BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM VŨ TIẾN THỊNH NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHĂM SÓC CẬN THU HOẠCH TỚI THỜI ĐIỂM THU HÁI VÀ CHẤT LƯỢNG QUẢ VẢI T
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VŨ TIẾN THỊNH
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHĂM SÓC CẬN THU HOẠCH TỚI THỜI ĐIỂM THU HÁI VÀ CHẤT LƯỢNG QUẢ VẢI
THIỀU TRONG QUÁ TRÌNH BẢO QUẢN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng trong bất kỳ một nghiên cứu nào
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 11 tháng 11 năm 2015
Tác giả
Vũ Tiến Thịnh
Trang 4Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong Khoa Công nghệ thực phẩm, Học viên nông nghiệp Việt Nam
Tôi cũng xin được chân thành cảm ơn các cán bộ Bộ môn bảo quản chế biến, Viện Nghiên cứu rau qủa đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực hiện đề tài
Bên cạnh đó tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả người thân, bạn bè
và đồng nghiệp, những người luôn bên cạnh động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện bản luận văn này
Hà Nội, ngày 11 tháng 11 năm 2015
Tác giả
Vũ Tiến Thịnh
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục bảng vi
Danh mục các từ, cụm từ viết tắt viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Giới thiệu chung về cây vải 4
1.1.1 Nguồn gốc, phân bố 4
1.1.2 Phân loại giống và giống vải 6
1.1.3 Các giống vải chủ yếu trên thế giới và trong nước 7
1.2 Đặc điểm ra hoa, đậu quả của cây vải thiều 8
1.2.1 Sự phân hóa mầm hoa 8
1.2.2 Sự phát triển của chùm hoa và nở hoa của vải 8
1.2.3 Quá trình đậu quả 9
1.2.4 Các giai đoạn phát triển của quả 9
1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải 11
1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải trên thế giới 11
1.3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải tại Việt Nam 12
1.4 Tình hình nghiên cứu sử dụng phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng AVG trong giai đoạn cận thu hoạch 15
1.4.1 Các nghiên cứu về phân bón lá 15
1.4.2 Chất điều hòa sinh trưởng AVG 19
Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 26
2.3 Hóa chất sử dụng cho nghiên cứu 26
2.4 Nội dung nghiên cứu 26
Trang 62.4.1 Nội dung 1: 26
2.4.2 Nội dung 2: 26
2.5 Phương pháp nghiên cứu 26
2.5.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 26
2.5.2 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu hóa sinh, hóa lý 30
2.5.3 Phương pháp đánh giá chất lượng cảm quan 35
2.5.4 Phương pháp xử lý số liệu 35
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của xử lý cận thu hoạch đến thời điểm thu hái của quả vải thiều 36
3.1.1 Ảnh hưởng của xử lý cận thu hoạch đến một số chỉ tiêu vật lý của quả vải thiều 36
3.1.2 Ảnh hưởng của xử lý cận thu hoạch đến màu sắc của quả vải thiều 40
3.1.3 Ảnh hưởng của xử lý cận thu hoạch đến cảm quan của quả vải thiều 41
3.1.4 Ảnh hưởng của xử lý cận thu hoạch đến một số chỉ tiêu hóa học của quả vải thiều 42
3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của xử lý cận thu hoạch đến chất lượng quả vải thiều trong quá trình bảo quản 46
3.2.1 Sự Biến đổi các chỉ tiêu cảm quan quả vải thiều trong quá trình bảo quản 47
3.2.2 Sự Biến đổi các chỉ tiêu vật lý quả vải thiều trong quá trình bảo quản 48
3.2.3 Sự biến đổi các chỉ tiêu hóa học quả vải thiều trong quá trình bảo quản 51
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 54
1 Kết luận 54
2 Đề nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 58
Trang 7điểm thu hái (mm) 37 Bảng 3.3 Sự thay đổi chỉ tiêu khối lượng của quả vải thiều tại các thời
điểm thu hái (g) 37 Bảng 3.4 Sự thay đổi chỉ tiêu độ lún của quả vải thiều tại các thời điểm thu
hái (mm) 39 Bảng 3.5 Sự thay đổi tỉ lệ thu hồi (tỉ lệ phần ăn được) của quả vải thiều tại
các thời điểm thu hái (%) 40 Bảng 3.6 Màu sắc vỏ quả vải thiều tại các thời điểm thu hái 40 Bảng 3.7 Đánh giá cảm quan quả vải thiều tại các thời điểm thu hái 41 Bảng 3.8 Ảnh hưởng của xử lý cận thu hoạch đến hàm lượng vitamin C
của quả vải thiều tại các thời điểm thu hái (mg%) 42 Bảng 3.9 Ảnh hưởng của xử lý cận thu hoạch đến hàm lượng chất khô hòa
tan tổng số của quả vải thiều tại các thời điểm thu hái (0Bx) 43 Bảng 3.10 Ảnh hưởng của xử lý cận thu hoạch đến hàm lượng đường tổng số
của quả vải thiều tại các thời điểm thu hái (%) 44 Bảng 3.11 Ảnh hưởng của xử lý cận thu hoạch đến hàm lượng axit tổng số
của quả vải thiều tại các thời điểm thu hái (%) 45 Bảng 3.12 Ảnh hưởng của xử lý cận thu hoạch đến hàm lượng nước của quả
vải thiều tại các thời điểm thu hái (%) 45 Bảng 3.13 Chất lượng cảm quan của quả vải thiều trong quá trình bảo quản 47 Bảng 3.14 Ảnh hưởng của xử lý cận thu hoạch đến màu sắc của quả vải
trong quá trình bảo quản (∆Eab ) 48
Trang 8Bảng 3.15 Ảnh hưởng của xử lý cận thu hoạch đến độ cứng của quả vải
trong quá trình bảo quản ( mm ) 49 Bảng 3.16 Ảnh hưởng của xử lý cận thu hoạch đến cường độ hô hấp của quả
vải trong quá trình bảo quản (mg CO2/kg.h) 49 Bảng 3.17 Ảnh hưởng của xử lý cận thu hoạch đến tỉ lệ hư hỏng của quả vải
trong quá trình bảo quản ( %) 50 Bảng 3.18 Ảnh hưởng của xử lý cận thu hoạch đến tỉ lệ hao hụt khối lượng
của quả vải trong quá trình bảo quản ( %) 50 Bảng 3.19 Ảnh hưởng xử lý cận thu hoạch tới hàm lượng vitamin C của quả
vải thiều trong quá trình bảo quản (mg%) 51 Bảng 3.20 Ảnh hưởng xử lý cận thu hoạch tới hàm lượng chất khô hòa tan
của quả vải thiều trong quá trình bảo quản (0Bx) 52 Bảng 3.21 Ảnh hưởng xử lý cận thu hoạch tới hàm lượng đường tổng số của
quả vải thiều trong quá trình bảo quản (%) 52
Trang 9Công thức Thí nghiệm
Hao hụt khối lượng Cường độ hô hấp Aminoethoxyvinylglycine Hàm lượng
Indole Acetic Acid Oxidase Enzyme Polyphenol oxidase Enzyme Peroxidase
Cộng sự
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Quả vải là một trong những loại quả đặc sản có hương vị thơm ngon, giàu giá trị dinh dưỡng rất được ưa chuộng tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới Nổi tiếng về chất lượng và được trồng với diện tích, sản lượng lớn nhất phải kể đến vùng sản xuất vải thiều tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
Quả vải thiều có vỏ mỏng, hạt dài, nhỏ, cùi dày chiếm tỉ lệ 70 ÷ 80% so với trọng lượng quả Hàm lượng chất khô hòa tan đạt 18÷ 200Bx, hàm lượng nước 82%, chất xơ 1,5%, đường 17 - 18%, vitamin C 39mg%, ngoài ra còn chứa một số loại vitamin nhóm B và các chất khoáng vi lượng rất cần thiết cho sức khỏe con người
Với diện tích trồng và năng suất ngày càng tăng, cây vải đã trở thành một trong những loại cây ăn quả chủ lực trong cơ cấu phát triển nền Nông nghiệp nước nhà Tuy nhiên quả vải có nhược điểm là thời gian thu hoạch ngắn lại không bảo quản được lâu trong điều kiện thường do rễ thối hỏng điều này gây thiệt hại rất lớn cho người nông dân do bị tư thương ép giá vì thời gian thu hoạch ngắn
Do vậy, việc cải thiện chất lượng và kéo dài thời gian thu hái đối với quả vải thiều là một trong những vấn đề ưu tiên hàng đầu
Chất lượng quả vải thiều nguyên liệu đưa vào bảo quản và sau bảo quản phụ thuộc rất nhiều vào các biện pháp chăm sóc trong giai đoạn trước và cận thu hoạch
Trong giai đoạn trước và cận thu hoạch, đã có rất nhiều nghiên cứu áp dụng các biện pháp kỹ thuật cho cây vải như chọn tạo giống, thâm canh, bón phân, tưới nước Tuy nhiên, bên cạnh việc tăng năng suất, chọn tạo ra một số giống vải chín sớm góp phần rải vụ thì việc cải thiện chất lượng và kéo dài thời gian thu hái vẫn chưa thật sự rõ rệt
Phân bón qua lá là hình thức cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng nhanh
và hiệu quả Các nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã chỉ ra rằng, sử dụng phân bón lá có đầy đủ các thành phần đạm, lân, kali và bổ sung các nguyên tố vi lượng như Mg, Mn, Bo, Zn, Fe, vào từng thời kỳ phát triển của cây vải sẽ cải thiện được đáng kể năng suất và chất lượng
Trang 11Thời kỳ từ sau khi đậu quả khoảng 10 - 15 ngày đến trước khi thu hái 2 tuần là thời kỳ cây vải tập trung dinh dưỡng nuôi quả, nếu cây vải được chăm sóc, bón phân, tưới nước đầy đủ và đúng cách sẽ cho quả to, vỏ quả ít bị nứt, mẫu mã đẹp, giá trị được nâng lên rõ rệt, theo Menzel (2000), Menzel.C (2002 ), Trần Thế Tục (1988)
AVG (Aminoethoxyvinylglycine) là chất điều hoà sinh trưởng, có tác dụng làm chậm quá trình chín và tăng cường độ chắc cũng như chất lượng của quả Cơ chế tác dụng chính của AVG là ức chế hoạt lực ACC synthase, đây là enzym có trách nhiệm chuyển hóa cơ chất SAM thành ACC (chất tiền etylen) Hàm lượng ACC tạo thành thấp sẽ dẫn đến cường độ sản sinh etylen thấp Vì vậy, làm chậm quá trình chín và kéo dài thời gian bảo quản quả sau thu hoạch
Trên thế giới, có rất nhiều công trình nghiên cứu và ứng dụng AVG của các tác giả Jobling và cs (2003), Drake và cs (2005), Leja và cs (2002) trên các loại quả táo, mận, lê, đào Các nghiên cứu chỉ ra rằng phun AVG ở giai đoạn cận thu hoạch
đã có tác dụng đáng kể trong việc tăng năng suất, duy trì độ cứng, cải thiện màu sắc, làm chậm quá trình chín và kéo dài thời gian bảo quản đáng kể so với mẫu không
xử lý
Ở Việt Nam, các nghiên cứu ứng dụng AVG trong giai đoạn cận và sau thu hoạch còn khá mới mẻ Một số nghiên cứu của tác giả Chu Doãn Thành và cs (2007) trên quả mận Tam Hoa, tác giả Nguyễn Ngữ và cs (2010) trên quả vú sữa, tác giả Nguyễn Tuấn Minh và cs (2008) trên trên quả vải chín sớm Bình Khê … cho thấy, khi xử lý AVG vào giai đoạn trước thu hoạch 2 - 3 tuần giúp tăng khối lượng,
độ cứng của quả và kéo dài thời gian thu hái
Chính vì vậy, cùng với việc chọn tạo giống các giống vải ưu tú có khả năng cho hiệu quả kinh tế cao thì việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trong đó có việc
sử dụng chất điều hòa sinh trưởng nhằm nâng cao khả năng ra hoa, đậu quả, tăng năng suất cũng như chất lượng đồng thời kéo dài thời gian thu hái nâng cao hiệu quả kinh tế là hết sức cần thiết Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
Trang 12“Nghiên cứu ảnh hưởng của chăm sóc cận thu hoạch tới thời điểm thu hái và chất lượng quả vải thiều trong quá trình bảo quản”
- Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp xử lý trong giai đoạn cận thu hoạch
tới thời điểm thu hái của quả vải thiều
- Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp xử lý trong giai đoạn cận thu hoạch
tới chất lượng quả vải thiều trong quá trình bảo quản
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giới thiệu chung về cây vải
1.1.1 Nguồn gốc, phân bố
Cây vải có tên khoa học là Litchi chinensis Sonn, thuộc họ bồ hòn
Sapindaceae Cây vải là cây thân gỗ, ưa khí hậu nóng,có chu kỳ sống lâu năm (50 - 70 năm), lá xanh quanh năm có tác dụng rất tốt đến môi trường sống của con người, che phủ đất, hạn chế sói mòn cho đất (vì cây vải có tính chịu hạn, chịu úng cao, phát triển tốt trên đất đồi, núi trọc) Hoa vải là nguồn mật và phấn rất quí để phát triển nghề nuôi ong lấy mật Quả thường chínvào cuối tháng 6 đầu tháng 7, khi chín vỏ quả có màu đỏ thẫm, trọng lượng trung bình của quả 15- 20g (đối với vải thiều ở Phú Hộ có trọng lượng quả thường cao hơn
và đạt 25- 27 g/quả) Trần Văn Lài (2005)
Quả vải được coi là một loại đặc sản, được người tiêu dùng rất ưa chuộng bởi hương thơm, vị ngọt đậm, ngon, rất bổ dưỡng cho cơ thể (quả vải có tác dụng bổ não, khỏe người, khai vị, có thể chữa bệnh đường ruột, là một thực phẩm quý đối với phụ nữ và người già) Quả có vỏ mỏng, hạt dài, nhỏ, cùi dày chiếm tỉ lệ 70 - 80% so với trọng lượng quả Hàm lượng chất khô hòa tan đạt 18- 20o Bx, hàm lượng nước 82%, chất xơ 1,5%, đường 17 - 18%, vitamin C 39mg%, ngoài ra còn chứa một số loại vitanin nhóm B và các chất khoáng vi lượng rất cần thiết cho sức khỏe con người Nguyễn Thị Xuân Hiền, Ngô Hồng Bình và cs (2002)
Ở Việt Nam, vải là một trong những loại cây trồng đặc sản, được trồng ở hầu khắp các tỉnh thành phía bắc nước ta và đã trở thành cây ăn quả chủ lực Theo Cục trồng trọt, Bộ NN&PTNT năm 2008 diện tích trồng vải là 86,9 ngàn ha, chiếm 26% tổng diện tích cây ăn quả toàn vùng Các tỉnh có diện tích trồng và thu hoạch quả với sản lượng lớn là: Bắc Giang (Lục Ngạn), Hải Dương (Thanh Hà), Vĩnh Phú (Thanh Hoà), Quảng Ninh (Đông Triều), Hà Tây (Quốc Oai, Chương Mỹ), Bắc Thái (Đồng Hỷ, Phú Lương), Lạng Sơn (Đình Lập, Hữu Lũng), Ban Mê Thuột, Huế Trong đó Lục Ngạn (Bắc Giang) và Thanh Hà (Hải Dương) là hai vùng
Trang 14trồng vải thiều nổi tiếng có diện tích và sản lượng hàng năm lớn nhất cả nước (diện tích trồng vải của hai tỉnh chiếm trên 70% diện tích trồng vải cả nước) Quả vải thiều ở đây có chất lượng rất thơm ngon, tạo được thương hiệu nổi tiếng khắp trong
và ngoài nước
Cây vải có nguồn gốc ở giữa miền Nam Trung Quốc, miền Bắc Việt Nam và bán đảo Malaysia và được trồng trọt cách đây trên 3.000 năm Hiện tại, ở Trung Quốc vẫn còn những cây vải tổ ở huyện Bồ Điền (Phúc Kiến), có tuổi cây trên 1.000 năm (Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần ,1998)
Thực tế, nhiều tài liệu Trung Quốc cho biết, nhiều nơi cây vải mọc dại như: núi Tạ Hoài Sơn, huyện Liên Giang, tỉnh Quảng Đông; Thạch Phượng Sơn, huyện Bác Bạch, tỉnh Vân Nam, núi Lôi Hồ Lĩnh, Bá Vương Lĩnh Tại núi Kim Cổ Lĩnh (đảo Hải Nam), vải dại mọc thành rừng Ngoài ra, ở Dương Xuân, Hoá Châu, Liêm Giang và trên sáu vạn núi ở vùng giáp gianh huyện Bác Bạch và huyện Hồ Bắc của tỉnh Quảng Tây đều có cây vải dại, điều đó chứng tỏ cây vải có nguồn gốc từ Trung Quốc (Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần, 1998)
Theo FAO (1989), tài liệu đầu tiên viết về cây vải đã ghi lại vào năm 100 trước công nguyên, Hoàng Đế Hán Vũ đã đem vải vào miền Nam Trung Quốc và miền Bắc Indonexia Cuối thế kỷ 17, cây vải từ Trung Quốc đầu tiên được đưa vào Myanmar, cuối thế kỷ 18 đưa sang Ấn Độ Singh (1954), năm 1775 đưa sang quần đảo Tây Ấn Năm 1870 vải được du nhập vào Nam Phi Meulen (1957), năm 1873 sang Hawai của Mỹ Grove (1952), đến năm 1886 vào Florida của Mỹ Barley (1916) Vào những năm 30 của thế kỷ 20, công nhân Hoa Kiều gốc Quảng Đông
đã đưa vải vượt qua xích đạo vào Công Gô, Cao Lệ Hoa (1985), (Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần, 1998)
Ở Việt Nam, cây vải được trồng từ cách đây khoảng 2000 năm và phân bố từ
18 - 190 vĩ Bắc trở ra Tuy nhiên, do yêu cầu chặt chẽ về điều kiện thời tiết, nên tập trung chủ yếu vẫn là vùng đồng bằng sông Hồng, trung du miền núi phía Bắc và một phần khu Bốn cũ Sử sách đã chép lại rằng cách đây 10 thế kỷ, dưới thời Bắc thuộc, vải (tiếng Hán là Lệ Chi) là một trong những cống vật hàng năm Việt Nam
Trang 15phải đem nộp cho Trung Quốc Vũ Công Hậu (1982), Trần Thế Tục (2004) Theo C Petelot (1952), dẫn theo Vũ Công Hậu (1999) có nhiều cây vải dại mọc ở sườn núi
Ba Vì Năm 1982, đã phát hiện cây vải mọc ở chân núi Tam Đảo (Vĩnh Phúc) Từ
đó miền Bắc Việt Nam cũng được coi là nơi có nguồn gốc phát sinh của cây vải
Hiện nay, vải được trồng ở các nước nằm trong phạm vi 20 - 30 vĩ độ Bắc và Nam đường xích đạo Theo (Nguyễn Mạnh Hải, Nguyễn Quang Thạch, 1999), Trần Thế Tục (1997)
Ở Châu Á vải được trồng ở Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam, Myanmar, Lào, Campuchia, Malaysia, Philippin, Indonexia, Srilanca, Bănglades, Nhật Bản và Ixrael
Ở Châu Phi vải có ở Nam Phi, Morithiuyt, Madagasca, Ga Bông, Công Gô
1.1.2.Phân loại giống và giống vải
Theo Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1987), Menzel (2002), Hoàng Thị Sản,
2003, cây vải có tên khoa học là Litchi chinensis Sonn thuộc họ Bồ hòn (Sapindaceae) , bộ Bồ hòn (Sapindales), phân lớp hoa hồng (Rosidae) Họ Bồ hòn
có 150 chi với trên 2.000 loài được phân bố ở vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới, tập trung chủ yếu ở Châu Á và Châu Mỹ Ở Việt Nam, họ Bồ hòn có 25 chi và trên 70 loài, phân bố trên khắp các miền của đất nước
Về đặc điểm phân loại, cây vải là cây gỗ nhỡ, xanh tốt quanh năm, lá kép lông chim, hoa nhỏ không có cánh hoa, bầu có 2 ngăn Trên cùng chùm hoa có 3 loại hoa: Hoa đực, hoa cái, hoa lưỡng tính, và một số ít hoa dị hình
Trang 161.1.3.Các giống vải chủ yếu trên thế giới và trong nước
Hiện tại, Trung Quốc có số lượng giống vải nhiều nhất thế giới Tuy nhiên, chỉ có khoảng 15 giống trong số hơn 100 giống vải ở Trung Quốc có khả năng sản xuất thương mại như: Wai chee, Baila, Baitangying, Heiye, Feizixiao, Huaizhi đặc biệt hai giống Gwiwei và Nuomici được trồng ở tỉnh Quảng Đông với diện tích lớn (trên 60.000 ha mỗi giống) Tỉnh Phúc Kiến có 2 giống chủ lực là Soney Tung và Haak Yip Ở tỉnh Vân Nam, Lanzhu là giống trồng chính Các giống quan trọng khác là Taiso, Chen Zi, Sum Yee Hong, Kwai May và NoMai Chee Menzel và Simpson (1986) Một số giống mới được chọn tạo có năng suất phẩm chất tốt như: Giống hạt lép Hoong Hu, giống chín sớm Dong guan Seedless Nghê Diệu Nguyên
và Ngô Tố Phần (1998)
Ấn Độ có khoảng 50 giống vải, được trồng ở các bang khác nhau Bihar là nơi trồng vải với diện tích lớn nhất của Ấn Độ (chiếm trên 74% diện tích) Các giống quan trọng là: Shahi, Bombai, China, Deshi, Purbi, Cabcutta, Rose Scenetd
và Mazaffarpur Trong đó những giống cho năng suất và chất lượng tốt là West Bengal, Bom bai, China và Bedana Hai giống lai mới được chọn tạo là H - 105 và
H - 73 có tiềm năng cho năng suất cao đang được phát triển mạnh trong sản xuất
Ở Australia, có trên 40 giống vải được trồng tập trung ở những vùng nằm theo dải bờ biển phía Đông Các giống chính hiện nay là: Taiso, Haak Ip, Kwai May Pink, Wai Chi, FayZee Siu, Salathiel
Ở Việt Nam, sự phân chia các giống còn mang tính tương đối, xét theo thời gian thu hoạch có: nhóm chín sớm, chính vụ và chín muộn, xét theo phẩm chất quả: nhóm vải chua, vải nhỡ và vải thiều Nguyễn Mạnh Khải, Nguyễn Quang Thạch (1999) Theo Vũ Mạnh Hải và cs (2002), Viện Nghiên cứu Rau quả (2002) đã thu thập và mô tả 33 giống vải được trồng ở các vùng khác nhau Trong đó 8 giống có triển vọng, đã và đang được phát triển ngoài sản xuất như giống vải thiều Thanh Hà, Hùng Long, Yên Hưng, Bình Khê, Yên Phú
Trang 171.2 Đặc điểm ra hoa, đậu quả của cây vải thiều
1.2.1 Sự phân hóa mầm hoa
Phân hóa mầm hoa là quá trình chuyển hóa từ trạng thái sinh lý và tổ chức của mầm lá sang trạng thái sinh lý và tổ chức của mầm hoa Cành mẹ của cây vải thành thục về sinh trưởng sớm hay muộn ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian phân hóa mầm hoa Trên cùng một cây, thông thường cành thành thục sớm sẽ phân hóa mầm hoa sớm hơn cành thành thục muộn (Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần, 1998), Trần Thế Tục (1997)
Theo Vũ Công Hậu (1982, 1999), Phạm Văn Côn (1992), Trần Thế Tục (1994, 1997) điều kiện cho vải phân hóa mầm hoa được thuận lợi là cần có nhiệt độ thấp trong một khoảng thời gian nhất định, song phản ứng với nhiệt độ thấp ở các giống khác nhau, các giống vải chín sớm có thể có thể hình thành mầm hoa ở nhiệt
độ cao hơn so với các giống vải chính vụ và chín muộn
Theo Lương Vũ Nguyên (1986), hàm lượng IAA trên đỉnh cành non rất cao, khi lá chuyển màu xanh, mầm ngưng sinh trưởng tương đối thì hàm lượng IAA giảm thấp, về sau mới bắt đầu phân hóa mầm hoa Trong quá trình phân hóa mầm hoa, đối với cây năm sai quả (hình thành hoa nhiều), hàm lượng IAA và gibberellin
ở đầu ngọn cành hơi thấp Điều này chứng tỏ hàm lượng các chất này thấp có lợi cho sự phân hóa mầm hoa (Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần, 1998)
1.2.2 Sự phát triển của chùm hoa và nở hoa của vải
Tốc độ phát triển của chùm hoa phụ thuộc vào giống và vùng trồng Các giống chín sớm thường xuất hiện hoa vào tháng 12, ra hoa tháng 1 và nở hoa tháng
2 Các giống chín chính vụ và chín muộn thì ra hoa cuối tháng 1, đầu tháng 2 và nở hoa tháng 3 (Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần, 1998)
Cây vải nở hoa theo thứ tự từ dưới lên trên, những hoa ở các nhánh giữa nở trước, sau đến các nhánh ở trên đỉnh và ở gốc Trên một chùm hoa thì thời gian hoa đực và hoa cái nở rộ cũng không trùng nhau, thường thì hoa đực nở trước, rồi mới đến hoa cái, rồi lại đến hoa đưc
Trang 181.2.3 Quá trình đậu quả
Tỷ lệ đậu quả của vải phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: đặc tính ra hoa, môi giới truyền phấn, nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa hay hàm lượng các chất dinh dưỡng, các loại phytohoocmon trong cây Trong quá trình nở hoa nếu gặp mưa phùn kéo dài, sẽ làm hạn chế sự tung phấn, hạt phấn bị trương lên, ống phấn có thể vỡ khi đang kéo dài, do đó rất khó khăn trong việc thụ phấn, thụ tinh Trái lại nếu nhiệt độ cao quá sẽ làm cho hạt phấn mất sức nảy mầm, thậm chí còn làm hạt phấn khô và chết khi chưa kịp nảy mầm Nhiệt độ thích hợp cho thụ phấn, thụ tinh là 22-270C, mặt khác ở khoảng nhiệt độ này mật hoa vải tiết nhiều hấp dẫn sự hoạt động của ong (môi giới truyền phấn) làm tăng tỷ lệ đậu quả Thời gian nở hoa nếu tạnh nắng, ấm áp thì tỷ lệ đậu quả của chùm ngắn cao, ngược lại thời tiết mưa râm thì chùm dài mọc ngoài tán thoáng gió nhanh khô nước nên tỷ
lệ đậu quả Ngoài ra môi giới truyền phấn (côn trùng, gió ) cũng đóng vai trò tích cực trong việc làm tăng tỷ lệ đậu quả
1.2.4 Các giai đoạn phát triển của quả
Nghê Diệu Nguyên (1991), quan sát trên giống vải Tam Nguyệt Hồng, Hắc Diệp và vải Nếp cho thấy: sau khi thụ tinh xong, bầu nhụy bắt đầu phát triển, tiến trình phát triển của quả vải được chia làm 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn phát triển của phôi và vỏ quả: Là giai đoạn từ khi hoa cái thụ tinh xong cho đến trước khi cùi xuất hiện rõ (khoảng 34 ngày) Giai đoạn này một ngăn bầu nhụy phát triển, còn ngăn kia không phát triển bị rụng đi, ít khi cả hai ngăn bầu nhụy đều phát triển thành quả Phôi hạt phình to hoặc ngừng phát triển Sau 30 ngày cuống hạt nổi rõ, cùi quả bắt đầu xuất hiện
+ Giai đoạn tử diệp tăng trưởng nhanh: Được tính từ khi cùi xuất hiện đến khi hạt đầy đặn (khoảng 14 ngày) Cùi xuất hiện và phát triển từ gốc hạt lên phía trên bao bọc lấy hạt, trong khoang hạt dần dần đầy tử diệp Hạt lớn nhanh và tăng khối lượng, vỏ hạt từ mềm dần chuyển sang cứng và rắn chắc
+ Giai đoạn cùi tăng trưởng nhanh và quả chín (khoảng 20 ngày): Sau khi
Trang 19bao kín hạt, cùi dày lên nhanh chóng và tăng khối lượng Do cùi bị ép chặt trong lớp
vỏ nên cùi bị gấp nếp Tiếp theo là sự chuyển hoá chất hữu cơ, chất đặc dễ hoà tan ngày càng tăng nhanh, hàm lượng nước tăng lên, vỏ quả quanh cuống bắt đầu chuyển sang màu hồng, vỏ phẳng hơn, cùi đầy đặn và chín Trong thực tế sản xuất thường gặp những giống kết quả đơn tính (quả không hạt) như giống Giả Quái Lục, Hoà Hà Xuyên, Giả Hương Lệ, những giống có quá trình phát triển của phôi thuộc loại không hoàn thiện như giống Lam Trúc (Trung Quốc) Khi hoa nở 30 - 35 ngày, phôi phát triển bình thường, nhưng sau đó một bộ phận phôi tiếp tục phát triển hình thành hạt to, bộ phận còn lại phôi ngừng phát triển, nếu ngừng sớm thì hạt lép, ngừng muộn hơn thì tạo hạt to nhỏ khác nhau Thực chất sự phát triển của hạt bao gồm quá trình sinh trưởng của phôi và quá trình sinh trưởng của nội nhũ Hiện tượng hạt lép xảy ra là do: Phôi chết làm nội nhũ ngừng phát triển hoặc phôi sống nhưng nội nhũ bị ức chế không hình thành Kích thước hạt là một trong những tiêu chuẩn đánh giá tốt xấu của quả vải, vì vậy nếu đảm bảo năng suất và chất lượng thì việc ứng dụng các chất ức chế sự phát triển của phôi hạt là điều hoàn toàn có ý nghĩa (Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần, 1998)
Hiện tượng rụng quả vải diễn ra liên tục từ khi đậu quả non đến trước thu hoạch và được chia làm 3 thời kỳ:
Thời kỳ rụng quả non: Khi quả bằng hạt đậu xanh, quả non rụng hàng loạt (rụng quả sinh lý đợt 1) Nguyên nhân chủ yếu của đợt rụng quả này là do thụ phấn, thụ tinh không hoàn toàn hoặc do thiếu dinh dưỡng hay nhiệt độ không thích hợp làm phôi teo quắt hoặc ngừng phát triển Đợt rụng quả này thường chiếm 30 - 35% tổng lượng quả rụng cả năm
Thời kỳ rụng quả khi quả đang phát triển: Khi cùi quả đã bao bọc được một nửa hạt, những hạt được phát triển đầy đủ thì to lên rất nhanh, những hạt không có khả năng phát triển thì phôi chết đi, nội nhũ ngừng sinh trưởng, thiếu dinh dưỡng và các chất điều hoà sinh trưởng gây rụng quả Đây là thời kỳ rụng quả sinh lý đợt 2, tỷ
lệ rụng chiếm 5 - 6% tổng lượng rụng quả non
Thời kỳ rụng quả trước thu hoạch: Thời kỳ này quả đã tích luỹ được phần
Trang 20lớn các chất dinh dưỡng, sự chuyển hoá các chất trong quả diễn ra nhanh, hàm lượng đường tăng lên Nguyên nhân rụng quả thời kỳ này chủ yếu là do thời tiết và sâu bệnh hại Nếu gặp mưa lâu ngày hay đang nắng hạn gặp mưa đột ngột sẽ làm nứt và rụng quả Rụng quả thời kỳ này tập trung vào 10 - 15 ngày trước thu hoạch
1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải
1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải trên thế giới
Năm 2006 diện tích trồng vải trên thế giới đạt 720.000 ha nhưng sản lượng đạt 2,3 triệu tấn Trong đó 98% sản lượng vải tập trung ở Châu Á, Trung Quốc là nước có sản lượng vải lớn nhất chiếm 70%, Ấn Độ đứng thứ 2 với 20% sản lượng, Thái Lan 3,9%, Việt Nam 2,3%, các nước còn lại sản lượng chiếm không quá 2%
Năng suất vải trên thế giới khá thấp, trung bình đạt 3,0 tấn/ha theo Phạm Văn Côn (1992) Nguyên nhân chủ yếu là do diện tích vải cho thu hoạch với tỷ lệ thấp
và năng suất thấp
Quả vải chủ yếu được tiêu thụ tại thị trường nội địa (90-95%), còn lại chỉ một phần nhỏ được xuất khẩu (5-10%) Theo tổng kết của những nước gần đây thì vấn đề khó khăn nhất trong sản xuất vải là bảo quản vải để xuất khẩu Sâu bệnh cũng là yếu tố giảm năng suất, sản lượng và chất lượng vải Trong khi đó quả vải đang được ưa thích tại các thị trường Châu Âu Các nước nhập khẩu vải là: Pháp, Đức, Anh, Hà Lan Và một số nước Châu Á như: Trung Quốc, Philippin, Nhật và Singapore
Thị trường Hồng Kông ngoài việc nhập khẩu vải tiêu thụ tại chỗ còn là nơi tái xuất vải lớn nhất sang các thị trường khác nhau trên thế giới như: Vùng Viễn Đông (Nga) và một số nước Trung Cận Đông, EU Chính vì vậy sự cạnh tranh trên thị trường này khá gay gắt Đầu những năm 80 vải Quảng Đông gần như độc chiếm thị trường này Những năm gần đây vải ở những vùng khác tham gia vào thị trường này như Đài Loan, Thái Lan, Việt Nam
Ở Australia cũng là một nước trồng nhiều vải, sản lượng vải năm 1990 vào khoảng 15000 tấn quả, đáng chú ý nhất là nước này rất chú trọng công tác cải tạo giống, chăm sóc cũng như bảo quản và chế biến quả sau thu hoạch
Trang 211.3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải tại Việt Nam
Năm 2007, diện tích trồng vải của cả nước đạt 88.900 ha với năng suất bình quân đạt hơn 5,5 tấn/ha và đạt sản lượng cao nhất với 428.900 tấn Một số tỉnh có diện tích trồng vải lớn như: Quảng Ninh (diện tích 5.174 ha; sản lượng 17.349 tấn), Thái Nguyên (diện tích 6.861ha; sản lượng 8.787 tấn), Lạng Sơn (diện tích 7.473 ha; sản lượng 12.684 tấn), Hải Dương (diện tích 14.219 ha; sản lượng 47.632 tấn) Tỉnh có diện tích và sản lượng lớn nhất là Bắc Giang: 39.835 ha (chiếm 40,42% tổng diện tích vải), sản lượng đạt 228.558 tấn (chiếm 51,36% sản lượng vải của cả nước)
Khoảng 75% sản lượng vải được tiêu thụ ngay trong thị trường nội địa, phần còn lại được sơ chế, xuất khẩu tươi và chế biến Thị trường xuất khẩu vải của Việt Nam chủ yếu là Trung Quốc, Hồng Kông, Hàn Quốc, Nhật Bản và một số nước khác trong khu vực và thị trường Châu Âu Lượng xuất khẩu các mặt hàng từ quả vải 6 tháng đầu năm 2007 được trình bày ở Bảng 1.2
Bảng 1.2 Lượng xuất khẩu các mặt hàng từ quả vải 6 tháng đầu năm 2007
KHẨU
SẢN LƯỢNG (tấn)
GIÁ TRỊ (USD)
Nguồn: Tổng công ty rau quả Việt Nam, 2007
Trong những năm gần đây, với chủ trương đẩy mạnh công tác phát triển cây
ăn quả đặc sản trên phạm vi toàn quốc, với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đặc
Trang 22biệt là sự đầu tư của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nên diện tích trồng cây ăn quả mỗi ngày càng tăng Bên cạnh việc phát triển cây ăn quả như cam, quýt, bưởi thì trong vòng 10- 20 năm trở lại đây, cây vải đã được người sản xuất quan tâm nên ngày càng được phát triển mạnh thành các vùng tập trung như: Thanh Hà, Lục Ngan, Đông Triều, Phú Hộ, vườn quốc gia Cát Bà và một số vùng như Hà Tây, Hòa Bình cũng đang có kế hoạch trồng vải thiều và xem đó như một loại cây chủ lực của cơ cấu cây ăn quả trong vùng
Năm 2007, diện tích trồng vải của cả nước đạt 88.900 ha với năng suất đạt bình quân hơn 5.5 tấn/ha và đạt sản lượng cao nhất với 428.900 tấn (Bộ nông
nghiệp và PTNN (2009)
Khoảng 75% sản lượng vải tiêu thụ ngay thị trường nội địa, phần còn lại được sơ chế, xuất khẩu tươi và chế biến Thị trường xuất khẩu vải của Việt Nam chủ yếu là: Trung Quốc, Hồng Kông, Hàn Quốc, Nhật Bản một số nước khác trong
khu vực và thị trường Châu Âu
Tuy nhiên từ năm 2008 đến năm 2010, diện tích trồng vải trong cả nước đã có
xu hướng giảm xuống Cụ thể năm 2008, diện tích trồng vải cả nước là 86.9 ngàn ha, chiếm 26% cây ăn quả toàn vùng thì đến năm 2009 diện tích trồng vải cả nước chỉ còn 62 ngàn ha Tỉnh Bắc Giang là tỉnh có diện tích trồng vải lớn nhất cả nước với hơn 39 ngàn ha, chiếm hown 44% diện tích vải cả nước, với sản lượng vảo thiều lớn nhất, chiếm hơn 50% sản lượng vải thiều cả nước năm 2008 thì đến năm 2010 tổng diện tích vải thiều của Bắc Giang là 36.900 ha, giảm 181 ha so cới năm 2009 Không chỉ riêng tỉnh Bắc Giang mà các huyện thuộc tỉnh Hải Dương, diện tích trồng vải cũng đang giảm mạnh xuống, trung bình mỗi năm diện tích vải giảm từ 100 - 150 ha
Diện tích trồng vải của cả nước có xu hướng giảm kéo theo đó là sự sụt giảm
về sản lượng Cụ thể năm 2009, vải thiều ở huyện Lục Ngạn - tỉnh Bắc Giang không những bị thu hẹp về diện tích mà sản lượng cũng giảm khoảng 50% so với cùng kỳ năm trước (đạt khoảng 25.000 tấn quả tươi) Năm 2010, sản lượng vải thiều của tỉnh Bắc Giang đạt 126.100 tấn quả tươi, xấp xỉ sản lượng thu hoạch của năm 2009 ( sản lượng năm 2009 là 127.796 tấn) Trong đó vải sớm chiếm khoảng 20%, vải muộn là 80% Huyện Lục Ngạn là huyện có vải thiều lớn nhất tỉnh, ước đạt 60 nghìn tấn, chiếm gần 50% sản lượng vải thiều toàn tỉnh Theo số liệu của Tổng cục thống kê,
Trang 23năm 2011, diện tích trồng vải tại Bắc Giang đạt hơn 35 nghìn ha, sản lượng toàn tỉnh đạt hơn 218 nghìn tấn, cao gần gấp đôi so với năm 2010 tập trung tại các huyện Tân Yên, Lục Ngạn, Lục Nam Riêng huyện Lục Ngạn sản lượng đạt khoảng 120 nghìn tấn Sang đến năm 2012, diện tích vải huyện Lục Ngạn đạt gần 84.000 tấn, giảm đi rất nhiều so với năm 2011.Sang đến năm 2013, toàn tỉnh Bắc Giang với tổng diện tích trên 32.000 ha (giảm 1.000 ha so với năm 2012), sản lượng toàn tỉnh đạt trên 140.000 tấn quả tươi Cụ thể: huyện Lục Ngạn đạt 72.000 tấn, Lục Nam 25.000 tấn, Tân Yên 8.000 tấn, Lạng Giang 7.500 tấn, Yên Thế 15.000 tấn, Sơn Động 4.000 tấn.Trong đó, vải sớm 21.000 tấn (chiếm 16%), vải muộn khoảng 110.000 tấn (chiếm 84%)
Tỉnh Hải Dương có sản lượng vải quả toàn tỉnh năm 2010 đạt 24 nghìn tấn, bằng 60,4% năm 2009 và chỉ bằng 34,8% so với năm 2008 (năm vải được mùa) Thanh Hà chỉ đạt sản lượng hơn 10.000 tấn, trong đó vải sớm đạt 7.000 tấn, vải thiều chính vụ đạt khảng 3.000 tấn (chỉ bằng 15-20% so với năm 2009)
Bên cạnh tiêu thụ quả vải tươi trong nước, quả vải tươi Việt Nam còn đã
và đang được xuất khẩu sang nước ngoài nhưng chủ yếu là qua của khẩu quốc
tế Lào Cai để sang Trung Quốc Trong vụ vải năm 2010 đã xuất khẩu gần 29 ngàn tấn qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai và đây là vụ vải thiều của Việt Nam có
số lượng xuất khẩu sang Trung Quốc qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai lớn nhất từ trước đến nay, tăng gần 10 ngàn tấn so với năm 2009 với giá bán là 14.000 đồng/kg, tăng hơn 4.000 đồng/kg so với năm 2009
Nhìn chung vải vẫn được tiêu thụ dưới dạng tươi là chính Theo ước tính hiện nay có khoảng 70% sản lượng vải tiêu thụ dưới dạng này Trong đó tiêu thụ nội địa chiếm khoảng 35- 40% Phần lớn lượng quả vải tươi sau khi thu hoạch đều được vận chuyển về phục vụ nhu cầu của dân cư các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh ngay trong ngày Một phần được các thương lái, các doanh nghiệp xuất khẩu hàng nông sản vận chuyển đến các thị trường tiêu thụ ở xa hơn như TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai hoặc xuất khẩu sang các nước Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Lào, Campuchia
Trang 241.4 Tình hình nghiên cứu sử dụng phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng AVG trong giai đoạn cận thu hoạch
1.4.1 Các nghiên cứu về phân bón lá
Ngoài phương pháp bón phân vào đất qua rễ hấp thụ cung cấp cho cây, ta vẫn có thể cung cấp dinh dưỡng trực tiếp cho cây bằng cách phun qua lá Biện pháp này có tác dụng bổ sung nhanh chóng một vài yếu tố cần thiết cho cây nhằm hạn chế kịp thời tác động xấu do thiếu chúng gây ra
Phân bón lá thường gồm 3 thành phần chính: các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng, ngoài ra còn có một số chất kích thích sinh trưởng Vai trò của phân bón lá đối với cây trồng là tác động tổng hợp của từng nhóm các nguyên tố
đa lượng, trung lượng và vi lượng, chúng có vai trò rất quan trọng trong đời sống cây trồng
- Nitơ: Rất cần cho cây ở các giai đoạn sinh trưởng, có tác dụng nâng cao năng suất, phẩm chất quả Nitơ thúc đẩy quá trình sinh trưởng dinh dưỡng, bón Nitơ hợp lý sẽ tạo cho cây phát triển khoẻ mạnh, nâng cao hiệu suất quang hợp, tích luỹ được nhiều chất dinh dưỡng, thuận lợi cho quá trình phân hoá hoa, tăng năng suất Bón thừa Nitơ làm cho cành lá phát triển quá mạnh, khó phân hoá mầm hoa, rụng hoa, rụng quả làm giảm sản lượng và phẩm chất quả kém, sức chống chịu sâu bệnh giảm Thiếu Nitơ, cây có màu vàng nhạt, sinh trưởng kém, lộc mọc yếu, cành lá bé,
lá rụng sớm, hoa và quả rụng nhiều, năng suất thấp, tuổi thọ của cây ngắn
- Phốt pho: Giúp cho sự phát triển của rễ, tăng cường khả năng chống hạn, chống rét cho cây, thúc đẩy quá trình phân hoá mầm hoa, sự phát dục của quả, sự thành thục của hạt, nâng cao phẩm chất quả Thiếu lân cây vải có lá to hơn và có màu xanh tối, nếu thiếu nghiêm trọng lá nhọn ra, chóp lá có màu nâu sẫm, có đốm khô và sau loang ra gân chính
- Kali: Giúp cho cấu tạo mô cây thêm cứng cáp, việc vận chuyển các sản phẩm quang hợp đến các tổ chức của cây được thuận lợi Kali làm tăng sức đề kháng của cây như: chịu hạn, chịu lạnh, chịu nóng, tăng khả năng chống chịu sâu
Trang 25bệnh Kali thúc đẩy chuyển hoá và vận chuyển đường giúp cho quả lớn nhanh, tăng phẩm chất quả, tăng khả năng bảo vệ của vỏ quả
- Can xi: Tham gia vào cấu tạo của vách tế bào, thiếu can xi lá nhỏ lại, mép
lá có những đốm khô và uốn cong, rễ sinh trưởng kém, lá non dễ bị rụng
- Magiê: Tham gia vào cấu tạo diệp lục, thúc đẩy quá trình tăng trưởng quả, nâng cao chất lượng quả Thiếu Mg lá nhỏ lại, hai bên gân chính xuất hiện nhiều đốm khô nhỏ gần như phân bố song song với nhau, rễ ít
Các nguyên tố vi lượng giữ vai trò quan trọng đối với sinh trưởng và phát triển của cây Theo Lê Văn Tri (1992), ngoài các nguyên tố đa lượng và trung lượng còn có một số nguyên tố mà cây cần rất ít nhưng nếu thiếu thì cây không thể phát triển bình thường được, những nguyên tố đó được gọi là nguyên tố vi lượng Vai trò sinh lý và nông hoá của các nguyên tố vi lượng trong đời sống cây trồng thể hiện ở nhiều mặt, chúng thúc đẩy sự trao đổi chất trong cây, tác động tốt đến các quá trình sinh lý và sinh hoá, ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp diệp lục và nâng cao cường
độ quang hợp, tăng cường khả năng chống chịu của cây đối với bệnh nấm, vi khuẩn
và các điều kiện bất lợi của môi trường
Theo Nguyễn Văn Uyển (1995), Võ Minh Kha (1996), các nguyên tố vi lượng có thể được phun lên lá nhằm kịp thời cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây, nhất là các nguyên tố như: Bo, Mn, Cu, Zn, Mo
Khi cung cấp Bo cho vải trong trường hợp cấp bách dùng 50 ppm axit boric (H3BO3) phun liên tiếp 2-3 lần sẽ có tác dụng tăng tỷ lệ đậu quả từ 2,4 lên 4 lần so với đối chứng Dùng axit boric nồng độ 60 ppm để phun vào giai đoạn nở hoa làm tăng khả năng nảy mầm của hạt phấn và ống phấn kéo dài có lợi cho việc thụ tinh Nếu sử dụng axit boric 80 ppm không có lợi cho sự nảy mầm của hạt phấn, với 300 ppm có hại cho hoa cái Vì vậy, khi sử dụng axit boric cần chú ý đến nồng độ của
Bo, nồng độ phun thường là 0,05 - 0,1%
Kỹ thuật bón phân cho cây được các nước trên thế giới nghiên cứu, áp dụng dựa trên cơ sở phân tích dinh dưỡng đất, phân tích dinh dưỡng lá và năng suất ở
vụ quả trước Ngoài khả năng hút dinh dưỡng từ đất qua rễ cây trồng còn có khả
Trang 26năng hút dinh dưỡng qua lá Bón phân qua lá cho cây trồng là một phương pháp hiệu quả cung cấp dinh dưỡng cho cây Sử dụng phân bón lá, nếu áp dụng đúng phương pháp, có thể thu được lợi nhuận kinh tế cao vì hiệu quả của sự hấp thụ phân bón lá cao đến 80% so với 20 - 50% phân bón được hấp thụ ở rễ Cây tiếp nhận dinh dưỡng do bón qua lá với diện tích bằng 15- 20 lần diện tích đất ở tán cây che phủ Chất dinh dưỡng được bón qua lá chỉ có thể vào mô lá qua các lỗ khí khổng Như vậy bón phân qua lá vào thời điểm khí khổng mở rộng hoàn toàn thì hiệu quả đạt cao nhất
Ngoài ra, phân bón lá dưới hình thức hỗn hợp còn giúp cho cây chịu đựng được một số vấn đề như hạn hán, bệnh tật và mật độ cây cao Phân bón lá có thể gồm các chất dinh dưỡng chính như đạm, lân và các chất vi lượng như Fe, Zn, Cu,
Bo, Mn, Mg và cả các chất kích thích tố Sử dụng phân bón lá, nếu áp dụng đúng phương pháp, có thể thu được lợi nhuận kinh tế cao vì hiệu quả của sự hấp thụ phân bón lá cao đến 80% so với 20 -50% phân bón được hấp thụ ở rễ Mặt khác, bón phân qua lá giúp cho cây trồng trong những điều kiện hạn hán hoặc ngập lụt, thời kỳ khủng hoảng của cây trồng, cây suy kiệt là con đường nhanh nhất giúp cho cây nhanh chóng hồi phục Phun phân bón lá không chỉ có tác dụng làm tăng năng suất cây trồng mà nó còn có tác dụng làm tăng phẩm chất nông sản
Theo Phạm Văn Côn (2005) đã tiến hành trên vải Phú Hộ thì phun Bo và phun phối hợp Bo + Zn đều làm tăng số quả cao nhất so với đối chứng (tăng 50,4-92,8%) Ở giống Phú Hộ phân vi lượng làm tăng hàm lượng đường (2,0-17,0% so với đối chứng), tăng hàm lượng vitamin (từ 17,0-22,7% so với đối chứng), giảm lượng axit (25% so với đối chứng), còn đối với vải Thanh Hà các chỉ tiêu thay đổi rất ít Cũng với giống vải thiều Thanh Hà ở Lục Ngạn (Bắc Giang) Bo + Cu và Bo +
Zn làm tăng số quả thu hoạch tới 90,3 - 109,5% Khối lượng quả tăng 5,9 - 8,5% tăng năng suất 101,3 - 127,3% Chất lượng quả cũng tăng: Độ Brix tăng 4,5-7,3% đường tổng số tăng 4,5-12,1% axit giảm 33,4% vitamin C giảm 3,7 - 3,1%
Khi sử dụng chế phẩm phân bón lá VACVINA-KB1 cho cây vải đã làm tăng khả năng tích lũy các nguyên tố dinh dưỡng giúp cây phát triển nhanh, nhưng
Trang 27không gây độc hai cho cây Hệ số hấp phụ sinh học cao hơn và làm tăng năng suất tới 13% Quả tròn, màu đỏ, vị thơm ngon và đặc biệt là cùi vải dày hơn, trong hơn
Theo Nguyễn Khắc Thái Sơn (2005) khi phun chế phẩm Vân đài tố cho vải làm tăng tỷ lệ đậu quả và khối lượng quả dẫn đến năng suất vải tăng từ 19 - 34% Phun hai lần chế phẩm Vân đài tố 0,01% vào lúc tàn hoa và trước lúc thu hoạch 1 tháng cho hiệu quả cao nhất, và phun chế phẩm Vân đài tố đại trà 2 lần cho vải ở nồng độ 0,03% cho vải đã làm tăng năng suất lên 28%
Theo Phạm Minh Cương (2005) xử lý trước thu hoạch giống vải thiều Phú Hộ và vải thiều Thanh Hà bằng phun bổ sung Bo + Zn đã giúp tăng năng suất, Phạm Minh Cương và cs (2005), Vũ Mạnh Hải và cs (2004) cho rằng có thể chống rụng quả vải đáng kể bằng cách phun kép Ure 1% với NAA (Naphthyl axetic acid) 20 ppm
Theo Vũ Văn Liết, Cao Anh Long, Nguyễn Quang Thạch đã xử lý Spray -
N - Grow (SNG) và bón Bill’s perfect fertilize (BPF) cho cây nhãn nhận thấy: SNG + BPF có tác dụng làm tăng kích thước quả rõ rệt nhưng khối lượng quả tăng không
rõ vì cùi có hàm lượng nước thấp hơn đối chứng, tỷ lệ cùi tăng, tỷ lệ hạt giảm, vỏ quả sáng bóng và năng suất quả tăng trung bình 10,69%
Theo Vũ Vọng (2002) biện pháp làm tăng khả năng đậu hoa, đậu quả của vải, nhãn tốt nhất là phun thuốc đậu quả như các chất kích thích sinh trưởng NAA, GA3, axit boric, Sunphat đồng Có thể dùng riêng rẽ hay dùng hỗn hợp các nguyên
tố vi lượng kết hợp với các chất kích thích sinh trưởng để phun khi hoa bắt đầu nở
và khi hoa nở rộ để làm tăng tỷ lệ đậu quả, giảm tỷ lệ rụng quả non Viện nghiên
cứu cây ăn quả miền Nam đã tiến hành thí nghiệm “Ảnh hưởng của các liều lượng phân bón NPK đến năng suất và phẩm chất nhãn tiêu da bò” và rút ra kết luận:
Năng suất nhãn tăng lên một cách có ý nghĩa ở công thức bón phân NPK cao so với công thức đối chứng: 450 - 240 – 330; 350 - 180 - 270, (N – P2O5 - K2O g/cây/vụ) + phân hữu cơ Các công thức bón lượng kali cao và bón thêm phân hữu cơ đã làm gia tăng độ Brix (%), màu sắc vỏ trái cũng sáng đẹp hơn theo Viện nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam (2001)
Trang 281.4.2 Chất điều hòa sinh trưởng AVG
1.4.2.1 Khái niệm về AVG (Aminoethoxyvinylglycine)
AVG là chất điều hoà sinh trưởng, có tác dụng làm chậm quá trình chín và tăng cường độ chắc cũng như chất lượng của quả Do đó tăng khả năng chống chịu
sự va đập của quả trong quá trình vận chuyển AVG là sản phẩm được chiết xuất từ thực vật bằng phương pháp lên men đậu nành nên không ảnh hưởng đến sức khoẻ của người tiêu dùng Bên cạnh đó, người ta cũng đã tiến hành kiểm tra độc tính của AVG Các dữ liệu thu thập được đã chỉ ra rằng độc tính của AVG là rất thấp, chưa
có báo cáo nào công bố rằng việc sử dụng AVG gây ra những tác động có hại đối với con người
- Aminoethoxyvinylglycine có công thức phân tử: C6H12N2O3
- Công thức cấu tạo:
Cơ chế tác dụng chính của AVG là ức chế hoạt lực ACC synthase, đây là enzym có trách nhiệm chuyển hóa cơ chất SAM thành ACC (chất tiền etylen) Do
đó, hàm lượng ACC tạo thành thấp dẫn đến cường độ sản sinh etylen được hình thành cũng thấp Vì vậy, làm chậm quá trình chín và kéo dài thời gian bảo quản quả sau thu hoạch
1.4.2.2 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng AVG trên thế giới
Hiện nay trên thế giới, có nhiều nghiên cứu về sự tác động của chất điều hòa sinh trưởng thực vật Aminoethoxyvinylglycine (AVG) nhằm kéo dài thời vụ thu hoạch và tăng khả năng bảo quản sau thu hoạch của rau quả AVG là cơ chất kìm hãm cạnh tranh của enzym ACC synthase làm giảm sự sinh tổng hợp etylen (etylen
là một loại chất được tạo ra từ nhiều loại cây trái, thúc đẩy nhanh quá trình chín và quá trình già hóa cây trồng, hoa cắt cành, trái cây và rau quả), từ đó làm chậm quá trình chín và kéo dài thời gian bảo quản rau quả sau thu hoạch AVG thường xuyên được sử dụng như là một chất kìm hãm cạnh tranh đặc hiệu của quá trình sinh tổng
NH2
Trang 29hợp etylen cho rau quả trong nghiên cứu và đã được ứng dụng trong thực tế ở nhiều nước phát triển
Một số công trình nghiên cứu và ứng dụng AVG của các tác giả Jobling
và cs (2003), Drake và cs (2005), Leja và cs (2002) trên các loại quả táo, mận,
lê, đào Các nghiên cứu chỉ ra rằng phun AVG ở giai đoạn cận thu hoạch đã
có tác dụng đáng kể trong việc tăng năng suất, duy trì độ cứng, cải thiện màu sắc, làm chậm quá trình chín và kéo dài thời gian bảo quản đáng kể so với mẫu không xử lý
Những công trình nghiên cứu đầu tiên về AVG chủ yếu tập trung ở các loại quả táo Năm 1981, các nhà khoa học đã tiến hành một số thí nghiệm về AVG trên các quả táo “Golden Delicious” Ở các thí nghiệm này, quả sau khi thu hoạch đạt
độ chín thu hái được nhúng vào dung dịch AVG ở các nồng độ là 0, 100, 200 hoặc
400 ppm Kết quả chỉ ra rằng, nồng độ xử lý AVG (400 ppm) có khả năng kéo dài thời gian bảo quản quả đến tuần thứ 9
Năm 1980, nhà khoa học Williams ở Wenatchee đã sử dụng chất kháng etylen AVG để ngăn chặn quá trình sinh tổng hợp etylen nội sinh trong quả táo
từ đó làm giảm sự rụng quả trên cây, nâng cao chất lượng và làm chậm quá trình chín của quả sau thu hoạch
Theo kết quả nghiên cứu của Jobling và cs (2003) khi tiến hành phun AVG lên quả mận cho thấy, quả duy trì được độ cứng, màu sắc tươi đậm và kìm hãm được tốc độ sản sinh etylen Bên cạnh đó, xử lý AVG trước và sau thu hoạch cũng
có tác dụng làm ngăn cản quá trình sinh tổng hợp etylen và trì hoãn sự chín của táo Leja và cs (2002) nhận ra rằng sự trì hoãn quá trình chín ở táo phụ thuộc vào giống
và nồng độ xử lý AVG Phun AVG đã làm ức chế các quá trình sinh lý, sinh hoá xảy ra trong quả và giảm số lượng quả bị hư hỏng do hiện tượng chín nứt và chảy nước từ lõi táo Các nhà làm vườn đã áp dụng phun AVG với hàm lượng 830 g/ha
từ 21 - 28 ngày trước khi thu hoạch để làm chậm quá trình chín và kéo dài thời gian bảo quản của quả táo Gala và Pink Lady
AVG được ứng dụng cho nhiều loại quả khác như táo, lê Ngoài làm chậm quá trình chín của quả, còn giảm rụng quả và nâng cao chất lượng quả Đối với
Trang 30hoa, AVG (chế phẩm ReTain) có tác dụng làm giảm một số vấn đề thường gặp
như ngăn chặn độ già Theo Denise L (2001), AVG được sử dụng ở dạng phun,
ứng dụng cho táo, lê, phun trước 28 ngày trước thu hoạch, cho hoa từ 24 đến 48h trước khi đóng gói hay vận chuyển Trên thang độ độc I-IV, AVG có độ độc hạng III (độ độc nhẹ) cho da và đường hô hấp, nên với bảo hộ lao động dùng cho phun thuốc bảo vệ thực vật đủ đảm bảo an toàn vệ sinh trong lao động Không có ảnh hưởng đến sức khỏe khi sử dụng chế phẩm ReTain Trong tự nhiên, AVG
còn được sinh ra bởi vi khuẩn có trong đất là Streptomyces sp Con người thường
bị phơi nhiễm với sự có mặt của AVG một cách rất tự nhiên Theo các kết quả nghiên cứu cho thấy AVG không có tác động đến tuyến nội tiết cũng như không
có nguy cơ tác động đến sức khỏe người tiêu dùng các sản phẩm nông sản đươc
xử lý với chế phẩm ReTain
Các nghiên cứu của Drake và cs (2005) chỉ ra rằng khi xử lý AVG trên quả táo có thể làm tăng chất lượng, tăng kích thước làm tăng giá bán Chất điều hòa sinh trưởng sinh học có thể ảnh hưởng đến nhiều quá trình sinh lý của rau hoa quả khi tác động trước thu hoạch Kiểm soát quá trình ra hoa, rụng quả trước thu hoạch, độ chín, hình dạng kích thước, màu sắc độ cứng và chất lượng quả sau thu hoạch Hai chất điều hòa sinh trưởng Aminoethoxyvinylglycine (AVG) và ethyphone đã và đang được sử dụng rộng rãi riêng rẽ hoặc kết hợp trong giai đoạn cận thu hoạch Sử dụng AVG làm chậm tổn thất tinh bột ở thời điểm thu hái, tăng cường độ cứng, giảm etylen sinh ra trong bảo quản Ethyphone kích thích quá trình chín, tăng quá trình thủy phân tinh bột, kích thích phát triển màu quả (từ xanh sang vàng đỏ) tăng hàm lượng chất khô hòa tan, Ethyphon không làm giảm độ cứng quả trước thu hoạch, nhưng giảm độ cứng trong bảo quản AVG phun cho cây táo ở mùa xuân ức chế sự sinh etylen trong lúc ra lộc trong thời gian ngủ đầu mùa xuân Dẫn đến một
sự tăng rõ rệt ra lộc, phân nhánh và tăng độ che phủ của lá Áp dụng ở nồng độ 400ppm tăng khả năng đậu quả và tăng hạt trong 1 quả Sự sản sinh etylen tăng khi thêm AgNO3 và bị kìm hãm bởi AVG 10 micromole
100-Trong quả táo Gala được xử lý với AVG thì người ta quan sát thấy quá trình chuyển hóa tinh bột thành đường và những thay đổi màu sắc bị trì hoãn từ 9 - 12
Trang 31ngày, còn sự mềm hóa quả bị trì hoãn trong 5 ngày Quả táo Pink Lady diễn ra sự chuyển hóa tinh bột thành đường và những thay đổi màu sắc xảy ra chậm hơn 5 ngày và sự mềm hóa chậm hơn 7 ngày Người ta cũng nhận thấy rằng, quả táo Cripp’s Pink ở Úc được phun AVG trước thu hoạch 5 tuần kết hợp xử lý với ethephon ở thời gian 2 tuần cuối cùng trước khi thu hoạch cho sản phẩm thu được
có màu sắc cải thiện đáng kể và chất lượng được duy trì trong thời gian dài
Theo kết quả công bố năm 2010 khi xử lý kết hợp giữa AVG và 1-MCP trên quả (Musa acuminata cv Cavendish) đã ức chế quá trình sản sinh etylen, kìm hãm cường độ hô hấp, duy trì sự biến đổi tinh bột thành đường cũng như độ cứng và kéo dài thời gian bảo quản quả sau thu hoạch
Đối với các quả đào và xuân đào được xử lý với AVG ở giai đoạn cận thu hoạch, cho thấy độ cứng có khả năng được duy trì cũng như hạn chế được tỷ lệ rụng quả và cuối cùng làm cho quá trình chín xảy ra chậm hơn Tuy nhiên, tác động này phụ thuộc vào thời gian xử lý AVG và tính chất của từng loại quả của cây trồng Khi tiến hành xử lý AVG 150 mg.l-1/l với cây đào Akatsuki và Kawanakajima Hakuto đồng thời kết hợp xử lý với 1-MCP (1 µl.l-1)/l sẽ làm kìm hãm quá trình sinh lý, hoá sinh xảy ra trong quả sau thu hoạch Điều đó có nghĩa quá trình chín bao gồm sự mềm hóa và những thay đổi về màu sắc bị ức chế nên xảy ra chậm lại Do đó, quả vẫn duy trì được độ cứng và màu sắc sau thu hoạch Ngày nay, AVG đã được sử dụng khá phổ biến trên thế giới cho nhiều loại quả Việc nhúng quả vào các dung dịch AVG với nồng độ thích hợp đã được áp dụng cho các loại quả như đào, mận, quả, lê mang lại hiệu quả cao trong việc kéo dài thời gian bảo quản Nếu phun AVG lên cây ăn quả có thể làm giảm hiện tượng rụng hoa, tăng sản lượng và có thể điều chỉnh được thời điểm thu hoạch Đồng thời, việc phun AVG lên quả còn ở trên cây không gây ảnh hưởng đến chất lượng quả và kéo dài được thời gian bảo quan sau thu hoạch
1.4.2.3 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng AVG ở Việt Nam
Các chất điều hoà sinh trưởng có vai trò rất quan trọng trong quá trình điều khiển sinh trưởng, phát triển của cây, gồm có: các chất kích thích sinh trưởng và các chất ức chế sinh trưởng Tuy nhiên, tuỳ từng loại chất mà chúng có thể tham gia vào
Trang 32các quá trình cơ bản như: Điều khiển các quá trình sinh trưởng (ra lá, phát chồi, tăng trưởng chiều cao cây, đường kính thân), điều khiển quá trình phát triển (ra hoa, đậu quả chính vụ và trái vụ), điều khiển quá trình ra rễ cho cành giâm, cành chiết, điều khiển quá trình bảo quản hoa, quả trên cây và trong kho, điều chỉnh quá trình hoá già của các bộ phận trên cây
Trong nhiều năm qua, các nhà khoa học đã nghiên cứu các quá trình biến động, tích luỹ các chất điều hoà sinh trưởng trong từng giai đoạn phát triển của cây, biết được những phát triển bất thường của cây do chất nào gây nên để từ đó có những quyết định đúng đắn trong việc bổ sung các chất điều hoà sinh trưởng tương ứng cho cây, nhằm làm cho cây phát triển bình thường hoặc điều khiển phát triển theo hướng mong muốn của con người
Theo Lê Văn Tri (2001), để nghiên cứu ảnh hưởng của từng chất, người ta có thể phun trực tiếp lên từng bộ phận của cây trồng các chất riêng biệt ở các nồng độ khác nhau Những nghiên cứu về tác dụng của các chất điều hoà sinh trưởng trên cây vải đến nay còn rất hạn chế, tuy nhiên các kết quả nghiên cứu đều cho kết quả khá rõ về tác động của chúng
Hiện nay, vấn đề nghiên cứu và ứng dụng chất kháng etylen AVG trên các đối tượng rau, hoa quả nhằm điều tiết quá trình sinh tổng hợp etylen và kéo dài thời gian bảo quản sau thu hoạch ở nước ta còn khá mới mẻ và có rất ít các công trình nghiên cứu được công bố
Theo báo cáo của tác giả Nguyễn Tuấn Minh và cs (2008) khi khảo sát ảnh hưởng của AVG trên đối tượng hoa cúc, cho thấy việc xử lý với AVG một giờ trước thu hoạch tại thời điểm ngày thứ 40 kể từ khi nhú mầm hoa, đã làm ức chế quá trình tổng hợp etylen nội sinh đồng thời làm giảm cường độ hô hấp của hoa trong quá trình bảo quản và cắm bình Bên cạnh đó, đường kính của bông đạt 79 -
89 mm, tỷ lệ hư hỏng thấp (sau 20 ngày bảo quản, tỷ lệ lá vàng 3,4% và sau 7 ngày cắm bình, tỉ lệ lá vàng 3,9%) và hoa có chất lượng tốt nhất với độ nở đạt yêu cầu 108 - 118 mm
Trang 33
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Khắc Thái Sơn (2004), phun 4 lần GA3 cho vải thiều Thanh Hà 8 năm tuổi với các nồng độ 15, 30, 75, 75 ppm hoặc 20,
40, 100, 100 ppm (vào các thời điểm: hoa nở rộ, hình thành quả, hình thành cùi, quả chắc xanh) đã làm tỷ lệ đậu quả tăng lên từ 2,78% lên 4,92 - 5,05% quả to hơn, mã đẹp hơn, tỷ lệ nứt vỏ giảm, tỷ lệ phần ăn được tăng từ 70,5% lên 75 - 75,85%, thời gian từ khi hoa nở rộ đến khi quả chín từ 75 lên 78 ngày, năng suất tăng từ 51% đến 59%
Đối với việc sử dụng chất kích thích sinh trưởng trong công tác bảo quản vải tươi, (Nguyễn Mạnh Khải và Nguyễn Quang Thạch, 1999), bước đầu cho thấy hỗn hợp chất kích thích sinh trưởng và vi lượng có tên là KIVIVA làm tăng tỷ lệ đậu quả (tăng 10% so với đối chứng), chống rụng quả (phun hai lần vào lúc hoa nở rộ và sau đó 10 ngày), làm tăng kích thước quả và cải thiện tình trạng vỏ quả (phun sau khi hoa nở rộ 45 ngày), làm chậm chín 10 ngày so với đối chứng và tăng khả năng bảo quản (phun vào lúc kích thước quả đạt tối đa và đang bước vào giai đoạn chín)
Từ năm 2004 - 2007, trong khuôn khổ dự án ACIAR PHT 2002/086: “Hoàn thiện chất lượng sau thu hoạch quả ôn đới ở Việt nam và Australia”, Viện Nghiên
cứu Rau Quả đã tiến hành nội dung nghiên cứu ảnh hưởng của xử lý trước thu hoạch đào và mận Tam Hoa Bắc Hà bằng cách phun AVG (ReTain®)i lên cây 2-3 tuần trước thời điểm thu hái truyền thống đến chất lượng, khả năng bảo quản và khả năng vận chuyển của quả mận và đào Kết quả cho thấy việc xử lý này đã đem lại hiệu quả rõ rệt đối với chất lượng quả mận, đào trong quá trình vận chuyển và lưu thông trên thị trường (tăng độ cứng và kích thước quả, giảm tỉ lệ bầm dập…)
Trung tâm thông tin và Chuyển giao công nghệ mới (Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hà Giang) đã phối hợp với Khoa Công nghệ thực phẩm thuộc Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội triển khai đề tài nghiên cứu khoa học làm chín chậm quả cam bằng chế phẩm KIVIVA KIVIVA có thành phần bao gồm ức chế sinh trưởng
và một số nguyên tố vi lượng cần thiết cho sinh trưởng, phát triển của quả cam, đặc biệt làm chậm quá trình chín sinh lý và chín kỹ thuật, kéo dài thời gian thu hoạch và
đã triển khai ứng dụng năm 2004
Trang 34Theo Nguyễn Thị Bích Thủy (2006), xử lý nhãn Hương chi bằng chế phẩm KIVIVA (chất kích thích sinh trưởng kết hợp vi lượng) tại các thời điểm nở hoa, sau
nở hoa và cận thu hoạch đã cải thiện được năng suất thông qua tăng tỷ lệ đậu quả, giảm nứt, thối, tăng kích thước, trọng lượng, thịt quả và kéo dài thời gian thu hoạch khoảng 2 tuần Trần thế Tục (2002) đã nghiên cứu về ảnh hưởng của phân vi lượng cho nhãn nhận thấy tăng trọng lượng, tỷ lệ cùi quả và cải thiện mã quả
Theo Phạm Minh Cương (2000), xử lý trước thu hoạch giống vải thiều Phú
Hộ và vải thiều Thanh Hà bằng phun bổ sung Bo + Zn đã cho kết quả tốt, tăng năng suất Vũ Mạnh Hải và cs (1988) cho rằng chống rụng quả vải đáng kể bằng cách phun kép Ure 1% với NAA 20 ppm
Trên đối tượng quả vú sữa, kết quả thực nghiệm của tác giả Nguyễn Ngữ và
cs (2010) khi sử dụng AVG ở nồng độ 1.000 ppm phun vào ngày thứ 30 trước thu hoạch kết hợp xử lý với 1-MCP 1 ppm, kết quả cho phép kéo dài thời gian bảo quản đến 3 tuần, chất lượng quả có độ đồng đều tương đối về màu sắc và trọng lượng Đặc biệt về chất lượng cảm quan thử nếm thịt quả và màu sắc vỏ quả cho thấy mẫu
xử lý 1.000 ppm là tối ưu nhất
Ở Việt Nam, các nghiên cứu ứng dụng AVG trong giai đoạn cận và sau thu hoạch còn khá mới mẻ Một số nghiên cứu của tác giả Chu Doãn Thành và cộng sự (2007) trên quả mận Tam Hoa, của tác giả Nguyễn Ngữ và cs (2010) trên quả vú sữa, của tác giả Nguyễn Tuấn Minh và cs (2008) trên trên quả vải chín sớm Bình Khê … cho thấy, khi xử lý AVG vào giai đoạn trước thu hoạch 2 - 3 tuần giúp tăng khối lượng, độ cứng của quả và kéo dài thời gian thu hái
Trang 35Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Cây và quả vải thiều (9-10 năm tuổi) được trồng tại Xã Giáp Sơn - Huyện
2.3 Hóa chất sử dụng cho nghiên cứu
- Chế phẩm Aminoethoxyvinylglycine (AVG), tên thương mại là Retain, dạng bột, kèm theo dung môi bám dính, dễ hòa tan trong nước, hãng sản xuất Sumitonomo Chemical, Australia
- Phân bón lá Multi-pholate, hãng sản xuất Yara UK Ltd, Anh
- Các hóa chất phân tích: K3Fe(CN)6, NaOH, HCl, Iod, KOH, tinh bột, xanh metylen, phenolphtalein
2.4 Nội dung nghiên cứu
Trang 36- Trên cơ sở đặc tính và hiệu quả tác dụng của phân bón lá, chất điều hòa sinh trưởng tới chất lượng và thời điểm thu hái của quả cũng như những biến đổi sinh lý, sinh hóa của quả trong giai đoạn cận thu hoạch đồng thời kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có, chúng tôi bố trí thí nghiệm xử lý trong giai đoạn cận thu hoạch cho cây vải thiều như sau:
+ Công thức đối chứng (ĐC): Phun nước lã
+ Công thức thí nghiệm (TN): Phun phân bón lá MultiPholate 2,0 g/l, chất điều hòa sinh trưởng Retain 0,83 g/l
- Thí nghiệm được bố trí trên cây vải thiều đang trong độ tuổi thu hoạch
(9-10 năm tuổi) với 5 cây/ lần nhắc lại, 3 lần nhắc lại/ 1 công thức Như vậy, tổng số cây trong thí nghiệm là 5 cây x 3 lần nhắc x 2 công thức = 30 cây
- Số lượng cây vải thí nghiệm và cây vải đối chứng được lựa chọn ngẫu nhiên trên cùng một vạt vải theo (hình thoi), cây vải thí nghiệm và cây vải đối chứng được chọn ngăn cách bởi ba hàng vải liền kề giữa hai công thức
- Tần suất lấy mẫu: 7 ngày/ lần vào 3 thời điểm (thời điểm thu hái truyền
thống: 85 - 90 ngày tính từ khi đậu quả, sau thời điểm thu hái 1 tuần và sau thời điểm thu hái 2 tuần)
- Chỉ tiêu theo dõi: Kích thước quả, khối lượng quả, độ cứng quả, màu sắc
vỏ quả, hàm lượng chất khô hòa tan, hàm lượng nước, hàm lượng axit, hàm lượng đường, đánh giá cảm quan
2.5.1.2 Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp xử lý trong giai đoạn cận thu hoạch tới chất lượng quả vải thiều trong quá trình bảo quản
- Sau thí nghiệm 1 chúng tôi chọn ra được thời điểm thu hái thích hợp để thu hái nguyên liệu cho bảo quản Quả vải sau thu hái được xử lý và bảo quản lạnh theo
Trang 37quy trình khuyến cáo của Viện Nghiên cứu Rau qủa Thí nghiệm gồm 2 công thức được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn với 3 lần nhắc lại
Sơ đồ quy trình như sau
Xử lý sau thu hái
Cắt tỉa cành, lá, loại bỏ quả
thối hỏng
Vận chuyển bằng thùng xốp loại 30kg có lót túi PE
Nước đá 50C bổ sung clo 0,05% trong 3 phút
Thu hái khoảng ngày thứ 90
- 95 tính từ khi đậu quả
4 ±10C
Nguyên liệu (quả vải thiều)
0,3% trong 2 phút
Trang 38Thuyết minh quy trình
Nguyên liệu (quả vải thiều)
Quả vải thiều tươi được thu hái vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát Thời điểm thu hái khoảng ngày thứ 85 - 95 tính từ khi đậu quả Qủa vải thiều khi thu hái cần đạt các tiêu chí được đưa ra trong bảng tiêu chuẩn chất lượng nguyên liệu cho tiêu thụ tươi và bảo quản
Xử lý sau thu hái
Ngay sau khi thu hái, quả vải được tập kết vào nơi râm mát (nhà có mái che hoặc căng bạt) để xử lý lạnh sơ bộ (pre-cooling) Nhúng vải trong nước đá 5±20C
bổ sung dung dịch sát khuẩn clo 0,05% trong thời gian 3 phút
Trước khi đưa vào bảo quản, tiến hành cắt tỉa lá, cành, loại bỏ những quả vải
bị thối hỏng không đủ tiêu chuẩn bảo quản và bó thành các bó có khối lượng 2
±0,1kg Công đoạn sơ chế được thực hiện trong phòng mát (nhiệt độ dưới 250C)
Xông 1-MCP
Vải sau khi sơ chế được đưa vào buồng kín để xông 1-MCP với nồng độ 700ppb trong thời gian 12 giờ Vì thời gian xông tương đối dài nên tốt nhất thực hiện công đoạn này trong kho lạnh có nhiệt độ 15±10C để đảm bảo giữ ổn định chất lượng nguyên liệu
Xử lý kháng khuẩn
Sau khi xông 1-MCP, tiến hành xông tinh dầu xả để xử lý chống thối mốc cho quả vải thiều ở nồng độ 0,2% trong thời gian 3 giờ Công đoạn này cũng được thực hiện trong kho lạnh có nhiệt độ 15±10C Để tiết kiệm thời gian, công đoạn này
có thể thực hiện nối tiếp với công đoạn xông 1-MCP (sau khi xông 1-MCP được 9 giờ tiến hành bổ sung tinh dầu sả vào buồng xông và xông hết thời gian còn lại)
Bao gói, bảo quản
Sau khi thực hiện xong các công đoạn xử lý, quả vải được đóng trong các túi LDPE đục lỗ 2% diện tích bề mặt hoặc xếp quả rời trong các khay xốp bọc màng
Trang 39thực phẩm và đưa vào bảo quản trong kho lạnh nhiệt độ 4 ±10C
+ Công thức đối chứng (ĐC): Quả vải được lấy từ các cây thuộc công thức đối chứng của nội dung 1
+ Công thức thí nghiệm (TN): Quả vải được lấy từ công thức xử lý phân bón
lá MultiPholate và chất điều hòa sinh trưởng Retai của nội dung 1
- Tần suất lấy mẫu: 7 ngày một lần vào các ngày 7, 14, 21, 28 tính từ thời
điểm bắt đầu bảo quản
- Các chỉ tiêu theo dõi: Màu sắc vỏ quả, hàm lượng chất khô hòa tan, hàm
lượng đường tổng số, hàm lượng vitamin C, đánh giá cảm quan, cường độ hô hấp, tỉ
lệ thối hỏng, tỉ lệ hao hụt tự nhiên
2.5.2 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu hóa sinh, hóa lý
- Đường kính quả: Đường kính được đo ở giữa quả và đo ở vị trí to nhất của
quả (đơn vị: mm) Đo trên 10 quả lấy ngẫu nhiên sau đó tính trung bình Sử dụng thước kẹp hiện số Digital Caliper (Australia) có dải đo từ 0 - 200mm
- Chiều cao quả: Chiều cao quả được đo từ đỉnh quả đến đáy quả (đơn vị:
mm) Đo trên 10 quả lấy ngẫu nhiên sau đó tính trung bình Sử dụng thước kẹp hiện số Digital Caliper (Australia) có dải đo từ 0 - 200mm
- Xác định khối lượng quả: Bằng cân kỹ thuật (sai số 0,01g) Lấy ngẫu nhiên
10 cây sau đó cân trên cân kỹ thuật và tính số liệu trung bình
- Xác định độ lún quả: Được xác định bằng máy đo độ cứng Mitutoyo Lấy
10 quả ngẫu nhiên đo độ lún của đầu đo khi chịu cùng một lực 200g tác dụng lên quả Tính trung bình số liệu đo được (mm)
- Đo màu sắc của quả : Xác định sự thay đổi màu sắc của vỏ quả dựa trên sự
thay đổi các chỉ số L, a, b đo trên máy đo màu Chromameter CR 200 của hãng MINOLTA (Nhật Bản) Máy đo dựa trên nguyên tắc phân tích bước sóng ánh sáng
và cho kết quả thông qua các chỉ số L, a, b trong đó:
L: có giá trị từ 0 đến +100 a: có giá trị từ -60 (green- xanh lá cây) đến +60 (red - đỏ) b: có giá trị từ -60 (blue - xanh da trời) đến +60 (yellow - vàng)
Trang 40Dựa vào bảng màu chuẩn 3 chiều L - a - b, màu của vỏ quả được xác định bởi toạ độ L - a - b
- Xác định hàm lượng chất khô hòa tan: Xác định bằng máy đo chiết quang
kế cầm tay DIGILTA REFACTOMETER của hãng ATAGO Nhật Bản
Nguyên lý: Dựa vào nguyên lý khúc xạ của ánh sáng, khi ánh sáng đi từ môi trường không khí vào một môi trường khác (chất lỏng), tia sáng sẽ bị lệch đi (bị khúc xạ) nếu chất lỏng là một chất hòa tan (đường, muối) Dựa trên độ lệch của tia sáng ta có thể xác định được nồng độ chất khô hòa tan
Cách tiến hành: Mẫu thí nghiệm được xay nhỏ, lọc ép, sau đó được khuấy
đều và lấy 1-2 giọt nhỏ vào bề mặt của chiết quang kế Đọc chỉ số trên màn hình chiết quang kế Đơn vị đo là 0Bx Tiến hành lặp lại 3 lần với một mẫu thí nghiệm
- Xác định hàm lượng nước (%): Bằng thiết bị đo độ ẩm nhanh ADAM -
AMB 310 (Anh) theo nguyên tắc sấy mẫu đến độ ẩm không đổi ở 105oC
- Xác định tỉ lệ thu hồi (Tỉ lệ phần ăn được) (%): Bằng cách tính tỉ lệ giữa
khối lượng phần cùi ăn được so với khối lượng phần vỏ và hạt
- Xác định hàm lượng axít tổng số:
Tiến hành: Cân trên cân kĩ thuật lấy 25g thịt quả đã nghiền nhỏ hoặc lấy
10-25ml sản phẩm lỏng (tùy lượng axit hữu cơ nhiều hay ít) cho vào bình nón dung tích 200ml Cho thêm vào 100ml nước cất Để yên trong 2 giờ, thỉnh thoảng lắc nhẹ bình nón cho axit hòa tan hết vào nước Sau đó lọc lấy nước vào một cốc dung tích 250ml Rửa nhiều lần phần cái bằng nước cất Đem chuẩn độ dung dịch lọc bằng
natri hydroxit dung dịch 0,1N với chỉ thị phenol phtalein đến có màu hồng nhạt
Nếu nước lọc có màu đậm thì không chuẩn đến màu hồng nhạt mà chuyển đến khi nào chuyển màu đột ngột, nghĩa là khi điểm trung hòa chuyển sang màu sáng hơn
Tính kết quả:
Độ axit tổng số, theo %, tính ra loại axit tương ứng bằng công thức