Nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển và những vai trò, đóng góp của tầng lớp địa chủ trong công cuộc khai phá, phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, xác lập và bảo vệ chủ quyền l
Trang 1
NGUYỄN THỊ ÁNH NGUYỆT
VAI TRÒ CỦA TẦNG LỚP ĐỊA CHỦ
TRONG CÔNG CUỘC KHAI PHÁ VÀ
PHÁT TRIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
TỪ THẾ KỶ XVII ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XIX
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐCGIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ ÁNH NGUYỆT
VAI TRÒ CỦA TẦNG LỚP ĐỊA CHỦ TRONG CÔNG CUỘC KHAI PHÁ VÀ PHÁT TRIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
TỪ THẾ KỶ XVII ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XIX
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam cổ đại và trung đại
1 TS LÊ HỮU PHƯỚC
2 PGS TS NGÔ MINH OANH
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, xây dựng trên cơ
sở kế thừa những ý tưởng khoa học của các tác giả đi trước, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Thị Mai và PGS TS Trần Thuận Kết quả nghiên cứu của luận án là trung thực Những kết luận khoa học trong luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 27
5 Đóng góp khoa học của luận án……… 29
6 Kết cấu của luận án 29
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ CÔNG CUỘC KHAI PHÁ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 30
1.1 Thực trạng ĐBSCL trước khi người Việt xuất hiện 30
1.2 Quá trình khai phá ĐBSCL từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII 37
1.2.1 Công cuộc mở cõi của chúa Nguyễn ở ĐBSCL thế kỷ XVII - XVIII……… 37
1.2.2 Quá trình định cư lập nghiệp của người Việt ở ĐBSCL thế kỷ XVII - XVIII………40
1.2.2.1 Công cuộc khai phá ĐBSCL của người Việt ……….40
1.2.2.2 Quá trình định cư lập nghiệp của người Việt ở ĐBSCL thế kỷ XVII - XVIII………49
Tiểu kết 56
Chương 2: TẦNG LỚP ĐỊA CHỦ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TRONG CÔNG CUỘC KHAI PHÁ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG THẾ KỶ XVII - XVIII 58
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của tầng lớp địa chủ trong công cuộc khai phá ĐBSCL thế kỷ XVII - XVIII 58
2.1.1 Nguồn gốc hình thành tầng lớp địa chủ ở ĐBSCL 58
2.1.1.1 Bộ phận địa chủ hình thành từ di dân tự do ……… …… 58
Trang 62.1.1.3 Bộ phận địa chủ hình thành từ chính sách dinh điền, quân điền của các chúa Nguyễn……….67
2.1.2 Quá trình phát triển của tầng lớp địa chủ ở ĐBSCL thế kỷ XVII - XVIII 69
2.1.2.1 Giai đoạn hình thành tự phát (từ đầu thế kỷ XVII - 1698) ……… 70
2.1.2.2 Giai đoạn phân hóa và bước đầu phát triển tầng lớp địa chủ ở ĐBSCL (1698 - 1757)………71
2.1.2.3 Giai đoạn phát triển gắn với kinh tế hàng hóa ở ĐBSCL (1757 - 1802) 72
2.2 Đặc điểm của tầng lớp địa chủ ĐBSCL thế kỷ XVII - XVIII 74
2.2.1 Chiếm hữu ruộng đất với số lượng lớn 74
2.2.2 Quản lý tư liệu sản xuất và tổ chức sản xuất hàng hóa mang yếu tố tiền tư bản 76
2.2.3 Địa chủ ở ĐBSCL có năng lực phát triển sản xuất lớn hơn so với địa chủ vùng Đông Nam Bộ 79
2.3 Vai trò của tầng lớp địa chủ trong công cuộc khai phá ĐBSCL thế kỷ XVII - XVIII 83
2.3.1.Tiên phong trong công cuộc mở cõi, phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL 83
2.3.1.1 Vai trò của tầng lớp địa chủ trong công cuộc mở cõi……… 83
2.3.1.2 Phát triển kinh tế - xã hội……… 88
2.3.2 Đóng góp cho công cuộc bảo vệ chủ quyền quốc gia ở phía Nam………96
2.3.3 Là chỗ dựa vững chắc cho chúa Nguyễn củng cố quyền lực trên vùng đất ĐBSCL 98
Tiểu kết……… 104
Chương 3: TẦNG LỚP ĐỊA CHỦ VỚI QUÁ TRÌNH KHAI PHÁ VÀ PHÁT TRIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX 107
3.1 Khái quát về tình hình ĐBSCL nửa đầu thế kỷ XIX 107
Trang 73.3 Đặc điểm của tầng lớp địa chủ ĐBSCL nửa đầu thế kỷ XIX 122
3.3.1 Tầng lớp địa chủ phát triển nhanh về số lượng, mạnh về thực lực… …… 122
3.3.2 Hoạt động kinh tế của tầng lớp địa chủ ở ĐBSCL mang tính chất kinh tế hàng hóa……… 126
3.3.3 Kinh tế của tầng lớp địa chủ góp phần chi phối cơ cấu thành phần kinh tế ĐBSCL……… 128
3.4 Vai trò của tầng lớp địa chủ trong công cuộc khai phá và phát triển ĐBSCL nửa đầu thế kỷ XIX 130
3.4.1 Góp phần phát triển kinh tế vùng ĐBSCL 130
3.4.1.1 Mở rộng diện tích khai phá ………130
3.4.1.2 Góp phần quan trọng cho sự phát triển kinh tế vùng ĐBSCL 141
3.4.2 Góp phần phát triển xã hội, thiết lập làng xã ở ĐBSCL 155
3.4.3 Góp phần giữ vững an ninh, chủ quyền lãnh thổ ở ĐBSCL 168
Tiểu kết……… 177
KẾT LUẬN 179
TÀI LIỆU THAM KHẢO 188
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 207
PHỤ LỤC 208
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Lịch sử hình thành và phát triển vùng đất ĐBSCL là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ lịch sử dân tộc Việt Nam Vùng đất này, trước kia thuộc về địa phận của vương quốc Phù Nam (thế kỉ I đến thế kỉ VII) Vào đầu thế kỷ VII, đế chế Phù Nam tan rã, nước Chân Lạp của người Khmer vốn là một trong những thuộc quốc của Phù Nam đã tấn công đánh chiếm vùng hạ lưu sông Mékông (tương ứng với vùng đất Nam Bộ ngày nay) Cũng chính từ đây, vì nhiều lý do, trong suốt thời gian gần 10 thế kỷ, vùng đất ĐBSCL không được cai quản chặt chẽ và gần như bị bỏ hoang Từ cuối thế kỷ XVI, đặc biệt là từ đầu thế kỷ XVII người Việt đã từng bước khai phá vùng đất này
ĐBSCL - vùng đất xuất hiện muộn nhất trên bản đồ Việt Nam đã nhanh chóng trở thành một khu vực kinh tế năng động, một vùng kinh tế trọng điểm, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển bền vững của dân tộc trong lịch sử cũng như hiện tại Từ thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XIX, Đàng Trong nói chung, ĐBSCL nói riêng, trong các thế kỷ thống trị của các chúa Nguyễn và triều Nguyễn cùng với quá trình khẩn hoang, phát triển kinh tế, là quá trình xác lập chủ quyền, trong đó sự khởi sắc của các hoạt động thương mại gắn với thị trường đã tạo một diện mạo mới cho ĐBSCL
Các chúa Nguyễn và các vua đầu triều Nguyễn bằng những nỗ lực cũng như những chính sách và biện pháp khẩn hoang tích cực đã đưa đến cho dân tộc Việt Nam một vùng lãnh thổ rộng lớn Gắn liền với sự có mặt của các tầng lớp cư dân cũng như những chính sách mà các chúa Nguyễn và triều Nguyễn thực thi, ở ĐBSCL từ thế kỷ XVII các quan hệ kinh tế phát triển tương đối rõ ràng, dẫn tới sự hình thành và lớn mạnh của tầng lớp địa chủ, nhiều trong số đó có quy mô sở hữu
khá lớn, một số thực sự là những “đại địa chủ”
Chính tầng lớp này đã cùng với các thành phần lao động như nông dân, binh lính, người Hoa, người Khmer, người Mạ, Stiêng và các dân tộc ít người khác đã tổ chức lao động, chinh phục hoang hóa, đem công sức, vốn liếng và hiểu biết của
Trang 9mình cùng với các tầng lớp dân cư lao động, dựng lên thôn ấp làng xã, tạo thành những cánh đồng lúa và vườn cây trái mênh mông khắp miệt đồng bằng Tầng lớp địa chủ với mối quan hệ gắn bó với đất, với dân, với tình nghĩa và đặc trưng vùng đất mới ĐBSCL đã mang đến một luồng sinh khí mới, đóng góp vai trò to lớn trong việc đẩy nhanh quá trình khai phá, phát triển kinh tế, khẳng định chủ quyền, tạo dựng nhiều giá trị kinh tế - văn hóa - xã hội mang dấu ấn của vùng đất phương Nam
Tầng lớp địa chủ với công cuộc khai phá ĐBSCL như thế đã thực chứng cho những vai trò tích cực của mình trong quá trình phát triển chế độ ruộng đất trong lịch sử Việt Nam thời phong kiến Vai trò ấy của địa chủ ở ĐBSCL được tiếp diễn trong vai trò người tiếp nhận quan hệ sản xuất mới thời cận đại, cũng như được biểu hiện (hay liên hệ với) nhiều bộ phận địa chủ mang nặng tính dân tộc, nghĩa đồng bào, đi theo cách mạng và kháng chiến thời kỳ từ đầu thế kỷ XX về sau
Nghiên cứu về giai cấp địa chủ ở Việt Nam nói chung, về tầng lớp địa chủ ở ĐBSCL nói riêng, vì thế là hết sức cần thiết và phù hợp với thực tế lịch sử dân tộc, nhất là lịch sử khai phá vùng đất ĐBSCL; đó không chỉ là nghiên cứu một giai tầng
xã hội dưới góc độ lịch sử xã hội, mà còn là nghiên cứu lịch sử kinh tế thời khai phá và lịch sử hình thành phát triển cơ cấu kinh tế - xã hội một vùng đất cụ thể; thực sự đây là những đề tài có nhiều ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Nghiên cứu về vùng đất ĐBSCL nói chung, các chính sách và quá trình khai phá, phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, bảo vệ chủ quyền nói riêng, từ trước đến nay đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài nước Tuy nhiên, cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và cụ thể về tầng lớp địa chủ ở ĐBSCL Nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển và những vai trò, đóng góp của tầng lớp địa chủ trong công cuộc khai phá, phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, xác lập và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, đóng góp nhận thức và luận giải những vấn đề khoa học lịch sử, phục vụ thiết thực vào công tác nghiên cứu, giảng dạy những vấn đề về vùng đất ĐBSCL - Nam Bộ và phía Nam Tổ quốc
Trang 10Từ những lý do nêu trên, chúng tôi chọn vấn đề “Vai trò của tầng lớp địa
chủ trong công cuộc khai phá và phát triển Đồng bằng sông Cửu Long từ thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX” làm đề tài luận án tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch
sử Việt Nam
Thực hiện đề tài này, chúng tôi hướng đến mục đích làm sáng tỏ nhiều vấn
đề mà xuất phát từ nhiều lý do và hoàn cảnh lịch sử các học giả trong và ngoài nước vẫn còn nhiều ý kiến chưa thống nhất, thậm chí trái chiều Cụ thể là các chính sách của các chúa Nguyễn và triều Nguyễn (từ thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XIX) đối với các thành phần dân cư trong quá trình khẩn hoang? Những điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội vùng ĐBSCL đã đưa tới sự hình thành tầng lớp địa chủ ở đây từ nhiều bộ phận và gồm nhiều bộ phận? Vai trò và vị trí của tầng lớp này trong tương quan với các thành phần dân cư khác trong quá trình khẩn hoang, phát triển kinh tế cũng như việc xác lập và bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc ở khu vực ĐBSCL?
Dựa trên nguồn tư liệu thư tịch và những nguồn tài liệu tham khảo khác, cùng với sự tìm hiểu và khảo sát thực tế tại ĐBSCL, chúng tôi sẽ góp phần nhận định, lý giải thực tế hơn về những vấn đề này, nhất là việc làm sáng tỏ vai trò của tầng lớp địa chủ đối với công cuộc khai phá và phát triển vùng đất ĐBSCL dưới thời các chúa Nguyễn và các vị vua đầu triều Nguyễn Từ đó, có thể đưa ra cái nhìn khách quan và toàn diện hơn về công cuộc khẩn hoang vùng đất ĐBSCL trong lịch
sử cũng như về vai trò của các giai tầng mới trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội thời cận - hiện đại
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
2.1 Tình hình và kết quả nghiên cứu
2.1.1 Những công trình nghiên cứu ở trong nước
2.1.1.1 Giai đoạn trước năm 1945
Dưới thời kỳ phong kiến, triều Nguyễn có những tác phẩm có giá trị nghiên cứu về vùng đất ĐBSCL nói chung và quá trình di dân, khai phá nói riêng Thông qua các tác phẩm này đã phản ánh phần nào các chính sách và hoạt động của chính
Trang 11quyền trong việc mở rộng, xây dựng và phát triển vùng đất phương Nam, từ đó hình thành tầng lớp địa chủ ở vùng đất này
Trong tác phẩm Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn đề cập nhiều đến vùng đất
Đàng Trong, nhấn mạnh về xứ Thuận Quảng từ thế kỷ XVIII trở về trước Lê Quý Đôn đã trình bày phương thức khai khẩn ở ĐBSCL là sử dụng hình thức quảng canh, móc lõm, trong đó xuất hiện quy mô khẩn hoang lớn do những người có vật lực, những người giàu có được chính quyền chúa Nguyễn chiêu tập từ Thuận Quảng vào Nhờ đó, vùng Đồng Nai - Gia Định trở thành vựa lúa lớn, sản xuất thóc gạo dư thừa so với nhu cầu lương thực tại chỗ Thương nghiệp mở rộng trở thành một hoạt động kinh tế sôi nổi, xuất hiện nhiều thị tứ mua bán sầm uất Song song với quá trình phát triển kinh tế là quá trình phân hóa xã hội theo hai cực, bộc lộ mâu thuẫn giữa điền chủ và nông dân nghèo, tuy nhiên sự mâu thuẫn này chưa đạt đến mức độ bùng nổ Thông qua tác phẩm này, chúng ta thấy được sự lớn mạnh của tầng lớp đại địa chủ ở ĐBSCL, điều không có ở phía Bắc và miền Trung
Tác phẩm Gia Định thành thông chí do Trịnh Hoài Đức biên soạn gồm 6
quyển bằng chữ Hán cổ và chữ Nôm, đã biên khảo công phu và tỉ mỉ về núi sông, khí hậu, sản vật, bộ máy hành chính, thành trì, cũng như về phong tục tập quán, tính cách và sinh hoạt của dân cư vùng đất Gia Định từ thời Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược (năm 1698) cho đến những năm đầu thế kỷ XIX Tác phẩm có các phần
liên quan đến đề tài mà chúng tôi nghiên cứu như: Quyển III “Cương vực chí”, có
những tư liệu viết về trấn Hà Tiên trong quan hệ với Cao Miên và Xiêm La Quyển
IV “Phong tục chí” nói về tập tục, cách ăn mặc, nhà cửa, tín ngưỡng, lễ tết, hội hè trong toàn cõi Gia Định và những phong tục đặc sắc của mỗi trấn Quyển V ”Vật
sản chí” nói về nông sản, tình tình ruộng đất, giống lúa và hoa màu, lâm sản, thổ
sản, thủy sản, của đất Gia Định xưa
Quốc sử quán triều Nguyễn với Đại Nam nhất thống chí - lục tỉnh Nam Việt
(Nha văn hóa, năm 1973) bao gồm 3 tập, tập thượng, tập hạ và tập trung Tập trung:
Định Tường, Vĩnh Long viết về hình thế, khí hậu, phong tục, thành trì, hộ khẩu,
điền phú, sơn xuyên, cổ tích, quan tấn, dịch trạm, thị điếm, từ miếu, tự quán, bản
triều nhân vật, liệt nữ, thổ sản của hai tỉnh Định Tường, Vĩnh Long Tập hạ: An
Trang 12Giang, Hà Tiên ghi chép tình hình môi trường tự nhiên, kinh tế ở các tỉnh ĐBSCL
giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX Đây là một trong những tập tài liệu quý giá, giúp chúng ta hiểu tổng thể về bức tranh tự nhiên, vùng đất, con người và kinh tế ĐBSCL nói chung, An Giang, Hà Tiên nói riêng trước khi thực dân Pháp xâm lược
Đại Nam thực lục do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn (Viện Sử Học
dịch, Nxb Giáo dục, HN, năm 2007) và Đại Nam thực lục tiền biên, Quốc sử quán
triều Nguyễn (Bản dịch của Nxb Sử học, HN, năm 1962) cũng đề cập đến những chính sách của chúa Nguyễn, vua Gia Long và vua Minh Mạng trong quá trình cai quản vùng đất ĐBSCL Các tác phẩm này giúp chúng tôi tiếp cận những chính sách, biện pháp của chúa Nguyễn và triều Nguyễn đối với các tầng lớp dân cư,
trong đó có những chính sách khuyến khích sự phát triển của tầng lớp “dân có vật
lực” ở vùng đất này
Địa bạ Minh Mạng do Quốc Sử quán triều Nguyễn lập thông qua cuộc đo
đạc của Trương Đăng Quế năm 1836 đã trình bày tỉ mỉ về cơ cấu ruộng đất và sở hữu ruộng đất ở ĐBSCL Từ việc thống kê, tổng hợp, phân tích,… những số liệu này, chúng ta thấy được sự lớn mạnh cũng như vai trò của tầng lớp địa chủ trong quá trình khẩn hoang, phát triển kinh tế ở ĐBSCL
Tác phẩm Quốc triều chính biên toát yếu (Phủ quốc vụ khanh đặc trách văn
hóa biên dịch, năm 1973) miêu tả công việc đào kênh, làm thủy lợi, công cuộc khẩn hoang lập đồn điền ở ĐBSCL Trong đó, vấn đề cơ cấu sở hữu đất đai của một số làng xã ở ĐBSCL cũng được đề cập đến
Ngoài ra còn có một số công trình của Quốc sử quán triều Nguyễn như:
Minh Mệnh chính yếu (6 tập, Tủ sách cổ văn xuất bản, SG, năm 1972) ; Việt sử thông giám cương mục, tập 1 (Ban nghiên cứu Văn Sử Địa biên dịch và chú giải,
Nxb Văn Sử Địa, HN, năm 1957) và Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy
Chú (bản dịch của Viện Sử học, Nxb KHXH, HN, 1960 - 1961) Các tác phẩm này
đã phản ánh các chính sách và hoạt động của chính quyền trong việc mở rộng khai khẩn và phát triển vùng đất phương Nam Qua đó đã tạo điều kiện cho tầng lớp địa chủ ở đây hình thành và phát triển
Trang 13Thời kỳ Pháp thuộc, chính quyền thực dân đã tiến hành biên soạn một loạt chuyên khảo về các tỉnh Nam Kỳ trong đó có các tỉnh thuộc ĐBSCL nhằm tìm hiểu
về vùng đất mình chiếm đóng làm cơ sở cho chính sách cai trị đối với các vùng
thuộc địa như: Monographie de la province de Vĩnh Long; Monographie de la
province de Định Tường; Monographie de la province de An Giang; Monographie
de la province de Hà Tiên; Monographie de la province de Chau Doc, 1902; Monographie de la province de Mỹ Tho, 1902, 1937; Monographie de la province
de Long Xuyen, 1905, 1929; Monographie de la province de Go Cong, 1936,… Nội
dung các chuyên khảo có phần đề cập đến tầng lớp địa chủ và chế độ sở hữu ruộng đất ở ĐBSCL Tuy nhiên, đây chỉ là những nghiên cứu ban đầu, một số nội dung còn khá sơ lược
Tác giả Đào Trinh Nhất trong nghiên cứu Thế lực khách trú và vấn đề di dân
vào Nam Kỳ (Nhà in Thụy Ký, HN, năm 1924) cho thấy vai trò và đóng góp của
người Hoa trong quá trình di dân, phát triển những trung tâm thương mại và góp phần lưu thông hàng hóa giữa các khu vực trong toàn cõi Nam Kỳ
Tác giả Tô Văn Qua trong tác phẩm Điền thổ trong xứ Nam Kỳ (Imprime
Nhut Van, Châu Đốc ấn hành, năm 1930) có điểm qua về sự phát triển của tầng lớp địa chủ dưới triều Nguyễn Đáng tiếc nội dung này còn sơ sài, chung chung, chưa phân tích kỹ vấn đề điền thổ và điền chủ
Nhìn chung, trong giai đoạn này, các công trình đã trình bày về điều kiện tự nhiên, văn hóa xã hội, về cơ cấu ruộng đất và sở hữu ruộng đất, về chính sách của các chúa Nguyễn và triều Nguyễn đã thực thi ở ĐBSCL Thông qua các tác phẩm này, chúng ta thấy được sự hình thành, phát triển của tầng lớp địa chủ cũng như vai trò của tầng lớp này trong quá trình khẩn hoang phát triển kinh tế ở vùng đất ĐBSCL
2.1.1.2 Giai đoạn từ 1945 đến 1975
Từ những năm 50 của thế kỷ XX trở đi, các nhà sử học quan tâm nhiều hơn đến vấn đề ruộng đất và công cuộc khẩn hoang cũng như những chính sách của các chúa Nguyễn và triều Nguyễn đối với vùng đất ĐBSCL Nghiên cứu về những vấn
đề này có các công trình tiêu biểu của các tác giả như: Nguyễn Khắc Đạm với “Vai
trò của nhà nước về vấn đề khai hoang trong lịch sử Việt Nam” (NCLS, số 39, 1962), Chu Thiên với “Chính sách khẩn hoang của triều Nguyễn” (NCLS, số 56,
Trang 141963), Trần Ngọc Định với “Chế độ sở hữu ruộng đất ở Nam Bộ thời đế quốc Pháp
thống trị” (NCLS, số 132, tháng 5 và 6, 1970) Các bài viết đã cho thấy thời kỳ từ
cuối thế kỷ XVI đến năm 1836, vùng Đồng Nai - Gia Định chỉ có chế độ tư hữu ruộng đất và nông thôn gồm những thôn ấp dựa trên chế độ sở hữu ruộng đất Đấy
là một kết cấu kinh tế - xã hội khác với các vùng khác, chính nó đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế hàng hóa, làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt kinh tế của Đồng Nai - Gia Định
Nghiên cứu về chính sách dinh điền, quân điền của nhà Nguyễn và vấn đề hình thành tầng lớp địa chủ, thời kỳ các chúa Nguyễn và các vua đầu triều Nguyễn
có các công trình của các tác giả: Phan Huy Lê với Lịch sử chế độ phong kiến Việt
Nam (tập 3, Nxb Giáo dục, 1960), Nguyễn Thế Anh với Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn (Nxb SG, 1971), Phan Khoang với Việt sử xứ Đàng Trong (1558 - 1777): Cuộc nam tiến của dân tộc Việt Nam (Khai Trí, SG,
1973) đề cập đến chính sách khẩn hoang từ thời kỳ Nguyễn Ánh chiếm giữ Gia Định đến thời kỳ trị vì của vua Tự Đức Các tác giả cho rằng, quan binh phong kiến được các đời chúa Nguyễn phái vào ĐBSCL làm nhiệm vụ khai khẩn, mở cõi và tiễu trừ các âm mưu khởi loạn chống chúa Nguyễn của cư dân ĐBSCL cũng như
âm mưu lấn chiếm của ngoại bang Hết nhiệm vụ binh đao, họ trở thành những đơn
vị dân binh ở lại khai khẩn đất hoang, đào kênh, trị thủy Những công trình này mang ý nghĩa thực tiễn, giúp người nghiên cứu sau tham khảo khi tìm hiểu về vấn
đề di dân Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Phan Khoang, các số liệu, tư liệu, sự kiện,… không được trích dẫn nguồn rõ ràng, ảnh hưởng đến tính khoa học của công trình Trên cơ sở những cứ liệu này, tác giả nghiên cứu và thấy rằng chính sách tự
do tư hữu của chúa Nguyễn cùng thực tế lịch sử của vùng đất ĐBSCL góp phần biến những quan binh trở thành những địa chủ lớn
Bên cạnh đó còn có một số tác phẩm khác của các tác giả: Ngọc Dương với
Cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam (Nxb Ngày nay, SG, năm 1950), Lê Ngọc
Trụ - Phạm Văn Luật trong tác phẩm Nguyễn Cư Trinh với Sãi Vãi (Nxb Tân Việt,
năm 1951) đề cập đến cuộc Nam tiến dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738 -
1765) và vai trò của Nguyễn Cư Trinh trong giai đoạn này Lâm Hoài Nam với Một
Trang 15tài liệu về cuộc di dân Nam tiến của tiền nhân (Nhà in Thủ đô, SG, 1959), Phạm
Văn Sơn với “Lịch sử hai xứ Thuận Quảng - những đợt di dân đầu tiên trong cuộc
Nam tiến của dân tộc Việt Nam” (tạp chí Sử Địa, năm 1959), Thái Văn Kiểm với
Đất Việt trời Nam (Nxb Nguồn Sống, SG, 1960), Lê Văn Siêu với “Dõi theo cuộc
Nam tiến của dân tộc ta” (tạp chí Vạn Hạnh, số 17, năm 1966), Lê Hương với
“Những người Việt tiên phong trên bước đường Nam tiến tại Cao Lãnh - Kiến
Phong” (tập san Sử địa, số 14 + 15 năm 1969), Phù Lang Trương Bá Phát với “Lịch
sử cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam” (tập san Sử Địa, số 19 - 20, năm 1970), Nguyễn Đăng Thục với “Hai trào lưu di dân Nam tiến” (Việt Nam khảo cổ tập san,
số 6, năm 1970), Sơn Nam với Lịch sử khẩn hoang miền Nam (SG, Lá Bối, năm
1973), đã trình bày về quá trình Nam tiến của dân tộc ta và nêu rõ vai trò, chính sách của các chúa Nguyễn trong việc kêu gọi các tầng lớp dân di cư, trong đó có
tầng lớp “dân có vật lực” vào Nam cũng như vai trò của các tầng lớp cư dân trong
quá trình khẩn hoang, phát triển kinh tế ở ĐBSCL Đây là những công trình mang ý nghĩa thực tiễn, là tài liệu tham khảo quan trọng khi tìm hiểu về vấn đề di dân và vùng đất ĐBSCL
Trong nhiều khảo cứu đăng trên tạp chí Văn hóa Á Châu, Sơn Nam đã có
nhiều tư liệu điền dã để tìm hiểu vùng đất Hậu Giang và vùng đất Rạch Giá, trong
đó nhấn mạnh quá trình di dân cùng những biện pháp tích cực của chính quyền nhà Nguyễn nhằm mở rộng diện tích khẩn hoang ở những vùng đất này Đó là những
khảo cứu “Tìm hiểu đất Hậu Giang” (Văn hóa Á Châu, số 6, 1958), “Tìm hiểu đất Hậu Giang” (Văn hóa Á Châu, số 7, 1958), “Tìm hiểu đất Hậu Giang” (Văn hóa Á
Châu, số 10, 1959), “Việc khẩn hoang vùng Rạch Giá” (tập san Sử Địa, số 19 - 20,
1970),…
Nhắc đến quá trình khai phá vùng ĐBSCL không thể không nhắc đến những nhân vật có công lao to lớn trong việc xác lập chủ quyền lãnh thổ của chúa Nguyễn Các tác giả: Nguyễn Văn Hầu với “Bia Vĩnh Tế sơn và việc đào kinh Vĩnh Tế”
(Văn hoá nguyệt san, số 59, năm 1961), Nguyễn Văn Hầu với Lễ thành hầu Nguyễn
Hữu Cảnh, người có kỳ công trong việc khai thác miền Nam (SG, năm 1970),
Nguyễn Văn Hầu trong Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang
Trang 16(SG, Hương Sen, năm 1972), Nguyễn Hiến Lê, Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền trong
Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh với công cuộc khai sáng miền Nam nước Việt cuối thế kỷ XVII (Nxb Văn học, 1999) đã có những khảo cứu, những tư liệu điền dã
nhằm phục dựng thành công cuộc đời và sự nghiệp của bộ phận quan lại triều Nguyễn - những người có nhiều cống hiến xuất sắc trong công cuộc khai phá miền Gia Định, Hậu Giang, góp phần bảo vệ an ninh, quốc phòng miền biên giới
Nghiên cứu về người Hoa ở ĐBSCL thời kỳ này có các công trình của các
tác giả: Trần Kinh Hòa với “Họ Mạc và chúa Nguyễn tại Hà Tiên” (Văn hóa Á
Châu, tháng 7/1958), Đông Hồ với “Lịch sử Hà Tiên và một bài sấm truyền” (Văn Hóa nguyệt san, số 80, 1963), Hãn Nguyên Nguyễn Nhã với “Hà Tiên - Chìa khóa
Nam tiến của dân tộc Việt Nam xuống ĐBSCL” (tập san Sử Địa, số 19 - 20,
1970),… Các tác giả cho rằng, họ Mạc bằng tầm nhìn chiến lược đã biến vùng Hà Tiên trở thành nơi phát triển thương nghiệp với tàu thuyền buôn bán tấp nập
Dưới thời kỳ Việt Nam Cộng hòa, một số địa phương đã viết địa phương chí như: Kiên Giang, Kiến Hòa, Gia Định, Vĩnh Long, Thông qua các công trình địa chí trên, chúng ta biết được, với sự hiện diện và khai phá đất hoang của các tầng lớp cư dân, tầng lớp địa chủ ở đây cũng hình thành và phát triển
Nhìn chung, giai đoạn này nghiên cứu về vùng đất ĐBSCL nói chung, về chính sách của các chúa Nguyễn và triều Nguyễn đối với quá trình khẩn hoang; về quá trình di dân của các tầng lớp dân cư đến vùng đất này để khai hoang, lập nghiệp, phát triển kinh tế, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, nói riêng đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả với nhiều bài viết và các công trình nghiên cứu được công
bố Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập trực tiếp đến đề tài mà chỉ tồn tại dưới dạng tư liệu lịch sử, tổng hợp, khái quát, nhưng thông qua những công trình này giúp chúng tôi có cái nhìn toàn diện về quá trình hình thành và vai trò của tầng lớp địa chủ trong công cuộc khẩn hoang, phát triển kinh tế, bảo vệ an ninh quốc phòng,
từ đó giúp chúng tôi luận giải nhiều vấn đề về tầng lớp địa chủ ở ĐBSCL
2.1.1.3 Giai đoạn từ năm 1975 đến 2015
Sau năm 1975, đất nước thống nhất, các nhà nghiên cứu có nhiều điều kiện
để tìm hiểu về vùng đất ĐBSCL nói chung, về tầng lớp địa chủ nói riêng Vì vậy
Trang 17thời kỳ này, các công trình nghiên cứu rất da dạng với nhiều góc nhìn và lập luận khác nhau
* Những công trình nghiên cứu về di dân và chính sách khẩn hoang
Công trình nghiên cứu Di dân của người Việt từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ
XIX do Đặng Thu chủ biên, phát hành trong Phụ san Tạp chí NCLS năm 1994 được
xem là một trong những công trình nghiên cứu lớn về di dân từ khi thành lập nhà nước thời kỳ sơ sử cho đến giữa thế kỷ XIX Các tác giả đã thu thập nhiều tư liệu gia phả, văn bia, thần phả,… và nghiên cứu nhiều di tích Với thời gian trải dài từ
sơ sử đến nửa đầu thế kỷ XIX, công trình đã khái quát về nguồn gốc người Việt, quá trình di dân và hình thành không gian lãnh thổ Việt Nam trước thế kỷ X Đặc biệt, công cuộc di dân từ thế kỷ XVI - XVIII của lưu dân Việt tiến về phương Nam được các tác giả trình bày tỉ mỉ với những tư liệu điền dã ở các khu vực khác nhau, tạo dựng bức tranh di dân của người Việt vào vùng đất ĐBSCL, cũng như quá trình lập làng của cư dân Việt và quá trình xác lập chủ quyền của chúa Nguyễn trên vùng đất này Có thể nói, đây là tài liệu tham khảo quý giá để những nhà nghiên cứu có cái nhìn tổng quan về quá trình di dân của người Việt trong lịch sử cổ trung đại Việt Nam
Một số tác phẩm của Huỳnh Lứa như: Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ (Nxb Tổng hợp Tp.HCM, 1987), Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ thế kỷ XVII,
XVIII, XIX (Nxb KHXH, HN, 2000), Chính sách thúc đẩy khẩn hoang của các chúa Nguyễn và triều Nguyễn đối với Đồng Nai - Gia Định (từ cuối thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX) (Nam Bộ đất và người, tập 6, Nxb Tổng hợp, Tp.HCM, 2008) và
một số tác phẩm liên quan đến các vấn đề khẩn hoang và phát triển kinh tế - xã hội
vùng Nam Bộ như: 300 năm Sài Gòn - Tp.HCM (Nxb Văn hóa Thông tin, Tp.HCM, năm 1998), Lịch sử vùng đất Nam Bộ đến cuối thế kỷ XIX, (Kỷ yếu Hội thảo khoa học Tp.HCM, 2000), Nhìn lại lịch sử khai phá ĐBSCL của Nguyễn Văn Đúng (KHXH, số 2, năm 2001), Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam của Hội Khoa
học Lịch sử Việt Nam (Nxb Thế giới, 2006), Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước của
Trần Đức Cường Lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ, năm 2015,…
là những công trình, bài viết và đề tài đã tập trung phân tích sâu về sự di cư của
Trang 18người Việt vào ĐBSCL, trong đó nêu rõ: nguồn gốc lưu dân, hình thức di cư, phương thức di cư, tiến trình di cư, tiến trình phân bố, địa điểm cư trú và khẩn hoang của lưu dân người Việt và một bộ phận người Hoa Đến cuối thế kỷ XVIII, lưu dân người Việt đã đến định cư khai khẩn đất đai để sinh sống trên rất nhiều nơi
ở vùng đất Nam Bộ Tuy nhiên, các tác giả cũng chỉ ra rằng, mật độ phân bố thời gian này không đều, khu vực có số lượng lưu dân người Việt đông nhất đó là Bà Rịa - Đồng Nai - Sài Gòn - Mỹ Tho - Bến Tre, nhất là vùng gần sông Vàm Cỏ Tây gần sông Tiền và những vùng có nhiều thuận lợi để làm lúa nước, bởi vì có lượng nước ngọt để tưới tiêu và cũng nhờ mạng lưới sông rạch thiên nhiên chằng chịt Nguyễn Cảnh Minh - Dương Văn Huề trong “Chính sách chiêu dân khai
hoang lập ấp ở Nam Kỳ của nhà Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX” đăng trên NCLS, số
3, 1994 và Trần Thị Thanh Thanh trong “Nhìn lại việc khai phá của người Việt trên
đất Gia Định thế kỷ XVII – XVIII”, đăng trong kỷ yếu Hội thảo: Nam Bộ và Nam
Trung Bộ - Những vấn đề lịch sử thế kỷ XVII - XIX, Trường Đại học Sư phạm
Tp.HCM, năm 2002 cho rằng, sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã có những chính sách tích cực để đẩy nhanh tốc độ khẩn hoang tiến hành chiêu dân khai hoang lập làng Những chính sách này đạt được kết quả nhất định, khiến cho số lượng ruộng đất khai hoang của ĐBSCL tăng lên đáng kể
Tác giả Nguyễn Phúc Nghiệp trong “Các con đường khai phá Tiền Giang
vào các thế kỷ XVII - XVIII” (Văn hóa - Văn nghệ Tiền Giang, số 7, năm 1986),
“Vài nét về chính sách đồn điền của triều Nguyễn ở Tiền Giang hồi nửa đầu thế kỷ
XIX” (KHXH, năm 1996), “Quá trình khai hoang lập làng ở Tiền Giang thế kỷ XVII – XVIII” (NCLS, số 2, năm 2000), “Sự hình thành thôn ấp ở Tiền Giang dưới thời các vị chúa Nguyễn (thế kỷ XVII - XVIII)” trong kỷ yếu Hội Thảo: Chúa
Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX
(Nxb Thế giới, Thanh Hóa, 2008) bên cạnh việc phân tích chính sách của triều Nguyễn trong việc khai hoang vùng đất ĐBSCL nói chung, đã bàn sâu hơn chính sách của triều Nguyễn trong việc khai hoang vùng Tiền Giang nói riêng Tác giả đã
sử dụng nhiều tư liệu điền dã ở địa phương, đây là hướng đi mới khi nghiên cứu về ĐBSCL Tác giả cũng đã sưu tầm tên tuổi và những đóng góp của những người
Trang 19Việt tiên phong vào khai hoang mảnh đất này mà phần nhiều trong số họ chính là những địa chủ giàu có, có công khai hoang lập làng, được nhân dân ở đây tôn thờ, sau này con cháu họ trở thành những người khuôn phò chúa Nguyễn trong sự nghiệp khôi phục vương quyền
Mỹ Tho đại phố là một trong ba trung tâm phát triển của người Hoa ở
ĐBSCL Tác giả Nguyễn Phúc Nghiệp trong “Mỹ Tho đại phố” (tạp chí Xưa và
Nay, số 46B, 1997) và “Thành phố Mỹ Tho xưa” (tạp chí Xưa và Nay, số 59B +
60B, 1997) cũng đã trình bày sự hình thành và phát triển của Mỹ Tho đại phố, nêu bật mối quan hệ, hợp tác trong sản xuất và kinh doanh giữa người Việt và người Hoa trong lịch sử cũng như trong giai đoạn hiện nay và tương lai Trong các nghiên cứu này, tầng lớp “dân có vật lực” được Nguyễn Phúc Nghiệp nhắc đến như là lực lượng thứ ba trong di dân vào ĐBSCL, đóng góp quan trọng vào việc khai phá vùng đất Tiền Giang
Trong quá trình khai phá ĐBSCL, chúa Nguyễn và triều Nguyễn đã thi hành chính sách sử dụng quan lại hết sức khoan dung, giản dị Chính tầng lớp quan lại cai quản ở đây đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế, giữ vững chủ quyền dân tộc Các tác giả Trần Bạch Đằng, Đinh Xuân Lâm, Nguyễn
Minh Tường trong Lê Văn Duyệt với vùng đất Nam Bộ (Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2006), Nguyễn Phan Quang với Cuộc khởi binh của Lê Văn Khôi ở Gia Định (1833
- 1835) (Nxb, Tp.HCM, 1991) đã phác họa nên chân dung một Tổng trấn Gia Định
thành quyền uy nhưng được nhân dân tôn kính Bên cạnh đó, những chính sách khẩn hoang tích cực, đặc biệt là chính sách đồn điền của Nguyễn Tri Phương đã
giúp công cuộc khẩn hoang ở ĐBSCL được đẩy mạnh ở nửa đầu thế kỷ XIX
Một số công trình, bài viết khác của các tác giả: Trần Mạnh Tiến với Công
cuộc khai thác vùng U Minh Thượng của lưu dân Việt Nam từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX (trong đề tài khoa học Huỳnh Lứa (cb), Làng xã Nam Bộ - quá khứ
và hiện tại của Viện KHXH tại Tp.HCM, 1999), Nguyễn Qưới - Phan Văn Dốp với Đồng Tháp Mười nghiên cứu phát triển (Nxb KHXH, HN, 1999), Nguyễn Hữu
Hiếu với Đồng Tháp 300 năm (Nxb Trẻ, Tp.HCM, năm 2004), Trần Đức Cường
với “Các bước phát triển công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ từ thế kỷ XVII đến
Trang 20giữa thế kỷ XIX” (kỷ yếu Hội thảo khoa học Vùng đất Nam Bộ đến thế kỷ XIX,
Tp.HCM, 2006), Lê Hữu Phước với “Từ dinh Long Hồ đến dinh Vĩnh Trấn” (Hội
Thảo: Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI
đến thế kỷ XIX tại Thanh Hóa, năm 2008),… cũng giúp chúng ta có cái nhìn toàn
cảnh về vai trò của các tầng lớp dân cư, trong đó có tầng lớp địa chủ trong công cuộc khai phá, phát triển kinh tế ở ĐBSCL
Năm 2007 trong công trình Vai trò của cộng đồng người Việt trong công
cuộc khai phá ĐBSCL từ thế kỷ XVII - XIX, đề tài nghiên cứu cấp ĐHQG, tác giả
Trần Thị Mai đã làm rõ thực trạng ĐBSCL trước khi người Việt có mặt và quá trình di cư và khẳng định chủ quyền của người Việt trên mảnh đất này Thông qua
đó nêu bật vai trò của cộng đồng người Việt trong công cuộc khai phá đất đai, hình thành hệ thống tên đất, tên làng và hệ thống hành chính ở ĐBSCL; xây dựng khối đoàn kết cộng đồng và khẳng định chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ khu vực Tây Nam của Tổ quốc Đây là công trình mang tính tổng hợp, hệ thống toàn bộ tư liệu
đã có trước đây về vùng đất ĐBSCL, là công trình nghiên cứu đầy đủ về lực lượng khai phá chủ yếu ở ĐBSCL thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, mang giá trị tham khảo cho những nghiên cứu liên quan đến các lực lượng khai phá cũng như quá trình khai phá vùng đất Nam Bộ
Tác giả Ngô Văn Minh trong nghiên cứu về Tái định cư trong lịch sử nam
tiến dưới chế độ phong kiến Việt Nam đăng trên www.sugia.vn đã rút ra những
nhận xét về lực lượng tổ chức di dân và tái định cư Tác giả cũng nêu lên các biện
pháp tái định cư nhà nước thường sử dụng binh lính để khai khẩn trước, hình thành
những đồn điền rồi từ đồn điền chuyển dần sang thôn ấp, đất khai phá được thuộc
sở hữu tư nhân Từ đó, hình thành nên các thiết chế xã hội cũng như đời sống văn hoá tinh thần và tín ngưỡng của lưu dân đến định cư tại vùng đất mới
Dùng khái niệm “mở đất” với nội dung bao hàm cả quá trình khai chiếm đất đai, tụ cư và thiết lập tổ chức hành chính trên vùng đất mới, Đỗ Quỳnh Nga trong
Luận án tiến sĩ sử học Công cuộc mở đất Tây Nam Bộ thời chúa Nguyễn (Huế,
2012) đã tìm hiểu công cuộc mở đất miền Tây Nam Bộ của các chúa Nguyễn, đề cập đến phương thức thực hiện công cuộc mở đất, từ đó, đưa ra những đánh giá về
hệ quả công cuộc mở mang miền Tây Nam Bộ của các chúa Nguyễn Công trình đã
hệ thống hóa các nguồn tài liệu từ trước đến nay liên quan đến vấn đề này, đồng thời khắc phục những hạn chế của các công trình đi trước một cách khoa học, toàn
Trang 21diện, sâu sắc Đây là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị để nghiên cứu về di dân vào ĐBSCL
* Những công trình nghiên cứu về chế độ sở hữu ruộng đất
Khi lên ngôi, vua Gia Long đã sai Lê Quang Định sắp đặt bộ điền thổ chung của cả nước Việc này kéo dài từ năm 1805 đến 1836 mới hoàn thành Đến 1836, vua Minh Mạng đã sai Trương Đăng Quế cùng thuộc hạ kinh lý ĐBSCL để ghi chép địa bạ và điền bạ của vùng đất này Tác giả Vũ Văn Quân trong công trình
“Trương Đăng Quế và công cuộc kinh lý vùng đất Nam Bộ năm 1836” (NCLS, số
7, 2006) cho biết địa bạ đã ghi chép đầy đủ từng mảnh ruộng, sở đất, con đường, khu rừng, núi sông,… của từng làng, từng xã, từng huyện, từng tỉnh; từ đồng bằng đến miền núi và hải đảo Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu trên cơ sở khai thác
kho tư liệu địa bạ phong phú của triều Nguyễn để lại, đã cho ra đời bộ Nghiên cứu
địa bạ triều Nguyễn: Hà Tiên (Kiên Giang, Minh Hải), Định Tường (Tiền Giang, Đồng Tháp, Long An), An Giang (An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Sóc Trăng), Vĩnh Long (Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh) và Tổng kết nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn phần Nam Kỳ lục tỉnh (Nxb Tp.HCM, năm 1994) Tác giả đã “vẽ” lại sơ
đồ về cơ cấu sử dụng đất đai trên toàn quốc cũng như mỗi địa phương, mô tả và phân tích bằng các bảng thống kê trên cơ sở đó đã chỉ ra các hình thức sở hữu như quan điền quan thổ, công điền công thổ, tư điền tư thổ Đây là công trình nghiên cứu quan trọng giúp chúng ta có thể hệ thống, phân tích, so sánh và làm rõ quá trình phát triển của tầng lớp địa chủ ở ĐBSCL thế kỷ XIX Từ đó đánh giá được đóng góp của tầng lớp địa chủ trong công cuộc khẩn hoang, phát triển kinh tế của
vùng Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Đình Đầu còn có công trình Chế độ công điền
công thổ trong lịch sử khẩn hoang lập ấp ở Nam kì lục tỉnh (Nxb Trẻ, Tp.HCM,
1999) trình bày chế độ công điền công thổ ở ĐBSCL tuy có nhưng rất nhỏ bé so với số lượng ở miền Bắc và miền Trung Bên cạnh đó tầng lớp đại địa chủ ở ĐBSCL cũng được tác giả phân tích và nhận định dù còn chung chung
Năm 1993, Trần Thị Thu Lương bảo vệ Luận án Phó tiến sỹ ở trường ĐH
KHXH&NV Tp HCM với đề tài Bước đầu tìm hiểu chế độ sở hữu và canh tác
ruộng đất ở làng Việt, Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XIX qua địa bạ Sau này được sửa
chữa và in thành sách: Chế độ sở hữu và canh tác ruộng đất ở Nam Bộ nửa đầu thế
Trang 22kỷ XIX (Nxb Tp.HCM, 1994) Ngoài ra tác giả còn có bài viết “Chế độ sở hữu
ruộng đất ở Nam Bộ từ thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XIX” (Tạp chí Phát triển
khoa học và công nghệ ĐHQG Tp.HCM, tập 9, số 3, 2006) Trong các công trình,
bài viết này, tác giả nhận định: sở hữu tư nhân về ruộng đất đã ra đời từ đầu thời kỳ khai phá Nam Bộ Trong chế độ sở hữu ruộng đất tư, xu hướng tập trung ruộng đất vào những điền chủ lớn rõ ràng và ngày một phát triển Ngoài sở hữu đơn chủ, ở Nam Bộ còn có sở hữu đa chủ và xuất hiện nhiều chủ có ruộng phụ canh ở các làng
xã khác Cũng thông qua địa bạ, tác giả đã đúc kết quy mô canh tác, các phương pháp luân canh, các loại hình sản xuất ở Nam Bộ
Liên quan đến vấn đề sở hữu và canh tác ruộng đất ở ĐBSCL, tác giả Huỳnh Lứa trong “Mấy nhận xét về chế độ sở hữu ruộng đất vùng Đồng Nai - Gia Định
vào nửa đầu thế kỷ XIX” (NCLS, số 2 (215), năm 1984) và “Vài suy nghĩ về chính
sách ruộng đất của chính quyền các chúa Nguyễn ở Đồng Nai - Gia Định trong thế
kỷ XVIII” (kỷ yếu Hội thảo Nam Bộ và Nam Trung Bộ - Những vấn đề lịch sử thế
kỷ XVII - XIX, Trường ĐH Sư phạm Tp.HCM, 2002) đã phân tích rõ cơ cấu sở hữu
ruộng đất ở ĐBSCL Theo tác giả, vùng đất mới muốn khai phá đòi hỏi mất nhiều công sức, phải có nhiều vốn liếng, nông cụ, sức kéo,… Do đó việc khai khẩn này phần nhiều phải dựa vào tầng lớp giàu có, “dân có vật lực” Một số nông dân vay tiền, nông cụ, thóc giống, của những người giàu có để tiến hành khai khẩn có thể không trả nổi khoản nợ vay và mảnh ruộng - thành quả khai khẩn của họ - tất yếu rơi vào tay địa chủ Hiện tượng này xảy ra phổ biến nửa đầu thế kỷ XIX Những nhận định, đánh giá này nhận được sự đồng thuận trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Khắc Đạm với “Vấn đề ruộng công và ruộng tư trong lịch sử Việt Nam”
(NCLS, số 212, năm 1985) và tác giả Lê Quốc Sử với “Đặc điểm về ruộng đất ở Nam Bộ” (trong sách Một số đặc điểm kinh tế của miền Nam Việt Nam, Nxb
KHXH, HN, 1991)
Một số nghiên cứu của Nguyễn Kiến Giang với Phác qua tình hình ruộng
đất và đời sống nông dân trước CMT8 (Nxb Sự thật, 1959), Phan Thành Tài với Tìm hiểu tình hình sở hữu ruộng đất và địa bạ làng xã tỉnh Định Tường qua địa bộ Minh Mạng 1836 (Tài liệu đánh máy, Viện KHXH tại Tp.HCM, 1993), Trương
Trang 23Hữu Quýnh - Đỗ Bang (cb) với Tình hình sở hữu ruộng đất nông nghiệp và đời
sống nông dân dưới triều Nguyễn (Nxb Thuận Hóa, 1997), Nguyễn Phan Quang
với “Vài tư liệu về thuế ruộng đất ở Nam Kỳ (nửa đầu thế kỷ XX)” (NCLS, số 1,
2001), cũng ít nhiều trình bày và phân tích chế độ sở hữu ruộng đất ở ĐBSCL, về
sự hình thành tầng lớp địa chủ, từ đó chỉ rõ những chính sách về ruộng đất mà các chúa Nguyễn và triều Nguyễn đã thực thi ở vùng đất này
Tác giả Ngô Quốc Đông trong “Vài nét về sự biến đổi trong quan hệ ruộng
đất Việt Nam đầu thế kỷ XX” (tạp chí Xưa và Nay, số 370, tháng 12, năm 2010)
cho rằng chính sự xuất hiện sớm bộ phận ruộng đất sở hữu lớn của tầng lớp điền chủ mà phần nông sản dư thừa có thể đem bán đã đạt tới một khối lượng lớn, đưa tới sự hình thành tương đối sớm nền kinh tế hàng hóa (chủ yếu là mua bán lúa gạo)
ở đây Hai tác giả Nguyễn Phúc Nghiệp và Trần Thị Thanh Huệ trong “Sự phát triển của giới đại địa chủ và phương thức sử dụng ruộng đất của họ ở Tiền Giang
trong nửa sau thế kỷ XIX” (Kỷ yếu Hội thảo: Những vấn đề kinh tế - xã hội trong
lịch sử Nam Bộ, Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ - Trung tâm NCLS,
8/2010, được in lại trên Tạp chí NCLS, số 7, 2011) đã trình bày những phương thức
mở rộng, canh tác ruộng đất của giới địa chủ nửa sau thế kỷ XIX và vẫn được tiếp tục dưới thời Pháp thuộc Cũng từ đây mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân tá điền trở nên trầm trọng hơn, đòi hỏi phải có cuộc cách mạng xã hội để giải quyết
* Những công trình nghiên cứu về kinh tế
Nghiên cứu về nền kinh tế nông nghiệp, thương nghiệp trong đó có đề cập đến vai trò của tầng lớp địa chủ đối với sự phát triển kinh tế ở ĐBSCL thời kỳ này
có một số công trình tiêu biểu: Phạm Văn Kính trong “Tìm hiểu kinh tế nông
nghiệp Đàng Trong qua tác phẩm “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn” (NCLS, số 4 (175)/1977) đã đánh giá những số liệu mà Phủ biên tạp lục cung cấp giúp nhìn
nhận nông nghiệp ĐBSCL phát triển hơn so với các vùng miền khác
Lê Quang Minh trong Nông nghiệp ĐBSCL trong các thế kỷ XVII, XVIII và
nửa đầu thế kỷ XIX, báo cáo khoa học tại Hội nghị KHXH về ĐBSCL do Viện
KHXH tại Tp.HCM tổ chức năm 1981 cho rằng những người “có vật lực” trước
khi vào Nam đã mộ thêm rất nhiều dân nghèo ở quê mình đưa đi theo, ngoài ra họ
Trang 24còn mua nô tỳ để làm nô, vì thế ở ĐBSCL nhanh chóng được khai phá và hình thành phương thức sản xuất nông nghiệp lớn, kiểu trang trại, từ đó một hình thức sản xuất lớn ra đời trong thế kỷ XVIII
Các tác giả Trần Xuân Kiêm trong Nghề nông Nam Bộ (Nxb KHXH, 1992), Kim Khôi với “Vài nét về quá trình khai thác nông nghiệp ĐBSCL” (NCLS, số 6, 1981), Phạm Ái Phương với “Tìm hiểu nghề trồng trọt Việt Nam thế kỷ XVIII, nửa đầu XIX” (NCLS, số 5, 1985), Nguyễn Phúc Nghiệp với “Tác dụng của hệ thống sông rạch ở Tiền Giang trong nửa đầu thế kỷ XIX” (NCLS, số 2, 2002);… đã trình
bày về quá trình khai khẩn ruộng đất và vai trò của ruộng đất đối với nghề nông ở ĐBSCL Trong đó nhấn mạnh đến quá trình tập trung điền sản và phân tán điền sản, chỉ ra các điền chủ ở ĐBSCL, phương thức canh tác ruộng đất cũng như quá trình bóc lộc của giới địa chủ đối với tá điền làm thuê
Trong công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Nhật trong “Về tầng lớp lao động làm thuê trong nông nghiệp ở Nam Bộ - Lịch sử và hiện trạng”
(NCLS, số 5 (258), năm 1991), cũng nêu ra ý kiến cho rằng mối quan hệ giữa địa
chủ và lao động làm thuê đã hình thành và phát triển ở ĐBSCL thời kỳ này
Tác giả Trần Thị Mai trong Kinh tế Sóc Trăng thời Pháp thuộc (1867 -
1929) (Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Trường Đại học KHXH&NV - ĐHQG Tp.HCM,
năm 1997) đã phác họa sâu sắc trên nhiều mặt của kinh tế - xã hội tỉnh Sóc Trăng, gần một thế kỷ thông qua những số liệu và nhận định Dù đề tài nghiên cứu về thời Pháp thuộc, nhưng tác giả đã có nhiều tư liệu, nhận định liên quan đến tầng lớp địa chủ giai đoạn trước khi Pháp xâm lược
Nguyễn Phúc Nghiệp trong Kinh tế nông nghiệp Tiền Giang thế kỷ XIX (Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Viện KHXH tại TpHCM năm 2002) và Kinh tế nông
nghiệp Tiền Giang thế kỷ XIX (Nxb Trẻ, Tp.HCM, 2003) đã trình bày khá chi tiết
về kinh tế nông nghiệp ở ở ĐBSCL nói chung, Tiền Giang nói riêng Tác giả đã lý giải các loại hình sở hữu ruộng đất ở Tiền Giang trong thế kỷ XIX, các hoạt động sản xuất nông nghiệp (nghề nông, nghề vườn, nghề rẫy, nghề cá,…), vấn đề thủy lợi đối với sản xuất nông nghiệp, giao thương nông sản hàng hóa ở thị trường Một đặc điểm khác của nông nghiệp ở ĐBSCL là sự hình thành “kinh tế miệt vườn”,
Trang 25góp phần vào sự thay đổi tính chất của nền sản xuất Vấn đề này được tác giả Nguyễn Phúc Nghiệp đã phân tích và nhận định trong các công trình: “Nghề vườn
ở Tiền Giang xưa” (báo Ấp Bắc, số 476, năm 1987) và “Nghề trồng bông vải ở Tiền Giang thời xưa” (báo Ấp Bắc, số 1025, năm 1995)
Một trong những thế mạnh của nền kinh tế ở ĐBSCL thế kỷ XVIII là sự phát triển của thương nghiệp Tác giả Ngô Văn Hòa trong “Quyền tư hữu ruộng đất
ở Việt Nam thế kỷ XIX” (NCLS, số 1 - 2, năm 1987), Lê Văn Năm trong “Sản xuất hàng hóa và thương nghiệp ở Nam Bộ thế kỷ XVII - nửa đầu thế kỷ XIX” (NCLS,
số 3 + 4, năm 1988) và Nguyễn Thị Mỹ Lệ trong Quan hệ thương mại giữa Sài
Gòn, Chợ Lớn với một số trung tâm kinh tế ở ĐBSCL thế kỷ XVII - XVIII (Luận văn
thạc sỹ, ĐHKHXH&NV Tp.HCM, năm 2010) đã nhấn mạnh đến tầng lớp địa chủ, lực lượng lớn mạnh và chi phối sự phát triển của nông nghiệp và thương nghiệp ĐBSCL Việc tập trung ruộng đất trong tay các địa chủ lớn đã giúp cho những người này nắm được một số lượng nông sản to lớn Lượng nông sản đó được đưa ra thị trường, đây chính là quyền lợi của nông dân và với quyền tư hữu này người nông dân có thể mặc sức khai hoang và dốc toàn tâm toàn ý cho mảnh đất mình có được
Ở thế kỷ XVIII, kinh tế nông nghiệp cả nước chủ yếu vẫn mang tính tự cấp,
tự túc thì kinh tế nông nghiệp ở Gia Định, do tác động của hoàn cảnh đã mang tính chất mới, nông nghiệp hàng hóa ngày càng đậm nét Điều này cũng được thể hiện trong các bài viết của tác giả Lê Kim Hoàng trong “Mấy nét về kinh tế thị trường ở
miền Tây Nam Bộ từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX” (Hội thảo Nam Bộ và Nam
Trung Bộ - Những vấn đề lịch sử thế kỷ XVII - XIX, Đại học Sư phạm Tp.HCM,
năm 2002) và Trần Thuận trong “Vài suy nghĩ về những đặc điểm kinh tế - xã hội
của vùng đất Nam Bộ” (trong Hội thảo: Những vấn đề kinh tế - xã hội trong lịch sử
Nam Bộ, Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ - Trung tâm NCLS, 8/2010)
Cùng với nội thương, ngoại thương ở ĐBSCL cũng là vấn đề thu hút sự nghiên cứu của nhiều tác giả Dù không trực tiếp nói về tầng lớp địa chủ ĐBSCL trong giai đoạn thế kỷ XVII - nửa đầu XIX, nhưng những tư liệu được nêu trong các nghiên cứu của các tác giả sau đây cho chúng ta cái nhìn tổng quan về ngoại
Trang 26thương trong giai đoạn này, đồng thời minh chứng cho luận điểm kinh tế hàng hóa
đã xuất hiện trong nền kinh tế ĐBSCL thời kỳ này, trong đó gián tiếp có vai trò của tầng lớp địa chủ: Nguyễn Văn Kiểm (sưu tầm, dịch và chú thích) với “Vài nét về tình hình giao thương giữa Việt Nam và vài nước lân cận với các nước phương Tây những năm 30 thế kỷ XVIII (qua bài ghi chép của một giáo sĩ thừa sai Pháp)”
(NCLS, số 5, năm 1995), Nguyễn Văn Kim với “Hệ thống buôn bán ở biển Đông thế kỷ XVI - XVII và vị trí của một số thương cảng Việt Nam” (NCLS, số 1, năm
2002) và “Nam Bộ - Việt Nam - Môi trường kinh tế biển và mối quan hệ với các
quốc gia khu vực thế kỷ XVII – XVIII” (NCLS, số 9 (365), năm 2006), Nguyễn
Mạnh Dũng với “Về hoạt động thương mại của công ty Đông Ấn Pháp với Đại Việt
(nửa cuối thế kỷ XVII - giữa thế kỷ XVIII)” (NCLS, số 9 (365), năm 2006),
* Những công trình nghiên cứu về văn hóa, cơ cấu xã hội, địa phương chí
Tác giả Nguyễn Hữu Hiếu trong Cấu trúc xã hội Nam kỳ hồi thế kỷ XVIII
đăng trên trang web http://hkhls.dongthap.gov.vn đã phân tích đầy đủ cơ cấu xã hội ĐBSCL Do điều kiện đất hoang vô chủ còn mênh mông và điều kiện quản lý hành chính còn lỏng lẻo, chưa có sự cấu kết giữa đại điền chủ và quan lại hình thành giai cấp phong kiến địa chủ Do đó, hiện tượng bóc lột chưa gay gắt đến nỗi hình thành mâu thuẫn đối kháng Những quan điểm này cũng được trình bày trong nghiên cứu của Nguyễn Quang Ngọc với “Cấp thôn ở Nam Bộ thế kỷ XVII - XVIII - XIX (một
cái nhìn tổng quan)” (Kỷ yếu Hội thảo Vùng đất Nam Bộ đến thế kỷ XIX, Tp.HCM, 2006) và một số nghiên cứu của các tác giả trong Đề án KHXH cấp nhà nước: Quá
trình hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ, Mấy vấn đề tiến trình lịch sử xã
hội (Kỷ yếu Hội thảo lần thứ hai ngày 30-05-2009, Nxb Thế giới)
Tác giả Ngô Văn Lệ trong “Văn hóa truyền thống làng Việt Nam Bộ” (trong
Hội thảo: Những vấn đề kinh tế - xã hội trong lịch sử Nam Bộ, Viện Phát triển bền
vững vùng Nam Bộ - Trung tâm NCLS tổ chức, 2010), Đỗ Hữu Nghiêm trong
“Quá trình hình thành làng xã tại ĐBSCL từ thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX”
(Hội thảo: Những vấn đề kinh tế - xã hội trong lịch sử Nam Bộ, Viện Phát triển bền
vững vùng Nam Bộ - Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử tổ chức, tháng 5, 2010) hay
“Người Việt Nam Bộ từ góc nhìn tôn giáo” của PGS Phan An (Tạp chí Văn học
Trang 27nghệ thuật, số 311, tháng 5 - 2010) đã nêu luận điểm làng Việt ở Nam Bộ có nhiều
người là dân có vật lực chiêu mộ những người lao động ở các địa phương là những người thuộc các dòng họ khác đến sinh sống và lập nên làng Nhà nước cũng ban thưởng cho công lao khai hoang và lập làng đó, nhưng không có làng nào lấy tên họ đặt tên cho làng Những người có công lập làng sau này khi mất đi sẽ được người dân trong làng thờ cúng và xem như các tiên công, tiên hiền của làng xã
Trong tác phẩm ĐBSCL - Nét sinh hoạt xưa và văn minh miệt vườn (Nxb Trẻ, 2007) của Sơn Nam và Tính cách văn hóa Nam Bộ (Trong Nam Bộ đất và
người, Nxb Tổng hợp, Tp.HCM, tập VI, 2008) của Trần Ngọc Thêm, các tác giả cho rằng: người dân Nam Bộ, tuy vẫn là thành viên của làng nhưng cá nhân họ dựa trên quyền tư hữu ruộng đất do chính họ khai phá hay sang nhượng và được luật pháp thừa nhận
Trong hành trang di dân vào khai phá vùng đất phương Nam, lưu dân Việt
đã mang theo mình những giá trị văn hóa truyền thống Tuy nhiên, trong quá trình giao lưu văn hóa, một số yếu tố văn hóa không còn phù hợp đã bị loại bỏ, một mặt
họ đã tiếp nhận nột số yếu tố văn hóa mới, điều này được trình bày trong các công trình nghiên cứu của Thạch Phương - Hồ Lê - Huỳnh Lứa - Nguyễn Quang Vinh
trong Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ (Nxb KHXH, HN, 1992), Lê Văn Sáu, 300 năm Gia Định Sài Gòn, từ lịch sử đến văn hóa của người Việt ở Nam Bộ
(Hội thảo về Nam Bộ do Trường Đại học Sư phạm Tp.HCM tổ chức tháng 4/1998), tác giả Trần Thị Mai với “Vị trí và vị thế của Nam Bộ thế kỷ XVII – XIX” (Kỷ yếu
Hội thảo Văn hóa phi vật thể người Việt miền Tây Nam Bộ, 2010) Ngoài ra, còn có
một số các tác phẩm khai thác các ngưồn tư liệu trong dân gian, tư liệu điền dã về các nhân vật, sự kiện, văn hóa của địa phương , giúp chúng ta có cái nhìn chân
thực hơn về con người và vùng đất ĐBSCL như: Nguyễn Hữu Hiếu với Giai thoại
dân gian Đồng Tháp Mười (Nxb Đồng Tháp, năm 1998), Nguyễn Phúc Nghiệp với Những trang ghi chép về lịch sử - văn hóa Tiền Giang (Nxb Trẻ, Tp.HCM, năm
1998) và Truyển kể dân gian Nam Bộ (Nxb Trẻ, Tp.HCM, năm 2004), Việt Cúc (Sơn Nam chú giải - bổ sung) với Gò Công cảnh cũ người xưa (Nxb Trẻ, năm 1999) hay như Lịch sử vùng đất Long Hưng Đồng Tháp cuối thế kỷ XVII - cuối thế
Trang 28kỷ XX, UBND huyện Lấp Vò biên soạn năm 2008 nghiên cứu về vùng đất Long
Hưng là nơi Nguyễn Ánh dựa vào để chống Tây Sơn thế kỷ XVIII, trong đó có tầng lớp địa chủ tại đây đã giúp đỡ Nguyễn Ánh trong công cuộc khôi phục ngai vàng cho dòng họ Nguyễn
Năm 2011, Hội thảo khoa học lần thứ 3 thuộc Đề án Khoa học xã hội cấp
nhà nước: Quá trình hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ đã công bố các kết quả nghiên cứu Mấy vấn đề bản sắc Văn hóa - Xã hội Trong đó có các nghiên cứu đáng quan tâm như: Một số đặc trưng của thiết chế quản lý xã hội ở Nam Bộ của
PGS.TS Vũ Văn Quân; TS Võ Công Nguyện, PGS.TS Phan An, TS Phú Văn
Hẳn trong Quan hệ tộc người trong sự phát triển vùng đất Nam Bộ; TS Trần Nam Tiến, Đánh giá vai trò của Nam Bộ trong tiến trình Việt Nam hội nhập khu vực và
thế giới từ đầu công nguyên cho đến hết thế kỷ XIX; GS.TS Ngô Văn Lệ, Về một số đặc trưng trong sinh hoạt văn hóa của cư dân Nam Bộ Các nghiên cứu với những
luận điểm mới giúp nghiên cứu đánh giá rõ hơn về văn hóa - xã hội vùng đất Nam
Bộ thế kỷ XVII - XIX Đặc biệt, với đề tài cấp trọng điểm Đại học Quốc gia
Tp.HCM: Văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ do GS.TSKH Trần Ngọc Thêm
chủ nhiệm, nghiệm thu năm 2012 có một phần nghiên cứu trong đó miêu tả bức tranh tổng quan tương đối đầy đủ và toàn diện về các thành tố của văn hoá người Việt miền Tây Nam Bộ (văn hoá nhận thức, văn hoá tổ chức, văn hoá ứng xử) Điều này giúp chúng tôi tiếp cận nghiên cứu về văn hóa của vùng ĐBSCL, trong đó
có sự đóng góp của tầng lớp địa chủ trên vùng đất phía Nam
Những năm gần đây, nhiều địa phương ở Nam Bộ đã tiến hành công tác biên soạn Địa chí và lịch sử địa phương Điều này đã giúp ích cho những nhà nghiên cứu tiếp cận với các vấn đề của địa phương một cách rõ ràng và dễ dàng hơn như:
Thạch Phương - Lưu Quang Tuyến (cb), Địa chí Long An (Nxb Long An và KHXH, năm 1989); Võ Trần Nhã, (cb), Lịch sử Đồng Tháp Mười (Nxb Tp.HCM, năm 1993); Địa chí Đồng Tháp Mười (Nxb.CTQG, HN, năm 1996); Trần Văn Giàu (cb), Địa chí văn hóa Tp.HCM, tập 1: lịch sử (Nxb TpHCM, năm 1998); Thạch Phương - Đoàn Tứ, Địa chí Bến Tre (Nxb.KHXH, HN, 2001); Nguyễn Thế Nghĩa - Nguyễn Chiến Thắng, Vĩnh Long lịch sử và phát triển (Nxb Tp.HCM, 2001);
Trang 29Huỳnh Văn Tới (cb), Địa chí Đồng Nai, tập V: văn hóa - xã hội (Nxb Tổng hợp Đồng Nai, 2001); Ban tuyên giáo tỉnh Vĩnh Long, Lịch sử tỉnh Vĩnh Long (1732 -
2000) (Nxb.CTQG, Tp.HCM, 2002); Tỉnh ủy - UBND tỉnh Cần Thơ, Địa chí Cần Thơ (Cần Thơ, năm 2002); Thạch Phương - Nguyễn Trọng Minh (cb), Địa chí Bà Rịa - Vũng Tàu (Nxb KHXH, HN, năm 2005); UBND tỉnh Tây Ninh, Địa chí Tây Ninh (Tây Ninh, năm 2006); Ban tuyên giáo tỉnh Đồng Tháp, Địa chí Đồng Tháp
(Nxb Trẻ, 2014), Ban tuyên giáo tỉnh An Giang, Địa chí An Giang, Nxb … Thông
qua những công trình địa chí, chúng ta thấy rằng cùng với những chính sách khai phá mang tính tích cực của chúa Nguyễn đã mang lại những thành quả hết sức to lớn, làm thay đổi căn bản diện mạo vùng đất ĐBSCL Trong khi đó, những người
“có vật lực”, họ là những người có đầu óc kinh doanh, muốn làm ăn lớn, sẵn có
vốn liếng, phương tiện vật chất, kinh nghiệm tổ chức, lại được chính quyền chúa Nguyễn khuyến khích,… đã đứng ra chiêu mộ dân nghèo ở địa phương, tập hợp lại thành nhóm, thành đoàn đưa vào vùng đất mới để khai hoang, sản xuất nông nghiệp,… vì thế đã góp phần thúc đẩy việc khai hoang được nhanh chóng hơn Quá trình này đưa tới sự hình thành và phát triển nền kinh tế ở các địa phương
2.1.2 Các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài
Bên cạnh những công trình nghiên cứu của các học giả trong nước, còn có đóng góp của các học giả nước ngoài Tuy nhiên, với mảng chuyên về lịch sử khai phá ĐBSCL nói chung và đóng góp của tầng lớp địa chủ ở ĐBSCL nói riêng, hiện vẫn còn khá ít công trình đề cập đến Cho đến nay, chúng ta vẫn chỉ mới biết đến một số công trình được viết dưới dạng tổng quan hoặc dưới dạng tự thuật về một
vài lĩnh vực cụ thể, trong đó có tư liệu về ĐBSCL như: Thích Đại Sán với Hải
ngoại ký sự (Bản dịch của Viện Đại học Huế, 1963), Christophoro Borri với Xứ Đàng Trong năm 1621 (Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, HN, năm 1998), Chu
Thuấn Thủy với Ký sự đến Việt Nam năm 1657 (Bản dịch của Vĩnh Sính, Hội Khoa
học Lịch sử Việt Nam, Xưa và Nay xuất bản, năm 1999), Chu Đạt Quan (Hà Văn
Tấn dịch) với Chân Lạp phong thổ ký (Nxb Thế giới, HN, năm 2006), W Dampier với Một chuyến đi đến Đàng Ngoài năm 1688 (Un voyage au Tonkin en 1688) (Bản
dịch của Trường ĐHKHXH&NV Hà Nội, Nxb Thế giới, 2007), Yoshiharu Tsuboi
Trang 30với Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa (Nguyễn Đình Đầu với sự
cộng tác của Bùi Trân Phượng và Tăng Văn Hỷ dịch, Nxb Tri thức, 2011) Tuy nhiên, tư liệu về vùng đất ĐBSCL khá là ít ỏi và sơ lược
Li Tana với công trình Xứ Đàng Trong - Lịch sử kinh tế và xã hội thế kỷ 17
và 18 (Nxb Trẻ, Tp.HCM, năm 1999) đưa ra góc nhìn của học giả nước ngoài về
sự phát triển kinh tế - xã hội ở Đàng Trong thời kỳ chúa Nguyễn, trong đó Gia Định nổi lên với sự phát triển kinh tế mang yếu tố tiền tư bản chủ nghĩa Vấn đề này cũng nhận được sự quan tâm của Yang Baoyun (Dương Bảo Vân) trong luận
án Tiến sĩ bảo vệ tại Pháp năm 1992: Contribution à l'histoire de la principauté des
Nguyên au Vietnam méridional, 1600-1775 (Góp phần tìm hiểu lịch sử vương quốc Đàng Trong của các chúa Nguyễn (1600 - 1775))
Ngoài ra còn một vài tác phẩm của các học giả nước ngoài nghiên cứu giai đoạn thực dân Pháp chiếm đóng vùng đất phương Nam Những công trình này, cũng ít nhiều đề cập đến vùng đất ĐBSCL trước khi thực dân Pháp chiếm đóng
như: Almiphin Jean Piere với Sự hiện diện tài chính và kinh tế của Pháp ở Đông
dương 1859 - 1939 (Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, năm 1994), Charles le Myre
de Vilers với “Về thuộc địa Nam Kỳ hồi cuối thế kỷ XIX” (Bản dịch của Đinh
Xuân Lâm, Tạp chí Xưa và Nay, số 53B, năm 1998) đã phác thảo nền kinh tế của
triều Nguyễn ở ĐBSCL trước khi Pháp đặt chân đến mảnh đất này Đó là chế độ sở hữu lớn về ruộng đất của triều Nguyễn ở ĐBSCL Điều này được người Pháp đặc biệt coi trọng, là tiền đề để người Pháp tiếp tục thực thi chính sách khai hoang phát triển cùng chế độ tư hữu lớn về ruộng đất
Năm 2002 tác giả Song Jeong Nam, trong bài viết “Từ lịch sử đấu tranh bảo
vệ và mở mang bờ cõi của Việt Nam suy nghĩ về tính cộng đồng của người Việt”
(NCLS - Số 2, 2002) cũng có đề cập đến quá trình khai phá vùng đất phương Nam
và văn hóa Nam Bộ, tuy còn sơ lược
Năm 2011, tác giả Choi Byung Wook xuất bản công trình nghiên cứu: Vùng
đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng, Nxb Tuvanbooks và Nxb Thế giới, HN Cuốn
chuyên khảo này là một công trình nghiên cứu bổ ích, có giá trị, cung cấp cho chúng ta những tư liệu, một số lập luận kiến giải mới và đưa ra những gợi ý, những
Trang 31vấn đề mới có thể trao đổi trong những cuộc thảo luận rộng mở sau này Phần I tác giả phác họa sự hình thành vùng đất Gia Định từ giai đoạn trước vương triều Nguyễn (1788 - 1802) như một căn cứ địa về quân sự, chính trị và kinh tế của Nguyễn Ánh trong công cuộc chống Tây Sơn Tác giả cũng phân tích thái độ rộng lượng, bao dung và thuyết phục của Nguyễn Ánh đối với các thành phần, tầng lớp
xã hội khác nhau, các sắc tộc và những người tình nguyện ngoại quốc (Xiêm, Hoa, Pháp) tạo nên một lợi thế và là nhân tố quan trọng dẫn đến thắng lợi của Nguyễn Ánh Trong chương cuối, tác giả đã phân tích những đặc trưng và các quan điểm, chính sách kinh tế của nhà nước thời Minh Mạng đối với Nam Bộ qua công cuộc đạc điền, đặc biệt là về mặt phương thức chiếm hữu, canh tác và quyền sở hữu ruộng đất Với những điều kiện kinh tế - xã hội của vùng đất Nam Bộ đã tạo cơ sở cho sự phát triển của chế độ tư hữu lớn và giai cấp đại địa chủ ở phần lãnh thổ này Tác giả cũng đã phân tích về sự nghịch lý biện chứng giữa hai xu hướng đối lập của Minh Mạng: một mặt nhượng bộ trong việc ruộng đất công đã bị thu hẹp ngay cả khi đã điều chỉnh dù là biểu tượng của quyền lực nhà nước; mặt khác coi trọng việc đạt tới mục đích chủ yếu là gia tăng nền sản xuất nông nghiệp quốc dân và nguồn lợi thu thuế của nhà nước, khi để cho giai cấp địa chủ và chế độ tư hữu lớn về ruộng đất phát triển Có thể coi những luận điểm này là những vấn đề đáng lưu ý khi nghiên cứu về tầng lớp địa chủ ở ĐBSCL dưới triều Nguyễn
2.2 Những vấn đề luận án kế thừa từ các công trình nghiên cứu đã xuất bản
Có thể thấy, đối với vùng đất Nam Bộ nói chung, vùng ĐBSCL nói riêng luôn được các nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu trên nhiều khía cạnh khác nhau Những thành tựu trong các nghiên cứu này đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề của khoa học lịch sử, giúp chúng ta có cái nhìn tương đối toàn diện về quá trình hình thành và phát triển của vùng đất ĐBSCL Điều này cho thấy vấn đề này đã được quan tâm nghiên cứu từ nhiều góc độ trong suốt hơn nửa thế kỷ qua
Với số lượng các công trình nghiên cứu đã được trình bày theo các vấn đề ở trên, có thể thấy, nhiều vấn đề được quan tâm đặc biệt và đã có sự thống nhất trong các đánh giá và nhận định như: lịch sử di dân của người Việt và khai phá vùng đất
Trang 32phương Nam cũng như tiến trình khẩn hoang của lưu dân Việt và các chính sách của triều Nguyễn đối với công cuộc khẩn hoang trên mảnh đất này Trong đó, nhìn nhận vai trò cũng như cách thức khẩn hoang của các lực lượng khai phá cũng được các nghiên cứu làm rõ Bên cạnh đó, sự phát triển của nền kinh tế nông nghiệp của vùng ĐBSCL cùng chế độ sở hữu ruộng đất với nhiều đặc điểm khác biệt so với các vùng miền khác cũng đã được tập trung nghiên cứu,…
Những nghiên cứu đã công bố cũng làm rõ quá trình thiết lập làng xã, phát triển về văn hóa, xã hội ở các địa phương, trong đó các tư liệu điền dã, các văn tự mua bán, cầm cố ruộng đất,… cho thấy sự phát triển về mọi mặt của vùng ĐBSCL trong thời kỳ chúa Nguyễn và triều Nguyễn
Thông qua các kết quả nghiên cứu, các học giả đã góp phần khẳng định vai trò của các tầng lớp nhân dân nói chung, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của nông dân (Việt - Hoa - Khmer) trong công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ nói chung, vùng ĐBSCL nói riêng
2.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
Từ việc tổng hợp các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài chúng tôi nhận thấy:
Nghiên cứu về vùng đất ĐBSCL nói chung, những chính sách của triều Nguyễn đối với vùng đất ĐBSCL nói riêng từ trước đến nay đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Mặc dù chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về vai trò của tầng lớp địa chủ trong công cuộc khai phá vùng ĐBSCL, tuy nhiên, thông qua các công trình nghiên cứu trên chúng ta thấy rằng chính điều kiện tự nhiên, lịch sử của vùng đất ĐBSCL, phong trào di dân tự do (sau đó có sự can thiệp của nhà nước) và những chính sách của chúa Nguyễn (về sau là vương triều Nguyễn) đã đưa tới sự hình thành và phát triển tầng lớp địa chủ
ở vùng đất ĐBSCL Và chính tầng lớp này cùng với các thành phần cư dân khác đã đóng vai trò to lớn trong quá trình khẩn hoang vùng đất ĐBSCL từ thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XIX
Với nhiều công trình đã được công bố trên mọi khía cạnh phát triển của vùng ĐBSCL, nhưng đến nay vẫn chưa có công trình nào liên quan trực tiếp đến
Trang 33tầng lớp địa chủ - một lực lượng đóng vai trò không thể thiếu trong quá trình khai phá vùng ĐBSCL Do vậy, thiết nghĩ một số vấn đề vẫn cần được các nhà nghiên cứu làm rõ thêm, như:
- Vai trò của chính quyền chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn thông qua đánh giá các chính sách, biện pháp, cũng như thành quả đạt được trên các mặt: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa,…
- Những đặc điểm của tầng lớp địa chủ trong quá trình khai phá vùng đất này, trên cơ sở so sánh với các khu vực khác của đất nước để thấy được những nét khu biệt của vùng ĐBSCL
- Vai trò của tầng lớp địa chủ trong quá trình khai phá, phát triển về kinh tế -
xã hội, quá trình thiết lập làng xã và quá trình xác lập, bảo vệ chủ quyền trên vùng đất phương Nam
Trên cơ sở kế thừa thành tựu của các công trình đi trước, luận án đồng thời
sẽ tập trung làm rõ thêm các vấn đề nêu trên Cụ thể, luận án sẽ tập trung nghiên cứu: sự hình thành và lớn mạnh của tầng lớp địa chủ dưới những tác động của các chính sách của chính quyền chúa Nguyễn và triều Nguyễn, dưới tác động của bối cảnh khu vực và của đặc thù khai phá vùng đất Nam Bộ nói chung, ĐBSCL nói riêng; vai trò và tác động của tầng lớp địa chủ đến quá trình khai phá; quá trình phát triển về mọi mặt của vùng đất ĐBSCL; quá trình xác lập, khẳng định và bảo
vệ chủ quyền trên vùng đất ĐBSCL
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tầng lớp địa chủ trong công cuộc khai phá vùng đất ĐBSCL từ thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX với các vấn đề cụ thể là:
- Quá trình hình thành các bộ phận địa chủ qua các thời kỳ
- Vai trò tổ chức lao động khẩn hoang qua các thời kỳ
- Vai trò tổ chức lao động sản xuất nông nghiệp và kinh doanh thương nghiệp, thủ công nghiệp dưới các tác động của những nhân tố và điều kiện mới
- Vai trò trong xây dựng, phát triển đời sống kinh tế - xã hội - văn hóa và hình thành thiết chế xã hội, góp phần xác lập chủ quyền và bảo vệ an ninh quốc phòng
Trang 34Không gian nghiên cứu của luận án là vùng ĐBSCL, thuộc phạm vi lưu vực các nhánh sông Cửu Long (sông Tiền, sông Hậu và các chi lưu Cửu Long) - tương đương với 4 tỉnh của Lục tỉnh xưa (Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên)
và 13 tỉnh thành hiện nay ở ĐBSCL (An Giang, Bạc Liêu, Bến Tre, Cà Mau, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long, thành phố Cần Thơ)
Thời gian nghiên cứu của luận án là từ đầu thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX, được phân kỳ thành 2 giai đoạn tương ứng với hai thể chế chính trị kế tiếp trên vùng đất Gia Định - Nam Kỳ:
- Giai đoạn các chúa Nguyễn (thế kỷ XVII - XVIII)
- Giai đoạn vương triều Nguyễn (1802 - 1858)
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Quan điểm duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lê-nin được vận dụng trong luận án nhằm làm rõ những vấn đề khoa học trong nghiên cứu hình thái kinh tế xã hội, đánh giá vai trò của các lực lượng xã hội, chế độ sở hữu tư liệu sản xuất, vấn đề giai cấp và quan hệ giữa các giai cấp trong xã hội Đồng thời, phân tích quá trình hình thành của tầng lớp địa chủ trong công cuộc khai phá vùng ĐBSCL dưới tác động của bối cảnh lịch sử, chính trị, xã hội lúc bấy giờ, qua đó đánh giá những chính sách của chúa Nguyễn và nhà Nguyễn đối với tầng lớp địa chủ - lực lượng có đóng góp nhất định trong quá trình khẩn hoang vùng đất phương Nam,…
Thực hiện luận án này, chúng tôi vận dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic - là những phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học lịch sử để nghiên cứu, phân tích các nguồn tư liệu khác nhau nhằm nhìn nhận, đánh giá vấn
đề một cách toàn diện, khách quan và làm rõ các yếu tố nội hàm như: tái hiện một cách chân thực bối cảnh lịch sử của vùng đất ĐBSCL trước và sau khi lưu dân Việt xuất hiện trên vùng đất này; những nhân tố chủ quan, khách quan tác động vào quá trình khai phá vùng đất ĐBSCL; quá trình hình thành và phát triển của lực lượng địa chủ qua từng giai đoạn; từ đó luận án rút ra đặc điểm của tầng lớp địa chủ của
Trang 35ĐBSCL, đồng thời làm rõ vai trò và đóng góp của tầng lớp địa chủ trong công cuộc khai phá và phát triển vùng ĐBSCL
Trong quá trình phân tích và đánh giá, luận án cũng chú ý vận dụng các phương pháp liên ngành nhằm vận dụng những thành tựu nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, giúp xem xét vấn đề ở các góc độ đa chiều và khách quan trong quá trình hình thành và phát triển của tầng lớp địa chủ dưới thời chúa Nguyễn và triều Nguyễn Trong đó các phương pháp cụ thể như sưu tầm, xử lý số liệu, thống kê - phân loại, so sánh, đối chiếu để làm rõ sự ra đời và phát triển của tầng lớp địa chủ qua các thời kỳ từ thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX Trong quá trình sưu tầm tài liệu, tác giả cố gắng bám vào tư liệu gốc và các tư liệu được dịch thuật bởi các cơ quan chuyên môn, nhà nghiên cứu uy tín
Đồng thời tác giả cũng sử dụng phương pháp điền dã, khảo sát thực địa trong quá trình thực hiện luận án để nghiên cứu về tầng lớp địa chủ trên vùng ĐBSCL, qua đó thu thập dẫn chứng và tư liệu về tầng lớp địa chủ còn tồn tại đến ngày nay
Bên cạnh đó, các loại bảng biểu, bản đồ, ảnh chụp,… cũng sẽ được sử dụng
để minh họa cho những luận điểm mà tác giả đưa ra trong luận án
4.2 Nguồn tư liệu
Nguồn tài liệu được sử dụng để thực hiện luận án, gồm:
- Các bộ chính sử của Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, Quốc
triều chính biên toát yếu, Đại Nam nhất thống trí, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam hội điển sử lệ, Minh Mệnh chính yếu,…
- Các công trình của các học giả thời phong kiến biên soạn như: Phủ biên
tạp lục của Lê Quý Đôn; Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức,…
- Các công trình xuất bản bao gồm các sách chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo, luận
văn, luận án nghiên cứu về ĐBSCL nói chung và tầng lớp địa chủ ở ĐBSCL nói riêng
- Nguồn tài liệu điền dã ở các tỉnh ĐBSCL gồm phỏng vấn các nhà nghiên cứu địa phương, tiếp cận các bút ký, các di chúc chia điền sản, các văn khế mua bán, cầm cố ruộng đất của địa chủ,… mà chúng tôi đã thu thập được trong quá trình
đi điền dã
Trang 365 Đóng góp khoa học của luận án
Luận án nghiên cứu làm rõ một số luận điểm khoa học sau đây:
- Quá trình hình thành và phát triển tầng lớp địa chủ ở vùng ĐBSCL (từ thế
kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XIX) trong mối quan hệ với chính quyền và các tầng lớp dân cư trong khai phá và phát triển vùng đất mới
- Đặc điểm của tầng lớp địa chủ ở ĐBSCL (thế kỷ XVII - nửa đầu thế kỷ XIX)
- Những đóng góp của tầng lớp địa chủ trong quá trình xây dựng làng ấp, tạo dựng nền hành chính, phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, xác lập chủ quyền và bảo
vệ an ninh quốc phòng trên vùng đất mới
Cùng với nguồn tư liệu thư tịch và tài liệu tham khảo khác được hệ thống hóa, những luận điểm khoa học trên đây và một số nhận định đánh giá của luận án
về tầng lớp địa chủ trên vùng đất ĐBSCL góp tiếng nói vào quá trình nhận thức mới về các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn cũng như công cuộc khai phá ĐBSCL, về một giai tầng xã hội mà ngày nay cần được nhìn nhận chân đúng với vai trò vị trí lịch sử và sứ mệnh của nó
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận
án được chia làm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về công cuộc khai phá ĐBSCL
Chương 2: Tầng lớp địa chủ hình thành và phát triển trong công cuộc khai phá ĐBSCL thế kỷ XVII - XVIII
Chương 3: Tầng lớp địa chủ với quá trình khai phá và phát triển ĐBSCL nửa đầu thế kỷ XIX
Trang 37Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG CUỘC KHAI PHÁ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
1.1 Thực trạng Đồng bằng sông Cửu Long trước khi người Việt xuất hiện
ĐBSCL có địa hình tương đối bằng phẳng, với độ cao trung bình là 3 - 5m, tuy nhiên có khu vực độ cao dao động từ 0,5 - 1m so với mặt nước biển ĐBSCL là vùng đất được hình thành từ những trầm tích phù sa và bồi dần qua những kỷ nguyên thay đổi mực nước biển, qua từng giai đoạn kéo theo sự hình thành những giồng cát dọc theo bờ biển Những hoạt động hỗn hợp của sông và biển đã hình thành những vạt đất phù sa phì nhiêu dọc theo đê ven sông lẫn dọc theo một số giồng cát ven biển và đất phèn trên trầm tích đầm mặn trũng thấp như vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên - Hà Tiên, tây nam sông Hậu và bán đảo Cà Mau
ĐBSCL là vùng sông nước, có kênh rạch chằng chịt khắp nơi, có những giồng đất cao, do phù sa bồi đắp, ở vùng ven sông các giồng đất cao hơn và thấp dần về phía biển, là những vùng đất khô ráo, đất phù sa mới được lắng tụ trong môi trường nước ngọt nên rất màu mỡ, thuận lợi cho việc cư trú, trồng trọt các loại lúa
và các loại cây trồng
Ngoài ra, ĐBSCL cũng có một số vùng trũng, thấp hơn mực nước biển như Đồng Tháp Mười nên thường xuyên bị ngập lụt vào mùa nước lũ và khô hạn vào mùa nắng ĐBSCL có một phần diện tích rất lớn là đất phèn không thuận lợi cho nông nghiệp Bên cạnh đó, đất nhiễm mặn cũng chiếm một diện tích lớn ở các khu vực ven biển và các cửa sông
ĐBSCL là khu vực có khí hậu nhiệt đới ẩm với tính chất cận xích đạo thể hiện rõ rệt Nhiệt độ trung bình hàng năm dao động từ 24 - 300C, chênh lệch nhiệt
độ giữa ngày và đêm thấp Đặc biệt vùng đất này rất ít có bão, hạn hán hoặc nhiễu loạn thời tiết Khí hậu ở đây có hai mùa rõ rệt: mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa chiếm tới 99% tổng lượng mưa của cả năm; mùa khô từ tháng
Trang 3812 đến tháng 4 năm sau, hầu như không có mưa Với điều kiện khí hậu như trên, vùng đất này khá thích hợp cho các sinh vật sinh trưởng và phát triển, tạo ra một thảm thực vật và một quần thể động vật phong phú đa dạng Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức sản xuất và phát triển sản xuất lương thực - thực phẩm, phát triển sản xuất chế biến sản phẩm nông - thuỷ - hải sản lớn nhất cả nước
Do quá trình kiến tạo lâu dài của địa chất, lại được phù sa bồi tụ, vùng ĐBSCL có các loại đất sau:
- Đất phù sa: phân bố chủ yếu ở vùng ven và giữa hệ thống sông Tiền và sông Hậu, diện tích 1,2 triệu ha chiếm 29,7% diện tích đất tự nhiên toàn vùng và khoảng 1/3 diện tích đất phù sa của cả nước Nhóm đất này có độ phì cao và cân đối, thích hợp đối với nhiều loại cây trồng lúa, cây ăn quả, hoa màu
- Đất phèn: phân bố ở vùng Đồng Tháp Mười và Hà Tiên, vùng trũng trung tâm bản đảo Cà Mau với tổng diện tích 1,2 triệu ha chiếm 40% diện tích toàn vùng Đất có hàm lượng độc tố cao, tính chất cơ lý yếu, nứt nẻ nhanh
- Đất xám: Diện tích trên 134.000 ha chiếm 3,4% diện tích toàn vùng, phân
bố chủ yếu dọc biên giới Campuchia, trên các bậc thềm phù sa cổ vùng Đồng Tháp Mười Đất nhẹ, tơi xốp, độ phì thấp, độc tố bình thường
Ngoài ra còn có các nhóm đất khác như đất cát giồng, than bùn, đất đỏ vàng, đất xói mòn,… chiếm diện tích không đáng kể khoảng 0,9% diện tích toàn vùng
Do vậy, đất đai ở đây rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, thích hợp trồng lúa, cau, các loại cây ăn trái như: dừa, mía, dứa, bưởi, hồng xiêm,
Hệ thống sông lớn nhất của vùng là sông Mékông bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng (Trung Quốc), với chiều dài 4800 km, chảy qua Trung Quốc, Mianma, Thái Lan, Lào, Campuchia và cuối cùng là Việt Nam rồi ra biển bằng 9 cửa sông Chảy vào Việt Nam, sông Mékông chia làm hai nhánh sông Tiền và sông Hậu, lượng nước trung bình hàng năm của sông này cung cấp vào khoảng 4.000 tỷ m³ nước và khoảng 100 triệu tấn phù sa Trong đó, sông Tiền chiếm 79% và sông Hậu chiếm 21% Chế độ thuỷ văn thay đổi theo mùa Mùa mưa nước sông lớn vào tháng
9, tháng 10 làm ngập các vùng trũng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên Về mùa này, nước sông mang nhiều phù sa bồi đắp cho đồng bằng Về mùa khô, lượng
Trang 39nước giảm nhiều, làm cho thuỷ triều lấn sâu vào đồng bằng làm vùng đất ven biển
bị nhiễm mặn nghiêm trọng Chế độ nước ngầm khá phức tạp, phần lớn ở độ sâu
100 mét Nếu khai thác quá nhiều có thể làm nhiễm mặn trong vùng
ĐBSCL nằm trong khu vực có đường giao thông hàng hải quan trọng, có đường bờ biển dài khoảng 700km với 25 cửa lạch lớn nhỏ, nhiều cửa trong đó khá sâu và kín gió cùng với hệ thống sông lớn ăn sâu vào nội địa thuận lợi cho thuyền
bè qua lại, ra vô mua bán nông sản
Do tài nguyên của ĐBCL chủ yếu là đất và nước nên có thể thấy, thế mạnh của vùng chủ yếu là lúa gạo, nông sản và thủy hải sản Ngoài ra, ở đây còn có một lượng lâm sản và động vật tương đối lớn từ các rừng ngập mặn Than bùn rộng khoảng 8000 ha và dày 2m ở rừng U Minh là nguồn nhiên liệu quý và là nguồn phân bón có giá trị [65, tr 22]
Nhìn chung, với những điều kiện tự nhiên ở ĐBSCL, có thể thấy vùng đất này chứa đựng nhiều yếu tố cơ bản thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nông - lâm
- ngư nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp trồng lúa nước Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi, vùng ĐBSCL cũng đối mặt với nhiều yếu tố khó khăn như nhiều vùng đất bị ngập mặn, nhiễm phèn, ngập úng vào mùa mưa Nơi đây còn có nhiều thú dữ gây nguy hiểm cho con người và nông nghiệp như sâu bọ, rắn rết, cọp, cá sấu,… Những lưu dân Việt khi đặt chân đến vùng ĐBSCL đã phải đối mặt với cả những yếu tố thuận lợi lẫn khó khăn để tiến hành khẩn hoang, khai phá vùng đất nhiều tiềm năng nhưng cũng đầy thách thức ở phương Nam
Về lịch sử: Vào cuối thời kỳ đồng thau, sơ kỳ đồ sắt, dưới ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ, vào khoảng đầu Công nguyên, vùng đất Gia Định bước vào thời kỳ lập quốc Dựa vào những ghi chép trong các thư tịch cổ vào khoảng thời gian đó, ở phía nam của Lâm Ấp (Champa) xuất hiện một quốc gia có tên gọi là Phù Nam, tương ứng
với vùng đất Nam Bộ ngày nay Những sử liệu đề cập đến Phù Nam là Dị vật chí của Dương Phù thời Đông Hán, Lương thư, Phù Nam thổ tục (Phù Nam truyện), Trần thư,
Tùy thư, Thông điển, Tân Đường thư, đều ghi chép khá kỹ về quốc gia này trong mối
quan hệ với các triều đại phong kiến Trung Quốc
Trang 40Năm 1944, nhà khảo cổ học Pháp - Louis Malleret đã tiến hành cuộc khai quật ở
Óc Eo, một cánh đồng gần núi Ba Thê nay thuộc xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh
An Giang Nhiều di tích kiến trúc và hiện vật quý được phát lộ qua cuộc khai quật có ý nghĩa lịch sử này Những di vật được tìm thấy trong các di chỉ này cũng như các di chỉ khác được phát hiện sau đó thuộc văn hóa Óc Eo đã chứng minh dấu tích văn hóa vật chất của nước Phù Nam Niên đại của nó phù hợp với những ghi chép trong thư tịch cổ
Những phát hiện mới về văn hóa Óc Eo cho thấy nền văn hóa này phân bố khá dày đặc trên một diện rộng, ở địa bàn các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang và nhiều địa điểm khác thuộc ĐBSCL Nhiều chứng tích văn hóa tiền Óc Eo trên đất ĐBSCL cho thấy đây là một nền văn hóa có nguồn gốc bản địa mà trung tâm là vùng ĐBSCL và có mối quan hệ giao lưu rộng rãi với các vùng lân cận, kể cả mối liên
hệ mật thiết với Trung Quốc, Ấn Độ, Tây Á, Địa Trung Hải thông qua những di chỉ, hiện vật được phát hiện Đặc biệt là truyền thống hàng hải và thương mại khá phát triển
Một loạt các di tích, di chỉ như gò Cây Tung (An Giang), Lộc Giang, gò Cao Su (Long An), giồng Phệt, giồng Cá Vồ (Tp.HCM), góp phần khẳng định nguồn gốc bản địa của văn hóa Óc Eo phát triển trên nền tảng văn hóa Đồng Nai, có quan hệ mật thiết với văn hóa Sa Quỳnh ở miền Trung với chủ nhân chủ yếu là những cư dân Mã Lai - Đa Đảo
Theo Lương thư, tiếng nói phổ biến của cư dân Phù Nam giống với tiếng Mã Lai,
khác hẳn với các cư dân nói tiếng Nam Á ở vùng Đông Nam Á lục địa Quốc gia Phù Nam sử dụng chữ Phạn (Sanskrit) có nguồn gốc từ Ấn Độ Tang lễ, hôn nhân của Phù Nam cũng gần giống với Lâm Ấp thuộc loại hình văn hóa Mã Lai - Đa Đảo Các hiện vật tìm thấy trong các di chỉ thuộc văn hóa Óc Eo cho biết nghề đánh cá đã khá phát triển Họ cũng giỏi việc làm thủy lợi, khai phá, canh tác các đồng trũng thấp ven biển, còn thấy qua dấu vết của hệ thống kênh đào, tưới tiêu
Từ thế kỷ III đến thế kỷ VI, Phù Nam phát triển thành một đế chế hùng mạnh trong khu vực Các vua Phù Nam bắt đầu từ đời thứ V là Phạm Mạn liên tục thôn tính hơn 10 nước, mở rộng lãnh thổ bao gồm các nước Đô Côn, Cửu Trì, Đốn Tốn, Xích Thổ, Bàn Bàn, Đan Đan, Đến thế kỷ thứ V, tiểu quốc của người Khmer ở vùng Biển
Hồ Tongle Sap cũng trở thành thuộc quốc của Phù Nam Trong thời cường thịnh, Phù