HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM PHẠM THỊ NHUNG NGHIÊN CỨU NHÂN RỘNG MÔ HÌNH ỨNG DỤNG ĐỒNG BỘ TIẾN BỘ KỸ THUẬT TRONG SẢN XUẤT LÚA CỦA CÁC HỘ NÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM THỊ NHUNG
NGHIÊN CỨU NHÂN RỘNG MÔ HÌNH ỨNG DỤNG ĐỒNG BỘ TIẾN BỘ KỸ THUẬT TRONG SẢN XUẤT LÚA CỦA CÁC HỘ NÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2015
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM THỊ NHUNG
NGHIÊN CỨU NHÂN RỘNG MÔ HÌNH ỨNG DỤNG ĐỒNG BỘ TIẾN BỘ KỸ THUẬT TRONG SẢN XUẤT LÚA CỦA CÁC HỘ NÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số : 60.34.04.10
Người hướng dẫn khoa học:
TS HỒ NGỌC NINH
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng
và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ
rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 18 tháng 12 năm 2015
Tác giả luận văn
Phạm Thị Nhung
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô của Học viện Nông nghiệp Việt Nam và thầy, cô Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn đã dạy cho tôi những kiến thức bổ ích và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến thầy TS Hồ Ngọc Ninh
đã dành nhiều thời gian, tâm huyết và tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin được trân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo UBND huyện Thanh Miện, tập thể cán bộ công chức phòng Nông nghiệp & PTNT, trạm khuyến nông, lãnh đạo UBND xã và các hộ dân 3 xã tôi đến điều tra đã cung cấp tài liệu và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành tốt nhất luận văn của mình
Tôi xin được bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, bạn bè Để có được kết quả ngày hôm nay, một phần do sự nỗ lực cố gắng của bản thân nhưng phần lớn là do công lao của gia đình bố mẹ, anh chị em, bạn bè
đã luôn động viên tạo điều kiện để tôi an tâm học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 18 tháng 12 năm 2015
Học viên
Phạm Thị Nhung
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục các từ viết tắt vii
Danh mục bảng viii
Danh mục đồ thị ix
Danh hộp ix
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản sử dụng trong nghiên cứu 5
2.1.2 Cơ sở lý luận về đánh giá hiệu quả mô hình ứng dụng đồng bộ TBKT 8
2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc nhân rộng mô hình ứng dụng đồng bộ tiến bộ TBKT trong sản xuất lúa 11
2.2 Cơ sở thực tiễn 14
2.2.1 Kinh nghiệm ứng dụng đồng bộ TBKT trong sản xuất lúa ở một số nước trên thế giới 14
2.2.2 Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta về ứng dụng đồng bộ TBKT trong sản xuất lúa 18
Trang 62.2.3 Tình hình chuyển giao mô hình ứng dụng đồng bộ TBKT trong
sản xuất lúa tại Việt Nam 21
2.2.4 Những bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Thanh Miện trong việc triển khai mô hình ứng dụng đồng bộ TBKT trong sản xuất lúa 26
2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 27
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 30
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 30
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 31
3.1.3 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện 38
3.2 Phương pháp nghiên cứu 39
3.2.1 Phương pháp tiếp cận 39
3.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 40
3.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 40
3.2.4 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 42
3.2.5 Phương pháp phân tích số liệu 43
3.2.6 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo 43
3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 44
3.3.1 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh các yếu tố sản xuất 44
3.3.2 Hệ thống chỉ tiêu phản ảnh kết quả sản xuất 44
3.3.3 Hệ thống chỉ tiêu phản ảnh hiệu quả kinh tế 44
3.3.4 Hệ thống chỉ tiêu phản ảnh hiệu quả xã hội môi trường 45
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46
4.1 Tình hình triển khai mô hình ứng dụng đồng bộ TBKT trong sản xuất lúa trên địa bàn huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương 46
4.1.1 Thực trạng sản xuất lúa của huyện Thanh Miện 46
4.1.2 Thực trạng triển khai mô hình ứng dụng đồng bộ TBKT trong sản xuất lúa ở huyện Thanh Miện 49
4.1.3 Thực trạng ứng dụng đồng bộ TBKT trong sản xuất lúa của các hộ 52
Trang 74.1.4 Kết quả và hiệu quả của mô hình ứng dụng đồng bộ TBKT vào
sản xuất lúa của hộ nông dân 60
4.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng nhân rộng mô hình ứng dụng đồng bộ TBKT trong sản xuất lúa của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Thanh Miện 73
4.2.1 Ảnh hưởng của trình độ học vấn và trình độ kỹ thuật của chủ hộ 73
4.2.2 Ảnh hưởng của quy mô sản xuất đến khả năng nhân rộng mô hình 74
4.2.3 Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế của hộ 76
4.2.4 Năng lực của đội ngũ cán bộ khuyến nông cơ sở 77
4.2.5 Ảnh hưởng của nguồn lực lao động nông nghiệp của hộ 78
4.2.6 Ảnh hưởng các yếu tố về cơ chế, chính sách 79
4.2.7 Ảnh hưởng một số yếu tố khác 84
4.3 Định hướng và giải pháp tăng cường ứng dụng đồng bộ TBKT vào sản xuất lúa của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Thanh Miện 85
4.3.1 Định hướng và mục tiêu 85
4.3.2 Giải pháp tăng cường nhân rộng mô hình ứng dụng đồng bộ TBKT trong sản xuất lúa của hộ 87
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94
5.1 Kết luận 94
5.2 Kiến nghị 96
5.2.1 Đối với nhà nước 96
5.2.2 Đối với tỉnh Hải Dương 96
5.2.3 Đối với cấp huyện 97
5.2.4 Đối với cấp xã 97
5.2.5 Đối với hộ nông dân 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 101
Trang 9DANH MỤC BẢNG
3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Thanh Miện (2010-2014) 33
3.2 Tình hình dân số và lao động của huyện giai đoạn năm 2010-2014 35
3.3 Kết quả phát triển kinh tế của huyện Thanh Miện giai đoạn 2010-2014 37
3.4 Phân bố mẫu điều tra 41
4.1: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của huyện qua 3 năm 47
4.2: Kết quả thực hiện mô hình tại xã Hồng Quang năm 2014 51
4.3: Kết quả thực hiện của các xã ngoài vùng dự án vụ Mùa 2014 51
4.4 Thông tin cơ bản của nhóm hộ điều tra năm 2014 54
4.5 Tình hình trang bị, máy móc cho sản xuất lúa của các nhóm hộ 56
4.6 Tình hình áp dụng TBKT của nhóm hộ điều tra vào sản xuất lúa tại huyện Thanh Miện năm 2014 58
4.7 So sánh chi phí về phân bón giữa các hộ sản xuất lúa trong và ngoài mô hình năm 2014 61
4.8 So sánh chi phí về BVTV trong sản xuất lúa giữa các hộ ứng dụng mô hình và không tham gia 63
4.9 So sánh chi phí giữa thuê cấy bằng máy và thuê cấy thủ công giữa các nhóm hộ sản xuất lúa 65
4.10 So sánh chi phí giữa thuê gặt thu hoạch thủ công và thuê máy gặt đập liên hợp 67
4.11 Chi phí lao động sản xuất lúa của các hộ nông dân năm 2014 68
4.12: Hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ trong mô hình, ứng 70
4.13: Hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ trong mô hình, ứng 71
4.14 Ảnh hưởng của trình độ học vấn và kỹ thuật của chủ hộ đến 74
4.15 Ảnh hưởng của quy mô sản xuất đến khả năng ứng dụng đồng bộ 75
4.16: Ảnh hưởng điều kiện kinh tế của hộ đến khả năng ứng dụng đồng 76
4.17 Ảnh hưởng năng lực đội ngũ cán bộ khuyến nông đến ứng dụng đồng bộ TBKT vào sản xuất lúa 78
4.18 Ảnh hưởng của nguồn lực lao động nông nghiệp của hộ đến việc 79
4.19 Đánh giá của các hộ về tiếp nhận các chính sách của Nhà nước 82
Trang 11PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Lúa được xem là cây trồng chủ yếu ở các nước Châu Á và sản phẩm lúa gắn liền với đời sống con người gần 10.000 năm, riêng khu vực Châu Á với hơn 3 tỷ dân đang sản xuất và tiêu dùng hơn 90% sản lượng gạo của thế giới Cuộc cách mạng
“xanh” đã giúp các nước Châu Á tránh được tình trạng thiếu lương thực và cải thiện đời sống vùng nông thôn xuất phát từ việc giảm được 30% chi phí sản xuất nhờ áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Ở Việt Nam, dân số trên 80 triệu và 100% người Việt Nam sử dụng lúa gạo làm lương thực chính và Lúa cũng là một cây trồng chiến lược trong nền kinh tế quốc dân, sản lượng lúa không ngừng tăng lên hàng năm, năm 2005- 2008 sản lượng gạo xuất khẩu khá ổn định ở mức trên 4,5 triệu tấn, có bước đột phá từ những năm 2009 xuất khẩu 7,1 triệu tấn gạo và vẫn duy trì mức xuất khẩu gạo đến nay trên 7 triệu tấn/năm Với sản lượng này, Việt Nam tiếp tục giữ vị trí thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo, sau Thái Lan (Nguyễn Đình Luận, 2013)
Lúa gạo là sản phẩm không thể thiếu trong nhu cầu cuộc sống của con người Nó là lương thực chính nuôi sống con người Sản phẩm thóc gạo còn là nguồn thức ăn cho chăn nuôi Sản phẩm phụ của cây lúa như rơm rạ còn được sử dụng để sản xuất nấm, làm phân bón Đối với một số nước đang phát triển thì lúa gạo còn là nguồn thu ngoại tệ lớn nhờ xuất khẩu Năm 2006, lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt gần 4,69 triệu tấn, trị giá 1.195 tỷ USD thì đến năm 2013 đã xuất khẩu 6,68 triệu tấn, trị giá 2,89 tỷ USD và trong sáu tháng đầu năm 2014, xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt hơn 3,261 triệu tấn, kim ngạch 1,474 tỷ USD (Cổng thông tin điện tử Bộ Công Thương, 05/8/2014) Để có được những kết quả trên phải kể đến sự đóng góp tích cực của việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất lúa Tuy nhiên, hiện nay sản xuất nông nghiệp nói chung, sản xuất lúa nói riêng còn gặp nhiều khó khăn, thách thức như diện tích sản xuất nhỏ lẻ, manh mún; giá đầu vào tăng, giá trị sản phẩm nông sản hàng hóa thấp, sức cạnh tranh
Trang 12trên thị trường yếu, trang thiết bị sản xuất lạc hậu, tình trạng chuyển dịch lao động đang diễn ra ở các địa phương Bên cạnh đó, tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng đã làm diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm Theo dự báo của FAO trong vài thập kỷ tới, thế giới có hàng tỷ người thiếu đói lương thực, nhu cầu gạo tiêu dùng thế giới năm 2011 là 460 triệu tấn, năm
2012 là 469 triệu tấn, năm 2013 là 489,4 triệu tấn
Do vậy, để có thể duy trì mức sản lượng nông sản, đặc biệt là lúa gạo nhằm đảm bảo an ninh lương thực Quốc gia cũng như ổn định mức sản lượng gạo xuất khẩu thì các nước sản xuất nông nghiệp đều xem việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới theo hướng sản xuất bền vững là một trong những giải pháp ưu tiên được chọn trong quá trình sản xuất nông nghiệp và ở Hải Dương điều này cũng đang được thực hiện; trong đó Thanh Miện đã, đang thực hiện mạnh mẽ
Thanh Miện là huyện thuần nông, nông nghiệp luôn chiếm một tỷ trọng cao trong cơ cấu phát triển kinh tế của toàn huyện Sản xuất nông nghiệp nói chung, sản xuất lúa nói riêng luôn được huyện quan tâm Những năm gần đây, huyện Thanh Miện đã và đang thực hiện dồn điền, đổi thửa (DĐĐT), chỉnh trang đồng ruộng, tạo điều kiện thuận lợi hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, cùng với đó hệ thống tưới tiêu, giao thông nội đồng được cải tạo, xây mới và Thanh Miện đã, đang thực hiện nhiều chương trình, dự án của Tỉnh hỗ trợ nông dân ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất lúa: mô hình vùng sản xuất lúa hàng hóa chất lượng tập trung, mô hình vùng giống lúa nhân dân, mô hình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), mô hình ứng dụng đồng bộ TBKT trong sản xuất lúa….Nhìn chung kết quả các mô không chỉ làm tăng năng suất, hiệu quả kinh tế
mà đi liền với nó là tăng chất lượng của sản phẩm , trong đó phải kể đến mô hình ứng dụng đồng bộ TBKT trong sản xuất lúa, dự án thực hiện trong 02 năm (2014- 2015), kết quả sản xuất năm 2014, bước đầu đã nhận được sự đồng thuận của Chính quyền cơ sở, hưởng ứng của bà con nông dân và được đánh giá là mô hình có thể khắc phục một phần khó khăn cho sản xuất lúa gạo hiện nay Để đánh giá đầy đủ về kết quả, hiệu quả và ảnh hưởng của mô hình đến tình hình canh tác
Trang 13lúa của các hộ nông dân hiện nay, đồng thời chỉ ra những khó khăn, vướng mắc;
đề ra giải pháp nhằm giúp cho các hộ nông dân nâng cao hiệu quả sản xuất lúa và nhân rộng mô hình ra các địa bàn trong huyện và tỉnh Hải Dương Vì vậy chúng
tôi tiến hành lựa chọn và nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu nhân rộng mô hình ứng dụng đồng bộ tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá tình hình thực hiện và hiệu quả của mô hình ứng dụng đồng bộ tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất của các hộ nông dân, từ đó đề xuất giải pháp
nhằm nhân rộng mô hình này trong sản xuất lúa của các hộ nông dân trên địa
bàn huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến nhân rộng mô hình ứng dụng đồng
bộ TBKT trong sản xuất lúa của các nông hộ trên địa bàn huyện
- Đề xuất giải pháp nhằm nhân rộng mô hình ứng dụng đồng bộ TBKT trong sản xuất lúa góp phần nâng cao thu nhập và đời sống của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Thanh Miện trong thời gian tới
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
(1)- Thực trạng áp dụng mô hình ứng dụng đồng bộ TBKT trong sản xuất lúa của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Thanh Miện đang diễn ra như thế nào? Đâu là những thuận lợi, khó khăn trong việc thực hiện các mô hình này?
(2)- Mô hình ứng dụng đồng bộ TBKT trong sản xuất lúa có mang lại hiệu quả cao hơn cho các hộ nông dân trồng lúa ở địa phương không? Và hiệu quả đạt được của việc ứng dụng các mô hình này đang ở mức nào?
(3)- Đâu là những yếu tố ảnh hưởng đến việc nhân rộng mô hình ứng
Trang 14dụng đồng bộ TBKT trong sản xuất lúa của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Thanh Miên?
(4)- Giải pháp nào nhằm tăng cường ứng dụng, nâng cao hiệu quả và nhân rộng mô hình ứng dụng đồng bộ TBKT trong sản xuất lúa ở địa bàn huyện Thanh Miện trong thời gian tới?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến nhân rộng mô hình ứng dụng đồng bộ TBKT trong sản xuất lúa của các
hộ nông dân trên địa bàn huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương
Ngoài ra đề tài còn tiến hành nghiên cứu các chính sách của Đảng và Nhà nước về ứng dụng đồng bộ TBKT vào trong sản xuất lúa, kinh nghiệm ứng dụng đồng bộ TBKT vào trong sản xuất lúa một số nước trên thế giới và ở Việt Nam Đối tượng khảo sát để phục vụ nghiên cứu là các hộ nông dân sản xuất lúa bao gồm cả hộ tham gia ứng dụng mô hình, hộ ứng dụng một phần mô hình và
hộ không tham gia ứng dụng mô hình; các cán bộ phụ trách và triển khai mô hình, và chính quyền địa phương
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
a- Phạm vi nội dung: Đánh giá hiệu quả của mô hình ứng dụng đồng bộ
TBKT trong sản xuất lúa, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng mô hình, và từ đó làm cơ sở cho việc đề giải pháp mở rộng ứng dụng mô hình này trong thời gian tới ở địa phương
b- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn huyện Thanh
Miện, tỉnh Hải Dương
c- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp phục vụ cho nghiên cứu được tiến
hành thu thập trong giai đoạn 2012-2014 về tình hình sản xuất lúa và triển khai các mô hình Số liệu điều tra năm 2015 được sử dụng để đánh giá sâu tình hình thực hiện và hiệu quả của mô hình ứng dụng đồng bộ TBKT trong sản xuất lúa của hộ nông dân
Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 9/2014 đến tháng 11/2015
Trang 15PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản sử dụng trong nghiên cứu
2.1.1.1 Khái niệm về mô hình
Mô hình là một trong các phương pháp được dùng để nghiên cứu, tiếp cận hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội và đặc biệt được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu khoa học Hoàng Thọ Xuân (2007)
Có rất nhiều quan điểm về mô hình, tuy nhiên theo các cách tiếp cận khác nhau mà mô hình có những quan niệm, nội dung và cách hiểu riêng Khi tiếp cận
về mặt vật lý học thì mô hình là vật đồng dạng nhưng được thu nhỏ lại Nếu tiếp cận sự vật để nghiên cứu có thể coi mô hình là sự mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật để nghiên cứu và trình bày Khi mô hình hoá đối tượng nghiên cứu thì mô hình sẽ đơn giản một vấn đề phức tạp, giúp cho ta nhận biết được đối tượng nghiên cứu Mô hình còn được coi là “hình ảnh quy ước của đối tượng nghiên cứu” và còn là “kiểu mẫu” về một hệ thống các mối quan hệ hay tình trạng kinh tế” (Easton, C A W Shepherd , 2001)
Theo Hoàng Đình Tuấn (1998) thì mô hình là sự phản ánh hiện thực khách quan của đối tượng, sự hình dung, tưởng tượng đó bằng ý nghĩa của người nghiên cứu
Tác giả Hoàng Thọ Xuân (2007) cho rằng mô hình theo nghĩa phổ biến là
sự mô phỏng dưới một hình thức diễn tả thu gọn và cô đọng bằng những ngôn ngữ nào đó có tính ước lệ nhằm đặc trưng cho những thuộc tính bản chất và chúng nhất về cấu trúc và hành động của một khách thể (sự vật, hiện tượng hoặc một quá trình) nào đó trong tổng thể tự nhiên và xã hội
Các quan niệm trên khác nhau tuỳ theo góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu, nhưng khi sử dụng đều được dùng để mô phỏng đối tượng nghiên cứu
Trang 162.1.1.2 Khái niệm về tiến bộ kỹ thuật
Tiến bộ kỹ thuật là một danh từ mang tính trừu tượng và khái quát TBKT thể hiện những nét mới và “tiến bộ” của một yếu tố kỹ thuật nào đó nhưng chưa thật đồng bộ, chưa thật khả thi ở thực tiễn sản xuất, nhất là bên ngoài cơ quan nghiên cứu (Đỗ Kim Chung, 2005) Ví dụ, một gen mới được phát hiện trong chọn lọc, một giống cây trồng được coi là tốt ở ruộng thí nghiệm của một viện nghiên cứu nhưng chưa chắc đã tốt ở ngoài đồng ruộng của người nông dân ở vùng kinh tế - sinh thái khác
Trong sản xuất cũng như trong đời sống, các cụm từ “kỹ thuật” và “tiến bộ” được dùng khá phổ biến Theo nghĩa hẹp thì “kỹ thuật” được hiểu là các yếu tố phần cứng của quá trình sản xuất ra một sản phẩm cụ thể như (đất, phân, giống để sản xuất ra lúa gạo) Còn “tiến bộ” thì có nghĩa rộng hơn nó bao gồm quy trình sản xuất (sự phối hợp, kết hợp giữa các yếu tố đầu vào, máy móc và thiết bị trong quá trình sản xuất), các biện pháp và hình thức tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm Tuy nhiên, trong điều kiện nông nghiệp như hiện nay các yếu tố cho phép áp dụng một quy trình công nghệ đồng bộ và hiện đại như ở trong công nghiệp còn rất nhiều hạn chế (Đỗ Kim Chung, 2005)
Tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp là những kỹ thuật được khẳng định là phù hợp và khả thi về sinh thái, kinh tế - xã hội trên đồng ruộng của nông dân, góp phần nâng cao hơn hiệu quả sử dụng nguồn lực trong nông nghiệp, tạo điều kiện phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường cho nông nghiệp và nông thôn Tính từ “tiến bộ” ở đây thể hiện sự “tốt hơn” và “mới hơn” so với kỹ thuật hiện có (Đỗ Kim Chung, 2005)
Tiến bộ kỹ thuật là những kỹ thuật mới hiện chưa có ở địa phương và là một yếu tố động theo thời gian và không gian Động theo không gian được hiểu là một TBKT chỉ phù hợp với một không gian nhất định, khái niệm không gian ở đây
có thể thu hẹp trong phạm vi một hệ sinh thái nông nghiệp và cũng có thể rộng trong phạm vi một vùng (Phạm Chí Thành, 1990) Còn khái niệm về thời gian thì một TBKT có thể phù hợp với nền nông nghiệp tự cung tự cấp và không phù hợp
Trang 17nền nông nghiệp hàng hóa (Đào Thế Tuấn, 2000) Việc áp dụng TBKT là quá trình đưa các TBKT đã được khẳng định là đúng đắn trong thực tiễn vào áp dụng trên diện rộng để đáp ứng nhu cầu của sản xuất và đời sống của con người
2.1.1.3 Khái niệm về mô hình ứng dụng đồng bộ TBKT trong sản xuất lúa
Trong đề tài này, chúng tôi đưa ra khái niệm về mô hình ứng dụng đồng bộ TBKT trong sản xuất lúa để sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu Là mô hình được ứng dụng đồng bộ các biện pháp khoa học kỹ thuật như sử dụng giống lúa xác nhận, áp dụng các biện pháp thâm canh cải tiến như bón phân cân đối theo bảng so màu lá lúa, điều tiết nước theo nhu cầu sinh trưởng của cây lúa, bảo vệ thực vật theo nguyên tắc 04 đúng (đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng cách, đúng thời điểm) Cùng với đó là mô hình còn đưa cơ giới hóa đồng bộ vào sản xuất như làm đất, gieo mạ khay, cấy bằng máy, thu hoạch lúa bằng máy gặt đập liên hợp Với quan điểm như vậy, cho nên các hộ nông dân được xem là tham gia mô
mô hình ứng dụng đồng bộ TBKT khi phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chí trên
2.1.1.4 Khái niệm về khuyến nông
Khuyến nông là một thuật ngữ có ý nghĩa rất rộng và khó có thể định nghĩa được một cách chính xác, vì khuyến nông được tổ chức bằng nhiều cách khác nhau, để phục vụ cho nhiều mục đích rộng rãi Mỗi quốc gia, vùng, tổ chức khác nhau lại có những quan niệm về khuyến nông khác nhau, do đó có rất nhiều định nghĩa về khuyến nông Và từ những hiểu biết khác nhau đó, chúng ta có thể thống nhất được những điểm chung của khuyến nông nhằm đưa ra một định nghĩa phù hợp trong điều kiện của nước ta
Theo nghĩa rộng: thuật ngữ “khuyến nông” được hiểu theo rộng bao hàm:
khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư và khuyến công
Theo nghĩa hẹp: Khuyến nông là việc chuyển giao kỹ thuật hay công
nghệ cho trồng trọt và chăn nuôi; khuyến lâm là chuyển giao kỹ thuật và công nghệ cho nghề lâm nghiệp; khuyến ngư là chuyển giao công nghệ cho nuôi trồng thủy sản, khai thác, đánh bắt, quản lý nguồn lợi thủy sản và chế biến thủy sản; khuyến công là chuyển giao công nghệ cho chế biến nông sản, công nghiệp và
Trang 18ngành nghề nông thôn (Đỗ Kim Chung, 2010)
Trên thế giới, từ “Extension” được sử dụng đầu tiên ở nước Anh năm 1866
có nghĩa là “mở rộng, triển khai” Từ “Extension” ghép với từ “Agriculture” thành
“Agriculture Extension” thì được dịch là “khuyến nông”
Còn theo định nghĩa Nghị định 02/2010 NĐ – CP của Chính phủ: Khuyến nông là quá trình hỗ trợ nông dân nâng cao kiến thức, cung cấp thông tin về kinh
tế, kỹ thuật, tổ chức và quản lý, cung cấp các dịch vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn, giúp nông dân tăng cao được thu nhập và cải thiện đời sống, giúp nông nghiệp và nông thôn phát triển toàn diện và bền vững
Như vậy, khuyến nông là cách giáo dục không chính thức ngoài học đường cho nông dân, là cách đào tạo người lớn tuổi Khuyến nông là quá trình vận động quảng bá, khuyến cáo cho nông dân theo các nguyên tắc riêng Đây
là một quá trình tiếp thu dần dần và tự giác của nông dân Nói cách khác, khuyến nông là những tác động vào quá trình sản xuất kinh doanh của người nông dân nhằm giúp họ sản xuất đạt hiệu quả cao nhất Nội dung của hoạt động khuyến nông phải khoa học, kịp thời và thích ứng với điều kiện sản xuất của người nông dân
2.1.2 Cơ sở lý luận về đánh giá hiệu quả mô hình ứng dụng đồng bộ TBKT
Khuyến nông có phạm vi bao phủ rộng nên hoạt động khuyến nông rất đa dạng Tuy nhiên, kết quả của hoạt động khuyến nông thường tập trung vào giúp cho nông dân áp dụng được công nghệ hoàn thiện (công nghệ tốt) vào sản xuất và đời sống của họ Xã hội phát triển, ngày càng nhiều nguồn lực đầu tư vào khuyến nông, đặc biệt là khoa học công nghệ Vấn đề đặt ra là, khi nông dân áp dụng một công nghệ mới (giống lúa mới), liệu công nghệ đó đã thực sự giúp nông dân nâng cao được năng suất nông nghiệp, do đó, cải thiện đời sống của họ? Vì vậy, cần phải xem xét hiệu quả của công nghệ mà khuyến nông chuyển giao cho nông dân đến mức độ nào
Thông thường hiệu quả kinh tế được đo bằng mối tương quan giữa kết quả thu được (sản phẩm, giá trị sản phẩm, lợi nhuận ) với chi phí bỏ ra cho hoạt
Trang 19động sản xuất kinh doanh đó Trên phương diện khuyến nông, hiệu quả của hoạt động khuyến nông được xem xét ở các giác độ sau:
2.1.2.1 Hiệu quả của từng công nghệ/kỹ thuật được chuyển giao
Đó là hiệu quả của giống mới so với giống cũ, hiệu quả của phương pháp sản xuất mới so với phương pháp sản xuất cũ Trên phương diện này, hiệu quả kinh tế của công nghệ, được xem xét hiệu quả từng phần (Partial Budget Analysis) hơn là hiệu quả toàn bộ của hệ thống sản xuất Nghĩa là hệ thống sản xuất vẫn như cũ, chỉ thay đổi một phần (một yếu tố, thí dụ thay giống cũ bằng giống mới, thay đổi cách thức bón phân trong khi lượng phân bón không đổi) Sự thay đổi này sẽ dẫn đến hai nhóm thay đổi làm tăng hay giảm thu nhập, dẫn đến
sự thay đổi về hiệu quả áp dụng công nghệ hay kỹ thuật đó Thu nhập tăng có được khi áp dụng công nghệ khuyến cáo bao gồm những lợi ích mà công nghệ mới mang lại như năng suất cao hơn, tiết kiệm chi phí, chất lượng tốt hơn Thu nhập giảm khi áp dụng công nghệ khuyến cáo bao gồm những chi phí tăng thêm khi áp dụng công nghệ mới, những lợi ích của công nghệ cũ mang lại, giờ không được áp dụng nữa Do vậy, hiệu quả công nghệ là sự so sánh giữa thu nhập giảm với thu nhập tăng Bên cạnh việc tính hiệu quả từng phần thì hiệu quả của công nghệ thường được đo bằng năng suất, giá thành sản phẩm làm ra Năng suất sản phẩm là số lượng sản phẩm làm ra trên một đơn vị nguồn lực khan hiếm Số lượng thóc sản xuất trên một đơn vị diện tích được gọi là năng suất sản phẩm Tuy nhiên, trong kinh tế thị trường, chỉ tiêu năng suất phản ánh tính chất phù hợp
về sinh học, năng suất cao chưa hẳn đã có hiệu quả về kinh tế Vì thế, chỉ tiêu năng suất còn được thể hiện bằng giá trị sản phẩm làm ra trên một đơn vị nguồn lực (đất đai, đầu con, lao động…) Giá thành sản phẩm là chi phí bằng tiền để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Chỉ tiêu này rất quan trọng, là chỉ tiêu dùng để so sánh với giá bán trên thị trường Nếu giá thành thấp hơn giá bán trên thị trường
thì sản xuất kinh doanh sản phẩm đó mới có lãi (Đỗ Kim Chung, 2008)
Trang 20KHUNG PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TỪNG PHẦN
Mục đích của sự thay đổi: thay đổi giống cũ bằng giống mới, thay đổi cách
thức bón phân,
A1 Chi phí thêm
Chi cho việc áp dụng công nghệ mới
B1 Thu thêm Lợi ích do công nghệ mới mang lại
A2 Thu nhập giảm
Lợi ích do công nghệ cũ mang lại
nhưng bây giờ không được áp dụng
nữa nên làm thu nhập giảm đi
B2 Tiết kiệm chi phí
- Chi phí để áp dụng công nghệ cũ
- Tiết kiệm chi phí do công nghệ mới mang lại
Cộng giảm thu: A= (A1+ A2) Cộng tăng thu: B = (B1 + B2)
Mức thay đổi về tổng thu: C = B – A
Kết luận:
- Nếu C > 0 thì nên áp dụng công nghệ/ kỹ thuật mới đó
- Nếu C < 0 thì không nên áp dụng công nghệ/kỹ thuật mới đó
Nguồn: Đỗ Kim Chung, 2008 2.1.2.2 Đánh giá hiệu quả toàn phần của các mô hình chuyển giao TBKT
Ngoài đánh giá hiệu quả từng phần của các hô hình chuyển giao tiến bộ kỹ
thuật, nghiên cứu của luận văn sẽ đánh giá những lợi ích mang lại của mô hình
ứng dụng đồng bộ TBKT trong sản xuất lúa trên các khía cạnh kinh tế, xã hội và
môi trường
* Về kinh tế: Việc ứng dụng mô hình chuyển giao TBKT trong sản xuất
lúa có tạo ra năng suất cao, chất lượng tốt, giá trị sản phẩm làm ra trên một hecta,
một lao động, thu nhập của nông dân được cải thiện hay không Nghiên cứu sẽ
tập trung vào đánh giá sự thay đổi các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế trong
sản xuất lúa của các hộ tham gia ứng dụng mô hình này
Trang 21* Về xã hội: Việc ứng dụng mô hình chuyển giao TBKT trong sản xuất
lúa có tạo ra việc làm cho nông dân, tạo điều kiện cho phụ nữ, nhóm dễ bị tổn thương vươn lên (trẻ em, dân tộc thiểu số, phụ nữ, người tàn tật ), có góp phần xóa đói giảm nghèo, có góp phần phát triển tổ chức và thể chế hay không, có tính lan truyền hay không Đây là những khía cạnh cần quan tâm khi đánh giá về hiệu quả xã hội của việc ứng dụng các TBKT trong sản xuất nông nghiệp nói chung
và sản xuất lúa nói riêng
* Về môi trường: Việc ứng dụng mô hình chuyển giao TBKT trong sản
xuất lúa có góp phần bảo tồn đa dạng sinh học trong nông nghiệp, bảo tồn quỹ gen, tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu ô nhiễm môi trường hay không
2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc nhân rộng mô hình ứng dụng đồng bộ tiến bộ TBKT trong sản xuất lúa
Để nhân rộng được mô hình sản xuất nông nghiệp nói chung, mô hình sản xuất lúa nói riêng, cũng như mọi ngành, mọi lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác thì cần quan tâm xem xét các yếu tốt như điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội, trình
độ kỹ thuật, lực lượng lao động, các yếu tố đầu vào, đầu ra…được thể hiện:
2.1.3.1 Yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên
Với sản xuất nông nghiệp đặc điểm nổi bật nhất là điều kiện tự nhiên, đó chính là đất đai, thời tiết, khí hậu và thuỷ văn… Do đó, muốn phát triển sản xuất lúa thì cần phải hiểu rõ điều kiện tự nhiên của vùng sản xuất, để tạo tiền đề cho việc bố trí các giống lúa đưa vào sản xuất sao cho phù hợp nhất
2.1.3.2 Nhóm yếu tố về điều kiện kinh tế – xã hội
Sản xuất lúa cũng như các loại cây trồng khác nó chịu sự chi phối của các quy luật như quy luật cung cầu, các chính sách của nhà nước và chịu tác động của rất nhiều các yếu tố đầu vào, quy mô sản xuất, các nguồn lực như đất đai, lao động, vốn sản xuất, thị trường, kinh nghiệm sản xuất, tiến bộ KHKT áp dụng vào sản xuất
- Nguồn lực sản xuất: Nguồn lực hiểu theo nghĩa rộng là tiềm năng phục
vụ cho sản xuất: vốn, lao động, đất đai, tri thức, khả năng tổ chức Trong sản xuất
Trang 22kinh doanh, các nguồn lực được hiểu đó là giá trị đầu vào, là điều kiện vật chất cần thiết để tiến hành sản xuất kinh doanh Người sản xuất chủ động về nguồn lực sẽ thực hiện tốt hơn quá trình sản xuất
Lao động là nhân tố quan trọng bậc nhất ảnh hưởng đến hoạt động sản
xuất của các ngành sản xuất, kinh doanh Đối với sản xuất lúa, lao động là nhân
tố quyết định đến sản xuất, họ sẽ quyết định đến việc có tiếp thu hay không tiếp thu những tiến bộ của KHKT áp dụng vào sản xuất để mang lại hiệu quả kinh tế, cũng như hiệu quả xã hội cao nhất
Tuy nhiên, lao động của các nông hộ có đông về số lượng nhưng về cơ bản vẫn là lao động thủ công, năng suất lao động thấp, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật và kiến thức kinh doanh theo cơ chế thị trường còn hạn chế Để phát triển sản xuất lúa yêu cầu trước mắt và lâu dài là phải bồi dưỡng một đội ngũ lao động có chất lượng cao phù hợp với tình hình mới
Đất đai là một trong những yếu tố quyết định việc ứng dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa của các hộ nông dân Đất đai manh mún sẽ cản trở việc áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng Vì vậy việc thực hiện các biện pháp nhằm dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất nhằm áp dụng các TBKT vào sản xuất sẽ góp phần giải phóng sức lao động và nâng cao hiệu quả sản xuất
Vốn là một trong những nguồn lực quan trọng giúp người sản xuất chủ động đầu tư vào hoạt động sản xuất và áp dụng các TBKT nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động sản xuất Để áp dụng các TBKT vào sản xuất người nông dân thường cần lượng vốn đầu tư lớn Vì vậy việc giúp nông dân tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng để phát triển sản xuất và ứng dụng các TBKT là điều cần thiết
- Trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm của người nông dân trong sản xuất lúa: Cây lúa đòi hỏi sự chăm sóc kịp thời và đúng quy trình kỹ thuật mới làm cho
năng suất tăng, chất lượng tốt Nếu chủ hộ có trình độ văn hoá cao, có kinh nghiệm trồng và chăm sóc cây lúa sẽ lựa chọn giống cây trồng, biện pháp canh tác, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón một cách hợp lý Từ đó cây sinh
Trang 23trưởng, phát triển tốt tạo ra năng suất cao, chất lượng tốt Ngược lại, chủ hộ có trình độ văn hoá thấp, thiếu kinh nghiệm trong sản xuất lúa sẽ không nắm bắt được kỹ thuật thâm canh, chăm sóc không đúng quy trình kỹ thuật sẽ cho kết quả
và hiệu quả thấp
Đối với các mô hình khuyến nông kỹ thuật chăm sóc là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm Người sản xuất phải tuân thủ nghiêm quy trình kỹ thuật
Trong quá trình sản xuất thì lúa thường xuyên bị sâu bệnh, dịch bệnh tác động đó là một nguyên nhân làm thất thu trong sản xuất lúa Việc phòng tránh và chữa trị là một việc có ý nghĩa vô cùng to lớn đảm bảo thành công cho các hộ sản xuất, góp phần nâng cao kết quả và hiệu quả sản xuất
- Y ếu tố thị trường: Thị trường luôn là khâu cuối cho mọi hoạt động sản
xuất kinh doanh Thị trường tiêu thụ lúa gạo cũng vậy, do đặc điểm cầu sản xuất nông nghiẹp nói chung và lúa nói riêng có sự khác biệt so với các ngành khác nên yếu tố này càng quan trọng hơn, nó ảnh hưởng đến quyết định có mở rộng sản xuất nữa hay không của người sản xuất, hay nó tác động trực tiếp đến hiệu qủa kinh tế của ngành
Trong những năm gần đây, thị trường tiêu thụ gạo của Việt Nam gặp nhiều khó khăn, sản phẩm tạo ra nhiều nhưng thị trường tiêu thụ hẹp, dẫn tới giá sản phẩm bị hạ xuống rất thấp Nó không những ảnh hưởng đến đời sống của người nông dân mà còn làm cho thị trường gạo của ta kém sôi động Khi mà giá sản phẩm ở một mức thấp thì không đạt được HQKT như mong muốn Với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tê như ngày nay thì sản phẩm nào chiếm được ưu thế sẽ đứng vững, do đó có hai sự lựa chọn, hoặc là giá thành phải rất rẻ, hoặc là chất lượng phải tốt Như vậy, lúa gạo của chúng ta phải tìm ra hướng đi thích hợp
để có thể tồn tại và giữ vững ưu thế
2.1.3.3 Nhóm yếu tố kỹ thuật
- Giống: Giống là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất Những giống cây trồng có khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu, đất đai, chịu thâm canh và có khả năng chống chịu sâu bệnh sẽ cho năng suất cao,
Trang 24chất lượng sản phẩm tốt Ngày nay, với trình độ khoa học phát triển, ngày càng
có nhiều giống tốt đưa vào sản xuất Tuy nhiên, ngoài việc được hướng dẫn cụ thể về quá trình sản xuất của từng giống thì người nông dân cũng cần phải có một trình độ canh tác nhất định để khai thác có hiệu quả các loại giống tốt, thích nghi với điều kiện sản xuất cụ thể
- Thời vụ gieo trồng: Các loại cây trồng đều có đặc điểm sinh trưởng và quy luật phát triển riêng Thời vụ gieo trồng được xác định trong quá trình sản xuất Lịch gieo trồng được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp giữa quy luật sinh trưởng và phát triển của cây trồng Như vậy, để nâng cao hiệu quả mô hình khuyến nông, người nông dân không chỉ biết có chăm sóc đầy đủ, hợp lý mà còn phải biết bố trí cơ cấu giống cây trồng mùa vụ thích hợp
2.1.3.4 Yếu tố chính sách nhà nước
Từ những năm 1989 đến nay, nhờ có các chính sách hợp lý của nhà nước
mà nền kinh tế nói chung và nền nông nghiệp nói riêng của nước ta mới có nhiều khởi sắc như vậy Các chính sách này đã khuyến khích người dân đầu tư phát triển sản xuất, đồng thời góp phần làm tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp Với chính sách về thuế, khuyến nông, chính sách tín dụng, chính sách về nghiên cứu,
hỗ trợ, và chính sách đất đai…làm cho nền nông nghiệp nước ta dần hình thành các vùng sản xuất hàng hoá, tạo ra nền sản phẩm có khả năng xuất khẩu cao mang lại hướng đi mới cho nền nông nghiệp Có thể nói, sản xuất lúa trong thời gian qua đã nhận được nhiều sự quan tâm hỗ trợ của Nhà nước… các chính sách
có tác động tích cực để phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả sản xuất lúa cũng như việc ứng dụng các TBKT vào sản xuất
Trang 252.2.1.1 Trung Quốc
Trung Quốc là quốc gia có diện tích rộng và dân số đông Nền nông nghiệp
và kinh tế của Trung Quốc đã đạt được những thành tựu to lớn, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của khoa học công nghệ Trung Quốc đã chọn công nghệ cao làm khâu đột phá trong phát triển nông nghiệp Hiện nay, trình độ chung của nông nghiệp Trung Quốc khá cao Tỷ lệ tiến bộ khoa học - công nghệ nâng cao đã đóng góp quan trọng cho sự phát triển ổn định liên tục của nền kinh tế nông thôn và nông nghiệp Trung Quốc
Trong lĩnh vực nông nghiệp, Trung Quốc đã tăng nhanh sản lượng lương thực, từ 305 triệu tấn năm 1978 lên 502 triệu tấn năm 2007 Sản lượng một số nông sản phẩm của Trung Quốc đã và đang đứng đầu thế giới: Lương thực đứng
vị trí số 1 (lúa gạo, lúa mỳ); ngô đứng thứ 2: đậu tương đứng thứ 3 Trung Quốc chỉ sử dụng 7% đất canh tác của thế giới nhưng đã nuôi sống 22% dân số thế giới (Đinh Thị Kim Phượng, 2011)
Trong lĩnh vực công nghệ sinh học đã xây dựng được công nghệ sản xuất của hơn 60 loại hoa, lúa gạo, lúa mỳ, khoai tây, táo… đã được áp dụng thành công trên diện rộng về kỹ thuật cấy mô khử virut vào sản xuất theo kiểu công xưởng hóa, hiện nay đã thực hiện được thương phẩm hóa công nghệ này Đã nhân bản vô tính gen hàng trăm loại, ứng dụng công nghệ chuyển nghép di truyền và thu được nhiều loại gen có các tính trạng khác nhau, sản xuất thử nghiệm điểm trình diễn hoặc trên đồng ruộng nhiều giống mới, và đã thành công đưa vào thị trường thương phẩm hóa
Lĩnh vực công nghệ thông tin đã xây dựng được nhiều ngân hàng dự trữ thông tin nông nghiệp như ngân hàng dự trữ nông nghiệp, ngân hàng tài nguyên giống cây trồng, ngân hàng dữ liệu thống kê kinh tế nông nghiệp Các ngân hàng này đã được lưu giữ và khai thác mang tính hiệu quả kinh tế cao
Lĩnh vực vật liệu, phân hóa học, thuốc trừ sâu mới Các loại phân bón, thuốc trừ bệnh sinh vật và các hóa chất loại mới đã phát triển khá mạnh Loại phân bón hỗn hợp do Trung Quốc tự chế tạo đã chiếm 20% số lượng phân bón hóa học
Lĩnh vực thiết bị nông nghiệp: sản xuất máy nông nghiệp của Trung Quốc
Trang 26là một trong những ngành sản xuất mũi nhọn, đạt mức tăng trưởng kỷ lục trong năm 2012 và vươn lên trở thành nước sản xuất máy nông nghiệp lớn nhất thế giới Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp Trung Quốc, trong năm 2012, nước này đã sản xuất hơn 2 triệu máy kéo và 1 triệu máy gặt, nhập khẩu trên 100 nhà ấm điều hòa nhiệt độ, độ ẩm tự động hiện đại (MT, 2013)
Những kết quả đã đạt được thông qua các chương trình phát triển trên là hết sức to lớn Trung Quốc bên cạnh việc bảo đảm an ninh lương thực cho trên 1,2 tỷ người của mình thì đã và đang tham gia mạnh mẽ vào thị trường các sản phẩm nông nghiệp trên thế giới (Đinh Thị Kim Phượng, 2011)
2.2.1.2 Nhật Bản
Nhật Bản là nước đầu tiên thực hiện công nghiệp hóa đất nước ở châu Á ngay từ những năm cuối của thế kỷ 19 Từ một nước có nền nông nghiệp cổ truyền, tự cung, tự cấp, sản xuất manh mún, với những hộ nông dân quy mô nhỏ (bình quân 0,5 ha đất/hộ), Nhật Bản đã nhanh chóng trở thành một cường quốc kinh tế trên thế giới với một nền nông nghiệp và công nghiệp hiện đại, kinh tế thành thị và nông thôn đều phát triển Điều đáng nói là cho đến nay đất nước này vẫn còn tồn tại rất nhiều khu ruộng trồng lúa có quy mô không lớn (chỉ vài trăm
m2) nhưng đã được cơ giới hóa cao độ ở tất cả các khâu (Ivan Roberts và cộng
sự, 2006)
Cuộc cải cách ruộng đất năm 1946 đã diễn ra thành công, chấm dứt tình trạng thuê đất vào năm 1949 và kết quả là khoảng 90% đất canh tác do chính người sở hữu tự trồng cấy
Chính phủ giúp đỡ nhà nông bằng cách lập các chương trình hỗ trợ giá, nhất là đối với gạo Chính phủ cũng dành sự ủng hộ mạnh mẽ cho các trường kỹ thuật nông nghiệp, các trung tâm thử nghiệm và các chương trình mở rộng Các hợp tác xã nông nghiệp đẩy mạnh những hoạt động tích cực kể trên của Chính phủ bằng cách cho vay với lãi xuất thấp và tiến hành tiếp thị theo nhóm ở cấp độ làng xã Kết quả cuối cùng là hình thành một lực lượng nông dân tương đối dư giả,
có học thức, được ưu đãi và có vốn cần thiết để mua giống mới cũng như phân bón
để tăng sản lượng, đồng thời mua máy móc để giảm bớt nhu cầu về lao động (Ivan
Trang 27Roberts và cộng sự, 2006)
Nền nông nghiệp Nhật Bản không thể thành công nếu không có sự phổ biến của máy móc, hóa chất và những thiết bị và kỹ thuật tiến bộ giúp tiết kiệm lao động Hiện tại việc canh tác hầu như được làm bằng máy Các phương pháp canh tác truyền thống nhanh chóng nhường chỗ cho các máy cày, máy ủi và nhiều loại máy móc khác Nhờ tất cả những yếu tố đó, tổng sản lượng gạo của Nhật Bản tăng từ 9,5 triệu tấn trong năm 1950 lên 13 triệu tấn vào năm 1975 (Ivan Roberts và cộng sự, 2006)
2.2.1.3 Thái Lan
Thái Lan là một quốc gia có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho việc phát triển sản xuất trồng trọt, bên cạnh đó Thái Lan đã xây dựng một chiến lược phát triển ngành nông nghiệp đúng đắn, tập trung vào việc xây dựng ngành nông nghiệp với kỹ nghệ cao và bền vững Nhờ đó đã đem cho Thái Lan lại vị trí xuất khẩu gạo số 1 thế giới (SEARCA, 2007)
Ngay từ năm 1999, Chính phủ Thái Lan đã đưa ra chương trình phát triển nông nghiệp, trong đó tập trung vào một số giải pháp sau:
+ Đẩy mạnh tốc độ giao đất cho nông dân thông qua cải cách đất đai Kể
từ năm 1998 đến nay, Thái Lan đã tiến hành cải cách đất đai trên diện tích khoảng 400.000 ha
+ Phân vùng sản xuất nhằm giải quyết tình trạng sản xuất không ổn định, xây dựng vùng chuyên canh sản xuất, phân canh diện tích đất
+ Cung cấp cho nông dân các loại giống cây khác nhau để cải thiện chất lượng cây trồng
+ Quản lý sau thu hoạch một cách hiệu quả Bộ Nông nghiệp Thái Lan đã tìm vốn vay từ Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) để tài trợ cho việc mua sắm phương tiện và xây dựng các kho chứa thóc ở mỗi huyện
+ Thúc đẩy và công bố các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực nông nghiệp + Cấp tín dụng cho người nghèo và hỗ trợ vốn cho nông dân sản xuất với các chính sách lãi suất ưu đãi
Trang 28Thực hiện Chiến lược lúa gạo Quốc gia 5 năm 2004 - 2008, Thái Lan tập trung nâng cao sản lượng thóc gạo thông qua việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới tăng năng suất, hoàn thiện hệ thống tưới tiêu, quảng bá thị trường thóc gạo, tăng giá trị xuất khẩu, nâng cao đời sống cho nông dân Theo chiến lược này, sản lượng thóc sẽ tăng từ 25,88 triệu tấn (17,20 triệu tấn gạo) niên vụ 2002 - 2003 lên
33 triệu tấn thóc (21,8 triệu tấn gạo) vào niên vụ 2007 - 2008
Các nông sản sạch và có giá trị kinh tế cao được chú trọng phát triển Tại những vùng nông nghiệp gần Băng Kốc, nông dân phát triển sản xuất rau quả an toàn Tại các vùng cách thủ đô hàng trăm cây số, các mô hình nông nghiệp tổng hợp được xây dựng, trang trại chăn nuôi kết hợp với trồng cây ăn quả, phát triển cây lương thực với nuôi trồng thủy sản nhằm giải quyết vấn đề môi trường và an toàn thực phẩm Vấn đề tiêu thụ sản phẩm được giải quyết trên cơ sở phát triển quan hệ hợp đồng giữa các công ty chế biến nông sản của Băng Kốc và các hộ nông dân ở các vùng sản xuất vệ tinh Đặc biệt, Chính phủ Thái Lan rất quan tâm tới các chính sách tài chính, tín dụng, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, xây dựng kết cấu
hạ tầng, giải quyết ô nhiễm nhằm thúc đẩy phát triển các vùng nông nghiệp bền vững (SEARCA, 2007)
2.2.2 Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta về ứng dụng đồng bộ TBKT trong sản xuất lúa
Áp dụng TBKT trong ngành trồng trọt là vấn đề được Đảng, Nhà nước và các cấp Ban ngành quan tâm, đặc biệt, trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa, phát triển kinh tế theo hướng CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn, xây dựng nông thôn mới, vai trò của việc áp dụng TBKT ngày càng được đề cao, cụ thể hóa qua các chủ trương chính sách cũng như các văn bản khác có liên quan của các cấp ngành
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng có ghi rõ: “Phát triển nông nghiệp toàn diện, hiệu quả, bền vững, theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát huy ưu thế của nền nông nghiệp nhiệt đới gắn với giải quyết tốt các vấn đề nông dân, nông thôn Khuyến khích tập trung ruộng đất, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn, có năng suất, chất
Trang 29lượng, hiệu quả cao Trên cơ sở tích tụ đất đai, đẩy mạnh cơ giới hoá, áp dụng công nghệ hiện đại (nhất là công nghệ sinh học); bố trí lại cơ cấu cây trồng, vật nuôi; phát triển kinh tế hộ, trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp, vùng chuyên môn hoá, khu nông nghiệp công nghệ cao, các tổ hợp sản xuất lớn”
“Mở rộng diện tích, áp dụng công nghệ cao để tăng năng suất, chất lượng các loại rau, màu, cây ăn quả, cây công nghiệp có lợi thế”
Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 của đất nước, vai trò của việc áp dụng TBKT trong nông nghiệp cũng được Đảng ta nhấn mạnh: “Đẩy nhanh áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ hiện đại trong sản xuất, chế biến, bảo quản; ưu tiên ứng dụng công nghệ sinh học để tạo nhiều giống cây trồng, vật nuôi và quy trình sản xuất đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả cao, tăng nhanh giá trị gia tăng trên một đơn vị đất canh tác Hỗ trợ phát triển khu nông nghiệp công nghệ cao” (Bộ Chính trị, 2011)
Chỉ thị số 63-CT/TW, ngày 28/02/2001 của Bộ Chính trị về đẩy nhanh nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn nhấn mạnh: “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn có vai trò cực kỳ quan trọng cả trước mắt và lâu dài, làm cơ
sở để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Sự thành công của sự nghiệp đó chủ yếu phụ thuộc vào trình độ dân trí, vào việc đẩy mạnh áp dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học – công nghệ và phát huy lợi thế so sánh của từng vùng trong cả nước để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn, thúc đẩy sản xuất hàng hoá nông nghiệp làm chủ thị trường trong nước, từng bước vươn ra thị trường khu vực và quốc tế” Chủ trương của Chỉ thị ghi rõ: “Cần tăng cường nghiên cứu, áp dụng các thành quả mới nhất của khoa học và công nghệ; nâng cao dân trí đào tạo, bồi dưỡng nhân lực tại chỗ; cung cấp kịp thời các tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, các quy trình sản xuất tiên tiến, các thông tin về thị trường tiêu thụ; cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp, phát triển mạnh ngành nghề
ở nông thôn, nhất là công nghiệp chế biến và các hình thức dịch vụ ở nông thôn; tạo lập, phát triển thị trường và xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội nông
Trang 30thôn; hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới tổ chức quản lý; chuyển mạnh nền sản xuất nông nghiệp hiện có sang sản xuất hàng hoá, tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập, tích luỹ cho nông dân, tạo thế và lực mới nhằm chủ động hội nhập với thị trường khu vực và quốc tế (Bộ Chính trị, 2001)
Với chủ trương trên, Bộ Chính trị đã cụ thể hóa thành nhiệm vụ như sau:
“Tập trung các lực lượng khoa học và công nghệ vào giải quyết những vấn đề bức xúc trong công nghiệp hoá, hiện đạo hoá nông nghiệp và nông thôn, như tạo các giống mới giá trị kinh tế cao; áp dụng có hiệu quả các loại hình công nghệ chế biến, công nghệ sau thu hoạch; phát triển mạnh ngành nghề ở nông thôn” “Đặc biệt chú trọng đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến công, hướng dẫn áp dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ mới, phổ cập tri thức thông tin, nhất
là đối với các vùng sâu, vùng xa, giúp bà con nông dân nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất, kinh doanh, tổ chức lại cuộc sống (Bộ Chính trị, 2001)
Các giải pháp được đề ra trong chỉ thị cũng nhấn mạnh việc hỗ trợ và các
ưu đãi về thuế cũng như ưu đãi khác nhằm thúc đẩy việc áp dụng TBKT trong ngành nông nghiệp nói chung và trồng trọt nói riêng: “Hỗ trợ kinh phí hoặc trợ giá một phần cho việc đầu tư ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong sản xuất nông nghiệp; không điều tiết thuế thu nhập trong những năm đầu đối với nguồn thu do ứng dụng thành công tiến bộ khoa học và công nghệ; miễn, giảm thuế cho các hoạt động ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; được đào tạo, bồi dưỡng miễn phí một phần hoặc toàn bộ Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý cấp xã về kiến thức khoa học và công nghệ để triển khai thực hiện các chương trình, dự án về ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ ở nông thôn, đặc biệt ở các vùng khó khăn Coi trọng việc chuyển giao tri thức để lực lượng lao động tại chỗ có thể chủ động lựa chọn, tiếp nhận tiến bộ khoa học và công nghệ; tạo điều kiện cho nông dân vay vốn tín dụng (phải trả lãi nhưng với lãi suất thấp) để có thể tự quyết định hình thức đầu tư phù hợp nhất cho kinh tế
hộ hoặc trang trại của họ” “Các cơ sở công nghiệp chế biến nông, lâm, hải sản, đặc biệt là những cơ sở có quy mô nhỏ và vừa, các trung tâm dịch vụ tổng hợp (từ tổ chức sản xuất đến bao tiêu sản phẩm, tư vấn, chuyển giao công nghệ), đổi
Trang 31mới công nghệ hoặc chủ động thúc đẩy ứng dụng, chuyển giao công nghệ mới vào nông thôn để nâng cao chất lượng sản phẩm, được hưởng mức ưu đãi cao nhất về thuế thu nhập doanh nghiệp, được hưởng chế độ ưu đãi về tín dụng, về sử dụng đất theo quy định của pháp luật” (Bộ Chính trị, 2001)
Nghị định số 02/2010/NĐ- CP ngày 08 tháng 01 năm 2010 của Chính Phủ
về khuyến nông với mục tiêu: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của người sản xuất để tăng thu nhập, thoát đói nghèo, làm giàu thông qua các hoạt động đào tạo nông dân về kiến thức, kỹ năng và các hoạt động cung ứng dịch vụ để hỗ trợ nông dân sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, thích ứng các điều kiện sinh thái, khí hậu và thị trường Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, ổn định kinh tế- xã hội, bảo vệ môi trường
2.2.3 Tình hình chuyển giao mô hình ứng dụng đồng bộ TBKT trong sản xuất lúa tại Việt Nam
2.2.3.1 Ở Thái Nguyên
Vụ xuân năm 2011, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Thái Nguyên đã phối hợp với Phòng Nông nghiệp huyện Phú Lương triển khai mô hình trình diễn ứng dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học kỹ thuật trên cây lúa tại xã Động Đạt huyện Phú Lương, thực hiện trên tổng quy mô là 50 ha với 1.000 hộ nông dân tham gia
Mô hình đã ứng dụng các biên pháp khoa học kỹ thuật như: sử dụng giống lúa lai
3 dòng syn6 là giống lúa lai có tiềm năng về năng xuất và chất lượng; sạ hàng bằng dàn kéo tay; áp dụng các biện pháp thâm canh cải tiến (SRI); bón phân cân đối, sử dụng phân Neb – 26 Mô hình được so sánh với phương pháp sản xuất đại trà của nông dân
Tuy đầu năm rét đậm, rét hại kéo dài đã ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng của cây lúa so với những năm có điều kiện bình thường; song các cán bộ của Phòng Nông nghiệp, Trạm Khuyến nông thường xuyên theo dõi, hướng dẫn người dân sử lý kịp thời, canh tác đúng quy trình nên cây lúa đã phục hồi và phát
Trang 32triển tốt Kết quả theo dõi cho thấy với biện pháp sạ bằng dàn kéo tiết kiệm được
40 - 50% lượng giống so với sạ bằng tay, phương pháp này có ưu điểm là rất rễ quản lý cỏ dạ, lúa đẻ nhánh sớm, đẻ nhánh tập trung, tỷ lệ dảnh hữu hiệu cao hơn
Sử dụng phân bón Neb_26 phối trộn với urê để bón cho lúa giảm được 50% lượng đạm so với tập quán của nông dân, cây sinh trưởng khoẻ hơn, chống đổ tốt, thời gian thu hoạch sớm hơn từ 3-4 ngày Do bón phân cân đối, đúng thời điểm, điều tiết nước hợp lý nên cây sinh trưởng khoẻ, màu lá xanh sáng, cứng cây, về mức độ sâu bệnh hại cũng nhẹ hơn Ngoài ra mô hình còn áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất như sử dụng máy làm đất, thu hoạch lúa bằng máy gặt đập liên hợp đã giảm đáng kể thời gian và công lao động, góp phần nâng cao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp
Đánh giá kết quả thực hiện mô hình ngoài đồng ruộng cho thấy năng xuất lúa đạt 82,6 tạ/ha cao hơn 15- 20 % so với sản xuất lúa đại trà Về hiệu quả kinh
tế sau khi trừ các khoản kinh phí người dân có lãi 46 triệu đ/ha hơn 14,5 triệu đồng so với phương pháp cũ Áp dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất không chỉ giảm được chi phí về giống lúa, phân bón, ít phải sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật hơn so với phương pháp gieo trồng truyền thống mà còn tăng năng suất, chất lượng lúa, thu nhập của người dân cũng cao hơn
Phát biểu trước hội nghị đồng chí Hoàng Văn Dũng PGĐ Sở Nông nghiệp và PTNT đánh giá rất cao kết quả đạt được của mô hình“Ứng dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học kỹ thuật trên cây lúa” của huyện Phú Lương, vụ xuân năm 2011; mô hình cần được nhân rộng ra các địa bàn trong tỉnh Đồng chí cho biết hiện nay ngành nông nghiệp đang tích cực hợp tác với các Viện khoa học, các Trường đại học, các
tổ chức, các Doanh nghiệp trong lĩnh vực nông lâm nghiệp đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
2.2.3.2 Ở Nam Định
Những năm gần đây, sản xuất lúa của huyện Vụ Bản gặp nhiều khó khăn
do cơ cấu giống lúa chưa đa dạng, việc áp dụng các biện pháp canh tác chưa đồng bộ và cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất còn hạn chế nên hiệu quả kinh tế không cao Sản phẩm phụ như rơm, rạ sau thu hoạch chưa được sử dụng hợp lý nên
Trang 33vừa lãng phí, vừa ảnh hưởng tới môi trường Để giải quyết những khó khăn trên, Trạm Khuyến nông huyện đã tập trung nghiên cứu, khảo nghiệm, chọn lọc các giống lúa chất lượng cao và ứng dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng lúa trên địa bàn
Được sự hỗ trợ của Sở KH và CN, Trạm Khuyến nông huyện đã triển khai thực hiện đề tài "Nghiên cứu ứng dụng một số tiến bộ khoa học công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng trong sản xuất lúa tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định" Trong đó tập trung nghiên cứu khảo nghiệm, so sánh, tuyển chọn một số giống lúa thuần có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất, chất lượng khá và ít nhiễm sâu bệnh để bổ sung vào bộ giống của huyện và thay thế những giống lúa
đã suy thoái Trên cơ sở đó, Trạm Khuyến nông huyện đã chọn một số giống tiềm năng như: QR1, TBR 27, TBR 255, DT68, Thiên Trường 750, Trân Châu hương để khảo nghiệm và đối chứng với giống BT7 Hai xã Liên Minh và Tân Khánh có tiểu vùng khí hậu đặc trưng của huyện được chọn làm điểm thực hiện các thí nghiệm Qua 4 vụ cấy khảo nghiệm, nhóm tác giả thực hiện đề tài đã nghiên cứu lựa chọn được giống DT68 và giống Trân Châu hương là 2 giống có năng suất cao và chất lượng gạo tốt để đưa vào cơ cấu giống của huyện Trong
đó, giống DT68 là giống cảm ôn, gieo cấy được ở cả 2 vụ trong năm, có thời gian sinh trưởng ngắn, khả năng chịu sâu bệnh tốt, sinh trưởng khỏe, dạng hình gọn, cây cứng, lá đòng đứng, năng suất cao Hạt gạo trong, thuôn dài, cơm mềm, dẻo, thơm thích hợp với thị hiếu người tiêu dùng Từ 2 giống lúa trên, nhóm nghiên cứu tiếp tục tiến hành các thí nghiệm áp dụng một số tiến bộ khoa học kỹ thuật
bổ trợ (các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển, yếu tố cấu thành năng suất, khả năng chống chịu điều kiện ngoại cảnh) làm cơ sở xây dựng quy trình kỹ thuật canh tác của giống lúa trên quy mô toàn huyện Nhóm nghiên cứu đã thực hiện các thí nghiệm: Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương pháp gieo sạ đến sinh trưởng, năng suất và khả năng chống chịu sâu bệnh của cây lúa; nghiên cứu so sánh, đánh giá mức độ tăng sức chống chịu của cây lúa khi sử dụng các loại phân hữu
cơ vi sinh khác nhau để thay thế phân chuồng; nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm đến năng suất lúa khi sử dụng chế phẩm phân hữu cơ được xử lý từ
Trang 34rơm, rạ thay thế phân chuồng trên giống lúa DT68 Cụ thể, giống DT68 được thí nghiệm gieo bằng 4 công thức gồm: Gieo sạ 6 trống; gieo sạ 5 trống; gieo bằng phương pháp rắc tay và gieo cấy Cũng với cách thí nghiệm lựa chọn này, nhóm nghiên cứu thực hiện 5 công thức bón phân cho lúa gồm: 850kg phân khoáng hữu cơ vi sinh VEDAGRO/ha; 10 tấn phân hữu cơ chế phẩm được xử lý từ rơm rạ/ha; 850kg phân hữu cơ Komic/ha; 850kg phân hữu cơ Sông Gianh/ha và đối chứng với công thức phổ biến là không bón phân hữu cơ và sử dụng 220kg urê + 560kg super lân + 140kg kaliclorua/ha Đồng thời nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm đến năng suất lúa khi sử dụng chế phẩm phân hữu cơ được xử lý từ rơm, rạ thay thế phân chuồng Kết quả tổng hợp qua 2 năm thí nghiệm cho thấy, phương pháp gieo sạ 5 trống, kết hợp với công thức bón phân hữu cơ chế phẩm được xử lý từ rơm rạ, cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt nhất, ít bị nhiễm sâu bệnh, khả năng chống chịu cao, cho năng suất tối đa với các chỉ số kỹ thuật như: số nhánh tối đa bình quân là 8,3 dảnh/khóm, số nhánh hữu hiệu 6,3 dảnh/khóm, số hạt chắc/bông 121,3 hạt/bông, tỷ lệ lép là 12,3%, năng suất thực thu là 48,12 tạ/ha Chất lượng gạo thơm, ngon tương đương với giống BT7 Đây
là tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, đồng bộ từ khâu chọn lọc giống, xây dựng quy trình thâm canh, kỹ thuật canh tác đầu tiên được nghiên cứu bài bản, có khả năng thích ứng cao đối với cây lúa trên địa bàn huyện Đồng chí Trần Thị Thu, Trạm trưởng Trạm Khuyến nông Vụ Bản, Chủ nhiệm đề tài cho biết: Mong muốn nghiên cứu tìm ra những giống lúa chất lượng cao phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và tập quán canh tác của người dân địa phương góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, đa dạng hóa bộ giống đã được tập thể cán bộ Trạm Khuyến nông huyện trăn trở từ nhiều năm nay Được sự hỗ trợ tích cực của Sở KH và CN, sau
2 năm thực hiện, đến nay chúng tôi đã lựa chọn giống DT68 và Trân Châu hương
để đưa vào cơ cấu giống của huyện Đồng thời nghiên cứu xây dựng quy trình thâm canh chuẩn từ thời vụ, phương pháp gieo cấy, biện pháp kỹ thuật và công thức bón phân để 2 giống lúa DT68, Trân Châu hương phát huy tối đa tiềm năng năng suất vốn có, góp phần tăng năng suất, chất lượng lúa của huyện Hiện tại, Trạm Khuyến nông huyện đang hoàn thiện thủ tục đề nghị bổ sung giống DT68,
Trang 35Trân Châu hương vào cơ cấu giống của huyện Vụ Bản và của tỉnh Hai giống lúa này có thể cấy ở trà xuân muộn, mùa sớm, mùa trung trên diện tích chân đất vàn, vàn cao
Thời gian tới, Trạm Khuyến nông huyện sẽ tiếp tục xây dựng các mô hình trình diễn tổng hợp các biện pháp kỹ thuật thâm canh giống DT68 tại một số xã trên địa bàn và tổ chức hội thảo, hội nghị đầu bờ để phổ biến quy trình canh tác, tạo điều kiện cho bà con nông dân tham khảo, học tập và đưa nhanh 2 giống lúa này vào thực tế sản xuất Đồng thời qua thực hiện đề tài nghiên cứu, cũng khẳng định hiệu quả của việc sử dụng phân hữu cơ, chế phẩm xử lý từ rơm, rạ và phân bón đa dinh dưỡng để thâm canh giống lúa DT68 nói riêng và trong toàn bộ quá trình canh tác các loại cây trồng nói chung để đáp ứng mục tiêu tiết kiệm chi phí, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và tạo ra sản phẩm an toàn
Điểm nổi bật trong lĩnh vực trồng trọt là những năm gần đây, Hải Dương
đã hình thành và phát triển sản xuất theo hướng tập trung quy mô lớn nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả Từ năm 2010, thực hiện dự án “Xây dựng, phát triển vùng giống lúa nhân dân” toàn tỉnh đã xây dựng được 416 mô hình sản xuất lúa tập trung qui mô từ 3 ha trở lên, với tổng diện tích 6.989,5 ha, trong đó có
22 mô hình có qui mô trên 50ha Năng suất tại những vùng tập trung cao hơn từ
Trang 3610-15% so với ngoài mô hình Ngoài ra, xây dựng mô hình trình diễn, mô hình khảo nghiệm lúa thực hiện 610 điểm, quy mô trên 2.643,5 ha, với 10.000 nông dân tham gia, tập trung ở các giống BT-7, HT-1, ; BG-6; Hoa Ưu-109; ĐH-18, KN-02, NSC-6, CNR-02, LHD-6, LHD-7, Thịnh Dụ-11, Hữu Gia-8, nếp cái hoa vàng, v v năng suất ngày một tăng (Sở Nông nghiệp và PTNT Hải Dương, 2013) Bên cạnh đó, trong những năm qua, công tác nghiên cứu, ứng dụng các TBKHKT thông qua thực hiện các đề tài khoa học, chương trình, dự án khoa học trong trồng trọt- BVTV cũng được quan tâm, triển khai mạnh mẽ nhiều đề tài có tính ứng dụng, mang lại hiệu quả cao trong thực tiễn như: Một số đề tài nghiên cứu được triển khai như: “Áp dụng phương pháp cấy mới theo phương pháp hàng rộng - hàng hẹp”, “Xây dựng mô hình ứng dụng đồng bộ TBKT trong sản xuất lúa
”, “Lựa chọn một số giống lúa mới chất lượng có đặc tính thơm, chống chịu bệnh đạo ôn, bạc lá và rầy nâu ”, “Xây dựng mô hình và hoàn thiện quy trình kỹ thuật trồng khoai tây, Ngô bằng biện pháp làm đất tối thiểu”, “Xây dựng mô hình sản xuất rau an toàn gắn với tiêu thụ” (Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương, 2013) Đồng thời, các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất cũng được nông dân tích cưc áp dụng như: kỹ thuật thâm canh mạ, che phủ nilon chống rét cho mạ, kỹ thuật cấy mạ non, bón phân cân đối, sử dụng công cụ gieo rải hàng, máy gặt đập liên hợp, máy cấy, mạ khay, mạ ném đã góp phần nâng cao năng suất, giảm công lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế cho nông dân và đảm bảo an ninh lương thực trong điều kiện diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp
2.2.4 Những bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Thanh Miện trong việc triển khai mô hình ứng dụng đồng bộ TBKT trong sản xuất lúa
Nghiên cứu tình hình ứng dụng mô hình đồng bộ TBKT trong sản xuất lúa
ở các nước trên thế giới và ở một số tỉnh đã ứng dụng mô hình có thể rút ra một
số bài học kinh nghiệm sau:
- Xây dựng ứng dụng mô hình đồng bộ TBKT trong nông nghiệp nói chung và trong sản xuất lúa nói riêng là một chiến lược phát triển rất cần thiết
Và cần được coi là trọng tâm trong tổ chức hệ thống nghiên cứu và phát triển nông nghiệp, nông thôn
Trang 37- Vì là mô hình sản xuất mới, việc đầu tiên cần quán triệt các tiêu chí, mục tiêu cơ bản cho các đối tượng tham gia chỉ đạo, tổ chức thực hiện Hộ nông dân tham gia mô hình được tập huấn kỹ thuật và thực hiện nghiêm túc hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật, nhằm tăng tính đồng bộ và độ đồng đều trên đồng ruộng
- Chọn vùng, chọn hộ có quy mô sản xuất đủ lớn để sản phẩm tạo ra có tính hàng hóa cao Đối với những nông dân không có điều kiện nên vận động hoán đổi để tích tụ ruộng đất, tạo sự đồng bộ, nhịp nhàng trong quá trình thực hiện mô hình
- Nên chọn những HTX mạnh, Ban Quản trị có năng lực, nhiệt tình, đồng ruộng xây dựng cánh đồng mẫu có diện tích lớn, có hạ tầng giao thông thuận lợi,
có độ phì của đất khá, chủ động trong khâu thủy lợi để phát huy tiềm năng về năng suất và chất lượng sản phẩm
- Trợ cấp cho việc ứng dụng mô hình đồng bộ TBKT chỉ nên thực hiện ở thời kỳ đầu để khuyến khích sự ứng dụng kỹ thuật mới Quá trình ứng dụng kỹ thuật tiến bộ phải đảm bảo phát huy nguồn lực của nông dân
- Hiệu quả của việc ứng dụng đồng bộ TBKT chỉ có thể đạt được khi quá trình chuyển giao có sự tham gia đầy đủ của nông dân trong xác định nhu cầu, phân tích vấn đề khó khăn, lựa chọn giải pháp, đóng góp nguồn lực, tổ chức thử nghiệm, đánh giá và hoàn thiện
- TBKT phải phù hợp với nhu cầu của người dân, thị trường, khả năng đầu
tư, kiến thức và phong tục tập quán của người dân
- Cần có sự liên kết giữa các nhà khoa học, các doanh nghiệp, chính quyền các cấp và nông dân: Các nhà khoa học xuống cơ sở chuyển giao kỹ thuật; Các doanh nghiệp cung ứng vật tư giống có chất lượng, giá cả hợp lý; chính quyền sâu sát, chỉ đạo; nông dân mạnh dạn áp dụng và tin tưởng vào tiến bộ khoa học
kỹ thuật mới
2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu chính sách khuyến khích, thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng tiến
bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp của tác giả Phạm Bảo Dương (2009) Kết quả nghiên cứu này đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc điều chỉnh và bổ
Trang 38sung hệ thống chính sách liên quan đến nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng các TBKT vào sản xuất nông nghiệp, đồng thời kết quả nghiên cứu đã đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách khuyến khích, thúc đẩy công tác nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng đồng bộ TBKT trong sản xuất nông nghiệp
Nghiên cứu về chính sách và phương thức chuyển giao kỹ thuật tiến bộ trong nông nghiệp ở miền núi và trung du phía Bắc Việt Nam của tác giả Đỗ Kim Chung (2005) Theo tác giả, phương thức chuyển giao kỹ thuật tiến bộ cho nông dân là phương pháp tiếp cận theo dự án có sự tham gia của người dân, phương pháp chuyển giao nên là phương pháp khuyến nông có sự tham gia Phương pháp này đã được kiểm nghiệm trong thực tế, được người dân tự giác chấp nhận và thể hiện tính hiệu quả, bền vững của dự án cũng như kỹ thuật tiến bộ được chuyển giao Từ phân tích kinh nghiệm thực tế tác giả đề xuất những chính sách chuyển giao kỹ thuật tiến bộ nhằm nâng cao hiệu quả của công tác khuyến nông Nhà nước, khuyến nông cơ sở, các cơ quan nghiên cứu, các chương trình dự án được tiến hành ở các vùng nông thôn
Huỳnh Thanh Chí (2004), đã phân tích hiệu quả sản xuất của các mô hình tại xã Viên An, Mỹ Xuyên, Sóc Trăng cũng cho thấy kết quả tương tự, đó là lợi nhuận của những hộ có áp dụng mô hình kỹ thuật tiến bộ tăng từ 20-30%
Nguyễn Văn Luật (2001), Viện nghiên cứu lúa ĐBSCL, kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy rằng phương pháp sạ hàng được triển khai với qui mô 10 ngàn ha tại ĐBSCL đã giúp nông dân không những tiết kiệm bình quân ít nhất 100-150kg giống/ha, mà còn tạo điều kiện tốt cho các loại cá tự nhiên trên ruộng phát triển, giảm thiệt hại do dịch bệnh và năng suất tăng khoảng 20%
Ngô Thị Phương(2013), “Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất một số cây trồng chính ở hộ nông dân trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh” Tác giả đã cung cấp và hệ thống hóa được lý luận và thực tiện về ứng dụng đồng bộ TBKT trong trồng trọt, đánh giá thực trạng ứng dụng đồng bộ TBKT trong sản xuất một số cây trồng chính tại các nông hộ trên địa bàn huyện Tiên Du, Bắc Ninh và phân tích một số nhân tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng đồng bộ TBKT trong sản xuất một số cây trồng chính tại các nông hộ trên địa bàn huyện, đồng
Trang 39thời đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường ứng dụng đồng bộ TBKT vào sản xuất một số cây trồng chính của huyện trong thời gian tới Tuy nhiên đề tài chủ yếu phân tích định tính, chưa có mô hình ứng dụng đồng bộ TBKT vào sản xuất của những cây trồng cụ thể để đánh giá tính ưu điểm, hạn chế cũng như hiệu quả kinh tế của mô hình so với sản xuất đại trà của nông dân hiện nay Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mong muốn chỉ ra rằng ứng dụng đồng bộ TBKT vào sản xuất lúa tác động đến hiệu quả sản xuất lúa, từ đó khuyến nghị nông dân trong việc thâm canh lúa và nhân rộng mô hình này
Trang 40PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
* Ví trí địa lý
Thanh Miện là một huyện đồng bằng nằm ở phía Nam của tỉnh Hải Dương trải dài từ 106°7′50″ đến 160°16′20″ kinh Đông và từ 20°40′45″ đến 20°50′55″ vĩ Bắc Trung tâm huyện cách Hà Nội 60km, cách Thành phố Hải Dương 23 km và cách Thành phố Hưng Yên 25km; Phía Đông Bắc của huyện giáp với huyện Gia Lộc, phía Đông giáp huyện Ninh Giang, phía Tây giáp huyện Phù Cừ - Hưng Yên, phía Tây Bắc giáp huyện Bình Giang, phía Đông Nam giáp huyện Quỳnh Phụ - Thái Bình
Toàn huyện có 18 xã và 1 thị trấn, trong đó thị trấn Thanh Miện nằm ở vị trí trung tâm của huyện Hệ thống đường thuỷ, đường bộ thông suốt tạo điều kiện cho phát triển sản xuất hàng hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn Đường liên tỉnh 39B chạy từ Thành phố Hải Dương qua trung tâm huyện nối với tỉnh Hưng Yên, Thái Bình đi các tỉnh phía Nam Đường 392 từ trung tâm huyện qua huyện Bình Giang đi
Hà Nội Vị trí của huyện tương đối thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp như lúa, rau đậu, quả, cá nước ngọt Ngoài ra huyện Thanh Miện có Đảo Cò ở xã Chi Lăng Nam, đây là một cảnh quan thiên nhiên đẹp, hấp dẫn khách trong huyện và ngoài huyện, ngoài tỉnh đến thăm quan
* Về đất đai địa hình
Địa hình của huyện bằng phẳng đặc trưng của vùng Đồng bằng Châu thổ sông Hồng, thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam, có cao trình cao, thấp xen kẽ nhau
Đất đai Thanh Miện được hình thành do sự bồi đắp phù sa của hệ thống sông Thái Bình và sông Hồng theo hình thức pha trộn Tuy vậy, tính chất đất đai cũng như địa hình, địa mạo đa số vẫn mang đặc tính điển hình của phù sa sông Thái Bình và có sự pha trộn giữa phù sa sông Hồng và sông Thái Bình