Quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam “Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội và chăm lo xây dựng giai cấp công n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
-o0o -
PHẠM THỊ MINH NGUYỆT
VẤN ĐỀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA CÔNG NHÂN
TỈNH ĐỒNG NAI HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
-o0o -
PHẠM THỊ MINH NGUYỆT
VẤN ĐỀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA CÔNG NHÂN
TỈNH ĐỒNG NAI HIỆN NAY
Phản biện 1: PGS.TS Đinh Ngọc Thạch Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Thế Nghĩa Phản biện 3: PGS.TS Vũ Đức Khiển
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân, dưới sự hướng
dẫn khoa học của TS Trần Chí Mỹ và TS Bùi Bá Linh Tôi xin hoàn toàn
chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của công trình khoa học này
Trang 4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
APHEDA: Australian People for Health, Education and Development Abroad
(Tổ chức Nhân dân Australia vì Y tế, Giáo dục và Phát triển Hải ngoại)
HDI: Human Development Index
(Chỉ số phát triển con người)
ILO: International Labour Organization
(Tổ chức Lao động Quốc tế)
InWent: Internationale Weiterbildung und Entwicklung
(Tổ chức Bồi dưỡng và Nâng cao Năng lực Quốc tế)
UNESCO: The United Nations Educational, Scientific and Cultural
Organization
(Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc)
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM HIỆN NAY 24
1.1 ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN VÀ NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM HIỆN NAY 24
1.1.1 Khái niệm văn hóa, văn hóa tinh thần và đời sống văn hóa tinh thần 24
1.1.2 Đặc trưng cơ bản của đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay 41
1.2 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM HIỆN NAY 56
1.2.1 Tác động của đời sống vật chất, kinh tế của công nhân 56
1.2.2 Ảnh hưởng của truyền thống dân tộc Việt Nam 58
1.2.3 Tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 60
1.2.4 Tác động của quá trình phát triển kinh tế thị trường 63
1.2.5 Tác động của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế 67
1.2.6 Sự định hướng của đường lối, chính sách văn hóa của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam 70
1.3 TÍNH TẤT YẾU VÀ YÊU CẦU CỦA QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM HIỆN NAY 71
1.3.1 Tính tất yếu của quá trình xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay 71
1.3.2 Một số yêu cầu đối với nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 90
Trang 6Chương 2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA CÔNG NHÂN TỈNH ĐỒNG NAI, NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI
HỌC KINH NGHIỆM 92
2.1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH ĐỒNG NAI VÀ CÔNG NHÂN TỈNH ĐỒNG NAI 92
2.1.1 Đặc điểm lịch sử, địa lý - tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai 92
2.1.2 Đặc điểm của công nhân và đời sống văn hóa tinh thần của công nhân ở tỉnh Đồng Nai 98
2.2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA CÔNG NHÂN TỈNH ĐỒNG NAI 110
2.2.1 Trong lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống 110
2.2.2 Trong lĩnh vực giáo dục 122
2.2.3 Trong lĩnh vực khoa học 128
2.2.4 Trong lĩnh vực nghệ thuật 139
2.3 NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG THÀNH TỰU, HẠN CHẾ TRONG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA CÔNG NHÂN TỈNH ĐỒNG NAI VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 145
2.3.1 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế trong xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân tỉnh Đồng Nai những năm qua 145
2.3.2 Một số bài học kinh nghiệm trong xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân tỉnh Đồng Nai những năm qua 160
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 164
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA CÔNG NHÂN TỈNH ĐỒNG NAI HIỆN NAY 167
3.1 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA CÔNG NHÂN TỈNH ĐỒNG NAI HIỆN NAY 167
3.1.1 Về tư tưởng, đạo đức, lối sống 167
Trang 73.1.2 Về giáo dục và khoa học 169
3.1.3 Về định hướng và đáp ứng nhu cầu nghệ thuật của công nhân 170
3.1.4 Về điều kiện vật chất của việc xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân 171
3.2 PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA CÔNG NHÂN TỈNH ĐỒNG NAI HIỆN NAY 173
3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA CÔNG NHÂN TỈNH ĐỒNG NAI HIỆN NAY 179
3.3.1 Cải thiện và từng bước nâng cao đời sống vật chất của công nhân tỉnh Đồng Nai, nhất là công nhân nhập cư 179
3.3.2 Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn xã hội, trước hết là của người đứng đầu của các tổ chức đảng, công đoàn, doanh nghiệp và của bản thân người công nhân ở Đồng Nai về nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân trên địa bàn tỉnh 182
3.3.3 Xây dựng, hoàn thiện và thực thi đầy đủ các quy định, các chính sách về xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân trên toàn tỉnh Đồng Nai 197
3.3.4 Phát triển giáo dục – đào tạo toàn diện nhằm đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài của nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân ở Đồng Nai 204
3.3.5 Đẩy mạnh và đa dạng hóa các hoạt động văn hóa tinh thần nhằm tạo cơ hội và điều kiện cho công nhân tỉnh Đồng Nai nâng cao mức hưởng thụ văn hóa tinh thần 209
3.3.6 Tăng cường đầu tư nguồn lực và phương tiện cho các hoạt động văn hóa tinh thần của công nhân trên toàn tỉnh Đồng Nai 214
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 218
KẾT LUẬN CHUNG 221
TÀI LIỆU THAM KHẢO 227 PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, cùng các giai cấp và tầng lớp khác, giai cấp công nhân Việt Nam có vai trò quan trọng và to lớn: là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong - Đảng Cộng sản, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, lực lượng nòng cốt trong khối liên minh công – nông – trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Để hoàn thành vai trò quan trọng và to lớn đó, giai cấp công nhân nước ta phải được phát triển toàn diện về mọi mặt, trong đó xây dựng đời sống văn hóa tinh thần có ý nghĩa quan trọng, trực tiếp đối với phát triển toàn diện người công nhân
Nhiệm vụ trung tâm của xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân Việt Nam là bồi dưỡng người công nhân Việt Nam thành những con người phát triển toàn diện cả về phẩm chất lẫn năng lực, nhân lên tiềm năng sáng tạo và sức mạnh của người công nhân ngang tầm với nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ phát triển mới của đất nước Sự phát triển của công nghiệp vừa tạo điều kiện vừa đòi hỏi người công nhân phải nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp và tác phong công nghiệp Bước chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường vừa kích thích người công nhân phát huy tính tích cực cá nhân song vừa đặt họ trước những biến đổi phức tạp của cơ chế kinh tế mới đòi hỏi mỗi người phải nỗ lực vươn lên hoàn thiện bản thân để thích nghi với những biến đổi đó Quá trình toàn cầu hóa cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin vừa đem lại cho giai cấp công nhân Việt Nam nhiều cơ hội tiếp thu cái hay, cái mới, cái tinh hoa của văn hóa nhân loại, nâng cao sự hiểu biết, mở rộng tầm nhìn, làm cho đời sống văn hóa tinh thần của người công nhân ngày càng phong phú, tốt đẹp; song lại vừa đặt
họ trước không ít nguy cơ, thách thức, nhất là nguy cơ dao động mục tiêu chủ
Trang 9nghĩa xã hội, phai nhạt lý tưởng, suy thoái đạo đức, lối sống Thêm nữa, lợi dụng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, các thế lực thù địch trong và ngoài nước tăng cường chống phá nước ta trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, xâm nhập, phát tán nhiều tài liệu, văn hóa phẩm phản động, đồi trụy, gây tác động xấu đến đời sống tinh thần của giai cấp công nhân Quá trình phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay vừa thúc đẩy nhanh tiến độ và hiệu quả của tri thức hóa công nhân vừa đặt ra yêu cầu cao đối với người công nhân về năng lực tiếp cận, làm chủ các thành tựu khoa học tiên tiến, khả năng nghiên cứu khoa học, ứng dụng
và sáng tạo công nghệ mới để cải tiến quản lý sản xuất, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, hiện đại hóa nền kinh tế Nhìn một cách tổng thể, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế tri thức ở nước
ta vừa đem lại thời cơ, vận hội mới vừa đặt ra khó khăn, thách thức to lớn đòi hỏi giai cấp công nhân Việt Nam phải được “đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình
độ mọi mặt” [23, tr.48] Do đó, xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân hơn lúc nào hết càng có ý nghĩa cấp bách và quan trọng
Quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam “Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội và chăm lo xây dựng giai cấp công nhân; đảm bảo hài hòa lợi ích giữa công nhân, người sử dụng lao động, Nhà nước và toàn xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của công nhân, quan tâm giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc, cấp bách của giai cấp công nhân” [23, tr.48], Đảng bộ tỉnh Đồng Nai đã xác định “trước hết tập trung nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đội ngũ công nhân là quan trọng nhất” [30, tr.219], trong đó đặc biệt chú trọng nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa tinh thần cho công nhân ở địa phương Trong những năm qua, bằng sự quyết tâm và nỗ lực của toàn thể hệ thống chính trị, giới chủ, nhân dân và bản thân công nhân trong tỉnh, công tác xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân đã có những chuyển biến
Trang 10tích cực Đa số công nhân Đồng Nai có tinh thần yêu nước, có bản lĩnh chính trị, lập trường giai cấp vững vàng, có ý thức tổ chức kỷ luật, có tác phong công nghiệp, có tinh thần năng động, sáng tạo trong lao động sản xuất, có ý chí vươn lên lập thân, lập nghiệp, tích cực học tập nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, có ý thức tích cực tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, có đời sống tinh thần lành mạnh, tốt đẹp Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, quá trình xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân Đồng Nai còn nhiều hạn chế, bất cập, chồng chéo, chậm trễ,
“nhất là khâu cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nhiệm vụ” [30, tr 25 – 26] Bức tranh tổng thể về đời sống văn hóa tinh thần của công nhân trên địa bàn tỉnh Đồng Nai vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn
kỹ thuật của nhiều công nhân chưa theo kịp yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đặc biệt đội ngũ chuyên gia kỹ thuật, cán
bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề thiếu trầm trọng ở tất cả các ngành nghề, các lĩnh vực, các thành phần kinh tế Sự dao động về tư tưởng, xa rời mục tiêu
lý tưởng xã hội chủ nghĩa, suy giảm về bản lĩnh chính trị, giác ngộ giai cấp, yếu
về ý thức tổ chức kỷ luật, thiếu tinh thần đoàn kết, thiếu tinh thần trách nhiệm đối với công việc, với bản thân, với xã hội, có diễn biến lệch lạc trong lối sống,
dễ sa lầy vào các tệ nạn xã hội, đang có biểu hiện gia tăng trong một bộ phận không nhỏ công nhân ở tỉnh Đồng Nai Hiện tượng trên đã và đang ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe thể chất và tinh thần của người công nhân, làm suy giảm năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động, làm què quặt nhân cách mỗi con người, kìm hãm tài năng và sức sáng tạo của mỗi cá nhân, làm suy yếu chất lượng nguồn nhân lực, và tất yếu “làm ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà” [114, tr.78] Không những vậy, hiện tượng đó cũng phần nào phản ánh tình trạng mất cân đối trong chiến lược phát triển khi mà tăng trưởng kinh tế chưa đảm bảo gắn kết hài hòa, hợp lý với đảm bảo an sinh xã hội, “chất lượng cuộc sống không theo kịp đà tăng
Trang 11trưởng kinh tế và ngày càng doãn cách” [30, tr.218] Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng và tìm kiếm giải pháp xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân tỉnh Đồng Nai hiện nay được tiếp tục đặt ra, đòi hỏi phải được nghiên cứu, nhận thức và xử lý đúng đắn nhằm nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của công nhân trên địa bàn tỉnh ngày càng cao đẹp, thúc đẩy giai cấp tiên phong phát triển toàn diện vì sự thắng lợi của mục tiêu xây dựng Đồng Nai thành tỉnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa vào năm 2020
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Đề tài đời sống văn hóa tinh thần của con người và xã hội nói chung, đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân nói riêng đã được nhiều tổ chức,
cá nhân, nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Rất nhiều công trình về chủ đề này đã được công bố trong thời gian qua, song có thể khái quát các công trình đó theo một số hướng chính sau:
Thứ nhất, nghiên cứu về đời sống văn hóa tinh thần của con người và xã
hội nói chung, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:
Ở nước ngoài, chủ đề nghiên cứu về đời sống văn hóa tinh thần của con
người và xã hội nói chung có công trình “Hiện đại hóa, biến đổi văn hóa và sự
duy trì những giá trị văn hóa truyền thống” của Ronald Inghart và Waye
E.Baker xuất bản năm 2000, do Bùi Lưu Phi Khanh dịch Tác giả đã phân tích
về sự biến đổi văn hóa nói chung, sự biến đổi đời sống tinh thần nói riêng của con người dưới sự tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Ở Việt Nam, khi đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới – đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế thì đề tài về đời sống văn hóa tinh thần của con người và xã hội đã được nhiều học giả, nhà khoa học nghiên cứu, phân tích theo nhiều chiều cạnh và mức
độ khác nhau Tiêu biểu có một số công trình nổi bật sau:
Cuốn sách “Những vấn đề thời sự văn hóa” của Huỳnh Khái Vinh, Nxb
Văn hóa thông tin, năm 1998, là công trình tổng hợp nhiều bài viết của tác giả
Trang 12được đăng trên các tạp chí, các báo trong nước Các bài viết đã bàn đến nhiều lĩnh vực của văn hóa tinh thần như: tư tưởng, đạo đức, lối sống, khoa học, giáo dục, văn học nghệ thuật,…; phân tích làm rõ chức năng, vai trò của văn hóa và các lĩnh vực của văn hóa tinh thần, đường lối chính sách phát triển văn hóa và xây dựng con người, thực trạng và giải pháp xây dựng và phát triển các lĩnh vực
đa dạng của văn hóa tinh thần
Cuốn sách “Văn hóa trong quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay” do
Trần Văn Bính chủ biên, Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1998, đã phân tích những biến đổi trong đời sống văn hóa tinh thần của con người dưới sự tác động của quá trình đô thị hóa ở nước ta, chỉ ra hiện trạng quản lý văn hóa đô thị trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đề xuất một số giải pháp xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của con người trong quá trình đô thị hóa hiện nay
Đề tài “Xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ở thành phố Hồ Chí Minh
trong giai đoạn hiện nay” của Trần Chí Mỹ, Luận án tiến sĩ triết học, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 2002, đã tập trung phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ở thành phố Hồ Chí Minh; trên cơ sở đó đã xác định phương hướng và đề xuất một số giải pháp tiếp tục xây dựng đời sống văn hóa tinh thần ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
Cuốn sách “Phát triển văn hóa và xây dựng con người thời kì công
nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Phạm Minh Hạc, Nguyễn Khoa Điềm, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2003, phân tích làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển con người, về mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển trong thời kỳ mới, về phát triển toàn diện con người
và xây dựng lối sống, đạo đức và chuẩn giá trị mới; đồng thời các tác giả cũng
đã đề xuất một số khuyến nghị và giải pháp cho các vấn đề nêu trên
Đề tài “Nhân tố văn hóa tinh thần trong nền kinh tế thị trường Việt Nam”
Trang 13của Vũ Đức Khiển, Luận án tiến sĩ triết học, Viện Khoa học xã hội vùng Đông
Nam bộ, năm 2005 Tác giả đã phân tích làm rõ những điều kiện hình thành giá trị văn hóa tinh thần truyền thống Việt Nam, hệ thống hóa các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống cơ bản của dân tộc Việt Nam, ảnh hưởng và vai trò của văn hóa tinh thần đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đề xuất một
số giải pháp góp phần giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa tinh thần trong nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
Công trình “Đời sống văn hóa và xu hướng phát triển văn hóa vùng đô
thị và khu công nghiệp trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, chương
trình Khoa học Công nghệ cấp Nhà nước, mã số KX 05.03 do Đình Quang làm chủ nhiệm Thông qua việc nghiên cứu thực tế đời sống văn hóa ở bốn địa phương có tốc độ đô thị hóa nhanh và có thế mạnh phát triển khu công nghiệp là: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà N ng và Bình Dương, tác giả đã đánh giá khá rõ nét về thực trạng đời sống văn hóa ở vùng đô thị và một số khu công nghiệp ở nước ta, xu hướng phát triển văn hóa ở các đô thị công nghiệp; chỉ ra thành tựu và mặt hạn chế trong đời sống văn hóa so với các tiêu chí văn hóa vùng đô thị và khu công nghiệp của một xã hội mới; đồng thời đề ra những giải pháp cụ thể để trong tương lai cư dân đô thị và khu công nghiệp nước ta có được đời sống văn hóa theo định hướng tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc phù hợp với tiêu chí của một xã hội công nghiệp hiện đại, của thời đại kinh tế tri thức và tiến trình toàn cầu hóa
Cuốn sách “Văn hóa và con người Việt Nam trong đổi mới và hội nhập
quốc tế” của Hoàng Chí Bảo, Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2010, đã phân tích
khá sâu sắc ý nghĩa và tầm quan trọng của sự nghiệp xây dựng văn hóa đối với
sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam cũng như đối với sự phát triển bền vững của dân tộc Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế
Công trình “Xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong
tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế” do Dương Phú Hiệp làm chủ nhiệm,
Trang 14chương trình Khoa học Công nghệ cấp Nhà nước, mã số KX.03/06-10, năm 2010,
đã đánh giá thực trạng xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong hơn hai mươi năm đổi mới; xác định những yêu cầu đặt ra đối với việc nâng cao nguồn nhân lực và xây dựng nhân cách văn hoá của con người Việt Nam trong thời kỳ phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, của toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế; cung cấp luận cứ khoa học, cơ sở thực tiễn để xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế;
đề xuất hệ quan điểm, các chính sách, giải pháp và lộ trình xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI
Toạ đàm “Phương pháp luận đánh giá thực trạng đời sống văn hoá tinh
thần ở nước ta trong 30 năm đổi mới” là hoạt động khoa học nằm trong đề án
“Đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân các tầng lớp, các vùng, miền trong cả
nước” được tổ chức tại Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hà Nội vào
tháng 01 năm 2012 Các ý kiến tại buổi tọa đàm đã tập trung phân tích các vấn đề
về phương pháp tiếp cận và phương pháp luận nghiên cứu đánh giá thực trạng đời
sống văn hoá tinh thần, khái niệm và cấu trúc các thành tố cơ bản của đời sống
văn hoá tinh thần, xây dựng các tiêu chí đánh giá thực trạng đời sống văn hoá tinh thần ở nước ta hiện nay, những vấn đề đặt ra trong đời sống văn hoá tinh thần của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, cùng với đó là các giải pháp xây dựng, phát
triển đời sống văn hoá tinh thần ở nước ta ngày càng cao đẹp
Thứ hai, nghiên cứu về đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công
nhân, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:
Ở nước ngoài, chủ đề về đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công
nhân đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu khá sớm với số lượng công trình khá phong phú, trong đó nổi bật là một số công trình sau:
Lý thuyết “con người xã hội" do trường phái “Quan hệ con người” ở
Mỹ đưa ra vào đầu thế kỷ XX đã xem xét người công nhân với tư cách là một thực thể xã hội, một sinh vật có ý thức nên để phát huy được tốt năng lực và sức
Trang 15sáng tạo của người công nhân, bên cạnh đáp ứng các nhu cầu tồn tại thiết yếu, cần phải chú trọng việc đáp ứng các nhu cầu xã hội cho họ như: giao tiếp, tâm
lý, học tập, sinh hoạt văn hóa tinh thần, nhu cầu tiến thân và cống hiến cho cộng đồng, xã hội… Như vậy, lý thuyết này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đáp ứng các nhu cầu tinh thần đối với phát huy vai trò chủ quan của người công nhân trong hoạt động thực tiễn; song điểm hạn chế của lý thuyết này là khi xem xét về con người – người công nhân, đã không chú ý đến vai trò của các yếu tố khách quan bên ngoài như kinh tế, chính trị, xã hội Mặt khác, việc nghiên cứu
lý thuyết nhân tố con người - công nhân nêu trên chỉ nhằm mục đích khai thác mọi tiềm năng của người công nhân vì lợi nhuận tối đa cho giới chủ, chứ không phải xuất phát từ tính nhân văn coi công nhân là chủ thể quá trình phát triển kinh tế- xã hội và là mục tiêu của phát triển kinh tế
Cuốn sách “Cơ sở lý luận văn hóa Mác – Lênin” của A.I Ác-nôn-đốp
chủ biên, Nxb Văn hóa, năm 1984, là công trình nghiên cứu khá đồ sộ của tập thể các nhà khoa học đầu ngành về văn hóa ở Liên Xô cũ Công trình đã luận giải một cách có hệ thống về một loạt các vấn đề như: khái niệm văn hóa và quy luật phát triển văn hóa; văn hóa xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân và vai trò của giai cấp công nhân trong sự phát triển văn hóa xã hội chủ nghĩa; vai trò của
văn hóa xã hội chủ nghĩa trong đời sống tinh thần của nhân loại ngày nay,…
Bài viết “Hiện trạng giai cấp công nhân Trung Quốc” của Lưu Thực,
do Đặng Thúy Hà – Nguyễn Thanh Giang dịch, đăng trên tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 6 (76)-2007, tr.28-34, đã phản ánh khá chân thực hiện trạng bần cùng hóa về đời sống vật chất và tinh thần, vô quyền hóa về quyền lợi chính trị -
xã hội của giai cấp công nhân Trung Quốc hiện nay Đồng thời trong bài viết này, tác giả cũng đã đưa ra một số kiến nghị để xoay chuyển hiện trạng giai cấp công nhân Trung Quốc, nhất là nhấn mạnh đến việc phát huy vai trò quan trọng của công đoàn trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công nhân
Trang 16Ở Việt Nam, vấn đề xây dựng giai cấp công nhân nói chung, xây dựng đời
sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân nói riêng đã được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm, coi trọng và đã ban hành nhiều nghị quyết, quyết định, đề án nhằm tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với việc giải quyết những vấn đề này,
như: Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa X về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Quyết định 1780/QĐ-TTg ngày 12/10/2011 của Thủ
tướng Chính phủ về Phê duyệt Đề án Xây dựng đời sống văn hóa công nhân ở
các khu công nghiệp đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 và Quyết định về
việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số
79-KL/TW ngày 25 tháng 12 năm 2013 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28 tháng 01 năm 2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Song song đó, chủ đề xây dựng
đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân cũng đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhiều tổ chức, nhà khoa học đi sâu nghiên cứu với nhiều hình thức và cấp độ khác nhau Tiêu biểu cho các công trình nghiên cứu đã được công bố về chủ đề này có thể kể đến các công trình sau:
Cuốn sách “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam - Lý luận và
thực tiễn” do Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Thế Nghĩa và Đặng Hữu Toàn chủ
biên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2002, là công trình khoa học công phu, tập hợp nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học trong nước Công trình đã tập trung phân tích làm rõ mối quan hệ giữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa với phát triển con người, với xây dựng đời sống tinh thần, với phát triển kinh tế thị trường, với giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ Đặc biệt trong phần thứ hai, phần thứ ba, phần thứ năm của cuốn sách, các tác giả đã luận giải sâu sắc về vai trò của văn hóa, của giáo dục đào tạo, của khoa học công nghệ đối với xây dựng và phát triển giai cấp công nhân; đánh giá về thực trạng
Trang 17và xu hướng phát triển của đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân; đồng thời đề xuất một số giải pháp xây dựng đời sống văn hóa tinh thần nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực công nhân ngang tầm với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Công trình “Đời sống văn hoá của công nhân các khu chế xuất ở thành
phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp” do Phan Công Khanh làm chủ
nhiệm, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh làm chủ trì, năm 2006 và công
trình “Đời sống văn hóa, tinh thần của công nhân ở các khu chế xuất, khu công
nghiệp thành phố Hồ Chí Minh” của Phạm Đình Nghiệm, chương trình nghiên
cứu khoa học của Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, năm
2007, là những đề tài khoa học phân tích khá sâu sắc về đời sống văn hóa, tinh thần của công nhân khu công nghiệp ở địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Trên cơ
sở khảo sát đời sống văn hóa, tinh thần của công nhân tại một số khu công nghiệp, khu chế xuất trên địa bàn thành phố, công trình đã chỉ ra hiện trạng thấp kém, nghèo nàn, đơn điệu trong đời sống tinh thần của công nhân, những hạn chế, bất cập của Đảng bộ và chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh trong thực thi chính sách chăm lo đời sống tinh thần của công nhân, nguyên nhân của hạn chế; đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao đời sống tinh thần của công nhân ở các khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Cuốn sách “Góp phần xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam từ thực
trạng công nhân Thành phố Hồ Chí Minh” do Nguyễn Đăng Thành chủ biên,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2008, là công trình nghiên cứu công phu
về đội ngũ công nhân Thành phố Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới đất nước Tác giả đã có sự khảo sát, phân tích, đánh giá sâu sắc về thực trạng đời sống tinh thần của công nhân Thành phố Hồ Chí Minh, tình hình thực hiện các chính sách và pháp luật về chăm lo xây dựng công nhân của thành phố trong những năm qua, trên cơ sở đó đã đề xuất một số giải pháp và kiến nghị về xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân nhằm phát huy hơn nữa vai trò
Trang 18của công nhân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Quan điểm về xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công
nhân Việt Nam được phân tích sâu sắc trong cuốn sách “Xây dựng và phát triển
đời sống văn hoá của giai cấp công nhân Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” do Nguyễn Văn Nhật chủ biên, Nxb Khoa học Xã hội, năm 2010
Công trình này là sản phẩm nghiên cứu của chương trình Khoa học Công nghệ
cấp Nhà nước “Xây dựng và phát triển văn hóa của giai cấp công nhân Việt Nam
trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế”, mã số KX.03.17/06 Dựa trên số
liệu thu thập được từ việc thực hiện khảo sát trên 1.400 công nhân thuộc các loại hình doanh nghiệp ở một số tỉnh công nghiệp tiêu biểu của cả ba miền Bắc, Trung, Nam, đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng đời sống văn hóa của giai cấp công nhân trên các mặt cơ bản: việc làm và điều kiện làm việc, thu nhập và điều kiện sống, vấn đề nhà ở, nhận thức chính trị - xã hội, quan hệ lao động tại doanh nghiệp, đời sống tinh thần; qua đó nắm bắt, phản ánh tình cảm, tâm tư, nguyện vọng cùng những vấn đề bức xúc của công nhân tại các doanh nghiệp, nhất là công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Xuất phát từ thực trạng đời sống văn hóa của giai công nhân hiện nay đồng thời trên cơ sở tham khảo đời sống văn hoá công nhân tại một số nước, đề tài cũng đề xuất các quan điểm và hệ thống giải pháp nhằm xây dựng và phát triển đời sống văn hóa của giai cấp công nhân đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
Cuốn sách “Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam giai đoạn 2011 –
2020” của Đặng Ngọc Tùng, Nxb Lao động, năm 2011 Trên cơ sở luận giải
một số vấn đề lý luận về giai cấp công nhân Việt Nam, tác giả đã đi sâu nghiên cứu về những thuận lợi và khó khăn, thành tựu và hạn chế trong xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam, trong đó có những phân tích, đánh giá khá rõ nét về thực trạng đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân trên một số mặt như: trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, đời sống tinh thần, tình cảm giai
Trang 19cấp, ý thức chính trị; chỉ ra nguyên nhân và bài học kinh nghiệm Đồng thời, tác giả đã đề xuất một số giải pháp xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam nói chung, xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân nói riêng trong giai đoạn 2010 – 2020, tầm nhìn tới năm 2030
Cuốn sách “Xây dựng, phát triển văn hóa giai cấp công nhân trong quá
trình hội nhập quốc tế” của Lê Thanh Hà, Nxb Lao động, Hà Nội, năm 2011,
đã làm rõ một số vấn đề lý luận về đời sống văn hóa của giai cấp công nhân Việt Nam, tác động của hội nhập quốc tế đối với đời sống văn hóa công nhân, phân tích thực trạng đời sống văn hóa của giai cấp công nhân Việt Nam và vai trò của Công đoàn trên các góc độ như: trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật,
kỹ năng làm việc, nhận thức chính trị xã hội, năng lực hoạt động văn hóa thể thao và thưởng thức văn học nghệ thuật của công nhân; vai trò của công đoàn trong việc xây dựng đời sống văn hóa cho công nhân; các hoạt động phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của công nhân; các yếu tố tác động đến hoạt động và thực trạng hoạt động văn hóa tinh thần của công nhân; đồng thời qua đó đề xuất một số giải pháp xây dựng đời sống văn hóa của giai cấp công nhân trong thời
kỳ phát triển mới của đất nước, trong đó nhấn mạnh đến phát triển sản xuất, nâng cao đời sống văn hóa công nhân; xây dựng văn hóa doanh nghiệp, thực hiện quy chế dân chủ; xây dựng và hoàn thiện các thiết chế văn hóa phục vụ công nhân lao động; nhận thức đúng và vận dụng sáng tạo quan điểm trí thức hóa công nhân
Công trình “Trí thức hóa công nhân Việt Nam trong hội nhập kinh tế
quốc tế hiện nay” của Bùi Thị Kim Hậu, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm
2012, đã phân tích làm rõ cơ sở lý luận về trí thức hóa công nhân, tính tất yếu và mối quan hệ giữa trí thức hóa công nhân với hội nhập kinh tế quốc tế, những yếu tố tác động đến trí thức hóa công nhân Việt Nam hiện nay; đánh giá thực trạng trí thức hóa công nhân trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh quá trình trí thức hóa công nhân trong điều
Trang 20kiện hội nhập quốc tế hiện nay Cũng trong công trình này, tác giả đã có sự phân tích, đánh giá về thành tựu và hạn chế trong xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân Việt Nam trên các khía cạnh tư tưởng, đạo đức, lối sống, khoa học, giáo dục
Hội thảo “Thực trạng đời sống công nhân vùng kinh tế trọng điểm phía
Nam và vấn đề đặt ra” do Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Dương kết hợp với tạp chí
Cộng sản tổ chức vào tháng 12 năm 2006 đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học Tác giả của các báo cáo khoa học tại hội thảo đều tập trung phân tích về hiện trạng chất lượng giai cấp công nhân ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trên các phương diện: phẩm chất đạo đức, ý thức chính trị, lối sống, tác phong công nghiệp, trình độ chuyên môn kỹ thuật,…; đồng thời chỉ rõ những vấn đề búc xúc, cấp bách đối với lực lượng công nhân tại đây, nổi bật là về: thu nhập, việc làm, nhà ở, học tập, điều kiện làm việc, mức sống, nơi sinh hoạt văn hóa tinh thần,… Tại hội thảo, nhiều giải pháp đã được các nhà nghiên cứu đề xuất, trong đó nhấn mạnh đến việc tổ chức và kiện toàn các tổ chức chính trị - xã hội tại doanh nghiệp, nhất là tổ chức công đoàn, đẩy mạnh đào tạo nghề cho công nhân và phải bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, chế độ chính sách liên quan đến chăm lo đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân
Hội thảo “Xây dựng đời sống văn hóa công nhân lao động ở các khu
công nghiệp đến 2015” do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Tổng
Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức năm 2008, đã phân tích làm rõ tầm quan trọng của nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa tinh thần đối với sự phát triển lớn mạnh của giai cấp công nhân và sự bền vững của khu công nghiệp; xác định
rõ những nhiệm vụ chủ yếu trong xây dựng đời sống văn hóa công nhân lao động ở các khu công nghiệp đến 2015 cùng với hệ thống các giải pháp khả thi, trong đó nhấn mạnh đến việc đẩy mạnh xây dựng thiết chế văn hóa trong và ngoài doanh nghiệp, hoàn thiện hệ thống chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, chăm lo đời sống văn hóa của công nhân, gắn kết xây dựng đời sống văn
Trang 21hóa của công nhân khu công nghiệp với xây dựng đời sống văn hóa của các cộng đồng dân cư xung quanh khu công nghiệp
Hội thảo với những chủ đề như “Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần
cho người lao động tại các khu công nghiệp” do Ban Tư tưởng –Văn hóa Trung
ương, Tổng Liên đoàn Lao động và Bộ Văn hóa - Thông tin phối hợp tổ chức
năm 2006; “Nghiên cứu về tiền lương tối thiểu và mức sống tối thiểu của người
lao động trong khu vực doanh nghiệp” do Viện Công nhân – Công đoàn tổ chức
năm 2011; “Vấn đề lao động và điều kiện sống, làm việc của công nhân khu
công nghiệp, khu kinh tế” do Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức năm 2011; “Tìm kiếm các mô hình và giải pháp hợp lý đảm bảo phúc lợi cho người công nhân”
do Nhóm nghiên cứu đời sống xã hội (Sociallife) thuộc Trung tâm Tư vấn Hướng nghiệp và Phát triển Nguồn nhân lực tổ chức năm 2012, đã tập trung làm rõ thực trạng đời sống tinh thần của người công nhân Tham luận của các tác giả đều thống nhất đánh giá rằng: đời sống văn hóa tinh thần của người công nhân rất khó khăn, nghèo nàn, thiếu thốn; việc thực thi các chính sách liên quan đến việc làm, thu nhập và chính sách an sinh xã hội đối với người công nhân chưa kịp thời và còn nhiều bất cập; vai trò của các cơ quan chức năng, các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân chưa được phát huy hiệu quả Qua hội thảo, các nhà khoa học cũng đã đề xuất nhiều giải pháp quan trọng để nâng cao đời sống tinh thần của người công nhân,
có thể kể đến một số số giải pháp tiêu biểu như: quy hoạch phát triển công nghiệp khu công nghiệp với xây dựng nhà ở và các thiết chế văn hóa phục vụ công nhân, thực hiện chính sách xã hội hóa văn hóa, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho công nhân, tăng cường vai trò của tổ chức Công đoàn, các tổ chức chính trị, đoàn thể tại doanh nghiệp trong công tác chăm lo đời sống tinh thần của công nhân,
Bên cạnh các công trình nghiên cứu, các hội thảo khoa học, vấn đề xây dựng đời sống văn hóa tinh thần còn được phản ánh ở nhiều góc độ khác nhau
Trang 22qua hàng loạt các bài viết được đăng tải trên các tạp chí, báo, các trang web; cụ
thể như: “Sức ép của lao động nhập cư trong các khu công nghiệp và chính
sách đối với họ” của Trần Xuân Cầu trên tạp chí Kinh tế và Phát triển tháng
05/2007, “Cải thiện đời sống văn hóa, tinh thần cho công nhân vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam” của Trần Hùng, Tấn Vũ trên http://dangcongsan.vn ngày
25/7/2008, “Đời sống công nhân lao động còn nhiều nỗi lo” trên http://dangcongsan.vn ngày 16/9/2009, “ Điều kiện lao động và đời sống của
//www.khucongnghiep.com.vn ngày 07/06/2011; “Thực trạng và giải pháp
nhằm nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho công nhân lao động” trên
http://sokhcn.vinhphuc.gov.vn ngày 07/12/2012; “Đời sống văn hóa tinh thần
của đội ngũ công nhân trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh – Đôi điều suy nghĩ” của Trịnh Thị Hiền trên http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn ngày
31/8/2012, “Vài suy nghĩ về đời sống văn hóa tinh thần của nữ công nhân” trên
http://www.tapchicongsan.org.vn ngày 04/02/2013,…
Thứ ba, nghiên cứu về đời sống văn hoá tinh thần của công nhân ở tỉnh
Đồng Nai, tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là một số công trình sau:
Cuốn sách “Lịch sử giai cấp công nhân ở Đồng Nai” của Liên đoàn Lao
động tỉnh Đồng Nai, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, năm 2003, đã khái quát quá trình phát triển của công nhân tỉnh Đồng Nai từ khi hình thành đến những năm đầu của thế kỷ XXI, trong đó đã phân tích thực trạng và xu hướng biến đổi trong đời sống văn hóa tinh thần của công nhân ở địa phương qua các chặng đường phát triển, nhất là trong giai đoạn 15 năm kể từ sau công cuộc đổi mới đất nước
Cuốn sách “Đồng Nai 30 năm xây dựng và phát triển” do Ủy ban Nhân
dân Tỉnh Đồng Nai chủ biên, Xí nghiệp in Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, lưu hành năm 2005, là công trình phản ánh khá rõ nét về tổng thể đời sống kinh
tế, chính trị, văn hóa, xã hội của tỉnh Đồng Nai trên chặng đường 30 năm 2005) xây dựng và phát triển Trong đó, ở những mức độ nhất định, bài viết của
Trang 23(1975-các tác giả cũng đã bàn đến nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân nhằm nâng cao chất lượng của giai cấp tiên phong ngang tầm với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở địa phương
Công trình “Đời sống văn hóa công nhân các khu công nghiệp ở Đồng
Nai” do Sở Văn hóa Thông tin Đồng Nai kết hợp với Viện Nghiên cứu Văn hoá
Nghệ thuật thực hiện vào năm 2005 – 2006, đã khảo sát thực trạng đời sống văn hóa của công nhân tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Trên cơ
sở đó, đề tài cũng đã chỉ ra một số tồn tại trong việc tổ chức đời sống văn hóa tinh thần của công nhân tại các khu công nghiệp, khuyến nghị các chính sách về
tổ chức đời sống văn hóa tinh thần cho công nhân, trong đó tiêu biểu là xây dựng và nhân rộng mô hình sinh hoạt văn hóa cho công nhân tại các cộng đồng dân cư và mô hình sinh hoạt văn hóa cho công nhân tại các doanh nghiệp
Đề tài “Đình công của công nhân – Thực trạng và giải pháp xử lý ở tỉnh
Đồng Nai” do Lưu Văn Sùng, Nguyễn Văn Long làm chủ nhiệm hoàn thành
năm 2007 Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình diễn biến, tính chất, nguyên nhân gây nên đình công của công nhân ở Đồng Nai và những giải pháp xử lý mà Đồng Nai đã thực hiện trong giai đoạn 1995 – 2006, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm ngăn chặn hiệu quả tình trạng đình công của công nhân ở Đồng Nai Một trong giải pháp mà các tác giả của đề tài đề xuất là phải chăm lo đời sống tinh thần của công nhân thông qua thực hiện các chương trình dịch vụ phục vụ người công nhân, quy hoạch và phát triển các thiết chế văn hóa phục vụ công nhân, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn tay nghề của công nhân, đáp ứng nhu cầu hoạt động sáng tạo và hưởng thụ văn hóa tinh thần của công nhân
Công trình “Một số giải pháp phát triển khu công nghiệp tập trung tại
tỉnh Đồng Nai đến năm 2010 và tầm nhìn 2020” của Phan Văn Thanh, Nxb
Công an Nhân dân năm 2009, đã tập trung phân tích những thành tựu và hạn chế, những thuận lợi và khó khăn của Đồng Nai trong quá trình xây dựng và phát triển công nghiệp và khu công nghiệp tập trung trong suốt 25 năm đổi mới,
Trang 24đề xuất một số giải pháp phát triển khu công nghiệp tập trung đến năm 2020 Trong công trình này, tác giả đã đánh giá thực trạng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân ở các khu công nghiệp tại Đồng Nai, đồng thời đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân ở các khu công nghiệp trên địa bàn
Hội thảo “Các vấn đề môi trường, điều kiện sống của công nhân khu
công nghiệp” do Ban Quản lý Khu Công nghiệp Đồng Nai tổ chức năm 2007
Các tham luận được trình bày tại hội thảo đã tập trung phân tích hiện trạng nghèo nàn, thiếu thốn trong đời sống của công nhân, đặc biệt là đời sống tinh thần của
họ, tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, từ đó chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quá trình thực thi các chủ trương, chính sách chăm lo xây dựng
và phát triển giai cấp công nhân ở địa phương những năm qua Đồng thời, các tham luận tại hội thảo cũng đưa ra khuyến nghị Đồng Nai cần quan tâm, chú trọng hơn nữa công tác chăm lo đời sống của công nhân, đặc biệt là đời sống tinh thần của họ, nhằm phát triển giai cấp công nhân tỉnh Đồng Nai lớn mạnh đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở địa phương
Hội thảo “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai và những vấn đề
đặt ra” do Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai phối hợp với Tạp chí Cộng
sản tổ chức năm 2011, đã xác định chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của công nhân tại các khu công nghiệp là một nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế - xã hội ở Đồng Nai Trên cơ sở phân tích, đánh giá về những thành tựu
và hạn chế, thuận lợi và khó khăn của Đồng Nai trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa những năm qua, nhiều tham luận tại hội thảo đã chỉ rõ những vấn đề đang đặt ra đối với Đồng Nai trong giai đoạn hiện nay, nổi bật là: phải đầu tư xây dựng, hoàn thiện hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội tương xứng với tiềm năng của tỉnh, phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng trong và ngoài khu công nghiệp, xây dựng nguồn nhân lực phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
Trang 25của tỉnh, trong đó cần chú trọng giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho giai cấp công nhân ở địa phương
Hội thảo “Xây dựng môi trường sống cho công nhân xung quanh các
khu công nghiệp tại Việt Nam” do Đại sứ quán Nhật Bản và Bộ Kế hoạch Đầu
tư phối hợp với Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tổ chức vào năm
2010 Tỉnh Đồng Nai được nhóm nghiên cứu của JICA chọn là nơi để tiến hành nghiên cứu Các báo cáo tham luận tại hội thảo đã chỉ ra hiện trạng xây dựng môi trường sống cho công nhân xung quanh khu công nghiệp tại tỉnh Đồng Nai,
cụ thể như: công tác quy hoạch xây dựng và quản lý cơ sở hạ tầng xã hội xung quanh các khu công nghiệp vừa thiếu vừa chưa đồng bộ, tình hình an ninh trật tự
xã hội xung quanh khu công nghiệp diễn biến phức tạp Do đó, công nhân khu công nghiệp gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, đáng chú ý là cơ hội tiếp cận
và thỏa mãn nhu cầu hoạt động sáng tạo và hưởng thụ văn hóa tinh thần của họ chưa được đảm bảo; đây chính là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tình trạng nhảy việc, bỏ việc của công nhân tại các khu công nghiệp Tác giả của các tham luận tại hội thảo cũng đề xuất một số giải pháp để cải thiện môi trường sống cho người lao động để họ có thể yên tâm làm việc, ổn định cuộc sống, cống hiến nhiều hơn cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở Đồng Nai
Công trình “Nghiên cứu sự biến đổi văn hóa của các cộng đồng nông
nghiệp – nông thôn trong quá trình phát triển các khu công nghiệp (Thông qua nghiên cứu trường hợp tỉnh Đồng Nai)” của Nguyễn Văn Quyết, Luận án tiến
sĩ, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, năm 2013, đã phân tích thực trạng biến đổi trong đời sống văn hóa của các cộng đồng dân cư vốn là các cộng đồng nông nghiệp – nông thôn được chuyển thành các cộng đồng mang tính đô thị dưới sự tác động mạnh mẽ của quá trình phát triển công nghiệp và khu công nghiệp ở Đồng Nai Trong các cộng đồng dân cư đó, tác giả tập trung khảo sát, nghiên cứu, phân tích, đánh giá quá trình biến đổi trong đời sống văn hóa của lực lượng công nhân trên các phương diện tư tưởng, đạo đức, lối sống, phong tục, tập
Trang 26quán, các sinh hoạt văn hóa cộng đồng; đồng thời tác giả cũng làm rõ một số vấn đề về quản lý, chính sách phát triển văn hóa của Đồng Nai có liên quan trực tiếp đến xây dựng đời sống văn hóa của công nhân khu công nghiệp, đề xuất phương hướng và các biện pháp tăng cường phát triển văn hóa của công nhân khu công nghiệp ở Đồng Nai
Hội thảo “Thực thi quyền của người lao động di cư miền Trung ở các
khu công nghiệp” do Đại học Khoa học, Đại học Huế và tập đoàn Rosa
Luxemburg tổ chức năm 2013, đã đi sâu phân tích hiện trạng thực thi pháp luật
về quyền và lợi ích của người lao động di cư miền Trung làm việc tại các công
ty giày dép có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, trong đó chỉ rõ phần lớn doanh nghiệp chưa đảm bảo đúng và đầy đủ các quyền cơ bản cho người công nhân như: quyền được tham gia các hoạt động giải trí, văn hóa, thể thao, học tập, tham gia các tổ chức chính trị xã hội, ; vai trò của của hệ thống chính trị - xã hội ở Đồng Nai, đặc biệt là công đoàn chưa phát huy hiệu quả vai trò bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động Trên cơ sở đó, tác giả của các bài tham luận tại hội thảo cũng đưa ra nhiều giải pháp quan trọng nhằm tăng cường hơn nữa vai trò của hệ thống chính trị, của doanh nghiệp và của chính người công nhân trong việc xây dựng, hoàn thiện và thực thi đầy đủ các chính sách liên quan đến giai cấp công công nhân nhằm đảm bảo đầy đủ các quyền và lợi ích chính đáng của người công nhân nhập cư đang làm việc tại Đồng Nai
Ngoài các công trình nêu trên, có rất nhiều bài viết liên quan đến chủ đề đời sống văn hóa tinh thần của công nhân ở tỉnh Đồng Nai được đăng tải trên
các tạp chí, các trang web như: “Giáo dục lý tưởng cho giai cấp công nhân
trong điều kiện mới – một số vấn đề cấp bách” của tác giả Nguyễn Việt Sơn
trên http://www.tapchicongsan.org.vn ngày 4/9/2007; “Đời sống thực tế và giải
pháp về nhà ở cho người lao động trong Khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai” của
tác giả Nguyễn Mạnh Văn, Phó Ban quản lý Khu công nghiệp Đồng Nai, trên
http://www.diza.vn; “Nhiệm vụ và giải pháp nâng cao mức hưởng thụ văn hóa
Trang 27cho người dân, nhất là công nhân lao động, người dân khu vực nông thôn trên địa bàn (Đồng Nai) thời gian tới” của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đồng
Nai trong cuốn Các báo cáo tham luận tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ
IX nhiệm kỳ 2010 – 2015, lưu hành tháng 9 năm 2010; “Các giải pháp chủ yếu
tiếp tục xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công nhân đáp ứng yêu cầu của tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại” của Liên đoàn Lao động tỉnh Đồng
Nai tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2005 – 2010 đăng trên
http://daihoi.dongnai.gov.vn; “Phát triển nhân lực cho các khu công nghiệp tỉnh
Đồng Nai” của Cảnh Chí Hoàng trên Tạp chí Phát triển và hội nhập, số 6 (16)
năm 2012; “Vai trò của tổ chức công đoàn tham gia bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của lao động nhập cư trong các khu công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở tỉnh Đồng Nai từ 2005 – 2012” của Liên đoàn Lao động tỉnh Đồng Nai
đăng trên Tài liệu hội thảo Thực thi quyền của người lao động di cư miền Trung
ở các khu công nghiệp năm 2013,… Các bài viết trên chủ yếu chỉ dừng lại ở
việc phản ánh những góc cạnh khác nhau về một số vấn đề mang tính thời sự trong đời sống, việc làm, thu nhập, sự tiếp nhận và hưởng thụ văn hóa tinh thần của công nhân trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và qua đó cũng nêu ra một số giải pháp trước mắt để cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của công nhân ở địa phương
Như vậy, cho đến nay, số lượng công trình nghiên cứu về đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân Việt Nam nói chung, của công nhân ở tỉnh Đồng Nai nói riêng khá lớn, trong đó ở những mức độ khác nhau đã góp phần
bổ sung, phát triển những vấn đề về lý luận và thực tiễn trong xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân tỉnh Đồng Nai Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học độc lập nào nghiên cứu một cách trực tiếp và hệ thống về xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn hiện
nay Do đó, tác giả chọn “Vấn đề xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của công
nhân tỉnh Đồng Nai hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình
Trang 283 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích: Trên cơ sở phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận chung về
xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay, luận án tập trung làm sáng tỏ thực trạng xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân tỉnh Đồng Nai, từ đó xác định một số phương hướng và giải pháp nhằm tiếp tục xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân tỉnh Đồng Nai hiện nay
Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết
những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận chung về xây dựng đời
sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng xây dựng đời sống văn hóa tinh
thần của công nhân tỉnh Đồng Nai, chỉ ra nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và những vấn đề đặt ra trong xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân tỉnh Đồng Nai hiện nay
Thứ ba, đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm tiếp tục xây
dựng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân tỉnh Đồng Nai hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu: Xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của giai
cấp công nhân Việt Nam hiện nay
Phạm vi nghiên cứu: Luận án giới hạn việc nghiên cứu xây dựng đời
sống văn hóa tinh thần của công nhân ở tỉnh Đồng Nai hiện nay
5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Cơ sở lí luận: Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan và
phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân Nội dung của luận án được triển khai
Trang 29với phương pháp tiếp cận liên ngành, trong đó cách tiếp cận của triết học macxít
về văn hóa là chủ đạo
Phương pháp nghiên cứu: Trong nghiên cứu và trình bày nội dung luận
án, tác giả sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời để thực hiện mục đích, nhiệm vụ mang tính đặc thù của luận án, tác giả còn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể khác như: phân tích và tổng hợp, lôgíc và lịch sử, đối chiếu so sánh, phương pháp phỏng vấn,
Nguồn tài liệu được sử dụng trong luận án gồm các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam, của Đảng bộ, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội và các ban ngành ở tỉnh Đồng Nai cùng với các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài của luận án
6 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Thứ nhất, luận án bước đầu xác định, hệ thống hóa những đặc trưng,
yêu cầu xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân Việt Nam
và xu hướng tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội đối với đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân nước ta hiện nay
- Thứ hai, từ sự phân tích, đánh giá thực trạng xây dựng đời sống văn
hóa tinh thần của công nhân ở tỉnh Đồng Nai trên các lĩnh vực cơ bản: tư tưởng, đạo đức, lối sống, giáo dục, khoa học, nghệ thuật, luận án đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm tiếp tục xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân tỉnh Đồng Nai hiện nay
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa khoa học: Luận án góp phần làm phong phú, sâu sắc thêm
những vấn đề lý luận về xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân Việt Nam nói chung, của công nhân ở tỉnh Đồng Nai nói riêng
Trang 30Ý nghĩa thực tiễn: Những phương hướng và giải pháp xây dựng đời sống
văn hóa tinh thần của công nhân ở tỉnh Đồng Nai được đề xuất và luận chứng trong luận án sẽ giúp cho lãnh đạo các cấp, các ngành ở tỉnh Đồng Nai cũng như
ở những địa phương khác trên cả nước ta có thêm tài liệu tham khảo, vận dụng trong việc hoạch định các chính sách, chương trình, kế hoạch xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của giai cấp công nhân ở địa phương Đồng thời, những kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập các bộ môn như: Triết học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam, ở các trường đại học, cao đẳng
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án được kết cấu thành 3 chương, 9 tiết
Trang 31Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN
CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN VÀ NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1.1 Khái niệm văn hóa, văn hóa tinh thần và đời sống văn hóa tinh thần
Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một khái niệm đa nghĩa với nhiều cách hiểu khác nhau liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người Các nhà nghiên cứu ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài đã có nhiều công trình nghiên cứu bàn luận về khái niệm văn hóa Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau về khái niệm văn hóa, trong đó có nhiều điểm tương đồng, nhưng cũng có không ít những điểm khác biệt
Thuật ngữ “văn hóa” xuất hiện khá sớm trong ngôn ngữ của loài người
Ở Phương Đông, tiêu biểu là ở Trung Quốc, từ văn hoá đã xuất hiện khoảng
năm 206 trước công nguyên với ý nghĩa “văn” của con người là lời hay ý đẹp,
“văn” của xã hội là điển chương, chế độ, phong tục, đạo đức, …; “hóa” là sự cảm hóa, dạy dỗ, sửa đổi phong tục, làm cho tính chất tự nhiên của con người trở nên tốt đẹp hơn Do đó, “văn hóa” ở đây được hiểu như là sự giáo hóa, dùng văn để giáo hóa con người, ý nghĩa của văn hóa được hiểu đối lập với vũ lực
Ở phương Tây, thuật ngữ văn hóa cũng xuất hiện từ rất sớm Theo W.Wundt, nhà ngôn ngữ học người Đức, văn hóa có nguồn gốc từ chữ “Cultus”, tiếng Latinh có nghĩa là cày cấy, gieo trồng, được dùng theo hai nghĩa: “Cultus agri” là “gieo trồng cây trái trên ruộng đất” và “Cultus animi” là "gieo trồng tinh
thần" nghĩa là "sự giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn con người” Vào thế kỷ thứ nhất
Trang 32trước công nguyên, Cicéron, nhà hùng biện La Mã đã dùng “văn hóa” để nói về triết học với ý nghĩa vun đắp, bồi dưỡng, giáo dục phẩm chất, tinh thần tốt đẹp cho con người Như vậy, ngay trong thời kỳ cổ đại, người Phương Đông và người phương Tây đã có sự khác nhau trong quan niệm về văn hóa; với người Phương Đông văn hóa mang ý nghĩa là dùng văn để giáo hóa con người, đối lập với vũ lực; còn người Phương Tây xem văn hóa là hoạt động làm phong phú tinh thần của con người
Mặc dù có mặt sớm trong đời sống ngôn ngữ phương Đông và phương
Tây nhưng đến thế kỷ XVIII, từ văn hoá mới được đưa vào sử dụng như thuật
ngữ khoa học Samuel Pufendorf (1632 - 1694), người Đức, là người đầu tiên sử
dụng từ văn hoá trong khoa học với ý nghĩa là toàn bộ những gì được tạo ra do
hoạt động xã hội, nghĩa là văn hoá đối lập với trạng thái tự nhiên Sau đó, nhà triết học Herder (1744 - 1803) cho rằng, văn hoá là sự hình thành lần thứ hai của con người Theo ông, lần thứ nhất, con người xuất hiện với tư cách là một thực thể sinh vật tự nhiên; lần thứ hai con người hình thành như một thực thể xã hội, tức là một nhân cách văn hoá, theo nghĩa toàn vẹn của từ này Công lao to lớn của Herder là đã khái quát toàn bộ tri thức của thời đại và trình bày văn hóa nhân loại như là kết quả của sự phát triển Mãi đến năm 1855, khi Klemm công
bố công trình Khoa học chung về văn hoá thì người ta mới coi ngành khoa học
về văn hoá hình thành và phát triển Người đầu tiên đưa văn hóa thực sự trở
thành một ngành khoa học là E.B.Tylor khi ông công bố công trình Văn hóa
nguyên thủy ở Luân Đôn năm 1871 E.B.Tylor đã xác lập được đối tượng nghiên
cứu của ngành văn hoá học và dành chương Đối tượng của khoa học về văn hoá
để thuyết minh cho vấn đề này Và ông chính là người đầu tiên định nghĩa về văn hóa: “Văn hoá là toàn bộ phức thể bao gồm kiến thức, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những khả năng, những tập quán mà con người
có được với tư cách là thành viên xã hội” [17, tr.12] Từ khi văn hóa chính thức trở thành một ngành khoa học, việc định nghĩa khái niệm văn hóa trở nên phức
Trang 33tạp hơn nhiều Trả lời cho câu hỏi “Văn hóa là gì?” đã được nhiều học giả đưa
ra nhiều đáp án với các hướng tiếp cận nghiên cứu khác nhau
Tại Hội nghị Quốc tế về văn hóa do Tổ chức Giáo dục, Khoa học và
Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) tổ chức ở Mêhicô năm 1982, các đại biểu tham dự đã đưa ra khoảng hơn 200 định nghĩa khác nhau về văn hóa nhưng cuối cùng hội nghị đã thống nhất một định nghĩa về văn hóa như sau: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những
phong tục và tín ngưỡng” [126, tr.11] Năm 1988, tại lễ phát động Thập kỷ Thế
giới phát triển văn hóa, Tổng giám đốc UNESCO, ông Federico Mayor đưa ra
định nghĩa: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống và dựa trên đó từng
dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình” [124, tr.23] Đến năm 2001, Tuyên
ngôn Thế giới về đa dạng văn hóa một lần nữa khẳng định: “Văn hóa cần phải
được coi như là tập hợp các nét đặc trưng về mặt tinh thần và vật chất, về mặt trí tuệ và tình cảm đặc trưng cho một xã hội hoặc một cộng đồng mang tính xã hội,
và rằng, ngoài văn học và nghệ thuật, nó còn bao gồm lối sống, các cách chung
sống cùng nhau, các hệ thống giá trị, các truyền thống và tín ngưỡng” [17, tr.19]
C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin cũng đã đề cập nhiều đến văn hóa thông qua hệ thống các quan điểm duy vật biện chứng về con người và xã hội nhưng cũng chưa đưa ra một định nghĩa đầy đủ nào về văn hóa Văn hóa theo quan điểm của C.Mác là cái thể hiện sức mạnh xã hội của hoạt động lao động sản xuất của con người Ông coi hoạt động đặc trưng này, hoạt động thể hiện năng lực sáng tạo của con người tạo ra toàn bộ sự đa dạng, phong phú cho sự tồn tại
Trang 34đích thực của con người, hình thành mối quan hệ của con người với thế giới tự nhiên xung quanh và quan hệ giữa con người với con người trong cộng đồng xã hội, chính là cội nguồn của văn hóa Theo Ph.Ăngghen, để tìm cội nguồn của văn hóa cần phải đặt nó trong quá trình hình thành loài người Trên cơ sở so sánh, phân tích sự khác nhau về bản chất giữa phương thức kiếm sống của loài vượn với lao động của xã hội loài người, Ph.Ăngghen đi đến kết luận: “Chính hoạt động này – lao động tinh thần mới là động lực chính tác động vào quá trình chuyển biến từ vượn thành người và đó cũng là cội nguồn của văn hóa” [39, tr.18], hay có thể nói, lao động sáng tạo là bản chất của văn hóa Kế thừa và phát
triển quan điểm về văn hóa của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác và từ thực tiễn
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga Xôviết, V.I.Lênin tiếp tục bổ sung và phát triển lý luận về văn hóa Trong nhiều tác phẩm, V.I.Lênin đã đề cập đến văn hóa với phạm vi rộng hẹp khác nhau Ở cấp độ rộng, V.I.Lênin xem xét văn hóa như là một hệ thống giá trị tinh thần gắn với sự tiến hóa lịch sử và
sự tiến bộ xã hội “Văn hoá vô sản phải là sự phát triển hợp quy luật của tổng số kiến thức mà loài người đã tích luỹ được dưới ách thống trị của xã hội tư bản, xã hội của bọn địa chủ và xã hội của bọn quan liêu” [60, tr.361] Ở cấp độ hẹp, V.I.Lênin xem văn hóa là giáo dục, nghệ thuật, trình độ dân trí, Như vậy, điểm chung nhất trong lý luận về văn hóa của các nhà kinh điển Mác – Lênin là
ở chỗ xem văn hóa là hoạt động sáng tạo, là sự kết tinh năng lực bản chất người trong thế giới các sản phẩm do chính hoạt động con người sáng tạo ra, là cái quy định bản chất người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội,
là phương thức bộc lộ, phát huy những năng lực bản chất con người gắn với hoạt động sống của họ, làm cho con người ngày càng tốt đẹp hơn, hoàn thiện hơn trong mỗi giai đoạn phát triển của mình
Ở Việt Nam cũng đã có nhiều quan niệm, định nghĩa về văn hóa được đề xuất Trước hết phải nói đến định nghĩa của Hồ Chí Minh về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát sinh
Trang 35ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức
sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [76, tr.431] Hồ Chí Minh đã xuất phát từ phạm trù sinh tồn để kiến giải phạm trù văn hóa, coi văn hóa là kết quả tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt của loài người thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn Trong định nghĩa của Hồ Chí Minh, văn hóa được hiểu với nghĩa rộng nhất, bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo
ra giúp con người tồn tại, phát triển với tư cách là con người; văn hóa là mục đích của cuộc sống loài người Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Hồ Chí
Minh xác định " Văn hóa là một kiến trúc thượng tầng” [78, tr.368] Ở một số
bài viết của Hồ Chí Minh, văn hóa được sử dụng với ý nghĩa là văn học nghệ thuật hay trình độ học vấn Như vậy, Hồ Chí Minh đã xem xét khái niệm văn hóa theo nhiều cấp độ rộng, hẹp khác nhau; với nghĩa rất rộng thì nó bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra; ở cấp độ rộng thì được xem như là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng; ở cấp độ hẹp văn hóa được hiểu là trình độ học vấn, là văn học nghệ thuật,
Bước vào thời kỳ đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước, kế thừa tư
tưởng của Hồ Chí Minh, trong tác phẩm Văn hoá và đổi mới, Phạm Văn Đồng
đã đề xuất một quan niệm về văn hóa: "Nói tới văn hoá là nói tới một lĩnh vực
vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong một quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hoá với nghĩa bao quát và đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh các cộng đồng dân tộc, sức
Trang 36đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh" [33, tr.16] Từ quan niệm này, có thể thấy, tác giả coi văn hóa là một hệ thống giá trị được sáng tạo bởi con người, vì con người trong quá trình con người làm nên lịch sử của mình
Căn cứ vào nghĩa gốc của từ Cutus (nghĩa là gieo trồng) trong tiếng
Latinh, GS Vũ Khiêu cho rằng: “Văn hóa thể hiện trình độ được vun trồng của con người, của xã hội… Văn hóa là trạng thái của con người ngày càng tách khỏi động vật, ngày càng xóa bỏ những đặc tính của động vật, để khẳng định những đặc tính của con người” [55, tr.8] Theo đó, văn hóa phản ánh trình độ phát triển của con người trong quá trình con người làm nên lịch sử và văn hóa cũng chính là nét đặc trưng riêng có ở con người, là cái để phân biệt con người
và con vật
Như vậy, cho đến hiện nay đã có rất nhiều quan niệm, định nghĩa về văn hóa được đề xuất Theo thống kê của hai nhà khoa học Mỹ là A.L.Kroeber và A.C.Kluckhohn vào năm 1952 có tới “164 định nghĩa về văn hoá” [134] Năm
1967, nhà văn hoá học người Pháp Abraham Moles lại cho biết có đến “250
định nghĩa” [134] Năm 1994, trong công trình Văn hoá Việt Nam và cách tiếp
cận mới, GS.Phan Ngọc cho biết: "Một nhà dân tộc học Mỹ đã dẫn ngót bốn
trăm định nghĩa về văn hoá khác nhau" [82, tr.19] Theo tiến sĩ triết học người Nga A.A.Migolatex thì có hơn “500 định nghĩa khác nhau về văn hóa” [17, tr.11] được đề xuất Sở dĩ có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa như vậy là
do góc độ tiếp cận văn hóa khác nhau của các tác giả, của các ngành khoa học, thậm chí trong bản thân một ngành khoa học cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau về văn hóa Ngoài ra, các yếu tố giai cấp, dân tộc, thời đại, trình độ nhận thức, thời gian và không gian nghiên cứu của các tác giả đều ít nhiều có ảnh hưởng đến quan điểm tiếp cận văn hóa của họ Tuy số lượng khái niệm văn hóa ngày càng nhiều nhưng nhìn chung đa số các khái niệm đó đều thống nhất ở những điểm chủ yếu sau:
Trang 37Thứ nhất, văn hoá là sáng tạo của con người, thuộc về con người,
những gì không do con người làm nên không thuộc về khái niệm văn hoá Từ
đó, văn hoá là cái đặc trưng căn bản nhất để phân biệt con người với con vật, đồng thời cũng là tiêu chí căn bản để phân biệt sản phẩm nhân tạo với sản phẩm
tự nhiên Sáng tạo là nhân tố phản ánh một cách rõ nét nhất năng lực và trình độ phát triển của con người và xã hội, thúc đẩy con người và xã hội không ngừng vận động và phát triển từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện, từ lạc hậu đến hiện đại, từ mông muội đến văn minh
Thứ hai, văn hoá chính là sự thích nghi một cách chủ động và có ý thức
của con người với tự nhiên thông qua quá trình lao động nên văn hoá cũng là kết quả của sự thích nghi ấy Sự thích nghi này không phải là quá trình thích ứng máy móc mà là quá trình thích ứng có ý thức, chủ động, sáng tạo phù hợp với giá trị chân, thiện, mỹ Lao động là điều kiện cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của con người, do đó cũng là điều kiện quyết định toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần của con người và xã hội, tức là văn hóa Thông qua lao động, năng lực sáng tạo của con người được phát huy và đó cũng là động lực thúc đẩy văn hóa phát triển Với ý nghĩa đó, lao động vừa là điều kiện cho sự xuất hiện của văn hóa nhưng đồng thời cũng là phương thức duy trì sự tồn tại và phát triển của văn hóa
Thứ ba, văn hoá là khái niệm được tiếp cận theo nhiều góc độ khác nhau
Theo nghĩa rộng nhất của nó, văn hóa bao gồm hai dạng bao quát nhất, đó là giá trị vật chất lẫn giá trị tinh thần hoặc văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể do con người sáng tạo ra, phản ánh trình độ phát triển của con người và xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Theo nghĩa rộng, văn hóa được coi là các giá trị tinh thần, phản ánh phương diện sinh hoạt văn hóa tinh thần của con người và xã hội,
là cái để phân biệt với giá trị vật chất Theo nghĩa hẹp, văn hóa được xem như là một bộ phận thuộc văn hóa tinh thần, cụ thể là trình độ học vấn, tri thức, hoặc có khi là phong tục, tập quán, tín ngưỡng hay chuẩn mực, đạo đức, lối sống
Trang 38Thứ tư, văn hóa là cái mang giá trị Giá trị ở đây là căn cứ vào ý nghĩa
con người, ý nghĩa xã hội và văn hóa của những sự vật, hiện tượng nhất định trong hiện thực Tính giá trị là đặc trưng quan trọng nhất để lý giải bản chất của khái niệm văn hóa, dựa vào tính chất và mức độ hữu ích của chúng trong việc đáp ứng nhu cầu phát triển của con người và xã hội ở từng giai đoạn lịch sử cụ thể cho phép phân biệt văn hóa với phản văn hóa Những gì trái với lợi ích và tiến bộ xã hội, gây thiệt hại cho lợi ích và hạnh phúc của con người thì không được coi là giá trị, là văn hóa Xét về bản chất, tính giá trị ở văn hóa là tính bổ dưỡng, hữu ích đối với con người, làm tăng trưởng cái đúng, cái tốt, cái đẹp nơi con người
Trên cơ sở xem xét các khái niệm văn hóa phổ biến và xuất phát từ
hướng nghiên cứu của đề tài, có thể quan niệm: văn hóa là tổng thể các giá trị
vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, tích lũy và phát huy trong hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội của mình nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của
con người và xã hội
Khái niệm văn hóa tinh thần
Sự phong phú, đa dạng, phức tạp của khái niệm văn hóa kéo theo sự phong phú, đa dạng trong cách phân chia cấu trúc của văn hóa UNESCO phân
chia văn hóa thành văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Nhà nghiên cứu L.White phân chia văn hóa thành ba tiểu hệ: công nghệ, xã hội, tư tưởng Học giả Đào Duy Anh lại chia văn hóa thành ba lĩnh vực hoạt động: sinh hoạt kinh
tế, sinh hoạt xã hội và sinh hoạt tri thức Nhà khoa học Văn Tân phân chia văn
hóa thành ba yếu tố: văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần Trong Cơ sở văn hóa Việt Nam do GS Trần Quốc Vượng chủ biên, các tác giả lại chia văn hóa thành ba yếu tố gồm: văn hóa sản xuất, văn hóa vũ trang và văn
hóa sinh hoạt GS Nguyễn Tấn Đắc phân chia văn hóa thành bốn lĩnh vực: hoạt động sinh tồn, hoạt động xã hội, hoạt động tinh thần, hoạt động nghệ thuật
Như vậy, có thể thấy, cho đến nay, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam cũng như trên thế giới vẫn chưa có được sự thống nhất trong cách phân chia cấu trúc của
Trang 39văn hóa Sở dĩ có sự khác nhau đó là do xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau về văn hóa Xem xét khái niệm văn hóa dưới góc độ triết học theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, xuất phát từ khái niệm văn hóa theo nghĩa rộng nhất, đó
là toàn bộ những giá trị do con người sáng tạo ra bằng lao động của mình trên cả hai lĩnh vực sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần, có thể phân chia văn hóa thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Người ta thường gắn văn hóa của nền sản xuất vật chất và đời sống vật chất vào văn hóa vật chất, vì những giá trị của nó trong các lĩnh vực này chủ yếu mang tính chất vật thể, nói lên mức độ biểu hiện và phát triển của lực lượng bản chất của con người trong lĩnh vực sản xuất vật chất chủ yếu nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất; mặc dù, hiển nhiên là ở đây vẫn thường xuyên có mặt phương diện tinh thần Yếu tố quan trọng nhất của văn hóa vật chất là tư liệu lao động mà trước hết là công cụ lao động, cái để con người sử dụng trong hoạt động sản xuất của mình Bước chuyển từ công cụ lao động thủ công sang máy móc là bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển văn hóa vật chất của nhân loại Cùng với tư liệu lao động, tư liệu tiêu dùng cũng là một bộ phận quan trọng của văn hóa vật chất Các tư liệu tiêu dùng vừa là phương thức xác định con người đã sử dụng công cụ gì, ở trình độ nào trong từng thời kỳ lịch sử; vừa nói lên con người đã sử dụng công cụ ấy như thế nào, nhu cầu của họ phong phú, phát triển đến đâu Văn hóa không chỉ là hiện vật, kết quả hoạt động sáng tạo của con người mà còn bao hàm cả bản thân hoạt động Vì vậy, ngoài tư liệu lao động và tư liệu tiêu dùng nhất định, văn hóa vật chất bao hàm cả hoạt động thực tiễn sáng tạo và sử dụng các tư liệu ấy.Trong quá trình hoạt động thực tiễn xã hội, con người không chỉ sản xuất ra những điều kiện vật chất và tư liệu sinh hoạt mà còn sản xuất ra ý thức Ý thức được sản xuất ra tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau như: ý thức tôn giáo, ý thức chính trị, ý thức khoa học, ý thức nghệ thuật, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức,… Do vậy, có thể nói, văn hóa tinh thần được tạo ra chủ yếu từ lĩnh vực sản xuất tinh thần Văn hóa tinh thần không chỉ biểu hiện đơn giản bằng các sản
Trang 40phẩm hoạt động tinh thần mà còn bằng nội dung sáng tạo của hoạt động này cùng với những quan hệ giữa người với người đã được xác lập trong tiến trình hoạt động Hoạt động của con người trên lĩnh vực văn hóa tinh thần là sáng tạo
ra những giá trị tinh thần chủ yếu nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu phát triển về các mặt chân, thiện, mỹ của đời sống con người và xã hội Cố nhiên sự phân chia văn hóa thành văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần chỉ có ý nghĩa tương đối Bởi lẽ, không có giá trị vật chất nào mà không bao hàm trong nó các giá trị tinh thần, cũng như không có giá trị tinh thần nào có thể tồn tại ngoài những hình thức vật chất của nó Nhưng ngay chính sự tồn tại thực tế và phổ biến của hai khái niệm “văn hóa vật chất” và “văn hóa tinh thần” cũng nói lên rằng hai giá trị đó không phải là một Mặt khác, bản thân cuộc sống con người cũng cho thấy, cái mà con người và loài người cần có và mong muốn có để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình thì không phải chỉ là những giá trị vật chất mà còn cả những giá trị tinh thần, cũng do đó mà hoạt động lao động của con người bao gồm cả hoạt động “sản xuất vật chất” và hoạt động “sản xuất tinh thần” C.Mác
và Ph Ăngghen trong khi nghiên cứu sự vận động và phát triển của xã hội loài người cũng đã khái quát toàn bộ các hình thức hoạt động của xã hội thành hai
lĩnh vực hoạt động cơ bản là sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần Theo đó,
có thể quan niệm rằng, văn hóa vật chất gắn liền với sản xuất vật chất, chủ yếu được sinh thành và phát triển từ sản xuất vật chất Còn văn hóa tinh thần gắn
với sản xuất tinh thần, chủ yếu được hình thành và phát triển từ sản xuất tinh thần Hồ Chí Minh đã nêu định nghĩa văn hóa theo nghĩa rộng “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát sinh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự