1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy và tính kháng thuốc của quần thể rầy lưng trắng (sogatella furcifera horvath) hưng yên năm 2014 2015

77 526 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 17,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2011 cho thấy một số loại thuốc hóa học đang được sử dụng phổ biến để trừ nhóm rầy nói chung ở một số tỉnh phía Bắc đang dần kém hiệu lực do các quần thể rầy đã bắt đầu có dấu hiệu suy g

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 2

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 2015

Tác giả luận văn

Phạm Hồng Trang

Trang 4

Cuối cùng tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn gia đình, bạn bè đã nhiệt tình ủng hộ và động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Tác giả luận văn

Phạm Hồng Trang

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục iv

Danh mục viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích, yêu cầu: 2

2.1 Mục đích 2

2.2 Yêu cầu: 3

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.2 Nghiên cứu ở ngước ngoài 6

1.2.1 Nguyên lý chung của tính kháng thuốc 6

1.2.2 Tình hình kháng thuốc của sâu hại 6

1.2.3 Sự di chuyển của rầy lưng trắng 7

1.2.4 Tính kháng thuốc, mức độ kháng và hiệu lực của thuốc trừ sâu đối với rầy lưng trắng 8

1.2.5 Các kết quả nghiên cứu về nguyên nhân và sự phát triển của tính kháng thuốc của rầy lưng trắng 15

1.2.6 Các kết quả nghiên cứu về các biện pháp giảm thiểu tính kháng thuốc của rầy lưng trắng 17

1.3 Nghiên cứu trong nước 19

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Đối tượng và vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 23

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23

2.1.2 Vật liệu, dụng cụ nghiên cứu 23

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23

Trang 6

2.3 Nội dung nghiên cứu 23

2.4 Phương pháp nghiên cứu 24

2.4.1 Điều tra hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy tại Hưng Yên 24

2.4.2 Đánh giá tính kháng đối với một số nhóm hoạt chất của các quần thể rầy lưng trắng 24

2.4.3 Phương pháp theo dõi chỉ tiêu sinh học rầy sau khi tiếp xúc với thuốc 31

2.4.4 Đánh giá hiệu lực một số thuốc hóa học với rầy lưng trắng trên đồng ruộng 32

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34

3.1 Điều tra tình hình sử dụng thuốc trừ rầy tại Hưng Yên 34

3.1.1 Tình hình sản xuất, sâu hại và sử dụng thuốc BVTV trừ rầy tại Hưng Yên 34

3.2 Đánh giá mức độ kháng của quần thể RLT Hưng yên với một số hoạt chất 45

3.3 Ảnh hưởng của một số hoạt chất đến chỉ tiêu sinh học của rầy sau thử thuốc 50

3.4 Đánh giá hiệu lực của một số thuốc hóa học đối với rầy lưng trắng trên đồng ruộng 52

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54

Kết luận 54

Kiến nghị 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

Trang 7

DANH MỤC VIẾT TẮT

BVTV Bảo vệ thực vật

CF Correction factor

DTT 1,4-dithiothreitol

FAO Food and agriculture organization of the United nationals

IRRI International rice research institute

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Số bảng Tên bảng Trang 3.1 Các giống lúa trồng phổ biến tại tỉnh Hưng Yên năm 2013 34 3.2 Các giống lúa có biểu hiện tính kháng rầy nâu và rầy lưng trắng của tỉnh Hưng Yên năm 2013 35 3.3 Thứ tự các loài sâu rầy quan trọng nhất trong những năm gần đây 37 3.4 Số loại thuốc thương phẩm và số loại hoạt chất thuốc trừ nhóm rầy trên lúa đã được nông dân sử dụng tại tỉnh Hưng Yên năm 2013 38 3.5 Các loại thuốc trừ rầy được dùng nhiều nhất từ 2003 đến nay tỉnh Hưng Yên 40 3.6 Nồng độ phun thuốc trừ sâu trong một vụ lúa tại Hưng Yên 41 3.7 Ý kiến của nông dân về kỹ thuật sử dụng thuốc BVTV tại tỉnh Hưng Yên 42 3.8 Ý kiến của nông dân về hiệu quả sử dụng thuốc và cách khắc phục sự giảm hiệu lực của thuốc tại tỉnh Hưng Yên 44 3.9 Số lần phun thuốc trừ sâu trong một vụ lúa tại Tỉnh Hưng Yên 45

3.10 Mức độ kháng của quần thể rầy lưng trắng (Sogatella furcifera)

Hưng Yên với một số hoạt chất năm 2014 46

3.11 Mức độ kháng của quần thể rầy lưng trắng (Sogatella furcifera)

Hưng Yên với một số hoạt chất năm 2015 47

3.12 Mức độ kháng của quần thể rầy lưng trắng (Sogatella furcifera) Hưng

Yên với hoạt chất Imidacloprid, Fenobucarb năm 2014 và 2015 49

3.13 Mức độ kháng của quần thể rầy lưng trắng (Sogatella furcifera)

Hưng Yên với hoạt chất Thiosultap- sodium theo phương pháp nhỏ giọt và nhúng thân 50 3.14 Ảnh hưởng của các hoạt chất thuốc trừ sâu đến tỷ lệ giới tính và sự

hình thành cánh của quần thể rầy lưng trắng (Sogatella furcifera) 51 3.15 Hiệu lực trừ rầy lưng trắng (Sogatella furcifera) trên đồng ruộng 52

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

STT Tên hình Trang

2.1 : Thu bắt rầy lưng trắng tại Hưng Yên 24

2.2 Nhân nuôi nguồn rầy trong lồng lưới lớn 25

2.3 Nhân nuôi nguồn rầy trong lồng mica 26

2.4 Dụng cụ pha thuốc 27

2.5 Các thao tác tiến hành thí nghiệm nhỏ thuốc 29

2.6: Thao tác nhúng thân lúa và theo dõi thí nghiệm nhúng thân 31

2.7 Thí nghiệm nuôi sinh học 31

2.8 : Thí nghiệm hiệu lực phòng trừ rầy lưng trắng Hưng Yên 32

3.1 Chủng loại hoạt chất trừ sâu được sử dụng để phòng trừ sâu hại trên lúa từ năm 2003 đến nay tại tỉnh Hưng Yên 38

3.2 Pha trưởng thành của rầy lưng trắng 51

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây lúa là một trong 3 cây lương thực chủ yếu của nhân loại (lúa mỳ, lúa, ngô) Cây lúa có nguồn gốc nhiệt đới, dễ trồng và cho năng suất cao Hiện nay, trên thế giới có khoảng 100 nước trồng lúa và tập trung chủ yếu ở Châu Á và 85% sản lượng lúa của thế giới thuộc 8 nước: Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, Việt Nam, Thái Lan, Myanmar và Nhật Bản

Ở Việt Nam, cây lúa là cây lương thực chủ yếu và có ý nghĩa lớn trong nền kinh tế quốc dân và xã hội Năng suất và sản lượng trong những năm qua tăng nhưng không ổn đinh Hàng năm, ngoài tác hại do thiên tai, cây lúa còn bị rất nhiều đối tượng gây hại làm giảm năng suất và sản lượng như sâu, bệnh hại, chuột, cỏ dại đặc biệt ngày càng có nhiều dịch bệnh xảy ra thường xuyên hơn đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất, chất lượng lúa

Ở Việt Nam, trong 5 năm, từ 1999-2003, rầy nâu và rầy lưng trắng vẫn là

1 trong 3 nhóm dịch hại nguy hiểm nhất trên lúa (Nguyễn Văn Đĩnh, 2004) Theo

số liệu của Cục Bảo vệ thực vật (BVTV), trong những năm 1999-2003, diện tích lúa bị hại do rầy nâu và rầy lưng trắng gây ra trong cả nước là 408.908,4ha, trong khi đó diện tích bị hại nặng là 34.278,4ha, diện tích mất trắng là 179.175ha Như vậy diện tích lúa bị hại và bị hại nặng do rầy nâu gây ra xếp hạng thứ 3 trong 9 loài dịch hại chủ yếu, nhưng diện tích mất trắng đứng thứ 4 Đặc biệt, trong 5 năm, 2006-2013, diện tích lúa bị hại do rầy nâu và rầy lưng trắng gây ra trong cả nước đã lên đến 597.392ha, trong đó diện tích bị hại nặng là 79.343ha, diện tích mất trắng là 259ha (cao hơn rất nhiều so với giai đoạn 1999-2003)

Thực tế biện pháp sử dụng thuốc hóa học vẫn đang là biện pháp được sử dụng rất phổ biến và hiệu quả phòng trừ rầy nâu và rầy lưng trắng đã mang lại hiệu quả phòng trừ cao, giải quyết nhanh nhiều trận dịch lớn Tuy nhiên quá lạm dụng vào thuốc hóa học đã mang lại những hậu quả không mong muốn như: Gây

ô nhiễm môi trường, tiêu diệt các loài thiên địch và đặc biệt gây hiện tượng

Trang 11

kháng thuốc của rầy nâu khiến việc phòng trừ chúng đã khó khăn càng trở nên khó khăn hơn nữa

Tính kháng thuốc của rầy lưng trắng với nhóm Neonicotinoid (chủ yếu là thuốc Imidacloprid) được ghi nhận đầu tiên ở Thái Lan năm 2003, sau đó là ở

một loạt các nước châu Á như Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản (Matsumura et

al., 2013) Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về tính kháng thuốc của rầy lưng trắng đối với nhiều hoạt chất như Cacbamat, lân hữu cơ, Buprofezin…điều này càng đặt ra tầm quan trọng của việc nghiên cứu tính kháng thuốc của RLT tại Việt Nam

Tại Việt Nam theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Me và cs (2001), Lê Thị Kim Oanh và cs (2011) cho thấy một số loại thuốc hóa học đang được sử dụng phổ biến để trừ nhóm rầy nói chung ở một số tỉnh phía Bắc đang dần kém hiệu lực do các quần thể rầy đã bắt đầu có dấu hiệu suy giảm tính mẫn cảm đối với thuốc hóa học Tính kháng thuốc của rầy lưng trắng đã được ghi nhận ở một số nước Châu Á như : Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Philippin và cả Việt Nam…Một vấn đề đặt ra là chúng ta cần phải đánh giá mức độ kháng của quần thể rầy lưng trắng với các thuốc hóa học đang được sử dụng trên đồng ruộng từ

đó đưa ra biện pháp nên sử dụng loại, nhóm thuốc nào, liều lượng ra sao để tránh việc lạm dụng thuốc hóa học gây ra hiện tượng kháng thuốc ở rầy lưng trắng

(Sogatella furcifera)

Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Hiện trạng sử dụng thuốc

trừ rầy và tính kháng thuốc của quần thể rầy lưng trắng Sogatella furcifera Hưng Yên năm 2014 - 2015”

2 Mục đích, yêu cầu:

2.1 Mục đích

Nắm được hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy tại Hưng Yên Xác định tính kháng thuốc của quần thể rầy lưng trắng (RLT) ở tỉnh Hưng Yên từ đó đề xuất biện pháp sử dụng thuốc trừ sâu có hiệu quả trong quản lý tổng hợp rầy hại thân nói chung và rầy lưng trắng nói riêng theo hướng hiệu quả, an toàn nhằm làm giảm mức độ kháng thuốc của rầy lưng trắng

Trang 12

2.2 Yêu cầu:

- Điều tra tình hình sử dụng thuốc BVTV ở tỉnh Hưng Yên

- Xác định được tính kháng đối với một số nhóm hoạt chất của các quần thể rầy lưng trắng

- Xác định một số đặc điểm sinh vật học của rầy lưng trắng sống sót sau khi tiếp xúc với thuốc

- Đánh giá hiệu lực 1 số thuốc hóa học trên đồng ruộng đối với RLT

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Cũng như các loài sâu hại khác trên đồng ruộng, tính kháng thuốc là một đặc điểm nổi bật và quan trọng của sâu hại lúa nói chung và rầy lưng trắng nói riêng Đây là đặc điểm mang tính di truyền, thể hiện phản ứng chọn lọc của chúng với tác động (hóa chất trừ sâu) của môi trường Hiện tượng kháng thuốc của sâu hại xuất hiện khi việc sử dụng các loại thuốc diệt trừ chúng trở nên quá lạm dụng

Đặc biệt trong thời gian từ đầu thập niên 90 thế kỷ 20 trở lại đây, khi các

giống lúa lai xuất hiện và phát triển rộng rãi thì rầy lưng trắng (Su et al., 2013)

Nếu rầy lưng trắng có tác hại trực tiếp là chích hút nhựa cây vào giai đoạn lúa trổ bông thì chúng sẽ làm cho số lượng bông và chiều dài bông giảm, hạt lúa bị lép, lửng và làm chậm quá trình chín của hại Rầy lưng trắng còn là môi giới truyền virus gây bệnh lùn sọc đen phương Nam theo cơ chế truyền tái bền vững với khả năng truyền bệnh rất cao

Khi quần thể dịch hại chịu tác động lặp đi lặp lại của một loại thuốc trừ sâu trong nhiều thế hệ nối tiếp nhau thì từ thế hệ này sang thế hệ khác đó xảy ra một quá trình chọn lọc; những cá thể có mang sẵn những gen kháng thuốc còn được gọi là gen tiền thích ứng sẽ tồn tại, sản sinh ra những cá thể của thế hệ sau mang tính kháng thuốc, hình thành nên một nòi kháng thuốc (Nauenl and Denholm, 2005)

Trên đồng ruộng, tốc độ phát triển tính kháng thuốc của sâu hại nói chung

và rầy lưng trắng nói riêng phụ thuộc vào các yếu tố: đặc điểm di truyền và sinh học của loài sâu hại; đặc trưng của các loại thuốc sử dụng trên đồng ruộng; cường độ sức ép chọn lọc Đối chiếu các yếu tố này với đặc điểm của rầy lưng trắng và tình hình phát sinh gây hại của chúng ở Hưng Yên có thể thấy:

Thuốc hóa học trừ rầy đã được sử dụng tràn lan, nhiều lần/vụ, không tuân thủ đúng hướng dẫn sử dụng, tăng liều lượng gấp nhiều lần… trong thời gian qua nên khả năng kháng thuốc của rầy lưng trắng là rất lớn

Trang 14

Các loài côn trùng đã phát triển tính kháng với tất cả các nhóm thuốc trừ sâu hữu cơ: Đầu tiên là các thuốc clo, lân hữu cơ và cacbamat, thì nay các nhóm thuốc mới giết côn trùng trực tiếp như pyrethroid, formamidin, neonicotenic v.v các chất triệt sản, các chất điều khiển sinh trưởng côn trùng Insect Growth Regulator (IGR) cũng đã hình thành tính kháng Nhiều loài côn trùng và nhện, không những kháng một loại thuốc hay các thuốc trong cùng một nhóm hoá học,

mà còn kháng cả nhiều thuốc thuộc các nhóm khác nhaus cả về cơ chế và phương thức tác động Có ít nhất có 17 loài phát triển tính kháng với tất cả các nhóm thuốc trừ sâu chủ yếu

Các biện pháp hạn chế tính kháng thuốc đều dựa trên nguyên tắc phải tìm cách giảm sức ép chọn lọc của sâu hại đối với thuốc Trên quan điểm cho rằng hiện tượng kháng thuốc là một quá trình chọn lọc, rõ ràng sự chọn lọc sẽ xảy ra càng mạnh (cường độ sức ép chọn lọc lớn) khi số lần phun thuốc/vụ/năm càng nhiều, nồng độ liều lượng thuốc dùng càng cao, quy mô dùng thuốc càng rộng Trong những điều kiện như vậy, những quần thể dịch hại sẽ phải trải qua một quá trình chọn lọc khắc nghiệt từ đó đẩy nhanh tốc độ phát triển và cường độ kháng thuốc của chúng Con người có thể chủ động tác động đến yếu tố cường độ sức

ép chọn lọc để giảm thiểu tốc độ hình thành và phát triển tính kháng thuốc của sâu hại nói chung và rầy lưng trắng nói riêng

Biện pháp sử dụng thuốc hoá học cũng dần trở nên kém hiệu quả trong việc quản lý phòng trừ các loài dịch hại phổ biến Nguyên nhân là do các loài dịch hại có khả năng sinh sản nhanh và phát triển mạnh, vòng đời ngắn, trong một năm có nhiều lứa và đặc biệt chịu áp lực chọn lọc thuốc hóa học rất cao do

Trang 15

1.2 Nghiên cứu ở ngước ngoài

1.2.1 Nguyên lý chung của tính kháng thuốc

Khái niệm tính kháng thuốc

Theo định nghĩa của WHO (1976): Kháng thuốc là sự giảm tính mẫn cảm của một quần thể động thực vật với một loại thuốc BVTV, sau một thời gian dài (trong quá trình sản xuất, bảo quản), quần thể này liên tục tiếp xúc với nhóm thuốc đó, khiến cho loài sinh vật ấy chịu được lượng thuốc lớn có thể tiêu diệt hầu hết các cá thể cùng loài chưa chống thuốc Khả năng này của dịch hại có thể

di truyền qua đời sau, dù các cá thể đời sau có thể không tiếp xúc với thuốc đó Tính kháng thuốc là một sự thay đổi tính mẫn cảm đối với các hoạt chất của thuốc có khả năng di tuyền của một quần thể sâu hại, được thể hiện trong sự

vô hiệu của chất đó với côn trùng, mà đúng ra sẽ đạt được mức phòng trừ mong đợi khi sử dụng theo khuyến cáo trên nhãn cho loài sâu hại đó (Irac, 2013)

Cơ chế kháng thuốc của côn trùng

- Thay đổi về cấu trúc lipid, sáp và protein trong cutin hoặc gia tăng kết cấu

biểu bì để hạn chế sự xâm nhập của thuốc vào cơ thể sinh vật hoặc cơ thể côn trùng tự hạ thấp sự hấp phụ chất độc ở màng tế bào

- Phản ứng chống chịu sinh lý thay đổi do cơ thể có thể xuất hiện lớp lipid mới ngăn thuốc xâm nhập vào thần kinh trung tâm của côn trùng hoặc hệ men của côn trùng bị kém mẫn cảm làm cho thuốc mất tác dụng

- Hình thành những tập tính mới nhằm ngăn ngừa hoặc hạn chế sự tiếp xúc của côn trùng với thuốc Những thay đổi bao gồm sự giảm xu hướng bay vào vùng sử dụng hóa chất hay tránh xa khỏi bề mặt có hóa chất

- Cơ chế chống thuốc quan trọng nhất, phổ biến nhất là sự tăng cường giải độc của thuốc hoặc làm giảm hoạt tính của thuốc bằng những quá trình chuyển hóa, phân giải theo nhiều con đường khác nhau như: oxy hóa, thủy phân, hydro hóa, khử clo, ankyl hóa

1.2.2 Tình hình kháng thuốc của sâu hại

Hiện tượng kháng thuốc Bảo vệ thực vật (BVTV) của dịch hại được phát hiện ở hầu hết quần thể sinh vật Nhưng do côn trùng và nhện đẻ nhiều và nhanh,

Trang 16

vòng đời ngắn, nhiều thế hệ được sinh ra trong vụ/năm, nên tính kháng thuốc được hình thành mạnh nhất và được nghiên cứu nhiều nhất Đến đầu những năm 80 của thế kỷ 20, người ta đã phát hiện 447 loài côn trùng và nhện (trong đó có 264 loài côn trùng và nhện hại nông nghiệp); trên 100 loài nấm và vi khuẩn; khoảng 50 loài

cỏ dại đã hình thành tính kháng

Các loài côn trùng đã phát triển tính kháng với tất cả các nhóm thuốc trừ sâu hữu cơ: Đầu tiên là các thuốc clo, lân hữu cơ và cacbamat, thì nay các nhóm thuốc mới giết côn trùng trực tiếp như pyrethroid, formamidin, neonicotenic

v.v (Gou et al., 1998), các chất triệt sản, các chất điều khiển sinh trưởng côn

trùng IGR cũng đã hình thành tính kháng

1.2.3 Sự di chuyển của rầy lưng trắng

Khả năng di chuyển là một trong những đặc điểm gây nên hiện tượng kháng thuốc của rầy lưng trắng, đây 1 đặc điểm rất quan trọng của rầy lưng trắng trên đồng ruộng, cường độ, màu sắc ánh sáng đèn và nhiệt độ, ẩm độ và áp xuất khỉ quyển quyết định việc phát tán của rầy lưng trắng, quá trình xâm nhập, di cư của rầy có tính định hướng vào đồng lúa Khoảng cách di chuyển, hướng di chuyển của chúng phụ thuộc vào tốc độ, hướng gió (Kisimoto, 1976)

Nhóm rầy lưng trắng có khả năng di chuyển với khoảng cách rất xa, chúng

có khả năng di chuyển từ phía Bắc Việt Nam tới phía Nam Trung Quốc và từ đó chúng di cư đến Nhật Bản và Hàn Quốc

Ở Nhật Bản, rầy lưng trắng Sogatella furcifera không thể qua đông Vì thế

hàng năm xuất hiện các chuyến di cư đường dài ở lục địa châu Á, đây là điều đặc biệt của loài này Thời gian di cư diễn ra từ tháng 6 đến tháng 7 Ở thế hệ đầu tiên sau nhập cư đạt mật độ cao nhất và giảm dần ở các thế hệ tiếp theo (Kisimoto, 1976)

Sự di cư diễn ra giữa các khu vực nhiệt đới và các khu vực ôn đới của châu Á vào suốt mùa xuân và mùa hè Một mô hình được gọi là BLAYER đã

được áp dụng để dự báo sự di cư của các quần thể rầy lưng trắng Sogatella

furcifera từ Trung Quốc sang Hàn Quốc Khu vực di cư vào đầu mùa là khu vực Đông Nam Trung Quốc (25 ºNam, 115 º Đông) Vào cuối mùa sự di cư có thể bắt

Trang 17

nguồn từ khu vực phía Bắc nhiều hơn (30 ºBắc) Chúng có thể bay với độ cao

thay đổi từ 500 đến 2000 m, thời gian bay dao động từ 24 đến 45 giờ (Turner et

1.2.4 Tính kháng thuốc, mức độ kháng và hiệu lực của thuốc trừ sâu đối với rầy lưng trắng

Nagata and Masuda (1980), Tang et al., (2010) đã tiến hành so sánh tính

mẫn cảm của các quần thể rầy lưng trắng ở 2 vùng nhiệt đới và ôn đới (vùng nhiệt đới là Thái Lan và Philippies, còn ôn đới là Nhật Bản và Đài Loan) với 8 loại thuốc trừ sâu thì thấy rằng các quần thể rầy lưng trắng ở Thái Lan và Philippines mẫn cảm với thuốc sâu hơn quần thể rầy ở Nhật Bản; hơn nữa chúng sinh sản ra tỷ lệ cánh ngắn cao hơn quần thể rầy ở Nhật Bản khi nuôi trên mạ Điều này cho thấy rằng giữa các quần thể rầy của vùng ôn đới và nhiệt đới có sự khác nhau về sinh lý và sinh thái

Theo Ozaki and Kassai (1982) khi nghiên cứu, theo dõi giá trị LD50 của các hoạt chất thuốc trừ sâu đối với quần thể rầy lưng trắng ở khu vực Sikoku, Nhật Bản Khi so sánh kết quả năm 1976 và năm 1979 cho thấy giá trị LD50 của hoạt chất Malathion tăng 24 lần, thuốc Fenthion tăng 14 lần, trong khi đó giá trị này chỉ tăng nhẹ với 6 nhóm thuốc thuộc nhóm lân hữu cơ và Carbamate.(Trích theo Nagata, 2002)

Cơ chế kháng thuốc của rầy lưng trắng với thuốc Malathion và MTMC (Metolcarb) là hoạt động thoái biến với Malathion và Malaxon, còn cơ chế kháng MTMC là do sự giảm mức độ nhạy cảm của enzym Acetycholinesterase với

thuốc (Endo et al., 1988)

Endo et al., (1988) đã nghiên cứu tính mẫn cảm của rầy lưng trắng S

furcifera , và rầy nâu Nilaparvata lugens Stal thu được năm 1980 và 1987 với 16

Trang 18

loại thuốc trừ sâu và cho rằng độ mẫn cảm của rầy lưng trắng với nhóm thuốc

chứa hợp chất lân hữu cơ và cacbamate; p,p’- DDT có xu hướng giảm theo các

năm (năm 1987 so với năm 1980) Nhưng độ mẫn cảm với Lindane thì hầu như không thay đổi (1967 so với năm 1987)

Endo et al., (1988) đã cho rằng: Độ mẫn cảm của rầy lưng trắng đối với

p,p’ – DDT của năm 1980 giảm nhiều so với năm 1967, nhưng với các thuốc khác thì độ mẫn cảm không thay đổi nhiều năm 1987 độ mẫn cảm của rầy lưng trắng với malathion và fenitrothion chỉ giảm có 1/50 và 1/69 so với năm 1967 Sự phát triển tính kháng của rầy lưng trắng với các hợp chất lân hữu cơ qua 7 năm (1980 – 1987) được cho là nhanh hơn so với thời gian trước 13 năm (1980 – 1967) Độ mẫn cảm của rầy lưng trắng với các thuốc thuộc nhóm Carbamate

giảm từ 1/10 đến 1/6 trong năm 1987 Độ mẫn cảm của rầy lưng trắng với p,p’ –

DDT năm 1987 giảm khoảng 1/10 so với năm 1967 Tuy nhiên, độ mẫn cảm với Lindane hầu như ko thay đổi từ năm 1967-1987 Đồng thời, với hợp chất lân hữu

cơ thì hệ số của giá trị LD50 của rầy nâu so với rầy lưng trắng năm 1967 là 3.5 –

13, còn năm 1980 là 13 - 48 (khoảng cách tương đối lớn) và cuối cùng là năm

1987 với hệ số nhỏ hơn 1 Với Carbamate, hệ số là 2.6 – 4.3 năm 1980, và tương đối nhỏ vào năm 1987 (0.42 – 1.9) Sự phát triển tính kháng của rầy lưng trắng chậm hơn rầy nâu

Mức độ mẫn cảm của rầy lưng trắng S furcifera và rầy nâu N lugens đối

với 13 loại thuốc được theo dõi theo phương pháp chuẩn Kết quả theo dõi trongnăm 1987- 1991cho thấy: Rầy lưng trắng và rầy nâu mẫn cảm nhất đối với hoạt chất carbofuran và thấp nhất đối với malathion Các giá trị LD50 có sự dao động giữa các năm của hai loại rầy này.Sự phát triển tính kháng trong quần thể rầy lưng trắng nhanh hơn so với quần thể rầy nâu Khi so sánh giá trị LD50 của một số thuốc trừ sâu, rầy lưng trắng quần thể ở Chiết Giang có tính kháng tăng lên 110,56 lần đối với hoạt chất malathion và 48,90 lần đối với hoạt chất Fenitrothion, rầy nâu có tính kháng tăng 11,61 lần đối với hoạt chất malathion,6.11 lần đối với fenitrothiontại cùng một phương pháp theo dõi (Mao, 1992)

Trang 19

Khi nghiên cứu về mức độ mẫn cảm của rầy lưng trắng S furcifera Horvath và rầy nâu Nilaparvata lugens Stal đối với 13 hoạt chất thuốc trừ sâu

trong 4 năm (1987-1991) tại Trung Quốc, Mao Lixin đã cho những kết quả như sau: Rầy lưng trắng và rầy nâu mẫn cảm nhất đối với hoạt chất Carbofuran và thấp nhất đối với Malathion Giá trị LD50 của một số hoạt chất thuốc trừ sâu so với kết quả nghiên cứu của Nagata (1967) thấy rằng quần thể rầy lưng trắng ở Chiết Giang năm 1990 có tính kháng tăng lên 110,56 lần đối với hoạt chất Malathion và 48,90 lần đối với hoạt chất Fenitrothion, còn rầy nâu có tính kháng tăng 11,61 lần đối với hoạt chất Malathion, 6.11 lần đối với Fenitrothion ( Mao, 1992)

Đối với rầy lưng trắng: vòng đời, giới tính, tập tính di cư và dạng cánh là những nhân tố xác định tốc độ tính kháng thuốc Độ mẫn cảm với thuốc sâu của rầy còn chịu ảnh hưởng rõ rệt bởi mức độ kháng của rầy với cây kí chủ Rầy nuôi trên giống kháng vừa mẫn cảm với thuốc hơn là nuôi trên giống nhiễm Dạng cánh dài của rầy nâu và rầy lưng trắng có trị số LD50 cao hơn dạng cánh ngắn từ

2 đến 10 lần (Nagata and Masuda, 1980) Theo Nagata and Masuda (1980) thì tính kháng thuốc của các loài rầy di cư vào Nhật Bản có quan hệ với sức ép chọn lọc của quần thể rầy ở trong nước có nguần gốc nhập cư; hơn nữa cấu tạo hóa học của một loại thuốc và mức độ sử dụng thường xuyên cũng là những nhân tố ảnh hưởng đến tốc độ phát triển tính kháng thuốc của côn trùng Trong 3 nhóm thuốc có gốc Clo hữu cơ, Lân hữu cơ, Carbamate được sử dụng trong 10 năm (1961 – 1971) ở Nhật Bản thì rầy lưng trắng và rầy nâu có tốc độ phát triển tính kháng thuốc không tăng, còn rầy xám thì tăng khá nhanh

Theo Suzuki et al., (1995) rầy non tuổi 3 của rầy lưng trắng chết khi lột

xác nếu phun 0,075% Buprofezin hoặc quần thể bị hạn chế số lượng khi sống trên cây có phun 0,075% Buprofezin Thuốc hóa học có ảnh hưởng đến quần thể

và số lượng rầy lưng trắng

Theo Endo and Tsurumachi (2001) đã nghiên cứu và tổng kết từ các nghiên cứu khác trước đó cho thấy: Giá trị LD50 của quần thể rầy lưng trắng Thái

Lan năm 1977 với p,p’- DDT và Lân hữu cơ nhỏ hơn so với quần thể rầy lưng

Trang 20

trắng Nhật Bản (1976) (lần lượt là l/24 lần, 1/5 – 1/12 lần) Đối với p,p’ – DDT

thì giá trị LD50 của quần thể rầy lưng trắng Nhật Bản (1988) cao hơn quần thể rầy lưng trắng ở Indonesia (1988) (1/5 lần) Đối với Malathion, giá trị LD50 của quần thể rầy lưng trắng Malaysia (năm 1989 và 1990) lớn hơn (4 và 7 lần) so với quần thể Nhật Bản

Việc cấm sử dụng BHC ở Trung Quốc dẫn đến việc sử dụng các thuốc Lân hữu cơ đã làm cho tính kháng thuốc của rầy với nhóm thuốc này tăng lên nhanh chóng Đến thập kỷ 80 của thế kỷ 20, các nghiên cứu tại Trung Quốc cho biết sau 7 năm sử dụng, giá trị LD50 của thuốc BHC tăng 22 lần, Monocrotophos tăng 78 lần, Methamidophos tăng 13 lần, Carbaryl tăng 39 lần, Isoprocarb tăng

34 lần và Deltamethrin tăng 15 lần Hai loại thuốc có tác dụng tiếp xúc là Fenitrothion và Malathion ít được sử dụng phòng trừ rầy lưng trắng và rầy nâu trên ruộng lúa nhưng lại được dùng nhiều để trừ bọ trĩ, sâu cuốn lá, sâu đục thân…nên rầy lưng trắng và rầy nâu đó bị sức ép chọn lọc do thuốc và giá trị

LD50 tăng cao ở Nhật Bản (Nagata, 2002)

Theo báo cáo ở Nhật Bản, rầy lưng trắng không có dấu hiệu kháng thuốc cho đến năm 1980 Nhưng tính kháng được phát triển giữa những năm 1980 và

1984 Cũng ở Trung Quốc, xác định LD50 của rầy lưng trắng tại ba địa điểm với

12 loại hoạt chất thuốc trừ sâu trong năm 1987,1988,1989,1992 và 1994 và xác định LD50 của rầy nâu năm 1992,1994 và 1995 với 9 loại hoạt chất từ 4 địa điểm thì mức kháng thuốc của rầy lưng trắng có những biến đổi Nhưng nhìn chung là tương tự với mức kháng của quần thể rầy tại Nhật Bản Tuy nhiên điều đáng chú

ý là sự thay đổi khá lớn về giá trị LD50 của nhóm hoạt chất gốc Lân hữu cơ trong khoảng 7 năm (1987- 1994) ) Giá trị LD50 dao động từ 0.7 ~ 54.8 µg/g đối với hoạt chất monocrotophos, 48.4 ~ 147.7 8 µg/g đối với Melathion, 2.4 ~ 31.1 µg/g với Methamidophos, 10.0 ~ 77.8 µg/g với Fenitrothion Sự thay đổi quá lớn trong khoảng 7 năm, đặc biệt là monocrotophos (78 lần), Methamidophos (13 lần) (Nagata, 2002)

Một nghiên cứu so sánh về mức độ mẫn cảm với một số thuốc hoá học của hai loài rầy hại lúa là rầy nâu và rầy lưng trắng đã được tiến hành năm 2005 -

Trang 21

2007 tại Nhật Bản Kết quả cho thấy tính mẫn cảm của hai loài rầy với thuốc đã giảm đi so với trước đó Các giá trị LD50 của các quần thể rầy nâu và rầy lưng trắng thu thập từ năm 2005 - 2007 với 7 loại thuốc trừ rầy được dùng phổ biến (Malathion, Fenitrothion, MIPC, BPMC, Carbaryl, Etofenprox và Imidacloprid) được đem so sánh với các kết quả thu được trước năm 2001 Cho thấy, nhìn chung không có sự thay đổi lớn về tính kháng thuốc của các loại rầy, ngoại trừ có

sự tăng lên giá trị LD50 của rầy nâu với thuốc Imidacloprid diễn ra từ năm 1990 đến năm 2007 Giá trị LD50 của quần thể rầy nâu thu thập năm 2000 cao gấp 10 lần so với quần thể rầy nâu thu thập năm 1999 Xu hướng này tiếp tục diễn ra đến năm 2005 Từ năm 2006, giá trị LD50 tăng lên rất cao đối với thuốc Imidacloprid Ngược lại, giá trị LD50 của rầy lưng trắng vẫn thấp cho đến năm 2007 Mặc dù không có các thông số trước đây về LD50 đối với thuốc Dinotefuran, Fipronil và Thiamethoxam nhưng các giá trị này của rầy lưng trắng với thuốc Fipronil và của rầy nâu với thuốc Thiamethoxam cũng tăng khoảng 10 lần trong thời gian từ 2005- 2007 Giá trị LD50 của rầy nâu với thuốc Dinoterfuran trong năm 2005-

2007 thấp hơn so với thuốc Imidacloprid cho thấy không có tính kháng chéo giữa

Imidacloprid và Dinotefuran (Matsumura et al., 2009)

Bao et al., (2009) đã tiến hành thử nghiệm hiệu lực của các loại thuốc Lân

hữu cơ và thuốc có nguồn gốc thảo mộc ở Pakistan với rầy lưng trắng cho kết luận: thuốc Lân hữu cơ có hiệu lực cao nhất (93,15%), sau đó là Methidathion (89,16%), Nicotin (61,63%) và cuối cùng là dầu Neem (33,39%)

Tang et al., (2010) cũng đã tiến hành thử 6 loại thuốc ở Ấn Độ với trứng

rầy lưng trắng thì chỉ có Phosphamidon 0,05% và Fenvalerate 0,005% là có tác dụng làm giảm khả năng sinh sản của rầy cái và duy nhất có Phosphamidon 0,05% là có khả năng diệt trứng rầy lưng trắng

Thuốc hóa học có ảnh hưởng đến quần thể và số lượng rầy lưng trắng Ở Pakistan (1991), các loại thuốc Chlopyriphos và carbosulphal có hiệu lực cao và kéo dài trong 5 ngày đối với rầy lưng trắng, ngoài ra dầu xoan, dầu luyn cũng có tác dụng trừ rầy lưng trắng, chỉ có Phosphamilon 0,05% có khả năng diệt trứng,

Trang 22

ngoài ra Phosphamilon 0,05% và Fenvalirate 0,045% có tác dụng làm giảm sinh sản của rầy cái (dẫn theo Nguyễn Ngọc Tuấn, 2012)

Vào giữa những năm 90, để phòng trừ rầy thì các loại thuốc thuộc nhóm neoticotinoid và phenylpyrazole (chủ yếu là imidacloprid và fipronil) đã được sử dụng ở nhiều nước Đông Á, Indonexia và Trung Quốc Ở mỗi quốc gia thì sẽ có các phương pháp sử dụng thuốc trừ sâu khác nhau Tại Nhật Bản, Imidacloprid

và fipronil được dùng riêng cho cây non để phòng trừ rầy Còn ở Việt Nam và Trung Quốc thường dùng thuốc trừ sâu bằng cách phun trên đồng ruộng Chính

vì thế, vào khoảng giữa khi thuốc bắt đầu được sử dụng thì mật độ các quần thể rầy lưng trắng và rầy nâu giảm đáng kể Tuy nhiên từ năm 2005, rầy nâu và rầy lưng trắng di cư vào Nhật Bản đã làm phát triển tính kháng thuốc đối với các hoạt chất Imidacloprid và Fipronil Rầy lưng trắng kháng lại các thuốc trừ sâu thuộc nhóm hoạt chất neonicotinoid và phenylpyrazole và đã được kiểm chứng bằng phương pháp có độ chính xác cao Bởi vậy, tính mẫn cảm với thuốc trừ sâu của rầy nâu và rầy lưng trắng thu thập từ các nước Đông Á và Đông Nam Á đã được xác định và đối chiếu Từ đó cho thấy ở các nước trong khu vực Đông Nam

Á, rầy lưng trắng đang có xu hướng kháng với hoạt chất Fipronil, hiện tượng này được giải thích là do Fipronil đã được sử dụng để phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ vào giai đoạn cây lúa làm đòng Đây cũng là thời điểm phát triển của rầy lưng trắng, chính vì vậy việc sử dụng thuốc hóa học thuộc nhóm này để trừ rầy lưng trắng

không phổ biến nhưng tính kháng thuốc Fipronil vẫn phát triển (Matsumura et

Trang 23

Qianshan) 2 quần thể đến từ Nanning và Naxi có độ mẫn cảm thấp đối với hoạt chất Imidacloprid 7 trong 25 quần thể (28%), đến từ Hejiang, Guilin, Jiangpu, Yixing, Minqing, Changsha và Qianshan cho thấy tính kháng mạnh đối với hoạt chất Imidacloprid 10 quần thể (40%) có tính kháng thấp đối với hoạt chất này

Còn lại các quần thể khác (32%) thì vẫn mẫn cảm với hoạt chất này (Su et al.,

2013)

Matsumura et al (2013) đã nghiên cứu 17 quần thể rầy lưng trắng ở Nhật

Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Philipines và cho biết ở hầu hết tất cả quần thể rầy lưng trắng thu từ Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam và Philippines có khoảng giá trị LD50 (19.7 – 239 µg.g-1, 24h sau xử lý) cho fipronil rộng hơn một vài quần thể từ Philippine (0.3 – 5.9 µg.g-1) và Trung Quốc (3.0 µg.g-1) Ở 48 và 72h sau xử lý, giá trị LD50 giảm, nhưng một số vẫn còn lớn ở 48h sau xử lý Độ dốc của đường quy hồi <1, ngoại trừ 1 quần thể rầy ở Philippines (Philippines-IS) sau 24 giờ sau xử lí Đối với hoạt chất imidacloprid, tất cả các quần thể rầy lưng trắng thu được đều có giá trị LD50 nhỏ (0.11 – 0.34

µg g-1) và đường hồi quy có độ dốc lớn (2.7 – 4.6), ngoại trừ một quần thể rầy ở Nhật Bản (Janpan-KM-A) (1.06 µg g-1) Với hoạt chất BPMC thì giá trị LD50 của rầy lưng trắng nằm trong khoảng từ 6.1 đến 26.6 µg g-1 Từ đó thấy được giá trị

LD50 và độ dốc của đường hồi quy của 3 loại thuốc chênh lệch không đáng kể giữa các quần thể rầy lưng trắng ở Đông Á và Đông Nam

Khi khảo nghiệm độ mẫn cảm của 25 quần thể rầy lưng trắng đến từ 9 tỉnh Miền Đông, Trung Quốc vào năm 2010 và 2011 cho kết quả như sau: Giá trị LC50 của hoạt chất Thiamethoxam dao động từ 0.141mg/L ( ở quần thể đến từ Shizong) đến 0.813 mg/L (quần thể ở Cangyuan) Sự chênh lệch giá trị LC50 giữa các quần thể là không đáng kể (6 lần giữa 2 quần thể Shizong và Cangyuan) Như vậy nhìn chung quần thể rầy lưng trắng ở Miền Đông , Trung Quốc vẫn mẫn cảm với hoạt chất Thiamethoxam 28% quần thể thể hiện tính kháng thấp và 72% quần thể mẫn cảm, không thể hiện tính

kháng (Su et al., 2013)

Trang 24

Ở Trung Quốc đã đánh giá về mức độ phản ứng của rầy lưng trắng

Sogatella furcifera với các hoạt chất buprofezin, imidacloprid, thiamethoxam, chlorpyrifos và pymetrozine Kết quả cho thấy đa số các quần thể rầy ở phía Đông Trung Quốc đều có sự phát triển về tính kháng với buprofezin (lên 25 lần) Khoảng 32% quần thể rầy ngoài đồng ruộng biểu hiện tính kháng trung bình với imidacloprid, đôi khi các quần thể ngoài đồng ruộng biểu hiện thay đổi nhỏ (7.6 lần) về tính mẫn cảm đới với imidacloprid Với hoạt chất thiamethoxam, đã quan sát được sự biến đổi thấp về tính mẫn cảm (nhỏ hơn 6 lần) của quần thể ngoài đồng ruộng, dẫn tới tính kháng được biểu hiện ko rõ ràng Sự biến đổi tương đối lớn (10.2 lần) về tính mẫn cảm của hoạt chất chlorpyrifos đã tồn tại ở quần thể đồng ruộng, trong đó xuất hiện 8% tính kháng trung bình và đã tồn tại 32% mức

độ kháng thấp Hầu hết các quần thể (72%) có tính mẫn cảm với pymetrozine, và tính mẫn cảm có sự biến đổi tương đối thấp với pymetrozine đã được tìm thấy

trên quần thể rầy lưng trắng Sogatella furcifera ngoài đồng ruộng (Su et al.,

Ví dụ, sự tăng rõ rệt giá trị LD50 ở Nhật Bản vào các năm cuối của thập kỷ 70 của thế kỷ 20 được cho là sự thay đổi về sự sử dụng thuốc trừ rầy ở Trung Quốc, nơi xuất phát của nguồn rầy lưng trắng di cư đến Nhật Bản

Tính kháng chéo luôn là mối nguy hiểm tiềm năng với thời gian sử dụng

có hiệu quả của một số loại thuốc trừ sâu trên đồng ruộng Hiện tượng kháng chéo với thuốc thuộc nhóm Neonicotinoid đã được quan sát thấy trên đồng ruộng

và ở các dòng được chọn lọc của loài Leptinotarsa decemlineata (Say) và

Trang 25

Drosophilia melanogaster (Meigen) Trong các trường hợp này, mức suy giảm

độ mẫn cảm của sâu hại với thuốc Imidacloprid có liên kết với mức suy giảm độ mẫn cảm của các thuốc khác thuộc nhóm Neonicotinoid như Thiamethoxam,

Acetamiprid và Nitenpyram (Liu et al., 2003)

Theo kết quả nghiên cứu năm 2001 cho thấy: cơ chế kháng thuốc của rầy lưng trắng với thuốc Malathion và MTMC (Metolcarb) là giảm dần qua các năm, còn cơ chế kháng MTMC là do sự giảm mức độ nhạy cảm của enzyme Acetycholinesterase với thuốc (Endo and Tsurumachi, 2001) Sự phát hiện ra các thuốc Neonicotinoid là mốc mới về nghiên cứu thuốc trừ sâu trong ba thập kỷ vừa qua Các thuốc trong nhóm này có đặc điểm giống nicotin là tác động vào hệ thần kinh trung ương của côn trùng như nhân tố đối kháng của cơ quan thụ cảm nicotinic acetylcholine (nAChRs) và không giống như nicotin là chúng chỉ tác động đến côn trùng chứ không gây hại đến các loài động vật có vú (dẫn theo Nauenl and Denholm, 2005)

Theo Matsumura and Sachiy (2010): Từ năm 2005, sự bùng phát của rầy trên lúa đã xảy ra ở các nước Đông Á như Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản

Sự bùng nổ này là có liên quan chặt chẽ với sự phát triển kháng thuốc trừ sâu trong các khu vực này Các độ nhạy cảm của rầy nâu và rầy lưng trắng đến bốn loại thuốc trừ sâu được đánh giá bởi một phương pháp bôi côn trùng được thu thập từ Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam và Philippines trong năm

2006

Cơ chế kháng thuốc của rầy lưng trắng cũng được nghiên cứu ở Trung Quốc chủ yếu về kiểu kháng chéo và cơ chế trong chọn lọc tính kháng thuốc Imidacloprid Kết quả cho thấy mức độ kháng tăng 11,25 lần qua 12 thế hệ và tỷ

lệ kháng đạt 71,83% Các dòng rầy lưng trắng kháng thuốc biểu hiện rõ rệt tính kháng chéo với các thuốc thử nghiệm có cơ chế tác động đến cơ quan cảm thụ Acetylcholine Enzym esterases và enzyme chuyển hóa glutathione S-transferase đóng vai trò chủ yếu trong việc giải độc thuốc Imidacloprid Chính sự tăng hàm lượng enzyme P450-monoxygennases giải độc là cơ chế kháng Imidacloprid (Liu

et al., 2003) Vì vậy, hạn chế hoặc kìm hãm hoạt động của enzym này có thể giúp

Trang 26

phá bỏ hoặc kiềm chế tính kháng thuốc của rầy lưng trắng đối với Imidacloprid

(Wang et al., 2010)

Việc sử dụng nhiều và rộng rãi buprofezin đã làm tăng xu hướng phát triển tính kháng; làm tính kháng buprofezin trở thành phổ biến với các quần thể

rầy lưng trắng ngoài đồng ruộng ở Trung Quốc (Su et al., 2013)

1.2.6 Các kết quả nghiên cứu về các biện pháp giảm thiểu tính kháng thuốc của rầy lưng trắng

Một số nghiên cứu cho rằng biện pháp thích hợp nhất để giảm thiểu tính kháng thuốc của rầy lưng trắng là xây dựng chiến lược phòng trừ dịch hại tổng

hợp nhằm giảm sức ép chọn lọc của thuốc bảo vệ thực vật (Matsumura et al.,

2009)

Với rầy lưng trắng nói riêng và dịch hại cây trồng nói chung, phương hướng để giảm thiểu tính kháng thuốc của dịch hại là xây dựng một chiến lược phòng trừ dịch hại đúng đắn Trong đó, bao gồm nhiều biện pháp mà sử dụng thuốc hóa học hợp lý là một mắt xích quan trọng, vừa hạn chế được tác hại của dịch hại đối với cây trồng và nông sản, vừa làm giảm được cường độ sức ép chọn lọc của thuốc, từ đó bảo vệ được cây trồng, hạn chế được tốc độ hình thành và

phát triển tính kháng thuốc của dịch hại (Matsumura et al., 2008)

Dùng luân phiên các loại thuốc bảo vệ thực vật có cơ chế tác động khác nhau ở những địa phương chưa hình thành tính kháng thuốc, việc luân phiên thuốc kết hợp với các biện pháp khác có thể làm chậm tốc độ hình thành tính kháng thuốc của rầy lưng trắng trên đồng ruộng

Trong thực tế sản xuất, người ta đã tăng lượng thuốc dùng, số lần phun thuốc trên ruộng với hy vọng sẽ loại trừ được những dịch hại đó kháng thuốc Đó

là một biện pháp sai lầm cả về mặt thực tiễn cùng như về cơ sở lý luận, dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực Một biện pháp hạn chế và khắc phục sự phát triển tính khỏng thuốc của sâu hại được Mao (1992) nêu lên là thay đổi thuốc, luân phiên dựng cỏc loại thuốc thuộc cỏc nhúm khác nhau Một biện pháp khác cũng đƣợc

dề xuất nhằm giảm thiểu tính kháng thuốc của dịch hại là sử dụng chất hợp lực (synergisst), chất phá vỡ tính chống thuốc (resistance breaker), chất phản chống

Trang 27

chịu (antiesistance) Những chất này được hỗn hợp với thuốc trừ dịch hại để phun trừ những dịch hại đã chống thuốc, nhằm ức chế hoạt động của những men phân hủy thuốc trong cơ thể chúng, từ đó mà khôi phục được hiệu lực của thuốc Tuy nhiên, mặt hạn chế của những chất hợp lực là chỉ ức chế chuyên biệt đối với từng cơ chế kháng thuốc nên chúng không kìm hãm được tính chống chịu nhiều mặt và cũng đã xảy ra trường hợp một quần thể côn trùng có khả năng phát triển luôn cả tính chống chịu đối với chất hợp lực khi chất này được dùng hỗn hợp với thuốc trừ sâu

Theo nghiên cứu của Nagata and Masuda (1980) thì độ độc của thuốc trừ sâu thay đổi khá nhiều tuỳ theo nhiều yếu tố trong đó có loài rầy, biotyp rầy, giai đoạn phát triển của rầy Ở ruộng lúa nói chung khó diệt rầy nâu bằng thuốc trừ

sâu hơn những loài rầy khác như rầy xanh Nephotettix virescens, rầy lưng trắng

Sogatella furcifera và rầy nâu nhỏ Laodelphax stratellus Thí nghiệm trong

phòng cũng như trên đồng ruộng đều cho rầy lưng trắng và rầy nâu nhỏ nhạy cảm với thuốc hoá học hơn rầy nâu Khi xét về các độ độc của thuốc trừ sâu với các biotyp rầy lưng trắng, các thí nghiệm đã cho thấy phản ứng các biotyp khác nhau tuỳ theo loại thuốc và phương pháp dùng thuốc Các biotyp 2 và 3 thường mẫn cảm hơn với biotyp 1 đối với những thuốc trừ sâu phun trực tiếp lên rầy Các biotyp không khác nhau nhiều về phản ứng đối với thuốc NRDC 161 (Permethrin) Khi thả rầy lên những cây đó được phun thuốc thì biotyp 3 mẫn cảm ít nhất Khi bón viên thuốc trừ sâu vào nước tưới, biotyp 3 lại ít mẫn cảm hơn hẳn biotyp 1 đối với các loại thuốc Carbamat như Cabofuran và các loại Lân hữu cơ như Diazinon và Metyl parathion Xét về giai đoạn phát triển giới tính của rầy với thuốc, các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng tuổi rầy có ảnh hưởng đến mức mẫn cảm với thuốc trừ sâu Sau 3 giờ xử lý, tỷ lệ chết của rầy cái trưởng thành lột xác được một ngày là 67%, lột các được 4 -5 ngày là 15% (thấp nhất)

và lột xác được 13 ngày là 94% Yếu tố quan trọng có có ảnh hưởng nhất đến rầy nâu là độ độc của các loại thuốc trừ sâu Đối với rầy nâu, các loại thuốc Carbamat là loại thuốc trừ sâu độc hơn các thuốc thuộc nhóm Lân hữu cơ và Clo

Trang 28

hữu cơ Các thuốc Lân hữu cơ thường có tính độc chọn lọc hơn đối với nhiều loài rầy, các thuốc Carbamat và Clo hữu cơ không có độ độc chọn lọc

Su et al (2013) cho rằng để ngăn cản sự phát triển của tính kháng thuốc,

nên sử dụng buprofezin có giới hạn và luân phiên với các loại thuốc khác nhau với các kiểu sử dụng khác nhau

1.3 Nghiên cứu trong nước

* Kết quả nghiên cứu về sử dụng hóa chất phòng trừ rầy lưng trắng

Trong danh mục thuốc đăng ký trừ rầy ở Việt nam tính đến 2010 có 168 tên hoạt chất và hỗn hợp với 390 tên thương phẩm thì hầu hết chỉ đăng ký trừ rầy nâu mà duy nhất có 3 loại thuốc đăng ký trừ rầy lưng trắng là Lobby 10WP, Shertin 3.6EC và Penalty40WP Nhưng theo BNNPTNT, 2010 có 13 hoạt chất phổ biến trừ rầy (trong đó có rầy lưng trắng) hại lúa: Dinotefuran, Clothanindin, Thiamethoxam, Pymetrozine, Imidacloprid, Fenobucarb, Isoprocarb, Abamectin, Fipronil, Chlorpyrifos Methyl, Acetamiprid, Buprofezin

Điều tra tại 7 tỉnh đồng bằng sông Hồng cho thấy có 8 nhóm thuốc trừ sâu được người dân sử dụng trên lúa, trong đó 3 nhóm sử dụng với tỷ lệ cao là: Phenylpyrazol, Carbamate, Neo-nicotionid Tuy nhiên, qua các năm, ở các địa phương khác nhau thì số chủng loại thuốc sử dụng, mức độ sử dụng các nhóm thuốc là khác nhau (Lê Thị Kim Oanh và cs., 2011)

Một số kết quả nghiên cứu về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật phòng trừ rầy lưng trắng của tác giả Nguyễn Thị Me và cs (2010) cho thấy thí nghiệm thuốc Enaldo 40FS xử lý hạt giống (với liều lượng 40 – 60 ml/60kg hạt giống lúa gieo

để cấy 1ha) đạt hiệu quả rất cao Rầy trưởng thành thả vào khay mạ 10 ngày tuổi

có xử lý hạt giống bằng Enaldo 40FS bị chết trên 80% sau 1 ngày thả và sau 3 ngày thả tỷ lệ này đạt 90% Thí nghiệm với mạ 15 ngày tuổi có xử lý hạt giống bằng Enaldo cho thấy rầy trưởng thành chết 80% sau 3 ngày thả thí nghiệm Theo Nguyễn Thị Phương Lan (2012) làm thí nghiệm với 3 loại thuốc Enxin 2.0SL, Elsin 10EC, Bassa 50EC thì sau 3 giờ phun thuốc thấy thuốc Bassa 50EC có hiệu lực cao nhất đạt 80,00%; sau đó đến thuốc Elsin 10EC đạt 61,11%; thuốc Enxin 2.0SL chưa có hiệu lực với rầy lưng trắng Sau khoảng thời gian 72

Trang 29

giờ phun thuốc thì thuốc Elsin 10EC đạt hiệu lực cao nhất là 98,85%; sau đó đến Bassa 50EC đạt 84,29%; cuối cùng là thuốc Enxin 2.0SL đạt 73,83%

Theo Ngô Vĩnh Viễn (2011) bằng cách ngâm hạt giống trong thuốc Cruiser Plus 312.5 FS, hoạt chất thiamethoxam có trong thuốc vừa hấp thụ thẳng vào hạt giống đồng thời phân tán ra đất và sẽ được hấp thụ trở lại qua bộ rễ cây con sau đó phân bổ toàn cây Đây là hoạt chất trừ sâu phổ rộng, có tác dụng cả với sâu, mọt, bọ trĩ, bọ hung, rệp, rầy…Với những cây mạ có chứa Thiamethoxam, rầy lưng trắng chích phải sẽ bị tê liệt ngay lập tức Hoạt chất này

có thể tồn dư và bảo vệ hữu hiệu cây mạ trong vòng 10-15 ngày Trường hợp lúa gieo sạ, thời gian hiệu lực của thuốc sẽ kéo dài hơn vì cây mạ tận dụng được lượng tồn dư trong đất Khoảng 20 ngày sau sạ, mạ cần được bảo vệ thêm một lần nữa bằng Chess 50 WG.Các loại thuốc khác có hiệu lực trừ rầy lưng trắng trên 70 % sau phun 5 ngày bao gồm: Bassa 50EC, Alika 10EC, Confidor100SL, Chess50WG Chế phẩm sinh học nấm Metarhizium anisopliae sau 7 ngày có thể đạt hiệu quả trừ RLT là 67,1 %

Cũng theo Nguyễn Trần Oánh (2012) sử dụng chế phẩm sinh học trừ sâu nấm trắng và nấm xanh, có thể trừ được rầy với hiệu quả tốt cả sau giai đoạn rầy cám, nếu như nấm tiếp xúc được với rầy, mọc rễ vào con rầy và gây chết So với thuốc bassa và các loại hóa học khác, hiệu quả tuy có chậm hơn độ năm đến bảy ngày, nhưng hiệu quả duy trì bền hơn

Theo Lương Minh Châu và cs.(2010) đã đánh giá hiệu quả của một số thuốc thương phẩm được dùng phổ biến hiện nay đối với rầy lưng trắng trưởng thành và rầy non tại Nghệ An như sau: Các thuốc nờn dựng là Elsin 10EC, Oshin 20WP, Dantotsu 16WSG, Penalty gold 50EC, Bassa 50EC Để bảo vệ cây lúa từ khi gieo đến khi cây lúa 30 ngày tuổi nên ưu tiên các thuốc nội hấp có tác dụng vừa diệt được rầy trưởng thành di trú vừa diệt được rầy non (dẫn theo Nguyễn Thị Phương Lan, 2012)

Trong vụ xuân năm 2011, hiệu lực trừ rầy lưng trắng tại Hà Nội của các thuốc thương mại Bassa 50EC, thuốc Regent 800WG, và thuốc Actara 25WG vẫn đạt hiệu quả cao >70% vào ngày thứ 7 sau khi xử lý thuốc Nhóm thuốc tổng

Trang 30

hợp Penalty gold 50EC có hiệu lực trừ rầy lưng trắng cao nhất >80% ở các ngày thứ 7 và 10 sau xử lý thuốc Thuốc Butyl 10WP có hiệu quả tăng dần và đạt

>60% sau 10 ngày phun thuốc Với biện pháp xử lý hạt giống bằng thuốc Cruiser plus 312.5FS trong điều kiện phòng thí nghiệm với liều lượng 40 – 60ml/100kg hạt giống có hiệu quả tốt trong việc diệt trừ rầy lưng trắng ngay sau khi gieo cấy (5 – 10 ngày) (Nguyễn Thị Phương Lan, 2012)

* Các kết quả nghiên cứu về tính kháng thuốc của rầy lưng trắng

Cho đến nay các kết quả nghiên cứu về tính kháng thuốc của rầy lưng trắng ở trong nước chưa nhiều Các nghiên cứu chủ yếu đi sâu về khảo nghiệm hiệu lực của một số loại thuốc hóa học đối với rầy lưng trắng

Kết quả dùng thuốc hóa học trừ rầy lưng trắng tại Thừa Thiên năm 1975 tại ba điểm, mỗi điểm xử lý thuốc khoảng 1/10ha: thuốc dùng ở điểm thứ nhất là 5% Malathion bột; 10% DDT bột, ở địa điểm thứ hai là 5% Malathion bột; 10% DDT bột; 0,02% Edrin sữa; 0,005% Malathion sữa, ở điểm thứ ba là 0,004% Edrin sữa; 0,01% Diedrin bột thấm nước; 0,1% Aldrin bột thấm nước, thuốc bột dùng 30kg/ha, thuốc nước dùng 800 l/ha Ở điểm 1 và 2 thuốc được phun hai lần, điểm 3 phun được một lần do mật độ rầy quá thấp Kết quả ở điểm 1 và 2 thuốc

có hiệu quả với rầy còn ở điểm 3 không đánh giá được vì mật độ rầy quá thấp

Theo Nguyễn Thị Me và cs (2010) đã đánh giá hiệu quả của một số thuốc thương phẩm được dùng phổ biến hiện nay đối với rầy lưng trắng trưởng thành

và rầy non tại Nghệ An như sau: các thuốc nên dùng là Elsin 10EC, Oshin 20WP, Dantotsu 16WSG, Penalty gold 50EC, Bassa 50EC Để bảo vệ cây lúa từ khi gieo đến khi cây 30 ngày tuổi nên ưu tiên các thuốc nội thấp có tác dụng vừa diệt được rầy trưởng thành di trú vừa diệt được rầy non

Theo kết quả nghiên cứu đánh giá tính kháng thuốc của rầy lưng trắng trong vụ xuân năm 2011 tại Hà Nội, tác giả Nguyễn Thị Phương Lan đưa ra kết luận: với hoạt chất Thiamethoxam giá trị LD50 dao động từ 2,504 – 4,748 và giá trị Ri dao động từ 16,08 – 32,10 Với hoạt chất Fenobucarb giá trị LD50 dao động

từ 4,719 – 8,169 và giá trị Ri dao động từ 11,83 – 20,47 Còn với hoạt chất

Trang 31

Fipronil giá trị LD50 dao động từ 1,739 – 5,271 và giá trị Ri thì dao động từ 7,69 – 23,32

Kết quả nghiên cứu tại Hà Nam, Nam Định, Thái Bình trong vụ mùa 2010 cho thấy: Sử dụng các thuốc Chess 50WG, Penaltygold 50EC, Tikwep 247EC, Sutin 5EC đều có hiệu lực cao trong việc phòng trừ rầy lưng trắng, trong đó thuốc Penaltygold 50EC, Tikwep 247EC cho hiệu lực cao nhất (xấp xỉ 90%) Hiệu lực của các loại thuốc khảo nghiệm đạt cao nhất tại thời điểm sau 5 ngày phun Hai loại thuốc nhóm độc 2 (Penaltygold 50EC, Tikwep 247EC) cho hiệu lực cao nhất Thuốc Chess 50WG (nhóm độc 4) cho hiệu lực cao hơn Sutin 5EC (nhóm độc 3) (Nguyễn Ngọc Tuấn, 2012)

Trang 32

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và vật liệu và dụng cụ nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Quần thể rầy lưng trắng Hưng Yên

2.1.2 Vật liệu, dụng cụ nghiên cứu

- Giống lúa bắc thơm 7

- Dụng cụ thu thập mẫu: ống hút rầy, được thiết kế chuyên dùng cho việc hút rầy ngoài đồng ruộng cũng như trong phòng thí nghiệm, lồng lưới nuôi rầy bao gồm cả khay gieo lúa để khi thu thập rầy có sẵn nguồn thức ăn

- Dụng cụ nhân nuôi côn trùng: Nhà lưới, lồng lưới các cỡ 60x60x120cm, 40x40x60 cm, 30x30x30 cm, khay gieo mạ, giá thể, ống tuýp, điều hòa nhiệt độ, các dụng cụ đo nhiệt độ, độ ẩm

- Dụng cụ thử tính kháng thuốc: Bộ micropipettes 10µl, lọ thủy tinh, bình CO2 (SGA), đĩa petri, bút lông, hộp nhựa giữ rầy, kính lúp cầm tay …

- Dụng cụ phục vụ cho thiết kế điều tra thí nghiệm ngoài đồng ruộng: Khay tráng dầu, ống hút, cọc tre, dây, bình bơm 16 lít, cốc đong, bộ can thủy tinh

và dụng cụ pha thuốc trừ sâu có độ chính xác cao

- Cân phân tích: Cân phân tích Ohaus (có độ chính xác đến 10-4), dùng cân trọng lượng rầy và thuốc thử thí nghiệm

- Các hoạt chất thuốc thử nghiệm tính kháng của rầy lưng trắng: Imidacloprid, Emamectinbenzoate, Profenofos, Fenobucard, Pymetrozin, Thisosuttap- Sodium

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Địa điểm: Huyện Yên Mỹ, Ân Thi, Kim Động tỉnh Hưng Yên, Phòng thí nghiệm của Bộ môn Côn trùng, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam

Thời gian nghiên cứu: năm 2014 – 2015

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra tình hình sử dụng thuốc BVTV ở Hưng Yên

- Xác định tính kháng đối với một số nhóm hoạt chất của các quần thể rầy lưng trắng

Trang 33

- Xác định một số đặc điểm sinh vật học của rầy lưng trắng sống sót sau khi thử thuốc

- Đánh giá hiệu lực trừ rầy lưng trắng của một số loại thuốc hóa học trên đồng ruộng

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Điều tra hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy tại Hưng Yên

Điều tra xã hội học: Các đối tượng thu thập ý kiến thông qua các phương pháp chủ đạo là phỏng vấn bán cấu trúc, phỏng vấn sâu bằng bảng hỏi cấu trúc

và bán cấu trúc đã chuẩn bị sẵn kết hợp tiến hành thảo luận tại chỗ

Điều tra ý kiến của 20 nông dân/xã có nhiều năm tham gia sản xuất lúa và

có kinh nghiệm trong sử dụng thuốc BVTV trên lúa, 2 xã/1 huyện, 3 huyện/tỉnh + Các chỉ tiêu về việc sử dụng thuốc BVTV: phụ lục 1

2.4.2 Đánh giá tính kháng đối với một số nhóm hoạt chất của các quần thể rầy lưng trắng

2.4.2.1 Thu thập nguồn rầy lưng trắng tại Hưng Yên

- Phương pháp thu bắt: rầy lưng trắng được thu bắt bằng ống hút, sau đó thả vào các hộp nhựa có sẵn mạ non trồng trong đất, đem về các phòng thí

nghiệm để nhân nuôi quần thể

Hình 2.1 : Thu bắt rầy lưng trắng tại Hưng Yên

(Nguồn: Phạm Hồng Trang, 2014)

Trang 34

2.4.2.2 Nhân nuôi quần thể phục vụ cho thí nghiệm đánh giá tính kháng của đối với các hoạt chất

- Địa điểm: Phòng thí nghiệm số 7

- Đối tượng: rầy lưng trắng Hưng Yên

- Giống lúa nhân nuôi nguồn rầy là Bắc Thơm 7

- Phương pháp thí nghiệm: rầy lưng trắng sau khi được thu bắt từ Hưng Yên, đem về phòng thí nghiệm, sau đó được chuyển ra nhân nuôi riêng rẽ trong các lồng nuôi rầy để nhân số lượng lớn phục vụ thí nghiệm Khi rầy vũ hóa rộ từ 5 – 7 ngày, dùng ống hút hút rầy cái chuyển vào lồng nuôi rầy với nguồn mạ mới để cho rầy đẻ trứng Ngày hôm sau lấy khay mạ ra và rũ hết rầy vào khay mạ mới, cho trứng nở và phát triển Thay liên tục từ 3 – 5 ngày như vậy để có được những lứa rầy đồng đều Thí nghiệm nhân nuôi nguồn rầy được tiến hành liên tục tại phòng thí nghiệm và nhà lưới Lúa được gieo liên tục trong các khay mạ, chậu trồng cây, ô chậu vại và ô xi măng để nhân nuôi và lưu giữ nguồn rầy Những cá thể rầy F1 trở đi mới bắt đầu tiến hành thí nghiệm

-Hình 2.2 Nhân nuôi nguồn rầy trong lồng lưới lớn

Trang 35

Hình 2.3 Nhân nuôi nguồn rầy trong lồng mica

2.4.2.3 Đánh giá tính kháng của các quần thể rầy lưng trắng đối với một số nhóm hoạt chất

* Phương pháp nhỏ giọt (sử dụng cho các hoạt chất Imidacloprid, Fenobucarb, Emamectin benzoate, Profenofos, Pymethrozin, Thiosultap-sodium )

Các nhóm hoạt chất sẽ được sử dụng trong thí nghiệm:

(theo WHO)

1 Profenofos 87% Nhóm độc II, Lân hữu cơ thuốc

2 Fenobucarb 96% Nhóm độc II, thuộc nhóm Carbamate

3 Imidacloprid 97% Thuốc thuộc nhóm độc II, Thuốc thuộc

nhóm Neonicotinoid

4 Pymethrozin 95% Thuốc thuộc nhóm độc III

5 Emamectin benzoate (Avermectin

B1a 90 % + Avermectin B1b 10 %)

Thuốc thuộc nhóm Avermectin, thuốc

trừ sâu sinh học

6 Thiosultap-sodium 90% Nhóm độc II, huộc nhóm Nereistoxin

− Phương pháp thí nghiệm: theo phương pháp nghiên cứu tính kháng

thuốc của Heong et al., 2011 Phương pháp này gồm các bước:

− Các bước tiến hành thí nghiệm:

Bước 1 Xác định thang nồng độ thử thuốc cho từng nhóm hoạt chất

Trang 36

Các nhóm hoạt chất sử dụng trong thí nghiệm là hoạt chất chuẩn Thang nồng độ thử thuốc của từng nhóm hoạt chất được chia thành 24 bậc Nồng độ tham chiếu (nồng độ trung bình) được căn cứ vào nồng độ trung bình của hoạt chất đó theo khuyến cáo của nhà sản xuất Các thang nồng độ khác sẽ lần lượt được tăng lên theo giá trị 1-1,25-1,50 và giảm xuống lần lượt là 1-0,75-0,50…

Hình 2.4 Dụng cụ pha thuốc

(Nguồn: Phạm Hồng Trang, 2014) Phương pháp pha: dung dịch có nồng độ cao được dùng làm dung dịch mẹ (liều 1), muốn chuyển sang nồng độ thấp hơn (liều 2) theo công thức:

C1V1 = C2V2

Trong đó: C1: nồng độ thuốc ở liều 1

C2: nồng độ thuốc ở liều 2

V1: thể tích liều thuốc 1 cần để pha chế

V2: thể tích liều thuốc 2 yêu cầu để pha chế

Tương tự làm như vậy để được nồng độ thấp nhất (liều n)

Vì các thuốc kỹ thuật không đạt độ tinh khiết tuyệt đối nên được hiệu chỉnh theo hệ số CF để thuốc đạt 100% hoạt chất

Hệ số CF được hiệu chỉnh theo công thức

100%

CF =

% a.i thuốc kỹ thuật

Trang 37

Bước 2 Tiến hành thử thuốc để thăm dò thang nồng độ chuẩn

-Tiến hành các thí nghiệm thử thuốc để thăm dò thang nồng độ đã xác định ở thí nghiệm 1 khảo sát sơ bộ các nồng độ có thể gây chết trên và dưới 50%

cá thể và các nồng độ tiệm cận Các thang nồng độ pha được nếu không đạt các ngưỡng gây chết đề ra sẽ được điều chỉnh lại sao cho phù hợp (thang nồng độ chuẩn với mức 5-10 bậc, nồng độ cao nhất gây chết 90 – 95% số cá thể và nồng

độ thấp nhất gây chết 5 – 10% số cá thể thí nghiệm)

- Thí nghiệm được tiến hành như mô tả trong thí nghiệm 3

Bước 3 Tiến hành thử thuốc để xác định LD 50 của các quần thể rầy lưng trắng

- Thí nghiệm được tiến hành trên rầy, trong điều kiện nhiệt độ phòng ổn định 25˚C Dùng 10 – 20 con rầy cho mỗi lần tiến hành thí nghiệm và với ít nhất

3 lần lặp lại cho mỗi công thức

- Pha thuốc: Dùng thuốc dạng kỹ thuật (Technical grade) pha chế dung

dịch quy về CF để tính ra lượng thuốc cần pha theo liều lượng 1, 2, 4, 8… lũy tiến theo logarit

- 10 cá thể rầy được hút chuyển vào ống hút côn trùng, sau đó được làm bất động bằng CO2 trong thời gian khoảng 10-20 giây Khi rầy vừa bất động đổ rầy lên đĩa petri có lót giấy thấm Dùng máy nhỏ giọt để nhỏ chính xác lên mảnh lưng ngực trước của các cá thể rầy với thể tích thuốc đồng đều là 0,2 µl Kỹ thuật này được thực hiện dưới kính lúp soi nổi độ phóng đại 40-60 lần và đòi hỏi sự chính xác cao Các thí nghiệm lặp lại cần tiến hành vào các ngày khác nhau để tránh sự sai số trong cùng một ngày

- Những cá thể rầy sau khi được tiến hành nhỏ thuốc sẽ được chuyển vào các cốc nhựa có lồng chụp cách ly trong có sẵn 15 cây mạ 7-10 ngày sau gieo trồng Tỷ lệ chết của các cá thể rầy thí nghiệm được theo dõi sau 24 giờ - 48 giờ Riêng nhóm Hoạt chất Buprofezin đánh giá theo phương pháp Yanhua Wang et

al (2008) nhúng thân cây lúa

Trang 38

Hình 2.5 Các thao tác tiến hành thí nghiệm nhỏ thuốc

Ngày đăng: 29/05/2016, 09:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Bao, H., Liu, S., Gu,J., Wang, Z., Liang, X and Liu, X. (2009). Sublethal effects of four insecticides on the reproduction and wing formation of brown plantopper, Nilaparvata lugens. Pest Manag. Sci, 65: 170 – 174 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nilaparvata lugens
Tác giả: Bao, H., Liu, S., Gu,J., Wang, Z., Liang, X and Liu, X
Năm: 2009
13. Bass, C., Carvalho, R. A., Oliphant, L., Puinean, A. M., Field, L. M., Nauen, R.., Williamson, M. S., Moores, G. and Gorman, K. (2011). Overexpression of a cytochrome P450 monooxygenase, CYP6ER1, is associated with resistance to imidacloprid in the brown planthopper, Nilaparvata lugens. Insect Molecular Biology, 20(6): 763 -773 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nilaparvata lugens
Tác giả: Bass, C., Carvalho, R. A., Oliphant, L., Puinean, A. M., Field, L. M., Nauen, R.., Williamson, M. S., Moores, G. and Gorman, K
Năm: 2011
14. Endo, S., Nagata, T., Kawabe, S., and Kazano H. (1988). Changes of insecticide susceptibility of the White backed planthopper Sogatella furcifera (Homoptera:Delphacidae) and the Brown Planthopper Nilaparvata lugens Stal (Homoptera:Delphacidae). Applied Entomology and Zoology, 23 (4): 417 – 421 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sogatella furcifera" (Homoptera: Delphacidae) and the Brown Planthopper "Nilaparvata lugens
Tác giả: Endo, S., Nagata, T., Kawabe, S., and Kazano H
Năm: 1988
18. Kisimoto, R. (1976). Synoptic weather conditions inducing long-distance immigration of planthoppers, Sogatella furcifera Horvath and Nilaparvata lugens Stal. Ecological Entomology, 1(2):95-109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sogatella furcifera" Horvath and "Nilaparvata "lugens
Tác giả: Kisimoto, R
Năm: 1976
19. Liu, Z., Wang, Y., Han, Z., Li, G., Deng, Y., Tian, X. and Nagata T. (2003). Comparison of the susceptibilities of Nilaparvata lugens and Sogatella furcifera from three areas to ten insecticides. J. Nanjing Agric, 26: 29 - 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nilaparvata lugens" and "Sogatella furcifera
Tác giả: Liu, Z., Wang, Y., Han, Z., Li, G., Deng, Y., Tian, X. and Nagata T
Năm: 2003
21. Matsumura, M., Takeuchi, H., Satoh, M., Morimura, S., Otuda, A., and Dinh Van Thanh (2008). Species-specific insecticide resistance to imidacloprid and fipronil in the rice planthoppers Nilaparvata lugens and Sogatella furcifera in East and South-east Asia. Pest Management Science 64: 1115 – 1121 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nilaparvata lugens" and "Sogatella furcifera
Tác giả: Matsumura, M., Takeuchi, H., Satoh, M., Morimura, S., Otuda, A., and Dinh Van Thanh
Năm: 2008
25. Matsumura, M., Takeuchi, H., Satoh, M., Morimura, S., Akira, O., Reiko, O. and Shinji, S. (2013). Insecticied susceptibility in populations of two rice planthopers Nilaparvata Lugens and Sogatella furcifera immigrating into Japan in the period 2005 – 2012: 615 – 622 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nilaparvata Lugens" and "Sogatella furcifera
Tác giả: Matsumura, M., Takeuchi, H., Satoh, M., Morimura, S., Akira, O., Reiko, O. and Shinji, S
Năm: 2013
(2013). Status of insecticide resistance of the whitebacked planthopper, Sogatella furcifera (Hemiptera: Delphacidae), Florida Entomologist 96 (3): 305- 310 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sogatella furcifera
30. Tang, J., Li, J., Shao, Y., Yang, B. and Liu Z (2010). Fipronil resistance in the whitebacked planthopper (Sogatella furcifera): possible resistance mechanisms and cross-resistance. Pest Manag Sci. 2010 Feb, 66(2): 121-125 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sogatella furcifera
Tác giả: Tang, J., Li, J., Shao, Y., Yang, B. and Liu Z
Năm: 2010
31. Turner, R., Song, Y.H. and Uhm, K.B (1999). Numerical model simulations of brown planthopper Nilaparvata lugens and white-backed planthopper Sogatella furcifera (Hemiptera: Delphacidae) migration. Bulletin of Entomological Research, 89(6):557-568 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sogatella "furcifera
Tác giả: Turner, R., Song, Y.H. and Uhm, K.B
Năm: 1999
33. Suzuki, Y., Sogawa, K. and Seino, Y (1995). Ovicidal Reaction of Rice Plants against the Whitebacked Planthopper, Sogatella furcifera Horvath (Homoptera:Delphacidae), Appl. Entomol. Zool. 31 (1): 111-118 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sogatella furcifera
Tác giả: Suzuki, Y., Sogawa, K. and Seino, Y
Năm: 1995
1. Lương Minh Châu, Trần Thị Mộng Quyên, Hoàng Đức Cát, Phạm Thị Kim Vàng (2010). Nghiên cứu biện pháp quản lý tính kháng sâu hại (rầy nâu, sâu cuốn lá) một cách bền vững cho các giống lúa chất lượng cao ở Đồng bằng Sông Cửu Long. Kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ 2006 – 2010, Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam tr 458 - 461 Khác
15. Endo, S. and Tsurumachi M. (2001). Insecticide Susceptibility of the Brown Planthopper and the White-backed Planthopper Collected from Southeast Asia.Pesticide science society, 26: 82-86 Khác
16. Guo, F., Zhang, Z. Q. and Zhao, Z. (1998). Pesticide resistance of Tetranychus cinnabarinus (Acari: Tetranychidae) in China: a review. Systematic and Applied Acarology, 3: 3-7 Khác
17. Irac (2013). Insecticide Resistance Management Strategies. CropLife Australia Limited, Locked Bag 916, Canberra ACT 2601: 1-19 Khác
20. Mao, L. (1992). Monitoring in susceptibility of Whitebacked planthopper and Brown Planthopper to Thirteen insecticides Khác
22. Matsumura, M. and Morimura, S. (2010). Recent Status of Insecticide resistance in Asian Rice Planthoper, JarQ 44: 225 - 230 Khác
23. Matsumura, M., Akira, O. And Tomonari, W. (2009). Migration prediction and monitoring of planthoper in Japan. Kyushu Okinization Suya Koshi, Kumamoto 861 – 1192, Japan Khác
27. Nagata, T. (2002). Monitoring on Insecticide Resistance of the Brown Planthopper and the White Backed Planthopper in Asia. J. Asia-Pacific Entomol, 5(1): 103 – 111 Khác
28. Nauenl, R. and Denholm, I. (2005). Resistance of insect pests to Neonicotinoid insecticide: Current status and future prospects, Insect biochemistry and physiology (58): 200 – 215 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 : Thu bắt rầy lưng trắng tại Hưng Yên - hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy và tính kháng thuốc của quần thể rầy lưng trắng (sogatella furcifera horvath) hưng yên năm 2014   2015
Hình 2.1 Thu bắt rầy lưng trắng tại Hưng Yên (Trang 33)
Hình 2.2. Nhân nuôi nguồn rầy trong lồng lưới lớn - hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy và tính kháng thuốc của quần thể rầy lưng trắng (sogatella furcifera horvath) hưng yên năm 2014   2015
Hình 2.2. Nhân nuôi nguồn rầy trong lồng lưới lớn (Trang 34)
Hình 2.3. Nhân nuôi nguồn rầy trong lồng mica - hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy và tính kháng thuốc của quần thể rầy lưng trắng (sogatella furcifera horvath) hưng yên năm 2014   2015
Hình 2.3. Nhân nuôi nguồn rầy trong lồng mica (Trang 35)
Hình 2.5. Các thao tác tiến hành thí nghiệm nhỏ thuốc - hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy và tính kháng thuốc của quần thể rầy lưng trắng (sogatella furcifera horvath) hưng yên năm 2014   2015
Hình 2.5. Các thao tác tiến hành thí nghiệm nhỏ thuốc (Trang 38)
Hình 2.6: Thao tác nhúng thân lúa và theo dõi thí nghiệm nhúng thân - hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy và tính kháng thuốc của quần thể rầy lưng trắng (sogatella furcifera horvath) hưng yên năm 2014   2015
Hình 2.6 Thao tác nhúng thân lúa và theo dõi thí nghiệm nhúng thân (Trang 40)
Hình 2.7. Thí nghiệm nuôi sinh học - hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy và tính kháng thuốc của quần thể rầy lưng trắng (sogatella furcifera horvath) hưng yên năm 2014   2015
Hình 2.7. Thí nghiệm nuôi sinh học (Trang 40)
Hình 2.8 : Thí nghiệm hiệu lực phòng trừ rầy lưng trắng Hưng Yên - hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy và tính kháng thuốc của quần thể rầy lưng trắng (sogatella furcifera horvath) hưng yên năm 2014   2015
Hình 2.8 Thí nghiệm hiệu lực phòng trừ rầy lưng trắng Hưng Yên (Trang 41)
Hình 3.1. Chủng loại hoạt chất trừ sâu được sử dụng để phòng trừ sâu hại - hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy và tính kháng thuốc của quần thể rầy lưng trắng (sogatella furcifera horvath) hưng yên năm 2014   2015
Hình 3.1. Chủng loại hoạt chất trừ sâu được sử dụng để phòng trừ sâu hại (Trang 47)
Bảng 3.6. Nồng độ phun thuốc trừ sâu trong một vụ lúa tại Hưng Yên - hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy và tính kháng thuốc của quần thể rầy lưng trắng (sogatella furcifera horvath) hưng yên năm 2014   2015
Bảng 3.6. Nồng độ phun thuốc trừ sâu trong một vụ lúa tại Hưng Yên (Trang 50)
Bảng 3.7. Ý kiến của nông dân về kỹ thuật sử dụng thuốc BVTV tại tỉnh - hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy và tính kháng thuốc của quần thể rầy lưng trắng (sogatella furcifera horvath) hưng yên năm 2014   2015
Bảng 3.7. Ý kiến của nông dân về kỹ thuật sử dụng thuốc BVTV tại tỉnh (Trang 51)
Bảng 3.8. Ý kiến của nông dân về hiệu quả sử dụng thuốc và cách khắc phục - hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy và tính kháng thuốc của quần thể rầy lưng trắng (sogatella furcifera horvath) hưng yên năm 2014   2015
Bảng 3.8. Ý kiến của nông dân về hiệu quả sử dụng thuốc và cách khắc phục (Trang 53)
Bảng 3.9. Số lần phun thuốc trừ sâu trong một vụ lúa tại Tỉnh Hưng Yên. - hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy và tính kháng thuốc của quần thể rầy lưng trắng (sogatella furcifera horvath) hưng yên năm 2014   2015
Bảng 3.9. Số lần phun thuốc trừ sâu trong một vụ lúa tại Tỉnh Hưng Yên (Trang 54)
Bảng 3.10. Mức độ kháng của quần thể rầy lưng trắng (Sogatella furcifera) - hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy và tính kháng thuốc của quần thể rầy lưng trắng (sogatella furcifera horvath) hưng yên năm 2014   2015
Bảng 3.10. Mức độ kháng của quần thể rầy lưng trắng (Sogatella furcifera) (Trang 55)
Bảng 3.11. Mức độ kháng của quần thể rầy lưng trắng (Sogatella furcifera) - hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy và tính kháng thuốc của quần thể rầy lưng trắng (sogatella furcifera horvath) hưng yên năm 2014   2015
Bảng 3.11. Mức độ kháng của quần thể rầy lưng trắng (Sogatella furcifera) (Trang 56)
Hình 3.2 Pha trưởng thành của rầy lưng trắng - hiện trạng sử dụng thuốc trừ rầy và tính kháng thuốc của quần thể rầy lưng trắng (sogatella furcifera horvath) hưng yên năm 2014   2015
Hình 3.2 Pha trưởng thành của rầy lưng trắng (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w