Mục đích ngiên cứu, yêu cầu của đề tài - Điều tra, đánh giá, xác định được những ưu điểm, nhược điểm và hạn chế trong sử dụng đất nông nghiệp của huyện Mỹ Đức; - Đề xuất các loại hình s
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn
đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn đã chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 201
Tác giả luận văn
Phùng Văn Vinh
Trang 4Tôi xin trân trọng cảm ơn sự góp ý chân thành của các Thầy, Cô giáo Khoa Quản lý đất đai, Ban quản lý đào tạo - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn thành đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức, tập thể Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Kinh tế, Phòng Thống kê, cấp ủy, chính quyền
và bà con nhân dân các xã, thị trấn trong huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài trên địa bàn
Tôi xin cảm ơn đến gia đình, người thân, các cán bộ đồng nghiệp và bạn
bè đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong qua trình thực hiện đề tài này
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 201
Tác giả luận văn
Phùng Văn Vinh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích ngiên cứu, yêu cầu của đề tài 2
2.1 Mục đích ngiên cứu 2
2.2 Yêu cầu 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đất và vai trò của đất trong sản xuất nông nghiệp .3
1.1.1 Khái niệm về đất và đất sản xuất nông nghiệp 3
1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của đất trong sản xuất nông nghiệp 4
1.2 Đặc điểm và phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 7
1.2.1 Khái quát về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 7
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 11
1.2.3 Đặc điểm, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 15
1.3 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 19
1.3.1 Những nghiên cứu trên thế giới; 19
1.3.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 23
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 28
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu: 28
2.2 Nội dung nghiên cứu 28
Trang 62.2.1 Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến
sử dụng đất nông nghiệp huyện Mỹ Đức – Thành phố Hà Nội 28
2.2.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp và các loại hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện 28
2.2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Mỹ Đức 28
2.2.4 Lựa chọn các loại hình sử dụng đất (LUT) nông nghiệp có hiệu quả cho địa bàn nghiên cứu 29
2.2.5 Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cho địa bàn nghiên cứu 29
2.3 Phương pháp nghiên cứu 29
2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 29
2.3.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu, tài liệu 30
2.3.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu, tài liệu 30
2.3.4 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 30
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của huyện Mỹ Đức 33
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 33
3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 41
3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường 48
3.2 Thực trạng sử dụng đất huyện Mỹ Đức năm 2014 49
3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 50
3.2.2 Phân vùng nông nghiệp huyện Mỹ Đức 54
3.2.3 Các loại hình sử dụng đất huyện Mỹ Đức 55
3.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 59
3.3.1 Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất 59
3.3.2 Hiệu quả về xã hội 65
3.3.3 Đánh giá hiệu quả môi trường 71
3.3.4 Đánh giá tổng hợp hiệu quả của các kiểu sử dụng đất 77
Trang 73.4 Lựa chọn các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả trên
địa bàn huyện Mỹ Đức 78
3.4.1 Lựa chọn các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả 78
3.5 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện Mỹ Đức 81
3.5.1 Một số đề xuất sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Mỹ Đức 81
3.5.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 83
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 86
Kết luận 86
Đề nghị 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 9DANH MỤC BẢNG
2.1 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất 31
2.2 Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội 32
3.1 Các loại đất huyện Mỹ Đức 35
3.2 Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất 2012 – 2014 41
3.3 Hệ thống trạm bơm nước huyện Mỹ Đức 47
3.4 Hiện trạng sử dụng đất huyện Mỹ Đức năm 2014 50
3.5 Hiện trạng đất nông nghiệp huyện Mỹ Đức năm 2014 51
3.6 Phân vùng nông nghiệp huyện Mỹ Đức 55
3.7 Các loại hình sử dụng đất trên đất nông nghiệp 56
3.8 Hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất tiểu vùng I 60
3.9 Hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất tiểu vùng II 62
3.10 Hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất tiểu vùng III 64
3.11 Mức đầu tư LĐ và thu nhập bình quân trên ngày công tiểu vùng I 66
3.12 Mức đầu tư LĐ và thu nhập bình quân trên ngày công tiểu vùng II 67
3.13 Mức đầu tư LĐ và thu nhập bình quân trên ngày công tiểu vùng III 68
3.14 Mức độ chấp nhận của người dân với loại hình sử dụng đất hiện tại 70
3.15 So sánh mức đầu tư phân bón với tiêu chuẩn bón phân theo quy trình cân đối và hợp lý 73
3.16 So sánh lượng thuốc BVTV phun thực tế cho cây rau với lượng thuốc khuyến cáo phun 74
3.17 Tình hình sử dụng thuốc trừ sâu trên một số công thức luân canh lúa - màu 75
3.18 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất của các kiểu sử dụng đất 77
3.19 Định hướng sử dụng đất huyện Mỹ Đức đến năm 2020 82
Trang 10DANH MỤC HÌNH
3.1 Cơ cấu sử dụng các loại đất huyện Mỹ Đức năm 2014 49
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Đất là một thành phần quan trọng của môi trường, là một tài nguyên vô giá mà tự nhiên đã ban tặng cho con người Đất đai là nền tảng để định cư và tổ chức các hoạt động kinh tế - xã hội, nó không chỉ là đối tượng lao động mà còn
là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, đặc biệt là đối với sản xuất nông nghiệp Đất là cơ sở của sản xuất nông nghiệp, là yếu tố đầu vào có tác động manh mẽ đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp, đồng thời cũng là môi trường duy nhất sản xuất ra lương thực, thực phẩm nuôi sống cho con người.Việc sử dụng đất có hiệu quả và bền vững đang trở thành vấn đề cấp thiết với mỗi quốc gia, nhằm duy trì sức sản xuất của đất đai cho hiện tại và tương lai
Trong tình hình phát triển của nước ta hiện nay, sự gia tăng dân số, nhu cầu phát triển đô thị, sự tăng trưởng của kinh tế - xã hội đã tạo lên áp lực lớn đối với quỹ đất đai vốn có Ở nhiều nơi, nhiều vùng của nước ta còn tồn tại sự lạc hậu, đói nghèo, trình độ văn hóa thấp, do đó công tác quản lý đất đai ở nhiều nơi còn buông lỏng hoặc biện pháp quản lý chưa phù hợp, chưa đạt kết quả tốt nhất Việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp từ đó lựa chọn các loại hình sử dụng đất hiệu quả để sử dụng hợp lý theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang tính toàn cầu đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm
Mỹ Đức là một huyện nằm ở phía tây nam Thành phố Hà Nội có tiềm năng về đất đai, sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong
cơ cấu kinh tế của huyện Sử dụng đất sản xuất nông nghiệp hiệu quả có tầm quan trọng lớn đối với sự phát triển của huyện Tuy nhiên Mỹ Đức cũng là một huyện có tổng diện tích đất tự nhiên thấp so với các huyện trong thành phố cho nên việc định hướng sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả là một việc làm cấp thiết hiện nay
Xuất phát từ những thực tiễn trên, để góp phần vào sự định hướng sử dụng đất hiệu quả, bền vững cho quỹ đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Mỹ
Trang 12Đức Được sự đồng ý của Khoa Quản lý đất đai và dưới sự hướng dẫn của PGS
TS Đỗ Nguyên Hải, tôi thực hiện đề tài: "Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội"
2 Mục đích ngiên cứu, yêu cầu của đề tài
- Điều tra, đánh giá, xác định được những ưu điểm, nhược điểm và hạn chế trong sử dụng đất nông nghiệp của huyện Mỹ Đức;
- Đề xuất các loại hình sử dụng đất hiệu quả trên địa bàn nghiên cứu;
- Đề xuất các giải pháp cho sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững
ở địa bàn nghiên cứu
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đất và vai trò của đất trong sản xuất nông nghiệp
1.1.1 Khái niệm về đất và đất sản xuất nông nghiệp
Đất đã có từ lâu nhưng khái niệm về đất mới có từ thế kỷ XVIII Trong từng lĩnh vực khác nhau, các nhà khoa học khái niệm về đất khác nhau
Nhà bác học người Nga Đocutraiep (1846 – 1903) năm 1883 đưa ra định nghĩa: “Đất là một vật thể thiên nhiên được hình thành do tác động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất: sinh vật, đá mẹ, khí hậu, địa hình và thời gian” Sau này người ta bổ sung thêm yếu tố thứ 6 là con người, là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành đất trồng trọt (trích theo Vũ Năng Dũng, 1997) Tuy vậy, khái niệm này chưa đề cập tới sự tác động của các yếu tố khác tồn tại trong môi trường xung quanh, do đó sau này một số học giả khác đã bổ sung các yếu tố như nước ngầm và đặc biệt là vai trò của con người để hoàn chỉnh khái niệm nêu trên Học giả người Anh, Wiliam đã đưa thêm khái niệm về đất như đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cho cây Bàn về vấn đề này, Các Mác đã viết: “Đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp”, “Điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và sinh sống của hàng loạt thế hệ loài người kế tiếp nhau” (trích theo Vũ Năng Dũng, 1997) Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái, bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất (FAO, 1976)
Theo quan niệm của các nhà thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho rằng
“Đất là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được” và đất đai được hiểu theo nghĩa rộng: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các yếu tố cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới
bề mặt bao gồm: khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (trích theo Vũ Năng Dũng, 1997)
Trang 14Đất nông nghiệp: Là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng
Theo điều 10 Luật Đất đaiViệt Nam năm 2013, đất đai được chia thành 3 nhóm lớn là: nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa
sử dụng
Nhóm đất nông nghiệp bao gồm: Đất trồng cây hàng năm (gồm đất trồng lúa
và đất trồng cây hàng năm khác); đất trồng cây lâu năm; đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất nuôi trồng thủy sản; đất làm muối; đất nông nghiệp khác Đất nông nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Đất nông nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất và làm ra sản phẩm cần thiết nuôi sống xã hội
Với ý nghĩa đó, đất nông nghiệp được hiểu là đất được sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc sử dụng vào mục đích nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp Khi nói đến đất nông nghiệp người ta thường nói đến đất sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành nông nghiệp, bởi vì thực tế có trường hợp đất đai được sử dụng vào những mục đích khác nhau của các ngành Trong trường hợp đó, đất đai được sử dụng chủ yếu cho hoạt động sản xuất nông nghiệp mới được coi là đất nông nghiệp, nếu không sẽ là các loại đất khác (tùy theo việc sử dụng vào mục đích nào là chính)
1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của đất trong sản xuất nông nghiệp
Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật”, Luật Đất đai2013 khẳng định “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các
cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng” Trong sản xuất nông lâm nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt không thể thay thế, với những đặc điểm:
- Đất đai được coi là tư liệu sản xuất chủ yếu trong sản xuất nông lâm
Trang 15nghiệp, bởi vì nó vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất Đất đai là đối tượng bởi lẽ nó là nơi con người thực hiện các hoạt động của mình tác động vào cây trồng vật nuôi để tạo ra sản phẩm;
- Đất đai là loại tư liệu sản xuất không thể thay thế: bởi vì đất đai là sản phẩm của tự nhiên, nếu biết sử dụng hợp lý sẽ làm cho sức sản xuất của đất đai ngày càng tăng lên Điều này đòi hỏi trong quá trình sử dụng đất phải đứng trên quan điểm bồi dưỡng, bảo vệ, làm giàu thông qua những hoạt động có ý nghĩa của con người;
- Đất đai là tài nguyên bị hạn chế bởi ranh giới đất liền và bề mặt địa cầu Đặc điểm này ảnh hưởng đến khả năng mở rộng quy mô sản xuất nông - lâm nghiệp
và sức ép về lao động và việc làm, do nhu cầu nông sản ngày càng tăng trong khi diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Việc khai khẩn đất hoang hóa đưa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp đã làm cho quỹ đất nông nghiệp tăng lên Đây
là xu hướng vận động cần khuyến khích Tuy nhiên, đất đưa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp là đất hoang hóa, nằm trong quỹ đất chưa sử dụng Vì vậy, cần phải đầu
tư lớn về sức người và sức của Trong điều kiện nguồn lực có hạn, cần phải tính toán
kỹ để đầu tư cho công tác này thực sự có hiệu quả;
- Đất đai được coi là một loại tài sản, người chủ sử dụng có quyền nhất định do pháp luật của mỗi nước quy định, tạo thuận lợi cho việc tập trung, tích tụ
và chuyển hướng sử dụng đất, từ đó phát huy được hiệu quả nếu biết sử dụng đầy
đủ và hợp lý
Như vậy, đất đai là yếu tố hết sức quan trọng và tích cực của quá trình sản xuất nông nghiệp Thực tế cho thấy thông qua quá trình phát triển của xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất - văn minh tinh thần, các thành tựu vật chất, văn hoá khoa học đều được xây dựng trên nền tảng
cơ bản đó là đất và sử dụng đất, đặc biệt là đất nông lâm nghiệp Vì vậy, sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả là một trong những điều kiện quan trọng nhất cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững
* Vấn đề suy thoái đất nông nghiệp
Hiện nay trên thế giới có khoảng 3,3 tỷ ha đất nông nghiệp, trong đó đã
Trang 16khai thác được 1,5 tỷ ha; còn lại phần đa là đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn (Ngô Thế Dân, 2001) Bên cạnh đó, đất nông nghiệp còn phải đối mặt với hiện tượng suy thoái khá trầm trọng Hiện tượng này có liên quan chặt chẽ đến chất lượng đất và môi trường (Ngô Thế Dân, 2001)
Theo báo cáo của World Bank (World Bank, 1995), hàng năm mức sản xuất so với yêu cầu sử dụng lương thực vẫn thiếu hụt từ 150 – 200 triệu tấn, trong khi đó vẫn có từ 6 – 7 triệu ha đất nông nghiệp bị loại bỏ do xói mòn Trong 1200 triệu ha đất bị thoái hoá có tới 544 triệu ha đất nông nghiệp bị mất khả năng sản xuất do sử dụng không hợp lý (World Bank, 1995)
Báo cáo của Viện Tài nguyên thế giới, cho thấy gần 20% diện tích đất đai châu Á bị suy thoái do những hoạt động của con người Trong đó hoạt động sản xuất nông nghiệp là một nguyên nhân không nhỏ Quá trình thâm canh tăng vụ trong nông nghiệp đã làm phá hủy cấu trúc đất, xói mòn và suy kiệt dinh dưỡng (ESCAP/FAO/UNIDO, 1993)
Dự án điều tra, đánh giá tốc độ thoái hóa đất ở một số nước vùng nhiệt đới châu Á cho phát triển nông nghiệp bền vững trong chương trình môi trường của Trung tâm Đông Tây và khối các trường đại học Đông Nam Châu Á đã tập trung nghiên cứu những thay đổi dinh dưỡng trong hệ sinh thái nông nghiệp Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố dinh dưỡng N, P, K của hầu hết các hệ sinh thái đều bị suy giảm Nghiên cứu cũng chỉ ra nguyên nhân của sự thất thoát dinh dưỡng trong đất là do thâm canh thiếu phân bón và đưa các sản phẩm của cây trồng, vật nuôi ra khỏi hệ thống (ESCAP/FAO/UNIDO, 1993)
Ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu đều cho thấy đất ở vùng trung du miền núi đều nghèo các chất dinh dưỡng P, K, Ca và Mg Để đảm bảo đủ dinh dưỡng, đất không bị thoái hóa thì N, P là hai yếu tố cần phải được bổ sung thường xuyên (ESCAP/FAO/UNIDO, 1993)
Trong quá trình sử dụng đất, do chưa tìm được các loại sử dụng đất hợp lý hoặc chưa có công thức luân canh hợp lý cũng gây ra hiện tượng thoái hóa đất như: vùng đất dốc mà trồng cây lương thực, đất có dinh dưỡng kém lại không luân canh với cây họ đậu Trong điều kiện nền kinh tế kém phát triển, người dân tập
Trang 17trung chủ yếu vào trồng cây lương thực đã gây ra hiện tượng xói mòn, suy thoái đất Điều kiện kinh tế và sự hiểu biết của con người còn thấp dẫn tới việc sử dụng phân bón còn nhiều hạn chế và sừ dụng thuốc BVTV quá nhiều, ảnh hưởng tới môi trường Tadon H.L.S (1993) chỉ ra rằng: “ Sự suy kiệt đất và các chất dự trữ trong đất cũng là biểu hiện thoái hóa về môi trường, do vậy việc cải tạo độ phì của đất là đóng góp cho cải thiện cơ sở tài nguyên thiên nhiên và còn hơn nữa cho chính môi trường”
1.2 Đặc điểm và phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1 Khái quát về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1.1.Khái niệm và bản chất hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
a Khái niệm hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại Khi đánh giá
hoạt động sản xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm đó Đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung đánh giá của hiệu quả Ngày nay nhiều nhà khoa học cho rằng: xác định đúng khái niệm, bản chất hiệu quả sử dụng phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những nhận thức lý luận của lý thuyết hệ thống, nghĩa là hiệu quả phải được xét trên 3 khía
cạnh: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường
Sử dụng đất nông nghiêp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới
b Bản chất hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất người ta thường đánh giá trên 3 khía cạnh: Hiệu quả về mặt kinh tế sử dụng đất, hiệu quả về mặt xã hội và hiệu quả về mặt môi trường
+ Hiệu quả kinh tế
Theo các nhà khoa học kinh tế Samuel - Norhuas: “Hiệu quả có nghĩa là không lãng phí” Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng số lượng một loại hàng hóa này
Trang 18mà không cắt giảm số lượng một loại hàng hóa khác”
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp và với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác Vì thế hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được ba vấn đề:
Một là: Mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật “tiết kiệm
thời gian”, nó là động lực phát triển của lực lượng sản xuất, là điều kiện quyết định phát triển văn minh xã hội và nâng cao đời sống con người qua mọi thời đại
Hai là: Hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết
hệ thống Quan điểm của lý thuyết hệ thống cho rằng nền sản xuất xã hội là một
hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người với con người trong quá trình sản xuất Hệ thống là một tập hợp các phần tử có quan hệ với nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất và luôn vận động
Ba là: Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người Do những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng,
vì thế nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất
xã hội
Các nhà sản xuất và quản lý kinh tế cần phải nâng cao chất lượng các hoạt động kinh tế nhằm đạt mục tiêu với một lượng tài nguyên nhất định tạo ra một khối lượng sản phẩm lớn nhất hoặc tạo ra một khối lượng sản phẩm nhất định với chi phí tài nguyên ít nhất
Vì vậy, bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là: Với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội
+ Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế
và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hóa các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính chất định tính như tạo công ăn việc làm cho lao
Trang 19động, xóa đói giảm nghèo, định canh, định cư, công bằng xã hội, nâng cao mức sống của toàn dân
Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc Theo Nguyễn Duy Tính (1995) thì hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích
đất nông nghiệp
Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm
đến những tác động của sản xuất nông nghiệp đến các vấn đề xã hội như: giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí trong nông thôn
+ Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường là môi trường được sản sinh do tác động của hóa học, sinh học, lý học…, chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường của
các loại vật chất trong môi trường Hiệu quả môi trường là vấn đề đang được cả
nhân loại quan tâm
Hiệu quả hoá học môi trường được đánh giá thông qua mức độ sử dụng các chất hoá học trong nông nghiệp Đó là việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao và không gây ô nhiễm môi trường
Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại nhằm giảm thiểu việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được mục tiêu đề ra Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhất tài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạt được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào
1.2.1.2 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
a Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi đó nhu cầu của con người lấy
từ đất ngày càng tăng, mặt khác đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do bị trưng dụng sang các mục đích khác Vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta với
Trang 20mục tiêu nâng cao hiệu quả KT-XH trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu Sử dụng đất nông nghiệp trong sản xuất nông nghiệp trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển KT-XH, tận dụng được tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hướng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác sử dụng bền vững nguồn tài nguyên đất (Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung và các cộng sự, 1997)
Do đó, đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc “đầy đủ và hợp lý”, phải có các quan điểm đúng đắn theo xu hướng tiến bộ phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, làm cơ sở thực hiện việc sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao
Thực hiện sử dụng đất nông nghiệp “đầy đủ và hợp lý” là cần thiết vì:
- Sử dụng đất nông nghiệp hợp lý sẽ làm tăng nhanh khối lượng nông sản trên 1 đơn vị diện tích, xây dựng cơ cấu cây trồng, chế độ bón phân hợp lý góp phần bảo vệ độ phì đất
- Sử dụng đất nông nghiệp đầy đủ và hợp lý là tiền đề để sử dụng có hiệu quả cao các nguồn tài nguyên khác, từ đó nâng cao đời sống của nông dân
- Sử dụng đầy đủ và hợp lý đất nông nghiệp trong cơ chế kinh tế thị trường cần phải xét đến tính quy luật của nó, gắn với các chính sách vĩ mô nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển nền nông nghiệp bền vững (Ngô Thế Dân, 2001)
b Quan điểm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp:
- Tận dụng triệt để các nguồn lực thuận lợi, khai thác lợi thế so sánh về khoa học- kỹ thuật, đất đai, lao động qua liên kết trao đổi để phát triển cây trồng, vật nuôi có tỉ suất hàng hoá cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu (Vũ Năng Dũng, 1997)
- Trên quan điểm phát triển hệ thống nông nghiệp, thực hiện sử dụng đất nông nghiệp theo h¬ướng tập trung chuyên môn hoá, sản xuất hàng hoá theo hướng ngành
Trang 21hàng, nhóm sản phẩm, thực hiện thâm canh toàn diện và liên tục Thâm canh cây trồng, vật nuôi vừa để đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp vừa đảm bảo phát triển một nền nông nghiệp ổn định (Ngô Thế Dân, 2001)
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở thực hiện “đa dạng hoá” hình thức sở hữu, tổ chức sử dụng đất nông nghiệp, đa dạng hoá cây trồng vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với sinh thái và bảo
vệ môi trường (Lê Văn Bá, 2001)
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp gắn liền với chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất và quá trình tập trung ruộng đất nhằm giải phóng bớt lao động sang các hoạt động phi nông nghiệp (Vũ Năng Dũng, 1997)
- Các quan điểm sử dụng đất nông nghiệp cụ thể là:
+ Quan điểm phải khai thác triệt để, hợp lý có hiệu quả quỹ đất nông nghiệp ; + Quan điểm chuyển mục đích sử dụng phù hợp
+ Quan điểm duy trì và bảo vệ đất nông nghiệp
+ Quan điểm tiết kiệm, làm giàu đất nông nghiệp
+ Quan điểm bảo vệ môi trường đất để sử dụng lâu dài
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất là hết sức cần thiết, nó giúp cho việc đưa ra những đánh giá phù hợp với từng loại vùng đất
để trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất Các nhân tố ảnh hưởng có thể chia thành 3 nhóm:
- Nhóm yếu tố điều kiện tự nhiên:
Bao gồm điều kiện khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý, địa hình, thổ nhưỡng, môi trường sinh thái, nguồn nước chúng có ảnh hưởng một cách rõ nét, thậm chí quyết định đến kết quả và hiệu quả sử dụng đất (Vũ Ngọc Hùng, 2007)
+ Đặc điểm lý, hoá tính của đất: Trong sản xuất nông lâm nghịêp, thành phần cơ giới, kết cấu đất, hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ trong đất, quyết định đến chất lượng đất và sử dụng đất Quỹ đất đai nhiều hay ít, tốt hay xấu, có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng đất
Trang 22+ Nguồn nước và chế độ nước là yếu tố rất cần thiết, nó vừa là điều kiện quan trọng để cây trồng vận chuyển chất dinh dưỡng vừa là vật chất giúp cho sinh vật sinh trưởng và phát triển
+ Địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng: Điều kiện địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng là yếu tố quyết định lớn đến hiệu quả sản xuất, độ phì đất có ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển và năng suất cây trồng vật nuôi
+ Vị trí địa lý của từng vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt
độ, nguồn nước, gần đường giao thông, khu công nghiệp, sẽ quyết định đến khả năng và hiệu quả sử dụng đất Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất nông lâm nghiệp cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế sẵn có nhằm đạt được hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường (Vũ Ngọc Hùng, 2007)
- Nhóm các yếu tố kỹ thuật canh tác:
+ Biện pháp kĩ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hòa giữa các yếu tố của các quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích lũy năng suất kinh tế Đây là những tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh và sắc sảo Trên cơ sở nghiên cứu các quy luật tự nhiên của sinh vật lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các đầu vào nhằm đạt các mục tiêu sử dụng đất đề ra Các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thủy lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới đối với tổ chức sử dụng đất Có nghĩa là ứng dụng công nghiệp sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh
tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh (Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung và cs., 1998)
- Nhóm các yếu tố kinh tế tổ chức:
+ Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất: Phát triển sản xuất hàng hoá phải gắn với công tác quy hoạch và phân vùng sinh thái nông nghiệp Cơ sở để tiến hành quy hoạch dựa vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc trưng cho từng vùng Việc phát triển sản xuất nông nghiệp phải đánh giá, phân tích thị trường tiêu thụ và gắn với quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến, kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và các thể chế pháp luật về bảo vệ tài nguyên, môi trường
Trang 23Đó sẽ là cơ sở để phát triển sản xuất, khai thác các tiềm năng của đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển sản xuất hàng hoá (Vũ Thị Phương Thụy, 2000)
+ Hình thức tổ chức sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp (Hội Khoa học Đất, 2000) Vì thế, cần phát huy thế mạnh của các loại hình sử dụng đất trong từng cơ sở sản xuất, thực hiện đa dạng hóa các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một
hệ thống tổ chức sản xuất phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa các hình thức đó
+ Dịch vụ kỹ thuật: Sản xuất hàng hoá của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ kỹ thuật và việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất Vì sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển đòi hỏi phải không ngừng nâng cao chất lượng nông sản và hạ giá thành nông sản phẩm (Vũ Thị Thanh Tâm, 2007)
- Nhóm các yếu tố điều kiện kinh tế, xã hội:
Bao gồm rất nhiều nhân tố (chế độ xã hội, dân số, cơ sở hạ tầng, môi trường chính sách,…) các yếu tố này có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với kết quả và hiệu quả sử dụng đất
+ Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp: Trong các yếu tố cơ
sở hạ tầng phục vụ sản xuất, yếu tố giao thông vận tải là quan trọng nhất, nó góp phần vào việc trao đổi tiêu thụ sản phẩm cũng như dịch vụ những yếu tố đầu vào cho sản xuất Các yếu tố khác như thủy lợi, điện, thông tin liên lạc, dịch vụ, nông nghiệp đều có sự ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng Trong đó, thuỷ lợi
và điện là yếu tố không thể thiếu trong điều kiện sản xuất hiện nay Các yếu tố còn lại cũng có hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất
+ Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông lâm sản là cầu nối giữa người sản xuất và tiêu dùng, ở đó người sản xuất thực hiện việc trao đổi hàng hoá Theo Nguyễn Duy Tính (Nguyễn Duy Tính, 1995), ba yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là năng suất cây trồng, hệ số quay vòng đất
và thị trường cung ứng đầu vào và tiêu thụ đầu ra Trong cơ chế thị trường, các
Trang 24nông hộ hoàn toàn tự do lựa chọn hàng hoá họ có khả năng sản xuất, đồng thời
họ có xu hướng hợp tác, liên doanh, liên kết để sản xuất ra những nông sản hàng hoá mà nhu cầu thị trường cần với chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị hiếu của khách hàng Muốn mở rộng thị trường phải phát triển hệ thống cơ sở
hạ tầng, hệ thống thông tin, dự báo, mở rộng các dịch vụ tư vấn Đồng thời, quy hoạch các vùng trọng điểm sản xuất hàng hoá để người sản xuất biết nên sản xuất cái gì? bán ở đâu? mua tư liệu sản xuất và áp dụng khoa học công nghệ gì? Sản phẩm hàng hoá của Việt Nam đa dạng, phong phú về chủng loại, chất lượng, giá rẻ và đang được lưu thông trên thị trường là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá có hiệu quả (Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung và cs., 1998)
+ Trình độ kiến thức, khả năng và tập quán sản xuất của chủ sử dụng đất thể hiện khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất, khả năng về vốn lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh nghiệm truyền thống trong sản xuất và cách xử lý thông tin để ra quyết định trong sản xuất
+ Hệ thống chính sách: Chính sách đất đai, chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, chính sách khuyến nông, chính sách hỗ trợ giá, chính sách định canh định
cư, chính sách dân số, lao động việc làm, đào tạo kiến thức, chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách xoá đói giảm nghèo các chính sách này đã có những tác động rất lớn đến vấn đề sử dụng đất, phát triển và hình thành các loại hình sử dụng đất mới đặc biệt, cho đối tượng là đồng bào dân tộc tại địa phương
Phát triển nông nghiệp nước ta thực sự khởi sắc sau sự kiện đổi mới của pháp luật và một loạt chính sách về đất đai bắt đầu là Nghị quyết 10 của Bộ chính trị vào tháng 4 năm 1988, người nông dân được giao đất nông nghiệp sử dụng ổn định, lâu dài, được thừa nhận như một đơn vị kinh tế và được tự chủ trong sản xuất nông nghiệp Sự ra đời của Luật Đất đai1993; sau đó là luật sửa đổi bổ sung Luật Đất đainăm 1998 và năm 2001; Luật Đất đainăm 2003; Nghị định 64/CP năm 1993 về giao đất nông nghiệp và Nghị định 02/CP năm 1994
về giao đất rừng và một loạt các văn bản liên quan khác đã đem lại luồng gió
Trang 25mới cho sản xuất nông nghiệp Nước ta từ chỗ phải nhập khẩu lương thực nay
đã có thể tự túc lương thực và trở thành một nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới
+ Sự ổn định chính trị - xã hội và các chính sách của Nhà nước: ổn định chính trị là yếu tố then chốt để tạo nên sự khác biệt giữa Việt Nam và các nước khác trong khu vực Đầu tư vào một nước có nền chính trị ổn định tạo tâm lý yên tâm về khả năng tìm kiếm lợi nhuận và thu hồi vốn, giúp các nhà đầu tư có thể tính toán chiến lược đầu tư lớn và dài hạn
1.2.3 Đặc điểm, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.2.3.1 Đặc điểm đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
Do dân số tăng nhanh đã thúc đẩy nhu cầu con người về những sản phẩm lấy
từ đất ngày càng tăng, trong khi diện tích đất có hạn, vì thế nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là rất cần thiết, vậy nên khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp cần chú ý các đặc điểm sau:
- Quá trình sản xuất trên đất nông nghiệp phải sử dụng nhiều yếu tố đầu vào kinh tế và không kinh tế (ánh sáng, nhiệt độ, không khí…) Vì thế, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước tiên phải được xác định bằng kết quả thu được trên một đơn vị diện tích cụ thể là 1 ha, tính trên 1 đồng chi phí, 1 lao động đầu tư
- Trên đất nông nghiệp có thể bố trí các cây trồng, các hệ thống luân canh,
do đó cần phải đánh giá hiệu quả của từng cây trồng, từng hệ thống luân canh trên mỗi vùng đất
- Thâm canh là một biện pháp sử dụng đất nông nghiệp theo chiều sâu, tác động đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước mắt và lâu dài Vì thế cần phải nghiên cứu hiệu quả của việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, nghiên cứu ảnh hưởng của việc tăng đầu tư thâm canh đến quá trình sử dụng đất
- Phát triển nông nghiệp chỉ có thể thích hợp được khi con người biết cách làm cho môi trường không bị phá hủy gây tác hại đến đời sống xã hội Đồng thời, cần tạo ra môi trường thiên nhiên và xã hội thuận lợi cho sự phát triến nông nghiệp ở giai đoạn hiện tại và mở ra những điều kiện phát triển trong tương lai Do đó, cần đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp đến
Trang 26môi trường xung quanh, phải đánh giá khả năng thích hợp của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có phù hợp với đất đai hay không, việc sử dụng hóa chất trong nông nghiệp có để lại tồn dư hay không
- Lịch sử nông nghiệp thể hiện sự phát triển mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội sâu sắc Nói đến nông nghiệp không thể không nói đến nông dân, đến các quan hệ sản xuất trong nông thôn Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những tác động của sản xuất nông nghiệp đến các vấn đề xã hội như: giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí trong nông thôn
1.2.3.2 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuât nông nghiệp
- Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả đối với toàn xã hội là khả năng thỏa mãn nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng cho xã hôi bằng của cải vật chất sản xuất ra Đối với nông nghiệp, tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là mức đạt được các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường do xã hội đặt ra như tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm, hướng tới thỏa mãn tốt nhu cầu nông sản cho thị trường trong nước và tăng xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêu cầu về bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững (Đào Châu Thu, 1999)
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là trên một đơn vị đất nông nghiệp nhất định có thể sản xuất đạt được những kết quả cao nhất với chi phí bỏ
ra ít nhất, ảnh hưởng môi trường ít nhất (Đào Châu Thu, 1999)
- Quan hệ giữa sản xuất nông nghiệp và công nghiệp trên cùng một lãnh thổ là quan hệ nhân quả: Nguyên liệu cho công nghiệp và vấn đề xử lý chất thải
* Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất
- Cơ sở để lựa chọn hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
+ Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp; + Nhu cầu của địa phương về phát triển hoặc thay đổi loại sử dụng đất nông nghiệp;
+ Các khả năng về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới được đề xuất cho các thay đổi sử dụng đất đó
Trang 27- Nguyên tắc khi lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
+ Hệ thống chỉ tiêu phải có tính thống nhất, tính toàn diện và tính hệ thống Các chỉ tiêu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh có thang bậc + Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu cơ bản biểu hiện hiệu quả theo quan điểm và tiêu chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu
chỉnh chỉ tiêu cơ bản, làm cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn + Hệ thống chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật và
đúng đắn nhất và tiêu chuẩn và quan điểm đã đặt ra ở trên, để làm cơ sở cho sự lựa chọn các giải pháp tối ưu và phải gắn với cơ chế quản lý kinh tế, phù hợp với đặc điểm và trình độ hiện tại của nền kinh tế
+ Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ nông nghiệp ở nước
ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại, nhất là những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu
+ Hệ thống chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn và tính khoa học và phải có tác dụng kích thích phát triển
Lựa chọn hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp:
- Chỉ tiêu kinh tế
+ Giá trị sản xuất (GO - Gross Output): Là giá trị toàn bộ sản phẩm sản xuất ra trong kỳ sử dụng đất (một vụ, một năm, tính cho từng cây trồng và có thể tính cho cả công thức luân canh hay hệ thống sử dụng đất);
+ Chi phí trung gian (IC - Intermediate Cost): Là toàn bộ chi phí vật chất
Trang 28và dịch vụ sản xuất quy ra tiền sử dụng trực tiếp cho quá trình sử dụng đất (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật,…)
+ Giá trị gia tăng (VA - Value Added): Là giá trị sản phẩm vật chất mới tạo ra trong quá trình sản xuất, trong một năm hoặc một chu kỳ sản xuất, được xác định bằng giá trị sản xuất trừ chi phí trung gian
VA = GO – IC
Thường tính toán ở 3 góc độ hiệu quả:
VA/1ha đất
VA/1 đơn vị chi phí (VA/1 đồng, 1 USD…)
VA/1 công lao động
+ Thu nhập hỗn hợp (MI - Mixed Income): Là thu nhập sau khi đã trừ các khoản chi phí trung gian, thuế, khấu hao tài sản cố định, chi phí lao động thuê ngoài
MI = VA - T (thuế) - A (khấu hao) - L (chi lao động thuê ngoài)
Thường tính trên 3 góc độ hiệu quả:
MI/1ha đất
MI/1 đơn vị chi phí (MI/1 đồng, 1USD…)
MI/ 1 công lao động
- Chỉ tiêu về môi trường
+ Mức độ thích hợp của hệ thống cây trồng đối với đất: tỷ lệ các loại cây trồng có khả năng cải tạo đất và bảo vệ đất);
+ Mức đầu tư phân bón (đánh giá mức đầu tư phân bón vô cơ và hữu cơ); + Mức đầu tư thuốc bảo vệ thực vật (đánh giá mức đầu tư thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học và sinh học)
Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất nông nghiệp là rất phức tạp, rất khó định lượng, đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân
Trang 29tích trong thời gian dài Vì vậy những đề tài nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc đánh giá hiệu quả môi trường thông qua việc đánh giá thích hợp của các cây trồng đối với điều kiện đất đai hiện tại, thông qua kết quả điều tra về đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và kết quả phỏng vấn hộ nông dân về nhận xét của họ đối với các loại hình sử dụng đất hiện tại
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất cần kết hợp chặt chẽ giữa 3 hệ thống chỉ tiêu kinh tế, xã hội và môi trường trong một thể thống nhất Tuy nhiên, tùy từng điều kiện cụ thể mà ta có thể nhấn mạnh từng hệ thống chỉ tiêu ở mức độ khác nhau
1.3 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Những nghiên cứu trên thế giới;
1.3.1.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Đất nông nghiệp là nhân tố vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp Trên thế giới, mặc dù nền sản xuất nông nghiệp của các nước phát triển không giống nhau nhưng tầm quan trọng đối với đời sống con người thì quốc gia nào cũng thừa nhận Hầu hết các nước coi sản xuất nông nghiệp là cơ
sở nên tảng của sự phát triển Tuy nhiên, khi dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn Để đảm bảo an ninh lương thực loài người phải tăng cường các biện pháp khai hoang đất đai Do
đó, đã phá vỡ cân bằng sinh thái của nhiều vùng, đất đai bị khai thác triệt để
và không còn thời gian nghỉ, các biện pháp gìn giữ độ phì nhiêu cho đất chưa được coi trọng Kết quả là hàng loạt diện tích đất bị thoái hoá trên phạm vi toàn thế giới qua các hình thức bị mất chất dinh dưỡng và chất hữu cơ, bị xói mòn, bị nhiễm mặn và bị phá hoại cấu trúc của tầng đất Người ta ước tính có tới 15% tổng diện tích đất trên trái đất bị thoái hoá do những hành động bất cẩn của con người gây ra (Rosemary Morrow, 1994) Theo Vũ Ngọc Tuyên (1994), toàn bộ đất có khả năng nông nghiệp của thế giới chừng 3,3 tỷ ha (chiếm 22% tổng diện tích đất liền); khoảng 78% (xấp xỉ 11,7 tỷ ha) không dùng được vào nông nghiệp (Nguyễn Văn Thông, 2002)
Đất trồng trọt là đất đang sử dụng, cũng có loại đất hiện tại chưa sử dụng nhưng có khả năng trồng trọt Đất đang trồng trọt của thế giới có khoảng 1,5 tỷ
Trang 30ha (chiếm xấp xỉ 10,8% tổng diện tích đất đai và 46% đất có khả năng trồng trọt) Như vậy, còn 54% đất có khả năng trồng trọt chưa được khai thác (Vũ Ngọc Tuyên, 1994)
Đất đai trên thế giới phân bố ở các châu lục không đều Tuy có diện tích đất nông nghiệp khá cao so với các Châu lục khác nhưng Châu Á lại có tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp trên tổng diện tích đất tự nhiên thấp Mặt khác, Châu Á là nơi tập trung phần lớn dân số thế giới, ở đây có các quốc gia dân số đông nhất nhì thế giới là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia Ở Châu Á, đất đồi núi chiếm 35% tổng diện tích Tiềm năng đất trồng trọt nhờ nước trời nói chung là khá lớn khoảng 407 triệu ha, trong đó xấp xỉ
282 triệu ha đang được trồng trọt và khoảng 100 triệu ha chủ yếu nằm trong vùng nhiệt đới ẩm của Đông Nam Á Phần lớn diện tích này là đất dốc và chua; khoảng 40-
60 triệu ha trước đây vốn là đất rừng tự nhiên che phủ, nhưng đến nay do bị khai thác khốc liệt nên rừng đã bị phá và thảm thực vật đã chuyển thành cây bụi và cỏ dại Đất nông nghiệp của thế giới có hạn và được dự đoán là ngày càng tăng do khai thác thêm những diện tích đất có khả năng nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu về lương thực thực phẩm cho loài người Tuy nhiên, do dân số ngày một tăng nhanh nên bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người ngày một giảm Đông Nam Á là một khu vực đặc biệt Từ số liệu của UNDP năm 1995 (Đỗ Nguyên Hải, 2001) cho ta thấy đây là một khu vực có dân số khá đông trên thế giới nhưng diện tích đất nông nghiệp thấp, khi nghiên cứu sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp của một số nước Đông Nam Á cho thấy:
+ Các nước đang chuyển đổi nhanh cơ cấu kinh tế và cơ cấu nông nghiệp theo hướng tập trung phát triển ngành hàng dựa vào lợi thế và cải tổ để đương đầu với những thách thức mới của thế kỷ XXI
+ Thái Lan: Phát huy thế mạnh sẵn có, phát triển mạnh sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu nông sản theo hướng đa dạng hoá sản phẩm, giảm bớt rủi ro thị trường và tăng cường đầu tư công nghệ chế biến
+ Malaixia: Tập trung sản xuất hàng hoá có lợi thế cạnh tranh cao để xuất khẩu, phát triển nông nghiệp thành một lĩnh vực hiện đại và thương mại hoá cao Tăng cường phát triển ngành chế biến gắn với sản xuất nông nghiệp dựa vào tài
Trang 31nguyên của từng địa phương
+ Inđônêxia: Hướng mạnh vào sản xuất hàng hoá các mặt hàng có lợi thế như: hạt tiêu, hoa quả, gỗ và các sản phẩm từ gỗ, tôm đông lạnh và cá ngừ + PhiliPin: Phát huy thế mạnh sẵn có xây dựng các vùng chuyên canh gắn với công nghiệp chế biến, hệ thống thông tin, ứng dụng và tiếp thị Tăng cường đầu
tư cho nghiên cứu chuyển giao, áp dụng công nghệ và khuyến nông Thay đổi chiến lược chính sách nông nghiệp từ bảo trợ sản xuất sang tăng cường cạnh tranh
1.3.1.2 Hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới
Sản xuất nông nghiệp trên thế giới ở các nước khác nhau thì có các chiến lược phát triển khác nhau, nhưng nhìn chung nó được chia làm hai xu hướng phát triển sau:
Nông nghiệp công nghiệp hoá: Đó là ngành nông nghiệp sử dụng nhiều
thành tựu và kết quả của công nghiệp, sử dụng nhiều vật tư kỹ thuật, dùng trang thiết bị máy móc, sản xuất theo quy trình kỹ thuật chặt chẽ gần như công nghiệp, đạt năng suất cây trồng vật nuôi và năng suất lao động cao Khoảng 10% lao động xã hội trực tiếp làm nông nghiệp nhưng vẫn đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng
và xuất khẩu Nông nghiệp công nghiệp hoá gây nên nhiều hậu quả sinh thái nghiêm trọng, gây ô nhiễm môi trường làm giảm tính đa dạng sinh học, làm hao hụt nguồn gen thiên nhiên
Nông nghiệp sinh thái: Đó là ngành nông nghiệp đưa ra nhằm khắc phục
những nhược điểm của nông nghiệp công nghiệp hoá, nông nghiệp sinh thái nhấn mạnh việc đảm bảo tuân thủ những nguyên tắc về sinh học trong nông nghiệp, với mục tiêu: Cải thiện chất lượng dinh dưỡng thức ăn; Nâng cao độ phì nhiều của đất bằng phân bón hữu cơ, tăng chất mùn trong đất; Hạn chế mọi dạng
ô nhiễm môi trường đất, nước, và thức ăn
Trong thực tế đã có những khuynh hướng phát triển trong sản xuất nông nghiệp được coi như những cuộc cách mạng làm thay đổi cục diện của nền sản xuất nhằm đáp ứng cho nhu cầu của con người Cụ thể như :
- “Cách mạng xanh’’ đã được thực hiện ở các nước đang phát triển ở châu
Á, Mỹ la tinh và đã đem lại những bước phát triển lớn ở những nước đó vào
Trang 32những năm của thập kỷ 60 Thực chất cuộc cách mạng này dựa chủ yếu vào việc
áp dụng các giống cây lương thực có năng suất lúa cao (lúa nước, lúa mì, ngô ) xây dựng hệ thống thuỷ lợi, sử dụng nhiều loại phân hoá học “Cách mạng xanh”
đã dựa vào cả một số yếu tố sinh học, một số yếu tố hoá học và cả thành tựu của công nghiệp
- “Cách mạng trắng” được thực hiện dựa vào việc tạo ra các giống gia súc
có tiềm năng cho sữa cao, vào những tiến bộ khoa học đạt được trong việc tăng năng suất và chất lượng các loại gia súc, trong các phương thức chăn nuôi mang
ít nhiều tính chất công nghiệp Cuộc cách mạng này đã tạo được những bước phát triển lớn trong chăn nuôi ở một số nước và được thực hiện trong mối quan
hệ chặt chẽ với “Cách mạng xanh”
- “Cách mạng nâu” diễn ra trên cơ sở giải quyết mối quan hệ của nông dân với ruộng đất Trên cơ sở khơi dậy lòng yêu quý của nông dân đối với đất đai, khuyến khích tính cần cù của họ để tăng năng suất và sản lượng trong nông nghiệp (Đường Hồng Dật và cs, 1994)
Cả ba cuộc cách mạng này mới chỉ dừng lại ở việc tháo gỡ những khó khăn trước mắt, chứ chưa thể là cơ sở cho một chiến lược phát triển nông nghiệp lâu dài và bền vững Giai đoạn hiện nay muốn đưa nông nghiệp đi lên phải xây dựng và thực hiện một nền nông nghiệp trí tuệ Nông nghiệp trí tuệ là bước phát triển ở mức cao, là sự kết hợp ở đỉnh cao của các thành tựu sinh học, công nghiệp, kinh tế, quản lý được vận dụng phù hợp, với điều kiện cụ thể của mỗi nước, mỗi vùng
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển thành công về sản xuất nông nghiệp và tăng trưởng về mức sống, nhiều nước đã đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng và đa dạng hoá sản xuất như: Philipin năm 1987-1992 chính phủ đã có chiến lược chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đa dạng hoá cây trồng nhằm thúc đẩy nông nghiệp phát triển; Thái Lan những năm 1982-
1996 đã có những chính sách đầu tư phát triển nông nghiệp; Ấn Độ kể từ thập kỷ 80, khi sản xuất lương thực đã đủ đảm bảo an ninh lương thực thì các chính sách phát triển nông nghiệp của chính phủ cũng chuyển sang đẩy
Trang 33mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đa dạng hoá sản xuất, phát triển nhiều cây trồng ngoài lương thực
1.3.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
1.3.2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam
Đất sản xuất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp… Việt Nam là nước có diện tích đứng thứ 4 ở vùng Đông Nam Á, nhưng dân số lại đứng ở vị trí thứ 2 nên bình quân diện tích trên đầu người xếp vào hàng thứ 9 trong khu vực Theo số liệu kiểm kê 2014, cả nước có tổng diện tích tự nhiên 33.093.857 ha bao gồm đất nông nghiệp 26.100.106 ha chiếm 79%, đất phi nông nghiệp 3.670.186 ha chiếm 11% và đất chưa sử dụng 3.323.512 ha chiếm 10% diện tích tự nhiên, trong đó có 24.989.102 ha chiếm 75,51% là đã có chủ sử dụng
Thực tế cho thấy, trong những năm qua do tốc độ công nghiệp hoá cũng như đô thị hoá diễn ra khá mạnh mẽ ở nhiều địa phương trên phạm vi cả nước
làm cho diện tích đất nông nghiệp ở Việt Nam có những biến động lớn
Thoái hóa đất đang là xu thế phổ biến đối với nhiều vùng rộng lớn ở nước
ta, đặc biệt là ở vùng miền núi, nơi tập trung ¾ quỹ đất Trên 50% diện tích đất (3,2 triệu ha) ở vùng đồng bằng và trên 60% diện tích đất (13 triệu ha) ở vùng miền núi có những vấn đề liên quan tới quá trình suy thoái hóa đất, ở miền núi, nguyên nhân suy thoái hóa đất có nhiều, song chủ yếu do phương thức canh tác nương rẫy còn thô sơ, lạc hậu của các dân tộc thiểu số, tình trạng chặt phá, đốt rừng bừa bãi, khai thác tài nguyên khoáng sản không hợp lý, lạm dụng chất hóa học trong sản xuất, việc triển khai các công trình giao thông, nhà ở… Sự suy thoái môi trường đất kéo theo sự suy thoái các quần thể động, thực vật và chiều hướng giảm diện tích đất nông nghiệp trên đầu người đã tới mức báo động (Lê Hải Đường, 2007)
Theo Nguyễn Đình Bồng (2002), đất nông nghiệp của chúng ta chỉ chiếm 28,38% và gần tương đương với diện tích này là diện tích đất chưa sử dụng Đây
là tỷ lệ cho thấy cần có nhiều biện pháp thiết thực hơn để có thể khai thác được diện tích đất nói trên phục cho các mục đích khác nhau So với một số nước trên
Trang 34thế giới, nước ta có tỷ lệ đất dùng vào nông nghiệp rất thấp Là một nước có đa phần dân số làm nghề nông thì bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người nông dân rất thấp là một trở ngại to lớn
Đây thực sự là những vấn đề đáng lo ngại và là thách thức lớn với một nước nông nghiệp như nước ta hiện nay, việc sử dụng đất nông nghiệp, đặc biệt
là đất trồng lúa thiếu thận trọng vào bất cứ việc gì cũng đều gây lãng phí và con cháu chúng ta sẽ gánh chịu những hậu quả khó lường
Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thoả mãn nhu cầu cho
xã hội về sản phẩm nông nghiệp đang trở thành vấn đề cáp bách luôn được các nhà quản lý và sử dụng đất quan tâm
1.3.2.2 Một số kết quả nghiên cứu liên quan đến nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới ẩm, có nhiều thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, nguồn tài nguyên đất có hạn, dân số lại đông, bình quân đất tự nhiên/người là 0,43 ha, chỉ bằng 1/3 mức bình quân của thế giới Mặt khác, dân số tăng nhanh làm cho bình quân diện tích đất trên đầu người ngày càng giảm Theo dự kiến, nếu tốc độ tăng dân số là 1- 1,2%/ năm thì dân số Việt Nam sẽ là 100,8 triệu người vào năm 2015 Vì thế, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là yêu cầu cần thiết đối với Việt Nam trong những năm tới (Nguyễn Thị Vòng và cs, 2001)
Ngay từ những năm 1960, Bùi Huy Đáp đã nghiên cứu đưa cây Lúa giống ngắn ngày và tập đoàn cây vụ đông vào sản xuất, do đó đã tạo ra sự chuyển biến
rõ nét trong sản xuất nông nghiệp vùng ĐBSH
Vấn đề luân canh bố trí hệ thống cây trồng để tăng vụ, gối vụ, trồng xen
để sử dụng tốt hơn tiềm năng về đất đai, khí hậu được nhiều tác giả đề cập đến Công trình nghiên cứu phân vùng sinh thái, hệ thống giống lúa, hệ thống cây trồng vùng ĐBSH chủ trì cũng đưa ra một số kết luận về phân vùng sinh thái và hướng áp dụng những giống cây trồng trên những vùng sinh thái khác nhau nhằm khai thác sử dụng đất mang lại hiệu quả kinh tế cao (Đào Thế Tuấn và cs, 1998)
Thực tế những năm qua chúng ta đã quan tâm giải quyết tốt các vấn đề về
Trang 35kỹ thuật và kinh tế, tổ chức trong sử dụng đất nông nghiệp, việc nghiên cứu và ứng dụng được tập trung vào các vấn đề như: lai tạo các giống cây trồng mới ngắn ngày có năng suất cao, bố trí luân canh cây trồng phù hợp với từng loại đất, thực hiện thâm canh trên cơ sở ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Các công trình có giá trị trên phạm vi cả nước phải kể đến công trình nghiên cứu đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền (Trần An Phong,1995); (Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 1995)
Vùng ĐBSH, với diện tích đất nông nghiệp chiếm khoảng 44% tổng diện tích đất tự nhiên toàn vùng Trong đó có gần 90% đất nông nghiệp dùng để trồng trọt (Dự án quy hoạch tổng thể Đồng bằng sông Hồng, 1994) Vì vậy, đây là nơi thu hút nhiều công trình nghiên cứu khoa học, góp phần định hướng cho việc xây dựng các hệ thống cây trồng và sử dụng đất thích hợp Trong đó phải kể đến các công trình như: Nghiên cứu đưa cây Lúa đã tạo ra sự chuyển biến rõ nét trong sản xuất nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Hồng (Ngô Thế Dân, 2001); Vấn đề luân canh
bố trí hệ thống cây trồng để tăng vụ, gối vụ, trồng xen để sử dụng tốt hơn nguồn lực đất đai, khí hậu (Nguyễn Điền 2001); Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên đất phù sa sông Hồng huyện Mỹ Văn - Tỉnh Hải Hưng của tác giả (Vũ Thị Bình,1993); Đánh giá kinh tế đất lúa vùng ĐBSH của tác giả (Quyền Đình Hà,1993); Quy hoạch
sử dụng đất vùng ĐBSH của tác giả (Phùng Văn Phúc,1996)
Công trình nghiên cứu phân vùng sinh thái, hệ thống giống lúa, hệ thống cây trồng vùng Đồng bằng sông Hồng do Đào Thế Tuấn chủ trì và hệ thống cây trồng vùng đồng bằng sông Cửu Long do Nguyễn Văn Luật chủ trì cũng đưa ra một số kết luận về phân vùng sinh thái và hướng áp dụng những giống cây trồng trên những vùng sinh thái khác nhau nhằm khai thác sử dụng đất đem lại hiệu quả kinh tế cao (Cao Liêm và cs, 1990)
Chương trình đồng trũng 1985 – 1987 do Ủy ban kế hoạch Nhà nước chủ trì, chương trình bản đồ canh tác 1988 – 1990 do Ủy ban khoa học Nhà nước chủ trì cũng đã đưa ra những quy trình hướng dẫn sử dụng giống và phân bón có hiệu quả trên các chân ruộng vùng úng trũng ĐBSH, góp phần làm tăng năng suất, sản lượng cây trồng các vùng sinh thái khác nhau
Các đề tài nghiên cứu do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì
Trang 36đã tiến hành nghiên cứu hệ thống cây trồng trên các vùng sinh thái khác nhau như vùng miền núi, vùng trung du và vùng đồng bằng nhằm đánh giá hiệu quả cây trồng trên từng vùng đất đó Từ đó định hướng cho việc khai thác tiềm năng đất đai của từng vùng sao cho phù hợp với quy hoạch chung của nền nông nghiệp
cả nước, phát huy tối đa lợi thế so sánh của từng vùng
Những năm gần đây, chương trình quy hoạch tổng thể vùng Đồng bằng sông Hồng (VIE/89/032) đã nghiên cứu đề xuất dự án phát triển đa dạng hóa nông nghiệp Đồng bằng sông Hồng (Dự án Quy hoạch tổng thể Đồng bằng sông Hồng, 1994) Các công trình nghiên cứu đã vận dụng phương pháp đánh giá đất đai của FAO thực hiện trên bản đồ tỷ lệ 1/250000 cho phép đánh giá ở mức độ tổng hợp phục vụ cho quy hoạch tổng thể vùng Đồng bằng sông Hồng
Các đề tài nghiên cứu trong chương trình KN – 01 (1991 – 1995) do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì đã tiến hành nghiên cứu hệ thống cây trồng trên các vùng sinh thái khác nhau như vùng núi và trung du phía Bắc, vùng đồng bằng sông Cửu Long… nhằm đánh giá hiệu quả của các hệ thống cây trồng trên từng vùng đất đó
Đề tài đánh giá đất và hướng sử dụng đất bền vững trong sản xuất nông nghiệp của huyện Tiên Sơn tỉnh Bắc Ninh (Đỗ Nguyên Hải, 2001)
Đề tài đánh giá hiệu quả một số mô hình đa dạng hóa cây trồng vùng Đồng bằng sông Hồng (Vũ Năng Dũng, 1997) cho thấy, ở vùng này đã xuất hiện nhiều mô hình luân canh 3 – 4 vụ/năm đạt hiệu quả kinh tế cao Đặc biệt ở vùng ven đô, vùng tưới tiêu chủ động đã có những điển hình về sử dụng đất đai đạt hiệu quả kinh tế cao Nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế cao đã được bố trí trong công thức luân canh: cây ăn quả, hoa, cây thực phẩm cao cấp, đạt giá trị sản lượng bình quân từ 30 – 35 triệu đồng/năm
Năm 1999, Hà Học Ngô và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu đánh giá tiềm năng đất đai và đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Châu Giang, Hưng Yên Kết quả nghiên cứu cho thấy, vùng này có thể phát triển các loại hình sử dụng đất cho đạt hiệu quả như 1 lúa - 2 rau màu, Lúa xuân (LX) -
Cá, chuyên rau màu, hoa cây cảnh và cây ăn quả Đồng thời nghiên cứu đã chỉ ra rằng, một trong những nguyên nhân làm cho sản xuất nông nghiệp theo hướng
Trang 37sản xuất hàng hoá chưa được khai thác triệt để là do chưa xác định được hướng
sử dụng lợi thế đất nông nghiệp, đồng thời chưa xây dựng được các mô hình sản xuất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao (Hà Học Ngô và cs, 1999)
Việc quy hoạch tổng thể vùng Đồng bằng sông Hồng, nghiên cứu đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp và phân vùng sinh thái nông nghiệp của nhiều tác giả
và các nhà khoa học như: (Vũ Năng Dũng, 1997), (Trần An Phong, 1995) Các tác giả đã chỉ ra mỗi vùng sinh thái có đặc điểm khí hậu thời tiết, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau cần phải quy hoạch cụ thể và nghiên cứu ở từng vùng sinh thái thì hiệu quả các biện pháp kinh tế kỹ thuật trong sản xuất mới phát huy tác dụng và đạt kết quả tốt
Từ năm 1995 đến năm 2000, Nguyễn Ích Tân đã tiến hành nghiên cứu tiềm năng đất đai, nguồn nước và xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp nhằm khai thác có hiệu quả kinh tế cao đối với vùng úng trũng xã Phụng Công , huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên Kết quả nghiên cứu cho thấy: Trên đất vùng úng trũng Phụng Công - huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên có thể áp dụng mô hình LX - Cá
hè đông cho lãi từ 9.258 – 12.527,2 nghìn đồng/ha Mô hình LX - Cá hè đông và cây
ăn quả, cho lãi từ 14.315,7 – 18.949,25 nghìn đồng/ha (Nguyễn Ích Tân, 2000) Năm 2001, Đỗ Thị Tám tiến hành nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên Kết quả nghiên cứu cho thấy, một số loại sử dụng đất (LUT) điển hình không những cho hiệu quả kinh tế cao, dễ áp dụng mà còn có thể tạo được nhiều việc làm có giá trị ngày công lao động cao như: LUT cây ăn quả, LUT Lúa – Cá, LUT Chuyên màu Có thể nhận thấy rằng các nghiên cứu về đất và sử dụng đất là những cơ sở cần thiết và có ý nghĩa quan trọng cho các định hướng sử dụng và bảo vệ môi trường (Đỗ Thị Tám, 2001) Xuất phát từ những yêu cầu sử dụng và quản lý tài nguyên đất, vấn đề nghiên cứu đất đai trên cơ sở đánh giá khả năng sử dụng thích hợp đất đai ở Việt Nam hiện nay là rất cần thiết Các kết quả bước đầu của các công trình nghiên cứu đánh giá đất đai thời gian qua với sự hỗ trợ và giúp đỡ tích cực của các cơ quan Nhà nước và Quốc tế đã và đang góp phần đưa nền nông nghiệp Việt Nam phát triển hiệu quả, bền vững
Trang 38Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:
Tài nguyên đất nông nghiệp, các loại hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Mỹ Đức
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu:
Diện tích đất nông nghiệp huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến sử dụng đất nông nghiệp huyện Mỹ Đức – Thành phố Hà Nội
- Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, thời tiết, thủy văn,…
- Điều kiện kinh tế xã hội: Dân số và lao động, tăng trưởng kinh tế, trình
độ dân trí, cơ sở hạ tầng, cơ cấu kinh tế, thực trạng sản xuất nông nghiệp của huyện, thị trường tiêu thụ nông sản phẩm,…
- Xác định những thuận lợi và hạn chế trong việc sử dụng đất nông nghiệp
2.2.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp và các loại hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện
- Điều tra hiện trạng và tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện
- Xác định những thuận lợi, những hạn chế trong sử dụng đất nông nghiệp
- Điều tra các loại hình sử dụng đất chính theo từng tiểu vùng và tổng hợp các loại hình sử dụng đất trên địa bàn huyện
- Định hướng phát triển các loại hình sử dụng đất chính
2.2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Mỹ Đức
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp
- Đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp
- Đánh giá hiệu quả môi trường của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp
- So sánh hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường của các loại hình sử dụng đất
Trang 392.2.4 Lựa chọn các loại hình sử dụng đất (LUT) nông nghiệp có hiệu quả cho địa bàn nghiên cứu
- Xác định các loại hình sử dụng đất có triển vọng;
- Các yếu tố hạn chế ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất;
- Định hướng sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả
2.2.5 Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cho địa bàn nghiên cứu
- Xác định khả năng phát triển của các loại hình sử dụng đất trong tương lai
- Đề xuất một số giải pháp phát triển sản xuất nông nghiệp của huyện
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Mỹ Đức là huyện nằm phía tây nam Thành phố Hà Nội, gồm 21 xã và 1 thị trấn Địa hình của huyện có hướng thấp dần từ hướng Đông Bắc xuống Tây Nam Trên cơ sở địa hình, đặc điểm tài nguyên đất đai và hệ thống cây trồng của huyện Mỹ Đức được chia làm 3 tiểu vùng chính có địa hình khác nhau, chất đất khác nhau, tập quán canh tác khác nhau:
* Tiểu vùng 1: Là các xã có địa hình vàn cao và cao, trong đất hàm lượng
lân, kali từ trung bình đến khá bao gồm các xã Đồng Tâm, Thượng Lâm và Tuy Lai
* Tiểu vùng 2: Là các xã có địa hình tương đối vàn, trong đất có hàm
lượng các chất dinh dưỡng dễ tiêu cao, đất chua ít, thường được trồng rau màu và thích hợp cho việc thâm canh tăng vụ Thế mạnh của vùng là phát triển cây lương thực, rau đậu các loại gồm Thị trấn Đại Nghĩa, Phúc Lâm, Bột Xuyên, An Mỹ, Hồng Sơn, Lê Thanh, Xuy Xá, Phùng Xá, Phù Lưu Tế, Đại Hưng, Vạn Kim, Mỹ Thanh, Đốc Tín và Hùng Tiến
* Tiểu vùng 3: là các xã có địa hình tương đối thấp, trũng gồm các xã An
Phú, Hợp Thanh, Hương Sơn, An Tiến và Hợp Tiến Vùng này có địa hình thấp
và trũng, độ pH từ 4,5 - 5 Nơi có địa hình tương đối thấp, trũng hàm lượng các chất dinh dưỡng cao thường được trồng lúa, nơi thường xuyên ngập nước thì nuôi trồng thuỷ sản
Trang 402.3.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu, tài liệu
* Điều tra số liệu thứ cấp: Kế thừa các tư liệu, tài liệu từ các cơ quan Nhà nước như: Ban chuyên môn của các xã, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phòng Thống kê, phòng Kế hoạch - Tài chính …
* Điều tra số liệu sơ cấp: Thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp nông hộ theo mẫu phiếu điều tra bằng các câu hỏi có sẵn
Dự kiến điều tra tình hình sử dụng đất khoảng 90 hộ thuộc 3 xã ở 3 tiểu
vùng khác nhau, mỗi tiểu vùng chọn điều tra 30 hộ Những thông tin thu thập liên quan tới các vấn đề: diện tích đất nông nghiệp, các loại hình sử dụng đất, các thuộc tính quản lý và kỹ thuật, các chỉ tiêu kinh tế sản xuất (tổng thu nhập, chi phí vật tư, lao động, lãi), những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sử dụng đất và
những tác động tới khả năng suy thoái đất và môi trường
2.3.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu, tài liệu
Các số liệu, số liệu thống kê xử lý bằng phần mềm Excel
2.3.4 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp được đánh giá trên cơ sở tính toán, đánh giá hiệu quả các LUT hoặc kiểu sử dụng đất của huyện theo 3 nhóm tiêu chí là: kinh tế, xã hội và môi trường
* Đánh giá hiệu quả kinh tế theo các chỉ tiêu (tính cho 1 ha)
- Giá trị sản xuất (GTSX): GTSX = giá nông sản * sản lượng
- Chi phi trung gian (CPTG): là tổng các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất (không tính công lao động gia đình)