Tuy nhiên, nền sản xuất nông nghiệp phát triển chưa cân đối một số sản phẩm trồng trọt có thế mạnh tạo ra sự dư thửa, hiệu quả thấp; bố trí các nguồn lực trong sản xuất còn chưa phù hợp,
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM ĐÌNH ĐỒNG
NGHIÊN CỨU TÁI CƠ CẤU NGÀNH TRỒNG TRỌT
HUYỆN GIA BÌNH, TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2015
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM ĐÌNH ĐỒNG
NGHIÊN CỨU TÁI CƠ CẤU NGÀNH TRỒNG TRỌT
HUYỆN GIA BÌNH, TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60 62 01 15
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Nguyễn Hữu Ngoan
HÀ NỘI - NĂM 2015
Trang 3Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Phạm Đình Đồng
Trang 4Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng
và biết ơn sâu sắc PGS.TS Nguyễn Hữu Ngoan đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn đầu tư và phát triển, Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn- Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện
đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Trạm Khuyến nông huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà nội, ngày tháng năm 2015
Học viên
Phạm Đình Đồng
Trang 5Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iv
MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục chữ viết tắt vii
Danh mục bảng viii
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu: 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
2.1 Cơ sở lý luận tái cơ cấu ngành trồng trọt 5
2.1.1 Một số khái niệm có liên quan 5
2.1.2 Cơ cấu ngành trồng trọt 7
2.1.3 Đặc điểm của cơ cấu ngành trồng trọt 10
2.1.4 Tái cơ cấu ngành trồng trọt 12
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tái cơ cấu ngành trồng trọt 19
2.1.6 Những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tái cơ cấu nông nghiệp và ngành trồng trọt 23
2.2 Cơ sở thực tiễn tái cơ cấu ngành trồng trọt 31
2.2.1 Tình hình tái cơ cấu ngành trồng trọt trên thế gới 31
2.2.2 Tình hình tái cơ cấu ngành trồng trọt trong nước và tỉnh Bắc Ninh 37
2.3 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài 46
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 48
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 48
Trang 6Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page v
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 48
3.1.2.Điều kiện kinh tế xã hội huyện Gia Bình 54
3.2 Phương pháp nghiên cứu 59
3.2.1 Khung nghiên cứu 59
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 62
3.2.3 Phương pháp tổng hợp số liệu 67
3.2.4 Phương pháp phân tích 67
3.2.5 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo 69
3.2.6 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 69
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 72
4.1 Thực trạng cơ cấu ngành trồng trọt của huyện Gia Bình 72
4.1.1 Thực trạng cơ cấu sản xuất trồng trọt của huyện Gia Bình 72
4.1.2 Thực trạng phân bổ và sử dụng các nguồn lực cho sản xuất trồng trọt của huyện 86
4.1.3 Thực trạng sản xuất trồng trọt tại các điểm điều tra 95
4.1.4 Thực trạng các chính sách kinh tế thúc đẩy tái cơ cấu ngành trồng trọt theo hướng hàng hoá, nâng cao giá trị gia tăng 105
4.1.5 Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tại huyện Gia Bình 110
4.2 Các yếu tố ảnh hướng đến tái cơ cấu ngành trồng trọt tại huyện Gia Bình 110
4.2.1 Các yếu tố về quản lý chung 110
4.2.2 Nhóm các yếu tố về phạm vi riêng 114
4.2.3 Đánh giá chung 115
4.3 Định hướng và giải pháp tái cơ cấu ngành trồng trọt huyện Gia Bình giai đoạn 2016 – 2020 118
4.3.1 Định hướng và mục tiêu tái cơ cấu ngành trồng trọt tại huyện Gia Bình 120
4.3.2 Những giải pháp chủ yếu tái cơ cấu ngành trồng trọt huyện Gia Bình giai đoạn 2016-2020 122
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 129
5.1 Kết luận 129
5.2 Khuyến nghị 131
Trang 7Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vi TÀI LIỆU THAM KHẢO 133
Trang 8Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vii
Trang 9Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page viii
DANH MỤC BẢNG
Số bảng Tên bảng Trang
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đại của huyện Gia Bình qua 3 năm
2012-2014 51 Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của huyện qua 3 năm 2012-2014 57 Bảng 3.3: Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn huyện Gia Bình 3
năm 2012 – 2014 58 Bảng 3.4: Mẫu điều tra 64 Bảng 4.1 Diện tích gieo trồng và cơ cấu diện tích gieo trồng cây hàng năm
của huyện năm 2012-2014 73 Bảng 4.2: Kết quả sản xuất một số cây hàng năm của huyện Gia Bình năm
2012-2014 77 Bảng 4.3 Kết quả sản xuất hàng hoá các cây trồng hàng năm của huyện Gia
Bình 3 năm 2012-2014 79 Bảng 4.4 Tình hình sản xuất cây lâu năm của huyện Gia Bình từ 2012-
2014 83 Bảng 4.5 Kết quả sản xuất cây lâu năm huyện Gia Bình năm 2012-2014 85 Bảng 4.6 Cơ cấu diện tích đất nông nghiệp phân theo ngành sản xuất
2012-2014 87 Bảng 4.7 Kết quả sử dụng đất nông nghiệp theo các hình thức tổ chức sử
dụng đất năm 2012-2014 90 Bảng 4.8 Kết quả sử dụng đất trồng trọt của các hình thức tổ chức sử dụng
đất bình quân 1 ha canh tác năm 2012-2014 91 Bảng 4.9 Tình hình sử dụng vốn và lao động cho sản xuất trồng trọt của
các hình thức tổ chức sản xuất bình quân cho 1ha canh tác năm 2012-2014 93 Bảng 4.10 Tình hình áp dụng TBKT trồng trọt các loại hình sản xuất năm
2012-2015 95 Bảng 4.11 Thực trạng phân bổ và sử dụng đất trồng trọt tại 3 xã 98
Trang 10Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page ix
Bảng 4.12 Kết quả sử dụng đất trồng trọt bình quân 1 ha canh tác của các
hình thức tổ chức sản xuất tại 3 xã 99 Bảng 4.12 Phân bổ và sử dụng lao động của hộ điều tra ở 3 xã năm 2014 101 Bảng 4.13 Tình hình phân bổ và sử dụng vốn, lao động bình quân 1ha canh
tác tại 3 xã 103 Bảng 4.14 Tình hình áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất trồng trọt tại 3
xã điều tra 104 Bảng 4.15: Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ giống từ năm 2012-2014 106 Bảng 4.16: Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ cây màu qua 3 năm 2012-
2014 trên địa bàn huyện Gia Bình 109 Bảng 4.17: Nguồn thông tin để hộ ra quyết định sản xuất kinh doanh 115 Bảng 4.18: Phân tích SWOT 119
Trang 11Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 1
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là quốc gia có nhiều tiềm năng và lợi thế phát triển sản xuất nông nghiệp, trong quá trình phát triển ngành nông nghiệp vẫn luôn khẳng định vị trí, vai trò quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế Trong nông nghiệp trồng trọt luôn giữ vai trò chủ yếu cả về mặt số lượng nông sản và giá trị sản xuất Sự phát triển của ngành trồng trọt đã cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người, cung cấp nguyên liệu cho các ngành chế biến ngày càng phát triển tạo ra hàng hoá xuất khẩu có giá trị cho nền kinh tế
Trong gần 30 năm qua việc chuyển đổi từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá của ngành nông nghiệp là một minh chứng cho sự phát triển nền kinh tế Việt Nam Thành tựu nổi bật trong những năm qua của ngành nông nghiệp là từ chỗ không đủ lương thực thì đến năm 1991 nước ta đã trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới cùng với các sản phẩm cà phê, điều, cao
su, v.v… đã có thương hiệu trên thị trường quốc tế
Tuy nhiên, nền sản xuất nông nghiệp phát triển chưa cân đối một số sản phẩm trồng trọt có thế mạnh tạo ra sự dư thửa, hiệu quả thấp; bố trí các nguồn lực trong sản xuất còn chưa phù hợp, do đó cần phải điều chỉnh cơ cấu hợp lý trong ngành trồng trọt, tiến hành sắp xếp lại các nguồn lực nhằm đem lại hiệu quả sản xuất tối ưu nhất, đồng thời phải phát huy lợi thế để sản xuất ra những sản phẩm mới chất lượng cao, đặc biệt những sản phẩm trồng trọt có thế mạnh trong sản xuất của vùng
Đa dạng hoá nông sản hàng hoá đòi hỏi ngành nông nghiệp phải được quy hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất, phát huy thế mạnh của từng vùng Đây là những bài toán nông nghiệp đang đặt ra đối với các nhà quản lý trong việc hoạch định chính sách phát triển cho từng vùng kinh tế Việc chuyển đổi cơ cấu trồng
Trang 12Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 2
trọt phù hợp với điều kiện tự nhiên và lợi thế so sánh của mỗi vùng là hướng đi đúng đắn mà các cấp chính quyền đang triển khai
Gia Bình là một huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh Đây là vùng đất màu mỡ, được hình thành do sự bồi đắp phù sa của hệ thống sông Đuống Có rất nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp Vì vậy, Huyện luôn là vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế chung của tỉnh Bắc Ninh Trong những năm gần đây do tác động của nhiều yếu tố trong và ngoài nước đã đặt ra những yêu cầu cấp thiết cho nền kinh tế đặc biệt là vấn đề chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Trong quá trình chuyển đổi cơ cấu của ngành nông nghiệp huyện Gia Bình còn gặp nhiều khó khăn cần giải quyết như vấn đề ruộng đất của các hộ nông dân, nếu như trước đây người nông dân đã gắn bó máu thịt với đồng ruộng, thì nay do hiệu quả sản xuất thấp, người nông dân không thiết tha với sản xuất nông nghiệp chuyển đổi sang các ngành nghề khác, còn lại
hộ sản xuất nông nghiệp thì phân tán, sản xuất manh mún, mức độ đầu tư thâm canh thấp, sản xuất hàng hoá kém phát triển không gắn với thị trường và kế quả sản xuất nông nghiệp thường kém so với các ngành sản xuất khác, thu nhập hộ nông dân ngày các thấp Vấn đề đặt ra làm thế nào để nâng cao hiệu quả kinh tế
xã hội và môi trường ổn định đời sống cho người dân nông thôn là câu hỏi cần có lời giải cấp thiết Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu tái cơ cấu ngành trồng trọt huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, từ đó đề xuất các giải pháp tái cơ cấu ngành trồng trọt trên địa bàn huyện Gia Bình
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tái cơ cấu ngành trồng trọt
- Đánh giá thực trạng cơ cấu ngành trồng trọt tại huyện Gia Bình
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu ngành trồng trọt trên địa bàn huyện Gia Bình
Trang 13Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 3
- Đề xuất một số giải pháp tái cơ cấu ngành trồng trọt theo hướng nâng cao giá trị gia tăng huyện Gia Bình, Bắc Ninh giai đoạn 2016-2020
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Thế nào là tái cơ cấu? Ngành trồng trọt gồm những yếu tố nào? Tái cơ cấu ngành trồng trọt như thế nào? Tại sao phải nghiên cứu về tái cơ cấu ngành trồng trọt? Nó có vai trò và ý nghĩa như thế nào đối với sự phát triển ngành trồng trọt?
- Làm thế nào để nghiên cứu cơ cấu ngành trồng trọt và nghiên cứu cái gì về
cơ cấu ngành trồng trọt? Phương pháp nào chỉ ra những tồn tại, hạn chế của cơ cấu ngành trồng trọt cũ, kém hiệu quả hơn so với cơ cấu mới?
- Những nhân tố nào có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế, kỹ thuật ngành trồng trọt tại các địa điểm điều tra? Mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố này như thế nào?
- Giải pháp tái cơ cấu ngành trồng trọt? Giải pháp nào là quan trọng nhất? Các giải pháp đó có khả thi thực hiện hay không?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Lý luận và thực tiễn về tái cơ cấu ngành trồng trọt huyện Gia Bình tỉnh Bắc
- Đánh giá thực trạng cơ cấu ngành trồng trọt tại huyện Gia Bình
- Phân tích yếu tố ảnh hưởng tới cơ cấu ngành trồng trọt
Trang 14Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 4
- Định hướng và đề xuất giải pháp tái cơ cấu ngành trồng trọt mới tại huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh Nghiên cứu tái cơ cấu dựa trên sự sắp sếp lại các nguồn lực trong nội bộ ngành trồng trọt trên địa bàn huyện
Trang 15Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 5
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận tái cơ cấu ngành trồng trọt
2.1.1 Một số khái niệm có liên quan
* Khái niệm về cơ cấu:
Trước khi đi vào tìm hiểu khái niệm cơ cấu ngành trồng trọt chúng ta hãy tiếp cận nó bằng khái niệm “cơ cấu” “Cơ cấu là một phạm trù triết học dùng để biểu thị cấu trúc bên trong, tỷ lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành hệ thống Cơ cấu được biểu hiện như là tập hợp những mối quan hệ liên kết hữu cơ, các yếu tố khác nhau của một hệ thống nhất định Nó biểu hiện ra như là một thuộc tính của sự vật hiện tượng nó biến đổi cùng với sự biến đổi sự vật, hiện tượng” Vì thế khi nghiên cứu cơ cấu phải đứng trên quan điểm hệ thống
* Khái niệm về cơ cấu ngành trồng trọt:
Hệ thống trồng trọt là hoạt động sản xuất của cây trồng trong nông trại, nó bao gồm tất cả các hợp phần cần thiết để sản xuất một tổ hợp các cây trồng của nông trại và mối quan hệ của chúng với môi trường Các hợp phần này bao gồm
cả yếu tố tự nhiên, yếu tố sinh học cần thiết cũng như biện pháp kỹ thuật lao động và yếu tố quản lý (Zandstra, 1981)
HTTT là bao gồm tất cả thành phần cần có cho nông trại sản xuất một tập hợp các công thức luân canh (CTLC) và bao gồm việc sản xuất một số cây trồng Các hoạt động sản xuất trồng trọt của một nông trại tạo nên hệ thống trồng trọt của trang trại đó Tất cả các thành phần cần cho việc sản xuất một cây trồng cụ thể nào
đó và mối quan hệ của chúng với môi trường được coi là thuộc phạm vi một hệ thống cây trồng Các thành phần đó bao gồm, tất cả các đầu vào cần thiết cả về vật
lý, sinh học công nghệ, vốn, lao động và quản lý Một CTLC bao gồm tất cả các thành phần cần có cho việc sản xuất một tập hợp cây trồng trên một mảnh ruộng trong một năm Còn hệ thống canh tác bao gồm tất cả các thành phần cần thiết cho
Trang 16Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 6
sản xuất một tập hợp cây trồng ở nông trại (Phạm Thị Hương, 2006)
HTTT là một trong hai hệ thống phụ chủ yếu của hệ thống nông nghiệp hỗn hợp Những cây trồng nông nghịêp có thể có nhiều chức năng khác nhau, kể
cả việc tạo ra chỗ che chở cho con người, gia súc và cây trồng khác, chống xói mòn đất, phục vụ mục đích giải trí (thảm cỏ, hoa, cây cảnh và cây bụi) và làm tăng độ phì nhiêu của đất (bổ sung chất hữu cơ từ xác lá và rễ già hoặc đạm từ nốt sần cây họ đậu) Tuy nhiên, những HTTT chủ yếu được xây dựng để sản xuất
ra lương thực, thực phẩm trực tiếp cho con người, thức ăn cho gia súc, sợi cho nguyên liệu công nghiệp và một nhóm sản phẩm hỗn hợp khác như thuốc lá, chất thơm và dược liệu
Cơ cấu ngành trồng trọt là một phạm trù khoa học biểu hiện trình độ tổ chức và quản lý sản xuất trồng trọt, đồng thời cơ cấu ngành trồng trọt cũng là một chỉ tiêu rất quan trọng của chiến lược nông sản phẩm
Cơ cấu ngành trồng trọt xuất phát từ thuật ngữ "cơ cấu" theo thuyết cấu trúc và học thuyết tổ chức hữu cơ, thì cơ cấu có thể hiểu như là một cơ thể được hình thành trong điều kiện môi trường nhất định Trong đó các bộ phận hay yếu
tố của nó được cấu tạo có tính quy luật và hệ thống theo một trình tự và tỷ lệ thích ứng Nội dung cốt lõi của nó là biểu hiện vị trí, vai trò của từng bộ phận hợp thành và có mối quan hệ tương tác lẫn nhau trong tổng thể Một cơ cấu có thể được thay đổi để phù hợp với điều kiện khách quan nhất định Suy rộng ra cơ cấu cây trồng có thể quan niệm trên cơ sở của khái niệm cơ cấu kinh tế: "Cơ cấu trồng trọt là tổng thể các bộ phận hợp thành với vị trí tỷ trọng tương ứng của mỗi
bộ phận và mối quan hệ tương tác của mỗi bộ phận ấy trong quá trình phát triển của nền sản xuất xã hội"
Một cơ cấu ngành hợp lý sẽ cho phép tạo nên sự cân đối hài hoà của ngành đó để sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực tài nguyên, của cải vật chất và lao động Xem xét cơ cấu ngành là xem xét cấu trúc bên trong của quá trình tái sản xuất và mở rộng của ngành thông qua các mối quan hệ kinh tế Đó là quan hệ tỷ lệ về lượng và chất Còn quá trình tái sản xuất xã hội bao gồm toàn bộ
Trang 17Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 7
quan hệ sản xuất tồn tại thích ứng với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất Cơ cấu ngành của một lĩnh vực luôn chịu ảnh hưởng bởi quan hệ giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất của cả lĩnh vực và nền kinh tế Mối quan
hệ kinh tế đó không phải những quan hệ riêng lẻ, tách rời của các bộ phận mà là những quan hệ tổng thể của các bộ phận cấu thành kinh tế như: quan hệ giữa các ngành kinh tế
2.1.2 Cơ cấu ngành trồng trọt
* Hệ thống cây trồng:
Hệ thống cây trồng là thành phần các giống và loài cây được bố trí trong không gian và thời gian trong mọi hệ thống sinh thái nông nghiệp nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn lợi tự nhiên, kinh tế xã hội (Đào Thế Tuấn 1984)
Theo Zandstra H.G (1992): Hệ thống cây trồng là thành phần giống và loại cây trồng được bố trí trong không gian và thời gian của một hệ sinh thái nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn lợi tự nhiên, kinh tế xã hội
Theo Nguyễn Duy Tính (1995), nghiên cứu hệ thống cây trồng là hình thức đa canh bao gồm: Trồng xen, trồng gối, luân canh, trồng thành băng, canh tác phối hợp và vườn hỗn hợp Tổng quan thì hệ thống cây trồng là một hệ thống nhất trong mối tương tác giữa các loài cây trồng, giống cây trồng được bố trí hợp
lý trong không gian và thời gian
- Về đối tượng nghiên cứu của hệ thống cây trồng thì theo Phạm Chí Thành (1996) là:
+ Các công thức luân canh và hình thức đa canh
+ Cơ cấu cây trồng hay tỷ lệ diện tích dành cho mùa vụ nhất định
+ Kỹ thuật canh tác cho cả hệ thống đóng
Như vậy, hệ thống cây trồng là một thể thống nhất trong mối quan hệ tương tác giữa các loại cây trồng được bố trí hợp lý trong không gian và thời gian tức là mối quan hệ giữa các loại cây trồng trong từng vụ và giữa các vụ khác nhau trên một mảnh đất, trong một hệ sinh thái Vì vậy, nghiên cứu hệ thống cây trồng là nghiên cứu: công thức luân canh và hình thức đa canh, cơ cấu cây trồng
Trang 18Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 8
hay tỷ lệ diện tích dành cho mùa vụ cây trồng nhất định, kỹ thuật canh tác cho cả
hệ thống canh tác đó
Do đặc tính sinh học của cây trồng và môi trường luôn luôn biến đổi nên
hệ thống cây trồng mang đặc tính động Vì vậy, nghiên cứu hệ thống cây trồng không thể dừng lại ở một không gian và thời gian rồi kết thúc mà là một việc làm thường xuyên để tìm ra xu thế phát triển, các yếu tố hạn chế và các giải pháp khắc phục để thay đổi hệ thống cây trồng, nhằm khai thác ngày càng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, tăng hiệu quả kinh tế, xã hội phục vụ cuộc sống con người Hoàn thiện hệ thống cây trồng hoặc phát triển các hệ thống cây trồng mới trên thực tế là sự tổ hợp lại các thành phần cây trồng và giống cây trồng, đảm bảo các thành phần trong hệ thống có mối quan hệ tương tác nhau, thúc đẩy lẩn nhau, nhằm khai thác các lợi thế về diều kiện đất đai, tạo cho hệ thống có sức sản xuất cao, bảo vệ môi trường sinh thái (Lê Duy Thước,1991)
* Cơ cấu cây trồng:
Cơ cấu cây trồng là thành phần các giống, loài cây trồng có trong một vùng ở một thời điểm nhất định Nó liên quan tới cơ cấu cây trồng nông nghiệp
và phản ánh sự phân công lao động trong nội bộ ngành, phù hợp với điều kiện tự nhiên-kinh tế- xã hội của một vùng nhằm cung cấp được nhiều nhất những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người (Đào Thế Tuấn, 1978)
Việc xác định cơ cấu cây trồng là một nội dung của phân vùng sản xuất nông nghiệp (Đào Thế Tuấn, 1978) Cơ cấu cây trồng xét về mặt diện tích, tỉ lệ các loại cây trồng trên diện tích canh tác sẽ phần nào nói lên trình độ sản xuất của từng vùng Tỉ lệ cây nông nghiệp cao, cây công nghiệp, cây thực phẩm thấp phản ánh trình độ sản xuất thấp Tỉ lệ các loại cây trồng có sản phẩm tiêu thụ tại chỗ cao, các loại cây trồng có giá trị hàng hoá thấp chứng tỏ sản xuất nông nghiệp ở
đó kém phát triển
Trong công tác quy hoạch phát triển nông nghiệp bền vững, xác định cơ cấu cây trồng hợp lí là một trong những cơ sở cho việc xác định phương hướng sản xuất Cơ cấu cây trồng còn là cơ sở để bố trí mùa vụ, chế độ luân canh thay
Trang 19Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 9
đổi theo những tiến bộ Khoa học- Kỹ thuật, giải quyết các vấn đề mà thực tiễn sản xuất đòi hỏi
Hệ thống cây trồng và cơ cấu cây trồng có nhiều điểm tương đồng Cơ cấu cây trồng chính là cấu trúc của hệ thống cây trồng Người nghiên cứu về hệ thống cây trồng cần quan tâm đến “đầu vào” và “đầu ra” của hệ thống cây trồng chính
là cấu trúc bên trong của nó hay cơ cấu cây trồng
* Đặc trưng chủ yếu của cơ cấu cây trồng:
- Cơ cấu cây trồng mang tính hợp lý, khách quan, hình thành do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội Cơ cấu cây trồng không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Con người chỉ có thể nắm vững các quy luật tự nhiên và xã hội để điều khiển sự vận động của cơ cấu cây trồng theo hướng có lợi cho mình
- Cơ cấu cây trồng mang tính lịch sử xã hội nhất định, không có một cơ cấu cây trồng chung cho mọi vùng sản xuất, mọi giai đoạn lịch sử
- Cơ cấu cây trồng biến đổi theo xu hướng ngày càng hoàn thiện Nó luân phát triển theo xu hướng từ đơn điệu đến đa dạng, từ hiệu quả thấp đến hiệu quả cao do yêu cầu tăng trưởng và phát triển của xã hội
- Cơ cấu cây trồng mở rộng phải gắn liền với sự phát triển của công nghiệp và thương nghiệp, công nghiệp chế tạo máy nông nghiệp, công nghiệp hoá chất góp phần trực tiếp khai thông “đầu vào” của hệ thống cây trồng nhằm tạo ra một cơ cấu cây trồng hợp lý để sử dụng hiệu quả “đầu vào” và điều chỉnh hợp lý “đầu ra”
* Chuyển đổi cơ cấu cây trồng:
- Chuyển đổi cơ cấu cây trồng là sự thay đổi theo tỉ lệ % của diện tích gieo trồng, nhóm cây trồng của công thức trong nhóm hoặc trong tổng thể và chịu sự tác động, thay đổi của yếu tố tự nhiên- kinh tế- tã hội Quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng là quá trình thực hiện bước chuyển từ hiện trạng cơ cấu cây trồng
cũ sang cơ cấu cây trồng mới (Đào Thế Tuấn, 1978)
Trang 20Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 10
- Theo Nguyễn Duy Tính, (1995), thực chất của chuyển đổi cơ cấu cây trồng là thực hiện hàng loạt các biện pháp nhằm thúc đẩy cơ cấu cây trồng phát triển, đáp ứng những mục tiêu của xã hội Cải tiến cơ cấu cây trồng có vai trò rất quan trọng, nhất là trong điều kiện mà ở đó kinh tế thị trường có nhiều tác động ảnh hưởng đến sản xuất trồng trọt
- Chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải bắt đầu từ việc phân tích hệ thống canh tác truyền thống Chính từ kết quả đánh giá phân tích đặc điểm của Hệ thống cây trồng mới tìm ra được hạn chế và lợi thế, so sánh để đề xuất cơ cấu cây trồng hợp lí Khi chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải đảm bảo yêu cầu sau (Nguyễn Duy Tính, 1995):
+ Căn cứ vào nhu cầu của thị trường
+ Phải khai thác có hiệu quả các tiềm năng về điều kiện Tự nhiên- Kinh tế- Xã hội
+Phải biết lợi dụng triệt để các đặc tính nông sinh học của mỗi loại cây trồng nhằm giảm tối đa sự phá hoại của dịch bệnh và thiên tai
+ Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải tính đến sự phát triển của khoa học kĩ thuật và áp dụng các thành tựu của khoa học kĩ thuật vào sản xuất
+ Về mặt kinh tế, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng phải đảm bảo hiệu quả kinh tế cao, sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hoá có giá trị
Nghiên cứu thay đổi cơ cấu cây trồng là một trong những biện pháp kinh
tế, kĩ thuật nhằm mục đích sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nâng cao năng suất cây trồng và chất lượng sản phẩm (Nguyễn Duy Tính, 1995)
2.1.3 Đặc điểm của cơ cấu ngành trồng trọt
* Cơ cấu ngành trồng trọt mang tính khách quan:
Mỗi ngành, mỗi vùng đều có cơ cấu riêng của mình theo điều kiện tự nhiên xã hội, điều kiện kinh tế cụ thể Đối với cơ cấu ngành trồng trọt cũng vậy
sự phát triển của nó cũng còn tuỳ thuộc vào trình độ của lực lượng sản xuất và sự phân công lao động xã hội Quá trình phát triển của lực lượng sản xuất nói chung
Trang 21Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 11
và cơ cấu cây trồng nói riêng tự nó đã xác lập nhưng tỷ lệ theo các mối quan hệ tất yếu Vai trò của yếu tố chủ quan là thông qua nhận thức ngày càng sâu sắc của quy luật khách quan mà phân tích, đánh giá những xu hướng phát triển khác nhau đôi khi còn mâu thuẫn nhau, để tìm ra những phương án thay đổi cơ cấu có hiệu quả cao nhất trong những điều kiện cụ thể của đất nước Do đó con người
có thể tác động góp phần thúc đẩy hoặc hạn chế quá trình hình thành và biến đổi cơ cấu ngành trồng trọt hợp lý và ngược lại (Vương Đình Huệ, Tạp trí cộng sản số 854)
* Cơ cấu ngành trồng trọt mang tính lịch sử và xã hội nhất định:
Cơ cấu ngành trồng trọt nói riêng và cơ cấu ngành nông nghiệp nói chung đều phản ánh lên cái tính quy luật chung của quá trình phát triển kinh tế
xă hội Cơ cấu này ở mỗi nơi lại khác nhau và trong mỗi nước, mỗi vùng lại có một cơ cấu khác nhau do đó cơ cấu ngành trồng trọt mang tính vùng miền rơ rệt Vì vậy khi hỏi người sản xuất phải tôn trọng tính vùng của ngành trồng trọt
để có thể xây dựng một cơ cấu ngành linh hoạt, mềm dẻo, tránh tính cứng nhắc của một cơ cấu để đảm bảo hiệu quả kinh tế, phát huy được tính vùng (Đỗ Kim Chung, 1997)
* Cơ cấu ngành trồng trọt không cố định mà luôn vận động:
Cơ cấu ngành trồng trọt không thể cố định mà luôn có sự biến đổi, điểu chỉnh thích hợp với sự thay đổi của các điều kiện kinh tế xă hội và tiến bộ khoa học công nghệ đảm bảo quy mô và phát triển kinh tế Trong triết học, Các Mác nói rằng: Sự vật hiện tượng luôn vận động và biến đổi không ngừng Cơ cấu ngành trồng trọt phát triển và biến đổi chặt chẽ gắn bó với sự phát triển và biến đổi của lực lượng sản xuất và phân công lao động xă hội Lực lượng sản xuất càng phát triển thì con người càng văn minh, khoa học càng hiện đại, công nghệ càng tiên tiến, chuyên môn hoá và phân công lao động ngày càng cao, tất yếu sẽ dẫn đến cơ cấu kinh tế ngày càng hoàn thiện Bên cạnh đó là sự vận động và biến đổi của các bộ phận kinh tế Đây là mối quan hệ chuyển hoá lẫn nhau Bộ phận kinh tế thay đổi phát triển hơn tất yếu sẽ kéo theo cơ cấu kinh tế ngày một biến
Trang 22Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 12
đổi hoàn thiện hơn Từ sự thay đổi về lượng đến sự thay đổi về chất, một cơ cấu kinh tế mới ra đời tiến bộ hơn để phù hợp với sự biến đổi đó, nó phản ánh sự phát triển không ngừng của văn minh nhân loại
Tuy nhiên cơ cấu kinh tế luôn luôn thay đổi mà nó phải tương đối ổn định nhằm đảm bảo sự phù hợp với quá tŕnh hình thành và phát triển của nó một cách khách quan Bởi vì sự thay đổi thường xuyên của cơ cấu kinh tế sẽ tạo sự thay đổi không ổn định của sản xuất, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật gây nên lăng phí tổn thất cho nền kinh tế (Vương Đình Huệ, Tạp trí cộng sản số 854)
2.1.4 Tái cơ cấu ngành trồng trọt
Theo Vương Đình Huệ (2013) mục tiêu của tái cơ cấu ngành trồng trọt gồm những nội dung chủ yếu sau:
* Mục tiêu của tái cơ cấu ngành trồng trọt:
- Chú trọng mục tiêu tái cơ cấu nhằm xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, hiệu quả, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên, liên kết chặt chẽ với chuỗi giá trị toàn cầu, tạo việc làm, tăng thu nhập của nông dân, bảo đảm an ninh lương thực - thực phẩm, ổn định xã hội
- Mục tiêu tái cơ cấu còn nhằm tạo ra mối liên kết chặt chẽ, hiệu quả, hài hòa và hợp lý giữa công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp, giữa đô thị và nông thôn, giữa giai cấp công nhân và nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Tái cơ cấu cũng nhằm tạo ra sự thay đổi phù hợp về quan hệ sản xuất với sự phát triển của lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, hoàn thiện vai trò của Nhà nước trong ngành nông nghiệp về đầu tư, phân bổ nguồn lực, quản lý đất đai, cung ứng dịch vụ công, quản trị chuỗi ngành hàng, thị trường để nông dân và doanh nghiệp trở thành chủ thể và động lực trong đầu tư và phát triển sản xuất
* Nội dung tái cơ cấu ngành trồng trọt:
- Thứ nhất, tái cơ cấu không gian sản xuất trồng trọt Trên mỗi vùng của đất nước, trồng trọt có lợi thế và chức năng, vai trò kinh tế, xã hội, sinh thái môi trường
Trang 23Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 13
khác nhau Do vậy, cần thiết có nhiều mô hình sản xuất trồng trọt phù hợp với từng vùng Quá trình tái cơ cấu cần định hình rõ cơ chế, chính sách, chiến lược phát triển các mô hình sản xuất phù hợp theo vùng, miền
+ Khu vực phát triển ngành trồng trọt hiện đại, tập trung quy mô lớn: Theo Vương Đình Huệ, (2013) đây là khu vực có quy mô sản xuất lớn và hiện đại, dùng những tiêu chuẩn hiện đại nhất về sản xuất, quản trị trồng trọt để tạo ra giá trị gia tăng về kinh tế, có chuỗi thương mại mạnh được quản trị tốt, có thương hiệu, giá trị gia tăng cao Mô hình này có thể triển khai: 1- Ở vùng đã đủ điều kiện cho phát triển trồng trọt hiện đại như lao động trồng trọt giảm nhiều, công nghiệp hóa (CNH) và đô thị hóa (ĐTH) mạnh, tỷ trọng nông nghiệp thấp; 2- Ở vùng dù CNH và ĐTH chưa thực sự mạnh, nhưng trồng trọt là thế mạnh có lợi thế so sánh cao, công nghiệp hóa nông nghiệp là động lực chính phát triển kinh tế địa phương, có những ngành hàng xuất khẩu quan trọng Cần phát triển một bộ phận trồng trọt thành ngành hiện đại tập trung quy mô lớn như cà phê, chè, lâm nghiệp ; 3- Ở những vùng sản xuất trồng trọt khó khăn, CNH và ĐTH thấp, nhưng lao động dồi dào, trình độ cao, thì cần phát triển nền trồng trọt quy mô lớn, tập trung nhưng sử dụng ít đất đai, cần nhiều lao động trình độ cao, như trồng trọt công nghệ cao phù hợp với chiến lược này
Tại những địa phương này, cần có quy hoạch những vùng sản xuất với cơ chế quản lý về đất đai khuyến khích quy mô lớn Chính sách phát triển trồng trọt tuân thủ quản trị hiện đại, hệ thống hạ tầng, quản lý sản xuất, quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm theo chuẩn quốc tế cao nhất, sản phẩm nông sản đáp ứng yêu cầu của những nhà nhập khẩu lớn và khắt khe, cung ứng cho thị trường trong nước những sản phẩm cạnh tranh và vệ sinh an toàn thực phẩm cao Đây là khu vực, mô hình tăng trưởng nông nghiệp dựa trên kinh tế quy mô, với bản chất là nông sản được sản xuất đồng loạt ít có tính đặc thù, cạnh tranh trên thị trường trên cơ sở giá bán, thương hiệu doanh nghiệp, sản xuất quy mô lớn đồng loạt, chi phí thấp Ở vùng này, kinh tế hộ nông trại quy mô lớn đóng vai trò chủ đạo và liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp thành chuỗi khép kín, chuyên môn hóa cao, quản trị minh bạch,
Trang 24Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 14
có giám sát của Nhà nước và xã hội về tài chính và quản trị chất lượng
+ Khu vực phát triển ngành trồng trọt sinh thái, tự nhiên: Theo Vương Đình Huệ, (2013) tại các khu vực miền núi, ven biển, trồng trọt đồng thời có chức năng kinh tế và chức năng sinh thái, cần xây dựng mô hình phát triển trồng trọt theo hướng quản trị chặt chẽ về sinh thái, không đòi hỏi mức độ thâm canh cao
Có thể tổ chức rừng, nuôi ong gắn với rừng, nuôi thủy sản gắn với khu bảo tồn sinh thái, rừng nước lợ, trồng trọt theo mô hình nông, lâm kết hợp ít thâm canh, trồng lúa hữu cơ Giá trị sinh thái chính là yếu tố quan trọng nhất tạo nên giá trị gia tăng của sản phẩm, tạo hình ảnh sản phẩm và thương hiệu làm cơ sở tăng trưởng trồng trọt và tăng thu nhập của nông dân Sản phẩm có nhãn mác sinh thái
sẽ có giá cao hơn sản phẩm thường, được các nước phát triển ưu đãi trong lưu thông, bù lại những hạn chế về quy mô sản xuất nhỏ hơn, ít thâm canh, năng suất thấp hơn Mô hình này thuận lợi nhất là ở các vùng ven biển trồng rừng chăn sóng kết hợp sinh thái như đầm phá hoặc các sản phẩm trồng trọt ở một số nơi của vùng miền
+ Khu vực phát triển ngành trồng trọt có chỉ dẫn địa lý: Những khu vực
mà chất lượng sản phẩm nông sản có tính đặc thù xuất phát từ hệ sinh thái và văn hóa bản địa, có sự khác biệt rõ nét so với sản phẩm cùng loại từ địa phương khác, thì có thể quy hoạch phát triển vùng sản xuất chỉ dẫn địa lý Mô hình này có lợi thế cạnh tranh, nâng cao giá trị gia tăng và thu nhập của người sản xuất, doanh nghiệp dựa trên nhân tố đặc thù bản địa của sản phẩm Mặt khác, sản phẩm đóng gói nhãn mác dùng chỉ dẫn địa lý có thuận lợi thương mại rất lớn thông qua những thỏa thuận bảo hộ chỉ dẫn địa lý, tên gọi xuất xứ song phương hoặc đa phương, đồng thời gắn kết với du lịch nông nghiệp sinh thái tạo giá trị tổng hợp cho địa phương (Vương Đình Huệ, 2013)
Như kinh nghiệm các nước và Việt Nam, vùng sản xuất đặc sản thường gắn với sinh kế hộ nghèo, vùng dân tộc nên đây là một cách tiếp cận tốt để phát triển nông thôn các vùng khó khăn Quy mô sản xuất có thể lớn, nhưng phần lớn
là quy mô nhỏ, rất đa dạng về chất lượng sản phẩm và phải bảo đảm an toàn vệ
Trang 25Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 15
sinh thực phẩm, tính đặc thù cao về chất lượng Nhiều sản phẩm, như lúa mì, chè,
cà phê của nhiều nước đã áp dụng mô hình tổ chức sản xuất này với doanh số hàng trăm tỷ USD
+ Khu vực phát triển ngành trồng trọt kết hợp an ninh, quốc phòng: Theo Vương Đình Huệ (2013), Tại nhiều vùng biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc còn khó khăn, sản xuất trồng trọt không chỉ với mục đích kinh tế mà còn để
ổn định xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng Cần nghiên cứu xây dựng mô hình
tổ chức sản xuất trồng trọt với sự hỗ trợ mạnh của Nhà nước về dịch vụ công theo cơ chế thị trường Cần hình thành cơ chế, chính sách về: 1- Quy hoạch những khu vực đồng bào dân tộc rất khó khăn trong hội nhập kinh tế thị trường, nhất là ở các vùng Tây Nguyên, Tây Bắc, vùng hải đảo, biên giới; 2- Xây dựng các hệ thống sản xuất trồng trọt, có thể kết hợp mô hình sản xuất sinh thái và chỉ dẫn địa lý nếu có điều kiện, với sự hỗ trợ mạnh của mạng lưới dịch vụ công; 3- Xây dựng các chuỗi ngành hàng với sản phẩm từ vùng này được đưa ra thị trường; 4- Ban hành cơ chế, chính sách, thể chế về mô hình sản xuất, tổ chức dân
cư, trên cơ sở các cụm tái định cư đồng bộ cả tổ chức sản xuất nông nghiệp, chế biến, thương mại và tổ chức xã hội Thu nhập của khu vực này có thể từ bán sản phẩm trồng trọt, tiền hỗ trợ của Chính phủ trong xóa đói, giảm nghèo, hỗ trợ bảo
vệ rừng, du lịch văn hóa và tâm linh Việc tổ chức mô hình sản xuất cần đa dạng,
có thể doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp công ích, tổ chức cộng đồng trên cơ
sở phối hợp chặt chẽ với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an Tại nhiều địa bàn, các đồn biên phòng có thể tham gia cùng cộng đồng dân cư tổ chức sản xuất, tổ chức
xã hội để bảo đảm quân bám dân, dựa vào dân để sản xuất và chiến đấu bảo vệ
Tổ quốc
+ Khu vực sản xuất nông hộ quy mô nhỏ: Theo Vương Đình Huệ (2013) Đây là mô hình phổ biến hiện nay và vẫn sẽ tồn tại trong thời gian dài ở nhiều vùng, do sinh kế của người dân vẫn dựa chủ yếu vào sản xuất trồng trọt Mô hình sản xuất này sẽ dần thu hẹp phạm vi, địa bàn và số lượng nông dân tham gia không phải bằng giải pháp hành chính mà phải trên cơ sở thực thi các biện pháp
Trang 26Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 16
kinh tế, tạo việc làm mới cho nông dân Để giúp cho hộ sản xuất quy mô nhỏ tham gia thị trường, tăng thu nhập, cần có một số giải pháp: 1- Hình thành các chợ nông dân bán hàng trực tiếp trên các khu vực nhất định để có thêm thu nhập; 2- Hỗ trợ phát triển chế biến quy mô nhỏ hộ gia đình, bán sản phẩm trực tiếp, hoặc hỗ trợ phân phối sản phẩm; 3- Giúp hình thành các hợp tác xã (HTX), hiệp hội kết nối với thị trường đầu vào, đầu ra, quảng bá sản phẩm Tại vùng này, Nhà nước cần có chính sách thu hút đầu tư công nghiệp, dịch vụ ở quy mô phù hợp,
ưu tiên đào tạo đưa lao động đi xuất khẩu và vào các vùng công nghiệp, dịch vụ
để tạo việc làm phi nông nghiệp, chủ động rút dần lao động ra khỏi nông nghiệp + Khu vực tổ chức cụm liên kết sản xuất công, nông nghiệp và dịch vụ: Theo Vương Đình Huệ (2013) Nhà nước cần có quy hoạch tổng thể quốc gia, vùng, tỉnh về mạng lưới cụm công - nông nghiệp - dịch vụ phục vụ nông nghiệp Đây chính là việc cụ thể hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW khóa X trong giải quyết mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa đô thị và nông thôn Căn cứ vào mạng lưới các kênh ngành hàng, quy hoạch các khu vực dự trữ và giao dịch hàng hóa, logistic, đóng gói, chế biến, thương mại, sàn giao dịch quốc tế Các nhà phân phối, doanh nghiệp nên được hỗ trợ về tín dụng, tiếp cận đất đai, quản trị doanh nghiệp Phương thức đầu tư có thể theo mô hình hợp tác công tư PPP hoặc đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và các hình thức đầu tư xã hội khác để phát triển các kênh thương mại hàng hóa Các điểm nút lớn của các kênh hàng lớn có thể được quy hoạch phát triển thành các cụm công, nông nghiệp và dịch
vụ để kết nối với các vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm Có thể áp dụng cụm công, nông nghiệp và dịch vụ với các ngành hàng lớn, như lúa gạo, thủy sản, cà phê, chè, điều, thịt lợn, sữa ở các vùng sản xuất lớn Cũng cần hỗ trợ phát triển
và nhân rộng các mô hình cụm chế biến thương mại nông sản truyền thống ở nhiều vùng, địa phương đang có hiện nay (Vương Đình Huệ, 2013)
- Thứ hai, tái cơ cấu chuỗi ngành hàng nông sản Theo Vương Đình Huệ (2013) tái cơ cấu chuỗi ngành hàng nông sản gồm các nội dung:
Trang 27Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 17
+ Tái cơ cấu sản xuất sản phẩm nông lâm ngư: Cần có chính sách sử dụng linh hoạt đất trồng lúa trên cơ sở bảo đảm an ninh lương thực và chuyển đổi một
số diện tích đất lúa sang trồng những cây khác phù hợp với điều kiện và lợi thế từng vùng (trồng cỏ nuôi bò sữa, ngô, đậu tương, thanh long, hoa, rau ) nhưng không được làm thay đổi điều kiện cơ bản của đất lúa Như vậy, cần chuyển đổi
cơ cấu nông sản, ưu tiên tăng giá trị những cây trồng khác có lợi thế và giá trị gia tăng cao hơn, như ngành chăn nuôi bò sữa, rau, hoa, quả, Mỗi vùng cần có quy hoạch ưu tiên sản phẩm lợi thế để thúc đẩy tái cơ cấu không chỉ về sản lượng mà
về giá trị, thu nhập của người dân(14) Tuy nhiên trong thực hiện việc chuyển đổi này, nhất là khi hình thành mới những vùng có sản lượng lớn ngô, đậu tương, thanh long cần chủ động quy hoạch và tổ chức sản xuất, chế biến, tiêu thụ, tránh cách làm tự phát mang tính phong trào
+ Tái cơ cấu phân chia giá trị gia tăng trong ngành hàng: Cần có cơ chế, chính sách thúc đẩy các công đoạn giá trị gia tăng cao của các ngành nông, lâm, thủy sản trên lãnh thổ Việt Nam, như chế biến, dịch vụ logistic, đóng gói, nhất là chế biến sâu thành thực phẩm và hàng sử dụng cuối cùng, như đồ gia dụng, đồ dùng cho công nghiệp Trước hết, cần ưu tiên đối với các ngành hàng mà Việt Nam có thế mạnh, như cà phê, cao su, điều, ca cao, tiêu, thủy sản, chế biến sâu sản phẩm lâm sản, sữa, thịt Kêu gọi đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài cùng với doanh nghiệp Việt Nam vì họ có thương hiệu và kênh phân phối, nhằm dịch chuyển chế biến, đóng gói, logistics của nước ngoài về Việt Nam (Vương Đình Huệ, 2013) Hạn chế cấp phép dự án đầu tư nước ngoài không có chế biến đến sản phẩm cuối cùng trên lãnh thổ Việt Nam Có chính sách ưu tiên về giao đất, thuế, tín dụng đối với các doanh nghiệp trong và ngoài nước có chế biến sâu đến sản phẩm cuối cùng Với những ngành hàng nhỏ, đặc sản nên khuyến khích chế biến, đóng gói quy mô nhỏ ở các cụm công - nông nghiệp địa phương, hộ gia đình Cần thúc đẩy kêu gọi đầu tư trong và ngoài nước để hình thành cụm công nghiệp chế biến, dịch vụ cho các ngành hàng nông, lâm, thủy sản quốc tế trong
Trang 28Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 18
điều kiện hội nhập, biến Việt Nam thành trung tâm chế biến và dịch vụ nông sản quốc tế
- Thứ ba, tái cơ cấu tác nhân tham gia sản xuất trồng trọt
Trong tái cơ cấu trồng trọt, cần chú ý tăng nhanh số lượng và chất lượng các tác nhân sau (Vương Đình Huệ, 2013):
+ Tăng số lượng và chất lượng các nông trại quy mô lớn có quản trị chuyên nghiệp và hiện đại Ở những vùng CNH và ĐTH mạnh, lao động đã rút đáng kể ra khỏi nông nghiệp, Nhà nước từng bước cần có chính sách điều tiết hạn chế sản xuất quy mô nhỏ, khuyến khích tập trung và tích tụ ruộng đất theo quy định của Luật Đất đai (sửa đổi) thành trang trại quy mô lớn Ban hành cơ chế, chính sách quản trị trang trại theo quy mô sản xuất(15), gắn với các tiêu chuẩn, chuẩn mực đòi hỏi trong thương mại quốc tế và quản lý tài nguyên, môi trường + Chính sách tái cơ cấu cần thúc đẩy sự phát triển các HTX sản xuất nông nghiệp kiểu mới, trên cơ sở liên kết của những nông dân cùng nghề nghiệp để tăng quy mô, ứng dụng khoa học công nghệ, cùng đầu tư, quản lý chất lượng sản phẩm, cung ứng sản phẩm ra thị trường, mua vật tư và dịch vụ đầu vào Những ngành hàng sản xuất quy mô lớn, xuất khẩu cần được ưu tiên phát triển các HTX chuyên ngành trong sản xuất, liên kết thương mại theo chuỗi, ví dụ như các HTX liên kết các trang trại chăn nuôi, cà phê, nuôi tôm, nuôi cá tra, trồng hoa, lúa gạo Cần thúc đẩy vai trò của HTX trong kết nối với doanh nghiệp xây dựng chuỗi thương mại(16), củng cố các hiệp hội ngành hàng, trong đó HTX nông trại của nông dân về trồng cà phê, chè, cao su, mía đường, lúa gạo, , cần có vai trò xứng đáng và quan trọng hơn, nhất là vùng sản xuất hàng hóa lớn Ở các vùng nông hộ sản xuất hàng hóa quy mô nhỏ, thúc đẩy phát triển các HTX dịch vụ tổng hợp Ở vùng sản xuất tự cung tự cấp, nên phát triển các hình thức tổ chức cộng đồng Với những HTX dịch vụ, cần thiết có chính sách hỗ trợ để trở thành tác nhân quan trọng trong cung ứng dịch vụ nông nghiệp, làm đầu mối đón nhận
và triển khai dịch vụ công ở cộng đồng, như khuyến nông, tín dụng, hỗ trợ
Trang 29Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 19
marketing, quản lý chất lượng, kiểm soát bảo vệ thực vật, bảo vệ rừng, quản lý mặt nước
+ Có chính sách quy hoạch phát triển mạng lưới doanh nghiệp nông nghiệp, cụm liên kết sản xuất công, nông nghiệp trong các lĩnh vực, theo vùng, miền để có thể làm cơ sở liên kết với nông dân, kết nối với bên ngoài, phát triển các hoạt động chế biến sâu, dịch vụ, logistics Một số mô hình liên kết đã thành công như trong sản xuất sữa của Vinamilk ở Ba Vì, mía đường ở Lam Sơn, “cánh đồng mẫu lớn” sản xuất lúa gạo của Công ty cổ phẩn Bảo vệ thực vật An Giang, liên kết đầu tư trồng cao su ở 3 tỉnh phía Bắc Cần sớm tổ chức triển khai Quyết định số 62/2014/QĐ-TTg, ngày 25-10-2014 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển kinh tế hợp tác, liên kết sản xuất, gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng mẫu lớn (thay thế Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về liên kết “4 nhà”) Ưu tiên các liên kết đầu tư trong sản xuất và chế biến, thương mại; sản xuất theo cùng quy trình kỹ thuật chung để
có sản phẩm đồng đều và cùng chất lượng; xây dựng kế hoạch chung toàn chuỗi ngành hàng; cùng quản trị thương hiệu; toàn chuỗi ngành hàng có cùng quản trị
về truy suất nguồn gốc và chất lượng sản phẩm; chia sẻ rủi ro; chia sẻ giá trị gia tăng và lợi nhuận Các chính sách hỗ trợ nên thúc đẩy, ưu đãi sự hình thành và phát triển các yếu tố liên kết, để làm động lực cho liên kết giữa nông dân với nhau, giữa nông dân và doanh nghiệp Mục đích là tạo ra được sản phẩm rẻ hơn nhờ hiệu ứng của kinh tế quy mô, quản trị chất lượng sản phẩm tốt hơn nhờ hành động tập thể, tính cạnh tranh cao hơn, cung ứng ra thị trường sản phẩm có chất lượng đồng đều, ổn định và tin cậy
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tái cơ cấu ngành trồng trọt
Trong điều kiện nguồn lực có hạn và sự tác động của các quy luật khan hiếm không thể tạo ra kết quả bằng mọi giá mà phải dựa trên sự dụng nguồn lực
ít nhất, lúc này phạm trù hiệu quả kinh tế ra đời Vì vậy, các yếu tố ảnh hưởng đến tái cơ cấu ngành trồng trọt là:
Trang 30Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 20
a Nhóm nhân tố tự nhiên
Sản xuất kinh doanh trong trồng trọt thì tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai Thời tiết khí hậu có tác động trực tiếp và gián tiếp đến cây trồng Theo Nguyễn Duy Tính, (1995) như các yếu tố đất đai, thời tiết khí hậu
- Đất đai: Những đặc tính về lý tính và hóa tính của đất đai qui định độ
phì nhiêu tốt hay xấu, địa hình có bằng phẳng hay không, vị trí của đất có thuận lợi hay khó khăn cho giao thông đi lại vận chuyện vật tư sản phẩm phục vụ cho sản xuất ảnh hưởng lớn tới hiệu quả của sản xuất kinh doanh Qua đó cho thấy đất đai tốt có thể tăng năng suất cây trồng, giảm chi phí trong quá trình sản xuất
từ đó sẽ nâng cao được HQKT và ngược lại nếu đất sản xuất không thuận lợi sẽ làm giảm HQKT trong sản xuất Đất đai là khâu then chốt cho việc mở rộng quy
mô sản xuất trong trồng trọt theo hướng tập trung, nâng cao giá trị sản xuất
- Thời tiết, khí hậu: Mỗi loại cây trồng thường thích nghi ở các vùng sinh
thái khác nhau đem lại hiệu quả khác nhau cả về năng suất và chất lượng sản phẩm từ đó cho hiệu quả khác nhau Ở ngưỡng nhiệt độ thích hợp các loại cây trồng sẽ phát triển tốt, cho năng suất cây trồng ở mức tối ưu Ngoài ra, các yếu tố như: độ ẩm, lượng mưa, nguồn nước…cũng hết sức quan trọng
b Nhóm nhân tố kinh tế xã hội
Theo Đỗ Văn Viện, Đặng Văn Tiến (2000) nhóm các nhân tố kinh tế xã hội ảnh hưởng tới tái cơ cấu gồm: Trong thời đại công nghệ hiện đại hóa, cơ giới hóa trồng trọt phát triển thì các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên con người có thể hạn chế, khắc phục được một phần đáng kể các yếu tố không thuận lợi Vì thế nhóm nhân tố kinh tế xã hội (vốn, lao động…) có ảnh hướng lớn nhất tới tái cơ cấu ngành trồng trọt:
- Vốn sản xuất: Vốn là điều kiện tiên quyết để phát triển sản xuất Vốn
được sử dụng để xây dựng cơ sở vật chất, mua cây giống, đầu tư sản xuất, thuê lao động, mở rộng quy mô, đầu tư áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
Trang 31Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 21
- Lao động: Lao động là yếu tố hết sức quan trọng trong việc phát triển
sản xuất trồng trọt Tuy không đòi hỏi quá nhiều về trình độ nhưng chất lượng lao động ảnh hưởng sâu sắc tới HQKT trong trồng trọt Kiến thức và kĩ năng của người sử dụng nguồn lực, chẳng hạn sự tiếp thu kĩ thuật của người nông dân và năng suất cây trồng có quan hệ chặt chẽ đến kiến thức và kỹ thuật canh tác Trình
độ và kinh nghiệm cũng có thể coi là các yếu tố ảnh hưởng đến tái cơ cấu ngành trồng trọt
Trình độ của người nông dân cũng chính là một trong những yếu tố quan trọng trong việc tái cơ cấu cây trồng của các nông hộ trong giai đoạn đầu của sản xuất nông nghiệp hàng hóa, khi kỹ thuật áp dụng chưa phải cần nhiều vốn thì việc đa dạng hóa sản xuất là một xu thế cần thiết cho sự phát triển
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm: Thị trường có vai trò quan trọng đối với
sản xuất kinh doanh và sự phát triển thúc đẩy tái cơ cấu ngành trồng trọt Đây là khâu then chốt của sản xuất hàng hóa, thị trường chính là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng Nó cho chúng ta biết kết quả sản xuất của một chu kỳ kinh doanh Ngày nay, khi đời sống kinh tế xã hộ phát triển thì nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng tăng cao đòi hỏi thị trường phải cung cấp những sản phẩm có chất lượng cao, an toàn thực phẩm Cơ cấu thị trường bao gồm thị trường đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất kinh doanh Chẳng hạn đối với thị trường trồng trọt, phần lớn có tính cạnh tranh hoàn hảo hơn so với các ngành khác Vì vậy, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong đó các thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân phải có quyền ngang nhau trong việc tạo vốn,
sử dụng thông tin, mua bán sản phẩm
Một khó khăn khiến người nông dân ngần ngại tái cơ cấu trồng trọt là vì thiếu thị trường tiêu thụ nông sản Do đó để tìm kiếm mở rộng thị trường, Chính phủ cần có chính sách để tạo môi trường lành mạnh, song phẳng trong phát triển thị trường và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như đường giao thông, mạng lưới điện và thông tin
Trang 32Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 22
- Các chính sách kinh tế xã hội của nhà nước: Trong quá trình chuyển đổi
nền kinh tế từ hành chính bao cấp sang nền kinh tế thị trường, sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước là hết sực quan trọng Nó có thể khuyến khích sự phát triển của
một ngành sản xuất nào đó hoặc ngược lại kìm hãm sự phát triển của ngành đó
Những mô hình trồng cây công nghệ cao đã phát triển khá nhanh trong nhiều năm qua tuy nhiên vẫn cần sự can thiệp giúp đỡ của Nhà nước để phát triển toàn diện hơn Chính phủ cũng như các bộ ngành, các tỉnh cũng đã có nhiều chính sách nhằm thúc đẩy kinh tế, sức sản xuất của người nông dân Mới đây Chính phủ đã ban hành nghị định 42/2012/NĐ – CP về chính sách bảo tồn và phát triển đất trồng lúa nước
Có hai nhóm chính sách, một là chính sách thông qua giá như chính sách giá sản phẩm, chính sách đầu vào, thuế…có tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh tế Hai là các chính sách không thông qua giá như phát triển cơ sở
hạ tầng, giáo dục, khuyến nông, cung cấp tín dụng, nghiên cứu và phát triển… có tác động gián tiếp đến hiệu quả kinh tế
- Cơ sở hạ tầng của sản xuất cũng là yếu tố cơ bản ảnh hưởng trực tiếp và
gián tiếp đến hiệu quả kinh tế Chúng bao gồm giao thông, thủy lợi, thông tin, các dịch vụ về sản xuất và khoa học kỹ thuật, sự hỗ trợ của công nghệ chế biến nông sản nhất là sự hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp chuyên môn hóa
c Nhóm nhân tố thuộc về kỹ thuật và tổ chức sản xuất
Theo Hoàng Thọ Xuân (2013) các nhóm nhân tốt thuộc về kỹ thuật và hệ thống tổ chức sản xuất như:
- Bản chất của kĩ thuật hay công nghệ áp dụng vào sản xuất: Điều này có
nghĩa là đổi mới công nghệ có thể hướng tới việc tiết kiệm nguồn lực Sự phát triển công nghệ đòi hỏi phải đảm bảo sử dụng đầu vào tiết kiệm Vì vậy hiệu quả
sử dụng nguồn lực phụ thuộc lớn vào công nghệ được áp dụng trong sản xuất Với cùng chủng loại và số lượng đầu vào nhưng sự thay đổi cách thức và kỹ năng
Trang 33Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 23
sử dụng sẽ dẫn đến thay đổi lớn trong hiệu quả kinh tế
- Giống cây trồng: Đối tượng sản xuất của trồng trọt là cây trồng nên nó
tuân theo các quy luật sinh học Vì thế việc lựa chọn giống cây trồng là hết sức quan trọng, phải lựa chọn những giống phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng, phải thay đổi các giống mới…
- Cách thức tổ chức sản xuất: Việc lựa chọn một hình thức sản xuất hợp lý
sẽ tạo điều kiện cho phát triển nông hộ Các hình thức tổ chức sản xuất khác nhau
sẽ đem lại hiệu quả kinh tế khác nhau
2.1.6 Những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tái cơ cấu nông nghiệp và ngành trồng trọt
Đảng và Nhà nước đã thấy rõ những điểm yếu trong sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng, để tạo bước đột phá trong nông nghiệp, đưa nông nghiệp đi lên con đường làm ăn lớn, phát huy được thế mạnh của một nước nông nghiệp và hội nhập tích cực với khu vực và thế giới… Ngày 10/06/2013, Thủ tướng Chính phủ chính thức Phê duyệt “Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”
Trong Báo cáo của Chính phủ do Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trình bày tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá XIII cũng nêu rõ, đã thành lập Ban Chỉ đạo liên ngành tái cơ cấu nông nghiệp Xây dựng và triển khai thực hiện nhiều Đề án tái cơ cấu nội ngành, quy hoạch tổng thể vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và các chính sách mới về quản lý đất lúa Đánh giá việc thực hiện Đề án, trong cuộc họp ngày 19/5/2015 của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát cho biết: Cả nước đã triển khai mạnh việc thực hiện công tác tái cơ cấu theo định hướng và chỉ đạo của Chính phủ Phó Thủ tướng nhấn mạnh, cần xác định thị trường là yếu tố quan trọng Cùng với đó phải đẩy mạnh việc tìm hiểu luật pháp, đặc biệt là các luật về thương mại cho người dân và doanh nghiệp Thống nhất về hoạt động của Ban chỉ đạo liên ngành trong thời gian tới, Phó Thủ tướng yêu cầu phải triển khai mạnh mẽ việc tuyên truyền Phạm vi triển khai
Trang 34Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 24
chương trình phải từ cấp xã trở lên, lấy nông dân làm đối tượng chính Địa phương cần đẩy mạnh tuyên truyền đến người dân và doanh nghiệp về sức ép cạnh tranh trong thời gian tới để có động lực phải tự liên kết để thay đổi quan hệ sản xuất
* Mục tiêu hướng đến:
- Lấy “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn” là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước;
- Duy trì tốc độ tăng trưởng nông nghiệp ở mức bình quân 3,5-4%/năm;
- Hình thành một số ngành sản xuất kinh doanh nông nghiệp mũi nhọn
- Cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn chuyển đổi theo nhu cầu thị trường Phối hợp hiệu quả sản xuất công nghiệp, dịch vụ và kinh tế đô thị với sản xuất - kinh doanh nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn;
- Cơ cấu lại lao động trong ngành nông nghiệp, đưa tỷ lệ lao động nông nghiệp xuống còn khoảng 30% lao động xã hội Hình thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp, có kỹ năng sản xuất và quản lý, gắn kết trong các loại hình kinh
tế hợp tác và kết nối với thị trường
- Xây dựng bộ mặt nông thôn mới (ít nhất 50% số xã đạt tiêu chuẩn) Quy hoạch dân cư, quy hoạch lãnh thổ nông thôn gắn với phát triển đô thị, công nghiệp (Vương Đình Huệ, 2013)
Điều này Đảng và Chính phủ đang trăn trở, tìm mọi biện pháp để khắc phục yếu kém, phát huy thế mạnh, đưa sản xuất nông nghiệp và sản phẩm nông nghiệp vào cuộc cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường
Theo Quyết định Số: 1006/QĐ-BNN-TT ngày 13 tháng 5 năm 2014 của
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Quyết định Ban hành Kế hoạch thực hiện tái cơ cấu lĩnh vực trồng trọt năm 2014 - 2015 và giai đoạn 2016-2020 thì tái
cơ cấu ngành trồng trọt cụ thể như sau:
1 Tuyên truyền, phổ biến và quán triệt chủ trương, nội dung Kế hoạch thực hiện tái cơ cấu lĩnh vực trồng trọt năm 2014-2015 và giai đoạn 2016-2020
Trang 35Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 25
- Tổ chức các hội nghị chuyên đề và lồng ghép với các hội nghị triển khai
kế hoạch sản xuất trồng trọt theo vùng, mùa vụ để phổ biến Kế hoạch hành động tái cơ cấu lĩnh vực trồng trọt năm 2014-2015 và giai đoạn 2016-2020 đến các cơ quan, đơn vị, địa phương; cán bộ, công chức, viên chức trong toàn ngành và qua
đó đến nông dân cả nước
- Các cơ quan truyền thông, báo chí của ngành tổ chức đưa tin về thực hiện Kế hoạch hành động tái cơ cấu lĩnh vực trồng trọt năm 2014-2015 và giai đoạn 2016-2020 nhằm thống nhất nhận thức và quyết tâm thực hiện Kế hoạch trong toàn ngành, góp phần thực hiện thắng lợi Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững
2 Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển sản xuất quy mô lớn, tập trung gắn với thị trường trên cơ sở phát huy lợi thế các vùng, miền (Nguyễn Ngọc Nông, 2004)
a) Lúa gạo: Đổi mới ngành sản xuất lúa gạo nhằm đảm bảo vững chắc an ninh lương thực và xuất khẩu có hiệu quả cao; chuyển đổi diện tích gieo trồng lúa hiệu quả thấp sang cây trồng khác hoặc kết hợp nuôi trồng thủy sản; rà soát quy hoạch, xác định các vùng đất chuyên trồng lúa nước cần được bảo vệ và đầu tư hạ tầng đồng bộ; xác định cơ cấu giống phù hợp với nhu cầu thị trường; nâng cao tỷ lệ
sử dụng giống xác nhận, trong đó tập trung thực hiện Kế hoạch sản xuất giống lúa xác nhận năm 2014-2015 vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Quyết định số 713/QĐ- BNN-TT ngày 10 tháng 4 năm 2014); áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến, tiết kiệm giống, phân bón, nước, hạn chế sử dụng thuốc BVTV; sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ theo chuỗi giá trị; thu gom, tái sử dụng các phụ phẩm từ lúa, gạo (rơm rạ, vỏ trấu) để tăng giá trị gia tăng
b) Cây rau mầu và cây nguyên liệu chế biến: Đa dạng hóa sản phẩm hàng hóa các cây rau mầu, hoa, nấm ăn và nấm dược liệu theo yêu cầu thị trường; tập trung các sản phẩm đang nhập khẩu lớn, như ngô, đậu tương làm thức ăn chăn nuôi trên cơ sở diện tích hiện có và mở rộng diện tích trên đất trồng lúa kém hiệu quả, không chủ động tưới; mở rộng vụ đông trên đất 2 lúa; khai thác diện tích đất
Trang 36Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 26
lúa 1 vụ ở miền núi; áp dụng giống ưu thế lai, ngô chuyển gen; tăng cường bảo quản, chế biến giảm tổn thất sau thu hoạch
Nâng cao năng suất, chất lượng mía để tăng khả năng cạnh tranh của đường Việt Nam; quy hoạch vùng sản xuất, thâm canh tăng năng suất sắn đáp ứng nguyên liệu chế biến tinh bột và sản xuất etanol
c) Cây công nghiệp lâu năm có khả năng cạnh tranh cao (cà phê, cao su,
hồ tiêu, điều, chè): rà soát quy hoạch phát triển cao su, cà phê, chè; quy hoạch phát triển hồ tiêu, điều cho phù hợp với thị trường và đảm bảo các điều kiện sản xuất bền vững; ưu tiên tâp trung tái canh cà phê để duy trì năng suất, sản lượng
cà phê; thâm canh tăng năng suất, chất lượng điều, giảm lượng điều nguyên liệu nhập khẩu
d) Cây ăn quả: Mở rộng diện tích, thâm canh, rải vụ, tăng năng suất, chất lượng, an toàn thực phẩm cây ăn quả, trong đó tập trung các cây ăn quả chủ lực (thanh long, xoài, sầu riêng, nhãn, chôm chôm, vải, chuối )
Các nhiệm vụ cụ thể về xây dựng chiến lược, quy hoạch, đề án phát triển theo từng sản phẩm thuộc lĩnh vực trồng trọt năm 2014-2015 và giai đoạn 2016
2020 tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Kế hoạch này
3 Đẩy mạnh nghiên cứu, áp dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao nhằm tăng năng suất, chất lượng, giảm giá thành và thích ứng với biến đổi khí hậu (Trần Đức Viên, 1998)
a) Về giống cây trồng: Nghiên cứu, chọn tạo các giống cây trồng mới có năng suất cao, chất lượng tốt theo nhu cầu thị trường; áp dụng giống ngô, đậu tương, bông chuyển gen; khuyến khích các thành phần kinh tế sản xuất, kinh doanh giống, tăng tỷ lệ sử dụng hạt giống xác nhận, cây giống đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn
b) Về kỹ thuật canh tác: Áp dụng công nghệ cao, các quy trình sản xuất bền vững theo Thực hành nông nghiệp tốt (GAP) theo hướng tiết kiệm nước, tăng hiệu suất
sử dụng phân bón, giảm thuốc BVTV, hóa chất nhằm giảm chi phí, tăng năng suất, chất lượng, an toàn thực phẩm, giảm phát thải, bảo vệ môi trường
Trang 37Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 27
c) Đẩy manh tập huấn, khuyến nông và các dịch vụ tư vấn nhằm nâng cao
kỹ năng sản xuất, thu hoạch, bảo quản cho nông dân; ưu tiên các dự án khuyến nông trung ương cho các sản phẩm trọng điểm như: lúa gạo, cà phê, điều, mía, chè, ngô, rau an toàn, quả an toàn phục vụ tái cơ cấu
Các nhiệm vụ cụ thể về khoa học công nghệ và khuyến nông tại Kế hoạch thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững ban hành theo Quyết định số 986/QĐ-BNN-KHCN ngày 09 tháng 5 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
4 Đổi mới công tác bảo vệ thực vật
a) Hướng dẫn và tổ chức thực hiện Luật Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật b) Tăng cường kế hoạch giám sát phòng chống sâu bệnh, quản lý sử dụng hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất, chế biến, bảo quản các loại nông sản có nguồn gốc thực vật
c) Tập trung vào công tác dự báo, cảnh báo và tư vấn để người sản xuất cùng tham gia phòng chống dịch bệnh; sử dụng giống kháng bệnh và các biện pháp tổng hợp để cây trồng khỏe, lấy phòng sâu bệnh là chính; tổ chức lại dịch
vụ BVTV tại cơ sở để bảo vệ cây trồng, bảo vệ môi trường và đảm bảo an toàn thực phẩm
Các nhiệm vụ cụ thể về đổi mới công tác bảo vệ thực vật tại Kế hoạch hành động của ngành Bảo vệ thực vật phục vụ tái cơ cấu lĩnh vực trồng trọt tại Phụ lục 4
5 Hoàn thiện cơ sở hạ tầng các vùng sản xuất tập trung; áp dụng rộng rãi công nghệ tưới tiết kiệm (Nguyễn Ngọc Nông, 2004)
a) Dồn điền, đổi thửa, quy hoạch các vùng sản xuất tập trung, quy mô lớn; hoàn chỉnh giao thông, thủy lợi, điện nội đồng tại các vùng sản xuất hàng hoá tập trung
b) Về thủy lợi:
Hoàn thiện hệ thống thủy lợi nội đồng, củng cố hệ thống thủy nông cơ sở đáp ứng yêu cầu của sản xuất lúa và cây rau mầu, yêu cầu chuyển đổi cơ cấu cây trồng
Trang 38Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 28
trên đất lúa; ưu tiên đầu tư các vùng vùng đất chuyên trồng lúa nước cần được bảo
vệ nghiêm ngặt; áp dụng rộng rãi công nghệ tưới nông lộ phơi trên cây lúa
- Chuyển dịch mạnh mẽ đối tượng phục vụ sang các cây trồng cạn; áp dụng trên diện rộng các giải pháp, công nghệ tưới tiên tiến, tiết kiệm nước cho các cây trồng chủ lực: cà phê, cao su, hồ tiêu, chè, điều, mía, cây ăn quả, rau, hoa, trọng tâm tại khu vực Tây Nguyên, Nam Trung bộ, miền Trung và miền núi phía Bắc
Các nhiệm vụ cụ thể về thủy lợi tại Đề án tái cơ cấu ngành thủy lợi ban hành tại Quyết định số 794/QĐ-BNN-TCTL ngày 21 tháng 4 năm 2014 và Chương trình hành động thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành thủy lợi ban hành tại Quyết định số 802/QĐ-BNN-TCTL ngày 22 tháng 4 năm 2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
6 Đẩy mạnh chế biến, bảo quản, áp dụng cơ giới hóa, giảm thất thoát sau thu hoạch Theo Nguyễn Duy Tính (1995) gồm các nội dung chủ yếu như:
a) Đẩy mạnh áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất, giảm chi phí, giảm tổn thất sau thu hoạch
b) Rà soát xây dựng, hoàn thiện hệ thống quy chuẩn kỹ thuật về nhà xưởng bảo quản, chế biến, công nghệ đảm bảo an toàn thực phẩm
c) Nghiên cứu và chuyển giao các công nghệ chế biến ướt cà phê nhân; công nghệ thu hái, chế biến chè; công nghệ chế biến sâu các sản phẩm từ gạo quy
mô công nghiệp; công nghệ chế biến rau, quả; công nghệ chế biến cao su thành các sản phẩm công nghiệp ; các công nghệ bảo quản, giảm tổn thất về sản lượng
và chất lượng sản phẩm (thanh trùng bằng nước nóng; chiếu xạ; bảo quản bằng bao gói có điều chỉnh khí; sấy bằng bơm nhiệt, sấy hồng ngoại, bảo quản bằng chế phẩm chiết xuất từ thực vật, công nghệ bao bì, bao gói, màng thông minh ) d) Nghiên cứu, áp dụng khoa học công nghệ tận dụng triệt để các phế phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp (như trấu, cám, mật rỉ, bã mía, vỏ điều ) để tạo ra các sản phẩm có giá trị, bảo vệ môi trường
Trang 39Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 29
7 Tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị, mỡ rộng đối tác công tư PPP, tăng cường xúc tiến thương mại
a) Tổ chức liên kết nông dân: nghiên cứu các mô hình tổ chức sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt (HTX, Tổ hợp tác); Xác định mô hình HTX, Tổ hợp tác tiên tiến để khuyến cáo phát triển cho phù hợp; Đề xuất giải pháp, chính sách hỗ trợ để phát triển các hình thức tổ chức kinh tế hợp tác theo Luật HTX 2013 Xây dựng và phát triển các mô hình liên kết gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm theo hợp đồng thông qua triển khai thực hiện Quyết định 62/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản xây dựng cánh đồng lớn
Nội dung cụ thể tại Kế hoạch đổi mới, phát triển các hình thức tổ chức kinh tế hợp tác xã trong nông nghiệp ban hành tại Quyết định số 710/QĐ-BNN-KTHT ngày 10 tháng 4 năm 2014
b) Hoàn thiện, mở rộng, nâng cao hiệu quả mô hình tổ chức sản xuất bền vững theo hình thức PPP: trước mắt giai đoạn 2014-2015 cùng các đối tác tập trung triển khai kết quả 4 mô hình PPP: chè, cà phê, ca cao, rau khoai tây; tổng kết rút kinh nghiệm để mở rộng trong giai đoạn 2016-2013
c) Xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường tiêu thụ; xây dựng các hàng rào kỹ thuật phù hợp với thông lệ quốc tế để bảo vệ thị trường trong nước
8 Đổi mới cơ chế chính sách (Đỗ Kim Chung, 2006)
a) Cụ thể hóa và ưu tiên lồng ghép các nguồn kinh phí để thực hiện các chính sách đã được ban hành: Quyết định số 62/2014/QĐ-TTg về liên kết sản xuất, xây dựng cánh đồng lớn; Quyết định số 68/2014/QĐ-TTg về cơ giới hóa, giảm tổn thất sau thu hoạch, Quyết định số 01/2013/QĐ-TTg về áp dụng GAP trong sản xuất; Nghị định 210/2014/NĐ-CP về hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn ;
b) Xây dựng mới chính sách hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên đất lúa; chính sách tái canh cà phê; chính sách thâm canh tăng năng suất điều; chính sách đổi mới tổ chức dịch vụ thuốc BVTV; chính sách áp dụng công nghệ tưới
Trang 40Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 30
tiết kiệm cho cây trồng cạn (cao su, cà phê, hồ tiêu, điều chè, mía ) ; trong đó tập trung ưu tiên hỗ trợ giống mới; hoàn thiện gói kỹ thuật đồng bộ; xây dựng mô hình, đào tạo, tập huấn;chính sách tín dụng ưu đãi, nhất là cho nông dân nghèo, vùng sâu vùng xa
9 Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về trồng trọt
a) Nâng cao chất lượng xây dựng chiến lược, quy hoạch, đề án sản xuất; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch; kịp thời điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cho phù hợp cơ chế thị trường và thực tiễn sản xuất
b) Hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật có liên quan đến sản xuất trồng trọt, đặc biệt là quản lý chất lượng vật tư nông nghiệp; chất lượng, an toàn thực phẩm sản phẩm trồng trọt (chi tiết tại Phụ lục 2, Phụ lục 3)
c) Tổ chức lại hệ thống quản lý nhà nước về trồng trọt thống nhất cả nước
từ Trung ương đến cấp xã: thành lập Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Ban nông nghiệp ở cấp xã;
d) Nâng cao năng lực cho Cục Trồng trọt: Thành lập Cơ quan thường trực Cục Trồng trọt phía Nam có con dấu, tài khoản riêng; tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp (Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng Quốc gia và Trung tâm Khảo kiểm nghiệm phân bón Quốc gia) nhằm phục vụ công tác quản
lý nhà nước của Cục Trồng trọt (chi tiết tại Đề án tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp thuộc Cục Trồng trọt)
đ) Nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ban chỉ đạo tái canh cà phê; Ban chỉ đạo thâm canh tăng năng suất, chất lượng điều; Ban chỉ đạo rải vụ trái cây vùng Nam Bộ; Ban chỉ đạo phát triển chè bền vững; Ban điều phối ngành hàng
cà phê; Ban chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa Tổng kết, rút kinh nghiệm, đề xuất mở rộng thành phần và cơ chế hoạt động của các ban chỉ đạo theo hướng đối tác công tư PPP có sự tham gia của các bên trong chuỗi giá trị ngành hàng (Đỗ Kim Chung, 2006)