Xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Trần Thanh Tuấn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của:
- PGS.TS Nguyễn Quang Học, giảng viên khoa Quản lý đất đai - Học viện nông nghiệp Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài;
- Các thầy, cô giáo khoa Quản lý đất đai, trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam và các đồng nghiệp;
- UBND huyện Kim Bảng, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Kim Bảng, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Kim Bảng, phòng Tài chính – Kế hoạch, phòng Hạ Tầng – Kinh tế các phòng của huyện và UBND 2 xã Khả Phong và Nhật Tân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các cá nhân, tập thể và cơ quan nêu trên đã giúp đỡ và tạo những điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Trần Thanh Tuấn
Trang 51.1 Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới 3
1.1.6 Các nguyên tắc của Chương trình xây dựng nông thôn mới 7 1.1.7 Vị trí và phạm vi của xây dựng nông thôn mới 8 1.1.8 Vị trí, vai trò của quy hoạch xây dựng nông thôn mới 9 1.1.9 Thực hiện xây dựng nông thôn mới 9 1.2 Cơ sở pháp lý về xây dựng nông thôn mới 10 1.3 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới của một số nước trên thế giới 12 1.3.1 Nhật Bản: Con đường hiện đại hóa nông nghiệp theo mô hình tiết
Trang 61.3.4 Thái Lan: Nhà nước trợ giúp mạnh mẽ 16 1.3.5 Xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc 19 1.4 Tình hình xây dựng nông thôn mới tại Việt nam 20
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội huyện Kim
2.1.4 Đề xuất một số giải pháp để đẩy nhanh tiến độ thực hiện xây dựng
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 30 2.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thu thập số liệu 30
2.2.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu 31
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Kim Bảng 32
3.1.4 Đánh giá tiềm năng của huyện Kim Bảng 38 3.2 Đánh giá tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện
3.2.1 Kết quả xây dựng nông thôn mới huyện Kim Bảng giai đoạn 2011-2014 39
Trang 73.3 Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch nông thôn mới ở xã Khả Phong
xã đã được phê duyệt theo Bộ tiêu chí nông thôn mới 73 3.4.3 Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh thực hiện quy hoạch xây dựng
Trang 8NNPTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NTM Nông thôn mới
PRA
Participatory rural appraisal Phương pháp đánh giá nông thôn có người dân tham gia TNMT Tài nguyên và môi trường
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
UBND Ủy ban nhân dân
Trang 9DANH MỤC BẢNG
3.1 Kết quả xây dựng nông thôn mới (đến 12/2014) huyện Kim Bảng theo
3.2 Tổng hợp tình hình thực hiện các quy hoạch xây dựng nông thôn mới
3.3 Kết quả thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Khả Phong 56 3.4 Kết quả thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Nhật Tân 62
Trang 10DANH MỤC HÌNH
3.2 Trường Mầm non trung tâm xã Khả Phong 60 3.3 Đường giao thông nông thôn xã Khả Phong 61
3.6 Đường giao thông nông thôn xã Nhật Tân 65
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp, nông dân và nông thôn đang là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta Tại nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/08/2008 của BCH Trung ương đã nêu mục tiêu tổng quát về xây dựng nông thôn mới (NTM) là: “ Xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”
Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc Ban hành bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới là căn cứ để xây dựng nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới Trong đó công tác lập quy hoạch là tiêu chí số 1 trong 19 tiêu chí về nông thôn mới được ban hành Quy hoạch xây dựng nông thôn mới được phê duyệt là cơ sở để các cấp đảng, chính quyền, nhân dân tổ chức thực hiện xây dựng nông thôn mới công nghiệp hóa - hiện đại hóa phù hợp với tiến trình phát triển của đất nước
Với sự cố gắng của các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương, Chương trình xây dựng NTM đã đạt được kết quả đáng khích lệ: về cơ bản các xã
đã thực hiện quy hoạch xây dựng NTM Tuy nhiên quá trình thực hiện đang gặp rất nhiều vấn đề cần phải được tiếp tục nghiên cứu để điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn sửa đổi một số tiêu chí, ban hành cơ chế quản lý đầu tư đặc thù…, vấn đề huy động nguồn lực; việc nhân rộng mô hình sản xuất mới còn chậm, chủ yếu tập trung
ở các tỉnh vùng đồng bằng, chất lượng công tác quy hoạch còn bất cập Vì vậy, việc xây dựng mô hình NTM và tổng kết việc thực hiện các mô hình xã NTM đã thành công ở các địa phương là rất cần cần thiết nhằm tìm ra những giải pháp để nhân rộng mô hình sang các vùng có điều kiện tương tự
Kim Bảng là khu vực phát triển các cơ sở công nghiệp, các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, các khu du lịch văn hoá và nghỉ dưỡng; Là khu vực nông
Trang 12nghiệp, có giá trị sản xuất nông, thủy sản năm sau cao hơn năm trước
Ngoài ra, trên địa bàn huyện cũng có một số làng nghề truyền thống như chế biến
gỗ, đồ gốm, dệt vải, mây tre đan…
Trong vài năm trở lại đây, đời sống của người dân tại các xã nơi đây đã được nâng lên một cách rõ rệt Số hộ nghèo, số nhà không an toàn giảm mạnh; Số nhà văn hóa cấp xã và thôn xóm đã được đầu tư xây dựng; Các đường liên thôn, liên xã được bê tông hóa Song vẫn chưa đáp ứng được các tiêu chí nông thôn mới trong bộ tiêu chí do Chính phủ ban hành
Để đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ đổi mới trên địa bàn huyện Kim Bảng thì việc đánh giá hiện trạng, định hướng, lập và thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới là cần thiết Trước tiên cần đánh giá việc thực hiện theo 19 tiêu chí nông thôn mới đối với các xã trên địa bàn huyện nói chung và việc thực hiện cụ thể tại 2 xã đại diện Từ đó đánh giá được những việc đã làm được, những vấn đề còn tồn tại và đề ra những giải pháp cho thời gian tiếp theo
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tôi chọn và thực hiện đề tài “Đánh giá
tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Bảng, tỉnh
Hà Nam”
2 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Kim Bảng, tỉnh
Hà Nam theo Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới;
Đánh giá việc thực hiện quy hoạch nông thôn mới ở 2 xã cụ thể là Khả Phong và Nhật Tân, rút ra được những ưu điểm, những điểm còn tồn tại, từ đó đề ra những giải pháp để sớm tiếp tục hoàn thiện các tiêu chí về xây dựng nông thôn mới của 2 xã trên nói riêng và địa bàn huyện Kim Bảng nói chung
3 Yêu cầu của đề tài
Các số liệu nghiên cứu và nguồn tài liệu trích dẫn đảm bảo tính chính xác và khách quan;
Các giải pháp đề xuất đảm bảo tính hợp lý, phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương đạt được kết quả theo quy hoạch xây dựng nông thôn mới của huyện và Bộ tiêu chí quốc gia dựng nông thôn mới;
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
- Khái niệm về nông thôn: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội
thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở
là Ủy ban nhân dân xã
- Khái niệm về nông thôn mới: Nông thôn mới là nông thôn có kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp
lý, xã hội dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững
- Khái niệm về xây dựng nông thôn mới: Là xây dựng nông thôn đạt 19 tiêu
chí của Bộ tiêu chí quốc gia về Nông thôn mới
- Khái niệm quy hoạch nông thôn mới: Là bố trí, sắp xếp các khu chức năng,
sản xuất, dịch vụ, hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường trên địa bàn, theo tiêu chuẩn nông thôn mới, gắn với đặc thù, tiềm năng, lợi thế của từng địa phương; được mọi người dân của xã trong mỗi làng, mỗi gia đình ý thức đầy đủ, sâu sắc và quyết tâm thực hiện
1.1.2 Đặc trưng của nông thôn mới
Nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 gồm các đặc trưng: Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn được nâng cao; Nông thôn mới phát triển theo quy hoạch, cơ cấu hạ tầng, kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ; Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn
và phát huy; Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao; An ninh tốt, dân chủ được phát huy
Việc xây dựng nông thôn mới nhằm phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước trong thời kỳ đổi mới Sau 25 năm thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông thôn, nông dân, nước ta đã đạt được thành tựu to lớn và khá toàn diện; tuy nhiên, những thành tựu đạt được chư tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng; nông nghiệp phát triển còn
Trang 14kém bền vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp; việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm; năng xuất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt hàng thấp, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn; đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp; chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn với thành thị, giữa các vùng miền còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc…Vì vậy, xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân ở nông thôn
1.1.3 Chức năng của nông thôn mới
1.1.3.1 Chức năng sản xuất nông nghiệp hiện đại
Nông thôn là nơi diễn ra phần lớn các hoạt động sản xuất nông nghiệp của các quốc gia Có thể nói nông nghiệp là chức năng tự nhiên của nông thôn Chức năng cơ bản của nông thôn là sản xuất dồi dào các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao Khác với nông thôn truyền thống, sản xuất nông nghiệp của nông thôn mới bao gồm cơ cấu các ngành nghề mới, các điều kiện sản xuất nông nghiệp hiện đại hoá, ứng dụng phổ biến khoa học kỹ thuật tiên tiến và xây dựng các tổ chức nông nghiệp hiện đại
Chính vì vậy, xây dựng nông thôn mới không có nghĩa là biến nông thôn trở thành thành thị Hướng tư duy áp dụng mô hình phát triển của thành thị vào xây dựng nông thôn phần nào đã phủ nhận những giá trị tự có của nông thôn và khả năng phát triển trên cơ sở giữ vững bản sắc riêng nông thôn (Cù Ngọc Hưởng, 2006)
1.1.3.2 Chức năng giữ gìn văn hóa truyền thống
Trải qua hàng nghìn năm phát triển, làng xóm ở nông thôn được hình thành dựa trên những cộng đồng có cùng phong tục, tập quán, huyết thống Quy tắc hành
vi của xã hội gồm những người quen này là những phong tục tập quán đã được hình thành từ lâu đời, ở đó con người đối xử tin cậy lẫn nhau trên quy phạm phong tục tập quán đó Ở đó quan hệ huyết thống là mối quan hệ quan trọng nhất Chính các tập thể nông dân cùng huyết thống đã giúp họ khắc phục được những nhược điểm của kinh tế tiểu nông, giúp bà con nông dân chống chọi với thiên tai địa họa Cũng
Trang 15chính văn hoá quê hương đã sản sinh ra những sản phẩm văn hoá tinh thần quý báu như lòng kính lão yêu trẻ, giúp nhau canh gác bảo vệ, giản dị tiết kiệm, thật thà đáng tin, yêu quý quê hương.vv , tất cả được sản sinh trong hoàn cảnh xã hội nông thôn đặc thù Các truyền thống văn hoá quý báu này đòi hỏi phải được giữ gìn và phát triển trong một hoàn cảnh đặc thù Môi trường thành thị là nơi có tính mở cao, con người cũng có tính năng động cao, vì thế văn hoá quê hương ở đây sẽ không còn tính kế tục Do vậy, chỉ có nông thôn với đặc điểm sản xuất nông nghiệp và tụ cư theo dân tộc, dòng tộc mới là môi trường thích hợp nhất để giữ gìn và kế tục văn hoá quê hương Ngoài ra, các cảnh quan nông thôn với những đặc trưng riêng đã hình thành nên màu sắc văn hoá làng xã đặc thù, thể hiện các tư tưởng triết học như trời đất giao hoà, thuận theo tự nhiên với sự tôn trọng tự nhiên, mưu cầu phát triển hài hoà cũng như chú trọng sự kế tục phát triển của các dân tộc
Để đảm bảo giữ gìn được văn hóa truyền thống tốt đẹp của nông thôn nên việc xây dựng nông thôn mới nếu như phá vỡ đi các cảnh quan làng xã mang tính khu vực
đã được hình thành trong lịch sử thì cũng chính là phá vỡ đi sự hài hoà vốn có của nông thôn, làm mất đi bản sắc làng quê nông thôn Điều này không những hạn chế tác dụng của chức năng nông thôn mà còn có tác dụng tiêu cực đến giữ gìn sinh thái cảnh quan nông thôn và cảnh quan văn hoá truyền thống (Cù Ngọc Hưởng, 2006)
1.1.3.3 Chức năng sinh thái
Nền văn minh nông nghiệp được hình thành từ những tích luỹ trong suốt một quá trình lâu dài, từ khi con người thích ứng với thiên nhiên, lợi dụng, cải tạo thiên nhiên, cho đến khi phá vỡ tự nhiên dẫn đến phải hứng chịu các ảnh hưởng xấu và cuối cùng là tôn trọng tự nhiên Trong nông thôn truyền thống, con người và tự nhiên sinh sống hài hoà với nhau, chức năng người tôn trọng tự nhiên, bảo vệ tự nhiên và hình thành nên thói quen làm việc theo quy luật tự nhiên Thành thị là hệ thống sinh thái nhân tạo phản tự nhiên ở mức độ cao nhất Quá trình mưu cầu cuộc sống đầy đủ về vật chất đã khiến người thành thị càng ngày càng xa rời tự nhiên Nền văn minh công nghiệp đã phá vỡ mối quan hệ hài hoà vốn có giữa con người với thiên nhiên, dẫn đến phá vỡ môi trường một cách nghiêm trọng
Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá khiến con người ngày càng xa rời tự
Trang 16nhiên, dẫn đến những ô nhiễm trong môi trường nước và không khí Nếu so sánh với hệ thống sinh thái đô thị, thì hệ thống sinh thái nông nghiệp một mặt có thể đáp ứng nhu cầu cung cấp các sản phẩm lương thực, hoa quả cho con người, mặt khác cũng đáp ứng được các yêu cầu về môi trường tự nhiên Thuộc tính sản xuất nông nghiệp đã quyết định hệ thống sinh thái nông nghiệp mang chức năng phục vụ hệ thống sinh thái Đất đai canh tác nông nghiệp, hệ thống thuỷ lợi, các khu rừng, thảo nguyên vv phát huy các tác dụng sinh thái như điều hoà khí hậu, giảm ô nhiễm tiếng ồn, cải thiện nguồn nước, phòng chống xâm thực đất đai, làm sạch đất vv… Chức năng này chính là một trong những tiêu chí quan trọng phân biệt giữa thành thị với nông thôn Thông qua sự tuần hoàn của tự nhiên và năng lượng, cuối cùng, thành thị cũng là nơi thu được lợi ích từ chức năng sinh thái của nông thôn Các cảnh quan tự nhiên tươi đẹp cùng với môi trường sinh thái có thể đáp ứng được nhu cầu trở về với tự nhiên của con người Nông thôn có thể bù đắp được những thiếu hụt sinh thái của thành thị Môi trường tự nhiên yên tĩnh có thể điều hoà cân bằng tâm lý con người Môi trường sinh vật phong phú khiến con người có thể cảm thụ được những điều tốt đẹp từ cuộc sống Sự chung sống hài hoà giữa con người với tự nhiên có tác dụng thanh lọc và làm đẹp tâm hồn Đây cũng chính là nguyên nhân khiến cho các khu du lịch sinh thái xung quanh các khu đô thị ngày càng phát triển rầm rộ Do vậy, phải nên xây dựng nông thôn mới với những đóng góp tích cực cho sinh thái Có thể coi chức năng sinh thái chính là thước đo một đơn
vị có thể coi là nông thôn mới hay không Đồng thời phải phân biệt rõ không được lẫn lộn ranh giới giữa nông thôn với thành thị (Cù Ngọc Hưởng, 2006)
1.1.4 Mục tiêu xây dựng nông thôn mới
Mục tiêu xây dựng nông thôn mới là nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn; xây dựng nền nông nghiệp phát triển bền vững theo hướng hiện đại; nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất; sản phẩm nông nghiệp có sức cạnh tranh cao; xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ và hiện đại, nhất là đường giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, khu dân cư…; xây dựng xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, văn minh, giàu đẹp, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; an
Trang 17ninh trật tự được giữ vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị ở nông thôn, củng cố vững chắc liên minh công nhân – nông dân – trí thức
1.1.5 Nội dung xây dựng nông thôn mới
Theo Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ thì xây dựng nông thôn mới gồm 11 nội dung về: Quy hoạch xây dựng nông thôn mới; Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội; Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập; Giảm nghèo và an sinh xã hội; Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn; Phát triển giáo dục – đào tạo ở nông thôn; Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn; Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn; Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn; Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn
1.1.6 Các nguyên tắc của Chương trình xây dựng nông thôn mới
Nguyên tắc 1: Các nội dung, hoạt động của Chương trình phải hướng tới mục
tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới ban hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ
Nguyên tắc 2: Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là
chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện; các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở nông thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện
Nguyên tắc 3: Kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia,
chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông thôn
Nguyên tắc 4: Quá trình thực hiện Chương trình phải gắn kết với kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo thực hiện đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
Nguyên tắc 5: Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng
cường tính chủ động trong quá trình tổ chức thực hiện cho cấp xã; phát huy vai trò làm chủ của người dân và cộng đồng, thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở trong việc
Trang 18lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát, đánh giá
Nguyên tắc 6: Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị
và toàn xã hội; cấp ủy Đảng, chính quyền đóng vai trò chủ đạo, điều hành; Mặt trận
tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng nông thôn mới
1.1.7 Vị trí và phạm vi của xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới có thể tạm coi là một bộ phận, hợp phần của tổng thể phát triển nông thôn Nếu căn cứ vào diễn giải ngôn từ, nông thôn mới sẽ khác biệt với nông thôn hiện nay, hoặc với nông thôn trước kia Sự khác biệt đó hàm ý sự thay đổi theo hướng tích cực của vùng nông thôn Các thay đổi có thể về bộ mặt nông thôn thể hiện ra bên ngoài nói chung, nhưng cũng có thể là các thay đổi về chất lượng, về tinh thần tạo ra động lực thúc đẩy phát triển nông thôn tại vùng phạm
vi địa lý nhất định Nếu phát triển nông thôn là vấn đề phát triển chung, có sự thống nhất tương đối và có thể chia sẻ giữa các nước khác nhau trên thế giới, thì xây dựng nông thôn mới có tính chất đặc thù Không nhiều nước sử dụng và phát triển nội dung này thành công trong phát triển nông thôn (Nguyễn Quang Dũng, 2010)
Nổi bật hơn cả có trường hợp phong trào Làng Mới của Hàn Quốc Khi đó người nông dân trong các làng quê được khơi dậy và khai sáng tinh thần để làm việc chăm chỉ trên cơ sở tính gắn kết cộng đồng, đoàn kết và kỷ luật cao, cộng đồng làng của họ có thể thực hiện được các công việc khó khăn Từ đó tạo ra sự thay đổi của bộ mặt làng quê, người nông dân đồng thời cải thiện đáng kể điều kiện đời sống vật chất và tinh thần Kết quả thu được từ phong trào Làng Mới được coi là có vai trò quan trọng, đóng góp đáng kể vào hiện đại hóa, phát triển khu vực nông thôn và phát triển đất nước Hàn Quốc Như vậy yếu tố mới vừa là thay đổi tích cực về chất
- tinh thần người nông dân, vừa là thay đổi tích cực về hình thức - bộ mặt làng quê Trong đó thay đổi về chất có vai trò quyết định (Nguyễn Quang Dũng, 2010)
Xây dựng nông thôn mới tập trung vào tổ chức thực hiện các nội dung phát triển nông thôn tại cấp cơ sở Việc quản lý và thực hiện trên cơ sở cấp quản lý chính quyền tiếp xúc trực tiếp với cộng đồng dân cư Nó có giới hạn về phạm vi địa lý với vùng diện tích tương đối nhỏ, tương ứng với phạm vi sinh sống của mỗi cộng đồng
Trang 19dân cư nông thôn Xây dựng nông thôn mới là một quá trình liên tục, lâu dài Các nội dung sẽ bao trùm tất cả các hoạt động phát trienr nông thôn tại cấp cơ sở Có nhiều bên với vai trò khác nhau sẽ tham gia vào quá trình xây dựng nông thôn mới, đó là người dân, Nhà nước, các tổ chức và cá nhân khác (Nguyễn Quang Dũng, 2010)
1.1.8 Vị trí, vai trò của quy hoạch xây dựng nông thôn mới
Trong quá trình xây dựng nông thôn mới, quy hoạch và thực hiện quy hoạch
có vai trò quan trọng, nhằm bảo đảm cho việc sử dụng đất và xây dựng hạ tầng thiết yếu, các khu dân cư khu vực nông thôn vừa theo hướng văn minh, hiện đại, vừa giữ được bản sắc văn hóa làng, xã của địa phương
Quy hoạch xây dựng nông thôn mới sẽ góp phần hạn chế và giảm thiểu các quy hoạch chắp vá, tùy tiện, giữ gìn và phát huy các không gian kiến trúc truyền thống vốn có của nông thôn Việt Nam, đồng thời đáp ứng yêu cầu của Chính phủ về nông thôn mới trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Để thực hiện mục tiêu Nghị quyết của Đảng về “tam nông”, phấn đấu đến năm 2020 có 50% số xã đạt tiêu chí nông thôn mới thì vấn đề quy hoạch nông thôn đang rất cần được quan tâm
Trong các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, công tác quy hoạch được đặt lên hàng đầu, phải đi trước một bước
Công tác quy hoạch xây dựng nông thôn mới không chỉ liên quan đến nhiều tiêu chí khác, mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cả vùng - huyện
1.1.9 Thực hiện xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới thực chất là chương trình do nhân dân lựa chọn, đóng góp công sức thực hiện và trực tiếp hưởng lợi Chương trình xây dựng nông thôn mới có ý nghĩa rất lớn cả về kinh tế - chính trị - xã hội vì nó mang lại lợi ích thiết thân cho cư dân nông thôn (chiếm khoảng 70% dân số cả nước), thông qua đó chương trình sẽ điều hòa lợi ích, thành quả công cuộc đổi mới cho người dân khu vực nông thôn
Ngay trong những năm đầu triển khai, Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới đã nhanh chóng trở thành phong trào của cả nước Nhiệm
vụ về xây dựng nông thôn mới được xác định rõ trong nghị quyết đại hội Đảng các
Trang 20cấp từ tỉnh đến huyện và xã Ban Bí thư Trung ương khóa X đã trực tiếp chỉ đạo Chương trình thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới cấp xã tại 11 xã điểm ở 11 tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng, miền Bộ máy quản lý và điều hành Chương trình xây dựng nông thôn mới đã được hình thành từ Trung ương xuống địa phương Các bộ, ngành đã ban hành 25 loại văn bản hướng dẫn địa phương về tổ chức bộ máy quản lý, điều hành, quy hoạch nông thôn mới Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã triển khai cuộc vận động “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư gắn với xây dựng nông thôn mới” Ngày 08-6-2011, Thủ tướng Chính phủ đã chính thức phát động thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”
1.2 Cơ sở pháp lý về xây dựng nông thôn mới
- Luật Xây dựng ngày 26/11/2003;
- Luật Đất đai ngày 26/11/2003;
- Luật Đất đai ngày 29/11/2013;
- Luật Thương mại ban hành ngày 14/6/2005;
- Luật Bảo vệ môi trường ngày 23/6/2014;
- Luật quy hoạch đô thị ban hành ngày 17/06/2009;
- Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
- Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương Đảng Khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
- Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về
việc ban hành Bộ Tiêu chí Quốc gia về Nông thôn mới;
- Quyết định số 800/2010/QĐ-TTg ngày 04/06/2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020;
- Quyết định số 193/QĐ-TTg ngày 02/2/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới;
Trang 21- Nghị định số 08/2005/NĐ-CP ngày 24/01/2005 của Chính phủ về Quy
hoạch xây dựng;
- Thông tư số 31/2009/TT-BXD ngày 10/9/2009 của Bộ Xây dựng về Ban
hành Tiêu chuẩn quy hoạch xây dựng nông thôn;
- Thông tư số 32/2009/TT-BXD ngày 10/9/2009 của Bộ Xây dựng về Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng nông thôn;
- Quyết định số 2933/BGTVT-KHĐT ngày 11/5/2009 của Bộ Giao thông
vận tải hướng dẫn tiêu chí nông thôn mới trong lĩnh vực giao thông nông thôn;
- Thông tư 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới;
- Thông tư liên tịch 13/2011/TTLT-BXD-BNNPTNT-BTN&MT ngày 28/10/2011 của Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt xây dựng xã nông
thôn mới;
- Thông tư liên tịch số 26/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13/04/2011
hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định số 800/TTg ngày 4/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông
thôn mới giai đoạn 2010-2020;
- Thông tư số 17/TT-BXD ngày 30/9/2010 của Bộ xây dựng hướng dẫn xác
định và quản lý chi phí quy hoạch xây dựng và quy hoạch đô thị;
- Thông tư số 07/2010/TT-BNNPTNT ngày 08/02/2010 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn về việc hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp xã theo bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;
- Thông tư liên tịch số 22/2007/TTLT-BVHTT-UBTDTT ngày 4/7/2007 của
Bộ Văn hóa thông tin và Ủy ban Thể dục Thể thao về việc hướng dẫn tổ chức và hoạt động của trung tâm văn hóa thể thao xã phường thị trấn;
- Nghị quyết số 03 NQ/TU ngày 21/4/2011 của Tỉnh uỷ Hà Nam về xây
dựng nông thôn mới tỉnh Hà Nam đến năm 2020;
- Kế hoạch số 547/KH - UBND, ngày 13/5/2011 của Uỷ ban nhân dân tỉnh
Hà Nam về Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh uỷ Hà nam
Trang 22- Nghị quyết số 04 NQ/TU ngày 11/5/2011 của Huyện uỷ Kim Bảng về xây
dựng nông thôn mới đến năm 2020;
- Căn cứ Nghị quyết của Đảng ủy, HĐND xã Nhật Tân về thực hiện mục tiêu
quốc gia NTM đến năm 2020
- Căn cứ Nghị quyết của Đảng ủy, HĐND xã Khả Phong về thực hiện mục tiêu quốc gia NTM đến năm 2020
1.3 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới của một số nước trên thế giới
Dù tiến trình đô thị hóa và công nghiệp hóa được thúc đẩy thế nào, các nước
có đa phần dân số làm nghề nông cũng bắt buộc phải chấp nhận một thực tế vài chục năm, thậm chí hàng trăm năm nữa, số dân tiếp tục dựa vào nông nghiệp để mưu sinh vẫn là số lớn Bởi vậy, xây dựng nông thôn mới không phải là một quy hoạch ngắn hạn, mà là một quốc sách lâu dài
1.3.1 Nhật Bản: Con đường hiện đại hóa nông nghiệp theo mô hình tiết kiệm đất đai
Bắt đầu từ thời Minh Trị Duy Tân cho đến trước khi công nghiệp phát triển nhanh chóng sau chiến tranh, lương thực luôn là một trong những vấn đề chủ yếu
mà Nhật Bản phải đối diện Một mặt, họ mưu cầu có thể tự cung cấp lương thực, mặt khác lại gặp phải tình trạng nông nghiệp mất dần ưu thế, vấn đề điều chỉnh nông nghiệp của Nhật Bản lúc này cực kỳ cấp thiết
Năm 1870, Nhật Bản nhập nông cụ, phân bón và giống từ các nước Âu, Mỹ nhằm hiện đại hóa nông nghiệp, mô phỏng Âu, Mỹ thiết lập các xưởng chế tạo nông
cụ, bãi ươm giống, ruộng thí nghiệm Nhưng thực tiễn đã chứng minh, con đường hiện đại hóa nông nghiệp theo mô hình “tiết kiệm lao động” của Âu, Mỹ không phù hợp với một Nhật Bản lạc hậu về kinh tế, đất chật người đông, quy mô nông điền nhỏ Xuất phát từ thực tế đó, Nhật Bản lựa chọn một phương thức kinh doanh theo
mô hình “tiết kiệm đất đai”, nhằm nhiều vào lao động và phân bón, cải thiện hệ thống thủy lợi nội đồng, nhân rộng các giống cây trồng tốt, sử dụng nhiều phân bón hóa học, phát triển kỹ thuật canh tác kinh doanh mô thức nhỏ kết hợp giữa tập trung lao động và tập trung đất đai
Đến giữa những năm 50 của thế kỷ XX, sự tăng tốc của công nghiệp hóa ở
Trang 23Nhật Bản đã thu hút một lượng lớn sức lao động của nông nghiệp, lực lượng lao động
ở nông thôn trở nên thiếu hụt Nhưng lúc này, Nhật Bản đã kịp chuẩn bị điều kiện “tư bản thay thế lao động” Công nghiệp hóa cung cấp cho nông nghiệp một lượng lớn máy móc công cụ, bắt đầu thời kỳ cơ khí hóa nông nghiệp quy mô lớn Máy cày động lực và máy kéo dùng trong nông nghiệp ở Nhật Bản đã tăng từ 90 ngàn chiếc (năm 1955) lên gần 400 ngàn chiếc (đầu những năm 1970), cơ bản hoàn thành hiện đại hóa nông nghiệp Nhưng cũng vào thời kỳ này, chính sự bảo hộ nông nghiệp của Nhật Bản gặp phải sự phản đối của các tập đoàn lợi ích thương nghiệp, công nghiệp và người tiêu dùng Về sau, khi công nghiệp phát triển nhanh chóng, sự tẩy chay đối với nông nghiệp ở trong nước mới mất đi Đoàn thể nông nghiệp đã thành công trong công việc đề xướng và thực thi bảo hộ nông nghiệp ở trình độ cao nhất thế giới
Để có một nền nông nghiệp phát triển như vậy, chính phủ Nhật Bản đã nắm vai trò chủ đạo, mạnh dạn đầu tư hơn 2000 tỷ yên để làm các hạng mục xây dựng cơ bản của nông thôn, cải thiện môi trường, đưa nước, đường, điện, điện thoại, đến từng
hộ dân, miễn phí hoàn toàn giáo dục sơ đẳng, tạo dựng cơ sở để thành thì và nông thôn tác động tốt tới nhau Về cơ bản, quốc gia này đã làm tốt việc phát triển cân bằng, bền vững (Tài liệu hỏi đáp về xây dựng nông thôn mới, 2012)
1.3.2 Hàn Quốc: Phong trào nông thôn mới – Saemaul Undong
Vào cuối thập kỷ 60 của thế kỷ XX, Hàn Quốc là nước nghèo, lạc hậu, người dân khổ cực, thiếu đói triền miên Nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp trong khi lũ lụt, hạn hán thường xuyên xảy ra Thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 85 USD Mặc dù đã có nhiều biện pháp để tăng năng suất lương thực nhưng nhìn chung nông thôn Hàn Quốc còn rất lạc hậu Xã hội bị phân chia thành hai khối có đời sống tinh thần khác hẳn nhau Trong khi một bộ phận dân cư thành thị tích cực học tập, với quyết tâm đổi đời thì đại bộ phận nông dân vẫn sống trong cảnh nghèo nàn, mang trong mình tư tưởng bi quan, ỷ lại, lối thoát duy nhất của họ là rời bỏ quê hương, di chuyển về đô thị
Xuất phát từ tình hình trên, phong trào “Saemaul Undong” ra đời với mục
đích biến đổi cộng đồng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn theo tinh thần:
Mọi người làm việc và hợp tác với nhau xây dựng cộng đồng mình ngày một đẹp
Trang 24hơn và giàu hơn Cuối cùng là để xây dựng một quốc gia ngày một giàu mạnh hơn dựa trên nền tảng “khuyến khích người dân tự hợp tác để giúp đỡ nhau phát triển”, theo quan điểm “viện trợ của Chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người dân không nghĩ cách tự giúp mình” Tinh thần “Saemaul Undong” được xây dựng trên 3 trụ cột: Chuyên cần – Tự giác – Hợp tác Đó là những giá trị xuyên suốt quá trình phát
triển nông thôn nói riêng, xã hội Hàn Quốc nói chung, đóng góp lớn đưa GDP bình quân của Hàn Quốc từ 85 USD lên 20.000 USD sau 30 năm phát triển
Trong thập niên 70, chính phủ nhìn thấy tiềm lực của Saemaul undong nhưng
do ngân sách hạn hẹp nên không thể đưa các dự án về nông thôn Những khoản vốn nhỏ giọt từ ngân sách chỉ đủ gói gọn trong 10 nội dung thí điểm phát triển nông thôn trong đó tập trung vào việc: Mở rộng và nâng cấp đường giao thông; cải tạo và nâng cấp nhà ở; chỉnh sửa, làm lại bếp và hàng rào; xây dựng cầu; cải tạo và nâng cấp hệ thống thủy lợi để cấp nước sinh hoạt và sản xuất; xây dựng các khu vực giặt giũ công cộng; xây dựng giếng nước; xây dựng cầu; cải tạo và nâng cấp hệ thống thủy lợi để cấp nước sinh hoạt và sản xuất; xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu
Để thực hiện các nội dung đó, Hàn Quốc chia thành các giai đoạn sau:
Năm thứ nhất: Chính phủ cấp cho 32 ngàn xã, mỗi xã 355 bao xi măng và
giao cho chính quyền xã tổ chức thực hiện Các hoạt động khác được lấy từ ngân sách địa phương và lực lượng lao động sẵn có Sau một năm, 16 ngàn xã (50%) đạt mục tiêu đề ra
Năm thứ hai: Chính phủ tiếp tục cấp thêm cho những xã tự vươn lên bằng
chính sức mình 500 bao xi măng và 1 tấn thép Kết quả là tranh vách đất được thay bằng nhà gạch, đường xá được mở rộng, đê điều được tu bổ, cầu cống được xây dựng Đặc biệt, chương trình này đã giúp cho người dân nông thôn xóa được mặc cảm, tự vươn lên, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế và đô thị
Năm thứ ba: Chính phủ chia 32 ngàn xã làm 3 loại: Cơ sở - Tự lực – Tự lập
để hỗ trợ kinh phí dựa trên cấp độ phát triển của từng loại và tiếp tục phát triển các
dự án sau phù hợp với yêu cầu nông thôn mới
Sau 8 năm triển khai phong trào Saemaul undong, nông thôn Hàn Quốc đạt được những thành tựu to lớn: Cơ bản hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn,
Trang 25với 42.000 km đường liên thôn, 69.000 km đường nội đồng; đời sống nông dân thay đổi, thu nhập tăng lên 3 lần so với 7 năm trước đó, đạt 3000 USD/người/năm (năm 1977), cao hơn thu nhập bình quân của hộ dân ở thành phố Khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động, có khả năng tự tích lũy, tự đầu tư và phát triển Thành quả của phong trào Saemaul undong đã tạo tiền đề xây dựng xã hội Hàn Quốc ngày càng hưng thịnh Là quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển ở Đông Bắc Á, song Hàn Quốc vẫn đảm bảo việc làm ổn định cho 2,3 triệu lao động nông nghiệp (chiếm 11,6 % lao động cả nước)
Kinh nghiêm rút ra từ phong trào Saemaul undong là: Phát huy nội lực của nhân dân với sự hỗ trợ giảm dần của Nhà nước để xây dựng nông thôn mới Xây dựng nông thôn mới là quá trình lâu dài nhưng trước mắt tập trung hoàn thiện điều kiện sống của người dân; xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống, đồng thời phát triển các hình thức kinh tế hợp tác trong nông thôn Nhà nước hỗ trợ nông dân thông qua hình thức cho vay với lãi suất phù hợp để phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho nông dân thông qua các hình thức: tăng năng suất cây trồng; xây dựng vùng chuyên canh; xây dựng các hình thức hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, phát triển chăn nuôi, trồng rừng đa canh ; đào tạo đội ngũ cán bộ phát triển nông thôn, đặc biệt là người lãnh đạo chương trình ở các xã; thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở để xây dựng nông thôn mới và xã hội hóa công tác bảo vệ, phát
triển môi trường nông thôn (Tài liệu hỏi đáp về xây dựng nông thôn mới, 2012)
1.3.3 Đài Loan: Từ “nông nghiệp bồi dưỡng công nghiệp” tới “công nghiệp bồi dưỡng nông nghiệp”
Đến cuối những năm 50 của thế kỷ trước, Đài Loan đã cơ bản thực hiện tự cung tự cấp lương thực và có dư Sau khi giải quyết xong vấn đề lương thực, từ năm
1963 trở đi, Đài Loan bắt đầu dồn sức phát triển công nghiệp nhẹ Điều đáng nói là lúc này, một số quan chức chính quyền Đài Loan có dấu hiệu coi thường nông nghiệp, bởi tới năm 1969, sản xuất nông nghiệp trở nên tiêu điều, kéo theo cảnh tiêu điều trong sản xuất công nghiệp Trong hoàn cảnh này, chính quyền Đài Loan buộc phải điều chỉnh chính sách, tức chuyển từ phương châm “nông nghiệp bồi dưỡng công nghiệp” sang “công nghiệp bồi dưỡng nông nghiệp” Chính sách cụ thể chủ yếu
Trang 26là: từ năm 1974, bắt đầu thiết lập một quỹ bình chuẩn lương thực, thực hành chính sách thu mua đảm bảo giá cả đối với các nông sản như thóc, gạo ; tăng cường đầu tư vào các hạng mục công trình công cộng nông thôn, bao gồm thủy lợi, rừng chắn gió, đường và nước máy ; mở rộng cơ giới hóa nông nghiệp và kỹ thuật nông nghiệp tổng hợp; tăng cường nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, nhân lực và kinh phí Sau thập kỷ 80 của thế kỷ trước, bối cảnh chính sách nông nghiệp Đài Loan
có sự thay đổi khá lớn: mức thu nhập bình quân đầu người tăng cao dẫn đến cơ cấu tiêu dùng phát sinh biến động Ý thức bảo vệ môi trường được nâng cao; sự phát triển của nông nghiệp quốc tế hóa và tự do hóa khiến cho nhiều mặt hàng từ nước ngoài được nhập vào Đài Loan, tạo nên sức cạnh tranh với các sản phẩm nội địa Do những thay đổi này, chính sách nông nghiệp cũng có sự điều chỉnh tương ứng, từ đơn thuần coi trọng chính sách xuất công nghiệp, chính sách thị trường, giá cả chuyển sang cùng coi trọng cả chính sách sản xuất nông nghiệp, chính sách môi trường nông nghiệp và chính sách xã hội nông thôn
Kinh nghiệm của Đài Loan chứng minh, khi đất đai dành để khai khẩn có hạn, cần thiết phải gia tăng sức lao động và đầu tư tiền bạc để nâng cao hiệu quả sản xuất của đất đai Cùng với sự phát triển của công nghiệp, sức lao động nông nghiệp bắt đầu có sự chuyển hướng lớn; cùng với sự đầu tư ngày càng nhiều vào nông nghiệp, khả năng sản xuất của đất đai và lao động cũng tăng đáng kể, giúp cho nông nghiệp hiện đại tiếp tục phát triển
Có thể thấy rằng, kinh nghiệm cơ bản trong phong trào xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới không nằm ngoài công thức: Chính phủ kết hợp với hội nông dân điều tiết quá trình thực thi, trong đó chính phủ đóng vai trò chủ đạo Đồng thời, phải dựa vào tình hình, bối cảnh cụ thể của quốc gia để có những chính sách, kế hoạch và bước đi thích hợp (Tài liệu hỏi đáp về xây dựng nông thôn mới, 2012)
1.3.4 Thái Lan: Nhà nước trợ giúp mạnh mẽ
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá
Trang 27nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân
Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân
bổ đất canh tác Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…
Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu
Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan phát triển rất mạnh nhờ một số chính sách sau:
- Chính sách phát triển nông nghiệp: Một trong những nội dung quan trọng nhất của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2000-2005 là kế hoạch cơ cấu lại mặt hàng nông sản của Bộ Nông nghiệp Thái Lan, nhằm mục đích nâng cao chất lượng và sản lượng của 12 mặt hàng nông sản, trong đó có các mặt hàng: gạo, dứa,
Trang 28tôm sú, gà và cà phê Chính phủ Thái Lan cho rằng, càng có nhiều nguyên liệu cho chế biến thì ngành công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm mới phát triển và càng thu được nhiều ngoại tệ cho đất nước Nhiều sáng kiến làm gia tăng giá trị cho nông sản được khuyến khích trong chương trình Mỗi làng một sản phẩm và chương trình Quỹ làng
- Chính sách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm: Chính phủ Thái Lan thường xuyên thực hiện chương trình quảng bá vệ sinh an toàn thực phẩm Năm
2004, Thái Lan phát động chương trình “Năm an toàn thực phẩm và Thái Lan là bếp
ăn của thế giới” Mục đích chương trình này là khuyến khích các nhà chế biến và nông dân có hành động kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm để bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Bên cạnh đó, Chính phủ thường xuyên hỗ trợ cho doanh nghiệp cải thiện chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Do
đó, ngày nay, thực phẩm chế biến của Thái Lan được người tiêu dùng ở các thị trường khó tính, như Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU, chấp nhận
- Mở cửa thị trường khi thích hợp: Chính phủ Thái Lan đã xúc tiến đầu tư, thu hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với các nhà sản xuất trong nước để phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, thông qua việc mở cửa cho các quốc gia dù lớn hay nhỏ vào đầu tư kinh doanh Trong tiếp cận thị trường xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan là người đại diện thương lượng với chính phủ các nước để các doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu thực phẩm chế biến Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào kết cấu hạ tầng như: Cảng kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Xúc tiến công nghiệp là trách nhiệm chính của Cục Xúc tiến công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp, nhưng việc xúc tiến và phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan do nhiều cơ quan cùng thực hiện Chẳng hạn, trong Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã, cùng với Cục Xúc tiến nông nghiệp, Cục Hợp tác xã giúp nông dân xây dựng hợp tác xã để thực hiện các hoạt động, trong đó
có chế biến thực phẩm; Cục Thủy sản giúp đỡ nông dân từ nuôi trồng, đánh bắt đến chế biến thủy sản Cơ quan Tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp thuộc Bộ Công
Trang 29nghiệp xúc tiến tiêu chuẩn hoá và hệ thống chất lượng; Cơ quan Phát triển công nghệ và khoa học quốc gia xúc tiến việc áp dụng khoa học và công nghệ cho chế biến; Bộ Đầu tư xúc tiến đầu tư vào vùng nông thôn (Tuấn Anh, 2012)
1.3.5 Xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc
Từ đầu những năm 80 của thế kỷ 20, Trung Quốc đã chọn hướng phát triển nông thôn bằng cách phát huy những công xưởng nông thôn thừa kế được của những công xã nhân dân trước đây, thay đổi sở hữu và phương thức quản lý để phát triển mô hình “công nghiệp hưng trấn” Các lĩnh vực như chế biến nông lâm sản, hàng công nghiệp nhẹ, máy móc nông cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp đang ngày càng được đẩy mạnh
Nguyên tắc của Trung Quốc là quy hoạch đi trước, định ra các biện pháp thích hợp cho từng nơi, đột phá trọng điểm, làm mẫu đường Chính phủ hỗ trợ, nông dân xây dựng Với mục tiêu “ly nông bất ly hương” Trung Quốc đã thực hiện đồng thời 3 chương trình phát triển nông nghiệp và phát triển nông thôn
- Chương trình đốm lửa: điểm khác biệt của chương trình này là trang bị cho hàng triệu nông dân các tư tưởng, tiến bộ khoa học, bồi dưỡng nhân tài đốm lửa, nâng cao tố chất nông dân Sau 15 năm thực hiện, chương trình đã bồi dưỡng được 60 triệu thanh niên nông thôn thành một đội ngũ cán bộ khoa học cốt cán, tạo ra một động lực tiềm năng thúc đẩy nông thôn phát triển theo kịp với thành thị
- Chương trình được mùa: chương trình này giúp đại bộ phận nông dân áp dụng khoa học tiên tiến, phương thức quản lý hiện đại để phát triển nông nghiệp, nông thôn Trong 15 năm sản lượng lương thực của Trung Quốc đã tăng lên 3 lần so với những năm đầu 70 Mục tiêu phát triển nông nghiệp là sản xuất các nông sản chuyện dụng, phát triển chất lượng và tăng cường chế biến nông sản phẩm
- Chương trình giúp đỡ vùng nghèo: mục tiêu là nâng cao mức sống của các vùng nghèo, vùng miền núi, dân tộc ít người; mở rộng ứng dụng thành tựu khoa học tiên tiến, phổ cập tri thức khoa học công nghệ và bồi dưỡng cán bộ khoa học cốt cán cho nông thôn xa xôi, tăng sản lượng lương thực và thu nhập của nông dân Sau khi thực hiện chương trình, ở những vùng này, số dân nghèo giảm từ 1,6 triệu người xuống còn 5 vạn người, diện nghèo khó giảm từ 47% xuống còn 1,5%
Trang 30Tại hội nghị toàn thể Trung Ương lần thứ 5 khóa XVI của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, năm 2005, lần đầu tiên Trung Quốc đưa ra quy hoạch “Xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa” Đây là kế hoạch xây dựng mới đã được Trung Quốc đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm năm lần thứ XI (2006-2010) Mục tiêu của quy hoạch là: “sản xuất phát triển, cuộc sống dư dật, làng quê văn minh, thôn xã sạch
sẽ, quản lý dân chủ” Xây dựng nông thôn mới Trung Quốc tạo nên một hình ảnh mới đầy ấn tượng về một “nông thôn Trung Quốc” đầy vẻ đẹp tráng lệ
Tuy vậy, dù với rất nhiều cố gắng, phát triển nông thôn cấp cơ sở và nông thôn mới tại Trung Quốc cũng chưa đạt được các mục tiêu đề ra để thúc đẩy phát triển khu vực nông thôn Mô hình nông thôn mới của Trung Quốc chưa được coi là thành công khi hiện nay, khoảng cách giữa khu vực thành thị và nông thôn vẫn đang ngày càng rộng ra Còn tồn tại nhiều vấn đề trong khu vực nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc (Nguyễn Quang Dũng, 2010)
1.4 Tình hình xây dựng nông thôn mới tại Việt nam
1.4.1 Trên phạm vi toàn quốc
Tính đến năm 2014, Chương trình xây dựng nông thôn mới đang được triển khai diện rộng trên khắp cả nước, bước đầu đã thực hiện và đạt được những kết quả nhất định
* Về tổ chức, bộ máy triển khai chương trình:
Ở Trung ương: Đã thành lập Ban chỉ đạo, Văn Phòng điều phối Trung ương
đặt tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Ở địa phương: Đến nay đã có 100% các tỉnh, thành phố thành lập Ban chỉ
đạo chương trình xây dựng NTM do đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh làm trưởng ban ban hành quy chế làm việc và phân công nhiệm vụ cho các thành viên 100% số huyện đã thành lập Ban chỉ đạo cấp huyện; 100% số xã đã thành lập Ban quản lý xây dựng NTM cấp xã; Một số xã ngoài việc thành lập Ban quản lý cấp xã còn thành lập Ban phát triển thôn, bản để chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới
Bộ phận giúp việc Ban chỉ đạo: Có 63 tỉnh thành đã thành lập Văn phòng
điều phối theo đúng hướng dẫn của Trung ương; đặt tại Sở Nông nghiệp và Phát
Trang 31triển nông thôn Số lượng của Văn phòng điều phối do Trưởng ban chỉ đạo quyết định, trong đó Chánh Văn phòng là lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các thành viên khác là cán bộ hoạt động chuyên trách (chủ yếu là cán bộ Chi cục phát triển nông thôn) và cán bộ hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm cấp phòng của các Sở, ngành liên quan
* Về ban hành văn bản hướng dẫn:
Đến năm 2012, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 5 Nghị định
và 31 Quyết định phục vụ xây dựng nông thôn mới Các bộ ngành đã ban hành 8 Thông tư hướng dẫn xây dựng nông thôn mới giúp các xã tổ chức thực hiện Các địa phương đều đã ban hành các Nghị quyết, quyết định để chỉ đạo thực hiện xây dựng nông thôn mới Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc chỉ đạo từ Trung ương hầu như mới chỉ tập trung vào chỉ đạo triển khai chung, chưa chú ý chỉ đạo huyện điểm, xã điểm
* Về một số hoạt động:
Các cơ quan Trung ương và địa phương đã tích cực tổ chức quán triệt về mục đích, nội dung của chương trình Đến cuối năm 2011 có 100% cấp ủy đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể các cấp đã triển khai công tác tuyên truyền tới người dân tại thôn, bản
Ban Thi đua khen thưởng Trung ương đã có văn bản hướng dẫn thực hiện công tác thi đua trong xây dựng NTM và phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn, tổng hợp kết quả thi đua
Các tổ chức chính trị - xã hội đã tích cực vận động các thành viên, hội viên tham gia thực hiện chương trình Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” gắn với xây dựng NTM; Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ đã chỉ đạo triển khai nhiều mô hình thực hiện chương trình: “Tổ phụ nữ tự quản đường giao thông nông thôn”, “Phụ nữ chung sức xây dựng NTM”
Ban Chỉ đạo Trung ương đã chủ động xây dựng kế hoạch, chương trình công tác; phân công các thành viên kiểm tra, đôn đốc các địa phương Nhờ đó, đã phát hiện các vướng mắc kịp thời đề xuất bổ sung các hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ
Trang 32thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ, ngành tạo điều kiện thuận lợi cho địa phương tổ chức thực hiện
Các Bộ, ngành đã tổ chức nhiều đoàn khảo sát, các hội nghị sơ kết để đánh giá kết quả, kịp thời ban hành, sửa đổi, bổ sung các cơ chế chính sách, giải pháp thực hiện hiệu quả hơn các nhiệm vụ thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉ đạo Văn phòng Điều phối sớm ban hành Sổ tay hướng dẫn xây dựng NTM, các đơn vị chuyên ngành của Bộ đã xây dựng
Sổ tay hướng dẫn chuyên ngành, tổ chức các lớp tập huấn cho cán bộ vận hành chương trình và tập trung chỉ đạo xây dựng mô hình điểm về các nội dung thuộc phạm vi quản
lý nhà nước của ngành
Ở các địa phương, công tác kiểm tra, chỉ đạo được coi trọng Nhiều địa phương
đã quy định cụ thể thời gian kiểm tra địa bàn của BCĐ các cấp
Tuy nhiên, việc chỉ đạo từ Trung ương hầu như mới chỉ tập trung vào cấp tỉnh
và cấp xã, ít chú ý chỉ đạo cấp huyện Vì vậy, vai trò của cấp huyện trong quy hoạch, thúc đẩy phát triển các vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn, chỉ đạo xây dựng NTM ở cấp xã chưa thật rõ nét
Ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước đã thành lập Ban vận động phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, đã tổ chức phát động hưởng ứng cuộc thi “chung sức xây dựng nông thôn mới” do Thủ tướng chính phủ phát động Nhiều tỉnh đã giao cho mỗi sở, ngành trực tiếp phụ trách 1 huyện hoặc xã
cụ thể, đỡ đầu giúp cho các đơn vị này xây dựng và phát triển các đề án nông thôn mới Một số tỉnh thành như Hà Nam, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Hà Nam đã vận động doanh nghiệp tài trợ hàng trăm tỷ đồng để xây dựng nông thôn mới Thành phố Hồ Chí Minh đã phân công các sở, ngành phụ trách các tiêu chí liên quan đến hỗ trợ (Ban chỉ đạo chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trung ương Báo cáo Kết quả triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, 5/2014)
Tại Bộ NN&PTNT, các đơn vị vẫn tiếp tục triển khai những nhiệm vụ đã được giao Cụ thể là: Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn đã tổ chức khảo sát, đánh giá tình hình xây dựng nông thôn mới ở 11 xã điểm do Ban Bí thư chỉ đạo;
Hỗ trợ xây dựng đề án nông thôn mới và tham gia chỉ đạo 03 xã điểm do Chủ tịch
Trang 33nước bảo trợ; Kiểm tra, đánh giá kết quả triển khai xây dựng nông thôn mới của xã Trường Hà (tỉnh Cao Bằng) theo yêu cầu của Chủ tịch Quốc hội; Tổ chức 06 lớp tập huấn đào tạo giáo viên Tiểu học cho các tỉnh theo Chương trình NTM và yêu cầu phối hợp của Ban Chỉ đạo nông thôn mới ở các tỉnh (Ban chỉ đạo chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trung ương Báo cáo Kết quả triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, 5/2014)
Các Tổng cục (Thuỷ sản, Thuỷ lợi, Lâm nghiệp) xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế hợp tác trong lĩnh vực chuyên ngành Trong khi đó, các Cục (Trồng trọt, Chăn nuôi, Chế biến…) đã xây dựng kế hoạch và chọn một số xã điểm để sớm thực hiện các tiêu chí của ngành, rút kinh nghiệm cho chỉ đạo trên diện rộng (Ban chỉ đạo chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trung ương Báo cáo Kết quả triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, 5/2014)
Thành viên Ban Chỉ đạo thuộc Bộ đã kiểm tra, đánh giá 05 huyện điểm (tại Gia Lai, Bình Phước, Quảng Nam, Nghệ An và Nam Định) Kết quả là: Các huyện đều đã thành lập Ban Chỉ đạo cấp huyện để chỉ đạo triển khai Chương trình nông thôn mới Nhân rộng nhiều mô hình sản xuất hiệu quả, nâng cao thu nhập cho người dân (trong 05 huyện điểm thì duy nhất 01 huyện điểm có mức thu nhập bình quân dưới chuẩn) Cơ sở hạ tầng chuyển biến rõ rệt, một số công trình kết nối giữa huyện với xã được phát triển
Thực hiện chủ trương của Ban Chỉ đạo về việc sơ kết một năm thực hiện phong trào "cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới", Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phối hợp với Bộ Nội vụ để lên kế hoạch khen thưởng thi đua cho các xã có thành tích xuất sắc theo Chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ (Ban chỉ đạo chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trung ương Báo cáo Kết quả triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, 5/2014)
Về bộ máy quản lý chỉ đạo các cấp, theo kiến nghị của các địa phương, cần
có hướng dẫn (bổ sung) về chức năng, nhiệm vụ của bộ máy triển khai Chương trình NTM, tăng thêm cán bộ chuyên trách cho bộ phận giúp việc Ban Chỉ đạo (nhất
là cấp xã) để đủ năng lực theo dõi, chỉ đạo triển khai
Trang 34* Về kết quả thực hiện các tiêu chí của Chương trình nông thôn mới tại các địa phương:
Đến nay đã có 185 xã đạt 19 tiêu chí (chiếm 2,05% tổng số xã tham gia Chương trình); 622 xã đạt 15-18 tiêu chí (chiếm tỷ lệ 6,9%); 2.646 xã đạt 10-14 tiêu chí (29,37%); 4.033 xã đạt 5-9 tiêu chí (44,77%) và 1.515 xã đạt dưới 5 tiêu chí (chiếm tỷ lệ 16,82%) Với mức độ đạt các tiêu chí như trên thì mục tiêu đến năm 2015 có 20% số xã đạt chuẩn nông thôn mới là rất khó đạt được (Ban chỉ đạo chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trung ương Báo cáo Kết quả triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, 5/2014)
* Về lập đề án nông thôn mới cấp xã:
Đề án chưa gắn kết chặt chẽ với quy hoạch, nặng về xây dựng cơ sở hạ tầng, chưa chú trọng tới sản xuất, môi trường, văn hoá, giải pháp thực hiện Việc huy động nguồn lực còn thiếu tính thực tiễn Trong giời gian qua, hoạt động xây dựng hạ tầng ở các địa phương phát triển mạnh mẽ, tập trung vào các công trình giao thông nông thôn, thuỷ lợi, nước sạch, vệ sinh môi trường và công trình văn hoá xã hội Tuy nhiên, đã bộc lộ một số bất cập: Một số địa phương huy động quá sức dân; Xây dựng xong nhưng thiếu quy trình và nguồn vốn cho công tác duy tu, bảo dưỡng
Theo Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, trong thời gian tới, các Bộ ngành cần căn cứ nhiệm vụ đã được phân công, khẩn trương tập trung chỉ đạo thực hiện các nội dung công việc để đẩy nhanh tiến độ triển khai Chương trình nông thôn mới
* Về công tác quy hoạch:
Trong quá trình xây dựng nông thôn mới, quy hoạch và thực hiện quy hoạch
có vai trò quan trọng, nhằm bảo đảm cho việc sử dụng đất và xây dựng hạ tầng thiết yếu, các khu dân cư khu vực nông thôn vừa theo hướng văn minh, hiện đại, vừa giữ được bản sắc văn hóa làng, xã của địa phương
Quy hoạch được xác định là nội dung phải được triển khai trước một bước để định hướng cho xây dựng NTM Ngày 02/02/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 193/QĐ-TTg phê duyệt chương trình rà soát quy hoạch xây dựng
Trang 35NTM, hỗ trợ ngân sách Trung ương để các địa phương thực hiện Đến quý 1/2014 đã
có 93,7% số xã của cả nước đã hoàn thành việc phê duyệt quy hoạch xây dựng xã NTM (trước khi có Quyết định 193/QĐ-TTg, toàn quốc mới chỉ đạt 23,4%)
Các tỉnh đã hoàn thành 100% công tác lập quy hoạch xây dựng xã NTM gồm: Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Nghệ An, Đà Nẵng, Phú Yên, Gia Lai, Đắk Nông, Bến Tre, Vĩnh Long, An Giang, Sóc Trăng…Một
số địa phương đạt thấp như Cao Bằng, Bắc Kạn, Điện Biên, Sơn La
Đồng thời các xã đã tiến hành lập Đề án xây dựng NTM xác định mục tiêu và giải pháp thực hiện các nhiệm vụ ưu tiên Đến nay đã có 81% số xã phê duyệt xong
đề án
Tuy vậy, chất lượng công tác quy hoạch ở nhiều nơi còn thấp Nhiều xã mới
dừng ở quy hoạch chung, thiếu cụ thể hóa cần thiết Nhiều Đề án nặng về tính toán đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, chưa chú trọng đúng mức tới phát triển sản xuất, văn hoá, bảo vệ môi trường, thiếu giải pháp thực hiện, tính toán huy động nguồn lực còn thiếu tính thực tiễn
Các nguyên nhân chính ảnh hưởng đến quy hoạch nông thôn mới:
Một là, năng lực của các chủ thể tham gia nhiệm vụ quy hoạch từ cấp xã, đến đơn vị trực tiếp lập quy hoạch là các công ty tư vấn, và phê duyệt là cấp huyện còn hạn chế về tổ chức và trình độ Tại thời điểm triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới vào năm 2010, trong 181 nghìn cán bộ cấp xã có 0,1% không biết chữ, 48% chưa qua đào tạo, 80% không biết sử dụng máy tính Trong khi các công ty tư vấn thiếu chuyên gia có năng lực, trình độ hiểu biết về quy hoạch nông thôn, nhất là lĩnh vực thủy lợi, sử dụng đất, kinh tế nông nghiệp, môi trường đa phần chỉ tập trung quy hoạch điểm dân cư tập trung, một số quy hoạch hạ tầng cơ sở Có đơn vị tư vấn đảm nhận một lúc quy hoạch 10 xã nên việc khảo sát hiện trạng, định hướng phát triển còn rất hạn chế, dập khuôn, dẫn đến quy hoạch không phù hợp với quy hoạch vùng, hệ thống giao thông, thủy lợi, cấp thoát nước, xử lý môi trường giữa các xã thiếu thống nhất, mạnh xã nào xã ấy làm Vì vậy ảnh hưởng trực tiếp đến việc ra đầu bài, thẩm định, xét duyệt cũng như quản lý sau quy hoạch dẫn đến chất lượng hạn chế, hiệu quả thấp
Trang 36Hai là, chi phí cho công tác quy hoạch xây dựng nông thôn là rất cao, từ giai đoạn khảo sát, thu thập số liệu, đến giai đoạn lập nhiệm vụ, lập quy hoạch, duyệt quy hoạch, do đó cần khoản kinh phí thực hiện khá lớn: nhưng trong thực tế định mức chi phí thực hiện lại rất thấp và không có hệ số dành cho các vùng, miền (xã, vùng đồng bằng khác xa xã của vùng núi cao, ven biển ) Trong khi muốn lồng ghép nguồn vốn
từ các chương trình, dự án lại vướng về thủ tục "giải ngân"
Ba là, các tiêu chí về kiến trúc nhà ở nông thôn, công trình công cộng, bảo tồn di tích, văn hóa, dân tộc phù hợp với đặc điểm của từng vùng còn thiếu cụ thể, gây khó cho công tác lập quy hoạch, nhất là đối với các xã có đặc điểm khác nhau rất lớn: xã ven đô thậm chí trong nội đô, xã có làng nghề phát triển, xã thuần nông,
xã vùng đồng bằng, xã vùng ven biển, xã vùng trung du, xã vùng núi cao Từ đó đặt ra các yêu cầu quy hoạch rất khác nhau, cũng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến chất lượng quy hoạch nông thôn còn nhiều hạn chế
Bốn là, quá trình triển khai thực hiện quy hoạch nông thôn mới, nhiều văn bản quy phạm pháp luật có những điểm chồng chéo, mâu thuẫn chưa phù hợp thực tế cả về nội dung chuyên môn đến điều kiện nhân lực và kinh phí thực hiện, nhưng lại chậm bổ sung sửa đổi Thí dụ về tiêu chí giao thông có tới ba "hướng dẫn": Quyết định 315/QÐ
- BGTVT ngày 23-2-2011 quy định đường AH là 3,5 m lề đường Ðường liên xã mặt đường rộng 3 m nhỏ hơn Sổ tay hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đường trục xã, làng rộng tối thiểu 5-6 m Ðường trục nông thôn lòng đường tối thiểu 4-5 m Trong Sổ tay hướng dẫn của Bộ Xây dựng thì đường trục xã và đường liên thôn bảo đảm mặt cắt đường 9-15 m
Ðể xây dựng nông thôn mới, công tác quy hoạch phải đi trước một bước, nhưng hiện có nhiều vướng mắc, bất cập, làm chậm tiến độ thực hiện các tiêu chí khác Do đó cần có tổng kết đánh giá các mô hình quy hoạch nông thôn mới hiệu quả, từ công tác lập, quản lý và đặc biệt là "mẫu" mô hình tốt để các xã có đặc điểm tương tự học tập, rút kinh nghiệm Trên cơ sở đó rà soát kế hoạch triển khai thực hiện chương trình mục tiêu toàn quốc, kịp thời có sự điều chỉnh bảo đảm chất lượng quy hoạch và quản lý quy hoạch; sửa đổi bổ sung các quy định cho phù hợp liên quan đến kinh phí lập quy hoạch cho từng loại hình xã; rà soát, sửa đổi các quy chuẩn,
Trang 37tiêu chuẩn, tiêu chí cho thống nhất và phù hợp với thực tế; bổ sung các quy định liên quan đến phân cấp quản lý quy hoạch, tăng cường bố trí cán bộ, kinh phí quản lý, kinh phí tổ chức thực hiện quy hoạch theo từng giai đoạn đối với từng loại hình các xã khác nhau Từ đó ban hành Bộ định mức quy hoạch nông thôn mới, Bộ kiến trúc mẫu nhà ở,
bố trí khuôn viên hộ gia đình nông thôn phù hợp với tập quán, văn hóa các dân tộc để người dân lựa chọn, sử dụng
Về bản chất của quy hoạch xây dựng nông thôn mới chính là quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội cấp xã gắn với yêu cầu cụ thể trong bộ tiêu chí quốc gia
về nông thôn mới Để quy hoạch có tính khả thi cao thì vai trò của người dân trong việc xây dựng mục tiêu, quy hoạch và kế hoạch là hết sức quan trọng Việc hiên nay nhiều đơn vị tư vấn thiếu nghiên cứu và kinh nghiệm về quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển sản xuất tại các địa phương trong chương trình xây dựng nông thôn mới đang bộc lộ nhiều bất cập khi chúng ta có tới 70% dân số sống bằng nghề nông nghiệp (Nguyễn Quang Dũng, 2010)
1.4.2 Trên địa bàn tỉnh Hà Nam
Hơn ba năm qua với sự chỉ đạo tập trung, tích cực thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, Hà Nam đã đạt được một số kết quả và đúc kết nhiều kinh nghiệm tạo ra bước ngoặt mới làm chuyển biến phong trào xây dựng nông thôn mới Kết quả triển khai xây dựng nông thôn mới ở 5 xã điểm khá thành công, tạo
ra hình hài nông thôn mới rõ nét làm đổi thay bộ mặt nông thôn Đây thực sự là cuộc vận động lớn tạo sự chuyển biến sâu sắc về bản chất được các tổ chức chính trị
- xã hội, đoàn thể và cộng đồng dân cư hưởng ứng vào cuộc, tạo tiền đề tốt cho bước triển khai mở rộng xây dựng nông thôn mới ra các địa phương Là công việc mới, khó nhưng các xã điểm đã vượt qua những trở ngại lớn về vốn, cơ chế hoàn thành cơ bản yêu cầu về tiến độ, kết quả
Năm quy hoạch các xã xây dựng nông thôn mới: Nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới năm 2012 đối với Hà Nam được xác định là năm bản lề với nội dung khá nặng nề phải hoàn thành việc lập, phê duyệt quy hoạch của các xây dựng nông thôn mới của 6 huyện, thành phố: lập và phê duyệt đề án nông thôn mới cho 100% số xã Đến hết năm 2014, toàn tỉnh đã có 18 xã hoàn thành 19/19 tiêu chí, riêng
Trang 38năm 2014 có thêm 12 xã đạt chuẩn nông thôn mới Số tiêu chí đạt chuẩn bình quân tăng 6,8 tiêu chí/ xã so với năm 2010 Tổng kinh phí đầu tư cho xây dựng nông thôn mới đạt xấp xỉ 5.000 tỷ đồng, trong đó nhân dân đóng góp 729 tỷ, và hàng vạn ngày công lao động
Trang 39Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội huyện Kim Bảng
- Điều kiện tự nhiên
+ Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thời tiết
- Tài nguyên thiên nhiên
- Điều kiện kinh tế xã hội
+ Thực trạng phát triển kinh tế xã hội
+ Dân số, lao động và việc làm
- Tiềm năng của huyện
2.1.2 Đánh giá tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới tại huyện Kim Bảng
- Thực trạng nông thôn mới huyện Kim Bảng
+ Công tác quy hoạch
+ Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội
+ Thực trạng kinh tế và tổ chức sản xuất
+ Văn hóa xã hội và môi trường
+ Hệ thống chính trị và An ninh trật tự
- Tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới của huyện Kim Bảng
2.1.3 Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại xã Khả Phong và xã Nhật Tân
- Tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại xã Khả Phong đến hết năm 2014
- Tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại xã Nhật Tân đến hết năm 2014
- Đánh giá chung
2.1.4 Đề xuất một số giải pháp để đẩy nhanh tiến độ thực hiện xây dựng nông thôn mới
Trang 402.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Từ kết quả đánh giá chung về tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại huyện Kim Bảng tiến hành chọn 2 xã có điều kiện tương phản từ 02 nhóm: nhóm thực hiện tốt là xã Nhật Tân và nhóm thực hiện kém là xã Khả Phong
để nghiên cứu điểm, từ đó phân tích, đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới nhằm tìm hiểu những tồn tại trong quá trình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới của từng xã nghiên cứu nói riêng và của huyện Kim Bảng nói chung
+ Xã Nhật Tân: Là xã có nhiều thế mạnh để phát triển kinh tế, trước trước khi lập Đề án xây dựng nông thôn mới xã Nhật Tân đã đạt 10/19 tiêu chí xếp thứ 2 trong huyện, tuy nhiên, tính đến hết năm 2014, xã cũng chỉ đạt 14/19 tiêu chí, xếp thứ 11 trong huyện
+ Xã Khả Phong: là xã đặc biệt khó khăn của huyện Kim Bảng, trước khi triển khai quy hoạch xây dựng nông thôn mới (2010), xã chỉ có 05 tiêu chí đạt Đến nay, sau hơn 3 năm thực hiện đã có 13/19 tiêu chí đạt về nông thôn mới
2.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu được kế thừa, thu thập từ các phòng ban trong huyện và trong xã Thực hiện điều tra, khảo sát các thông tin, tư liệu, số liệu phục vụ xây dựng quy hoạch nông thôn mới các xã; Các chỉ tiêu điều tra được xây dựng dựa trên 19 chỉ tiêu nêu trong bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới, gồm 5 nhóm tiêu chí là: quy hoạch, hạ tầng kinh tế xã hội, kinh tế và tổ chức sản xuất, văn hóa - xã hội - môi trường, và hệ thống chính trị Điều tra thực địa để bổ sung các số liệu cần thiết
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu sau khi thu thập dựa trên các tiêu chí (được xây dựng trên 19 tiêu chí nêu trong bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới gồm 5 nhóm tiêu chí là: quy hoạch, hạ tầng kinh tế xã hội, kinh tế và tổ chức sản xuất, văn hóa - xã hội - môi trường, và hệ thống chính trị) được xử lý và phân loại theo các chỉ tiêu nghiên cứu Các chỉ tiêu phát triển kinh tế, xã hội, cơ sở hạ tầng và môi trường Sau đó sẽ được
xử lý bằng phần mềm Excel