DANH MỤC BẢNG 3.1 Giảng viên hiện nay của các trường Cao đẳng có khối ngành 3.2 Giảng viên khối ngành kinh tế của các trường Cao đẳng thuộc 3.3 Cơ sở vật chất của các trường Cao đẳng có
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HÀ NỘI- 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN PHƯỢNG LÊ
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa hề được bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Hồng Huyên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân, tập thể trong và ngoài trường Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế
& Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã hết lòng giúp đỡ và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại trường
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo TS Nguyễn Phượng Lê, giảng viên Bộ môn Kinh tế nông nghiệp và Chính sách, Khoa Kinh tế
& Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và thực hiện luận văn
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu và các thầy cô giáo, sinh viên các trường Cao đẳng Xây dựng số 1, Cao đẳng Xây dựng số 2, Cao đẳng Xây dựng Nam Định, Cao đẳng Xây dựng công trình đô thị đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Hồng Huyên
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục bảng viết tắt vii
Danh mục bảng viii
Danh mục biểu đồ x
Phần I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng nghiên cứu 4
1.5 Phạm vi nghiên cứu 4
1.5.1 Phạm vi không gian: 4
1.5.2 Phạm vi thời gian: 4
1.5.3 Phạm vi nội dung: 4
Phần II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
2.1 Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế ở các trường Cao đẳng 5
2.1.1 Những vấn đề chung nhất về giảng viên khối ngành kinh tế 5
2.1.2 Những vấn đề cơ bản chung về nâng cao chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế 12
2.1.3 Nội dung nghiên cứu về giải pháp nâng cao chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế 16
2.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế 24
2.2.1 Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về nâng cao chất lượng giảng viên 24
Trang 62.2.2 Yêu cầu từ thực tiễn phải nâng cao chất lượng giảng viên khối
ngành kinh tế 27
2.2.3 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về nâng cao chất lượng giảng viên 30
2.2.4 Tổng quan tình hình nghiên cứu trước đây 32
Phần III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 35
3.1.1 Khái quát chung về các trường cao đẳng có khối ngành kinh tế thuộc Bộ Xây dựng 35
3.1.2 Kết quả đào tạo của các trường Cao đẳng có khối ngành kinh tế thuộc Bộ Xây dựng qua những năm gần đây 44
3.2 Phương pháp nghiên cứu 45
3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 45
3.2.2 Thu thập thông tin/số liệu 45
3.2.3 Phương pháp tổng hợp xử lý thông tin 47
3.2.4 Phương pháp phân tích 47
3.2.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 48
Phần IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 49
4.1 Thực trạng chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế ở các trường cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng 49
4.1.1 Về phẩm chất chính trị 50
4.1.2 Về đạo đức nghề nghiệp 55
4.1.3 Về trình độ chuyên môn 56
4.1.4 Về chất lượng giảng dạy 67
4.1.5 Về lĩnh vực nghiên cứu khoa học 72
4.1.6 Về phục vụ cộng đồng, xã hội 73
4.1.7 Đánh giá thực trạng chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế ở các trường Cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng 74
4.2 Thực trạng thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế ở các trường Cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng 77
Trang 74.2.1 Công tác quản lý nhà nước về giảng viên 78
4.2.2 Công tác tuyển dụng 80
4.2.3 Công tác đào tạo 81
4.2.4 Công tác khuyến khích, hỗ trợ giảng viên tự mình nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ 85
4.2.5 Đánh giá kêt quả thực hiện giải pháp nâng cao chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế ở các trường Cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng 87
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế ở các trường cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng 89
4.4 Hoàn thiện giải pháp nâng cao chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế ở các trường cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng 93
4.4.1 Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về giảng viên 94
4.4.2 Giải pháp tăng cường công tác tuyển dụng 98
4.4.3 Giải pháp tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng 102
4.4.4 Giải pháp khuyến khích, hỗ trợ giảng viên tự mình nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ 104
Phần V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 108
5.1 Kết luận 108
5.2 Kiến nghị 109
5.2.1 Đối với Bộ Xây dựng và Bộ Giáo dục và Đào tạo 109
5.2.2 Đối với các trường Cao đẳng có khối ngành kinh tế thuộc Bộ Xây dựng 109
5.2.3 Đối với giảng viên khối ngành kinh tế 110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 8PGS/GS Phó Giáo sư/Giáo Sư
Trang 9DANH MỤC BẢNG
3.1 Giảng viên hiện nay của các trường Cao đẳng có khối ngành
3.2 Giảng viên khối ngành kinh tế của các trường Cao đẳng thuộc
3.3 Cơ sở vật chất của các trường Cao đẳng có khối ngành kinh tế
3.4 Kết quả đào tạo của các trường Cao đẳng có khối ngành Kinh tế
thuộc Bộ Xây dựng trong những năm gần đây 44 3.5 Kết quả đào tạo khối ngành kinh tế của các trường Cao đẳng có
khối ngành Kinh tế trong những năm gần đây 44 4.1 Số lượng giảng viên khối ngành kinh tế ở các trường Cao đẳng
có khối ngành kinh tế thuộc Bộ Xây Dựng qua các năm học
4.2 Số lượng Đảng viên của giảng viên khối ngành kinh tế của các
trường Cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng (Từ năm 2011 đến năm
4.3 Trình độ chính trị của giảng viên khối ngành kinh tế của các
trường Cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng (từ năm 2011 đến năm
4.4 Trình độ chuyên môn của giảng viên và giảng viên khối ngành
kinh tế các trường Cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng (từ năm
4.5 Trình độ chuyên môn của giảng viên khối ngành kinh tế của các
trường Cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng (từ năm 2011 đến năm
4.6 Chuyên ngành được đào tạo của giảng viên khối ngành kinh tế
của các Trường Cao đẳng có khối ngành kinh tế thuộc Bộ
4.7 Trình độ giảng viên theo ngạch của giảng viên khối ngành kinh
tế của các trường Cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng (từ năm 2011
4.8 Trình độ ngoại ngữ của giảng viên khối ngành kinh tế 63
Trang 10Số bảng Tên bảng Trang
4.9 Trình độ tin học của giảng viên khối ngành kinh tế 65 4.10 Trình độ nghiệp vụ sư phạm và chuyên môn khác của giảng viên
4.11 Chất lượng giảng dạy của giảng viên khối ngành kinh tế của các
trường Cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng (từ năm 2011 đến năm
4.12 Ý kiến đánh giá của sinh viên về năng lực dạy học và giáo dục
4.13 Kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên khối ngành kinh tế
ở các trường Cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng qua các năm học
4.14 Kết quả lấy ý kiến khảo sát về mức độ thực hiện công tác kiểm
tra, đánh giá hoạt động dạy học, chất lượng giảng viên, cơ
4.15 Kết quả tuyển dụng giảng viên và giảng viên khối ngành kinh tế
các trường Cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng (từ năm 2011 đến
4.16 Thống kê số lượng giảng viên khối ngành kinh tế được cử đi học
các lớp bồi dưỡng, đào tạo ngoài chuyên môn 83 4.17 Số lượng giảng viên khối ngành kinh tế được cử đi học Sau Đại học 84 4.18 Tình hình hỗ trợ đào tạo bồi dưỡng giảng viên khối ngành kinh tế 86
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
4.1 Tỉ lệ giảng viên khối ngành kinh tế là Đảng viên tại các trường
Cao đẳng có khối ngành kinh tế thuộc Bộ Xây dựng 52
4.3 Tỉ lệ về trình độ tiếng Anh của giảng viên khối ngành kinh tế 62 4.4 Tỉ lệ về trình độ Tin học của giảng viên khối ngành kinh tế 64 4.5 Tự đánh giá về năng lực giảng dạy của giảng viên khối
4.6 Ý kiến tự đánh giá về thái độ tự học và tự nghiên cứu của
4.7 Tỉ lệ tham gia phục vụ cộng đồng, xã hội của giảng viên khối
Trang 12Phần I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Vấn đề phát triển nguồn nhân lực nói chung và nâng cao chất lượng giảng viên là một trong những vấn đề mang tính lịch sử gắn liền với quá trình xây dựng
và bảo vệ đất nước ta Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói rằng “vô luận việc gì đều
do người làm ra và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả” Con người là chủ
thể kiến tạo nên toàn thể xã hội, nếu là con người có đủ đức và tài thì họ sẽ làm được nhiều việc có ích, và nếu nhân tài tham gia vào các công việc của nhà nước, được tạo điều kiện để phát huy đạo đức và tài năng, thì họ sẽ làm được nhiều việc
“ích quốc, lợi dân” Từ quan niệm “vô luận việc gì đều do người làm ra”, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đi tới kết luận: “cán bộ quyết định mọi việc”,“muốn việc thành
công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém Đó là chân lý nhất định” Đây là
lôgic tư tưởng độc đáo, đặc sắc của Hồ Chí Minh về vấn đề nhân lực và sử dụng nguồn nhân lực
Đề cập đến vai trò của giảng viên, tại Chỉ thị 40/CT-TƯ ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư về việc “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán
bộ quản lý giáo dục” đã nêu rõ: "Mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục và đào
tạo là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo
để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”
Trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp phát triển giáo dục trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, đòi hỏi các
tổ chức giáo dục, các trường đại học trong cả nước phải phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo và hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội, bằng nhiều cách khác nhau một mặt phải tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt
Trang 13được, mặt khác phải khắc phục nhanh chóng và kiên quyết xóa bỏ những hạn chế, yếu kém tận dụng tối đa các cơ hội, vượt qua những thách thức trong quá trình hội nhập để phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng giảng viên.Vậy nên, để phù hợp với yêu cầu từ thực tiễn tại Nghị quyết Đại hội XI cũng nêu rõ những giải pháp trực tiếp cho chiến lược phát triển nguồn nhân lực
nói chung và nâng cao chất lượng giảng viên nói riêng, đó là: “xây dựng và hoàn
thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam”;“đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”;“Xây dựng và thực hiện chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam”
Giáo dục bậc Cao đẳng, Đại học có vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, trong đó giảng viên trong nhà trường đóng vai trò quyết định chất lượng đào tạo Giảng viên ở trường Cao đẳng và Đại học có nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng,nhằm đào tạo thế hệ trẻ thành những người công dân vừa có đức lại vừa có trình độ kỹ thuật tiên tiến…
để góp phần "nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,bồi dưỡng nhân tài" cho đất
nước
Trong những năm qua chất lượng giảng viên nói chung và chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế ở các trường Cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng nói riêng ngày càng phát triển đông đảo về số lượng và không ngừng được nâng cao
về trình độ chuyên môn nghiệp vụ Tuy nhiên, thực tế cho chúng ta thấy chất lượng giảng viên nói chung và giảng viên khối ngành kinh tế ở các trường Cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng nói riêng còn nhiều hạn chế, bất cập như số giảng viên đang trực tiếp giảng dạy không được đào tạo từ các trường sư phạm lại chiếm một tỉ lệ khá cao; Kỹ năng giao tiếp còn hạn chế; Số lượng giảng viên còn thiếu, chưa đáp ứng được sự tăng trưởng về quy mô đào tạo; Trình độ giảng viên không đồng đều và nhìn chung còn thấp, khả năng nghiên cứu khoa học, khả năng tự học, tự bồi dưỡng của giảng viên mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn còn ở mức độ thấp; Cơ cấu giảng viên chưa đồng bộ, nhiều khoa, bộ môn lực lượng
Trang 14giảng viên còn quá mỏng Do vậy nâng cao chất lượng giảng viên nói chung và chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế ở các trường Cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng nói riêng là yêu cầu cấp bách hơn bao giờ hết
Nhận thức sâu sắc ý nghĩa thực tiễn và lý luận của việc nâng cao chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế ở các trường Cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng, đồng thời là một cán bộ tổ chức đang làm việc tại Trường Cao đẳng Xây dựng
công trình đô thị, tôi quyết định chọn đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế ở các trường Cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng”
làm đề tài nghiên cứu viết luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý kinh tế
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Tài chính- Quản trị kinh doanh, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Tài chính- Quản trị kinh doanh, Văn Lâm- Hưng Yên
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về giải pháp nâng cao chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế ở các trường Cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng;
- Phân tích thực trạng chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế ở các trường Cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng;
- Đánh giá kết quả thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế ở các trường Cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng;
- Đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế ở các trường Cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu nhằm mục đích trả lời những câu hỏi sau đây:
1 Các tiêu chí đánh giá chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế?
2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế?
3 Đặc điểm các trường Cao đẳng có khối ngành kinh tế ở các trường Cao
Trang 15đẳng thuộc Bộ Xây dựng như thế nào?
4 Thực trạng chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế ở các trường Cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng ra sao?
5 Các giải pháp nâng cao chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế ở các trường Cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng là gì?
1.4 Đối tượng nghiên cứu
Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế ở các trường Cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng
- Số liệu thứ cấp : lấy trong 3 năm : 2011, 2012, 2013
- Số liệu sơ cấp : Năm 2014
1.5.3 Phạm vi nội dung:
Đề tài giới hạn một số giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế ở các trường Cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng
Trang 16Phần II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế ở các trường Cao đẳng
2.1.1 Những vấn đề chung nhất về giảng viên khối ngành kinh tế
2.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm giảng viên khối ngành kinh tế
Nghề nhà giáo có lịch sử phát triển và hình thành rất lâu đời ở Việt Nam nói riêng và các nước trên thế giới nói chung Nghề nhà giáo trong xã hội phong kiến của Việt Nam do ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Quốc nên những người
làm nghề nhà giáo được gọi là “Sư” Khi chữ Nôm ra đời, nhân dân ta không gọi nhà giáo bằng "Sư" mà gọi là "Thầy"
Nghề nhà giáo trong chế độ phong kiến ở Việt Nam nhận được rất nhiều
ưu đãi như được miễn các thứ thuế, không phải đi phu, tạp dịch Khi có đám giỗ tiệc tùng, hội hè được dân làng mời ăn bàn trên ngồi trước để tỏ lòng kính trọng thầy đã có công dạy dỗ cho con em mình Lúc thầy còn sống, học trò coi việc của thầy như việc của mình, ngày giỗ, tết phải đến Còn lúc thầy chết, học trò chung nhau làm đám tang và phải khiêng quan tài thầy đến nơi an nghỉ cuối cùng Đến
ngày giỗ thầy, học trò lập “Hội môn sinh” làm giỗ
Sau này tại Việt Nam, theo Đại Từ điển Việt Nam (2005)"thầy giáo" được gọi để "chỉ người làm nghề dạy học nói chung" Có thể "thầy giáo" là phiên âm Tiếng Việt của thuật ngữ "giáo sư" vốn có nguồn gốc từ danh từ "professor" của người châu Âu Thuật ngữ "thầy giáo" đôi khi được hiểu theo nghĩa hẹp chỉ người dạy học là nam giới, còn nữ giới làm nghề này được gọi là "cô giáo" Ngày nay, chúng ta gọi thống nhất những người làm nghề dạy học là "nhà giáo"
Khái niệm thuật ngữ “Nhà giáo” được nêu trong Điều 70, Luật Giáo dục
2005 do Quốc hội nước CHXHCNVN (2005) ban hành như sau; “Nhà giáo là
người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc trong các cơ sở giáo dục khác Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên”
Giảng viên là một trong những người làm nghề nhà giáo Theo Luật Giáo
Trang 17dục 2005, thì giảng viên bao gồm các nhà sư phạm được tuyển dụng và bổ nhiệm vào các ngạch giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giảng viên cao cấp và giáo sư trong biên chế sự nghiệp của cơ sở đào tạo đại học - cao đẳng công lập hoặc trong danh sách làm việc toàn thời gian của cơ sở giáo dục đại học - cao đẳng ngoài công lập
Khái niệm giảng viên mang tính khái quát nhất chính là khái niệm mà Tiêu chuẩn chung các ngạch công chức chuyên ngành giáo dục và đào tạo ban hành kèm theo Quyết định số 202/TCCP – VC ngày 08/06/1994 của Ban Tổ chức
– Cán bộ Chính phủ (1994) đã đưa ra giảng viên là “viên chức chuyên môn đảm
nhiệm việc giảng dạy và đào tạo ở bậc Đại học, Cao đẳng thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường Đại học hoặc Cao đẳng”
Như vậy, chúng ta có thể hiểu chung nhất khái niệm thuật ngữ “giảng
viên” là những người tri thức, với đặc trưng lao động trí tuệ sáng tạo, làm công tác giảng dạy, trực tiếp tham gia vào quá trình giáo dục bậc Đại học và Cao đẳng nhằm đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, bồi dưỡng và phát triển nhân tài cho đất nước, đây là lực lượng chủ yếu giữ vai trò quyết định trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của các trường Đại học, Cao đẳng
Giảng viên khối ngành kinh tế là những người có trình độ chuyên môn về lĩnh vực kinh tế, làm công tác giảng dạy các môn về kinh tế ở bậc Đại học và Cao đẳng nhằm đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao về lĩnh vực kinh tế, bồi dưỡng và phát triển nhân tài cho đất nước
Giảng viên khối ngành kinh tế ngoài những đặc điểm của một giảng viên chung thì còn có những đặc điểm riêng như:
- Là những người được đào tạo chuyên ngành về kinh tế trong đó chủ yếu
Trang 18thực hiện giảng dạy chủ yếu ở các chuyên ngành như ngành kế toán (bao gồm cả
kế toán tài chính, kế toán doanh nghiệp), ngành kinh tế xây dựng và kinh tế đô thị, ngành quản trị kinh doanh
2.1.1.2 Phân loại giảng viên khối ngành kinh tế
Có nhiều cách phân loại giảng viên nói chung và giảng viên khối ngành kinh tế nói riêng Ở mỗi góc độ khác nhau sẽ có cách phân loại khác nhau Cụ thể
có một số phân loại cơ bản như sau:
Thứ nhất, dưới góc độ về biên chế thì giảng viên ngành kinh tế có 02 loại:
- Giảng viên cơ hữu: là giảng viên thuộc biên chế chính thức của nhà trường
- Giảng viên thỉnh giảng: giảng viên thỉnh giảng gồm có giảng viên ở các trường đại học, học viện thỉnh giảng tại trường và giảng viên kiêm chức là cán bộ
lãnh đạo các Cục, Vụ, Viện nghiên cứu
Thứ hai, dưới góc độ về ngạch bậc giảng viên được chia thành 3 ngạch:
- Giảng viên: Là những người đảm nhiệm việc giảng dạy và đào tạo ở bậc
đại học, cao đẳng thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường đại học hoặc cao đẳng
- Giảng viên chính: Là những người đảm nhiệm vai trò chủ chốt trong
giảng dạy và đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng và sau đại học, thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường đại học, cao đẳng
- Giảng viên cao cấp: Là những người đảm nhiệm vai trò chủ trì, tổ chức
chỉ đạo và thực hiện giảng dạy và đào tạo ở bậc đại học và sau đại học, chuyên trách giảng dạy về một chuyên ngành đào tạo ở trường đại học
Thứ ba, dưới góc độ về học vị thì giảng viên được phân loại như sau:
- Học vị cử nhân (chỉ những người tốt nghiệp cao đẳng hoặc đại học);
- Học vị thạc sĩ (chỉ những người tốt nghiệp cao học);
- Học vị tiến sĩ (chỉ những người hoàn thành quá trình nghiên cứu sinh)
2.1.1.3 Tiêu chuẩn của giảng viên khối ngành kinh tế
Tiêu chuẩn giảng viên nói chung và giảng viên khối ngành kinh tế nói riêng tại các trường Cao đẳng được quy định tại Thông tư số 14/2009/TT-
Trang 19BGDĐT ngày 28 tháng 5 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về Điều lệ các trường Cao đẳng Bộ Giáo dục và đào tạo (2009), theo đó tiêu chuẩn của giảng viên nói chung và giảng viên khối ngành kinh tế ở các trường Đại học, Cao đẳng đối với từng ngạch bậc như sau:
Tiêu chuẩn đối với ngạch giảng viên:
- Về trình độ học vấn:
Tốt nghiệp từ đại học trở lên, đã qua thời gian tập sự theo quy định, phải
có ít nhất hai chứng chỉ bồi dưỡng sau đại học là: Chương trình chính trị - triết học nâng cao cho nghiên cứu sinh và học viên cao học, những vấn đề cơ bản của tâm lý học và lý luận dạy học ở bậc đại học
Sử dụng được một ngoại ngữ trong chuyên môn ở trình độ B (là ngoại ngữ thứ hai đối với giảng viên ngoại ngữ) đối với một trong các ngôn ngữ: Tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc
- Về phẩm chất chính trị, đạo đức và các tiêu chuẩn khác :
Hiểu và vận dụng đúng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các quy định của ngành trong công tác giáo dục và đào tạo Đại học, Cao đẳng
Nắm được mục tiêu, kế hoạch, chương trình các môn học thuộc chuyên ngành đào tạo, quy chế giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học của nhà trường, nắm vững kiến thức (cả về lý thuyết và thực hành) môn học được phân công
Tiêu chuẩn đối với ngạch giảng viên chính:
- Tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức và các tiêu chuẩn khác:
Hiểu sâu và có kinh nghiệm vận dụng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các quy định của ngành trong công tác giáo
Trang 20dục, đào tạo bậc Đại học, Cao đẳng
Hiểu biết sâu (cả về lý thuyết và thực hành) môn học được phân công, nắm được kiến thức cơ bản của môn học có liên quan trong chuyên ngành đào tạo
Nắm vững mục tiêu, kế hoạch, chương trình các môn học thuộc chuyên ngành đào tạo, hiểu biết thực tế và xu hướng phát triển của công tác đào tạo có khả năng nghiên cứu khoa học chuyên ngành ở trong nước và ngoài nước
Biết tập hợp và tổ chức tập thể giảng viên, sinh viên tiến hành nghiên cứu khoa học, thực nghiệm và ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào công tác giáo dục, đào tạo, vào thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội
Tiêu chuẩn ngạch giảng viên cao cấp:
- Tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức và tiêu chuẩn khác:
Nắm vững và vận dụng có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các quy định của ngành trong công tác giáo dục, đào tạo
Hiểu sâu kiến thức các môn học chính của chuyên ngành đào tạo và kiến thức cơ bản của một số môn học có liên quan
Nắm vững mục tiêu, kế hoạch, chương trình đào tạo, hiểu biết thực tế và
xu thế phát triển của công tác đào tạo, có khả năng nghiên cứu khoa học ở trong nước và ở nước ngoài Có kinh nghiệm và khả năng tổ chức, chỉ đạo tập thể giảng viên, sinh viên nghiên cứu khoa học, ứng dụng và triển khai những kết quả nghiên cứu khoa học vào công tác giáo dục, đào tạo, vào sản xuất và đời sống
Trang 212.1.1.5 Vai trò giảng viên khối ngành kinh tế
Thứ nhất, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao thuộc khối ngành kinh tế
Giảng viên nói chung và giảng viên khối ngành kinh tế nói riêng là những người được trang bị bốn nhóm kiến thức: kiến thức chuyên ngành, kiến thức về chương trình đào tạo, kiến thức và kỹ năng về dạy và học, kiến thức về môi trường giáo dục, hệ thống giáo dục, mục tiêu giáo dục, giá trị giáo dục…Giảng viên tham gia đào tạo nguồn lực con người, tạo ra lực lượng lao động mới, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng của nguồn nhân lực Trong lịch sử phát triển đi lên của xã hội, nguồn lực con người luôn đóng vai trò quyết định Con người thích nghi và cải tạo tự nhiên, những máy móc thiết bị tối tân cũng là sản phẩm của trí óc con người và chúng cần có con người điều khiển Nguồn nhân lực có chất lượng cao chính là động lực cho một xã hội phát triển
Ngoài ra giảng viên còn góp phần nâng cao dân trí, phát triển nhân tài cho đất nước, tạo ra những lớp trí thức tài năng thông qua việc truyền đạt những kiến thức tiên tiến của văn minh nhân loại Và rồi những trí thức này lại tiếp tục phát triển, trí thức được nâng cao, trí thức sẽ lan truyền để tạo ra trí thức mới Tất cả những trí thức ấy sẽ góp phần xây dựng đất nước, nâng cao nội lực của quốc gia cho một vị thế cao hơn trên trường quốc tế
Theo xu thế hiện nay, giảng viên còn có vai trò khuyến khích tính ham hiểu biết của người học, rèn luyện độc lập, khám phá trí tuệ, tăng cường khả năng tổ chức và sử dụng kiến thức Nói chung giúp người học đạt được năng lực học suốt đời qua việc tự giáo dục, chứ không phải là người truyền thụ kiến thức một chiều
Thứ hai, nâng cao tiềm lực khoa học công nghệ cho đất nước
Giảng viên nói chung và giảng viên khối ngành kinh tế nói riêng ngoài việc thực hiện chức năng giảng dạy còn có nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, nghiên cứu chuyên sâu về các lĩnh vực kinh tế, nghiên cứu và đưa ra các đề án về lĩnh vực kinh tế có khả năng ứng dụng cao vào thực tiễn
Đặc biệt trong tình hình đất nước đang thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng như hội nhập nền kinh tế quốc tế thì hơn bao giờ hết rất
Trang 22cần những nghiên cứu khoa học về kinh tế phù hợp với tình hình thực tiễn của Việt Nam Các giảng viên với tư cách là nhà khoa học, nhà nghiên cứu sẽ tìm cách ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn đời sống và công
bố các kết quả nghiên cứu cho cộng đồng Đảm nhận vai trò này, giảng viên đại học đã, đang và sẽ góp phần nâng cao năng lực khoa học công nghệ của quốc gia
Thứ ba, thực hiện cung ứng các dịch vụ cho xã hội
Giảng viên nói chung và giảng viên khối ngành kinh tế nói riêng thực hiện cung ứng các dịch vụ của mình cho nhà trường, cho sinh viên, cho các tổ chức xã hội – đoàn thể, cho cộng đồng và cho xã hội nói chung Cụ thể đối với nhà trường và sinh viên, một giảng viên cần thực hiện các dịch vụ như tham gia công tác quản lý, các công việc hành chính, tham gia các tổ chức xã hội, cố vấn cho sinh viên, liên hệ thực tập, tìm chỗ làm cho sinh viên… Với sự am hiểu và tri thức về lĩnh vực kinh tế, giảng viên làm phản biện cho các tạp chí khoa học, tham dự và tổ chức các hội thảo khoa học; Đối với cộng đồng, giảng viên trong vai trò của một chuyên gia cũng thực hiện các dịch vụ như tư vấn, cung cấp thông tin, viết báo Trong chức năng này, giảng viên đại học đóng vai trò là cầu nối giữa khoa học và xã hội, để đưa nhanh các kiến thức khoa học về kinh tế, đánh giá cũng như dự báo về sự phát triển của nền kinh tế cũng như xu hướng phát triển vào đời sống cộng đồng; Viết báo thời sự (khác với báo khoa học) là một chức năng khá quan trọng và có ý nghĩa lớn trong việc truyền bá kiến thức khoa học và nâng cao dân trí
Thứ tư, tham gia phát triển kinh tế đất nước
Ngoài nhiệm vụ là một mỗi giảng viên làm công tác giảng dạy thì mỗi giảng viên là một công dân hoạt động đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế quốc gia Hơn thế nữa, mỗi giảng viên có trách nhiệm phát huy lượng kiến thức của mình bằng việc xây dựng, đề xuất các mô hình phát triển kinh tế, tham gia tư vấn cho Chính phủ về các vấn đề kinh tế, xã hội khác nhau Là một bộ phận trí thức dân tộc – những trí thức có trình độ học vấn và vốn hiểu biết xã hội sâu rộng, có óc phân tích, phê bình sâu sắc, giảng viên đại học có cơ sở để đảm nhận tốt vai trò phát triển nền kinh tế đất nước
Trang 232.1.2 Những vấn đề cơ bản chung về nâng cao chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế
2.1.2.1 Khái niệm về nâng cao chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế
“Chất lượng” là một khái niệm phức tạp, đa chiều Mỗi người có thể đưa
ra những quan niệm hay định nghĩa khác nhau Khái niệm “chất lượng” có thể hiểu được, nhưng khó giải thích và diễn đạt đầy đủ, rõ ràng (Green, 1994) Chất
lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có trong
đó yêu cầu được hiểu là các nhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu hay bắt buộc (Định nghĩa của ISO 9000 – 2000)
Như vậy chất lượng là một khái niệm có ý nghĩa đối với một người hưởng lợi tuỳ thuộc vào quan niệm của người đó, ở một thời điểm nhất định nào đó và theo các mục đích, mục tiêu nào đó đã được đề ra từ trước Nói cách khác chất lượng là sự đáp ứng với mục tiêu và mục tiêu đó phải phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội
Từ những phân tích trên chúng ta có thể hiểu chung nhất chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế là sự đáp ứng với yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, trình độ chuyên môn với mục tiêu đào tạo, phát triển của các nhà trường có đào tạo khối ngành kinh tế
Nâng cao chất lượng giảng viên nói chung và giảng viên khối ngành kinh
tế nói riêng là phạm trù chỉ sự tăng tiến, chuyển biến theo chiều hướng tích cực của giảng viên trong việc hoàn thành mục tiêu giáo dục - đào tạo của trường Đại học, Cao đẳng
2.1.2.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế
Hiện nay có khá nhiều các quan điểm cũng như các tiêu chí đánh giá về chất lượng giảng viên chung hiện nay Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm về xây dựng tiêu chí cũng như kế thừa và phát huy các tiêu chí đánh giá về chất lượng giảng viên chung, Luận văn đưa ra các tiêu chí đánh giá chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế chủ yếu dựa trên tiêu chuẩn đanh giá của Nguyễn Thị Tuyết (2008), cụ thể như sau:
Trang 24Năng lực 3: Thực hiện các nghĩa vụ của công dân
Thứ hai về đạo đức nghề nghiệp:
Năng lực 1: Thái độ với nghề nghiệp
Năng lực 2: Tác phong, lối sống
Năng lực 3: Giữ gìn, bảo vệ và phát huy truyền thống của nhà giáo
Thứ ba về trình độ chuyên môn:
Năng lực 1: Trình độ học vấn
Năng lực 2: Nghiệp vụ sư phạm
Năng lực 3: Trình độ ngoại ngữ
Thứ tư về chất lượng giảng dạy:
- Năng lực 1: Sự am hiểu và hiểu biết về lĩnh vực giảng dạy
Tiêu chí 1: Kinh nghiệm giảng dạy về lĩnh vực
Tiêu chí 2: Kinh nghiệm thực tiễn về lĩnh vực giảng dạy
Tiêu chí 3: Mức độ am hiểu về lĩnh vực giảng dạy
- Năng lực 2: Thành tích trong giảng dạy
Tiêu chí 1: Những ấn phẩm về giáo dục như phản biện các bài báo của đồng nghiệp, tham gia viết sách, ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác giảng dạy
Tiêu chí 2: Trình bày báo cáo về lĩnh vực giáo dục: Trình bày báo cáo tại các hội nghị quốc tế, báo cáo viên cho các hội nghị
Tiêu chí 3: Số giải thưởng về giáo dục được nhận, kể cả trong và ngoài nước
- Năng lực 3: Số lượng và chất lượng giảng dạy
Tiêu chí 1: Luôn có sáng kiến đổi mới trong giảng dạy thể hiện ở việc áp dụng các kỹ năng giảng dạy mới, sử dụng các kỹ năng kiểm tra đánh giá mới phù
Trang 25hợp với trình độ của sinh viên Tham gia tích cực vào các chương trình bồi dưỡng phát triển chuyên môn, tham gia giảng dạy hệ sau đại học, tham gia hướng dẫn luận văn, luận án cho học viên cao học, nghiên cứu sinh
Tiêu chí 2: Tham gia vào việc xây dựng phát triển các chương trình đào tạo, có ý thức tìm kiếm sự hỗ trợ từ các chuyên gia để không ngừng nâng cao trình độ giảng dạy
Tiêu chí 3: Tham gia vào việc đánh giá sinh viên, đặc biệt việc tham gia vào các hội đồng chấm khóa luận, luận văn hoặc luận án
- Năng lực 4: Hiệu quả trong giảng dạy
Tiêu chí 1: Thiết kế và trình bày bài giảng phù hợp với trình độ kiến thức của sinh viên cho mỗi môn học
Tiêu chí 2: Cung cấp cho sinh viên kiến thức mới, cập nhật Tạo điều kiện giúp sinh viên phát triển tính sáng tạo, tư duy phê phán, khả năng độc lập và giải quyết vấn đề
Tiêu chí 3: Tham gia tích cực các hoạt động liên quan đến giảng dạy như
tư vấn cho sinh viên trong việc lựa chọn môn học phù hợp, giúp sinh viên xây dựng cho mình mục tiêu, kế hoạch học tập phù hợp
Tiêu chí 4: Có khả năng giảng dạy được nhiều môn học ở các mức độ khác nhau
- Năng lực 5: Tham gia vào đánh giá và phát triển chương trình đào tạo,
tài liệu học tập
Tiêu chí 1: Đánh giá và phát triển chương trình đào tạo, chẳng hạn như đánh giá các môn học, phát triển và đổi mới các nội dung bài thực tập, thực hành bao gồm cả việc tham gia vào việc điều chỉnh nội dung môn học cho cập nhật
Tiêu chí 2: Đánh giá và phát triển học liệu phục vụ cho giảng dạy, chẳng hạn như các công cụ dùng cho giảng dạy, tài liệu hướng dẫn học tập, hướng dẫn làm việc theo nhóm, đào tạo từ xa, sử dụng công cụ hỗ trợ của máy tính trong giảng dạy, có đầy đủ tài liệu học tập bắt buộc
Tiêu chí 3: Tự đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp
vụ, như kỹ năng trình bày, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng sử dụng các phần mềm
Trang 26phục vụ cho giảng dạy
Thứ năm, về lĩnh vực nghiên cứu khoa học
- Năng lực 1: Các công trình nghiên cứu khoa học được công bố
Tiêu chí 1: Số lượng và chất lượng các ấn phẩm được xuất bản trong các tạp chí khoa học (đặc biệt là danh tiếng của các tạp chí) hoặc các hội nghị khoa học ở trong và ngoài nước liên quan đến các công trình nghiên cứu
Tiêu chí 2: Việc tìm tòi và phát triển các kỹ năng và quy trình nghiên cứu mới
Tiêu chí 3: Kết quả nghiên cứu được áp dụng vào thực tiễn, vào giảng dạy (những nội dung nghiên cứu được áp dụng như là những ý tưởng mới hoặc những sáng kiến quan trọng cho công việc)
- Năng lực 2: Số lượng sách và tài liệu tham khảo được xuất bản/sử dụng
Tiêu chí 1: Sách và các công trình nghiên cứu chuyên khảo
Tiêu chí 2: Số lượng các chương viết trong sách và hoặc đánh giá về các bài báo
Tiêu chí 3: Tham gia vào các hoạt động từ thiện
2.1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề nâng cao chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và thực hiện hội nhập nền kinh tế khu vực, nền kinh tế quốc tế sẽ có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề nâng cao chất lượng giảng viên nói chung và khối ngành kinh tế nói riêng Cụ thể
là gồm các yếu tố sau:
Thứ nhất là các yếu tố bên ngoài: Các yếu tố bên ngoài tác động đến vấn
đề nâng cao chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế gồm: Hệ thống các chính
Trang 27sách, đề án nâng cao chất lượng giảng viên; Hệ thống các quy định của pháp luật
về giáo dục và đào đạo; Nhu cầu của xã hội về nguồn nhân lực chất lượng cao trong các ngành nghề tương ứng với các giai đoạn phát triển;Tình hình kinh tế xã hội của đất nước, đối thủ cạnh tranh, sự phát triển khoa học công nghệ, xu hướng toàn cầu hóa
Thứ hai, các yếu tố bên trong trường: Các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến
vấn đề nâng cao chất lượng giảng viên trong trường là: Quan điểm của Ban giám hiệu, quy mô đào tạo của nhà trường; Cách thức quản lý nguồn nhân lực của nhà trường từ khâu tuyển dụng đầu vào, chế độ chính sách đãi ngộ và thu hút nhân tài, cách thức đánh giá chất lượng giảng viên hàng năm, cách thức nâng cao chất lượng giảng viên; Cơ sở vật chất của nhà trường phục vụ cho công tác giảng dạy
và nghiên cứu khoa học cho giảng viên
Thứ ba, các yếu tố tự thân mỗi giảng viên: Bản thân mỗi giảng viên cũng
là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến công tác đào tạo và phát triển giảng viên của nhà trường Trong mỗi cá nhân lại có các yếu tố cụ thể Đó là năng lực chuyên môn, năng lực quản lý, năng lực sư phạm, năng lực nghiên cứu, ý thức trách nhiệm trong công việc, niềm đam mê học hỏi
2.1.3 Nội dung nghiên cứu về giải pháp nâng cao chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế
Nâng cao chất lượng giảng viên nói chung và giảng viên khối ngành kinh
tế ở các trường Cao đẳng trong đó có các trường Cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm Muốn nâng cao chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế cần phải thực hiện các giải pháp cơ bản sau:
- Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về giảng viên;
- Giải pháp tăng cường công tác tuyển dụng;
- Giải pháp tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng;
- Giải pháp khuyến khích, hỗ trợ giảng viên tự mình nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ;
2.1.3.1 Giải pháp tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về giảng viên
Quản lý nhà nước về giảng viên là việc nhà nước dùng các biện pháp,
Trang 28công cụ có được tác động vào lĩnh vực quản lý giảng viên để hoạt động giảng viên theo đúng định hướng, mục tiêu mà Nhà nước mong muốn Trong hoạt động quản lý nhà nước công cụ pháp luật được coi là công cụ chủ yếu và quan trọng nhất
Theo quy định của Luật viên chức năm 2010 Quốc hội nước CHXHCNVN (2010), Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 04/12/2012 của Chính phủ (2012) về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức và các văn bản quy phạm pháp luật khác thì nội dung quản lý nhà nước về viên chức trong đó có giảng viên gồm các nội dung như sau:
- Xây dựng kế hoạch, quy hoạch giảng viên;
- Quy định tiêu chuẩn, chức danh nghề nghiệp ; xác định vị trí việc làm,
cơ cấu giảng viên theo chức danh nghề nghiệp và số lượng giảng viên làm việc tương ứng;
- Tổ chức thực hiện việc tuyển dụng, ký hợp đồng làm việc, bố trí, phân công nhiệm vụ, biệt phái, kiểm tra và đánh giá giảng viên;
- Tổ chức thực hiện thay đổi chức danh nghề nghiệp;
- Tổ chức thực hiện chế độ đào tạo, bồi dưỡng đối với giảng viên;
- Tổ chức thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, cá nhân đãi ngộ đối với giảng viên;
- Tổ chức thực hiện việc khen thưởng, kỷ luật đối với viên chức; Giải quyết thôi việc và nghỉ hưu đối với giảng viên;
- Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê và quản lý hồ sơ giảng viên;
- Thanh tra, kiểm tra việc thi hành quy định của pháp luật về quản lý giảng viên;
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với giảng viên
Theo quy định của Luật Viên chức năm 2010, Nghị định số
29/2012/NĐ-CP của Chính phủ (2012) và các văn bản hướng dẫn thi hành thì thẩm quyền quản lý giảng viên nói chung và giảng viên khối ngành kinh tế ở các Trường Cao đẳng có khối ngành kinh tế thuộc Bộ Xây dựng thuộc về các cơ quan sau:
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giảng viên;
- Bộ Nội vụ, Bộ Xây dựng, Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm
Trang 29trước Chính phủ về việc thực hiện quản lý nhà nước về giảng viên;
- UBND các cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về giảng viên tại địa phương mình;
- Ban giám hiệu các trường Cao đẳng có khối ngành kinh tế chịu trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về giảng viên trong đó có giảng viên khối ngành kinh tế tại trường mình
Như vậy, muốn nâng cao chất lượng giảng viên nói chung và giảng viên khối ngành kinh tế nói riêng trước tiên chúng ta phải xây dựng và ban hành một
hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về giảng viên hoàn thiện để làm cơ sở cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các trường Cao đẳng triển khai và áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật quản lý về biên chế vào thực tiễn cũng như thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng giảng viên
Đồng thời, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra và giải quyết khiếu nại tố cáo có liên quan đến quản
lý nhà nước về giảng viên Đây như là một cơ chế ràng buộc trách nhiệm của các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các trường Đại học và Cao đẳng thực hiện đúng các quy định pháp luật của nhà nước về quản lý giảng viên, trách nhiệm trong việc nâng cao chất lượng giảng viên và khuyến khích, hỗ trợ cho các giảng viên trong đó có giảng viên khối ngành kinh tế nỗ lực phấn đầu nâng cao trình
độ, nghiệp vụ của mình
2.1.3.2 Giải pháp tăng cường công tác tuyển dụng
Theo Nghị định số 29/2012/NĐ-CP của Chính phủ (2012), Thông tư số 15/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ ngày 25/12/2012 hướng dẫn về tuyển dụng, ký kết hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức và các văn bản hướng dẫn thi hành việc tuyển dụng viên chức trong đó có tuyển dụng giảng viên tại các trường Cao đẳng được thực hiện thông qua phương thức thi tuyển hoặc xét tuyển Đối với các trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng và xét tuyển đặc cách viên chức quy định tại Điều 14 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP chỉ thực hiện để tuyển dụng những người có trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm công tác đáp ứng được ngay yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng
Trang 30và do người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng công chức, viên chức đề xuất, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật Không áp dụng quy định về các trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng công chức, xét tuyển đặc cách đối với viên chức hoặc chỉ ký hợp đồng lao động để thay hoàn toàn cho việc tuyển dụng thông qua phương thức thi tuyển và xét tuyển
Việc tuyển dụng giảng viên khối ngành kinh tế thuộc Bộ Xây dựng đã được phân cấp cho Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Xây dựng, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Ban giám hiệu các trường Cao đẳng có khối ngành kinh tế tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm Do vậy Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Xây dựng cần chỉ đạo người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng giảng viên khối ngành kinh tế cần phải chủ động xây dựng kế hoạch tổ chức tuyển dụng hàng năm trên cơ sở chỉ tiêu biên chế, số lượng người làm việc được cơ quan có thẩm quyền phân bổ, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt trước khi thực hiện
Do nhu cầu từ thực tiễn trong những năm tới đây các trường Cao đẳng có khối ngành kinh tế sẽ tăng về quy mô đào tạo, hình thức đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho ngành xây dựng Các trường sẽ tiếp tục tuyển dụng giảng viên để có đủ số lượng, chất lượng, phù hợp cơ cấu đáp ứng nhiệm vụ đào tạo Muốn vậy, công tác tuyển dụng phải được chuẩn bị tốt, chủ động, có tiêu chuẩn xác đáng và một quy trình khoa học, để giúp cho các trường tuyển chọn được những giảng viên đáp ứng được các mục tiêu cho sự nghiệp phát triển đào tạo của nhà trường
Để công tác tuyển chọn giảng viên khối ngành kinh tế đạt được kết quả tốt Các trường cao đẳng có khối ngành kinh tế thuộc Bộ Xây dựng cần xác định
cụ thể số lượng và các yêu cầu về chất lượng giảng viên, công khai số lượng, tiêu chuẩn, quy trình và điều kiện tuyển dụng…theo đúng quy định của Luật Viên chức, Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 04/12/2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức, Thông tư số 15/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ
và các văn bản hướng dẫn thi hành
Trang 31Đồng thời các Bộ, ngành, địa phương tăng cường thanh tra, kiểm tra, kịp thời phát hiện xử lý nghiêm các trường hợp không thực hiện đúng chức trách, thẩm quyền hoặc vi phạm trong tuyển dụng giảng viên khối ngành kinh tế tại các trường Cao đẳng có khối ngành kinh tế thuộc Bộ Xây dựng
2.1.3.3 Giải pháp tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế
Để thực hiện nâng cao chất lượng giảng viên nói chung và giảng viên khối ngành kinh tế nói riêng, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có sự quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên trong đó có giảng viên khối ngành kinh tế Đồng thời các trường Cao đẳng ngành Xây dựng Việt Nam cần có
sự phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ Xây dựng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các trường đại học và các cơ quan ban ngành để thực hiện đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng giảng viên nói chung và giảng viên khối ngành kinh tế cần áp dụng đào tạo, bồi dưỡng ở các phương pháp như:
- Đào tạo trong công việc:
Đào tạo trong công việc là các phương pháp đào tạo trực tiếp tại nơi làm việc của giảng viên, trong đó giảng viên khối ngành kinh tế sẽ học được những kiến thức và kỹ năng cần thiết cho công việc thông qua thực tế thực hiện công việc giảng dạy và thường là dưới sự hướng dẫn của những giảng viên có thâm niên lâu năm tại trường Theo đó, các giảng viên trẻ sẽ được những giảng viên có thâm niên và trình độ cao hơn kèm cặp, chỉ bảo, hướng dẫn cả về chuyên môn lẫn nghiệp vụ sư phạm trong quá trình tham gia trợ giảng hoặc ngay cả khi đã bắt đầu trực tiếp đứng lớp Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi trong lĩnh vực được đào tạo phải có giảng viên đủ khả năng làm hướng dẫn (không áp dụng được đối với việc đào tạo giảng viên để giảng dạy một lĩnh vực mới) và việc áp dụng phương pháp này đối với những người đã có một quá trình giảng dạy nhất định thì tốn thời gian mà không hiệu quả
- Đào tạo ngoài công việc:
Đào tạo ngoài công việc là phương pháp đào tạo trong đó người học được tách ra khỏi sự thực hiện các công việc thực tế Do đặc thù công việc của giảng
Trang 32viên không phải thường xuyên có mặt tại trường nên việc áp dụng các phương pháp ngoài công việc để đào tạo và phát triển rất thuận lợi Một số hình thức đào tạo ngoài công việc để nâng cao chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế ở các trường Cao đẳng có khối ngành kinh tế thuộc Bộ Xây dựng là:
+ Mở các khoá bồi dưỡng ngắn hạn: Việc bồi dưỡng ngắn hạn thường được áp dụng để đào tạo các kỹ năng, nghiệp vụ Hoàn thành khóa bồi dưỡng, các giảng viên sẽ có được chứng chỉ xác nhận quá trình học tập của mình
+ Cử đi học Thạc sỹ và Tiến sỹ: Đây là hình thức đào tạo tập trung, hiệu quả cao và mang lại bằng cấp nên rất được giảng viên ưa chuộng Tuy nhiên, đối với tổ chức thì việc đào tạo và phát triển giảng viên khối ngành kinh tế theo phương pháp này rất khó khăn do việc đi học đòi hỏi nhiều thời gian, ảnh hưởng đến bố trí giảng viên giảng dạy Nếu việc đào tạo được tiến hành trong nước thì giảng viên còn có thể đi làm nhưng nếu là cử đi học ở nước ngoài thì giảng viên
sẽ không thể giảng dạy cho trường và trường phải bố trí giảng viên làm thay Đây cũng là vấn đề nan giải với những nước chậm phát triển như Việt Nam, khi mà việc đào tạo tại nước ngoài thường có chất lượng hơn vì đào tạo trong nước chưa thể sánh với trình độ của khu vực và thế giới
+ Tổ chức hay cử đi tham gia các hội nghị, hội thảo: Phương pháp này thường được sử dụng để bồi dưỡng chuyên môn cho giảng viên Nó giúp giảng viên cập nhật thông tin rất dễ dàng và việc bố trí cho giảng viên tham gia hội nghị, hội thảo cũng rất thuận lợi do thời gian dành cho việc này rất ít so với nhiều phương pháp đào tạo khác Mặt khác, các cuộc hội nghị, hội thảo mang lại cơ hội trao đổi giữa nhiều người có cùng chuyên môn, cùng trình độ nên càng hiệu quả
và là một phương pháp rất phổ biến trong giới trí thức
+ Tổ chức những buổi trao đổi, sinh hoạt chuyên môn, toạ đàm khoa học: Phương pháp tổ chức hội nghị, hội thảo có nhiều song việc tổ chức được nó thì không đơn giản do quy mô lớn, thường phải hội tụ nhiều người, từ nhiều đơn vị trong và ngoài trường tham gia, thậm chí còn mang tầm quốc tế với sự tham gia của những nhà khoa học có quốc tịch khác nhau nên khó có thể tổ chức thường xuyên nhất là tại các trường Cao đẳng Trong các trường Cao đẳng có khối ngành
Trang 33kinh tế thuộc Bộ Xây dựng thay vì tổ chức hội nghị, hội thảo thì các đơn vị có thể tổ chức các buổi trao đổi, sinh hoạt chuyên môn hoặc toạ đàm khoa học Những hình thức tổ chức này đơn giản hơn hội nghị, hội thảo rất nhiều, có thể có
sự tham gia từ bên ngoài nhưng cũng có thể hoàn toàn do đơn vị tổ chức mà cũng không nhất thiết phải là cấp Khoa mà có thể và thường là do Bộ môn, thậm chí tổ chuyên môn tổ chức
+ Tổ chức các chuyến đi khảo sát thực địa: Đây cũng là một phương pháp đào tạo rất hiệu quả vì cho phép thực hành trên thực tế một số vấn đề nghiên cứu (chẳng hạn điều tra, tham khảo ý kiến…) hoặc thu thập những kiến thức thực tế phục vụ cho giảng dạy, xây dựng nghiên cứu điển hình Tuy nhiên, việc tổ chức những chuyến đi như thế này đòi hỏi rất nhiều thời gian, công sức và đặc biệt là việc tổ chức phải thật khoa học, nếu không, kết quả thu được sẽ rất ít hoặc không
Nâng cao chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế trong đó có giảng viên khối ngành kinh tế ở các trường Cao đẳng thuộc Bộ Xây dựng nhằm đạt tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt là đạt đến trình độ quốc tế trong nghiên cứu khoa học Muốn vậy, cần đẩy mạnh hợp tác đào tạo sau đại học với những trường đại học hàng đầu của thế giới, nhằm tranh thủ sự giúp đỡ của các trường bạn trong việc đào tạo đội ngũ các giảng viên trẻ đạt chuẩn quốc tế Việc đào tạo giảng viên phát triển theo hướng chuyên nghiệp chính là chiếc cầu nối giữa vị trí mà các nhà
Trang 34giáo dục đang đứng hiện nay với vị trí mà họ cần có và phải có, nhằm đáp ứng yêu cầu của toàn cầu hoá và hội nhập
2.1.3.4 Giải pháp khuyến khích, hỗ trợ giảng viên tự mình nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
Tại Việt Nam, Chính phủ đã ban hành nhiều các văn bản quy phạm pháp luật nhằm đưa ra những chính sách ưu đãi để khuyến khích, hỗ trợ các giảng viên nói chung và giảng viên khối ngành kinh tế tự mình nâng cao trình độ, nghiệp vụ chuyên môn đặc biệt là trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học
Cụ thể tại Nghị định 99/2014/NĐ-CP của Chính phủ (2014) quy định về đầu tư phát triển tiềm lực và khuyến khích hoạt động KH&CN quy định Giảng viên được công bố một bài báo trên tạp chí khoa học quốc tế uy tín trong danh mục ISI, SCI, SCIE sẽ được nhà nước thưởng tiền tối đa bằng 30 lần mức lương
cơ sở chung - tương đương hơn 34 triệu đồng.Theo đó, khuyến khích giảng viên nghiên cứu khoa học cả về ưu đãi về thuế thu nhập cá nhân đối với phần thu nhập từ hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ thuộc lĩnh vực
ưu tiên, trọng điểm, các hợp đồng thực hiện tại miền núi, vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn
Giảng viên là nhà khoa học đầu ngành trong các cơ sở giáo dục còn được hưởng các chính sách khuyến khích, hỗ trợ theo quy định tại Nghị định số 40/2014/NĐ-CP của Chính phủ (2014) ngày 12/5/2014 về sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động KH&CN Đối với giáo sư là giảng viên cơ hữu sẽ được thành lập nhóm nghiên cứu xuất sắc trong lĩnh vực chuyên môn của mình, được cấp kinh phí cho hoạt động của nhóm Hỗ trợ kinh phí tham gia các hội thảo, hội nghị khoa học trong nước và quốc tế thuộc lĩnh vực chuyên môn của mình Đối với giảng viên là nhà khoa học trẻ tài năng trong các cơ sở giáo dục Chính phủ ưu tiên tuyển chọn đi học nâng cao trình độ ở trong nước, ngoài nước Ưu tiên giao chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ tiềm năng với hình thức khoán chi đến sản phẩm cuối cùng
Tại các trường Cao đẳng có khối ngành kinh tế thuộc Bộ Xây Dựng muốn nâng cao chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế cần thực hiện các chính sách
Trang 35khuyến khích, hỗ trợ giảng viên tự mình nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ như chính sách ưu đãi, đãi ngộ đối với giảng viên có thành tích cao trong nghiên cứu khoa học, trong giảng dạy; chính sách ưu đãi, đãi ngộ đối với các giảng viên được cử đi học đặc biệt là học Cao học và Nghiên cứu sinh ; thực hiện hợp tác trong nước và ngoài nước để tạo môi trường cho các giảng viên khối ngành kinh tế giao lưu và học hỏi…
Khuyến khích các giảng viên khối ngành kinh tế tự học hỏi để nâng cao chất lượng tự học bằng cách không ngừng nghiên cứu, đổi mới phương pháp tự học thông qua giảng thử, giảng mẫu, dự giảng, thao giảng, hội thi, trao đổi tọa đàm… để rút ra những kinh nghiệm thiết thực, bổ ích, qua đó, củng cố, nâng cao kiến thức, năng lực sư phạm Đồng thời, tích cực, chủ động tìm kiếm tri thức trong sách báo, qua các phương tiện thông tin đại chúng, mạng Internet Quá trình tự học tập, cần phân tích, so sánh, tiếp thu, tích lũy kinh nghiệm để không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt, nhất là năng lực chuyên môn, phương pháp, tác phong sư phạm Mỗi giảng viên khối ngành kinh tế phải biết kết hợp vận dụng những kiến thức lý luận được trang bị với kiến thức tích lũy trong quá trình
tự học để thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy; lấy chất lượng giảng dạy để kiểm tra, đánh giá kết quả tự học, tự phấn đấu của bản thân
2.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế
2.2.1 Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về nâng cao chất lượng giảng viên
Giáo dục và Đào tạo có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chung của toàn Đảng, toàn dân, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(2004) đã nêu: “Nâng cao dân trí, Đào tạo nhân lực, Bồi dưỡng nhân tài cho đất
nước.” Nhiệm vụ nặng nề đó đặt lên vai ngành Giáo dục vì làm được điều này
Giáo dục và Đào tạo đã thực sự góp phần đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, xây dựng và thực hiện mục đích của Đảng và Nhà nước là làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Nhà nước Việt Nam đã xác định rõ đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển của
xã hội và giáo dục là quốc sách Một đất nước muốn phát triển hay không người
Trang 36ta đánh giá và nhìn vào nền giáo dục của nước đó có bền vững và phát triển ổn định hay không
Sau khi thực hiện đổi mới đất nước vào năm 1986, Đảng và Nhà nước
đã ban hành rất nhiều chính sách, văn kiện về định hướng phát triển hệ thống giáo dục và đào tạo trong đó trọng tâm là nâng cao chất lượng giảng viên cụ thể như sau:
- Các chủ trương, chính sách của Đảng
Nghị quyết số 02-NQ/HNTW của Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (1996) quyết định định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời
kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000 đã xác định: “Giáo
viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội tôn vinh Giáo viên phải có đủ đức, đủ tài” “Đây là giải pháp thứ hai trong bốn giải pháp chủ
yếu mà nghị quyết đề cập Tại Hội nghị này Tổng Bí thư Đỗ Mười nhấn mạnh:
"Khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển giáo dục là phải đặc biệt
chăm lo đào tạo, bồi dưỡng và tiêu chuẩn hóa đội ngũ giáo viên cũng như cán bộ quản lý giáo dục cả về chính trị, tư tưởng đạo đức và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ"
Chỉ thị 40/CT-TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (2004) về việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và quản lý giáo
dục đã chỉ rõ: "Mục tiêu xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề nhà giáo Thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước"
Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (2006) ngày 10/4/2006 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội 5 năm 2006-
2010 cũng đã chỉ rõ: “Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và
học Đổi mới phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên”
Trên tinh thần này Đại hội Đảng lần thứ X đã đề ra nhiệm vụ của việc phát triển
Trang 37đội ngũ giáo viên về số và chất lượng để đủ sức đáp ứng yêu cầu của kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội thời kỳ mới
Đại hội Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2011) kế thừa và phát triển
quan điểm phát triển nguồn nhân lực từ các đại hội trước,đó là: “xây dựng và
hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam”; “đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”; “Xây dựng và thực hiện chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam”
Trong điều kiện toàn cầu hóa và sự bùng nổ tri thức hiện nay trên thế giới,
hệ thống giáo dục của tất cả các quốc gia trên thế giới bị đặt vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc Thêm nữa, nền kinh tế tri thức với đặc trưng cốt yếu quyết định sự thành bại của tất cả các quốc gia, dân tộc, các tổ chức, và mỗi cá nhân là dựa trên tri thức đã làm cho tất cả các quốc gia đặt chiến lược con người lên những mục tiêu hàng đầu, trong đó cực kỳ coi trọng đổi mới giáo dục và đào tạo, coi đó là chiến lược sống còn trong chiến lược phát triển của mình Trong chiến lược đổi mới giáo dục đào tạo nói chung, có rất nhiều điều cần làm và phải được tiến hành đồng bộ, song phát triển đội ngũ giảng viên có chất lượng cao là một chiến lược được quan tâm hàng đầu Những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra phương hướng phát triển của nền giáo dục quốc dân nói chung và bậc cao đẳng – đại học nói riêng là vấn đề: đổi mới quản lý giáo dục và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên
- Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước
Thể chế đường lối, chính sách của Đảng về định hướng phát triển giáo dục cũng như nâng cao chất lượng giảng viên, Nhà nước đã ban hành một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đầy đủ và toàn diện để điều chỉnh như:
- Chỉ thị số 18/2001/CT-TTg ngày 27/8/2001 của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp cấp bách xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân;
- Nghị định số 35/2001/NĐ-CP về chế độ chính sách đối với nhà giáo và
Trang 38cán bộ quản lý giáo dục công tác ở trường chuyên biệt, vùng có điều kiện kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn, nay được thay thế bằng Nghị định 61/2006/NĐ-CP;
- Nghị quyết số 09/2003/NQ-CP góp phần quan trọng trong việc sắp xếp đội ngũ, giải quyết giáo viên không đáp ứng yêu cầu nhiệm;
- Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11/01/2005 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục;
- Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP của Chính phủ ngày 02 tháng 11 năm
2005 về đổi mới cơ bản và toàn diện Giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020
- Luật giáo dục năm 2005 (đã được sửa đổi, bổ sung) và các văn bản hướng dẫn thi hành;
- Quyết định số 64/2008/QĐ-BGDĐT Ngày 28 tháng 11 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về chế độ làm việc của giảng viên;
- Thông tư số 14/2009/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 5 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Điều lệ trường cao đẳng;
- Luật viên chức năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành;
- Quyết định 911/QĐ-CP của Chính phủ ngày 17/6/2010 Phê duyệt Đề
án Đào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ cho các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2010-2020;
- Công văn số 2754/BGDĐT-NGCBQLGD của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 20 tháng 5 năm 2010 về hướng dẫn lấy ý kiến phản hồi từ người học về hoạt động giảng dạy của giảng viên;
- Thông tư số 13/2013/2013- BGDĐT ngày 29/3/2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về chế độ thỉnh giảng trong các cơ sở giáo dục ban hành kèm theo Thông tư số 44/2011/TT-BGDĐT ngày 10 tháng 10 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
2.2.2 Yêu cầu từ thực tiễn phải nâng cao chất lượng giảng viên khối ngành kinh tế
Trong bối cảnh của thế giới, Việt Nam không nằm ngoài xu thế phải đổi mới hệ thống giáo dục đại học và cao đẳng Điều này lại càng bức bách hơn khi
Trang 39chúng ta đang ở một xuất phát điểm rất thấp Về cơ bản, chương trình cải cách giáo dục phác họa ra một hệ thống giáo dục đến năm 2020 sẽ phát triển lớn hơn
ba đến bốn lần hiện tại, được quản lý tốt hơn, và được hội nhập tốt hơn, linh hoạt hơn trong việc tạo ra cơ hội cho việc chuyển đổi khóa học, công bằng hơn, có khả năng tự chủ tài chính, định hướng nghiên cứu nhiều hơn, tập trung nhiều hơn trong việc thương mại hóa cơ hội nghiên cứu và học tập, tiếp cận gần hơn với những tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, và mở rộng hơn với các cam kết quốc tế
Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ (2005) về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 đề ra 6 mục tiêu cơ bản, liên quan đến vấn đề nâng cao chất lượng giảng viên nói chung gồm có các mục tiêu cụ thể sau: Mở rộng quy mô đào tạo, đạt tỷ
lệ 200 sinh viên/1 vạn dân vào năm 2010 và 450 sinh viên/1 vạn dân vào năm
2020, trong đó khoảng 70 - 80% tổng số sinh viên theo học các chương trình nghề nghiệp - ứng dụng và khoảng 40% tổng số sinh viên thuộc các cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập; Xây dựng giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục đại học đủ về số lượng, có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn cao, phong cách giảng dạy và quản lý tiên tiến; bảo đảm tỷ lệ sinh viên/giảng viên của cả hệ thống giáo dục đại học không quá 20 Đến năm 2010
có ít nhất 40% giảng viên đạt trình độ thạc sĩ và 25% đạt trình độ tiến sĩ; đến năm
2020 có ít nhất 60% giảng viên đạt trình độ thạc sĩ và 35% đạt trình độ tiến sĩ
Như vậy, vấn đề bức bách đặt ra là phải nhanh chóng đào tạo và phát triển giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục cả về số lượng và chất lượng GS-TS Trần Hồng Quân (2009) cho rằng mục tiêu 4,5 triệu sinh viên vào năm 2020 kéo theo lượng giảng viên phải tăng gấp năm lần hiện nay Tuy nhiên, trong 10 năm qua
số lượng giảng viên chỉ tăng gấp đôi Không chỉ số lượng, chất lượng giảng viên cũng phải được chú ý Nếu không có giải pháp thực hiện việc này, vấn đề chất lượng giáo dục đại học sẽ không giải quyết được
Theo số liệu báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo đến hết tháng 5/2012 Việt Nam có 419 trường đại học, cao đẳng Trong đó có 204 trường đại học và
215 trường cao đẳng Số lượng các trường này tăng trên 400% nếu so với năm
Trang 401987 khi cả nước mới chỉ có 101 trường đại học và cao đẳng Việc mở rộng quy
mô không chỉ bó hẹp trong các trường công lập mà cả loại hình dân lập Năm
1987, Việt Nam chưa có trường ngoài công lập, đến năm 1997 cả nước đã có 15 trường đại học ngoài công lập và đến tháng 5 năm 2012 có 82 trường đại học, cao đẳng ngoài công lập, chiếm 20% Sự phát triển quá nhanh về quy mô đào tạo
đã phần nào cung cấp đủ nguồn lực cho xã hội Tuy nhiên, chất lượng giáo dục bậc đại học lại không tương xứng với sự phát triển về quy mô đào tạo: sinh viên
ra trường không có khả năng làm việc được ngay, yếu về chuyên môn, thiếu kỹ năng sống và các trường đại học của Việt Nam cũng chưa bao giờ được xếp hạng cao trong hệ thống giáo dục toàn cầu Có nhiều nguyên nhân dẫn đến chất lượng giáo dục Việt Nam còn yếu kém, và một trong những nguyên nhân đó là do giảng viên còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng:
Về số lượng, giảng viên đại học đã tăng gấp 3 lần, từ 20.212 người vào năm 1987 lên 61.190 người vào năm 2009, và gần 70.000 người vào năm 2013 Mặc dù vậy, so với sự phát triển mạnh mẽ của của các trường đại học, cao đẳng (gấp 4,1 lần) cũng như sự gia tăng nhanh chóng quy mô đào tạo (gấp 13 lần) trong những năm qua thì số lượng giảng viên đại học hiện chưa đáp ứng được yêu cầu Tỉ lệ sinh viên/giảng viên (SV/GV) của cả nước còn ở mức quá cao so với quy định: trung bình là 28 SV/ tỉ lệ này tại một số cơ sở giáo dục còn lên tới trên 40 SV/GV, cao hơn nhiều so với quy định hiện hành
Về chất lượng, tỉ lệ giảng viên có trình độ thạc sĩ trở lên chiếm chưa tới 50% tổng số giảng viên trong đó trình độ tiến sĩ chiếm 17-18% và chỉ có khoảng 5% giảng viên có chức danh Phó Giáo sư, Giáo sư Con số này còn quá thấp so với mục tiêu của Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra là đến năm 2020 phải đạt ít nhất 35% giảng viên có trình độ tiến sĩ Giảng viên có trình độ cao, đặc biệt là các Phó Giáo sư, Giáo sư có độ tuổi trung bình khá cao, phân bố tập trung chủ yếu ở một
số trường đại học lớn tại các Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
Chất lượng giảng viên được thể hiện chủ yếu qua chất lượng hoạt động giảng dạy và chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên Do việc phát triển quá nhanh về quy mô đào tạo dẫn đến tình trạng quá tải giờ dạy diễn ra liên tục