch vụ và hệ thống khuyến nông, khuyến
Trang 21lâm, khuyến ngư, khuyến công và khuyến thương; đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và thực hành nông nghiệp cho lao động nông nghiệp, nông thôn; tổ chức thực hiện việc phổ cập thông tin khoa học - kỹ thuật và thông tin thị trường đến các xã, thôn;
- Hợp tác xã phát triển sẽ tạo ra nhiều chỗ làm việc, góp phần giải quyết công
ăn, việc làm, tăng thu nhập và bảo đảm đời sống ổn định cho xã viên và người lao động, giải quyết nhiều vấn đề kinh tế - xã hội ở địa phương, là tiền đề quan trọng để thực hiện dân chủ hoá và nâng cao văn minh ở nông thôn; các hợp tác xã phát huy tinh thần tương thân, tương ái, đoàn kết hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau để vượt nghèo, góp phần làm giảm bớt những mặt tiêu cực của kinh tế thị trường và ổn định xã hội ở nông thôn;
- Hợp tác xã nông nghiệp góp phần quan trọng vào việc nâng cấp và phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn: hệ thống điện, thuỷ lợi, giao thông nông thôn, các công trình phúc lợi xã hội, như nhà mẫu giáo, nhà trẻ, nhà văn hoá, trường học để phục vụ cho xã viên và cộng đồng dân cư (Cẩm nang hợp tác xã năm 2012)
2.1.3 Tổ chức và hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp
Theo quy định tại Luật Hợp tác xã năm 2012, hợp tác xã nông nghiệp được
tổ chức và hoạt động theo 7 nguyên tắc cơ bản như sau:
a Tự giúp đỡ lẫn nhau; tự chịu trách nhiệm; tự kiểm soát
b Quản lý dân chủ, mỗi thành viên bình đẳng có phiếu bầu như nhau
c Bản chất kép: Thành viên vừa là chủ sở hữu HTX vừa là khách hàng sử dụng sản phẩm, dịch vụ nông nghiệp của HTX
d Thị trường kép: Thị trường bên ngoài vừa là thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của chính các thành viên HTX, còn thị trường bên trong là dịch vụ HTX cung cấp cho các thành viên, các thành viên độc lập sản xuất kinh doanh bằng tư liệu sản xuất, đất đai, nhà xưởng, vốn liếng của mình; họ chỉ góp một phần vốn không quá 20 % tổng số vốn điều lệ để HTX hoạt động và cung cấp dịch vụ đầu vào
và tiêu thụ đầu ra cho họ
e Sở hữu kép và hạch toán kép: Các thành viên sở hữu tài sản của mình để sản xuất, kinh doanh đồng thời sở hữu một phần trong tài sản, lợi nhuận của HTX HTX khi cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho thành viên có nhu cầu để trang trải chi phí, duy trì hoạt động cho bộ máy như tiền lương, thù lao của bộ máy quản lý, tiền lương của giám đốc, phó giám đốc (nếu có) và của người lao động, trích lập các quỹ, phân phối
Trang 22lợi nhuận cho thành viên qua việc sử dụng sản phẩm dịch vụ và vốn góp
Trong khi đó, các thành viên do có tài sản riêng và sản xuất kinh doanh riêng nên phải tự hạch toán, tự mình lời ăn lỗ chịu về hoạt động riêng của mình Có thể xảy ra các trường hợp: HTX và thành viên HTX cùng lãi, cũng lỗ; HTX lãi, thành viên lỗ; HTX lỗ, thành viên lãi Vì vậy khi đánh giá hiệu quả kinh tế của kinh tế tập thể phải đánh giá đóng góp của HTX đồng thời đánh giá hiệu quả của kinh tế cá thể,
hộ gia đình tham gia HTX
f Kết nạp rộng rãi thành viên (nguyên tắc mở): Trong Luật HTX năm 2012 chỉ quy định HTX thành lập khi có ít nhất 7 thành viên mà không quy định tối đa Như vậy, tùy theo tình hình và khả năng thực tế mà các HTX có thể mở rộng kết nạp thành viên, tăng lượng vốn góp, mức sử dụng dịch vụ càng lớn và thị trường càng mở rộng
g Quan tâm giáo dục, bồi dưỡng, cung cấp thông tin cho thành viên, hợp tác
và chăm lo phát triển cộng đồng (Luật Hợp tác xã 2012)
2.1.3.1 Cơ cấu tổ chức của hợp tác xã nông nghiệp
Theo Luật HTX năm 2012 của Chính phủ, cơ cấu tổ chức hợp tác xã bao gồm:
1/ Đại hội thành viên
- Đại hội thành viên có quyền quyết định cao nhất của HTX Đại hội thành viên gồm: Đại hội thành viên thường niên và đại hội thành viên bất thường Đại hội thành viên được tổ chức dưới hình thức đại hội toàn thể hoặc đại hội đại biểu HTX, liên hiệp HTX có 100 thành viên, hợp tác xã thành viên trở lên có thể tổ chức đại hội đại biểu thành viên
2/ Hội đồng quản trị - cơ quan quản lý
Hội đồng quản trị HTX là cơ quan quản lý HTX do hội nghị thành lập hoặc đại hội thành viên bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo thể thức bỏ phiếu kín Hội đồng quản trị gồm chủ tịch và thành viên, số lượng thành viên hội đồng quản trị do điều
lệ quy định nhưng tối thiểu là 03 người, tối đa là 15 người Nhiệm kỳ của hội đồng quản trị HTX do điều lệ HTX quy định, tối thiểu là 02 năm, tối đa là 05 năm
3/ Giám đốc (tổng giám đốc) – cơ quan điều hành
Giám đốc (tổng giám đốc) là người điều hành hoạt động của HTX
4/ Ban kiểm soát, kiểm soát viên
Ban kiểm soát, kiểm soát viên hoạt động độc lập, kiểm tra và giám sát hoạt động của HTX theo quy định của pháp luật và điều lệ Ban kiểm soát hoặc kiểm
Trang 23soát viên do đại hội thành viên bầu trực tiếp trong số thành viên, đại diện hợp tác xã thành viên theo thể thức bỏ phiếu kín Số lượng thành viên ban kiểm soát do đại hội thành viên quyết định nhưng không quá 07 người (Luật Hợp tác xã 2012)
Cơ cấu tổ chức của hợp tác xã nông nghiệp được cụ thể hóa theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức hợp tác xã nông nghiệp
2.1.3.2 Hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp
Hiện nay, theo Luật Hợp tác xã mới ban hành, các hợp tác xã nông nghiệp thực hiện chuyển đổi hoạt động theo mô hình hợp tác xã kiểu mới có nhiều sự khác biệt so với hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ Bản thân các hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ trong quá trình tìm kiếm mô hình tổ chức, quản lý và hoạt động cho phù hợp với hoàn cảnh mới nhưng do có nhiều quan điểm và nhận thức khác nhau về
mô hình hợp tác xã kiểu mới, nên quan điểm chỉ đạo cũng như cách thức triển khai thực hiện các mô hình cũng khác nhau, chưa hoàn toàn đúng với các chuẩn mực, bản chất và giá trị cũng như các nguyên tắc hoạt động của hợp tác xã Về cách thức quản lý và phương thức tổ chức hoạt động giữa hợp tác xã kiểu cũ và hợp tác xã kiểu mới có nhiều sự đổi mới về nội dung và quy mô thực hiện Cụ thể như sau:
Chủ tịch HĐQT Các ủy viên
Các bộ phận
Tổ chuyên môn
Lao động
Nhân viên
Tổ chuyên môn
Lao động
Lao
Xã viên
Trang 24Bảng 2.1 So sánh HTX NN kiểu cũ và HTXNN kiểu mới
1 Xã viên
2 Sở hữu
- Sở hữu cá nhân không được thừa
nhận Chỉ thừa nhận sở hữu về tư liệu
sản xuất (người nông dân vào hợp tác
xã phải góp ruộng đất, trâu bò, công cụ
- Sở hữu cá nhân: ruộng đất, trâu bò, công cụ sản xuất của cá nhân xã viên
3 Quan hệ giữa xã viên với HTX
Xã viên là người lao động làm công
cho HTX
- Quan hệ giữa xã viên và hợp tác xã là quan
hệ bình đẳng, tự nguyện cùng có lợi và cùng chịu rủi ro trong sản xuất kinh doanh;
- Hộ xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ: tự điều hành lao động của gia đình, tự quyết định bố trí sản xuất cây trồng, vật nuôi, tự mua vật tư đầu vào sản xuất theo cơ chế thỏa thuận với HTX
4 Quan hệ giữa HTX và nhà nước
Hoạt động SXKD của HTX chịu sự chỉ
huy theo kế hoạch của nhà nước
- Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động của hợp tác xã;
- Hợp tác xã là tổ chức kinh tế độc lập, tự chủ,
có tư cách pháp nhân, bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, SXKD
5 Phân phối thu nhập
Phân phối thu nhập mang nặng tính
bình quân, bao cấp, chủ yếu theo công
6 Quy mô và phạm vi hoạt động
- Giới hạn trong địa giới thôn, xã hoặc
liên xã
- Canh tác nông nghiệp tập trung trong
nông nghiệp
- Không giới hạn về địa giới hành chính;
- Tập trung làm dịch vụ cho hộ xã viên với quy
mô, lĩnh vực hoạt động linh hoạt tùy theo trình độ phát triển, đặc điểm của từng vùng, từng ngành
Trang 25Có thể khái quát mô hình hoạt động HTXNN kiểu mới theo lược đồ như sau:
Sơ đồ 2.2 Mô hình hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới
(Nguồn: Cẩm nang hợp tác xã 2012) 2.1.3.3 Các loại hình hợp tác xã nông nghiệp hiện nay
a Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
Về mặt hình thức, đây là tổ chức kinh tế trong nông nghiệp được tách hẳn để làm chức năng dịch vụ nông nghiệp, bao gồm: dịch vụ các yếu tố đầu vào (các HTX cung ứng vật tư), dịch vụ các khâu cho sản xuất nông nghiệp (các HTX làm đất, tưới nước, bảo vệ thực vật,…), dịch vụ quá trình tiếp theo của sản xuất nông nghiệp
HTX chỉ cung cấp cho xã viên hoặc có một phần cung cấp cả cho thị trường bên ngoài xã viên Góp vốn
Trang 26(các HTX chế biến và tiêu thụ sản phẩm) Về thực chất các HTX loại này được tổ chức với mục đích phục vụ cho khâu sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân Vì vậy, sự ra đời của các HTX dịch vụ hoàn toàn xuất phát từ các yêu cầu khách quan của sản xuất nông nghiệp Trong đó đặc điểm sản xuất của ngành, trình độ sản xuất
của các hộ nông dân chi phối một cách trực tiếp nhất
Mô hình kinh tế hợp tác dưới dạng các HTX dịch vụ là hình thức thích hợp và phổ biến với đặc điểm ngành nông nghiệp Tuy nhiên, phải tùy theo tính chất của từng ngành, từng mức độ, yêu cầu của hợp tác và phân công lao động để lựa chọn các hình thức HTX cho thích hợp Mô hình HTX dịch vụ nông nghiệp cũng được
phân thành nhiều hình thức: HTX dịch vụ chuyên khâu và HTX dịch vụ tổng hợp
- HTX dịch vụ chuyên khâu là các HTX chỉ thực hiện chức năng dịch vụ một
khâu cho sản xuất nông nghiệp Bao gồm:
+ HTX dịch vụ thủy nông
+ HTX dịch vụ điện nông thôn
+ HTX cung ứng vật tư
+ HTX tín dụng nông nghiệp
+ HTX tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp…
- HTX dịch vụ tổng hợp là các HTX thực hiện chức năng dịch vụ nhiều khâu
cho sản xuất nông nghiệp, đôi khi cả cho đời sống nông dân
b Hợp tác xã vừa dịch vụ vừa kinh doanh tổng hợp hay hợp tác xã đa ngành
Các HTX này được thành lập để phát huy tối đa lợi thế kinh tế theo phạm vi hoạt động HTX sản xuất kinh doanh tổng hợp tăng hiệu quả thông qua việc mở rộng phạm vi hoạt động đa ngành nghề, nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhau Mỗi hoạt động sản xuất kinh doanh này có thể đã được tiến hành ở quy mô lớn (để tối đa hóa lợi ích của tăng kinh tế theo quy mô) hoặc cũng có thể mới chỉ ở quy mô nhỏ và trung bình Đối với các HTX này, không chỉ tiến hành hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh truyền thống mà còn mở rộng sang các lĩnh vực dịch vụ xã hội, công ích, như trong lĩnh vực y tế, trường học, bảo vệ môi trường,
Trang 27c, Hợp tác xã đơn ngành
Các HTX loại này thường dưới dạng các HTX chuyên môn hóa theo sản phẩm Đó là các HTX dịch vụ chuyên ngành gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ Trong đó, trực tiếp sản xuất là hộ nông dân, HTX hợp đồng bao tiêu chế biến và tiêu thụ sản phẩm Ví dụ: các HTX sản xuất rau, HTX sản xuất sữa, HTX chăn nuôi gia súc, gia cầm… Ở Việt Nam, các HTX nông nghiệp trong quá trình chuyển đổi tồn tại dưới hình thức này là chủ yếu, bởi vì tính chủ động, độc lập của người dân chưa được xác lập một cách đầy đủ Hiện nay, có rất nhiều HTX mới thành lập với quy mô vừa và nhỏ là những HTX chuyên ngành Thành viên tham gia HTX đều sản xuất một loại sản phẩm và tuân thủ một quy trình sản xuất chung Mục đích hoạt động là tạo ra lãi cho thành viên thông qua việc mở rộng quy mô, giảm giá
thành và nâng cao chất lượng sản phẩm (tăng giá bán)
d Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp thuần túy
HTX loại này giống như các HTX nông nghiệp ở nước ta trước khi đổi mới Tức là, những người sản xuất liên kết với nhau ở khâu sinh học của sản xuất nông nghiệp với mục đích tạo ra quy mô sản xuất thích hợp nhằm chống lại sự chèn ép của tư thương, tạo những ưu thế mới ở những ngành khó tách riêng như chăn nuôi
- Cơ chế tổ chức quản lý và điều hành của hợp tác xã nông nghiệp
+ Quy mô xã viên tham gia hợp tác xã và mức vốn góp;
+ Quy mô tài sản, vốn, quỹ của HTX;
+ Quản lý tài chính và năng lực điều hành của cán bộ quản lý HTX;
+ Phương thức quản lý và điều hành
+ Tính thực tiễn và phù hợp của cơ chế tổ chức quản lý hợp tác xã nông nghiệp đối với điều kiện tại địa phương
Trang 28+ Những đổi mới trong cơ chế quản lý, điều hành hợp tác xã nông nghiệp
So sánh các loại hình tổ chức hợp tác xã nông nghiệp tại địa phương Đánh giá hiệu quả đem lại từ loại hình tổ chức và lợi ích đem lại cho thành viên hợp tác xã và người dân
2.1.4.2 Hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp
- Nghiên cứu hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp tại địa phương bao gồm:
+ Phương thức hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp theo hướng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, hỗ trợ;
+ Quy mô hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp; sự tham gia của các thành viên hợp tác xã nông nghiệp vào các hoạt động chủ chốt của hợp tác xã;
+ Sự liên kết hợp tác với các doanh nghiệp, tổ chức thuộc các thành phần kinh tế khác; Phân phối thu nhập của hợp tác xã nông nghiệp; sự tham gia của hợp tác xã nông nghiệp trong các hoạt động an sinh xã hội; lợi nhuận đem lại từ hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp
- So sánh phương thức hoạt động của các loại hình hợp tác xã Tính áp dụng thực tế và phù hợp của loại hình hoạt động đối với điều kiện thực tế tại địa phương Đánh giá mức độ đáp ứng dịch vụ, chất lượng dịch vụ, hiệu quả đem lại từ loại hình hoạt động của hợp tác xã đối với sự phát triển của địa phương; lợi ích đem lại cho thành viên tham gia hợp tác xã và cộng đồng người dân
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp
2.1.5.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
- Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách (đặc biệt là Luật HTX) tạo hành lang pháp lý cho hợp tác xã chuyển đổi, xây dựng mới, thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, tạo điều kiện liên kết hợp tác với các thành phần kinh tế khác Nhờ đó, hoàn thiện hơn về cơ cấu tổ chức, quản lý của HTX và nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX tại địa phương
Chiến lược, chính sách phát triển kinh tế, xã hội là mục tiêu mang tính dài
hạn của Đảng, Nhà nước, cũng như những biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược đó; khuyến khích phát triển những chủ thể với đặc trưng góp phần tính cực
cùng Nhà nước thực hiện những mục tiêu trong chính sách, chiến lược phát triển
Trang 29Hiện nay, chủ trương, chính sách về chiến lược phát triển kinh tế, xã hội có ảnh
hưởng mạnh đến yêu cầu phát triển HTX gồm: chiến lược phát triển bền vững và chương trình xây dựng nông thôn mới Đặc biệt, chủ trương xây dựng nông thôn mới đã đặt ra yêu cầu bức thiết cho chính quyền cơ sở trong việc phải phát triển
bằng được HTX
2.1.5.2 Sự quan tâm, chỉ đạo của chính quyền địa phương
Sự quan tâm, chỉ đạo chuyển đổi và phát triển HTXNN của chính quyền địa phương có ảnh hưởng lớn đến việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã Việc tuyên truyền giáo dục, tổ chức, cơ chế chính sách, điều hành cụ thể đối với phong trào hợp tác và HTXNN sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển và mở rộng mô hình hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp Sự phối kết hợp giữa các cấp sẽ góp phần tạo hành lang pháp lý thực hiện thông thoáng hơn, có nhiều hỗ trợ đến với HTX hơn và góp phần thúc đẩy sự phát triển của HTX và địa phương
2.1.5.3 Nhu cầu hợp tác và trình độ nhận thức của người dân
- Nhận thức và nhu cầu hợp tác của người dân: Hiện nay đa phần người dân nhận thức về Luật hợp tác xã và mô hình hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới vẫn chưa thấu đáo và còn hạn chế Các hộ nông dân đa phần chưa có nhu cầu và động lực tham gia hợp tác do lao động trong nông nghiệp dư thừa nhiều, thời gian nông nhàn lớn, cộng thêm tâm lý sợ mất tự chủ trong sản xuất kinh doanh và tâm lý mặc cảm, định kiến và hoài nghi đối với mô hình hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ, trong khi nguyên tắc tham gia hợp tác xã là tự nguyện, dân chủ, các hộ nông dân chưa thấy rõ lợi ích kinh tế nên chưa có động lực tham gia vào hợp tác xã nông nghiệp Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến cơ cấu tổ chức và hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp, đòi hỏi phải xây dựng có mô hình tổ chức, quản lý hợp tác xã phù hợp với điều kiện của địa phương và nhu cầu của cộng đồng người dân để hợp tác xã nông nghiệp hoạt động có hiệu quả và thiết thực
2.1.5.4 Năng lực của HTX và cán bộ quản lý HTX
- Nhận thức về việc chuyển đổi hợp tác xã: Sau khi Luật hợp tác xã mới ban
hành, nhiều hợp tác xã đã thực hiện đổi mới về phương thức tổ chức quản lý và hoạt
Trang 30động tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập Hiện nay việc chuyển đổi và thành lập mới hợp tác xã còn mang nặng tính hình thức và và thiếu những mô hình hoạt động có hiệu quả Một số hợp tác xã nông nghiệp tiến tiến, năng động và kinh doanh có hiệu quả, nhưng đại bộ phận hợp tác xã nông nghiệp còn lại vẫn hoạt động theo nếp cũ, chưa quan tâm nhiều đến hiệu quả kinh tế, mà nặng về mặt chính trị - xã hội
- Vốn hoạt động, cơ sở vật chất của hợp tác xã là một trong những yếu tố ảnh
hưởng không nhỏ đến công tác tổ chức hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp trong quá trình chuyển đổi và xây dựng mới Đa phần vốn lưu động của các hợp tác xã hiện nay thường rất thấp, làm cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, hỗ trợ gặp nhiều khó khăn Dẫn đến hợp tác xã không thể mở rộng mô hình hoạt động, hiệu quả hoạt động thấp, khả năng đáp ứng nhu cầu dịch vụ cho thành viên hợp tác xã hạn chế Bên cạnh đó, trong điều kiện mới hiện nay khi hợp tác xã chuyển sang hoạt động gắn với cơ chế thị trường, thực hiện liên kết ngành, hợp tác liên doanh với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác rất khó khăn Đối với tài sản cố định sau khi được đánh giá lại từ hợp tác xã cũ chuyển sang hợp tác xã mới, chủ yếu là các công trình thủy nông, công trình điện, hệ thống máy móc cũ lạc hậu, xuống cấp ảnh hưởng đến việc mở rộng mô hình hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp
- Cán bộ quản lý, điều hành hoạt động của hợp tác xã: Cơ cấu tổ chức của
đại bộ phận hợp tác xã sau khi chuyển đổi vẫn còn nhiều bất cập so với cơ chế quản
lý mới Sau chuyển đổi, bộ máy quản lý hợp tác xã được tinh giảm gọn nhẹ hơn, nhưng nhìn chung đội ngũ cán bộ quản lý hầu hết hoạt động theo kinh nghiệm thực
tế, không được đào tạo cơ bản, ít được bồi dưỡng tập huấn Mặt khác năng lực nắm bắt thông tin và khả năng dự báo thị trường, sự nhạy cảm linh hoạt để đáp ứng được yêu cầu đa dạng của cơ chế thị trường còn hạn chế Đội ngũ cán bộ quản lý HTX nông nghiệp thường xuyên thay đổi nên họ không yên tâm công tác Thiếu những cán bộ quản lý có năng lực, kinh nghiệm và có tâm huyết vì lợi ích của hợp tác xã (Đặng Ngọc Lợi, 2010)
Trang 312.2 Cơ sở thực tiễn về tổ chức hoạt động của HTXNN
2.2.1 Tình hình tổ chức và hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp ở một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm
2.2.1.1 Hợp tác xã nông nghiệp ở Cộng hòa Liên bang Đức
CHLB Đức ngày nay là nước có nền kinh tế đứng thứ ba trên thế giới, sau
Mỹ và Nhật Bản Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2007 của Đức đạt khoảng 2.300 tỷ Euro (tương đương 3.500 tỷ USD, gấp hơn 50 lần GDP của Việt Nam năm 2007) Khoảng 18 triệu ha đất, tương đương với 50% diện tích lãnh thổ của Đức, được sử dụng cho mục đích nông nghiệp Một nửa còn lại là đất đô thị, khu công nghiệp và đất rừng
Tương tự như Việt Nam, số lượng các HTX nông nghiệp chiếm tỷ lệ khá cao với 3188 HTX trong tổng số 5324 HTX hiện có, chiếm 60% Tổng doanh thu của tất cả các HTX nông nghiệp và 26 liên hiệp HTX nông nghiệp năm 2007 là hơn 38,3 tỷ Euro Các HTX nông nghiệp đã thu hút tổng cộng 2,2 triệu thành viên HTX nông nghiệp của CHLB Đức hoạt động đa dạng ở tất cả các lĩnh vực kinh doanh, dịch vụ khác nhau
Ngoài ra còn có rất nhiều HTX nông nghiệp hoạt động kinh doanh, dịch vụ ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau như dịch vụ quản lý chợ, dịch vụ vệ sinh, dịch vụ vật liệu xây dựng, dịch vụ sấy khô, đóng gói sản phẩm, dịch vụ than, dầu đốt, Trong số các HTX nông nghiệp hiện nay vẫn còn có 214 HTX đang thực hiện đồng thời hoạt động tiết kiệm-tín dụng nội bộ theo giấy phép của cơ quan chức năng ngành ngân hàng Ngoài dịch vụ cung cấp cho thành viên, các HTX nông nghiệp tạo ra khoảng 150.000 việc làm trực tiếp Tính trung bình mỗi HTX nông nghiệp sử dụng 46 lao động
Cùng với quá trình công nghiệp hóa toàn diện của nền kinh tế, không chỉ số lượng HTX nông nghiệp giảm mà số lượng lao động nông nghiệp cũng giảm nhiều Nếu như năm 1949 nước Đức còn có hơn 4 triệu lao động nông nghiệp tại gần 2 triệu hộ nông dân, trang trại nhỏ, thì đến năm 2000 chỉ còn khoảng 220.000 lao động được tuyển dụng làm cho các doanh nhiệp nông thôn này Nhờ cơ giới hoá, tự động hoá rất cao, năng suất lao động nông nghiệp cũng được tăng đáng kể Cách
Trang 32đây 60 năm, một lao động nông nghiệp có thể nuôi được 10 người thì ngày nay con
số đó là 124 người Mặc dù nông nghiệp chiếm tỉ trọng thấp trong nền kinh tế nhưng với nhiều sản phẩm nông nghiệp ví dụ như sản phẩm thịt, sản phẩm sữa, mức cung vẫn lớn hơn mức cầu tại thị trường nội địa của Đức Vì vậy Đức cũng rất chú trọng xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp Giá trị xuất khẩu của sản phẩm nông nghiệp năm qua đạt hơn 3 tỷ Euro Các HTX nông nghiệp của Đức đang nắm thị phần cao đối với rất nhiều sản phẩm nông nghiệp quan trọng: 70% thị phần sản phẩm thịt chế biến, hơn 60% thị phần của các sản phẩm sữa, hơn 30% thị phần rượu nho
Đặc điểm và kinh nghiệm của các HTX nông nghiệp của CHLB Đức:
Kinh tế HTX của CHLB được coi là một bộ phận quan trọng của thành phần kinh tế dân doanh Kinh tế nông nghiệp của CHLB Đức theo truyền thống phần lớn vẫn thuộc về cá nhân nông dân, kinh tế hộ và chủ trang trại nhỏ với số lượng khoảng hơn 400.000 đơn vị sản xuất nông nghiệp Không như ở Mỹ hay các nước Tây Âu khác chủ trang trại thường có diện tích canh tác rất lớn, tại Đức có tới trên 90% số hộ nông dân hay chủ trang trại nhỏ chỉ có từ 1 đến dưới 50 ha đất nông nghiệp
Các thành viên đồng thời cũng chính là khách hàng chính của các HTX nông nghiệp cũng như phi nông nghiệp chủ yếu là các cá nhân, hộ nông dân, chủ trang trại nhỏ HTX nông nghiệp của CHLB Đức không thay thế kinh tế hộ, kinh tế trang trại hay kinh tế tư của người nông dân HTX nông nghiệp chủ yếu cung cấp các dịch vụ mang tính hỗ trợ cho các thành viên của mình Đó là các dịch vụ mà tự thân những người nông dân, các hộ gia đình, trang trại không thể thực hiện được hoặc phải thực hiện với chí phí cao hơn dịch vụ của HTX, hiệu quả thấp hơn so với sử dụng dịch vụ của HTX
Các dịch vụ của HTX đối với xã viên, thành viên là hỗ trợ mang tính kinh tế, đem lại lợi ích kinh tế trực tiếp và cả lâu dài cho xã viên Đây chính là lí do để HTX được thành lập, được duy trì để tồn tại và phát triển Cũng chính vì lợi ích kinh tế thiết thực mà họ được hưởng trực tiếp và lâu dài thông qua các dịch vụ của HTX mà các xã viên tự nguyện tham gia HTX, gắn bó và có trách nhiệm với HTX
Thành viên HTX cũng chính là những khách hàng quan trọng nhất của HTX
Vì vậy bất cứ nhu cầu nào của thành viên được phát sinh là HTX có thể thiết kế sản
Trang 33phẩm nhằm đáp ứng phục vụ Chỉ cần một số lượng tương đối các nhu cầu dịch vụ này
là HTX có thể thực hiện với chi phí thấp hơn, hiệu quả hơn, có lợi kinh tế hơn cho thành viên của mình Đây chính là nguyên tắc kinh doanh, cung cấp dịch vụ của HTX nông nghiệp của CHLB Đức “Lợi thế nhờ qui qui mô, mua bán sỉ tốt hơn mua bán lẻ” Trước hết, theo truyền thống, các HTX nông nghiệp của Đức cung cấp các dịch vụ đầu vào như cung cấp dịch vụ thuỷ nông, điện, cung cấp nguyên vật liệu sản xuất nông nghiệp như hạt giống, cây giống, con giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thức
ăn gia súc Bên cạnh đó là các dịch phục khác như dịch vụ làm đất, cung cấp máy nông nghiệp, dụng cụ lao động, vật tư chuồng trại, xăng dầu, chất đốt, Cũng thuộc nhóm dịch vụ đầu vào mà các HTX nông nghiệp cung cấp cho xã viên của mình còn có dịch vụ tư vấn, hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật, công nghệ mới (cây, con giống mới, kỹ thuật chăm bón, nuôi dưỡng, sử dụng máy móc thiết bị hiện đại, ), dịch vụ nhà kho, dịch vụ bảo quản đông lạnh, hỗ trợ cung cấp các dịch vụ tài chính Trong nền kinh tế thị trường, canh tranh hàng hoá ngày càng gay gắt Các sản phẩm nông nghiệp của nông dân cũng không là ngoại lệ Và những người nông dân, chủ trang trại rất cần đến các dịch vụ hỗ trợ đầu ra vì đầu ra chính là khó khăn lớn nhất, thách thức lớn nhất của người nông dân trong nền kinh tế thị trường Các HTX nông nghiệp của Đức đã đặc biệt chú ý đến vấn đề này Thực ra đây cũng là trách nhiệm của HTX vì thành viên có nhu cầu Các dịch vụ đầu ra chính của HTX là hỗ trợ về gia công, chế biến và tiêu thụ các sản phẩm của thành viên với giá tốt nhất, có lợi nhất cho thành viên Nhiều HTX nông nghiệp đã xây dựng được các xưởng sản xuất, nhà máy hiện đại để chế biến sản phẩm của nông dân thành các thành phẩm có giá trị thương mại cao Để có thể hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, các HTX nông nghiệp của Đức còn rất chú trọng đến phát triển các sản phẩm thành phẩm mới, theo dõi và cung cấp, tư vấn cho thành viên về các thông tin thị trường, giúp cho các sản phẩm của thành viên luôn đựơc đổi mới, định hướng theo nhu cầu của thị trường Từng thành viên HTX rất khó có thể đầu tư tạo ra một thương hiệu mạnh cho mình Vì vậy các HTX nông nghiệp đặc biệt chú ý đến chất lượng sản phẩm và xây dựng thương hiệu mạnh cũng như quảng bá thương hiệu đó vì lợi ích của thành viên
Trang 34Đa số các HTX nông nghiệp ở Đức có số lượng thành viên tương đối lớn, thường chỉ ít hơn số lượng thành viên của các HTX tín dụng Ví dụ HTX chăn nuôi chế biến thịt trung bình có từ 70 đến 150 thành viên; HTX chế biến sữa có từ 350 đến 400 thành viên; HTX mua bán nông nghiệp có từ 250 đến 500 thành viên; HTX trồng nho có từ 200 đến 300 thành viên, Nhờ số lượng khá đông thành viên tham gia, một mặt HTX nông nghiệp đã có sẵn các khách hàng truyền thống và chính yếu cho mình, mặt khác HTX có thể huy động vốn điều lệ từ số đông thành viên Với chính sách thành viên và chính sách góp vốn như vậy, các HTX nông nghiệp không
bị áp lực chạy theo lợi nhuận tối đa để chia cổ tức càng cao càng tốt Các HTX có điều kiện thực hiện chức năng hỗ trợ, cung cấp dịch vụ tốt nhất, có lợi nhất cho thành viên của mình
So với các HTX nông nghiệp Việt Nam, các HTX nông nghiệp Đức không có khó khăn về đất hay trụ sở Các HTX vì vậy không quá chú trọng đến việc phải mua đất hay sở hữu trụ sở riêng Trên cơ sở nguồn đất do HTX quản lý hoặc thuê dài hạn của xã viên, HTX được chính quyền địa phương cho phép xây dựng bán kiên cố các nhà kho, cửa hàng, trụ sở của mình khi có nhu cầu cần thiết Hoàn toàn bình đẳng như các loại hình doanh nghiệp khác, các HTX nông nghiệp ở Đức có thể vay vốn không khó khăn từ các ngân hàng thương mại Họ không nhất thiết phải có hay phải
có đủ tài sản thế chấp mà quan trọng hơn là dự án vay vốn khả thi và HTX có uy tín, hoạt động quản trị, điều hành minh bạch, hiệu quả Theo quy định của Luật HTX Đức, hàng năm các HTX đều được kiểm toán định kỳ do Hiệp hội HTX thực hiện (Nguyễn Minh Tú, 2010)
2.2.1.2 Hợp tác xã nông nghiệp ở Nhật Bản
Ở Nhật Bản, các hợp tác xã nông nghiệp được tổ chức theo ba cấp: Liên đoàn toàn quốc hợp tác xã nông nghiệp; Liên đoàn hợp tác xã nông nghiệp tỉnh; Hợp tác xã nông nghiệp cơ sở Các hợp tác xã nông nghiệp cơ sở gồm hai loại: đơn chức năng và đa chức năng Từ năm 1961 trở về trước các hợp tác xã đơn chức năng khá phổ biến Nhưng từ năm 1961 trở về đây, do chính phủ Nhật Bản khuyến khích hợp nhất các hợp tác xã nông nghiệp nhỏ thành hợp tác xã nông nghiệp lớn, nên mô hình hoạt động chủ yếu của hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản hiện nay là đa
Trang 35chức năng Các hợp tác xã nông nghiệp đa chức năng chịu trách nhiệm đối với nông dân trên tất cả các lĩnh vực dịch vụ như cung cấp nông cụ, tín dụng, mặt hàng, giúp nông dân chế biến, tiêu thụ sản phẩm và bảo hiểm cho hoạt động của nông dân Có thể thấy ưu nhược điểm của hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản qua phân tích cơ chế quản lý và chức năng hoạt động của chúng
Các HTXNN đa chức năng của Nhật Bản thường đảm đương các nhiệm vụ sau:
- Cung cấp dịch vụ hướng dẫn nhằm giáo dục, hướng dẫn nông dân trồng trọt, chăn nuôi có năng suất, hiệu quả cao cũng như giúp họ hoàn thiện kỹ năng quản lý hoạt động sản xuất Thông qua các cố vấn của mình, các hợp tác xã nông nghiệp đã giúp nông dân trong việc lựa chọn chương trình phát triển nông nghiệp theo khu vực; lập chương trình sản xuất cho nông dân; thống nhất trong nông dân
sử dụng nông cụ và kỹ thuật sản xuất tiên tiến,… Các tổ chức Liên hiệp tỉnh và Trung ương thường quan tâm đào tạo bồi dưỡng cố vấn cho hợp tác xã nông nghiệp
cơ sở
- Mục tiêu của hợp tác xã là giúp nông dân tiêu thụ hàng hoá có lợi nhất Do
đó, mặc dù các hợp tác xã nông nghiệp là đơn vị hạch toán lấy thu bù chi nhưng các hợp tác xã không đặt lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu mà chủ yếu là trợ giúp nông dân Các hình thức giao dịch giữa hợp tác xã với nông dân khá linh hoạt Nông dân
có thể ký gửi hàng hoá cho hợp tác xã, hợp tác xã sẽ thanh toán cho nông dân theo giá bán thực tế với một mức phí nhỏ; nông dân cũng có thể gửi hợp tác xã bán theo giá họ mong muốn và hợp tác xã lấy hoa hồng; thông thường nông dân ký gửi và thanh toán theo giá cả thống nhất và hợp lý của hợp tác xã
Để nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng nông sản do hợp tác xã tiêu thụ, hợp tác xã đã đề nghị nông dân sản xuất theo kế hoạch với chất lượng và tiêu chuẩn thống nhất với nhau và ưu tiên bán cho hợp tác xã Về phần mình, hợp tác xã định
tỷ lệ hoa hồng thấp Các hợp tác xã tiêu thụ nông sản theo quy mô lớn, không chỉ ở chợ địa phương mà thông qua liên đoàn tiêu thụ trên toàn quốc với các khách hàng lớn như xí nghiệp, bệnh viện,… Hợp tác xã đã mở rộng hệ thống phân phối hàng hoá khá tốt ở Nhật Bản
Trang 36- Hợp tác xã cung ứng hàng hoá cho xã viên theo đơn đặt hàng và theo giá thống nhất và hợp lý Các hợp tác xã đã đạt đến trình độ cung cấp cho mọi xã viên trên toàn quốc hàng hoá theo giá cả như nhau, nhờ đó giúp cho những người ở các vùng xa xôi có thể có được hàng hoá mà không chịu cước phí quá đắt Hàng tiêu dùng không cần đặt hàng theo kế hoạch trước Thông thường các hợp tác xã nhận đơn đặt hàng của xã viên, tổng hợp và đặt cho liên hiệp hợp tác xã tỉnh, sau đó tỉnh đặt cho liên hiệp hợp tác xã toàn quốc Đôi khi liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp tỉnh hoặc hợp tác xã nông nghiệp cơ sở đặt hàng trực tiếp cho doanh nghiệp sản xuất Nhìn chung các liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp tỉnh và Trung ương không phải là cấp quản lý thuần tuý mà là các tổ chức kinh tế, các trung tâm phân phối và tiêu thụ hàng hoá
- Hợp tác xã nông nghiệp cung cấp tín dụng cho các xã viên của mình và nhận tiền gửi của họ với lãi suất thấp Các khoản vay có phân biệt: cho xã viên khó khăn vay với lãi suất thấp (có khi chính phủ trợ cấp cho hợp tác xã để bù vào phần
lỗ do lãi suất cho vay thấp) Hợp tác xã nông nghiệp cũng được phép sử dụng tiền gửi của xã viên để kinh doanh Ở Nhật Bản có tổ chức một trung tâm ngân hàng hợp tác xã nông nghiệp để giúp các hợp tác xã quản lý số tín dụng cho tốt Trung tâm này có thể được quyền cho các tổ chức kinh tế công nghiệp vay nhằm phục vụ phát triển nông nghiệp
- HTXNN còn sở hữu các phương tiện sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản để tạo điều kiện giúp nông dân sử dụng các phương tiện này hiệu quả nhất, hạn chế sự chi phối của tư nhân Các loại phương tiện thuộc sở hữu hợp tác
xã thường là: Máy cày cỡ lớn, phân xưởng chế biến, máy bơn nước, máy phân loại, đóng gói nông sản Hợp tác xã trực tiếp quản lý việc sử dụng các tài sản này
- Các hợp tác xã còn là diễn đàn để nông dân kiến nghị Chính phủ các chính sách hợp lý cũng như tương trợ lẫn nhau giữa các HTX và địa phương
- Ngoài ra, các hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản còn tiến hành các nhiệm vụ giáo dục xã viên tinh thần hợp tác xã thông qua các tờ báo, phát thanh, hội nghị, đào tạo, tham quan ở cả ba cấp hợp tác xã nông nghiệp cơ sở, tỉnh và Trung ương
Trang 37Như vậy, có thể thấy rằng hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản đã phát triển từ các đơn vị đơn năng đến ngày nay trở thành các đơn vị đa năng dịch vụ mọi mặt cho cho nhu cầu của nông dân và tổ chức liên kết qui mô lớn toàn quốc Một nước công nghiệp hoá như Nhật Bản, hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp hiệu quả vẫn là hộ gia đình, do đó hợp tác xã nông nghiệp, một mặt được thành lập để hỗ trợ nông dân, giúp cho họ vừa nâng cao hiệu quả sản xuất, vừa cải thiện cuộc sống ở nông thôn, mặt khác vẫn tôn trọng mô hình kinh tế nông hộ và chỉ thay thế hộ nông dân và tư thương ở khâu nào hợp tác xã tỏ ra có ưu thế hơn hẳn trong tương quan với mục tiêu hỗ trợ nông dân (Nguyễn Minh Tú, 2010)
Bài học kinh nghiệm để phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam:
Thứ nhất, để giúp các hộ nông dân cải thiện điều kiện sống và phát triển sản
xuất, cần phải liên kết các hoạt động đầu ra, đầu vào cho họ dưới hình thức tốt nhất
là HTX NN Bởi vì theo tôn chỉ của HTX từ trước đến nay thì hợp tác xã có thể mang đến nhiều điều lợi cho nông dân như:
+ Bán hàng cho nông dân với giá phải chăng, tiện lợi và đảm bảo chất lượng + Giúp nông dân tiêu thụ hàng hoá dễ dàng, có kế hoạch với chi phí giảm, giá cả hợp lý, buôn bán văn minh, tiêu chuẩn hoá sản phẩm ở mức cao
+ Tạo thế cạnh tranh tốt cho nông dân cả khi mua và khi bán hàng hoá
+ Liên kết nông dân sử dụng hết công suất máy móc, chi phí sản xuất thấp + Đào tạo năng lực tự quản lý, năng lực áp dụng kỹ thuật tiên tiến cho nông dân
Tuy nhiên, các giá trị trên chỉ có được khi hợp tác xã thực sự hoạt động theo nguyên tắc tự lực tự chịu trách nhiệm, quản lý dân chủ, hiệu quả hoạt động cao, có
sự tương trợ lẫn nhau
Thứ hai, để hợp tác xã nông nghiệp ra đời và phát triển tốt rất cần sự hỗ trợ
của Nhà nước về các mặt: tạo khuôn khổ luật pháp; hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn nhất là đường giao thông, điện, nước; tuyên truyền, khuyến khích, quảng
bá cho các hợp tác xã Nhà nước cần giúp đỡ hợp tác xã thực thi kiểm soát bằng các chế định luật hạn chế ban lãnh đạo hợp tác xã lũng đoạn, trá hình doanh nghiệp tư nhân dưới lốt hợp tác xã để hưởng ưu đãi
Trang 38Thứ ba, tiêu thụ được sản phẩm cho hộ nông dân với giá phải chăng và chi
phí thấp chính là sự hỗ trợ đáng giá mà các hộ nông dân Việt Nam đang cần Để làm được điều này các hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam phải đáp ứng được ba điều kiện:
+ Ban quản lý hợp tác xã phải có tâm huyết với mục tiêu giúp nông dân làm giàu hơn là dùng hợp tác xã để làm giàu cho cá nhân mình hay để tích luỹ lợi nhuận cho hợp tác xã
+ Người nông dân hiểu được hợp tác xã chính là tổ chức tự họ giúp họ nên hợp tác với ban quản lý nhằm thiết lập được chế độ hoạt động tối ưu cho HTX
+ Chính quyền địa phương không được can thiệp vào công việc của hợp tác
xã nhưng phải tạo điều kiện cho các mục tiêu xã hội của hợp tác xã có thể thực hiện
dễ dàng nhất
Thứ tư, hợp tác xã nông nghiệp phải được tổ chức ở những khâu nào mà hợp
tác xã làm thì tốt hơn hộ gia đình, tốt hơn tư nhân, thậm chí tốt hơn cả doanh nghiệp Nhà nước Do đó lựa chọn khâu nào để hợp tác xã làm là hết sức quan trọng Kinh nghiệm của Nhật Bản chỉ ra rằng bốn khâu: cung ứng vật tư, hàng hoá tiêu dùng, tín dụng tương hỗ, tiêu thụ sản phẩm và khuyến nông là rất phù hợp với hợp tác xã Nhưng để chiến thắng tư nhân thì hợp tác xã nên tổ chức theo kiểu đa năng và tuyển chọn người giỏi làm giám đốc để quản lý, điều hành Cán bộ là khâu rất quan trọng,
có tính chất quyết định đến sự tồn tại và hiệu quả hoạt động của hợp tác xã
Thứ năm, theo kinh nghiệm của Nhật Bản cần đề cao vấn đề giáo dục đào tạo
nhân lực cho hợp tác xã Các tổ chức Liên hiệp hợp tác xã tỉnh, quốc gia đều coi trọng nhiệm vụ này Nếu làm tốt nhiệm vụ này thì phong trào hợp tác xã sẽ phát triển bền vững Chú trọng đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, cán bộ tư vấn cho hợp tác xã và nông dân Đặc biệt các hợp tác xã cần coi trọng hoạt động khuyến nông, coi đây là phương tiện cơ bản giúp nông dân vượt khó, xoá nghèo để vươn lên làm giàu Hợp tác xã nông nghiệp phải coi cải tạo tư tưởng phong cách, lề lối, tập quán sản xuất của nông dân là mục tiêu của mình thì mới giúp ích nhiều cho nông dân và giúp hộ nông dân phát triển lực lượng sản xuất để cạnh tranh hiệu quả
Trang 39với nông dân thế giới trong nền kinh tế toàn cầu và chắc chắn 100% nông dân sẽ trở thành xã viên của hợp tác xã như ở Nhật Bản
2.2.2 Tình hình tổ chức và hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm
2.2.2.1 HTX nông nghiệp An Mỹ - Mỹ Đức - Hà Tây
HTX nông nghiệp An Mỹ được thành lập từ 1976 và chuyển đổi từ năm
1998 Hoạt động kinh tế chủ yếu là dịch vụ tưới tiêu, bảo vệ thực vật, sản xuất giống cây trồng, làm đất, vật tư nông nghiệp, điện dân sinh, khuyến nông Là HTX
có quy mô toàn xã Dịch vụ có kết quả các khâu kinh tế và dân sinh thiết yếu cho xã viên và cư dân nông thôn Hoạt động kinh tế gắn liền với hoạt động xã hội phục vụ cộng đồng như thực hiện tốt chế độ phúc lợi cho xã viên, hỗ trợ kinh phí cho các đoàn thể, ngày Nhà giáo Việt Nam, ủng hộ đồng bào bị bão lụt, quỹ Đền ơn đáp nghĩa Thường xuyên tổ chức tuyên truyền cho xã viên nhận thức về luật HTX Công khai, dân chủ trong chuyển đổi HTX, vốn và tài sản, phân phối lãi, phương án hoạt động Chú ý liên kết với các tổ chức, cơ quan, nhà khoa học trong hoạt động khuyến nông, dịch vụ bảo vệ thực vật, xây dựng mô hình sản xuất lúa giống
2.2.2.2 HTX nông nghiệp kinh doanh tổng hợp Bình Tây (Tiền Giang)
HTX nông nghiệp kinh doanh tổng hợp Bình Tây được thành lập năm 1897, chuyển đổi năm 1996 Sau khi chuyển đổi số xã viên mới vào HTX rất đông: 359 người chiếm tỷ lệ 42% so với tổng số xã viên Đa số hộ nông dân đã đi vào sản xuất hàng hóa nên thực sự có nhu cầu với HTX Đã tổ chức mua bảo hiểm xã hội và y tế cho xã viên Phân phối lãi theo tỷ lệ 50% cho thành lập các quỹ, 50% theo vốn đóng góp của xã viên
Hoạt động dịch vụ và sản xuất đa dạng, phong phú: giống cây trồng, vật
tư, nông dược, tiêu thụ sản phẩm, chăn nuôi lợn giống, cá giống, gà, thú y, sấy lúa, xay sát lúa, sản xuất sơ dừa, chiếu cói, cung cấp nước sinh hoạt, quản lý chợ
Có đầy đủ tổ chức chính trị, đoàn thể quần chúng, trạm y tế, nhà trẻ, mẫu giáo trong HTX Có vai trò trong đầu tư xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng ở nông thôn,
có quy hoạch đào tạo cán bộ HTX và cán bộ khoa học kỹ thuật Chú ý hợp tác, liên kết với các tổ chức, cơ quan và các nhà khoa học liên quan
Trang 40Chủ nhiệm HTX là người có vị trí thực sự, có uy tín, có trình độ PTTH, qua nhiều lớp đào tạo tập huấn quản lý kinh tế và kỹ thuật, nhiệt tâm và hoạt động
có kết quả cao
Thực hiện tốt 5 tiêu chí về đời sống cho cư dân, cụ thể: Ăn đủ, no, ngon (100g thịt, cá/ngày/người) Nhà ở kiên cố, có điện, nước sạch, 4 điện thoại/100 dân; 1,2 xe máy/hộ; 90 trẻ em trong độ tuổi đến trường; có 1 trạm xá có y, bác sĩ
2.2.2.3 HTX nông nghiệp Đình Bảng – Tiên Sơn – Bắc Ninh
HTX được thành lập năm 1976 chuyển đổi năm 1999 Kinh doanh chủ yếu là dịch vụ nông nghiệp và điện sinh hoạt Đặc điểm nổi bật đây là HTX đã chủ động tổ chức mô hình khu chăn nuôi tập trung cách xa khu dân cư gồm 44 trang trại gia đình chăn nuôi lợn siêu nạc, vịt siêu thịt, siêu trứng và gà sinh sản kết hợp với trồng cây ăn quả, nuôi cá Mô hình sản xuất cụ thể này đã tạo cho ngành chăn nuôi phát triển, mở ra hướng đưa chăn nuôi ra đồng có hiệu quả và hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường trong khu dân cư Ngoài ra HTX đã sớm có quy hoạch phát triển lâu dài KT – XH Cơ
sở vật chất kỹ thuật nông nghiệp, nông thôn được tăng cường đầu tư có tính hệ thống, sản xuất hàng hóa Hoạt động xã hội luôn có phong trào và hiệu quả thiết thực
2.2.2.4 HTX nông nghiệp Minh Tân – Vụ Bản – Nam Định
Mô hình này đã được chọn làm thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới Bên cạnh các hoạt động dịch vụ sản xuất nông nghiệp cho xã viên, HTX đã sản xuất lúa giống, lúa thơm và rau hàng hóa xuất khẩu, tổ chức các nghề mới như mộc, mây tre, thêu, may; chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cây con; xây dựng mô hình hộ gia đình chăn nuôi lợn hướng nạc; hoạt động xã hội có hiệu quả; liên kết nhằm tạo vốn để hỗ trợ xã viên tham gia các chương trình phát triển kinh tế hộ và nông thôn Mô hình còn một số hạn chế như: Hoạt động kinh tế vẫn còn chịu sự can thiệp của chính quyền xã, dịch vụ còn trong phạm vi ngành nông nghiệp
* Kinh nghiệm rút ra từ các mô hình HTX nông nghiệp:
- HTX nông nghiệp ra đời, tồn tại và phát triển trong những điều kiện lịch sử
KT – XH nhất định Mục đích hoạt động của HTX nông nghiệp là dịch vụ vì nhu cầu
KT – XH của xã viên và cộng đồng ở nông thôn Do đó, HTX nông nghiệp là hình mẫu phản ánh sự phù hợp về tổ chức, quản lý, mục tiêu và phương thức hoạt động của loại HTX này với từng giai đoạn, điều kiện KT – XH tương ứng