sinh, axit hữu cơ là loại sản phẩm được quan tâm nghiên cứu vì những đặc tính ưu việt: An toàn cho vật nuôi và con người, cải thiện chức năng tiêu hoá, ức chế sự phát triển của vi khuẩn
Trang 2MỞ ĐẦU
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Kể từ khi kháng sinh được phát hiện bởi Flemming năm 1928, nó đã góp phần to lớn kiểm soát các bệnh vi khuẩn Bên cạnh đó người ta cũng phát hiện khi dùng kháng sinh với liều nhỏ lại có tác dụng kích thích sinh trưởng, làm tăng khối lượng cơ thể/ngày từ 4-15%, làm tăng lượng thu nhận thức ăn
và hệ số chuyển hoá thức ăn 2-6% (Morz, 2003) [57] Khoảng 50 năm trở lại đây, nhiều loại kháng sinh đã được sử dụng như chất kích thích sinh trưởng phổ biến trong chăn nuôi khắp thế giới
Tuy nhiên khi phát hiện ra sự xuất hiện của nhiều chủng vi khuẩn kháng kháng sinh gây nguy cơ mất an toàn tới sức khoẻ con người thì đã có nhiều thông tin đề cập tới vấn đề này Trước tác động xấu của kháng sinh, thế giới đang tìm cách hạn chế tiến tới bãi bỏ việc dùng kháng sinh trong chăn nuôi nói chung và lợn nói riêng Ở Việt Nam, việc hạn chế và cấm sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi đang được các cơ quan quản lý quan tâm Hàng năm cục Thú y đều ban hành danh mục kháng sinh hạn chế và cấm sử dụng trong chăn nuôi Tuy nhiên để xoá bỏ việc dùng kháng sinh trong chăn nuôi đòi hỏi phải có giải pháp thay thế để bảo vệ sức khoẻ đàn gia súc, gia cầm Các giải pháp được thế giới quan tâm nhiều ngay từ những năm 90 của thế kỷ
trước là các sản phẩm thay thế kháng sinh: probiotic, prebiotic, enzyme, axit
hữu cơ… Trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới thì ở Việt Nam việc xoá
bỏ sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi cũng sẽ là xu thế tất yếu
Việc tìm các sản phẩm thay thế kháng sinh đang là việc làm cấp bách, các nhà khoa học trong nước cũng đang tích cực tiếp cận xu thế này và bước đầu có được kết quả khích lệ (Trần Quốc Việt và cộng sự, 2006) [44] Bên cạnh đó, tiếp thu và thử nghiệm các sản phẩm thay thế kháng sinh từ nước ngoài cũng là một xu hướng cần tiến hành để rút ngắn khoảng cách trong thực tiễn chăn nuôi nước ta với thế giới Trong các loại sản phẩm thay thế kháng
Trang 3sinh, axit hữu cơ là loại sản phẩm được quan tâm nghiên cứu vì những đặc tính ưu việt: An toàn cho vật nuôi và con người, cải thiện chức năng tiêu hoá,
ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây hại trong đường ruột, không tồn dư và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Nắm bắt xu hướng ấy, vừa qua trong hội chợ triển lãm công nghệ chăn nuôi năm 2008 đã có công ty liên doanh giới thiệu sản phẩm Na- Butyrate do Công ty Singao (Trung Quốc) sản xuất và khuyến cáo sử dụng Việc đưa nhanh các sản phẩm công nghệ cao vào sản xuất chăn nuôi ở nước ta nói chung và miền núi nói riêng nơi mà trình độ chăn nuôi còn có nhiều hạn chế,
vệ sinh thú y trong chăn nuôi còn thấp sẽ góp phần tích cực làm tăng hiệu quả kinh tế
Xuất phát từ nhu cầu của sản xuất, chúng tôi cho rằng việc triển khai đề
tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung Na -Butyrate vào khẩu phần
ăn tới trạng thái đường tiêu hoá, tình trạng tiêu chảy và hiệu quả nuôi lợn con giống ngoại sau cai sữa từ 21 đến 60 ngày tuổi” là cần thiết
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Xác định khả năng thay thế kháng sinh của chế phẩm Na-Butyrate trong việc kích thích sinh trưởng làm tăng hiệu quả chăn nuôi lợn con giai đoạn sau cai sữa đến 60 ngày tuổi
- Xác định được vai trò của Na-butyrate trong việc hạn chế bệnh tiêu chảy ở lợn con sau cai sữa thông qua tác động làm thay đổi theo hướng tích cực trạng thái đường tiêu hóa lợn con
3 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
* Ý nghĩa khoa học:
Đề tài xác định được ảnh hưởng tốt của chế phẩm Na-butyrate đến trạng thái chức năng của đường tiêu hoá, đến sinh trưởng của đàn lợn con sau cai sữa từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn và giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Trang 4Kết quả nghiên cứu cho phép sử dụng Na-butyrate là một sản phẩm thay thế kháng sinh, nó có khả năng cải thiện trạng thái chức năng đường tiêu hóa, nâng cao sức sinh trưởng và hiệu quả chăn nuôi lợn con sau cai sữa, từ
21 đến 63 ngày tuổi, do đó làm nền tảng tốt cho giai đoạn nuôi thịt tiếp theo Ngoài ra, đây còn là cơ sở khoa học cho những nghiên cứu khác nhằm nâng cao khả năng ứng dụng các chế phẩm trong chăn nuôi lợn
*Ý nghĩa thực tiễn
Góp thêm những kết quả từ thực tiễn nghiên cứu sử dụng các chế phẩm thay thế kháng sinh, góp phần phát triển chăn nuôi lợn nói chung, lợn thịt hướng nạc nói riêng, góp phần nâng cao năng suất chất lượng thịt theo hướng tạo ra sản phẩm chăn nuôi an toàn để bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học
1.1.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hoá của lợn con
Mục đích của việc chăn nuôi lợn con giai đoạn theo mẹ là làm thế nào
để lợn con đạt khối lượng cai sữa cao, khi nuôi thịt lợn sinh trưởng phát triển nhanh, đồng thời là cơ sở để tạo giống tốt và giúp chúng ta nâng cao được sức sống của đàn con Để đạt được mục đích trên, bên cạnh việc tạo cho lợn con điều kiện chăm sóc tốt, chúng ta cần hiểu rõ các đặc điểm của lợn con theo
mẹ, đặc biệt là đặc điểm sinh lý tiêu hoá lợn con, để từ đó có biện pháp nuôi dưỡng và tác động dinh dưỡng phù hợp
1.1.1.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa dạ dày lợn con
Đặc điểm cơ quan tiêu hoá lợn của con giai đoạn theo mẹ phát triển nhanh về cấu tạo và hoàn thiện dần về chức năng tiêu hoá: Dung tích dạ dày lợn con lúc 10 ngày tuổi có thể tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 8 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng
0,03 lít )
Đối với lợn con, sự tiết dịch có những đặc điểm khác biệt với lợn lớn Theo Trương Lăng (2004)[16] lợn con 20 ngày tuổi có phản xạ tiết dịch còn chưa rõ, ban đêm lợn mẹ tiết nhiều sữa kích thích sự tiết dịch vị ở lợn con Khi cai sữa lượng dịch vị tiết ra ngày và đêm gần bằng nhau, độ axit của dịch vị lợn con thấp nên hoạt hoá pepsin kém, khả năng diệt khuẩn kém Hàm lượng axit biến đổi theo lứa tuổi lợn con, axit HCL tự do xuất hiện ở 25-30 ngày tuổi và diệt khuẩn rõ nhất ở 40-50 ngày tuổi Theo tác giả Hoàng Toàn Thắng và cộng
sự (2006)[33]cho biết chức năng tiêu hoá của lợn con sơ sinh chưa hoàn thiện
Trang 6Trong giai đoạn theo mẹ, chức năng của bộ máy tiêu hoá lợn con được hoàn thiện dần thể hiện ở sự thay đổi hoạt tính các enzym trong dịch vị
- Men pepsin: lợn con dưới một tháng tuổi, men pepsin trong dạ dày lợn con chưa có khả năng tiêu hoá protein của thức ăn, vì lúc này dịch vị dạ dày lợn con không có HCL tự do, lượng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng liên kết với dịch nhầy, gây ra hiện tượng thiếu axit hay còn gọi là “Hypoclohydric” Sau 3 tuần tuổi, lượng HCL tự do trong dịch vị mới tăng dần Đây là một đặc điểm quan trọng trong tiêu hoá dạ dày ở lợn con Khi có HCL tự do sẽ kích hoạt để men pepsinogen chuyển thành dạng pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hoá protein trong thức ăn Sau 1 tháng tuổi, men pepsin mới có khả năng tiêu hóa đầy đủ Vì thiếu HCl tự do nên dịch vị không có tính sát trùng, vi sinh vật xâm nhập vào dạ dày dễ sinh sôi nảy nở và phát triển gây ra bệnh về đường tiêu hoá ở lợn con đặc biệt là bệnh lợn con phân trắng
Có thể kích thích để tế bào vách dạ dày lợn con tiết ra HCL tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức ăn sớm cho lợn con Nếu tập cho lợn con ăn sớm vào lúc 5-7 ngày tuổi thì HCL tự do co thể được tiết ra từ ngày tuổi thứ 14
Trong dạ dày lợn là loài ăn tạp, pepsin chỉ hoạt động tốt trong môi trường pH = 2,5 - 3 với nồng độ HCL tự do từ 0,1- 0,5%
- Men catepsin: Là men tiêu hoá protein trong sữa có tác dụng giống men pepsin, thủy phân protein và các mạch peptit thành amino acid, hoạt động thích hợp ở kkoảng pH = 4 - 5 Vì thích hợp với pH cao nên catepsin hoạt động mạnh ở động vật non bú sữa khi mà HCL tự do hình thành chưa nhiều Ở động vật trưởng thành catepsin hầu như không hoạt động, khi vật nuôi chết catepsin hoạt động phân giải protein dạ dày
- Men chymosin (hay rennin) có hoạt tính mạnh trong 3 tuần đầu và sau
đó giảm dần Men này có tác dụng làm ngưng đặc sữa, hoạt động tốt ở
pH = 4 - 5 Dưới tác dụng của chymosin và Ca++, protein trong sữa là
Trang 7caseinogen ở dạng hoà tan chuyển thành caseinatcalci (dạng đông vón), có thể lưu lâu trong dạ dày tạo điều kiện cho pepsin hoạt động, phần nhũ thanh (dịch trong còn lại) của sữa được chuyển xuống ruột non để tiêu hóa
1.1.1.2 Đặc điểm cấu tạo và sinh lý tiêu hóa ruột
Theo Từ Quang Hiển (2003) [10] Dung tích ruột non của lợn con lúc
10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, 20 ngày tuổi gấp 6 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần Dung tích ruột già của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 2,5 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 60 lần
Thức ăn từ dạ dày khi xuống ruột non chịu tác động phối hợp của các enzym trong dịch tụy, dịch ruột và các chất xúc tác tiêu hóa trong dịch mật để biến đổi về thành phần hóa học
* Nhóm enzym phân giải protein
- Men trypsin: Là enzym chính của dịch tụy, được tiết ra dưới dạng tripsinogen không hoạt động rồi được enterokinase của tá tràng hoạt hóa trở thành dạng tripsin hoạt động sau đó là quá trình hoạt hóa tripsinogen
Là men tiêu hoá protein của thức ăn, ở thai lợn lúc 2 tháng tuổi, trong chất tiết đã có men trypsin, thai càng lớn hoạt tính của men này càng cao Khi lợn con mới đẻ ra, men trypsin của dịch tụy là rất cao để bù đắp lại khả năng tiêu hoá kém của men pepsin dạ dày
Tripsin có hoạt lực cao nhất ở pH = 8, tác dụng tương tự như pepsin nhưng hoạt lực mạnh và triệt để hơn
Tripsin phân giải protein tạo thanh polipeptid và amino acid
- Chimotripsin cũng được tiết ra dưới dạng không hoạt động là chimotripsinogen sau khi được tripsin hoạt hóa sẽ chuyển thành chimotripsin hoạt động, pH tối ưu = 8, tác dụng tương tự tripsin
- Alastase phân giải alastin (gân, bạc nhạc) thành peptit và amino acids
Trang 8- Carboxipolipeptidase tác dụng phân giải peptit ở đầu có nhóm COO
-tự do và tách amino acid ra khỏi phân tử peptit
- Dipeptidase phân giải dipeptit thành 2 amino acid
- Protaminase phân giải protamin thành peptit và amino acid
- Nuclease phân giải acid nucleic thành mono nucleotid
* Nhóm men thủy phân glucid
- Men amylase và maltase:
Hai men này có trong nước bọt và trong dịch tụy lợn từ lúc còn mới đẻ, nhưng dưới 3 tuần tuổi hoạt tính còn thấp, do đó khả năng tiêu hoá tinh bột của lợn còn kém, chỉ tiêu hoá được 50% lượng tinh bột ăn vào Đối với tinh bột sống, lợn con tiêu hoá càng kém Sau 3 tuần tuổi, men amylase và maltase mới có hoạt tính mạnh, vì vậy khả năng tiêu hoá tinh bột của lợn con tốt hơn
Amylase hoạt động tối ưu trong pH = 7,1 Nó cắt liên kết 1-4œ-glucozit của cả tinh bột sống và chín cho ra maltose
Maltase phân giải đường maltose thành glucose
- Men saccarase: Đối với lợn con dưới 2 tuần tuổi men saccarase hoạt tính còn thấp, nếu cho lợn con ăn đường sucarose thì rất dễ bị ỉa chảy
- Men lipase hoạt động tối ưu ở pH = 6,8 Lipase cắt các liên kết este giữa glycerol và acid béo, do đó phân giải tri glycerid đã được nhũ hóa bằng dịch ruột để tạo ra mono glycerid, acid béo và glycerol
- Men lactase: Có tác dụng tiêu hoá đường lactose trong sữa Men này
có hoạt tính mạnh ngay từ khi lợn con sinh ra và tăng cao nhất ở tuần tuổi thứ
2, sau đó hoạt tính của men này giảm dần
Qua nghiên cứu về quá trình phân tiết của men amylase, maltase và protease, chúng ta thấy sự phân tiết và hoạt động của các men này tăng dần theo sự tăng lên của ngày tuổi, men lipase tăng dần đến khi cai sữa sau đó giảm dần Riêng men lactase tăng cao nhất ở giai đoạn 2 tuần tuổi sau đó
Trang 9giảm dần theo sự tăng lên của ngày tuổi Đây chính là điểm cần lưu ý khi bổ sung thức ăn cho lợn con
Sau một tháng tuổi, quá trình tiêu hoá hấp thu các chất dinh dưỡng tiến hành chủ yếu ở dạ dày và ruột non Trong một ngày đêm phân giải 45% gluxit, 50% protit Ruột già chủ yếu tiêu hoá chất xơ nhờ hệ vi sinh vật ở manh tràng phân giải (Từ Quang Hiển, 2003)[10]
Như vậy, để tăng tỷ lệ tiêu hoá và giảm tiêu chảy ở lợn con cũng như
để phù hợp với khả năng tiêu hoá của lợn thì trong sản xuất thức ăn cho lợn con giai đoạn tập ăn và sau cai sữa chúng ta nên sử dụng các loại thức ăn dễ tiêu hoá như: Bột sữa, đường lactose,… thức ăn cần được rang chín và nghiền nhỏ đồng thời bổ sung thêm một số axit vô cơ như: axit lactic,…
1.1.1.3 Hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa của lợn con
Hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa của lợn con có vai trò nâng cao sức
sử dụng thức ăn đồng thời nâng cao sức đề kháng của cơ thể lợn Sự phát triển mạnh của vi khuẩn sinh axit và vi khuẩn tổng hợp các chất có hoạt tính sinh học, đồng thời ức chế vi khuẩn gây thối là một quá trình có lợi cho cơ thể (Đào Trọng Đạt và cộng sự, 1995) [7]
Ở dạ dày và ruột của động vật mới sinh ra chưa có vi khuẩn, sau vài giờ thấy một vài loại vi khuẩn và từ đó chúng bắt đầu sinh sản dần Hàng ngày, một số loại vi khuẩn khác theo thức ăn vào ruột, sống và sinh sôi nảy nở ở đó, chúng có thể bị biến đổi ít nhiều nhưng căn bản vẫn sống cho đến khi con vật chết Thành phần và số lượng của hệ vi sinh vật thay đổi tùy theo loại thức ăn, nếu thức ăn nhiều gluxit thì vi khuẩn tạo axit trong ruột rất phát triển
Có thể chia vi sinh vật thành 2 loại “ vi sinh vật tùy tiện” thay đổi tùy theo loại thức ăn và loại “vi sinh vật bắt buộc” là loại vi sinh vật thích nghi ngay được với môi trường đường ruột và dạ dày trở thành loại định cư vĩnh
viễn Hệ vi sinh vật bắt buộc gồm: streptococcus, lactic, lactobacterium, acid
Trang 10ophilum, trực khuẩn lactic, E.coli (trực khuẩn ruột già), trực khuẩn đường
ruột Trong đường ruột và dạ dày là một môi trường có độ ẩm, dinh dưỡng thuận tiện cho vi sinh vật phát triển, tuy nhiên sự phát triển của chúng có giới hạn vì trong đường ruột và trong dạ dày có những chất kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn đường ruột và vi khuẩn gây thối như mật, dịch vị và tác động đối
kháng của các vi khuẩn khác nhau
* Hệ vi sinh vật ở khoang miệng
Ở khoang miệng có sự cảm nhiễm vi sinh vật từ các nguồn trên Trong nước bọt và dịch bài tiết của niêm mạc có men kháng khuẩn lisozyme có tác dụng tiêu diệt một số vi sinh vật
* Hệ vi sinh vật ở dạ dày
Trong dạ dày có một lượng axit HCL rất lớn (0,2%) Axit trong dịch vị
dạ dày có tác dụng ức chế với nhiều loại vi sinh vật, do vậy phần lớn vi sinh vật từ thức ăn, nước uống đưa vào đều bị tiêu diệt Số lượng vi khuẩn ở dạ dày rất ít do tác dụng diệt khuẩn của axit dạ dày gồm các vi khuẩn lên men
(Saccharomyces minor, vidiumlactic) trực khuẩn lactic (Lactobacillus
beljerincke…) Ngoài ra còn có trực khuẩn phó thương hàn đi qua dạ dày xuống ruột
* Hệ vi sinh vật của ruột non
Ruột non chiếm 2/3 đến 3/5 chiều dài ruột nhưng lượng vi khuẩn lại rất
ít Khi dịch vị dạ dày vào ruột non vẫn còn tác dụng sát khuẩn, ngoài ra dịch
do niêm mạc bài tiết ra cũng có tác dụng sát khuẩn…, ở ruột non chứa một số
ít vi khuẩn có trong dạ dày xuống Trong ruột non chủ yếu là E.coli, cầu khuẩn, trực khuẩn hiếu khí, yếm khí có nha bào, Aerobacter aerogenes Ở gia súc non có thêm Streptococcus lactic, trực khuẩn lactic Lactobacterium
bulgaricum, từ hồi tràng số lượng vi khuẩn bắt đầu tăng lên
Trang 11* Hệ vi sinh vật của ruột già
Số lượng vi sinh vật ở ruột già tăng hơn nhiều so với ruột non do tác dụng khử trùng của ruột đã không còn, mà các điều kiện về dinh dưỡng, độ
ẩm, nhiệt độ lại thuận lợi cho sự phát triển của vi sinh vật
Hệ vi sinh vật chủ yếu là E.coli, cầu khuẩn, trực khuẩn có nha bào
entrococcus Gia súc trưởng thành E.coli chiếm 75% trở lên Trong ruột già
của động vật ngoài hệ vi sinh vật hoại sinh còn có hệ vi sinh vật gây bệnh nhưng chưa thể hiện bằng triệu chứng lâm sàng: Vi khuẩn phó thương hàn, vi
khuẩn brucella, uốn ván (Nguyễn Vĩnh Phước, 1980) [25]
Theo Đào Trọng Đạt và cộng sự (1995) [7] trong hệ tiêu hóa của động vật, hệ vi sinh vật luôn luôn ổn định đảm bảo cân bằng cho hệ tiêu hóa, khi đó
phần lớn các vi khuẩn có lợi là vi khuẩn lactic, vi khuẩn này chiếm 90% và hoạt
động hữu ích cho đường ruột Nếu sự cân bằng này bị phá vỡ thì những vi khuẩn
có hại cạnh tranh phát triển gây rối loạn đường tiêu hóa, gây tiêu chảy (nhất là
lợn con theo mẹ), loại vi khuẩn thường gặp là E.coli và salmonella…
Nhiều thực nghiệm còn xác nhận rằng: nhiều loại vi khuẩn đường ruột
đã sinh ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây ra bệnh như: Vi khuẩn phó thương hàn, vi khuẩn thối rữa Ở lợn con mới sinh, hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển, chưa đầy đủ số lượng vi khuẩn có lợi, cho nên chưa tạo được sự cân bằng về hệ vi sinh vật đường tiêu hoá lợn con, tạo
điều kiện cho các vi khuẩn gây bệnh như E.coli phát triển mạnh nên lợn con
bị rối loạn tiêu hoá
Theo YuYu (2005) [47], ở lợn con bú sữa, nhóm vi khuẩn
Lactobacillus spp, trong dạ dày và đường tiêu hoá phát triển mạnh Vi khuẩn
này sử dụng một số đường lactose của sữa để sản sinh ra axit lactic làm giảm
độ pH trong dạ dày, sự tăng lượng axit này sẽ làm cho quá trình tiêu hoá tốt hơn và ngăn cản sự phát triển của các vi khuẩn khác, một vài loại vi khuẩn trong số đó bất lợi cho tiêu hoá của lợn con
Trang 121.1.1.4 Cấu tạo nhung mao ruột non và điều kiện pH của đường tiêu hóa
* Cấu tạo của nhung mao ruột non
Theo Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006) [33]: Niêm mạc ruột được bao phủ bằng lớp lông nhung dày đặc gọi là nhung mao, mỗi mm2 có tới 20-
40 nhung mao Mỗi một nhung mao là một chỗ lồi lên hình ngón tay, dài độ 0,5 - 1mm được bao phủ bằng lớp tế bào biểu mô trụ Trong nhung mao có mạng lưói mao mạch và mạch huyết Mỗi nhung mao lại được bao phủ bằng các vi nhung mao làm diện tích hấp thu của ruột non tăng lên hàng trăm lần Trên toàn bộ ruột non có nhiều tuyến ruột hình ống gọi là hõm Lieberkin tiết
ra dịch ruột chứa men Riêng ở tá tràng có tuyến brunner là dạng trung gian của tuyến ở vùng hạ vị và tuyến ruột, chất tiết là dịch nhầy
Theo TS Phạm Thị Hiền Lương, PGS TS Phan Đình Thắm (2008) [18]: Vỏ lông nhung có 3 loại tế bào:
+ Tế bào biểu mô: hình trụ, nhân bầu dục, trên mỗi tế bào biểu mô có
4000 - 5000 vi nhung, trên vi nhung còn có lưới Glycocalic
+ Tế bào hình đài: nhân ở đáy, bào tương tiết chất nhờn
+ Tế bào panet: chức năng chưa rõ thúc đẩy hoạt động tiêu hóa, hấp thu qua màng
- Ruột lông nhung (lõi): Là một hệ thống mạng lưới gồm có ống dưỡng chấp, động và tĩnh mạch
Hoạt động của lông nhung giống như một cái bơm mà sợi cơ là lực tạo
ra sức ép, khi bề mặt của lông nhung căng phồng (coi như ta đẩy pittong vào), tất cả các chất dinh dưỡng được thấm qua lỗ nhỏ của vi nhung mao Khi bề mặt lông nhung co lại (khi kéo pittong ra) thì tất cả các chất dinh dưỡng được dồn về ống dưỡng chấp, động mạch, tĩnh mạch Khi các chất dinh dưỡng vào trong mạng lưới tất cả các dịch hấp thu có tính chất là lipit qua ống dưỡng chấp, còn thức ăn protit và đường theo hệ thống mạch quản
Trang 13Trong giai đoạn sinh trưởng, hệ thống nhung mao ruột non phát triển rất mạnh Tuy nhiên,lợn con sau cai sữa thường rất hay bị tổn thương nhung mao
ở thành ruột non do ảnh hưởng của thức ăn, khi đó sẽ giảm khả năng sản xuất men tiêu hoá ở ruột non của lợn con, giảm khả năng tiêu hoá và hấp thụ thức
ăn Thức ăn không được hấp thụ sẽ chuyển xuống ruột già, làm tăng sự phát
triển của vi sinh vật có hại và làm tăng khả năng bùng phát vi khuẩn E.coli,
làm cho lợn bị ỉa chảy Biểu hiện bên ngoài của hiện tượng này là lợn con gầy, sút cân, lông da nhợt nhạt, sinh trưởng giảm Do vậy thức ăn bổ sung cho lợn con phải đáp ứng được khả năng tiêu hoá của chúng trong từng giai đoạn phát triển và hoàn thiện về cấu tạo và chức năng của bộ máy tiêu hóa
* Điều kiện pH dạ dày và ruột non
Như đã biết, nhờ sự phân tiết HCL của tế bào vách tuyến vị mà pH của môi trường dạ dày lợn con giảm dần và đạt tới độ ổn định vào khoảng 2,5- 3,0 Ở 21 - 35 ngày sau đẻ, lúc này men pepsin có hoạt lực đầy đủ để tiêu hoá protein thức ăn
Ở lợn con, giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày, nếu được tập ăn sớm thì sau
2 tuần tuổi trở đi lượng HCL tự do tăng dần, đã tạo môi trường pH dần phù hợp
để tiêu hoá protein trong thức ăn bổ sung Do vậy, pH dạ dày lợn con phải cần thời gian nhất định từ khi đẻ ra để đạt mức phù hợp với tiêu hoá protein Bởi men pepsin thì ở ruột non, trị số pH môi trường ruột non đã nằm trong khoảng
pH = 7 - 8 do các muối kiềm trong dịch tuỵ, dịch mật và dịch ruột tạo ra Ở tá tràng, pH môi trường được qui định bởi pH của dịch tụy (7,8 - 8,4) và dịch ruột (pH = 8,0 - 7,4) để tạo một môi trường tá tràng có pH nằm trong khoảng 7,5 - 8,0 Trị số pH của tá tràng dễ thay đổi khi tiếp nhận thức ăn từ dạ dày xuống theo từng đợt Với khối thức ăn được trộn acid dịch vị (pH acid) thì các muối kiềm trong dịch tuỵ và muối mật của dịch ruột sẽ trung hoà acid trong thức ăn vì thế
về nguyên tắc pH chất chứa trong tá tràng phải giảm đi
Trang 14Còn ở không tràng pH có độ kiềm cao (pH = 8,2-8,7) Trị số pH kiềm tính của đoạn ruột là môi trường thuận lợi cho các vi khuẩn có hại hoạt động
Vì thế đứng trên quan điểm dinh dưỡng người ta tìm cách đưa vào đường ruột
những chất hay các vi khuẩn lên men axit như Lactobacillus để làm giảm bớt đi
trị số pH nếu có độ kiềm cao ở đường ruột non nhằm kìm hãm hoạt động của vi khuẩn có hại Bổ sung Na-butyrate vào thức ăn chính là một giải pháp hữu hiệu
để đạt mục đích này giống như bổ sung vi khuẩn Lactobacillus
1.1.2 Sự sinh trưởng của lợn, các nhân tố ảnh hưởng
Theo Trần Đình Miên (1975) [19] sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng về chiều dài, bề ngang, khối lượng, thể tích của các cơ quan bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước Sinh trưởng mang tính chất giai đoạn, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau
1.1.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng
* Tốc độ sinh trưởng
Theo Trần Văn Phùng và cộng sự, (2004) [25]: Tốc độ sinh trưởng là chỉ tiêu kinh tế quan trọng hàng đầu trong chăn nuôi lợn thịt Tốc độ sinh trưởng nhanh sẽ góp phần giảm tiêu tốn thức ăn trên 1 kg tăng khối lượng, tỷ
lệ thịt nạc trong thịt xẻ, giảm chi phí trong chăn nuôi… Khả năng sinh trưởng được tính theo gam/ngày hay kg/tháng Tốc độ sinh trưởng của các giống lợn khác nhau là khác nhau Các giống lợn nội có khả năng tăng khối lượng thấp hơn lợn lai và lợn ngoại
Khả năng tăng khối lượng g/ngày tính theo công thức sau:
Tăng khối lượng (g/ngày) =
Trong phạm vi ứng dụng để đánh giá tốc độ sinh trưởng ta thường dùng các chỉ tiêu sau đây:
Trang 15- Sinh trưởng tích luỹ: Là khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo
tăng lên sau một thời gian sinh trưởng Đồ thị sinh trưởng tích lũy có dạng hình chữ S
- Sinh trưởng tuyệt đối: Là khối lượng, kích thước của cơ thể gia súc tăng
lên trong một đơn vị thời gian Đối với lợn, đơn vị thời gian thường là ngày Sinh trưởng tuyệt đối cho biết mỗi con lợn, mỗi ngày tăng được bao nhiêu gam Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng hình quả chuông úp
- Sinh trưởng tương đối: Là tỷ lệ % của khối lượng cơ thể, thể tích hay
kích thước các chiều đo tăng lên của lần khảo sát sau so với lần khảo sát trước
1.1.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của lợn
* Ảnh hưởng của yếu tố di truyền (loài, giống, cá thể)
- Cơ sở của sự di truyền
Sinh trưởng là tính trạng số lượng, sự di truyền của các tính trạng này tuân theo qui luật của Mendel Tính trạng số lượng được thể hiện qua các chỉ tiêu như: Số con/lứa, khả năng tăng trọng, phẩm chất phần thân thịt có giá trị
Đó là những tính trạng do nhiều đôi gen quy định và chịu sự tác động của ngoại cảnh với nhiều mức độ khác nhau (Nguyễn Thiện và cộng sự, 1998) [36]
Giá trị kiểu hình của một tính trạng được ký hiệu là P (phenotype) Giá trị kiểu gen được ký hiệu là G (Genotype) và sai lệch môi trường được ký hiệu bằng E (Environment) Mối quan hệ này được biểu thị bằng công thức: P = G +E
Giá trị kiểu gen (G) của giá trị số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minorgene) cấu tạo thành Các gen này có hiệu ứng riêng bệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ ảnh hưởng rất rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu, hiện tượng này gọi là hiệu ứng đa gen (Polygen) Các minorgen
Trang 16này tác động lên tính trạng theo 3 phương thức: cộng gộp và át gen Vì vậy giá trị kiểu gen hoạt động thể hiện qua công thức:
G = A + D + I Trong đó: G - Giá trị kiểu gen
J.F.Lasley (1974) cho biết những tính trạng có hệ số di truyền (h2) từ 0,12 - 0,3 là những tính trạng có hệ số di truyền thấp Những tính trạng có
hệ số di truyền bằng 0,4 - 0,5 là những tính trạng có hệ số di truyền trung bình Những tính trạng có hệ số di truyền > 0,5 là những tính trạng có hệ số
di truyền cao và cho hệ quả chọn lọc cao; còn những tính trạng có hệ số di truyền thấp sẽ cho ưu thế lai cao (Trích theo Nguyễn Thiện và cộng sự, 1998) [36]
Từ kết quả phân tích trên cho thấy, các tính trạng về năng suất ở lợn cũng như các vật nuôi khác là kết quả tác động giữa các yếu tố di truyền và các yếu tố môi trường
Theo Trần Văn Phùng và cộng sự (2004) [25] cho biết: Yếu tố di truyền
là một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục của lợn Quá trình sinh trưởng phát dục của lợn tuân theo các quy luật sinh học, nhưng chịu ảnh hưởng của các giống lợn khác nhau Do ảnh hưởng của các tuyến nội tiết và hệ thống thần kinh mà hình thành nên sự khác nhau giữa các giống lợn nguyên thuỷ và các giống lợn đã được cải tiến
Trang 17cũng như giữa các giống lợn thành thục sớm và giống lợn thành thục muộn
Sự khác nhau này không những chỉ khác nhau về cấu trúc tổng thể của cơ thể
mà còn khác nhau ở sự hình thành nên các tế bào, các bộ phận của cơ thể và
đã hình thành nên các giống lợn có hướng sản xuất khác nhau như: giống lợn hướng nạc, hướng mỡ
Tính trạng số lượng (sinh trưởng, cho lông, cho thịt, trứng, sản lượng sữa, sinh sản ) những tính trạng ở đó có sự sai khác giữa các cá thể là sự sai khác nhau về mức độ hơn là sự sai khác nhau về chủng loại Darwin đã chỉ rõ
sự sai khác này chính là nguyên liệu cho quá trình chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo, sự nghiên cứu các tính trạng này phụ thuộc vào sự đo lường như: Khối lượng cơ thể, tốc độ tăng trọng, sản lượng trứng, kích thước các chiều đo (Trần Đình Miên và cộng sự, 1975) [19]
- Ảnh hưởng của quá trình trao đổi chất
Quá trình trao đổi chất xảy ra dưới sự điều khiển của các hormone Hormone tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi chất của tế bào và giữ cân bằng các chất trong máu Trong thời kỳ đầu tiên của quá trình sống, kể cả khi chưa có sự hoạt động của tuyến giáp đã có sự tham gia của tuyến ức trong điều khiển quá trình sinh trưởng Về sau điều khiển quá trình sinh trưởng có
sự tham gia của tuyến yên Hormon của thuỳ trước tuyến yên STH (somatotropin hormone) là loại hormon rất cần thiết cho sinh trưởng của cơ thể Theo tác giả Hoàng Toàn Thắng và cộng sự (2006) [33]: STH có tác dụng sinh lý chủ yếu kích thích sự sinh trưởng của cơ thể bằng cách làm tăng sự tổng hợp protein và kích thích sụn liên hợp phát triển, tăng tạo xương (nhất là các xương dài) Khi thiếu hoặc thừa loại hormon này sẽ dẫn đến cơ thể quá nhỏ bé (nanismus) hoặc quá to (gigantismus) Vào thời kỳ thành thục về tính, các hormon sinh dục như hormon của dịch hoàn và buồng trứng (androgen và oestrogen) tham gia vào quá trình điều khiển hoạt động sinh dục của cơ thể và
Trang 18hình thành nên các đặc tính sinh dục thứ cấp Hormon sinh dục của con cái tạo ra từ buồng trứng cũng có tác động đáng kể đến sinh trưởng của lợn Ngoài ra các loại hormon của các tuyến như tuyến tụy và tuyến thượng thận cũng tham gia điều tiết sự phát triển của bộ xương và cơ
- Ảnh hưởng của giống
Giống luôn là yếu tố hàng đầu ảnh hưởng đến năng suất chăn nuôi Các giống gia súc khác nhau có khả năng tăng trọng, tiêu tốn thức ăn khác nhau, khả năng này phụ thuộc vào quá trình sinh trưởng của con vật Quá trình tích lũy các chất mà chủ yếu là protein, tốc độ và phương thức sinh tổng hợp protein phụ thuộc vào hoạt động của hệ thống gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể
Theo nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy: mức độ tăng trọng hàng ngày của lợn nội rất thấp Đối với lợn Ỉ đực và lợn cái hậu bị từ sơ sinh đến
8 tháng tuổi tăng trọng lần lượt là 104 g và 173 g/ngày, lợn Móng Cái là
179 g và 197g/ngày
Các giống lợn ngoại thuần và lợn lai có khả năng tăng trọng cao hơn Đối với lợn Landrace bình quân 5 tháng tăng trọng 621,59 g/ngày với lợn lai 3/4 và 7/8 lần lượt là 522,5 - 525,39 g/ngày (Phùng Thị Vân và cộng sự) [42] Bên cạnh đó phương thức chăn nuôi cũng ảnh hưởng nhiều đến khả năng tăng trọng mặc dù trong cùng một giống
Nguyễn Thiện và cộng sự (2005) [37] cho rằng: Giống cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục, năng suất và phẩm chất thịt Thông thường các giống lợn nội cho năng suất thấp hơn so với những giống lợn ngoại nhập nội Lợn Ỉ, Móng Cái nuôi 10 tháng tuổi trung bình đạt khoảng 60 kg Trong khi đó các giống lợn ngoại (Landrace, Yorkshire…) nuôi tại Việt Nam có thể đạt 90 - 100 kg lúc 6 tháng tuổỉ
* Ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài
- Dinh dưỡng
Trang 19Các yếu tố di truyền không thể phát huy tối đa năng suất sinh trưởng nếu không có một môi trường dinh dưỡng và thức ăn hoàn chỉnh cùng với các yếu tố khác Khi chúng ta đảm bảo đầy đủ về thức ăn bao gồm cả số lượng và chất lượng thức ăn thì sẽ góp phần thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển của các cơ quan trong cơ thể Một số thí nghiệm đã chứng minh rằng, khi chúng ta cung cấp cho lợn các mức dinh dưỡng khác nhau có thể làm thay đổi tỷ lệ các phần trong cơ thể ví như nếu chúng ta cho lợn ăn khẩu phần ăn
có nhiều protein thì tỷ lệ nạc sẽ cao hơn và ngược lại nếu chúng ta cho lợn ăn khẩu phần có nhiều bột đường hoặc nhiều chất béo thì tỷ lệ mỡ trong thịt sẽ tăng lên
Trong các chất dinh dưỡng cơ bản thì của năng lượng, protein, khoáng
và vitamin có vai trò nổi bật
+ Nhu cầu về năng lượng
Nhu cầu về năng lượng đối với lợn thường được biểu thị bằng năng lượng trao đổi (ME, kcal/kg) Lợn con cần năng lượng trước tiên đáp ứng nhu cầu duy trì của cơ thể, sau đó là cần năng lượng cho sinh trưởng Lợn con so với lợn các lứa tuổi khác có cường độ trao đổi chất và nhu cầu về năng lượng cao Trong quá trình phát triển của bào thai, dinh dưỡng của mẹ được truyền cho thai nhờ hệ tuần hoàn của nhau thai Khi rời khỏi cơ thể mẹ, nguồn dinh dưỡng đó mất đi một cách đột ngột, đặc biệt là nguồn năng lượng Chính vì vậy trong vòng 30 phút đầu tiên sau khi đẻ, thân nhiệt của lợn con giảm xuống một cách đột ngột Sau khi đẻ xong, trong vòng một giờ nếu lợn con được bú sữa đầu thì sau 18 - 24 giờ thân nhiệt lợn con mới đạt mức trung bình Ở giai đoạn bú sữa, mức năng lượng cần bổ sung cho lợn con dựa vào lượng sữa của lợn mẹ cung cấp được cho lợn con Ở hai tuần tuổi đầu lợn con hầu như đã được cung cấp đầy đủ năng lượng từ sữa mẹ Từ tuần tuổi thứ ba cần bổ sung thêm thức ăn mới đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của lợn
Trang 20con, do lượng sữa của lợn mẹ ở 21 ngày tuổi giảm dần Giai đoạn lợn sau cai sữa, hàm lượng năng lượng trong thức ăn cho lợn con cần khá cao Theo Tiêu chuẩn VN - TCVN 1547 - 1994, mức năng lượng trao đổi trong 1 kg thức ăn hỗn hợp cho lợn con giai đoạn sau cai sữa cần 3200 kcal/kg
+ Nhu cầu về protein và acid amin
Theo Trần Cừ, Nguyễn Khắc Khôi (1985) [5]: Protein là nhóm chất hữu cơ có phân tử lượng cao và có chứa nitơ Protein đảm nhiệm nhiều chức năng quan trọng và là nguồn nguyên liệu cấu tạo nên tế bào Quá trình sinh trưởng của lợn là quá trình tăng lên của khối lượng protein, hàm lượng protein trong cơ thể rất cao Các cơ quan bộ phận khác nhau có hàm lượng protein không giống nhau Protein có nhiều nhất trong cơ từ 30 - 35% so với tổng lượng protein trong cơ thể
Lợn con bú sữa có tốc độ phát triển nhanh về hệ cơ và khả năng tích lũy protein lớn, do đó đòi hỏi về số lượng và chất lượng protein cao Nếu trong khẩu phần thiếu protein thì sinh trưởng của lợn con sẽ giảm hoặc ngừng, khả năng sống kém Nhu cầu protein trong thức ăn bổ sung cho lợn là 16- 18%
Axit amin là thành phần cấu tạo cơ bản của protein Theo Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm (1995) [11] vai trò của các axit amin trong cơ thể rất
đa dạng, nó là thành phần chủ yếu của protein, nhu cầu protein của cơ thể chính là nhu cầu về axit amin Cơ thể con vật chỉ có thể tổng hợp nên protein của nó theo mức cân đối các axit amin trong thức ăn, nhưng axit amin nào nằm ngoài cân đối sẽ bị oxy hóa cho năng lượng Do vậy, nếu cung cấp axit amin theo tỷ lệ cân đối sẽ nâng cao hiệu quả lợi dụng protein, tiết kiệm được protein thức ăn
Một thí nghiệm của Metz nghiên cứu trên lợn sinh trưởng cho biết, với yêu cầu tăng trọng 585g/con/ngày, nếu khẩu phần cân bằng các axit amin thì protein thô cần 11- 12%, nhưng nếu khẩu phần mất cân đối axit amin thì cần 20- 22% protein thô
Trang 21Yêu cầu về protein thô và protein tiêu hoá trong thức ăn hỗn hợp cho lợn con (Tính theo % khô trong không khí, Tiêu chuẩn Nhật Bản, 1993) khuyến cáo, đối với lợn con 1-5 kg là 24 và 22%; đối với lợn 5-10 kg là 22 và 20%; đối với lợn 10-30 kg yêu cầu là 18 và 16% (Trích theo Trần Văn Phùng
và cộng sự 2004) [25]
Cùng trích theo Trần Văn Phùng và cộng sự (2006) [25], nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày cho lợn (Tiêu chuẩn Nhật Bản, 1993) nhu cầu protein thô và protein tiêu hoá là 53 và 47 g/ngày (đối với lợn 1-5 kg); 84 và 76 g/ngày (đối với lợn 5-10 kg); 190 và 166 g/ngày (đối với lợn 10-30 kg)
Trong các loại thức ăn hàm lượng các loại protein rất khác nhau Một số loại giàu protein động vật như cá, bột cá, bột thịt, bột máu, tôm, cua, trứng sữa Một số loại protein thực vật như các loại đậu, đỗ và sản phẩm phụ của nó
+ Nhu cầu về khoáng chất
Theo Từ Quang Hiển và cộng sự (2003)[10] gia súc non cần được cung cấp đầy đủ khoáng chất để phát triển bộ xương và đảm bảo cho các quá trình xảy ra trong cơ thể Nếu tính theo mức tăng trọng thì khoáng chất chiếm 3 - 4% khối lượng cơ thể tăng Nếu so với bộ xương thì khoáng chất chiếm 26% khối lượng xương tăng
Khả năng sử dụng khoáng chất trong thức ăn của gia súc non tốt hơn gia súc trưởng thành Quá trình trao đổi khoáng mà chủ yếu là trao đổi canxi
và photpho xảy ra mạnh mẽ ở gia súc non Khi gia súc còn non khả năng tích luỹ canxi, photpho cao Tuổi càng tăng, khả năng tích luỹ giảm Nhìn chung, gia súc non yêu cầu canxi lớn hơn photpho, càng lớn và trưởng thành nhu cầu canxi giảm, nhu cầu photpho tăng lên Để đảm bảo cho quá trình tiêu hoá hấp thu và sử dụng canxi, photpho được tốt, tránh được hiện tượng còi xương Ở gia súc non cần chú ý cung cấp đầy đủ, cân đối canxi, photpho (đối với gia súc non tỷ lệ Ca/P thích hợp là 1,5-2/1)
Trang 22+ Nhu cầu về vitamin (VTM)
Vitamin là nhóm vi chất dinh dưỡng đóng vai trò xúc tác trao đổi chất Trong các loại vitamin, lợn con rất cần vitamin A và D Vitamin A và D cần thiết cho sinh trưởng lợn con, giúp phát triển bình thường và nhiều chức năng sinh lý quan trọng khác Thiếu vitamin A, D có thể gây thiếu máu làm cho lợn còi cọc
Theo Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm (1995) [11] cho biết: Tiêu chuẩn của Tây Đức (DLG) cho kết quả tốt hơn cả gồm vitamin A = 2000 UI/kg thức ăn, vitamin D = 2500 UI, vitamin E = 10- 15mg
- Nhiệt độ và ẩm độ môi trường, ánh sáng
+ Nhiệt độ
Nhiệt độ môi trường không chỉ ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cơ thể Nếu nhiệt độ môi trường không thích hợp thì sẽ không thể đảm bảo quá trình trao đổi chất diễn
ra bình thường cũng như cân bằng nhiệt của cơ thể lợn Việc đảm bảo nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp cho các loại lợn khác nhau phải căn cứ vào khả năng điều tiết thân nhiệt của chúng
Theo Nguyễn Thiện và cộng sự, 1998 [36] thân nhiệt và điều tiết thân nhiệt của lợn con sơ sinh luôn luôn là mối quan tâm nghiên cứu của các nhà chăn nuôi trên thế giới Lợn con mới sinh khả năng điều tiết thân nhiệt kém do nhiều nguyên nhân:
- Hệ thần kinh điều khiển sự cân bằng nhiệt chưa phát triển đầy đủ
- Lớp mỡ dưới da chưa phát triển, lượng mỡ và glycogen trong cơ thể lợn con còn thấp, da mỏng, lông thưa làm cho khả năng chống lạnh càng kém
- Diện tích bề mặt của cơ thể của lợn con so với khối lượng của cơ thể chênh lệch lớn làm cho khả năng mất nhiệt của cơ thể càng lớn
Trang 23- Ở giai đoạn này do hoạt động của hệ tuần hoàn rất mạnh, nhịp tim lợn con rất nhanh: 200 lần/phút so với lợn trưởng thành chỉ 60 - 80 lần/phút Lưu thông máu cũng cao 150 ml máu/phút/kg khối lượng cơ thể trong khi lợn trưởng thành chỉ đạt 30 - 40 ml Đây là yếu tố điều tiết thân nhiệt rất quan trọng
Lợn con sẽ bị hạ thân nhiệt nếu được nuôi trong chuồng có nhiệt độ thấp Nếu nhiệt độ chuồng nuôi là 180C thì thân nhiệt lợn con sẽ bị hạ xuống 20C so với ban đầu Nếu nhiệt độ chuồng nuôi là 00C thì lợn con sẽ bị hạ 40C so với ban đầu Lợn con 6 ngày tuổi bị lạnh, sau đó đưa vào phòng ấm thì thân nhiệt lợn con vẫn tiếp tục giảm xuống 4 phút nữa
Khi nhiệt độ chuồng nuôi thấp, lợn sẽ thất thoát nhiệt rất nhiều, (đối với lợn con, tổng lượng nhiệt mất đi trong môi trường có nhiệt độ 210C lớn hơn 2/3 lần so với môi trường 300C) vì lẽ đó ở lợn con và lợn nuôi thịt sẽ giảm khả năng tăng khối lượng và tăng lượng tiêu tốn thức ăn cho một kg tăng khối lượng Nhìn chung, khi lợn càng lớn, càng trưởng thành thì cơ quan điều tiết thân nhiệt càng hoàn thiện, lớp mỡ dưới da càng dày và nhu cầu về nhiệt độ môi trường càng giảm xuống
+ Ẩm độ
Nhiệt độ chuồng nuôi có liên quan mật thiết với ẩm độ không khí, ẩm
độ không khí thích hợp cho lợn ở vào khoảng 70% Ẩm độ không khí cao bất lợi cho cả lợn lớn và lợn con, đặc biệt khi nhiệt độ môi trường quá cao hoặc quá thấp Đối với lợn con bú sữa, ẩm độ cao luôn là yếu tố gây suy giảm sức khỏe dẫn đến dễ mắc các bệnh đường hô hấp và đường tiêu hóa Trong môi trường ẩm độ cao (≥80%), vi khuẩn có điều kiện sinh sôi nảy nở rất nhanh Nghiên cứu của Eric Thompson (1998) cho thấy, ẩm độ không khí 40% thì vi trùng có thể bị chết nhanh gấp 10 lần so với ẩm độ 80% Do đó giữ chuồng nuôi luôn khô ráo là một yêu cầu rất quan trọng trong các công tác phòng bệnh cho lợn
Trang 24+ Ánh sáng: Ánh sáng có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và phát
triển của lợn Khi không đủ ánh sáng sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của lợn, đặc biệt quá trình trao đổi khoáng Đối với lợn con từ sơ sinh đến 70 ngày nếu không đủ ánh sáng thì tốc độ tăng khối lượng sẽ giảm từ 9,5
- 12%, tiêu tốn thức ăn giảm 8 - 9% so với lợn con được vận động dưới ánh sáng mặt trời Do vậy cần thiết kế chuồng nuôi đảm bảo đủ ánh sáng theo nhu
cầu của các loại lợn, đặc biệt đối với lợn con và lợn sinh sản
loại lợn sẽ giúp cho cơ thể lợn sinh trưởng phát triển đạt mức tối đa
1.1.2.3 Sinh trưởng của lợn con cai sữa
* Khối lượng sơ sinh/ổ
Là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng, nói lên trình độ kỹ thuật chăn nuôi, đặc điểm của giống và khả năng nuôi thai của lợn nái Khối lượng
sơ sinh/ổ là khối lượng được cân sau khi lợn con đẻ ra cắt rốn, lau khô và chưa cho bú sữa đầu Khối lượng sơ sinh/ổ là khối lượng của tất cả lợn con sinh ra còn sống và được phát dục hoàn toàn, khối lượng sơ sinh/ổ cao thì tốt, lợn sẽ tăng trọng nhanh ở các giai đoạn phát triển sau (Nguyễn Thiện và cộng sự, 1998) [36]
Các giống lợn khác nhau cho khối lượng sơ sinh khác nhau Các giống lợn nội (Móng Cái): 0,5 - 0,7kg/con, lợn Ỉ 0,45kg/con Lợn ngoại Yorkshire nuôi tại Việt Nam 1,24 kg/con, lợn Duroc 1,2 - 1,5kg/con (Trần Văn Phùng và cộng sự, 2004) [25]
Trang 25Ngoài ra khối lượng sơ sinh có liên quan và tỷ lệ thuận với khối lượng của lợn nái Vì thế trong giai đoạn lợn nái chửa và nhất là thời gian
20 ngày trước khi đẻ cần chăm sóc nuôi dưỡng cho lợn nái tốt, thức ăn đầy
đủ các chất dinh dưỡng như: Protein, vitamin, khoáng để cho thai phát triển tốt Khi khối lượng con sơ sinh cao thì lợn có khả năng sinh trưởng, phát triển nhanh, khối lượng con cai sữa sẽ cao và khối lượng xuất chuồng lớn
* Khối lượng cai sữa/ổ
Trong chăn nuôi lợn con từ khi sơ sinh đến khi cai sữa có một ý nghĩa rất quan trọng vì đó chính là cơ sở vật chất để phát triển đàn lợn nái sinh sản và nâng cao năng suất chăn nuôi Khối lượng toàn ổ khi cai sữa ảnh hưởng rất lớn tới khối lượng xuất chuồng
Khối lượng cai sữa/ổ của các giống lợn khác nhau cho khối lượng không giống nhau Lợn móng cái có khối lượng cai sữa/ổ lúc 2 tháng tuổi là 58,20 - 60,88 kg; lợn F1 (Đại bạch x Móng cái) có khối lượng 60 ngày/ổ là 61,80 kg (Nguyễn Thiện và cộng sự, 1998) [36]
Khối lượng cai sữa của lợn con cao hay thấp, sức khoẻ tốt hay xấu, sinh trưởng phát dục nhanh hay chậm, đều có ảnh hưởng trực tiếp đến phẩm chất đàn giống và khả năng nuôi thịt của lợn sau này Nuôi dưỡng tốt lợn con còn là cơ sở thuận lợi cho công tác chọn giống, chọn phối, là cơ sở tốt
để con vật có thể di truyền khả năng sinh sản cho đời sau
Khối lượng cai sữa có liên quan chặt chẽ tới khối lượng sơ sinh, làm nền tảng và điểm xuất phát cho khối lượng xuất chuồng Vì vậy, để có khối lượng cai sữa/ổ cao ta phải chăm sóc, nuôi dưỡng tốt lợn có chửa và lợn con
bú sữa, đặc biệt là bổ sung thức ăn sớm cho lợn con, giúp cho lợn con sinh trưởng phát triển mạnh, giảm sự hao mòn của lợn mẹ, đồng thời làm giảm
tỷ lệ lợn con mắc bệnh và chết xuống mức thấp nhất
Trang 26* Mối quan hệ giữa khối lượng cai sữa và sinh trưởng sau cai sữa
Các nhà chăn nuôi biết rằng nếu khối lượng sơ sinh tỷ lệ thuận với khối lượng cai sữa, lợn có khối lượng cai sữa lớn sẽ lớn nhanh hơn lợn có khối lượng cai sữa nhỏ, khối lượng cai sữa sẽ ảnh hưởng đên năng suất sau cai sữa Chính vì vậy, nếu khối lượng cai sữa chênh lệch thì khi lợn lớn lên khối lượng chênh lệch sẽ cao
1.1.3 Một số nét chính về hội chứng tiêu chảy của lợn con
1.1.3.1 Hội chứng tiêu chảy và nguyên nhân gây tiêu chảy
Tiêu chảy là một hội chứng lâm sàng đặc thù của nhiều bệnh đường tiêu hoá gây bởi vi trùng, virut, nấm, kí sinh trùng Hiện tượng lâm sàng xuất phát từ nguyên nhân, triệu chứng, đặc điểm và tính chất của bệnh và được gọi với nhiều tên khác nhau
Tiêu chảy gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi, xuất hiện ở 3 giai đoạn chính (chia theo lứa tuổi) là thời kỳ sơ sinh, giai đoạn bú sữa mẹ và thời
kỳ con sau cai sữa
Ở nước ta bệnh tiêu chảy xảy ra quanh năm, đặc biệt vào vụ Đông xuân khi thời tiết thay đổi đột ngột và vào những giai đoạn chuyển mùa trong năm
* Các nguyên nhân gây tiêu chảy
Nguyên nhân gây tiêu chảy ở từng nơi và từng giai đoạn khác nhau cũng thu được những kết quả khác nhau
Theo (Nguyễn Hữu Vũ và cộng sự, 1999)[46] có rất nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy như: vi khuẩn, vi rút, kí sinh trùng, độc tố thức ăn gây nên các bệnh khác nhau đều dẫn đến tiêu chảy
Những nguyên nhân chính:
- Ảnh hưởng của môi trường, quản lý, chăm sóc: Thời tiết thay đổi đột ngột, chuồng trại không đảm bảo thông thoáng, không hợp vệ sinh…
- Do virus
Trang 27Trong phạm vi nghiên cứu của mình, một số tác giả xác định, có nhiều loại virus là tác nhân gây tiêu chảy Ở lợn người ta thống kê được hơn 10 loại
virus gây tiêu chảy: Adenovirus typ IV, Enterovirus…Các virus này tác động làm
tổn thương đường tiêu hoá gây viêm ruột ỉa chảy (Khootenghuat, 1995)[15] (Bohl E.H và cộng sự, 1979) [48] nghiên cứu bệnh viêm ruột, ỉa chảy ở
lợn con cũng tìm thấy rotavirus Cũng vào thời gian này, người ta còn tìm
thấy nguyên nhân gây tiêu chảy truyền nhiễm ở lợn là một loại virus giống
như coronavirus Dùng virus phân lập được gây bệnh thực nghiệm thấy virus
không chỉ gây bệnh cho lợn con mà cả lợn nuôi thịt, và cũng từ đó virus này được gọi là virus gây tiêu chảy truyền nhiễm của lợn là (PEDV), (trích theo Đào Trọng Đạt và cộng sự, 1995) [7]
- Do vi khuẩn
Đa số các tác giả đều cho rằng: Một trong những nguyên nhân gây tiêu
chảy ở lợn là vi khuẩn, đặc biệt là E.coli và Salmonella
E.coli là nguyên nhân gây nên các bệnh tiêu chảy thường gặp, người ta
đã chứng minh vai trò của E.coli trong bệnh lợn con phân trắng Vai trò gây bệnh của E.coli gồm các Sezotype: 08; 0139; 0141; 0145; 0147; 0149
(Glawisching E và cộng sự, 1992)[51]
Salmonella cholerae suis và Salmonella typhymurium là 2 tác nhân gây
tiêu chảy ở lợn con sau cai sữa bắt đầu vỗ béo (LavaA, 1997) [56]
(Hồ Văn Nam và cộng sự, 1996) [20] khi nghiên cứu về vi khuẩn
đường ruột nhận thấy: Vi khuẩn E.coli không chỉ là vi khuẩn có mặt thường
xuyên trong ruột lợn đang bú sữa và bội nhiễm khi ỉa phân trắng, mà nó còn được tìm thấy trong 100% mẫu phân lợn ở những lứa tuổi lớn hơn Ngay ở
lợn khoẻ mạnh, E.coli cũng bội nhiễm theo lứa tuổi: Trong 1g phân lợn ở 1-
21 ngày tuổi, số lượng E.coli là 55,4 triệu con Con số đó tăng dần theo lứa
tuổi, ở lợn 22- 60 ngày tuổi là 90,9 triệu con và 150 triệu vi khuẩn trong 1g
Trang 28phân lợn nái Khi lợn viêm ruột ỉa chảy, kết quả nghiên cứu cho thấy, E.coli
không chỉ bội nhiễm ở 2 tháng tuổi, mà ở lợn lớn hơn và cả ở lợn nái cũng có tình trạng tương tự Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu tương tự của (Cù Hữu Phú, Nguyễn Ngọc Thiện, Vũ Bình Minh, Nguyễn Ngọc Thuý, 1999) [23] Các tác giả này cho thấy 70 mẫu bệnh phẩm của lợn mắc bệnh
tiêu chảy ở các lứa tuổi khác nhau, đã phân lập được 60 chủng E.coli, chiếm 85,75% và Salmonella chiếm 80% Từ kết quả này đã khẳng định, hai loại vi khuẩn E.coli và Salmonella đóng vai trò chính gây chứng tiêu chảy
Ngoài ra, dinh dưỡng thiếu vitamin nhóm B, thiếu sắt, thức ăn kém chất lượng hay có độc tố cũng là các nguyên nhân gây tiêu chảy
Hầu hết các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã khẳng định rằng: trong chăn nuôi tiêu chảy là vấn đề bệnh tật nan giải và gây thiệt hại kinh tế lớn nhất
1.1.3.2 Một số phương pháp sử dụng chế phẩm vi sinh hạn chế tiêu chảy ở lợn
Trong đường ruột của động vật, hệ vi sinh vật luôn luôn ổn định, đảm bảo trạng thái thăng bằng cho hoạt động của đường ruột Khi hệ vi sinh vật cân
bằng thì những vi sinh vật có lợi, phần lớn là vi khuẩn lactic, chiếm 90% sẽ
hoạt động hữu ích cho đường ruột Nếu sự cân bằng này bị phá vỡ thì vi khuẩn
có hại cạnh tranh phát triển, gây rối loạn đường tiêu hóa dẫn tới tiêu chảy Xuất phát từ cơ sở trên, nhiều nhà nghiên cứu đã tạo các dạng chế phẩm khác nhau của vi khuẩn hữu ích để đưa vào đường ruột tạo sự cân bằng cho hệ vi sinh vật đường ruột Ở nước ta, nhiều công trình nghiên cứu về vấn
đề này đã được công bố
Nguyễn Như Viên (1976) (dẫn theo Chu Đức Thắng, 1997) [32] đã sản
xuất thành công chế phẩm Bacillus subtilis bằng cách cấy vi khuẩn Bacillus
subtilis vào môi trường đậu tương, nước cám gạo, thậm chí trong cả nước râu
ngô Theo tác giả, trong đó hàm lượng subtilis có thể hạn chế được vi khuẩn
Trang 29gram âm và gram dương Có thể dùng chế phẩm để điều trị viêm ruột, ỉa chảy
ở lợn các lứa tuổi khác nhau
(Cùng dẫn theo Chu Đức Thắng, 1997) [32] Năm 1981, Vũ Văn Ngữ,
Lê Kim Thao đã áp dụng chế phẩm vi sinh vật subcolac đưa vào đường ruột
là một hỗn hợp của loại vi khuẩn sống Bacillus subtilis, Coli bacterium và
Lacto bacillus, chế phẩm này một mặt cung cấp một số men cần thiết, một mặt lập lại sự cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột để góp phần khắc phục rối loạn tiêu hóa ở đường ruột
Đào Trọng Đạt và cộng sự, 1995 [7] đã khẳng định kết quả phòng trị bệnh đường ruột và tác dụng điều tiết kích thích sinh trưởng của chế phẩm
Biolactyl rất tốt
Nguyễn Thị Thạnh, (1995) [34] dùng Biolactyl để chống tiêu chảy ở
lợn con
Theo Vũ Văn Quang (1999) [30] dùng chế phẩm vi sinh vật Lactobacillus
acidophilus bổ sung cho lợn con thì tỷ lệ nhiễm bệnh tiêu chảy giảm từ 58,33% xuống còn 25% Đồng thời chế phẩm vi sinh vật này có tác dụng làm cho vi
khuẩn Salmonella và E.coli giảm đi như sau: Lô ĐC E.coli 68,24 ± 1,79 triệu vi khuẩn/1gam phân, salmonella 27,75 ± 0,81 triệu vi khuẩn/1gam phân Còn lô TN
E.coli 61,18 ± 0,92 triệu vi khuẩn/1gam phân, Salmonella 26,17 ± 1,81 triệu vi
khuẩn/1gam phân
Đến năm 1977, Phan Thanh Phượng và cộng sự [27] khống chế lợn con
ỉa phân trắng trong chế phẩm kháng sinh do vi sinh vật tiết ra có tác dụng tốt
đối với gia súc, gia cầm như những sinh vật sản sinh ra Penicillin thuộc giống nấm mốc Penicillin và Aspergillus
1.1.4 Kháng sinh và hiện tượng kháng kháng sinh
1.1.4.1 Vai trò của kháng sinh đối với sinh trưởng của động vật nuôi
Kháng sinh (antibiotics) là những chất được tạo ra bởi các sinh vật
sống (nấm men, nấm mốc, vi khuẩn và một số loài thực vật) có đặc tính diệt
vi khuẩn hoặc làm kìm hãm sự phát triển của chúng
Trang 30Năm 1909 nhà vật lý người Đức (Paul Ehrich) đã tạo ra một chất đặt
tên là Salvarsan dùng điều trị bệnh giang mai rất hiệu quả Năm 1928 Alexander Fleming một nhà vi trùng học người đã phát hiện ra penicillin Bốn
năm sau (1932) Gerhard Domagk (nhà vật lý học người Đức) đã phát hiện ra
sulfanilamide Năm 1944 Wakenman tìm ra Streptomycine… Việc phát hiện
ra kháng sinh và các đặc tính của nó đã tạo ra một cuộc cách mạng trong y học và cứu loài người thoát khỏi những thảm dịch do vi trùng gây ra
(Dẫn theo Trần Quốc Việt, 2007) [43] Kháng sinh có tác dụng làm cho thành ruột mỏng hơn, dinh dưỡng được hấp thu tốt hơn; Tiêu diệt được vi khuẩn gram (-) các vi khuẩn này tranh giành các chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa vì vậy thuốc kháng sinh đáp ứng tốt hơn nhu cầu dinh dưỡng cho gia súc, gia cầm; Giảm vi khuẩn là tác nhân gây bệnh; giảm các độc tố của vi khuẩn gây bệnh; Tăng plasmid, IgA
Dưới sự phát triển nhanh chóng của khoa học kết hợp với công nghệ
tế bào làm cho thị trường thuốc phong phú về cả số lượng và chất lượng Ngày nay, trong chăn nuôi, thuốc kháng sinh được sử dụng rộng rãi với các mục đích:
- Điều trị bệnh và phòng bệnh: thuốc kháng sinh trước hết được sử dụng để phòng và trị bệnh, rộng hơn nữa khi dịch bệnh truyền nhiễm xảy ra thì thuốc kháng sinh được điều trị dự phòng Ngoài ra, còn sử dụng thuốc kháng sinh phòng bệnh khi con vật bị stress…
- Dùng như chất kích thích sinh trưởng
Tuỳ theo mục đích sử dụng mà liều lượng và phương thức sử dụng kháng sinh khác nhau Việc sử dụng kháng sinh bổ sung trong thức ăn như chất kích thích sinh trưởng mang lại nhiều lợi ích như:
+ Tăng năng suất sinh trưởng và sinh sản ở gia súc, gia cầm
Trang 31+ Tăng hiệu quả sử dụng thức ăn, làm cho vật nuôi thích ứng nhanh chóng với sự thay đổi bất thường về cơ cấu và chủng loại nguyên liệu trong khẩu phần thức ăn
+ Nâng cao chất lượng sản phẩm (giảm tỷ lệ mỡ, tăng tỷ lệ nạc, làm cho thịt trở nên mềm hơn và không nhiễm mầm bệnh)
+ Phòng các bệnh mãn tính và ngăn chặn xảy ra những dịch bệnh do vi trùng + Tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi
Theo Vũ Duy Giảng, (2009) [8] khi bổ sung kháng sinh vào thức ăn chăn nuôi có tác dụng ức chế và loại bỏ sự hoạt động của vi khuẩn bệnh, đặc biệt vi khuẩn đường tiêu hóa và hô hấp trên động vật non nhờ vậy làm cho chúng khỏe mạnh, sinh trưởng tốt (cải thiện 4- 16% tốc độ sinh trưởng và 2- 7% hiệu suất lợi dụng thức ăn)
1.1.4.2 Cơ chế tác động kích thích sinh trưởng của kháng sinh
Theo Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Quang Tuyên (2000) [17] tác dụng của kháng sinh tới sinh trưởng theo các cơ chế sau:
* Kháng sinh tác động đến hệ vi sinh vật đường ruột
- Kháng sinh làm tăng cường sự hoạt động của các vi sinh vật đường ruột gia súc, gây biến đổi sự trao đổi chất của chúng, do vậy làm tăng cường khả năng tổng hợp các sản phẩm cần thiết cho cơ thể như vitamin, axit amin
và các nhân tố có tác động đến sinh trưởng khác
- Kháng sinh có tác động kiềm chế sự thay đổi đặc tính sinh học của vi sinh vật trong đường ruột, không cho chúng tăng độc tính để trở thành vi khuẩn gây bệnh trong trường hợp có những biến đổi bên trong cơ thể
- Kháng sinh còn kiềm chế các vi khuẩn gây bệnh khác, làm giảm độc lực của chúng do đó chúng không còn khả năng gây bệnh
- Kháng sinh còn làm tăng tính mẫn cảm của vi sinh vật đối với hiện tượng thực bào nên chúng dễ bị tiêu diệt
Trang 32* Tác động của kháng sinh đến sự tiêu hóa, hấp thu và phản ứng của
- Vi khuẩn trong đường tiêu hóa của động vật thường sử dụng oxy và các chất dinh dưỡng ở đó và thải ra các một số chất độc như amoniac (do phân giải axit amin) Kháng sinh có tác dụng làm biến đổi sự chuyển hóa của
vi sinh vật, hạn chế sự hình thành các sản phẩm độc
- Vi khuẩn trong đường tiêu hóa luôn thải chất độc vào môi trường Để ngăn cản chất độc đi vào máu, cơ thể có phản ứng tự vệ bằng cách làm cho vách ruột dày lên Hiện tượng vách ruột dày lên gây bất lợi cho quá trình hấp thu các chất dinh dưỡng, cụ thể là sự hấp thu sẽ bị giảm đi Trong trường hợp này, kháng sinh sẽ làm cho vách ruột mỏng đi, chất dinh dưỡng được hấp thu nhiều hơn, thức ăn được sử dụng tốt hơn
- Kháng sinh còn hạn chế vi khuẩn đường ruột phá hoại men tiêu hóa chất đạm, nhờ đó con vật tiêu hóa chất đạm tốt hơn
1.1.4.3 Hiện tượng kháng kháng sinh
* Kháng kháng sinh là gì?
Là hiện tượng vi khuẩn đã quen với một loại thuốc, có nghĩa là thuốc không còn tác dụng với vi khuẩn đó nữa hoặc vi khuẩn đã thay đổi gen đi một chút
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng kháng kháng sinh, chủ yếu
là do phương pháp sử dụng kháng sinh không đúng như dùng kháng sinh liều quá cao, khi dùng liều thấp không còn tác dụng nữa, dùng chưa đủ liệu trình
Trang 33Việc sử dụng kháng sinh liều thấp trong chăn nuôi (sử dụng không đúng cách trong điều trị, phòng bệnh và dùng trong chăn nuôi như một chất kích thích sinh trưởng) cũng dẫn đến hậu quả nghiêm trọng đó là làm tăng hiện tượng kháng kháng sinh của các loài gây bệnh trên người và vật nuôi Có
ý kiến cho rằng, việc sử dụng kháng sinh liều thấp trong chăn nuôi đã biến vật nuôi thành nơi để một số loài vi khuẩn học cách vô hiệu hoá tác dụng của các loại kháng sinh
* Tác hại của việc dùng kháng sinh liều thấp và sự kháng kháng sinh
của vi khuẩn
Sự phát triển đề kháng được thực hiện thông qua 2 quá trình di truyền:
Do đột biến tự phát và chủ yếu là do thu nhận các gen từ nguồn gốc bên ngoài thông qua hiện tượng chuyển gen theo chiều ngang, hiện tượng này xuất hiện khi các yếu tố di truyền được chuyển từ cá thể này đến cá thể khác cùng loài hoặc khác loài
Ngoài ra thay đổi vật chất di truyền đưa đến hiện tượng kháng kháng sinh cũng được gây nên bởi đột biến thứ phát Ví dụ một đột biến làm thay đổi
vị trí gắn kháng sinh có thể làm giảm độ nhạy của kháng sinh đó và làm gia
tăng đề kháng thuốc Đặc biệt, M tuberculosis, tác nhân gây bệnh lao vẫn là
mối đe dọa sức khỏe loài người vì vi khuẩn này có khả năng đề kháng thuốc
bao gồm đề kháng với isoniazid và Streptomycine Đề kháng với Streptomycine
là do vi khuẩn có các đột biến làm thay đổi các đích của kháng sinh này
Khả năng lan tràn của các vi khuẩn đề kháng kháng sinh là mối đe dọa thực sự đối với sức khỏe cộng đồng trên toàn thế giới Quá trình này có thể thuận lợi nhờ khả năng tạo các biofilm Các biofilm này là tập hợp vi sinh vật
có tổ chức nhờ đó chúng có thể chia sẻ khả năng sống sót và tăng cường đề kháng với các kích tác của môi trường Sự lây lan này có thể xảy ra giữa động vật với động vật do tiêu hóa bị nhiễm chất thải, hoặc từ động vật lây cho
Trang 34người do con người ăn phải thức ăn có nhiễm bẩn, hoặc do xuất nhập khẩu động vật sống hay các sản phẩm của chúng, và lây từ người sang người đặc biệt là trong các trung tâm chăm sóc y tế
1.1.4.4 Hậu quả của sự kháng kháng sinh ở vi khuẩn
Theo Robyn (2002) [59] Một số kết quả nghiên cứu ở Mỹ năm 1992 cho thấy, một số loại kháng sinh dùng trong chăn nuôi hiện có rất ít tác dụng điều trị một số bệnh nhiễm trùng ở vật nuôi
Trước năm 1995, ở Đan Mạch và một số nước châu Âu, avoparcin được sử dụng rất rộng rãi đã dẫn đến hiện tượng kháng vancomycin ở vi
khuẩn Khi phát hiện ra hiện tượng này, năm 1995 Đan Mạch, 1996 Đức và
năm 1997 tất cả các nước EU đã cấm sử dụng Avoparcin như chất kích thích
sinh trưởng trong thức ăn chăn nuôi
Tính nguy hiểm của tình trạng kháng thuốc càng được ý thức hơn khi người ta tìm thấy rằng những vi khuẩn kháng thuốc gây ra các bệnh chết người còn lớn hơn cả AID Theo tạp chí của Hội Y học Mỹ số tháng 10/2007,
đăng tin năm 2005 hơn 100 ngàn ca bệnh gây ra bởi Staphylococcus aureus kháng lại Methicillin (MRSA: Methicillin resistant staphylococcus aureus) đã
làm 18.600 người bị chết Trong đó, cũng năm đó những người bị chết do HIV/AID chỉ là 17.000 người
Hiện tượng kháng thuốc xuất hiện từ thập kỷ 40 của thế kỷ trước, đến ngày nay là mối lo ngại hàng đầu về điều trị bệnh trên thế giới Theo tổng kết
của tiến sỹ Phạm Văn Tất, ngày 12/01/1941 Penicillin lần đầu tiên được sử
dụng để cứu sống một công an ở Oxford bị nhiễm trùng huyết do
Staphylococcus aureus thì đến tháng 6/1997 một thanh niên Nhật Bản đã chết
do nhiễm Staphylococcus aureus mà không thuốc nào chữa được (Phạm Văn
Tất, 1999) [31]
Trang 35Tốc độ kháng thuốc và các loại thuốc bị kháng đã được nhiều tác giả quan tâm (Theo Phạm Khắc Hiếu và Bùi Thị Tho, 1996) [13], nghiên cứu
tính kháng kháng sinh của E coli phân lập từ lợn con bị bệnh phân trắng tại các tỉnh phía Bắc từ 1975- 1995 cho thấy số chủng E coli kháng với
penicillin tăng dần từ 40 chủng từ năm 1975- 1976 lên 100 chủng vào năm
1985- 1986 và 183 chủng vào năm 1995- 1996 Streptomycin có tỷ lệ kháng
tăng dần từ 40%- 51%- 77,03%
Trong 7 loại kháng sinh nghiên cứu vào năm 1975- 1976 có 3 loại chưa
bị kháng thì đến năm 1995- 1996 đã có 100% thuốc bị kháng với tỷ lệ khác nhau (Phạm Khắc Hiếu, Bùi Thị Tho, 1996)[13]
Mức độ kháng của một loài vi khuẩn với các kháng sinh khác nhau cũng như hiệu lực của kháng sinh với 1 loài vi khuẩn nào đó có sự thay đổi rất lớn theo quốc gia, khu vực (Phạm Văn Ca, 2000 [3] - tài liệu dịch)
Ở Việt Nam, tình trạng vi khuẩn kháng kháng sinh rất phổ biến phù hợp với nhận định rằng, tình trạng kháng kháng sinh ở các nước đang phát triển thường nghiêm trọng và có chiều hướng gia tăng trong khi các nước phát triển mức độ kháng thuốc của các vi khuẩn tại bệnh viện và cộng đồng lại có
xu thế giảm dần (Phạm Văn Ca- dịch 2000)[2]
Cũng theo Phạm Văn Ca, (2000) [2] thì mối nguy hiểm là tình trạng kháng thuốc của vi khuẩn không chỉ có ở những người đang điều trị bệnh mà còn có mặt trong cơ thể người khoẻ mạnh trong cộng đồng Các khảo sát cho thấy tuỳ theo khu vực, địa lý, điều kiện kinh tế xã hội của từng địa phương mà
tỷ lệ nhiễm khuẩn cũng như loại khuẩn nhiễm trong cơ thể người được gọi là khoẻ mạnh (chưa phát bệnh) là khác nhau
Theo Phạm Văn Tất, (1999) [31] kháng sinh dùng trong chăn nuôi mặc
dù liều thấp nhưng thời gian dài, do đó, kháng sinh tích luỹ trong ống tiêu
Trang 36hoá Kháng sinh đào thải ra ngoài theo chất bài tiết, vào đất còn tiếp tục gây ảnh hưởng đến hệ vi sinh vật trong đất
Hậu quả của sự kháng kháng sinh ở vi khuẩn về kinh tế là rất lớn Theo dẫn liệu của Robyn (2003) [59], chi phí điều trị một bệnh nhân mắc bệnh lao
ở Mỹ tăng từ 12000 USD (thông thường trước đây) lên 180000 USD cho những bệnh nhân nhiễm vi khuẩn lao kháng thuốc Tuy nhiên, những thiệt hại
về kinh tế không phải là chính yếu mà vấn đề đáng lo ngại là không chỉ vật nuôi mà cả con người đang đứng trước thảm hoạ xảy ra các thảm dịch do những loài vi khuẩn kháng thuốc gây ra mà không thể kiểm soát được
Để hạn chế hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh, toàn bộ các nhà nước trong cộng đồng châu Âu đã cấm sử dụng kháng sinh với vai trò là chất kích thích sinh trưởng từ 1/1/2006
Ở nước ta, từ 2002, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng có quyết định cấm sử dụng một số kháng sinh bổ sung vào thức ăn chăn nuôi như:
Cloramphenicol, dimetridazole, metronidazole, furazolidor và các dẫn suất của
nhóm nitrofuran Trong thời gian tới một số kháng sinh khác cũng sẽ bị cấm
và tiến tới cấm hoàn toàn các loại kháng sinh bổ sung vào thức ăn chăn nuôi
Tuy nhiên cũng phải thấy rằng việc sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi đã đem lại lợi ích rất lớn Theo một báo cáo của uỷ ban sử dụng dược phẩm trong thức ăn chăn nuôi trực thuộc Hội đồng nghiên cứu Quốc gia (NRC) (Mỹ), thiệt hại do lệnh cấm sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi có thể lên tới 2,5 tỷ USD mỗi năm Một trong những lợi ích khác của việc cho phép
sử dụng kháng sinh liều thấp là thúc đẩy sự phát triển của ngành sản xuất dược phẩm và khuyến khích nghiên cứu, sản xuất các dược phẩm mới phục vụ cho việc bảo vệ và nâng cao sức khoẻ vật nuôi Tuy nhiên, như đã nói ở trên, tác hại của việc sử dụng kháng sinh liều thấp cũng rất lớn Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã cảnh báo hiểm hoạ mà loài người có thể phải đối mặt do sự kháng
Trang 37kháng sinh của vi khuẩn gây ra và WHO đang thúc đẩy một chương trình
khuyến cáo tất cả các nước tiến tới cấm hoàn toàn việc sử dụng kháng sinh như
một chất kích thích sinh trưởng
1.1.5 Giải pháp thay thế kháng sinh
Khi kháng sinh đang dần dần bị cấm sử dụng hoàn toàn thì đòi hỏi
chúng ta cần có các giải pháp thay thế kháng sinh Chính vì vậy, đã có nhiều
các công trình nghiên cứu thành công các chế phẩm sinh học để bổ sung vào
trong khẩu phần cho thức ăn gia súc, nhằm hạn chế việc sử dụng kháng sinh Trích theo Nguyễn Hồng Dung, Cao Đình Tuấn (2006) [6] Một số giải pháp
thay thế kháng sinh hiện đang được sử dụng phổ biến là:
1.1.5.1 Chế phẩm trợ sinh gồm 2 dạng chính:
- Chế phẩm probiotic là dạng sản phẩm được sản xuất bằng cách lấy vi
khuẩn khoẻ trong đường ruột của gia súc khoẻ mạnh, nhận dạng, phân lập và
nhân lên
- Chế phẩm prebiotic các chất được vi khuẩn trong đường tiêu hóa sử
dụng tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn có ích phát triển Đây là thức ăn
không tiêu hóa ở ruột non mà phân giải ở ruột già để tăng cường sức khỏe cho
vật nuôi, tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn có lợi
1.1.5.2 Enzym
Enzym là chất hữu cơ có hoạt tính sinh học cao, có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng đối với sự trao đổi chất trong cơ thể động vật Mặc dù chúng tham
gia vào sự phân chia và tổng hợp của nhiều chất hữu cơ nhưng chúng không
có sự thay đổi
Enzym được bổ sung trong khẩu phần thức ăn với tác dụng:
- Phân giải cơ chất, tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật phát triển
(tác động gián tiếp)
- Gia súc non sẽ rất tốt khi bổ sung enzym vì hệ tiêu hóa chưa phát triển tốt
Trang 38- Thủy phân một số cơ chất có hại cho cơ thể
- Thủy phân xơ
Khi bổ sung enzym vào khẩu phần thức ăn cần chú ý đến hoạt tính của enzym, tính ổn định, chịu nhiệt Vì khi ép viên thức ăn phải mất 20- 25 phút ở giai đoạn nóng 60- 900 do đó sau gai đoạn này mới phun enzym bổ sung vào Ngoài ra bản thân enzym là một protein nên có thể gây hiện tượng dị ứng và enzym được sản xuất từ vi khuẩn mà vi khuẩn có khả năng kháng thuốc
1.1.5.3 Các chế phẩm cung cấp kháng thể
Như bột huyết tương, bột trứng gà… chứa các kháng thể có thể loại bỏ
vi khuẩn bệnh đường ruột, ngăn ngừa rối loạn tiêu hóa Lợn con mới đẻ từ 1 đến 4 tuần tuổi không thể tự sản sinh kháng thể để chống bệnh mà phải chông cậy vào nguồn kháng thể từ sữa mẹ Tuy nhiên, nguồn kháng thể này không đáp ứng được nhu cầu và như vậy việc bổ sung các chế phẩm giàu kháng thể
là cần thiết, nhất là khi kháng sinh không được đưa vào thức ăn (Vũ Duy Giảng, 2009) [8]
1.1.5.4 Kháng sinh thảo dược
Theo Vũ Duy Giảng (2009) [8] Một biện pháp thay thế kháng sinh hiệu quả và không tốn kém là sử dụng kháng sinh thảo dược Chế phẩm kháng sinh thảo dược thường gồm các hợp chất được chiết rút từ những loại thảo dược Các hoạt chất trong các cây thảo dược này hoạt động như các chất kháng thể và chất chống oxy hóa Nó có khả năng ức chế nhiều loại vi khuẩn gram(-)
và gram (+) kể cả những vi khuẩn đã kháng với nhiều loại kháng sinh Nó có
thể thay thế nhiều loại kháng sinh như Tylosin, chlotetracycline, Sulfametazine,
penicillin… bổ sung vào thức ăn Chế phẩm còn có đặc điểm là không ức chế
vi khuẩn có ích trong đường ruột và còn có tác dụng kích thích thèm ăn, tăng
sự tiết dịch tiêu hóa, cải thiện tỷ lệ tiêu hóa, hấp thụ thức ăn
Trang 391.1.5.5 Acid hữu cơ
Việc bổ sung các acid hữu cơ vào khẩu phần thức ăn đã được sử dụng cách đây 10 năm, nó có tác dụng ngăn cản sự phát triển của vi sinh vật có hại trong đường ruột, làm tăng tỷ lệ vi khuẩn có ích Tác động chủ yếu của acid
hữu cơ là trên hai loại vi khuẩn Salmonella và E.coli, làm biến đổi tế bào vi
khuẩn vì vậy không gây hại cho vật nuôi
Khi bổ sung 1- 2% acid hữu cơ vào trong thức ăn dưới dạng muối có tác dụng làm tăng tiêu hóa protein, cung cấp năng lượng tốt hơn, giảm pH, bản thân acid hữu cơ cũng là nguồn cung cấp năng lượng Khi sử dụng acid hữu cơ, không làm tăng thu nhận thức ăn, kích thích tăng trưởng, giảm đáng
kể bệnh ỉa chảy (Nguyễn Thị Nga và cộng sự) [21]
* Vai trò của Acid hữu cơ
Đã có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề sử dụng các acid hữu cơ như một giải pháp thay thế kháng sinh đạt những kết quả hết sức khả quan Vai trò của các acid hữu cơ trong giai đoạn hiện nay, nhất là đối với ngành chăn nuôi là không thể phủ nhận
Theo Nguyễn Hưng Quang (2002) [29] acid hữu cơ gồm nhiều loại acid formic, acid lactic, acid propionic, acid fumaric, acid malic, acid citric, acid succinic Sử dụng acid hữu cơ có tác dụng cải thiện hệ vi sinh vật đường ruột, cải thiện tiêu hoá, bảo vệ nhung mao, acid hoá đường ruột (Acidifer)
* Tác dụng của acid hữu cơ
- Giảm độ pH, có ảnh hưởng kháng khuẩn Những acid có khả năng đi xuyên qua màng tế bào vi khuẩn mà không bị phân giải (Ostling Y Lindgre, 1993)
- Do acid hữu cơ hạ pH đường ruột nên ảnh hưởng tốt đến tiêu hoá và trao đổi chất, có thể như là yếu tố cải thiện hấp thu các chất dinh dưỡng
- Cơ chế hoạt động của nó trên cơ sở làm cho tiêu hoá, hấp thu tốt hơn đối với khoáng, protein, năng lượng Bản thân acid hữu cơ cung cấp nguồn năng lượng dễ tiêu cho cơ thể Trích theo (Nguyễn Hưng Quang, 2002) [29]
Trang 40* Hiệu quả sử dụng của acid hữu cơ
• Ảnh hưởng trên dạ dày
- HCL tiết ra trong dạ dày động vật lúc cai sữa không đủ để hoạt động tiêu hoá thức ăn
- Phản ứng pepsinogen biến thành pepsin xảy ra dưới ảnh hưởng của chất tiết dạ dày, nó có chứa acid HCL để hạ pH xuống còn 3
- Nếu protein không được tiêu hoá tốt ở dạ dày thì nó sẽ tạo ra chất nền tốt cho vi khuẩn gây bệnh phát triển tốt ở ruột non và cả ruột già
- pH thấp giúp cho hoà tan chất khoáng đa, vi lượng tốt hơn, từ đó giúp cho việc hấp thu khoáng tốt hơn
• Sự acid hoá đường ruột tạo ra hàng rào cản chống lại sự xâm nhập của
vi khuẩn gây bệnh vào ống tiêu hoá
• Sự acid hoá đường ruột làm hạ pH, còn có tác dụng giải phóng ra hormone “secretin”, thúc đẩy tuyến tụy giải phóng ra chất bicarbonate và gan tiết ra nhiều dịch mật (biliary) tăng cường tiêu hoá chất béo của thức ăn
• Sự acid hoá đường ruột (acidification) không có ảnh hưởng gì đến sự sản xuất acid clohidric của những tế bào sinh acid của dạ dày, trái lại nó còn tiết kiệm được lượng HCL, trung hoà chất kiềm trong thức ăn Trích theo Nguyễn Hưng Quang, (2002) [29]
* Cơ chế kháng khuẩn của acid hữu cơ
Kháng vi khuẩn ở dạ dày: Kiểm soát và khống chế sự phát triển vi khuẩn ở dạ dày, ruột Sự kiểm soát thực hiện theo 2 cơ chế hoạt động sau:
1 Làm giảm độ pH một cách vừa phải
2 Có khả năng đi xuyên qua màng tế bào vào trong citoplasma của vi khuẩn Những acid hữu cơ có phân tử trọng nhỏ thì có khả năng đi xuyên qua màng tốt hơn loại có phân tử trọng lớn