1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa huệ hương tại hưng yên

132 400 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 5,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VN VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VN ---*--- NGUYỄN THỊ THANH HOA NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN SINH TR

Trang 1

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VN VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VN

-* -

NGUYỄN THỊ THANH HOA

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG HOA HUỆ

HƯƠNG TẠI HƯNG YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

HÀ NỘI, 2015

Trang 2

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VN VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VN

-* -

NGUYỄN THỊ THANH HOA

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG HOA HUỆ

HƯƠNG TẠI HƯNG YÊN

Chuyên ngành: khoa học cây trồng

Mã số: 60620110

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS Nguyễn Thị Kim Lý

HÀ NỘI, 2015

Trang 3

Xin cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của các thầy các cô Ban sau đại học – Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam và các bạn đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này

Luận văn có sự động viên, đóng góp của gia đình tôi

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 30 tháng 12 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Thị Thanh Hoa

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ cho một học vị nào Mọi sự giúp đỡ hoàn thành luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 30 tháng 12 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Thị Thanh Hoa

Trang 5

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA Error! Bookmark not defined

LỜI CẢM ƠN iii

LỜI CAM ĐOAN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH x

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Giới thiệu chung về cây hoa huệ 5

1.2 Giá trị kinh tế và sử dụng của hoa huệ 14

1.3 Tình hình sản xuất hoa huệ trên thế giới và ở Việt Nam 16

1.4 Tình hình nghiên cứu hoa huệ trên thế giới và Việt Nam 19

1.5 Điều kiện tự nhiên và đặc điểm khí hậu vùng trồng hoa Văn Giang-Hưng Yên 28

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

2.1 Vật liệu nghiên cứu 32

2.2 Nội dung nghiên cứu 33

2.3 Phương pháp nghiên cứu 33

2.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 38

2.5 Phương pháp xử lý số liệu 39

2.6 Kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa huệ trong các thí nghiệm 39

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41

3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của kích thước củ giống đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng giống huệ Hương 41

3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng giống huệ Hương 46

3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng giống huệ Hương 54

3.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng giống huệ Hương 61

Trang 6

3.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian thu hoạch củ giống đến sinh trưởng, phát triển và

chất lượng giống huệ Hương 67

3.6 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian bảo quản củ giống đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng giống huệ Hương 71

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

PHỤ LỤC 83

Trang 7

KH&CN : Khoa học và công nghệ

KHKTNN : Khoa học kỹ thuật nông nghiệp

TB : Trung bình

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

TT

1.1 Nhiệt độ trung bình của Văn Giang 28

3.1 Tỷ lệ nảy mầm, thời gian và đặc điểm sinh trưởng của giống 41 3.2 Chất lượng hoa huệ Hương ở các kích thước củ khác nhau 45 3.3 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến các thời gian sinh trưởng, phát

triển của giống hoa huệ Hương 47 3.4 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến một số đặc điểm sinh trưởng của

giống hoa huệ Hương 49 3.5 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến chất lượng hoa của

giống 51 3.6 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến hiệu quả kinh tế của

giống 53 3.7 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng của

giống 54 3.8 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến chất lượng hoa của cây

huệ 56 3.9 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng nhiễm sâu bệnh hại của

cây huệ Hương 59 3.10 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến hiệu quả kinh tế của cây hoa huệ

Hương 60 3.11 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sự sinh trưởng của giống

hoa huệ Hương 62

Trang 9

3.12 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến chất lượng hoa 64 3.13 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến khả năng nhiễm sâu

bệnh hại của giống huệ Hương 66 3.14 Ảnh hưởng của thời gian thu hoạch củ giống đến số lượng củ và tỷ lệ

củ đủ tiêu chuẩn trồng 68

3 15 Ảnh hưởng của thời gian thu hoạch củ giống đến khă năng nhiễm

bệnh ở cây hoa huệ Hương 70 3.16 Ảnh hưởng của thời gian bảo quản củ giống đến sinh trưởng của

giống hoa huệ Hương 72 3.17 Ảnh hưởng của thời gian bảo quản củ giống đến chất lượng hoa của

giống huệ Hương 74

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

TT

1.1 Huệ cánh bán kép 6

1.2 Huệ cánh kép 6

1.3 Huệ đơn 6

1.4 Nhiệt độ trung bình các tháng (oC) 29

2.1 Giống huệ Hương 32

3.1 Tỷ lệ nảy mầm ở các kích thước củ khác nhau 42

3.2 Ảnh hưởng của kích thước củ đến các giai đoạn sinh trưởng 43

3.3 Ảnh hưởng của kích thước củ đến chất lượng hoa 46

3.4 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến các giai đoạn sinh trưởng 48

3.5 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến chất lượng hoa 52

3.6 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến chiều dài cành hoa 55

3.7 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến chất lượng cành hoa 57

3.8 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến tỷ lệ nở hoa 65

3.9 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến độ bền hoa cắt 65

3.10 Ảnh hưởng của thời gian thu củ đến tỷ lệ củ đủ tiêu chuẩn trồng 69

3.11 Ảnh hưởng của thời gian bảo quản củ giống đến tỷ lệ nảy mầm 71

3.12 Ảnh hưởng của thời gian bảo quản củ giống đến chất lượng cành hoa 75

3.13 Ảnh hưởng của thời gian bảo quản củ đến độ bền hoa 75

Trang 11

MỞ ĐẦU 1.Đặt vấn đề

Hoa là sản phẩm đặc biệt của cây trồng, nói đến hoa là nói đến vẻ đẹp của thiên nhiên ban tặng cho con người Hoa không chỉ có ý nghĩa về mặt tinh thần mà còn cho người sản xuất hoa thu nhập cao hơn hẳn so với nhiều cây trồng khác Trong thập kỷ qua nghề trồng hoa ở Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể, đóng góp cho sự hình thành nên cảnh quan tươi đẹp và khẳng định là một sản phẩm kinh tế hàng hóa có giá trị ngày càng cao trên thị trường trong và ngoài nước

Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nhiều vùng sinh thái đa dạng thuận lợi cho việc trồng được nhiều loại hoa và cây cảnh có giá trị kinh tế cao Thị trường trong nước phong phú, bên cạnh đó tiềm năng xuất khẩu cũng đầy hứa hẹn Vì vậy, hoa và cây cảnh Việt Nam nếu được tổ chức tốt từ khâu sản xuất, quảng bá đến tiêu thụ sẽ tạo tiềm lực kinh tế lớn cho ngành sản xuất nông nghiệp Việt Nam trong tiến trình phát triển xã hội

Cây hoa huệ Hương (Polianthes tuberosa L) được trồng tại Việt Nam

từ lâu đời Huệ là cây hoa cắt cành thuộc nhóm thân thảo sống nhiều năm, lá dài, hoa màu trắng và hương thơm Đây là loài hoa dễ trồng, dễ nhân giống, sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện nhiệt đới, chịu nóng, có thể trồng trên nhiều chân đất khác nhau và cho hoa quanh năm Tại Việt Nam, huệ được trồng ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và các tỉnh Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Tây Nam bộ Tuy hoa Huệ là loài hoa chỉ được dùng nhiều trong việc thờ cúng, lễ nhưng nhu cầu tiêu thụ hoa huệ luôn tăng nhất là vào các dịp

lễ Tết, rằm tháng Giêng, rằm tháng Bảy

Trang 12

Hiện nay nghiên cứu về hoa huệ ở trong nước còn ít, thường chỉ dừng lại ở mức độ mô tả về mặt hình thái, việc thu thập tuyển chọn giống và nghiên cứu xây dựng các biện pháp kỹ thuật canh tác còn rất nhiều hạn chế, mang tính lẻ tẻ, chưa được quan tâm nhiều

Văn Giang, Hưng Yên là một trong những huyện có diện tích trồng hoa cây cảnh lớn ở khu vực phía Bắc Ở đây tập trung nhiều loại hoa cây cảnh nổi tiếng như trà, quất, các loại hoa trồng thảm, cây cảnh dùng trang trí cảnh quan Hiện nay, việc sản xuất hoa cắt cành cũng được người dân ở Văn Giang quan tâm và đưa vào sản xuất Một số loại hoa cắt cành được trồng chủ yếu ở đây là cúc, lily, đồng tiền Bên cạnh các loại hoa cắt cành trên, huệ là loại hoa cũng được chú ý nhiều vì có thời gian thu hoa sớm, có khả năng chịu nóng cao, chi phí đầu tư ban đầu thấp hơn so với các loại hoa khác và cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với việc trồng các loại rau màu khác Tuy nhiên, diện tích trồng huệ ở Văn Giang còn ít và đang dần bị thu hẹp Nguyên nhân là do quá trình đô thị hoá đang diễn ra nhanh, đất canh tác của người dân bị giải tỏa để xây dựng các công trình giao thông, các nhà máy và khu công nghiệp Một nguyên nhân khác là do củ giống hoa huệ ngày càng kém chất lượng, người dân sản xuất mang tính tự phát, tự để giống và chăm sóc theo kinh nghiệm, nên cây hoa huệ dễ bị sâu bệnh hại, dẫn đến năng suất và chất lượng hoa chưa đảm bảo được yêu cầu cho tiêu dùng nên thu nhập không ổn định, hiệu quả kinh tế thấp

Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Ảnh hưởng của

một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của cây huệ Hương tại Hưng Yên”

Trang 13

2 Mục đích và yêu cầu

2.1 Mục đích

Xác định được một số biện pháp kỹ thuật phù hợp trồng cây huệ Hương sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất và chất lượng hoa cao Góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất cây hoa huệ tại Hưng Yên

2.2 Yêu cầu của đề tài

- Xác định được kích thước củ trồng phù hợp

- Xác định được thời vụ trồng thích hợp

- Xác định được mật độ trồng thích hợp

- Xác định loại phân bón lá thích hợp

- Xác định thời thu hoạch củ thích hợp

- Xác định được thời gian bảo quản củ giống thích hợp

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu đã cung cấp những dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa của cây huệ Hương tại Hưng Yên

Kết quả của đề tài cũng là tài liệu tham khảo có giá trị cho việc nghiên cứu và sản xuất cây hoa huệ nói chung và và cây huệ Hương nói riêng tại Hưng Yên

3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Các kết quả nghiên cứu của đề tài đã làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất và xây dựng quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc thích hợp cho cây huệ

Trang 14

Hương tại Văn Giang-Hưng Yên, góp phần làm tăng năng suất và chất lượng hoa, làm tăng hiệu quả kinh tế cho người sản xuất

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu chung về cây hoa huệ

1.1.1 Nguồn gốc

Cây hoa huệ có tên khoa học là Polianthes tuberosa L., là loại hoa cắt

cành thuộc nhóm thân thảo sống nhiều năm, lá dài, hoa màu trắng và hương thơm Đây là loài hoa dễ trồng, dễ nhân giống, sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện nhiệt đới, chịu nóng, có thể trồng trên nhiều chân đất khác nhau và cho hoa quanh năm [8]

Hoa huệ được trồng ở Việt Nam từ lâu đời, tập trung tại một số tỉnh ở miền Bắc và vùng Duyên Hải Nam Trung bộ, Tây Nguyên như Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Hải Phòng, Bình Định, Khánh Hòa, Tiền Giang….[38][39]

1.1.2 Vị trí phân loại của cây hoa huệ

Trong hệ thống phân loại thực vật học [2], cây hoa huệ là cây thuộc

lớp Một lá mầm (Monocotylendon), bộ Hành (Liliadae), họ Thủy tiên (Amaryllidaceae)

Dựa vào các đặc điểm về hình thái của hoa, trên thế giới có 3 nhóm hoa huệ [22]

- Hoa huệ cánh đơn (A single): Hoa có màu trắng, có một lớp cánh, mùi thơm đậm, được sử dụng rộng rãi trong việc chiết xuất tinh dầu

- Huệ có cánh bán kép (Semi-double): hoa có từ 2 - 3 lớp cánh/bông, giống này không thơm bằng giống hoa cánh đơn

- Huệ cánh kép (Double): có từ 3 lớp hoa trở lên/ bông Hoa có màu trắng và có phớt hồng ở đầu bông

Trang 17

1.1.3 Đặc điểm thực vật học của cây hoa huệ

1.1.3.1 Thân

Huệ thuộc cây thân thảo, thân hành hay còn gọi là thân giả được kết bởi các bẹ lá xếp chồng lên nhau, bẹ lá trước xếp phủ lên bẹ lá sau Thân thẳng đứng không phân nhánh vươn lên thành ngồng hoa cao khoảng

80 - 100 cm [8]

1.1.3.2 Lá

Cây hoa huệ có lá đơn mọc quanh gốc, xanh và dài, cuống lá góc rộng và to thành hình như cái bao bao lấy củ, giữa phiến lá và bẹ lá không phân biệt rõ ràng Chiều dài lá khoảng 25 - 40 cm, bề rộng của lá từ 0,5 - 1,5

Trang 18

1.1.4 Yêu cầu ngoại cảnh của cây hoa huệ

Trước khi phân hóa hoa và lúc cây có 5 - 6 lá cần nhiệt độ mát mẻ

từ 15 - 220C nếu không tỷ lệ nở hoa sẽ rất thấp và chất lượng hoa kém [8]

1.1.4.2 Ánh sáng

Cây huệ là cây ưa ánh sáng mạnh Giai đoạn đầu sau khi trồng, cây sống chủ yếu nhờ vào nguồn dinh dưỡng từ củ Khi cây ra lá, cây sử dụng chất dinh dưỡng từ quá trình quang hợp Trong thời kỳ phân hóa mầm hoa nếu không cung cấp đủ ánh sáng thì tỷ lệ ra hoa thấp, hoa nhỏ…

Ngoài ra nếu thiếu ánh sáng cây hoa huệ rất dễ bị nhiễm bệnh Trong điều kiện ngày ngắn, ánh sáng yếu thì ảnh hưởng mạnh đến sự sinh trưởng phát triển của cây Cường độ ánh sáng cũng là yếu tố ảnh hưởng tới

sự sinh trưởng và phân hóa mầm hoa Nếu cường độ chiếu sáng dưới

3500 lux thì cường độ quang hợp và sự thoát hơi nước giảm, cây mọc vống, cành lá yếu Do đó khi trồng ở vụ đông cần đảm bảo chế độ chiếu sáng phù hợp để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phân hóa mầm hoa, hoa tự dài đồng thời tăng chất lượng hoa Số giờ chiếu sáng thích hợp cho cây hoa

Trang 19

huệ sinh trưởng và phát triển tốt từ 12 - 16 giờ và cường độ ánh sáng khoảng 6000 lux [8]

1.1.4.3 Nước

Cây hoa huệ là cây rễ củ nên khi nảy mầm cũng như quá trình sinh trưởng cần phải có đủ nước Các giai đoạn sinh trưởng khác nhau thì có nhu cầu về nước khác nhau Sau khi trồng vài ngày, rễ mầm nhú ra và phát triển thì yêu cầu đất xung quanh củ phải đủ ẩm, vì vậy trước khi trồng nên tưới nước Khi cây mọc nếu đất quá khô thì phải tưới nước ngay Trong suốt thời kỳ sinh trưởng, cây hoa huệ cần rất nhiều nước, đặc biệt

là ở giai đoạn có 3 - 7 lá, đây là thời kỳ cây có nhu cầu về nước lớn, nếu thiếu nước cây sẽ sinh trưởng chậm ảnh hưởng đến khả năng phân hóa của hoa

1.1.4.4 Đất

Cây hoa huệ có thể trồng trên bất cứ loại đất nào, cây chỉ sinh trưởng tốt, cho hoa đẹp trên loại đất hơi kiềm (pH = 6 -7), có cấu trúc mịn, giữ ẩm tốt Tuy vậy, huệ không thích hợp nơi đất quá trũng, chua hay cớm bóng [8]

Cây hoa huệ có thể trồng trên các loại đất có thành phần cơ giới sau:

- Đất cát pha có độ tơi xốp cao, thoáng khí, ngấm nước tốt nhưng có

độ phì kém Do đó, khi trồng hoa huệ trên loại đất này cần phải bón nhiều phân hữu cơ để bổ sung dinh dưỡng cho cây

- Đất thịt nhẹ, thoát nước tốt, giàu dinh dưỡng là loại đất trồng thích hợp đối với cây hoa huệ Nếu đất quá ẩm, rễ rất dễ bị thối, vì thế vào mùa mưa cần chống úng, tháo nước kịp thời không để ruộng bị ngập úng

Trang 20

Mặt khác hoa huệ cũng là cây rất mẫn cảm với các loại muối kim loại nặng

Đặc biệt là loại đất có hàm lượng chì cao, rễ cây sinh trưởng kém, cây phát triển chậm và khả năng ra hoa kém Chính vì vậy trước khi trồng huệ cần chú ý đến các biện pháp canh tác đất

1.1.5 Sâu bệnh hại trên cây hoa huệ

- Đặc điểm sinh học và tác hại: Con trưởng thành có chiều dài từ 1 - 2

mm, màu trắng, chất sáp được tiết ra ở phần bụng của con trưởng thành và phủ lên toàn bộ cơ thể Thường làm cho cây còi cọc, ngọn quăn queo, nụ bị thui, hoa không nở được hoặc dị dạng, thường gây hại nặng ở vụ xuân hè và đông xuân

- Biện pháp phòng trừ: Sử dụng Karate 2,5 EC liều lượng 10 - 15 ml/bình 10lít, Supracide 40ND liều lượng 10 - 15 ml/bình 10 lít, Actara 25WG liều lượng 25 - 30 g/ha, Regent, Britin 10 - 15 ml/bình 10 lít , lượng phun 10 bình/1.000m2

* Nhện đỏ (Tetranychus sp.)

- Đặc điểm sinh học và tác hại: Nhện trưởng thành đẻ trứng vào lớp tơ mỏng mặt dưới lá Một con cái có thể đẻ 200 trứng Nhện non và trưởng thành sống tập trung mặt dưới lá, chích hút nhựa tạo thành các vệt màu nâu vàng nhạt dọc 2 bên gân lá Mật độ nhện cao làm lá vàng khô, cây sinh trưởng

Trang 21

kém Nhện còn làm nụ héo, hoa nhỏ.Vòng đời trung bình 20 - 25 ngày Nhện

đỏ phát triển nhiều khi thời tiết nóng và khô Ngoài hoa huệ, nhện còn hại nhiều loại cây như bông, chè, cam quít, đậu, dưa…

- Biện pháp phòng trừ: Bón phân, tưới nước đầy đủ cho cây, khi nhện gây hại,không để ruộng khô, phun thuốc đặc trị như Danitol, Nissorun, Ortus, Sirbon

* Bọ trĩ (Haplothrips aculeatus)

- Đặc điểm sinh học và tác hại: Bọ trĩ trưởng thành có màu đen và kích thước rất nhỏ, sâu non có màu hồng nhạt Trưởng thành và sâu non hoàn thành chu kì sống trong củ Gây hại và định cư tại phần gốc, làm tổn thương phần củ và tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm xâm nhập và dần dần làm cho củ

bị thối nhũn

- Biện pháp phòng trừ: Xử lý củ bằng nước nóng ở 44oC trong 1 giờ

để loại bỏ mầm mống sâu hại Khử trùng củ bằng Benlate C 50WP 0,2% hoặc Daconil 75WP 0,15 %

1.1.5.2 Bênh hại

* Thối bẹ lá (Botrytis cinerea)

- Nấm phát triển trong điều kiện nhiệt độ mát mẻ, là nấm bệnh nguy hiểm đối với Huệ Triệu chứng ban đầu là những đốm trắng (dạng giọt nước ở mặt trên của lá), ngoài viền có màu nhạt và ở giữa vết bệnh có màu sẫm Trong điều kiện thời tiết nóng ẩm, oi bức những vết đốm sẽ liên kết lại và làm

bộ lá có thể bị gãy và thối Mưa kéo dài, sương mù và sương muối nặng sau

đó nhiệt độ tăng cao và có độ ẩm trên lá là điều kiện thuận lợi nhất cho bệnh phát triển

- Quản lý bệnh:

Trang 22

+ Phun thuốc phòng trừ bệnh sớm, đặc biệt ở những nơi có điều kiện môi trường thuận lợi cho bệnh phát triển Phun thuốc chỉ có hiệu quả khi lá không bị ướt và phun vào phía mặt dưới của lá nơi bị nhiễm bệnh

+ Thu dọn tàn dư và tiêu hủy toàn bộ cây bị bệnh vào cuối vụ thu hoạch

+ Ở những nơi bị bệnh nặng, loại bỏ cây bị bệnh càng sớm càng tốt để tránh lây lan sang những cây bên cạnh và vào vụ tiếp theo

+ Loại bỏ những lá bị đốm vào buổi sáng khi lá vẫn còn ướt, để hạn chế sự lây lan bệnh

+ Tránh trồng huệ ở nơi thoát nước kém hoặc nơi bị che bóng

* Bệnh thối rễ (Pythium splendens)

- Bệnh thối rễ thường liên quan đến việc thoát nước kém, thiếu độ thông thoáng trong đất và trồng cây trên loại đất có độ kết cấu quá chặt như đất sét nặng Mức độ nhiễm bệnh liên quan đến nhiệt độ đất và điều kiện trồng Loại nấm này có khi kí sinh trên củ, thường vết bệnh có màu vàng sẫm

và tạo điều kiện cho các loài vi sinh vật khác xâm nhập và gây bệnh

* Bệnh thối củ (Fusarium oxysporum)

- Vết củ bị thối màu nâu nhạt hoặc nâu sẫm, rồi lan rộng lên bẹ lá làm

bẹ lá bị tách rời ở phần gốc và cuối cùng củ sẽ bị thối hoàn toàn Cây bệnh sẽ

Trang 23

làm lá chuyển màu vàng, cây bị lùn và biến màu Nấm Fusarium có mặt ở các

loại đất và gây hại khi nhiệt độ và ẩm độ đất cao trong những tháng mùa hè Bệnh phổ biến ở những vườn trồng huệ lâu năm Trong điều kiện mát mẻ thì bệnh ít nguy hiểm hơn

- Quản lý bệnh hại

+ Không sử dụng củ có biểu hiện nhiễm bệnh Khi phát hiện cây nhiễm cần nhổ bỏ và tiêu hủy Ở những nơi nhiễm nặng, phải thay lớp đất bề mặt có chiều dày 45cm Vệ sinh,à khử trùng đất trước khi trồng, nhất là khi nhiệt độ đất cao

+ Tránh bón phân đạm cao vì liều lượng phân đạm cao sẽ làm cho củ mềm, phát triển nhanh và làm cho củ dễ bị nhiễm bệnh

+ Không để phân hữu cơ tiếp xúc trực tiếp với bộ rễ Sử dụng phân chuồng hoai mục như lớp che phủ bề mặt làm cho đất mát, gây bất lợi cho

nấm Fusarium

+ Trồng cây ở những nơi thoát nước Tránh tưới nước lên toàn bộ cây trong những tháng mùa hè Tránh đất chua cần bón thêm vôi bột để tăng pH cho đất

+ Tránh làm tổn thương cây khi làm cỏ, vệ sinh đồng ruộng hoặc vận chuyển Vết thương cơ giới tạo cơ hội cho vi sinh vật xâm nhập vào phần gốc của cây

+ Sử dụng Cacbendazim, Benlate C, Maneb theo nồng độ khuyến cáo

* Bệnh thối sinh lý

- Triệu chứng: Khi cây cao khoảng 20cm, những lá non có những đốm xác định màu xanh vàng hoặc hơi trắng và xuất hiện vết cháy nhẹ Khi nặng

Trang 24

đốm trắng sẽ thành màu nâu cục bộ, làm lá quăn queo và phá huỷ cả hoa, cây

sẽ ngừng sinh trưởng

- Nguyên nhân: Có thể do giống bị mẫn cảm, do cây hút nước yếu, rễ phát triển kém, hàm lượng nước trong đất quá thừa, cây sinh trưởng quá nhanh không cân bằng với bộ rễ hoặc thoát nước mạnh, do không khí quá khô, ánh sáng gay gắt, củ to dễ nhạy cảm hơn củ nhỏ

- 50g/10lít định kỳ 5 - 7 ngày 1 lần, lượng phun 15 bình/1.000m2 vừa giảm tỷ

lệ cây nhiễm bệnh vừa kích thích sự sinh trưởng, phát triển của cây

1.2 Giá trị kinh tế và sử dụng của hoa huệ

Với đặc điểm sinh thái dễ thích nghi với vùng khí hậu nhiệt đới như

ở nước ta đồng thời yêu cầu trồng và chăm sóc không quá khắt khe nên huệ được trồng khá phổ biến và đem lại thu nhập rất cao cho người trồng hoa

Trong những năm gần đây, cây hoa huệ đem lại thu nhập cao cho người dân các tỉnh phía Nam như Tiền Giang, Đồng Tháp Đặc biệt, tại các tỉnh Nam Trung Bộ như Bình Định, Khánh Hòa, từ khi người dân mở

Trang 25

rộng diện tích và nâng cao kỹ thuật canh tác, cây hoa huệ đã trở thành cây trồng chính và trở thành cây xóa đói giảm nghèo Hiện nay, thu nhập từ cây hoa huệ ở đồng bằng sông Cửu Long bình quân từ 150-200 triệu/ha và ở Nam Trung bộ là 80 - 150 triệu/ha [4], [8], [38], [39]

Ngoài giá trị sử dụng thông thường như trên, gần đây người ta còn

sử dụng một số bộ phận của cây này làm thuốc chữa bệnh và chế ra các loại dầu thơm

Hiện nay, một số nghiên cứu về loài hoa này đã tìm ra một số thành phần hoá học có liên quan đến việc sản xuất ra các loại dầu thơm, nước hoa quý, được chiết xuất từ các bộ phận như hoa và sáp hoa trong đó loại tinh dầu tuyệt đối thu được khi chiết xuất từ hoa như alcol benzil chiếm 0,7%, benzoat metil (4,5%), antranilat metil (8,0%), metilisoeugenol (10%), benzoat benzil (24%) Ngoài ra, n-alkan chiếm tỷ lệ không nhỏ tới 42% trong sáp hoa cũng là một thành phần hoá học quan trọng trong việc chế xuất các loại nước hoa, dầu thơm

Bên cạnh đó, cây hoa huệ còn có công dụng trong y học, bộ phận được sử dụng là củ huệ Trong tinh dầu củ huệ có chứa thành phần sapogenin, sapogenin bao gồm hecogenin và tigogenin là loại hợp chất được chiết xuất để bào chế ra một số loại thuốc quý Từ lâu trong dân gian người dân đã biết sử dụng cây hoa huệ để làm thuốc chữa một số bệnh đơn giản Ở Ấn Độ người ta đã dùng củ phơi khô, tán thành bột để làm thuốc trị liệu, hoặc ở Vũng Tàu người dân nơi đây đã dùng củ huệ để chữa bệnh sốt rét

Ở một số nơi, dân gian còn dùng củ huệ để chữa bệnh hóc xương bằng cách đem giã nát củ, vắt lấy nước rồi nhỏ vào họng của người bị hóc xương sau 1 - 2 phút sẽ khỏi

Trang 26

1.3 Tình hình sản xuất hoa huệ trên thế giới và ở Việt Nam

1.3.1 Tình hình sản xuất hoa huệ trên thế giới

Hiện nay trên thế giới hoa huệ được sản xuất và tiêu thụ nhiều nhất ở

Mỹ, Hà Lan, Mexico, Ấn Độ, Trung Quốc.…

Hà Lan là đất nước nổi tiếng về công nghiệp sản xuất hoa cây cảnh trên toàn thế giới Trong nhiều năm qua, Hà Lan vẫn là quốc gia duy nhất giữ được vị trí hàng đầu trong sản xuất và xuất khẩu các loại hoa nói chung và hoa huệ nói riêng, 70% huệ ở Hà Lan được trồng để xuất khẩu, 30% còn lại tiêu thụ trong nước Hàng năm, Hà Lan sản xuất hàng chục triệu củ giống Chỉ tính riêng 6 tháng cuối năm 2013, Hà Lan đã thu được hơn 6 triệu USD từ hoa huệ, năm cao nhất 2014 là 13triệu USD, có được thành công này là do Hà Lan đã tập trung rất mạnh trong việc nghiên cứu lai tạo giống mới, kỹ thuật nhân giống, điều khiển ra hoa Giá trị xuất khẩu hoa huệ (bao gồm hoa cắt cành và củ giống) của Hà Lan năm từ tháng 11/2013 đến tháng 11/2014 chiếm 73,1% tổng giá trị xuất khẩu hoa huệ của các nước (gồm hoa cắt cành,

củ giống và tinh dầu) [35], [36]

Sau Hà Lan, Mỹ cũng là nước xuất khẩu hoa huệ lớn thứ 2 trên thế giới, Mỹ là nước đứng đầu về công nghệ sản xuất củ giống, giá trị xuất khẩu năm 2013 đạt 4 triệu USD và năm 2014 đạt 6 triệu USD [35], [36]

Bên cạnh việc sản xuất và xuất khẩu hoa cắt cành và củ giống, thì hiện nay, nhiều nước trên thế giới đã sản xuất và xuất khẩu tinh dầu hoa huệ Tinh dầu hoa huệ có tác dụng làm thư giãn tinh thần, giải tỏa stress và được sử dụng để làm giảm chứng mất ngủ

Ukraine, Mexico, Anh, Qatar và Nhật Bản là những nước sản xuất tinh dầu hoa huệ nhiều nhất trên thế giới Năm 2013, Nhật Bản xuất khẩu tinh dầu đạt 3,8 triệu USD và tăng 1,5 triệu USD vào năm 2014 Sản lượng xuất

Trang 27

khẩu tinh dầu của Qatar năm 2013 - 2014 dao động từ 2,0 - 4,2 triệu USD [35]

Từ tình hình sản xuất trên thế giới cho thấy hoa huệ rất được ưa chuộng và nhiều nước đã có những nghiên cứu chuyên về loài hoa này, các nhà làm vườn vừa chọn lọc lai tạo và nghiên cứu các pháp về kỹ thuật,

phương chiết xuất tinh dầu để đáp ứng nhu cầu của thị trường

1.3.2 Tình hình sản xuất hoa huệ ở Việt Nam

Có mặt ở nước ta từ lâu và được trồng rộng rãi trong cả nước, nhưng cây huệ được trồng phổ biến hơn cả ở Miền Nam và Nam Trung Bộ Trong những năm gần đây, diện tích canh tác cây hoa huệ được mở rộng

ra một số tỉnh phía Bắc như Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định và đem lại thu nhập cao cho người trồng

Hoa huệ được xem là loài hoa dễ trồng, chi phí đầu tư ban đầu thấp, ít

bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thời tiết và đặc biệt hơn là hoa huệ cho thu hoạch tới 14 tháng/vụ nên trong điều kiện thuận lợi thường cho thu nhập cao Theo thống kê hiện nay, trên địa bàn các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích trồng huệ lớn hơn cả Trung bình các tỉnh có khoảng 500

- 1000 ha canh tác cây hoa huệ, khi thu hoạch có thể cho thu nhập từ 150 -

200 triệu đồng/ha Các tỉnh vùng Nam Trung bộ bắt đầu đẩy mạnh canh tác cây hoa huệ, đặc biệt là ở Bình Định và Khánh Hòa Tại huyện Tuy Phước bà con nông dân ở đây đã chuyển 98 ha đất trồng lúa bấp bênh chân cao thiếu nước và đất trồng màu kém hiệu quả sang trồng huệ, việc duy trì cây hoa huệ trắng, một đặc sản trên vùng đất Bình Định cũng là việc cần chú ý để nghiên cứu, đầu tư hỗ trợ bà con hình thành nên làng nghề trồng hoa đặc sắc Theo đánh giá của người dân nơi đây, trong điều kiện thuận lợi mỗi ha bình quân cho thu nhập trên 150 triệu đồng [4]

Trang 28

Ở miền Bắc, hoa huệ trồng nhiều ở các huyện Văn Lâm, Như Quỳnh, Văn Giang - Hưng Yên, Gia Lâm - Hà Nội, Hải Phòng và Nam Định Hoa huệ thường được tiêu thụ nhiều nhất vào các mùa lễ hội, đi chùa, tảo mộ sau tết âm lịch, nhưng do quá trình độ thị hoá nên diện tích trồng huệ

đã bị thu hẹp nhanh chóng, trong khi nhu cầu trên thị trường vẫn gia tăng vì vậy giá hoa huệ vẫn ở mức cao, trung bình 30 - 40 nghìn một chục, đặc biệt trong các dịp lễ, tết giá hoa có thể tăng gấp rưỡi đến gấp đôi, 1 ha có thể cho lãi ròng từ 120 - 150 triệu đồng, lại dễ trồng, chi phí đầu tư thấp hơn so với trồng rau, nên huệ được xem là cây trồng xóa đói giảm nghèo và làm giàu cho cho vùng chuyên canh loài cây này, rất phù hợp với nền nông nghiệp đô thị [8]

Tại Việt Nam huệ được trồng ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và các tỉnh Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Tây Nam bộ, nhưng nhiều năm qua không phát triển được do củ giống kém chất lượng, người dân sản xuất mang tính tự phát, tự để giống và chăm sóc theo kinh nghiệm, nên năng suất và chất lượng hoa không đảm bảo yêu cầu cho tiêu dùng, hiệu quả kinh doanh thấp, vì vậy cần phải nghiên cứu đưa ra được quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa huệ để áp dụng vào thực tiễn sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng hoa huệ góp phần làm phong phú hơn các sản phẩm hoa cắt cành cho thị trường

1.3.1 Tình hình áp dụng các biện pháp kỹ thuật trên cây hoa huệ ở Văn Giang

Hiện nay, hoa huệ đã được trồng với diện tích lớn, tuy nhiên người trồng hoa chưa áp dụng các biện pháp kỹ thuật vào sản xuất, vẫn trồng và chăm sóc theo kinh nghiệm như để củ lưu cữu qua nhiều vụ, sử dụng củ tươi để trồng, không dùng phân bón lá Đây là những nguyên nhân khiến cho cây hoa huệ

Trang 29

sinh trưởng, phát triển ngày càng kém, năng suất và chất lượng hoa thấp Như vây, việc nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của cây hoa huệ là cần thiết

1.4 Tình hình nghiên cứu hoa huệ trên thế giới và Việt Nam

1.4.1 Tình hình nghiên cứu hoa huệ trên thế giới

1.4.1.1 Nghiên cứu thu thập nguồn gen và chọn tạo giống

Để phát triển nhanh các giống mới ra sản xuất Trung Quốc rất coi trọng việc thu thập và đánh giá các nguồn gen bản địa, nhằm bảo tồn bền vững nguồn gen hoang dại cũng như các mẫu giống có khả năng kháng bệnh Đối với hoa huệ, đã thu thập hàng trăm mẫu giống bao gồm cánh đơn, cánh kép và các mẫu kháng bệnh đốm đen và thối củ, đặc biệt là những mẫu giống chuyên sản xuất tinh dầu thơm và dùng để ướp chè Cũng bằng phương pháp tuyển chọn giống, đánh giá nguồn gen, chọn lọc cá thể và quần thể, đã tuyển chọn cho sản xuất những giống huệ kép có năng suất cao, chất lượng tốt, đặc biệt là có khả năng chống chịu với các yếu tố bất lợi của môi trường [8]

Sarkar.J và Mirsa.R.L (2010) [29] , đã phân tích đa dạng di truyền ở

cây hoa huệ (Pollianthes tuberosa L.) bằng sử dụng công nghệ đánh dấu

DNA 20 kiểu gen hoa huệ bao gồm cả loại đơn và kép được thu thập từ các vùng khác nhau của Ấn Độ đã được lựa chọn để tách chiết DNA Trong số 80 các mồi ngẫu nhiên thử nghiệm, 17 mồi đã được lựa chọn dựa trên mức độ cao của tính đa hình Từ chỉ số đánh dấu RAPD đã xác định mồi OPC-13 và OPD-12 là mồi hiệu quả để phân tích tính đa dạng của hoa huệ Kiểu gen Guwahati đôi và Swarnrekha cho thấy hệ số tương đồng cao (0,90) Các phân tích RAPD cũng xác nhận họ hàng của chúng Kiểu gen Vaibhav và Pune đơn

đã được tìm thấy có sự không giống nhau mặc dù chúng có sự tương đồng hình thái học với nhau

Trang 30

Năm 2011 - 2012, các nhà khoa học tại trường nông nghiệp Tamil Nadu, Coimbatore [20] đã nghiên cứu năm kiểu gen của hoa huệ kép

(Polianthes tuberosa L.) trong mười hai thông số khác nhau để xác định sự đa

dạng di truyền và liên kết giữa các gen Các kết quả thí nghiệm đã chỉ ra rằng

hệ số của sự biến đổi kiểu hình cao hơn hệ số của sự biến đổi kiểu gen cho tất

cả mười hai thông số được nghiên cứu Hệ số di truyền cao được quan sát cho

số nụ hoa mỗi nhánh, chiều dài cành hoa và sản lượng hoa con mỗi lô (2 × 2 m) Các nghiên cứu tương quan chỉ ra rằng chiều cao cây có mối tương quan

tỷ lệ thuận với chiều dài cành, năng suất hoa/ lô (2 × 2 m), số lượng nụ hoa mỗi nhánh, thời gian ra hoa, số lượng lá trên cây, chiều dài phần mang hoa và chiều cao hoa

T.M Shen, K L Huang, R S Shen và B.-S Du (2004) [32], đã

nghiên cứu lai giống hoa huệ lùn (Polianthes tuberosa L.) Các tác giả đã thực

hiện các phép lai và lai trở lại giữa các giống huệ đơn và huệ kép Các giống

P x Howardii và P x Blissii được tạo ra và một vài con lai đã biểu hiện màu hồng, màu đỏ tím, tím, màu da cam và màu vàng Tuy nhiên các hoa của các con lai có màu và có nhánh dài chỉ thích hợp với hoa cắt Do đó 4 con lai của các giống hoa lùn đươc lựa chọn lại và được sử dụng để trồng chậu hoặc trồng thảm

1.4.1.2 Nghiên cứu nhân giống hoa huệ bằng phương pháp in vitro

Năm 2000, các tác giả Rajasekaran, V.; Haripriya, K.; Arumugam

Shakila ở Ấn Độ [26], đã nhân giống in vitro tuberose (Polianthes tuberosa

L.) bằng phương pháp nuôi cấy tái sinh trực tiếp, sử dụng các đoạn mẫu là củ (thân hành) Các mẫu được khử trùng bề mặt với Mercuric chloride 0,1% trong 6 phút và được nuôi cấy trên môi trường MS với các nồng độ kinetin và BAP (benzyladenine) khác nhau Các phản ứng tái sinh tốt nhất thu được trên

Trang 31

môi trường MS có chứa 3 mg kinetin /l Các chồi tái sinh chuyển sang môi trường MS có bổ sung 2 mg IBA/l tạo rễ khoảng 90% Các cây con được chuyển vào chậu trên nền giá thể là đất vườn và cát

Tại Pakistan (2000), Shaista Jabeen và Javaid Iqbal đã tiến hành

nghiên cứu vi nhân giống củ, vảy củ và lá của Polianthes tuberosa L Các tác

giả đã ứng dụng kỹ thuật in vitro để nâng cao tỷ lệ nhân Polianthes tuberosa Vảy củ và các mẫu nhỏ bị tổn thương từ nửa dưới và các mẫu vảy đơn được nuôi cấy trên môi trường MS có bổ sung với nồng độ khác nhau của NAA (0,25 - 4,0 mg/lít) và Benzyladenine (2,0 - 16,0 mg/lít) Các củ nhỏ được hình thành từ các vảy củ và lá Các củ con được hình thành và đạt kích thước lớn hơn, ít bị tổn thương so với vảy củ Các lá hình thành mô sẹo trên môi trường

MS có bổ sung NAA 1,0 mg; 1,0 mg IAA; Kinetin 2,0 mg và 7,0 mg Benzyladenine/lít và kết quả là cơ quan giả hành đã được tái sinh từ các callus

Năm 2002, các tác giả ở Đài Loan, Robin D Cowen và Martin M Meyer Jr [28] đã nghiên cứu nhân giống inviro Polianthes tuberose bằng nuôi cấy các đoạn củ, chồi bất định và nụ hoa non trên môi trường MS cải tiến với Naphthaleneacetic (NAA) và Benzyladenine (BA) Nụ hoa non có đường kính 0,3 cm được tạo chồi tốt nhất trên môi trường MS với 2,5 mg NAA và 10 mg

BA Quan sát hình thái cho thấy chồi đã được tái sinh trong mô nhỏ Nhiệt độ 30°C và quang chu kỳ 18-24 giờ là tối ưu Chồi tái sinh từ nụ hoa được nhân trên môi trường MS với 0,5 mg NAA và 20 mg BA với hàm lượng đường 30 g/lít và 60 g/lít cho kết qủa tốt nhất

1.4.1.3 Một số kết quả nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật

Trang 32

Polianthes toberosa L là một trong những loại hoa cắt cành quan trọng nhất ở Ý, để giảm chi phí sản xuất củ giống và làm giảm các vấn đề nhiễm bệnh ở củ do trồng từ đất, Pasquale, L và Cs (2000), Viện nghiên cứu giống hoa ở Ý [25] , đã nghiên cứu năng suất củ trên các nền giá thể khác nhau, bao gồm chất thải được sản xuất từ rượu trộn lẫn với đá trân châu theo các tỷ lệ 30-50-70% với 4 lần lặp lại Kết quả cho thấy trong 3 tỷ lệ phối trộn trên, nền giá thể 70% chất thải sản xuất rượu và 30% đá trân châu cho năng suất củ đạt cao nhất, củ chắc mập, bộ rễ khỏe So với lối canh tác truyền thống, đã làm tăng gấp đôi sản lượng, giảm thấp tỷ lệ nhiễm bệnh thối nhũn trên củ

Năm 2001, M Asif, M Qasin và Cs tại Đại học Nông nghiệp Pakistan [24] đã nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng đến sự sinh trưởng, ra hoa và đặc điểm nhân chồi của hoa huệ Nghiên cứu đã chỉ ra thời điểm trồng vào cuối tháng 3 đầu tháng 4 (nhiệt độ trung bình là 25,5oC) cho thời gian mọc mầm ngắn nhất, chiều cao cành và chiều dài phần mang hoa dài nhất: 14,0 ngày; 108,1 cm và 26,3 cm nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, trồng trong khoảng thời gian từ 31/3 - 1/4 cho số củ con đủ tiêu chuẩn thu được nhiều nhất là 18,0 củ/khóm

Cũng ở Ý, năm 2002, Vita.M.de và Lauro.P [34] đã nghiên cứu ảnh hưởng của 2 chất điều hòa sinh trưởng đến sự ra hoa của giống huệ trồng chậu

(Polianthes tuberosa L.) phục vụ cho việc trang trí và thiết kế cảnh quan Để

tăng số lượng củ mà không làm giảm chất lượng hoa, 2 chất điều hòa sinh trưởng (Daminozide 2,5 và 5 g/l và Chlormequat 5 và 10 g/l) đã được so sánh Việc trồng được thực hiện trong chậu có đường kính 14 cm, với mật độ 1, 2

và 3 củ/ chậu Thử nghiệm cho thấy Chlormequat 5 g/l, mật độ 3 củ/chậu cho

Trang 33

hiệu quả cao nhất, đã làm giảm chiều cao cây 15 cm so với đối chứng không phun

Hoa huệ là một loại hoa nhiệt đới và cận nhiệt đới được trồng rộng rãi

ở Iran Để tăng độ bền cho hoa cắt cành, Jowkar và Mohammad Mahdi (2003) [21] đã thí nghiệm các dung dịch bảo quản gồm Sucrose (1,2 và 3%), Silverthiosulphate (0,4; 0,8 và 1,2 mM), Bạc nitrat (50,100 và 150 mg/l), Acid citric (150,300 và 450 mg/l) và nước là đối chứng Kết quả cho thấy Silverthiosulphate đã gây cháy hoa, Bạc nitrat làm héo cánh và Sucrose còn làm giảm tuổi thọ hoa cắt Kết quả cho thấy hoa đạt tuổi thọ cao nhất ở Acid citric với liều lượng 300 và 450 mg/l

Ahmad, I., T Ahmad, M Asif, M Saleem and A Akram (2009) [19]

chỉ ra ảnh hưởng của kích thước củ hoa huệ đến sinh trưởng và sự ra hoa Kết quả nghiên cứu cho thấy, kích thước củ càng lớn thì thời gian ra hoa ngắn (96,7 ngày) và độ bền hoa cắt dài (20,7 ngày)

N P Singh của Hội đồng nghiên cứu Nông nghiệp Ấn Độ (2015) [22]

đã đưa ra quy trình hoàn thiện sản xuất và bảo quản hoa huệ tại Ấn Độ Kết quả đưa ra cho thấy sử dụng phân bón lá chứa ZnSO 4 0,5% + FeSO 4 0,2% + 0,1% axit boric cải thiện sự tăng trưởng về hình thái và sự ra hoa

Năm 2013, các nhà khoa học của trường đại học Shahid Chamran, Iran [23] đã thu thập tại các cánh đồng của tỉnh Dezful Khuzestan mẫu bệnh thối Fusarium trên cây hoa huệ (Polianthes tuberosa L.) và phục hồi 110 mẫu phân lập của Fusarium oxysporum Đây là một nguyên nhân chính gây hạn chế trong việc sản xuất hoa huệ ở Iran Sự đa dạng di truyền giữa Fusarium oxysporum phân lập được xác định bằng cách sử dụng các nhóm thực vật

Trang 34

tương thích và kỹ thuật nhân đa hình DNA (RAPD) Trong những thí nghiệm đầu tiên, 45 mẫu phân lập được lựa chọn ngẫu nhiên để kiểm tra nhóm thực vật tương thích Việc phân lập được gán cho thành bốn nhóm thực vật tương thích Những phân lập cũng đặc trưng bằng kỹ thuật RAPD thành sáu nhóm di truyền ở cấp độ 61% tương đồng Cụm phân tích các dữ liệu RAPD cho thấy một liên kết chặt chẽ với nhóm thực vật tương thích trong một số trường hợp Ngoài ra, kiểm tra bệnh nhân tạo cho thấy rằng tất cả các mẫu phân lập đều gây bệnh Nghiên cứu này là báo cáo đầu tiên của sự đa dạng di truyền của Fusarium oxysporum trên huệ ở Iran

1.4.2 Tình hình nghiên cứu hoa huệ ở Việt Nam

1.4.2.1 Nghiên cứu thu thập nguồn gen

Cây hoa huệ (Polianthes tuberosa L) có nguồn gốc từ các nước nhiệt

đới và cận nhiệt đới Huệ là cây thân thảo sống nhiều năm, lá dài, hoa màu trắng và hương thơm ngào ngạt Đây là loài hoa dễ trồng, sinh trưởng tốt trong điều kiện nhiệt đới, chịu nóng và có thể trồng trên nhiều chân đất khác nhau, nhưng dễ bị thối củ và nhiễm bệnh khi ngập úng

Tại Việt Nam huệ được trồng ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và các tỉnh Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Tây Nam bộ Huệ là loài hoa được dùng nhiều trong việc cúng, lễ Mặc dù nhu cầu huệ trên thị trường hàng năm vẫn tăng cao, nhưng quy mô trồng vẫn bị thu hẹp lại do quá trình độ thị hoá, do củ giống kém chất lượng Người dân sản xuất mang tính tự phát, tự để giống và chăm sóc theo kinh nghiệm, nên năng suất và chất lượng hoa không đảm bảo yêu cầu cho tiêu dùng nên hiệu quả kinh doanh thấp

Trang 35

Hiện nay nghiên cứu về hoa huệ ở trong nước còn ít, thường chỉ dừng lại ở mức độ mô tả về mặt hình thái, việc thu thập tuyển chọn giống và xây dựng các biện pháp canh tác còn rất nhiều hạn chế, chưa được chú ý nhiều

Những nghiên cứu về điều tra thu thập và bảo tồn nguồn gen hoa cây cảnh ở Việt Nam (Nguyễn Xuân Linh và Cs, 2005) [7] đã cho thấy hoa huệ được tập trung nhiều ở ở khu vực sinh thái Nam Trung Bộ, Hải Phòng, Nam Định

Cũng trong năm 2007, để phát triển vùng trồng huệ ở Hà Nội, Viện Di truyền Nông nghiệp đã tiến hành nhập nội một số giống hoa huệ từ Trung Quốc, mặc dù các giống này sinh trưởng phát triển rất tốt trong điều kiện Việt Nam cho hoa to, cây khỏe, nhưng lại không được thị trường ưa chuộng do hoa không có mùi thơm, dễ bị gãy đổ trong mùa mưa bão

Điều tra thu thập các mẫu giống hoa huệ, năm 2010 Viện KHKTNN Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ đã xác định có 4 giống hoa huệ hiện đang được sản xuất tại khu vực phía Nam là huệ Trâu trắng ở An Mỹ - Playku - Gia lai, huệ Sẻ ở Phước Lộc - Tuy Phước - Bình Định, huệ Lá dựng ở Ninh Hòa - Khánh Hòa và giống huệ Hương ở Phước Sơn - Tuy Phước - Bình Định [4]

Nguyễn Thị Kim Lý và Cs tại Viện Di truyền Nông nghiệp (2013) đã điều tra, thu thập và đánh giá được các đặc điểm về thành phần loài, đặc điểm phân bố, tính thích nghi, tình hình khai thác sử dụng và khả năng bảo tồn và phát triển của 8 mẫu giống hoa huệ trong cả nước là giống huệ Hương Hưng Yên và huệ Hưng Bình Định, huệ Sẻ Hải Phòng và huệ Sẻ Nam Định, huệ Trâu trắng, huệ Trâu tía, huệ Lộc và huệ Lá dựng ở Tuy Phước - Bình Định Kết quả đã tuyển chọn cho sản xuất các giống huệ Hương, huệ Trâu trắng và huệ Trâu tía cho sinh trưởng, phát triển tốt, năng suất và chất lượng hoa được thị trường ưa chuộng.[8]

Trang 36

1.4.2.2 Các nghiên cứu về nhân giống

Các nghiên cứu về nhân giống nuôi cây mô huệ cũng đã được thực hiện ở Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN tỉnh Bình Định, Viện sinh học Nông nghiệp - Học viện Nông nghiệp Việt Nam và Viện Di truyền Nông nghiệp Năm 2007, Nguyễn Bảo Toàn và các Cs ở trường Đại học Cần Thơ đã

phục tráng giống hoa huệ trắng (Polianthes tuberosa Linn.) nhiễm bệnh Vius

CMV (bệnh Chai bông) bằng công nghệ tế bào nuôi cấy phân sinh mô chồi Kết quả cho thấy môi trường để nhân chồi là BM có bổ sung 0,25 mg/l α- NAA + 1mg/l BA, cho số chồi đạt được là 7,2 chồi sau 30 ngày Môi trường

để tạo rễ là BM + 3g/l than hoạt tính Thuần dưỡng cây con bằng cách phủ khay nhựa có lỗ thoáng khí đã cho tỷ lệ sống cao trên 80% Cây cấy mô trồng ngoài sản xuất có là cây sạch bệnh Virus CMV (chai bông), sinh trưởng phát triển tốt và cho năng suất, chất lượng hoa cao [11]

Năm 2009, Nguyễn Thị Y Thanh đã nghiên cứu xây dựng quy trình nhân giống hoa huệ Hương bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào Kết quả cho thấy, môi trường nhân nhanh protocorm là MS có bổ sung 30g/l saccaroza + 6,5g/l agar + 3mg/l BA + 0,5mg/l α-NAA cho số chồi/ protocorm đạt 8,53 Các chồi in vitro ra rễ thuận lợi trên môi trường MS + 30g/l saccaroza + 6,5g/l agar + 1 mg/l α-NAA hoặc MS + 30g/l saccaroza + 6,5g/l agar + 2g/l than hoạt tính, cho tỷ lệ ra rễ đạt 100% và chất lượng rễ tạo thành tốt Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra được giá thể thích hợp để đưa cây in vitro

ra vườn ươm là Đất + Xơ dừa + Trấu hun (1:1:1) [12]

Lê Lý Vũ Vi, Nguyễn Bảo Toàn và Cs (2014), Trường đại học Cần Thơ, đã thực hiện nghiên cứu nhằm xác định các giai đoạn của vi nhân giống bao gồm nhân, ra rễ, thuần dưỡng và trồng thử nghiệm ngoài đồng Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng cây hoa huệ đạt được số chồi 7,1 ở công thức 1 mg

Trang 37

α-NAA + 4 mg/l BA Cây hoa huệ trắng ra rễ tốt trên môi trường có atonik trong điều kiện ánh sáng tự nhiên (120 µmol.m-2.s-1 kích thích sự ra rễ in vitro Trong giai đoạn thuần dưỡng, cây huệ đã được nuôi cấy trong môi trường có atonik thích nghi tốt Trong mô hình canh tác cho thấy rằng cây huệ trồng từ cây cấy mô sinh trưởng và phát triển rất tốt, bắt đầu ra hoa sau khi trồng năm tháng, cho năng suất và phát hoa có chất lượng tốt [14]

Năm 2014, Lê Văn Luy, Nguyễn Thị Kim Lý và Cs tại Viện Di truyền Nông nghiệp và Viện KHKTNN Duyên hải Nam trung bộ đã đưa ra quy trình

nhân giống in vivo hoa huệ Hương bằng phương pháp tách mầm củ Kết quả

cho thấy củ có kích thước >3cm và trồng vào vụ Xuân hè là thích hợp để nhân giống cho hệ số nhân củ đạt 8,35 lần, số lượng củ thương phẩm có kích thước

từ 2,1- >4cm đạt 4,41 củ Giá thể tốt nhất là 2/3 đất phù sa + 1/3 trấu hun, cho

hệ số nhân giống củ đạt 8,40 lần, số lượng củ thương phẩm có kích thước

2,1->4cm đạt 4,83 củ/khóm Sử dụng chế phẩm Rong biến cho hệ số nhân giống

đạt 8,77 lần và số lượng củ thương phẩm có kích thước 2,1 - >4cm đạt đến 5,15

củ, chiếm tỷ lệ 58,7% trong tổng số củ thu hoạch [6]

1.4.2.3 Một số kết quả nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật

Hiện nay, ở nước ta, hoa huệ là một trong các loại hoa mùa hè được đưa vào sản xuất nhiều Tuy nhiên, việc canh tác truyền thống, có nhiều hạn chế trong nhân giống như củ giống không được chọn lọc, quản lý sâu bệnh không chặt chẽ, thu hoạch bảo quản không đúng yêu cầu nên trong những năm gần đây giống có chiều hướng thoái hóa, sâu bệnh nhiều đã ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng hoa huệ [8] Do vậy, hiện nay việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật để làm tăng năng suất, chất lượng hoa huệ đang được quan tâm

Trang 38

Tại Viện Di truyền Nông nghiệp, Nguyễn Thị Kim Lý (2013) [8] đã đưa ra một số biện pháp kỹ thuật trồng và chăm sóc giống hoa huệ Hương được tuyển chọn Kết quả đưa ra dùng Benlate C 50WP 0,2% hoặc bằng Ridomil Gold 68WP 0,15% cho tỷ lệ nảy mầm từ 94,6 - 96,8%; có 27 - 29 nụ hoa/ cành Việc phun bổ sung phun bổ sung chế phẩm điều tiết sinh trưởng ProGibb 10 SP 0,1% + HVP 0,1% cho tỷ lệ nở hoa đạt 89,9%, độ bền hoa cắt đạt 12,3 ngày, hoa xếp xít chặt, cánh hoa mở đều

Năm 2014, Lê Văn Luy và các cộng sự tại Viện KHKT Duyên hải Nam Trung bộ đã đưa ra quy trình hoàn trồng và chăm sóc cây hoa huệ Hương cho vùng Duyên hải miền Trung Sử dụng liều lượng bón phân 140kg NPK 20 - 20 - 15+TE cho tỷ lệ nảy mầm trên 98%, tỷ lệ cây nhiễm bệnh thối

củ ít, cây sinh trưởng và phát triển tốt cho năng suất đạt 483.335 cành hoa/ha [7]

1.5 Điều kiện tự nhiên và đặc điểm khí hậu vùng trồng hoa Văn Hưng Yên

Giang-Văn Giang nằm trong vùng Đồng Bằng Bắc Bộ, giáp với Hà Nội, độ cao trung bình của địa hình không quá 5 m so với mực nước biển Phần lớn địa hình Văn Giang bằng phẳng, độ dốc nhỏ, không có đồi núi, đất đai chủ yếu là phù sa cổ được bồi đắp từ sông Hồng và sông Bắc Hưng Hải

Trang 39

Được chia thành 2 mùa rõ rệt, mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 đến tháng

10 còn mùa lạnh được bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Từ tháng 5 đến tháng 9 nhiệt độ trung bình không quá 280C, những tháng tiếp sau có những ngày nhiệt độ lên đến 35 - 36 0C Đặc biệt tháng 8 thường có bão và áp thấp nhiệt đới, nên rất ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng hoa do vậy muốn trồng hoa giai đoạn này cần phải có biện pháp bảo vệ (như trồng trong nhà lưới, giàn che…) Đây cũng là thời vụ chính để trồng hoa huệ cho năng suất cao, chất lượng hoa tốt Từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình

từ 16 - 230C, đây là thời kỳ có biên độ dao động nhiệt ngày đêm cao nhất trong năm Tại thời kỳ này, giá bán hoa huệ cao nhất trong năm do nhu cầu tăng cao vào dịp lễ Tết Tuy nhiên trong giai đoạn này cũng có những ngày nhiệt độ xuống 7 - 8 0C, làm ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng hoa, nên phải có các biện pháp kỹ thuật khắc phục như bổ sung các chế phẩm dinh dưỡng, cung cấp ánh sáng nhân tạo và một số biện pháp khác

Hình 1.4 Nhiệt độ trung bình các tháng (oC)

- Độ ẩm không khí

Trang 40

Văn Giang có độ ẩm tương đối cao từ 80 - 90%, mặc dù thuận lợi cho sinh trưởng của cây trồng nhưng bất lợi cho việc trồng hoa Thời kỳ ẩm ướt từ tháng 2 đến tháng 4, đặc biệt là trong tháng 3 mặc dù nhiệt độ không khí không cao nhưng chất lượng hoa vẫn thấp do sâu bệnh phát triển, hoa bị thối hỏng nên phải có những biện pháp kỹ thuật như sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, bao kín hoa, làm cọc đỡ cho cây… thời kỳ hanh khô nhất là những tháng đầu mùa đông, trong đó tháng 11 là khô nhất và có nhiệt độ thích hợp nên cây hoa đạt chất lượng cao trong năm

- Lượng mưa và giờ nắng

Lượng mưa trong năm khá lớn nhưng phân bố không đều, mùa mưa thường gắn với mùa hè và mùa khô thường gắn với mùa đông Mùa mưa chiếm 85% tổng lượng mưa cả năm, mặc dù mùa dông mưa ít nhưng cuối đông lại là thời kỳ mưa phùn ẩm ướt, trời âm u, độ ẩm không khí cao khiến sâu bệnh phát triển, chất lượng hoa thấp Trong các tháng mùa hè đặc biệt tháng 7, tháng 8 lượng mưa lớn, kèm theo gió bão gây ngập úng làm đổ cây nên việc nhân giống cây con, để trồng và thu hoạch vào dịp lễ Tết gặp nhiều khó khăn Bởi vậy các vùng trồng hoa cần bố trí trồng trên những chân đất cao, có hệ thống tưới tiêu thuận lợi, cây phải được che chắn để tránh mưa trực tiếp và hạn chế ánh sáng trực xạ

Qua những phân tích trên cho thấy Văn Giang có những thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của các loại hoa ôn đới, nhưng việc sản xuất các loại hoa vào mùa hè còn gặp nhiều khó khăn như thiếu bộ giống hoa chịu nhiệt, thời tiết khắc nghiệt và chưa áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới vào sản xuất

Ngày đăng: 29/05/2016, 13:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Lê Trâm Anh (2005), Nuôi cấy đỉnh sinh trưởng cây hoa huệ, Luận văn tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Công nghệ Sinh học, Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi c"ấ"y " đỉ"nh sinh tr"ưở"ng cây hoa hu
Tác giả: Nguyễn Lê Trâm Anh
Năm: 2005
2. Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1978), Phân loại thực vật, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại thực vật
Tác giả: Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội
Năm: 1978
3. Nguyễn Thị Duyên (2010), Nghiên cứu ảnh hưởng của kích thước củ giống và các biện pháp kỹ thuật thu hoạch, xử lý củ giống tới năng suất, chất lượng hoa loa kèn Tứ Quý, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của kích thước củ giống và các biện pháp kỹ thuật thu hoạch, xử lý củ giống tới năng suất, chất lượng hoa loa kèn Tứ Quý
Tác giả: Nguyễn Thị Duyên
Năm: 2010
4. Lê Văn Luy (2010), Tuyển chọn và xây dựng quy trình kỹ thuật trồng một số loài hoa tại vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ, Báo cáo khoa học Bộ NN&PTNT, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển chọn và xây dựng quy trình kỹ thuật trồng một số loài hoa tại vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ
Tác giả: Lê Văn Luy
Năm: 2010
5. Lê Văn Luy, Nguyễn Thị Kim Lý (2014), Quy trình hoàn thiện kỹ thuật trồng và chăm sóc cây hoa huệ Hương cho vùng Duyên hải miền Trung, Báo cáo tổng kết năm 2014, Viện KHKTNN Duyên hải Nam trung bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình hoàn thiện kỹ thuật trồng và chăm sóc cây hoa huệ Hương cho vùng Duyên hải miền Trung
Tác giả: Lê Văn Luy, Nguyễn Thị Kim Lý
Năm: 2014
6. Lê Văn Luy, Nguyễn Thị Kim Lý (2014), Quy trình nhân giống in vivo hoa huệ Hương bằng phương pháp tách mầm củ, Báo cáo khoa học năm 2014, Viện Di truyền Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình nhân giống in vivo hoa huệ Hương bằng phương pháp tách mầm củ
Tác giả: Lê Văn Luy, Nguyễn Thị Kim Lý
Năm: 2014
7. Nguyễn Thị Kim Lý, Nguyễn Xuân Linh (2005), Ứng dụng công nghệ trong sản xuất hoa, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng công nghệ trong sản xuất hoa
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lý, Nguyễn Xuân Linh
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2005
8. Nguyễn Thị Kim Lý, Nguyễn Thị Thanh Hoa (2013), Báo cáo đề tài nghiên cứu, tuyển chọn và phát triển một số loại hoa bản địa tại Việt Nam năm 2013, Viện Di truyền Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đề tài nghiên cứu, tuyển chọn và phát triển một số loại hoa bản địa tại Việt Nam năm 2013
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lý, Nguyễn Thị Thanh Hoa
Năm: 2013

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.3. Huệ đơn - nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa huệ hương tại hưng yên
Hình 1.3. Huệ đơn (Trang 16)
Hình 2.1. Hoa huệ Hương - nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa huệ hương tại hưng yên
Hình 2.1. Hoa huệ Hương (Trang 42)
Hình 3.1. Tỷ lệ nảy mầm ở các kích thước củ khác nhau - nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa huệ hương tại hưng yên
Hình 3.1. Tỷ lệ nảy mầm ở các kích thước củ khác nhau (Trang 52)
Hình 3.3. Ảnh hưởng của kích thước củ đến chất lượng hoa - nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa huệ hương tại hưng yên
Hình 3.3. Ảnh hưởng của kích thước củ đến chất lượng hoa (Trang 56)
Hình 3.4. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến các giai đoạn sinh trưởng - nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa huệ hương tại hưng yên
Hình 3.4. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến các giai đoạn sinh trưởng (Trang 58)
Hình 3.5. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến chất lượng hoa - nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa huệ hương tại hưng yên
Hình 3.5. Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến chất lượng hoa (Trang 62)
Hình 3.6. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến chiều dài cành hoa - nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa huệ hương tại hưng yên
Hình 3.6. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến chiều dài cành hoa (Trang 65)
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến  chất lượng hoa của cây huệ - nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa huệ hương tại hưng yên
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến chất lượng hoa của cây huệ (Trang 66)
Hình 3.7. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến chất lượng cành hoa - nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa huệ hương tại hưng yên
Hình 3.7. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến chất lượng cành hoa (Trang 67)
Hình 3.8. Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến tỷ lệ nở hoa - nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa huệ hương tại hưng yên
Hình 3.8. Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến tỷ lệ nở hoa (Trang 75)
Hình 3.9. Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến độ bền hoa cắt - nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa huệ hương tại hưng yên
Hình 3.9. Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến độ bền hoa cắt (Trang 75)
Hình 3.10. Ảnh hưởng của thời gian thu củ đến tỷ lệ củ đủ tiêu chuẩn - nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa huệ hương tại hưng yên
Hình 3.10. Ảnh hưởng của thời gian thu củ đến tỷ lệ củ đủ tiêu chuẩn (Trang 79)
Hình 3.11. Ảnh hưởng của thời gian bảo quản củ giống đến tỷ lệ nảy mầm - nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa huệ hương tại hưng yên
Hình 3.11. Ảnh hưởng của thời gian bảo quản củ giống đến tỷ lệ nảy mầm (Trang 81)
Hình 3.12. Ảnh hưởng của thời gian bảo quản củ giống đến chất lượng - nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa huệ hương tại hưng yên
Hình 3.12. Ảnh hưởng của thời gian bảo quản củ giống đến chất lượng (Trang 85)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w