Làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động cho vay thi công đóng tàu của Ngân hàng Thương mại.Đánh giá thực trạng hoạt động cho vay thi công đóng tàu tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội.Đề xuất giải pháp đối với Ngân hàng và những kiến nghị đối với Nhà nước cũng như các cơ quan chức năng có liên quan nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay thi công đóng tàu tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đã và đang tiến hành công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước, vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý, điều tiếtcủa Nhà nước và đã đạt được những thành tựu rất đáng khích lệ trên mọi phươngdiện Cùng với xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế Thế giới, đất nước đã từng bước hộinhập với nền kinh tế trong khu vực và nền kinh tế thế giới Kết quả là Việt Nam đãtrở thành thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).Việc gia nhập vào tổ chức này đã mở ra cho đất nước chúng ta rất nhiều cơ hội mớicũng như không ít những thách thức phải đối mặt
Ngành công nghiệp đóng tàu hiện nay là một ngành công nghiệp mũi nhọnđang được ưu tiên phát triển ở nước ta Trong xu thế hội nhập nền kinh tế thế giớicủa quốc gia, nhất là khi các cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế luôntiềm ẩn ở nhiều quốc gia và nhiều khu vực trên thế giới thì các doanh nghiệp trongngành công nghiệp này cũng luôn luôn phải đối mặt với rất nhiều rủi ro, khó khăn
Chi nhánh Bắc Hà Nội là một trong những Chi nhánh đầu tiên trong Hệthống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam thực hiện hoạt động cấp tín dụng(cho vay và cấp bảo lãnh) đối với các doanh nghiệp kinh doanh trong ngành đóngtàu Cũng như các Chi nhánh khác trong cùng hệ thống và các Ngân hàng khác, việcđưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay thi công đóng tàu là mộttrong những yêu cầu hàng đầu của Chi nhánh, đặc biệt là trong giai đoạn hiện naykhi các doanh nghiệp kinh doanh đóng tàu gặp khá nhiều khó khăn do tác động củanhững cuộc khủng hoảng và suy thoái kinh tế
Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả đã lựa chọn: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay thi công đóng tàu tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp.
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích làm rõ các vấn đề còn tồn tại trong hoạtđộng cho vay thi công đóng tàu tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi
Trang 2nhánh Bắc Hà Nội, đề xuất các giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng và hiệuquả cho hoạt động này tại Ngân hàng.
3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động cho vay thi công đóng tàucủa Ngân hàng Thương mại
Đánh giá thực trạng hoạt động cho vay thi công đóng tàu tại Ngân hàng Đầu
tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội
Đề xuất giải pháp đối với Ngân hàng và những kiến nghị đối với Nhà nướccũng như các cơ quan chức năng có liên quan nhằm nâng cao hiệu quả hoạt độngcho vay thi công đóng tàu tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chinhánh Bắc Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu hoạt động cho vay thi công đóng tàu tại Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội trong khoảng thời gian từ năm
2005 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứunhư: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp phân tích tổng hợp, tư duylogic, phương pháp so sánh…
6 Kết cấu đề tài
Ngoài lời mở đầu, lời cảm ơn, lời cam đoan, mục lục, danh mục các từ viếttắt, danh mục các sơ đồ, bảng, mô hình, danh mục tài liệu tham khảo, kết luận, nộidung chính của luận văn được chia làm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động cho vay và cho vay thicông đóng tàu của các Ngân hàng Thương mại
Chương II: Thực trạng hoạt động cho vay thi công đóng tàu tại Ngân hàngĐầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay thi công đóngtàu tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội
Trang 3CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY VÀ CHO VAY THI CÔNG ĐÓNG TÀU CỦA CÁC NHTM1.1 Tổng quan về hoạt động cho vay của NHTM
1.1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại và hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế Các ngânhàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà chúng thựchiện trong nền kinh tế Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam ghi “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch
vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này đểcấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán” (trích dẫn Luật các TCTD năm2010)
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các NHTM hiện nay đã mởrộng phạm vi hoạt động sang nhiều lĩnh vực kinh doanh, phần lớn hoạt động theo
mô hình ngân hàng đa năng Tuy nhiên, các chức năng cơ bản của NHTM vẫn là:trung gian tài chính, tạo phương tiện thanh toán và trung gian thanh toán (trích dẫnHọc viện Ngân hàng)8 Các chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau
và cùng đóng góp cho sự thành công của một NHTM
Trung gian tài chính:
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu làchuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chứctrong nền kinh tế: (1) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chitiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần bổsung vốn; và (2) các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiệntại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ và do vậy họ có tiền đểtiết kiệm Sự tồn tại hai loại cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn độc lập với ngânhàng Điều tất yếu là tiền sẽ được chuyển từ nhóm thứ (2) sang nhóm thứ (1) nếu cảhai cùng có lợi Như vậy thu nhập gia tăng là động lực tạo ra mối quan hệ tài chínhgiữa hai nhóm Nếu dòng tiền di chuyển với điều kiện phải quay trở lại với mộtlượng lớn hơn trong một khoảng thời gian nhất định, thì đó là quan hệ tín dụng Nếu
Trang 4không thì đó là quan hệ cấp phát hoặc hùn vốn Trung gian tài chính làm tăng thunhập cho người tiết kiệm, từ đó mà khuyến khích tiết kiệm, đồng thời giảm phí tổntín dụng cho người đầu tư (tăng thu nhập cho người đầu tư) từ đó khuyến khích đầu
tư Trung gian tài chính đã tập hợp các người tiết kiệm và đầu tư, vì vậy mà giảiquyết được mâu thuẫn của tín dụng trực tiếp bị giới hạn do có sự không phù hợp vềquy mô, thời gian, không gian…Cơ chế hoạt động của trung gian sẽ có hiệu quả khi
nó gánh chịu rủi ro và sử dụng các kỹ thuật nghiệp vụ để hạn chế, phân tán rủi ro vàgiảm chi phí giao dịch
Tạo phương tiện thanh toán
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhậnthấy nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả để cóđược hàng hóa và các dịch vụ yêu cầu Theo quan điểm hiện đại, đại lượng tiền tệbao gồm nhiều bộ phận Thứ nhất là tiền giấy trong lưu thông, thứ hai là số dư trêntài khoản tiền gửi giao dịch của khách hàng tại các ngân hàng, thứ ba là tiền gửitrên các tài khoản gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn…Khi ngân hàng cho vay, số
dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thểdùng để mua hàng và dịch vụ Do đó, bằng việc cho vay các ngân hàng đã tạo raphương tiện thanh toán
Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo phương tiện thanh toán khi các khoảntiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ sở cho vay.Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng tiền vay để chi trả thì sẽ tạo nên khoảnthu (tức là làm tăng số dư tiền gửi) của khách hàng khác tại một ngân hàng khác từ
đó tạo ra các khoản cho vay mới Trong khi không một ngân hàng riêng lẻ nào cóthể cho vay lớn hơn dự trữ dư thừa, toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra khốilượng tiền gửi (tạo phương tiện thanh toán) gấp bội thông qua hoạt động cho vay
Trung gian thanh toán
Ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết cácquốc gia Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá vàdịch vụ Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện, và tiết kiệm chi phí, ngân hàngđưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, ủynhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ…cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối
Trang 5các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần Các ngân hàng còn thực hiệnthanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân hàng Trung Ương hoặc thông qua cáctrung tâm thanh toán Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả caokhi quy mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng Vì vậy, công nghệ thanhtoán hiện đại qua ngân hàng thường được các nhà quản lý tìm cách áp dụng rộngrãi Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất trongthanh toán, không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngânhàng trên toàn thế giới Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tănghiệu quả của thanh toán qua ngân hàng, biến ngân hàng trở thành trung tâm thanhtoán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu
Nhìn chung, các hoạt động trung gian thanh toán của NHTM thường ít xảy rarủi ro và đi kèm với nó là mức sinh lời không cao
1.1.1.2 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
Cho vay là một trong những hoạt động đầu tiên và là hoạt động quan trọngnhất của các Ngân hàng Thương mại Trong tổng tài sản thì hoạt động cho vay làhoạt động chiếm tỷ trọng cao và đem lại thu nhập từ lãi lớn nhất nhưng cũng manglại rủi ro nhiều nhất cho các ngân hàng thương mại nói riêng và các tổ chức tín dụngnói chung
Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại đã được định nghĩa trong
“Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng” ban hành kèm theoQuyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàngNhà nước như sau: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tíndụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thờigian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” Đây là mộttrong những hoạt động chính gắn liền với quá trình hình thành và phát triển củaNHTM NHTM huy động vốn nhàn rỗi từ dân chúng và các tổ chức kinh tế tạokhoản cho vay với lãi suất cao hơn lãi suất huy động
Hoạt động cho vay là hoạt động chiếm tỷ trọng lớn và đem lại nguồn thu lớnnhất cho ngân hàng thương mại nhưng cũng là hoạt động rủi ro nhất Các nguyêntắc cho vay góp phần rất quan trọng vào việc hạn chế rủi ro cho ngân hàng thươngmại Đối với các NHTM của Việt Nam, hoạt động tín dụng luôn chiếm đến hơn
Trang 670% chi phí và thu nhập, tuy nhiên, chất lượng của các khoản tín dụng vẫn còn kháthấp Do vậy, hoạt động của các NHTM Việt Nam chứa đựng khá nhiều rủi ro.Chính vì thế cần quản lý chặt chẽ hoạt động cho vay để có thể đảm bảo tính an toàn
có mục đích và phạm vi hoạt động riêng Mục đích sử dụng vốn vay của khách hàngđược ghi trong hợp đồng tín dụng đảm bảo rằng ngân hàng sẽ không tài trợ cho cáchoạt động trái luật pháp và việc tài trợ đó là phù hợp với cương lĩnh hoạt động củangân hàng
Thứ hai, khách hàng vay vốn của ngân hàng phải đảm bảo hoàn trả nợ gốc vàlãi vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng Ngân hàng huy độngnguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức, các nhân rồi đầu tư trở lại nền kinh tế.Nguồn gốc của các khoản tín dụng của ngân hàng là các khoản đi vay của ngânhàng Chính vì thế mà ngân hàng cần phải có trách nhiệm hoàn trả gốc và lãi đúngthời hạn như đã cam kết với khách hàng Do vậy, để ngân hàng có thể tồn tại vàphát triển thì buộc người nhận tín dụng phải thực hiện đúng cam kết này
Thứ ba, Ngân hàng tài trợ cho khách hàng dựa trên phương án (hoặc dự án)
có hiệu quả Thực hiện nguyên tắc này là điều kiện để thực hiện nguyên tắc thứnhất Trước khi ra quyết định cho khách hàng vay vốn thì ngân hàng cần phải xemxét tính khả thi cũng như tính hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh, dự ánđầu tư của khách hàng Nếu như phương án khả thi thì khách hàng mới có khả năngthu được lợi nhuận và có nguồn để trả cho những khoản tín dụng từ ngân hàng Đểđảm bảo hơn nữa về khả năng thu hồi lại nguồn tiền đã cho vay, ngân hàng đòi hỏingười đi vay phải có tài sản đảm bảo khi vay
Việc cho vay các doanh nghiệp đóng tàu của NHTM cũng phải tuân theonhững nguyên tắc vay vốn nêu trên
Trang 71.1.2 Phân loại các hình thức và sản phẩm cho vay
Người ta có thể dựa vào rất nhiều tiêu thức để phân loại các hình thức và sảnphẩm cho vay Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học nhằm mục đích giúp chocác ngân hàng có thể thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quảcủa công tác quản trị rủi ro tín dụng Phân loại cho vay dựa và các căn cứ sau đây:
Cho vay công nghiệp và thương mại: Đây là loại cho vay ngắn hạn của ngânhàng cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại vàdịch vụ nhằm để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp này
Cho vay nông nghiệp: Là loại cho vay phục vụ cho mục đích trang trải cácchi phí sản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, laođộng, nhiên liệu…
Cho vay các định chế tài chính: Bao gồm cấp tín dụng cho các ngân hàng,công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và cácđịnh chế tài chính khác
Cho vay tiêu dùng: Là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng nhưmua sắm các vật dụng đắt tiền và các khoản cho vay để trang trải các chi phí thôngthường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng
- Thời hạn cho vay:
Theo tiêu thức này, người ta chia cho vay thành 03 loại:
Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng
để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêungắn hạn của các nhân
Cho vay trung hạn: Là các món vay có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng.Cho vay trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiếnhoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án
Trang 8mới có quy mô nhỏ và thời hạn thu hồi vốn nhanh Bên cạnh đầu tư cho tài sản cốđịnh, cho vay trung hạn còn là nguồn hình thành vốn lưu động thường xuyên củacác doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp mới thành lập.
Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn vay trên 05 năm và thời hạn tối
đa có thể lên tới 20 – 30 năm Cho vay dài hạn được sử dụng để thực hiện các dự ánđầu tư mới, mở rộng sản xuất, đáp ứng nhu cầu xây dựng nhà ở, mua sắm, đầu tưphương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp, dây chuyền, nhà máysản xuất
- Mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
Theo tiêu thức phân loại này, cho vay được chia thành hai loại:
Cho vay không bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp hoặc cầm
cố hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín củabản thân khách hàng Đối với những khách hàng tốt, có uy tín cao, có khả năng tàichính vững mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uytín của khách hàng mà không cần một nguồn thu thứ hai bổ sung
Cho vay có tài sản bảo đảm: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm nhưthế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba Đối với kháchhàng không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có bảo đảm
Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai, bổsung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu tính chắc chắn
- Phương pháp cho vay:
Dựa vào tiêu thức này, cho vay của NHTM được chia thành các loại sau đây:Cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay nhiều lần cách biệt nhau đốivới khách hàng không có nhu cầu thường xuyên và chỉ vay trong trường hợp cầnthiết vốn để ngân hàng tham gia vào một giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuấtkinh doanh Khi cần vay vốn, khách hàng làm đơn yêu cầu và trình phương án sửdụng vốn vay gửi đến Ngân hàng Ngân hàng sẽ phân tích, đánh giá khách hàng và
ký hợp đồng cho vay, xác định quy mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ,lãi suất và yêu câu bảo đảm nếu cần
Cho vay theo hạn mức tín dụng: Đây là hình thức cho vay mà theo đó ngânhàng và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một
Trang 9khoảng thời gian nhất định Hạn mức tín dụng này được xác định dựa trên kế hoạchsản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng Hạn mức tíndụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ Mỗi lần khách hàng vay chỉ cần trình bàyphương án sử dụng tiền vay, nộp các chứng từ chứng minh đã mua hàng hoá dịch
vụ và nêu yêu cầu vay Sau khi kiểm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từvay, ngân hàng sẽ phát tiền vay cho khách hàng
Cho vay trả góp: Là hình thức cho vay mà ngân hàng cho phép khách hàngtrả góp làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận Cho vay trả góp thườngđược áp dụng đối với các khoản cho vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố địnhhoặc hàng tiêu dùng lâu bền Số tiền mỗi lần trả được tính toán sao cho phù hợp vớikhả năng trả nợ
Cho vay luân chuyển: Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển hàng hoá,
áp dụng đối với doanh nghiệp thương mại hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳtiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng Doanh nghiệpkhi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng có thể cho vay để mua hàng hoá và sẽ thu
nợ khi doanh nghiệp bán hàng Đầu năm hoặc đầu quý, người vay phải làm đơn xinvay luân chuyển Ngân hàng cùng với khách hàng thoả thuận với nhau về phươngthức cho vay, hạn mức tín dụng và các nguồn cung cấp hàng hoá cũng như khảnăng tiêu thụ Khi vay, khách hàng chỉ cần gửi đến ngân hàng các chứng từ hoá đơnnhập hàng và số tiền cần vay, Ngân hàng cho vay và trả tiền cho người bán Các khoảnphải thu và cả hàng hoá trong kho trở thành vật bảo đảm cho khoản vay tại Ngân hàng
Cho vay thấu chi: Là việc cho vay mà Ngân hàng thoả thuận bằng văn bảnchấp thuận cho khách hàng chi vượt quá số tiền có trên tài khoản thanh toán củakhách hàng đến một giới hạn nhất định (gọi là hạn mức thấu chi) Để được vay thấuchi, khách hàng làm đơn xin ngân hàng hạn mức thấu chi và thời gian thấu chi.Trong thời gian thấu chi, khách hàng có thể ký séc, lập uỷ nhiệm chi…vượt quá số
dư tiền gửi để chi trả nhưng không được vượt quá hạn mức thấu chi Khi kháchhàng có tiền nhập về tài khoản tiền gửi, ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi Nếu kháchhàng chi vượt quá hạn mức thấu chi thì sẽ bị phạt và đình chỉ sử dụng hình thức này
- Xuất xứ tín dụng:
Dựa vào tiêu thức này người ta chia cho vay thành hai loại:
Trang 10Cho vay trực tiếp: Là hình thức cho vay phổ biến hiện nay của ngân hàngtrong đó, ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vaytrực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
Mô hình 1.1: Cho vay trực tiếp
1.1.3 Rủi ro và sinh lợi trong hoạt động cho vay
Vấn đề quan trọng nhất của cho vay (cho vay ngắn hạn và cho vay trung dàihạn) là giúp doanh nghiệp đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuấtkinh doanh, rút ngắn được thời gian tích lũy vốn, nhanh chóng đầu tư mở rộng sảnxuất
Để mở rộng sản xuất tức cần phải mua thêm máy móc và xây dựng mới nhàxưởng hay trong trường hợp doanh nghiệp mới thành lập, vốn chủ sở hữu chưanhiều và phần lớn được đầu tư vào tài sản cố định và một phần dùng để làm “đệm
an toàn” cho các hoạt động kinh doanh Vì thế có thể xảy ra tình trạng thiếu vốn đầu
tư trung dài hạn và vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp có thểgiải quyết tình trạng này bằng nhiều cách khác nhau, trong đó có tín dụng ngânhàng Như vậy trên thực tế doanh nghiệp đã rút ngắn được thời gian tích lũy vốn và
Ngân hàng
Khách hàng nhận vốn vay
Người thanh toán nợ
Trang 11hoạt động có hiệu quả Vì thế mà trong nền kinh tế hiện nay, tín dụng ngân hàng gắnvới quá trình mở rộng sản xuất, đổi mới và phát triển của doanh nghiệp Còn để cóvốn thực hiện các phương án sản xuất kinh doanh ngắn hạn có hiệu quả trong khinguồn vốn tự có và vốn huy động khác của Doanh nghiệp không đủ thì việc sử dụngvốn vay là hợp lý, đảm bảo nguồn vốn kịp thời cho phương án kinh doanh củaDoanh nghiệp.
Việc đánh giá tính hợp lý trong sử dụng vốn đầu tư, tính khả thi về tài chínhcủa dự án thường ở trong điều kiện các thông số được dự đoán xảy ra tương đốichắc chắn (còn gọi là phân tích trong trạng thái tĩnh) Tuy nhiên, những lợi ích, chiphí đưa vào tính toán đều là những dự kiến trong tương lai Do đó người ta phải sửdụng những tiêu thức để đánh giá độ rủi ro của dự án để cân nhắc tài trợ đối với dự
án có mức độ rủi ro chấp nhận được
Trên thực tế, có nhiều phương án, dự án khi thẩm định có hiệu quả tài chínhrất cao, lợi nhuận thu được lớn song người thẩm định không quan tâm thích đángđến các yếu tố rủi ro nên khi đi vào hoạt động, hoặc khi tiến hành thực hiện phương
án kinh doanh, những biến động lớn về giá cả, thị trường đầu ra sản phẩm, thịtrường nguyên liệu, tỷ giá hay những thay đổi trong chính sách đã làm cho phương
án kinh doanh, dự án trở nên không hiệu quả, khả năng thu hồi nợ khó khăn, phảigia hạn nợ hoặc điều chỉnh kỳ hạn nợ đôi khi dẫn đến rủi ro mất vốn
Phương pháp phân tích tương đối khác nhau trong giữa trường hợp lợi íchcủa dự án định lượng được và không định lượng được Trường hợp dự án có lợi íchđịnh lượng được, mối quan hệ giữa rủi ro dự án và mục tiêu dự án phải được phântích rõ Những tình huống có thể cản trở việc thực hiện mục tiêu của dự án phảiđược trình bày trong mối quan hệ với lợi ích, chi phí dự án, cũng như với các mụctiêu xã hội mà dự án muốn góp phần thực hiện
1.2 Hoạt động cho vay thi công đóng tàu của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm về cho vay thi công đóng tàu
Hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp đóng tàu được hiểu là việc Ngânhàng thương mại cho vay bổ sung vốn lưu động phục vụ quá trình thi công đóngmới tàu của Doanh nghiệp, Ngân hàng cho vay thanh toán các chi phí như (trích dẫn
Sổ tay tín dụng BIDV):
Trang 12- Chi phí nguyên vật liệu phục vụ thi công đóng tàu: thép tấm, thép hình, sơn,thuê xe vận chuyển và các chi phí nguyên vật liệu khác.
- Chi phí nhân công: lương cán bộ nhân viên, công nhân đóng tàu, nhân côngthuê ngoài và các chi phí nhân công khác
- Chi phí thuê thiết bị máy móc thi công đóng tàu, chi phí sửa chữa nhỏ thiết
bị, công cụ phân bổ vào con tàu
- Chi phí ban đầu triển khai thi công đóng tàu như: chi phí lán trại, vận chuyểnmáy móc thiết bị và các chi phí khác
- Thanh toán cho nhà thầu phụ (B’) trong trường hợp khách hàng có thuê thêmNhà thầu phụ cùng tham gia thi công đóng tàu
- Các chi phí khác phục vụ thi công đóng tàu nằm trong dự toán đóng mới contàu hoặc phương tiện vận tải biển
Trong hoạt động cho vay thi công đóng tàu, khách hàng vay vốn phải đảm bảocác điều kiện vay vốn theo quy định tại Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đốivới khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/QĐ-NHNN ngày31/12/2001 và các văn bản sửa đổi, bổ sung của Ngân hàng Nhà nước, các văn bảnhướng dẫn của các từng ngân hàng cụ thể Ngoài ra, khách hàng vay vốn còn phảiđáp ứng các điều kiện sau đây:
- Khách hàng có vốn tự có tham gia vào phương án kinh doanh (gồm vốn tự
có, vốn trái phiếu quốc tế, vốn huy động khác và vốn ứng trước của Bên mua tạithời điểm ký hợp đồng) Theo quy định của BIDV, mức vốn tự có tham gia củaDoanh nghiệp chiếm tối thiểu 25% tổng vốn đầu tư của phương án kinh doanh(trích dẫn Quyết định số 6105/QĐ-PTSP ngày 10/11/2008 của Tổng giám đốcBIDV)
- Có đủ các điều kiện về cơ sở vật chất và năng lực công nghệ, nhân côngđáp ứng được các yêu cầu cơ bản của đơn vị đóng tàu, phù hợp với khả năng đóngđược tàu có nhu cầu vay vốn lưu động
- Khách hàng đã ký Hợp đồng thi công đóng tàu với bên mua tàu, Bên muatàu chứng minh được nguồn vốn thanh toán rõ ràng, khách hàng cam kết chuyểntiền thanh toán của hợp đồng về tài khoản tiền gửi mở tại Chi nhánh tối thiểu tươngứng với tỷ lệ vốn vay
Trang 13- Phương án sản xuất kinh doanh theo Hợp đồng đóng tàu đã ký là khả thi, cóhiệu quả, đảm bảo khả năng trả nợ ngân hàng.
- Khách hàng mua bảo hiểm cho quá trình thi công đóng mới tàu (cho đếnkhi bàn giao tàu), mức mua bảo hiểm tương đương với giá trị con tàu đóng
1.2.2 Đối tượng, đặc điểm và vai trò của hoạt động cho vay thi công đóng tàu
1.2.2.1 Đối tượng cho vay:
Ngân hàng thực hiện cho vay bổ sung vốn lưu động phục vụ quá trính đóngmới tàu của khách hàng là các doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt độngtheo quy định của pháp luật Việt Nam, có đăng ký ngành nghề kinh doanh tronglĩnh vực công nghiệp đóng tàu tại Việt Nam Các loại tàu ngân hàng cho vay baogồm: tàu biển, tàu đặc dụng, tàu sông, sàlan và các thiết bị vận tải thủy khác
1.2.2.2 Đặc điểm của hoạt động cho vay thi công đóng tàu:
Hoạt động cho vay thi công đóng tàu có các đặc điểm chủ yếu sau đây:
- Về mức cho vay: Ngân hàng căn cứ vào Quy chế cho vay đối với kháchhàng, chính sách khách hàng, tính khả thi, hiệu quả của phương án kinh doanh, khảnăng trả nợ của khách hàng, giá trị tài sản đảm bảo và nhu cầu vay vốn của kháchhàng để xác định mức cho vay phù hợp (thường trong khoảng từ 50% - 85% tổngvốn đầu tư của phương án kinh doanh)
Theo quy định của BIDV, mức cho vay tối đa là 75% tổng vốn đầu tư củaphương án Trường hợp sau khi đánh giá và thẩm định hồ sơ vay vốn, nếu doanhnghiệp có tình hình hoạt động tốt, phương án vay vốn có hiệu quả cao, Chi nhánhtrình Hội sở chính xem xét, quyết định cho vay vượt 75% tổng vốn đầu tư củaphương án
- Về đồng tiền cho vay:
Đồng tiền cho vay là VND và/hoặc ngoại tệ do khách hàng và Ngân hàngthoả thuận, tuỳ thuộc vào nhu cầu của khách hàng và khả năng cân đối nguồn vốncủa Ngân hàng Việc cho vay bằng ngoại tệ phải tuân thủ theo đúng quy định củapháp luật về quản lý ngoại hối
- Về thời hạn cho vay:
Trang 14Cho vay thi công đóng tàu là hoạt động cho vay ngắn hạn đối với các Doanhnghiệp đóng tàu Tuy nhiên, theo quy định của BIDV, thời hạn cho vay do Chinhánh tự quyết định phù hợp với phương án kinh doanh đóng mới tàu và khả năngtrả nợ của khách hàng nhưng tối đa không vượt quá 24 tháng và không được vượtquá thời hạn hoạt động còn lại ghi trong giấy phép kinh doanh của khách hàng.
- Về phương thức cho vay:
Tuỳ theo uy tín, mức độ quan hệ của khách hàng với Ngân hàng, tình hìnhhoạt động (sản xuất kinh doanh và tài chính) của khách hàng, Ngân hàng có thểthực hiện theo một trong các hình thức cho vay sau đây:
+ Cho vay theo món: phương thức này áp dụng đối với khách hàng vay vốn
có quan hệ lần đầu; hoặc có quan hệ vay vốn không thường xuyên; hoặc các kháchhàng thường xuyên nhưng có dấu hiệu giảm sút về năng lực và hiệu quả hoạt độngkinh doanh
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: áp dụng đối với khách hàng có quan hệvay vốn thường xuyên, có tín nhiệm, hoạt động kinh doanh có hiệu quả, tình hìnhtài chính lành mạnh
+ Cho vay đồng tài trợ: là phương thức cho vay hợp vốn mà các tổ chức tíndụng khác đề nghị, hoặc tham gia theo uỷ quyền của HSC, hoặc tự tổ chức làm đầumối cho vay hợp vốn với TCTD khác
- Về lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay do Ngân hàng và khách hàng tự thoảthuận, phù hợp với quy định của Pháp luật và của NHNN
1.2.2.3 Vai trò của hoạt động cho vay thi công đóng tàu
Trong nền kinh tế thế giới nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói riêng, hoạtđộng cho vay thi công đóng tàu có vai trò to lớn trong việc hỗ trợ, bổ sung nguồnvốn ngắn hạn thiếu hụt tạm thời cho các Doanh nghiệp kinh doanh đóng tàu, giúpcác Doanh nghiệp kinh doanh trong ngành chủ động được hoạt động sản xuất kinhdoanh của mình Từ đó góp phần phát triển và hỗ trợ tích cực cho sự phát triển của
02 ngành vận tải biển và công nghiệp đóng tàu Một quốc gia có nhiều điều kiệnthuận lợi từ lãnh hải như Việt Nam, thì việc phát triển ngành công nghiệp đóng tàu
có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc phát triển kinh tế, tăng cường giao thương vàhợp tác kinh tế với khu vực và thế giới
Trang 15Ngoài ra, Hoạt động cho vay thi công đóng tàu có ý nghĩa hết sức quan trọngtrong việc phát triển đội tàu, tăng năng lực chuyên chở hàng hoá bằng đường biển.Hiện nay, số lượng tàu biển của Việt Nam đã có sự tăng trưởng vượt bậc, tuy nhiên,quy mô và năng lực đội tàu còn khá nhỏ bé so với các nước trong cùng Châu lụcnhư: Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Singapore…Phần lớn việc chuyên chở hànghoá xuất nhập khẩu của các nước trên Thế giới cũng như Việt Nam hiện nay đều docác chủ tàu nước ngoài đảm nhận Do vậy, việc đẩy mạnh hoạt động cho vay thicông đóng tàu của các Ngân hàng sẽ trực tiếp nâng cao vị thế và năng lực đội tàucủa Việt Nam, tăng năng lực chuyên chở hàng hoá không chỉ cho chính đất nướcchúng ta mà còn đủ khả năng đảm nhận chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu củacác nước khác trên Thế giới.
1.2.3 Thuận lợi và khó khăn của hoạt động cho vay thi công đóng tàu
Ngành kinh doanh vận tải biển và công nghiệp đóng tàu hiện nay tại ViệtNam đang được Chính phủ ưu tiên phát triển Hoạt động cho vay thi công đóng tàu
có những thuận lợi lớn như sau:
- Được Chính phủ và Nhà nước ưu tiên phát triển, NHNN có sự ưu tiên, hỗtrợ tích cực, đặc biệt là ở các Ngân hàng thương mại;
- Có các văn bản, quy trình hướng dẫn, các tiêu chí rõ ràng trong việc thẩmđịnh, tái thẩm định, đánh giá năng lực của các Doanh nghiệp kinh doanh trongngành (Nhà máy đóng tàu), hiệu quả của các phương án sản xuất kinh doanh và các
dự án đầu tư
Tuy nhiên, hoạt đông này cũng gặp không ít các khó khăn như: chịu ảnhhưởng, tác động và phụ thuộc chặt chẽ vào tình hình kinh tế, phụ thuộc vào sự pháttriển của ngành vận tải biển, các ngành công nghiệp phụ trợ khác…
1.3 Hoạt động của các Doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thi công đóng tàu tại Việt Nam
1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngành đóng tàu
1.3.1.1 Tiền đề phát triển của ngành công nghiệp đóng tàu
Việt Nam là quốc gia ven biển, với gần 1.000.000km2 diện tích lãnh hải vàtrên 3.260 km bờ biển chạy dài theo đất nước với nhiều địa điểm có thể xây dựngcác cảng nước sâu có cơ hội để đón nhận xu thế đầu tư công nghệ diễn ra mạnh mẽ
Trang 16hiện nay Nằm ở vị trí chiến lược, trong khu vực phát triển năng động của quốc tếgắn liền với Châu Á - Thái Bình Dương, là hành lang phát triển kéo dài từ Thái Lan
- Malaysia - Singapore - Indonesia đến Philippines, đồng thời nằm trên các tuyếnhàng hải huyết mạch thông thường giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữaChâu Âu và Trung cận đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực.Chính phủ Việt Nam đã xác định mục tiêu và tầm quan trọng của ngành vận tải biển
và ngành công nghiệp tàu thuỷ đối với sự phát triển kinh tế của đất nước
Những năm cuối thế kỷ 20, ngành công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam đã đổi mớithích ứng với cơ chế thị trường, nên những năm đầu thế kỷ 21 đã có bước nhảy vọt.Bắt đầu từ sự kiện đóng mới thành công tàu Vinashin Sun trọng tải 11.500 tấn (tríchdẫn www.vinashin.com.vn) Tàu này đã đi một chuyến hành trình vòng quanh TráiĐất, không những làm vẻ vang ngành đóng tàu Việt Nam mà còn cho thế giới biếtViệt Nam đã có thể đóng những loại tàu có trọng tải lớn và chất lượng cao Sau sựkiện này, ngành công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam đã ký được những hợp đồng lớnvới các hãng tàu nổi tiếng trên thế giới như Nhật Bản và Anh Quốc, đáng chú ý làhợp đồng đóng mới 15 tàu có trọng tải 53.000 tấn Các hợp đồng đến dồn dập, liêntục hạ thuỷ, liên tục bàn giao các loại tàu chở hàng, chở dầu, container có tải trọnglớn đã làm chúng ta thêm tin tưởng vào ngành công nghiệp Việt Nam nói chung vàngành đóng tàu nói riêng Nhiều đánh giá cho thấy trong 05 năm tới, ngành côngnghiệp tàu thủy Việt Nam có thể đóng được các loại tàu từ 150.000 tấn đến trên200.000 tấn và sửa chữa được các tàu có trọng tải lớn hơn Ngoài ra, có thể đa dạnghóa sản phẩm từ việc đóng được các loại tàu từ tàu dầu sản phẩm đến tàu dầu thôcũng như các tàu container, các tàu khách ven biển vầ các loại tàu hàng khác
Từ những thành công đó, việc nhận định các tiền đề cho sự phát triển củangành Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam có bước tiến bộ nhảy vọt là rất quan trọng:
+ Trước hết là chủ trương của Nhà nước cho thành lập Tập đoàn công nghiệptàu thuỷ Việt Nam rất đúng đắn và kịp thời Đây là một sức mạnh tổng hợp của tất
cả các đơn vị đóng tàu vốn phân tán ở khắp mọi miền đất nước Những đơn vị này
đã có đội ngũ cán bộ công nhân kỹ thuật có tinh thần tự lực cánh sinh cao, dámnghĩ, dám làm từ truyền thống của những năm kháng chiến chống Mỹ Những đơn
Trang 17vị này được xây dựng ở các bờ biển, triền sông rộng lớn đã có quan hệ lâu năm vềnhiều mặt với những địa bàn tỉnh, thành phố mà đơn vị được xây dựng ở đó.
+ Thứ hai là đường lối hợp tác quốc tế của Đảng và Nhà nước nên sự giaolưu giữa ngành Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam với các nước trong khu vực và thếgiới ngày càng thuận lợi Nhờ vậy mà tầm nhìn của các cán bộ lãnh đạo Tập đoàn
đã được mở rộng giúp cho việc đề ra các quyết sách đúng đắn Việc liên doanh giữaTổng Công ty Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam (VINASHIN) với hãng HUYNHDAI(Hàn Quốc) để xây dựng nhà máy tàu thuỷ ở tỉnh Khánh Hòa có khả năng sửa chữanhững tàu biển có trọng tải lớn đến 400.000 DWT đã chứng minh cho điều đó.Nhiều cán bộ quản lý và nhân viên kỹ thuật của VINASHIN trực tiếp làm việc ởđây Những công đoạn sản xuất ở nhà máy liên doanh này cũng gợi mở cho ngànhCông nghiệp tàu thuỷ Việt Nam nhiều ý tưởng hay Các đồng chí lãnh đạo củaĐảng và Nhà nước ta đến thăm nhà máy liên doanh này đều có một hy vọng xâydựng ngành Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam tiến kịp với nước ngoài Bên cạnh đó,Triển lãm quốc tế lần thứ 5 về Công nghiệp đóng tàu, hàng hải và vận tải (VietShip2010) được tổ chức tại Trung tâm hội nghị quốc gia, Hà Nội từ ngày 17/03/2010đến ngày 19/03/2010 không chỉ là kênh cung cấp và cập nhật đa dạng những thôngtin và các lĩnh vực chuyên môn một cách hữu hiệu mà còn là cầu nối giữa các doanhnghiệp với các đối tác tiềm năng Việc VietShip 2010 được tổ chức tại Việt Nam sẽ
là cơ hội để nước ta giới thiệu những thế mạnh và tiềm năng về công nghiệp tàuthủy và vận tải biển đến các chủ tàu và các bạn hàng trên toàn thế giới
1.3.1.2 Các giai đoạn phát triển
Ngành công nghiệp tàu thủy Việt Nam khởi nguồn từ những năm 1958
-1960, với tên ban đầu là cơ khí thủy, trực thuộc Cục Cơ khí - Bộ Giao thông Vận
tải Sự hình thành và phát triển của Ngành gắn liền với đấu tranh giải phóng dântộc, thống nhất đất nước và xây dựng Chủ nghĩa Xã hội trên đất nước Việt Nam
Trong giai đoạn 1975 - 1985 các cơ sở đóng tàu của Việt Nam vừa ít ỏi lại vừa thoát
khỏi chiến tranh Chúng ta vừa phải phục hồi vừa phải xây dựng lại vừa phải tổchức sản xuất, đơn vị chủ quản cấp trên là Cục Cơ khí vừa làm chức năng quản lýnhà nước vừa làm chức năng quản lý doanh nghiệp
Trang 18Giai đoạn 1986 - 1995 lực lượng cơ khí thủy trong Cục Cơ khí được tách ra
tổ chức hoạt động dưới dạng Liên hiệp các xí nghiệp, giai đoạn này ngành Đóng tàudần dần được hồi sinh nhưng chưa có định hướng phát triển rõ ràng, năng lực sảnxuất hạn chế, tàu lớn nhất đóng được có trọng tại khoảng 3.800 tấn
Ngày 31/01/1996 Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam được thành lập
trên cơ sở sắp xếp lại các cơ sở đóng tàu trong cả nước, giai đoạn công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã có những quyết định số1420/QĐ–TTg ngày 21/11/2001 và Quyết định 1055/QĐ–TTg ngày 21/11/2002 vềviệc phê duyệt Đề án phát triển Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam vàquy hoạch tổng thể ngành Công nghiệp tàu thủy Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010với mục tiêu chính là xây dựng và phát triển Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủyViệt Nam lớn mạnh, có trình độ công nghệ tiên tiến, hiện đại trở thành nòng cốt củacủa ngành Công nghiệp tàu thủy Việt Nam và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn củaĐất nước
-Để tổ chức và hoạt động cũng như đầu tư phát triển có hiệu quả hơn, Thủ
tướng Chính phủ đã có quyết định số 60/2003/QĐ-TTg ngày 04/11/2003 về việc
thí điểm Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam chuyển sang hoạt động theo
mô hình công ty mẹ - công ty con, đồng thời Thủ tướng đã có quyết định số247/QĐ-TTg ngày 06/10/2005 phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổngcông ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam theo mô hình này
Tiếp theo là Quyết định số 1106/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án điều chỉnhphát triển Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam giai đoạn 2005 - 2010 vàđịnh hướng đến 2015
Ngày 15/5/2006 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 103/QĐ-TTg về
việc phê duyệt Đề án thí điểm hình thành Tập đoàn Kinh tế Vinashin, và quyết định104/QĐ-TTg về việc thành lập Công ty mẹ Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy ViệtNam với mục đích hình thành Tập đoàn Kinh tế Vinashin đa sở hữu trong đó có sởhữu Nhà nước là chi phối bao gồm các doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, trên cơ
sở tổ chức lại Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam; có trình độ công nghệquản lý hiện đại và có chuyên môn hoá cao, kinh doanh đa ngành, trong đó cóngành Công nghiệp đóng mới sửa chữa tàu thủy và vận tải biển là ngành kinh doanh
Trang 19chính; gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất kinh doanh với khoa học công nghệ, nghiêncứu triển khai đào tạo, làm nòng cốt để ngành Công nghiệp tàu thủy việt Nam pháttriển nhanh và bền vững, cạnh tranh và hội nhập kinh tế có hiệu quả.
Nhìn chung, Công nghiệp đóng tàu là một ngành công nghiệp mới ở nước ta.Việt Nam có những thuận lợi khi phát triển ngành công nghiệp đóng tàu cũng như
là vận tải biển Hiện nay, ngành công nghiệp đóng tàu đang được ưu tiên phát triển
ở nước ta Tuy là một ngành công nghiệp còn khá non trẻ nhưng ngành đóng tàu đãthu được những thàng công nhất định Từ 22 đơn vị năm 1996, đến nay ngành côngnghiệp đóng tàu Việt Nam có 75 đơn vị thành viên hoạt động trong nhiều lĩnh vực
đa dạng (trích dẫn website www.vinashin.com.vn) Năm 2003, tổng sản lượng toànngành đạt hơn 5.330 tỷ đồng, tăng 10 lần so với năm 1996 và về đích trước hai nămtrong kế hoạch phát triển đến năm 2005 Đến nay, ngành công nghiệp đóng tàu ViệtNam đã xuất xưởng được hàng loạt con tàu đạt tiêu chuẩn quốc tế, với đủ chủngloại như tàu hàng từ 1.000 – 150.000 tấn, tàu chở dầu thô trên 100.000 tấn, tàu chởcontainer cỡ lớn, tàu chở ô tô, hoá chất, khí hoá lỏng và cả các loại tàu cứu hộ, tàucao tốc phục vụ cho an ninh, quốc phòng Tuy nhiên, bên cạnh đó ngành đóng tàucòn có nhiều hạn chế như phần lớn máy móc, vật tư đóng tàu đều phải nhập khẩu từthị trường nước ngoài (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản…) dẫn đến năng lực cạnhtranh của ngành chưa cao, giá trị gia tăng trong sản phẩm đầu tư là không lớn, chỉchiếm khoảng 30% giá thành sản phẩm Hiện nay do ảnh hưởng của cuộc suy thoáikinh tế thế giới nên ngành đóng tàu cũng như các ngành khác đều gặp phải nhữngkhó khăn nhất định Chính vì thế, sự hỗ trợ về vốn vay từ các ngân hàng là điều cầnthiết giúp cho doanh nghiệp đóng tàu vượt qua thời kỳ khó khăn
Trong tương lai, ngành Đóng tàu vẫn còn nhiều tiềm năng Mặc dù cácxưởng đóng tàu đã có bước đệm để tăng năng lực đóng mới, nhưng điều này cũng
có nghĩa là các xưởng phải đối mặt với cuộc chiến cung cấp ụ tàu với cùng mức giá
Một nấc thang mới đã được những người thợ đóng tàu Việt Nam vượt qua,khi họ đóng thành công kho nổi trọng tải 150.000 tấn mang tên FSO5 (trích dẫnwebsite www.vinashin.com.vn) Có nghĩa là những đồng vốn đầu tư đang tiếp tụcphát huy hiệu quả, đã thúc đẩy ngành đóng tàu Việt Nam đạt tới tầm cao mới, quy
Trang 20mô hơn cả về lượng, chất, thể hiện thành sản phẩm cụ thể Điều đáng trân trọnghơn, những người trẻ đang ngày càng làm chủ đất nước
1.3.1.3 Kết quả đạt được
Sau hơn 02 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 về Chiến lược biển ViệtNam, đội tàu biển quốc gia đã có sự tăng trưởng đáng kể về số lượng, chất lượng vàchủng loại tàu Nếu như đến đầu tháng 02 năm 2007, số lượng tàu biển treo cờ ViệtNam mới chỉ có 1082 tàu với tổng trọng tải đạt 2,98 triệu DWT (với 472 tàu dưới
10 tuổi và 310 tàu trên 20 tuổi; số tàu hoạt động tuyến quốc tế là 346 tàu với tổngtrọng tải là 1,62 triệu DWT) thì đến đầu tháng 02/2008, số tàu biển treo cờ ViệtNam đã lên 1.274 tàu (tăng 17,74% so với cùng kỳ năm trước) với tổng trọng tải đạt4,43 triệu DWT (tăng 48,36%) Trong số này có 680 tàu dưới 10 tuổi (tăng 44% sovới cùng kỳ năm trước), số tàu trên 20 tuổi giảm xuống còn 165 tàu (tương đươnggiảm 47% so với cùng kỳ) Số tàu hoạt động tuyến quốc tế là 402 tàu với tổng trọngtải đạt 2,46 triệu DWT (chưa kể 42 tàu với tổng trọng tải 0,62 triệu DWT do cácchủ tàu Việt Nam mua nhưng treo cờ nước ngoài) Tính đến hết tháng 12/2009, độitàu biển Việt Nam hiện có 1.598 tàu với tổng trọng tải lên tới hơn 6,2 triệu DWT,tuổi tàu bình quân đạt 11,8 tuổi (trích dẫn website của Cục Hàng hải Việt Nam)
Tiền đề cơ bản dẫn tới sự tăng trưởng nhanh đội tàu treo cờ Việt Nam trướchết là do chủ trương của Nhà nước xóa bỏ cơ chế độc quyền trong kinh doanh vậntải biển Hàng loạt Công ty tư nhân, TNHH ra đời và tham gia vào lĩnh vực kinhdoanh khai thác tàu biển Ngoài số tàu đặt đóng mới trong nước, hàng năm cả nướcnhập bình quân gần 20 tàu đã qua sử dụng từ nước ngoài Hầu hết các tàu nhậpkhẩu treo cờ Việt Nam có độ tuổi từ 12 - 15 tuổi Nhờ có sự tăng trưởng này đội tàubiển Việt Nam đã đảm bảo được nhu cầu vận tải trên thị trường quốc tế
Tuy nhiên, đội tàu chở hàng của thế giới trong những năm gần đây tăng lênkhông ngừng về số lượng và thay đổi màu sắc về chất lượng Trong khi đó đội tàucủa Việt Nam cũ, lạc hậu thì đội tàu của các nước với kỹ thuật, công nghệ khai tháchiện đại đã vượt xa Việt Nam hàng chục năm, làm cho đội tàu Việt Nam ngày càngmất đi thị trường, hiệu quả kinh doanh (kể cả các chủ tàu mạnh nhất Việt Nam)
Trang 21ngày càng thấp kém và khó thoát khỏi tình trạng chèn ép, lấn át của các hãng tàunước ngoài.
Bảng 1.1: So sánh năng lực đội tàu của Việt Nam và một số nước trong khu
vực (số liệu năm 2005) STT Tên nước Tổng trọng tải (DWT) So sánh với Việt Nam (lần)
Mô hình 1.3: Quy trình đóng mới một con tàu
- Giai đoạn 1: Thiết kế
Thiết
Lắp ráp phân đoạn, tổng đoạn
Sơ bộ lắp ráp các khí
cụ, giá đỡ
Sơn
Đấu tổng đoạn trên đà
Hạthuỷ
Lắp ráp hoàn chỉnh thiết bị
ThửđườngdàiBàn
giao
Trang 22Giai đoạn này người ta thực hiện các bản vẽ thiết kế kỹ thuật hình dáng của
vỏ tàu và chân vịt, đồng thời tiến hành chế tạo và thử mô hình tàu ngay sau khi kýhợp đồng và có những đặc tính kỹ thuật cơ bản
Tiến hành thiết kế cơ bản trong đó bao gồm cả tính toán thử nghiêng, khảnăng ổn định, các kết cấu cơ bản như: đường hình dáng, mặt cắt ngang, các váchchính, các boong, phần mũi, phần lái…
Tiến hành thiết kế kỹ thuật và thi công: Trong quá trình này các bản vẽ cơbản như kết cấu tàu, các hệ thống ống, máy, điện được triển khai chi tiết Các bản
vẽ thi công được thực hiện cho kết cấu từng tổng đoạn, lắp đặt thiết bị…Đồng thờicũng tiến hành xác định các đặc tính sơn cho vỏ tàu
Các bản vẽ thiết kế cơ bản, kỹ thuật và thi công được thực hiện trên máy tínhbằng phần mềm thiết kế, các dữ liệu về vật tư, thiết bị cần mua được chuyển quamạng nội bộ sang các bộ phận mua bán vật tư, thiết bị để tiến hành các thủ tục đặthàng nhà cung cấp
- Giai đoạn 2: Cắt tôn (Một số nhà máy làm lễ cắt tôn để chính thức khởicông đóng tàu)
Đầu tiên các tấm tôn được sơn lót, sau đó được chuyển đến phân xưởng cắtbằng dây chuyền Trên cơ sở các thông tin thu nhận được từ máy tính, máy cắt tựđộng sẽ cắt các tấm tôn theo đúng như trong bản vẽ thiết kế Mỗi tấm tôn khi đượccắt ra sẽ có ký hiệu riêng và sau đó chúng được chuyển sang phân xưởng lắp ráp
- Giai đoạn 3: Lắp ráp phân đoạn, tổng đoạn
Trong quá trình lắp ráp, các tấm tôn riêng biệt được hàn vào với nhau thànhcác phân đoạn, tổng đoạn
Công việc lắp ráp được thực hiện theo quy trình sản xuất, các tấm tôn phẳngnhư khung dọc, khung ngang được lắp trước sau đó mới nối với các phần cong Quátrình hàn được thực hiện trên dây chuyền
Ở các nhà máy đóng tàu lớn của Hàn Quốc, hàng ngày trong các phân xưởng
có thể tiến hành lắp từ 20 đến 30 tổng đoạn, mỗi chiếc có trọng lượng lên tới 300T
Hiện nay chúng ta hay làm lễ đặt ky là lễ chính thức đưa một phân đoạnchính của tàu lên đà để tiến hành lắp ráp
Trang 23- Giai đoạn 4: Sơ bộ lắp ráp các khí cụ, giá đỡ
Rất nhiều thiết bị được lắp sơ bộ trong khi lắp ráp các phân đoạn, tổng đoạntàu Các đường ống, cáp điện lớn và các bệ máy cũng được đặt đồng thời trong phânđoạn, tổng đoạn Rất nhiều các bộ phận thiết bị cho buồng máy, cho các đường ốngdây điện cũng được lắp ráp sơ bộ
- Giai đoạn 5: Sơn
Các phân đoạn, tổng đoạn sau khi được lắp xong được chuyển đến phânxưởng sơn bằng các xe chở tổng đoạn Bề mặt các tấm tôn được làm sạch và sau đóđược sơn từ 3 đến 6 lớp sơn
Các chỗ dùng để nối các tổng đoạn với nhau sẽ được sơn kỹ hơn sau khi cáctổng đoạn đã được hàn nối với nhau trên đà
Hiện nay, nhiều nhà máy đóng tàu hiện đại trên thế giới có những phânxưởng sơn rất lớn, được trang bị đầy đủ các thiết bị chống ô nhiễm và sử dụng cácloại sơn không độc, thân thiện với môi trường, chống rỉ rất tốt, không gây tổn hạicho sức khoẻ con người và kéo dài tuổi thọ của tàu
- Giai đoạn 6: Đấu tổng đoạn trên đà
Sau khi sơn xong ở bãi lắp ráp ngoài trời gần đà, các phân đoạn nhỏ đượchàn với nhau để thành các tổng đoạn lớn Các tổng đoạn lớn được đưa lên đà để hànđấu với nhau thành con tàu
- Giai đoạn 7: Hạ thuỷ
Sau khi đấu xong các tổng đoạn và các phần mũi, lái, tàu được hạ thuỷ xuốngnước và đưa ra cầu tàu để tiếp tục được lắp phần cabin thượng tầng và các thiết bị khác
Theo truyền thống, khi hạ thuỷ người mẹ đỡ đầu cho con tàu sẽ ném chaisâm panh vào phần mũi tàu Sau khi chai sâm panh vỡ tung, tàu được cắt các dâygiữ và được đẩy xuống nước
- Giai đoạn 8: Lắp ráp hoàn chỉnh thiết bị
Trên những bệ, giá đã được đặt sẵn ở giai đoạn trước trên con tàu, các thiết
bị như máy chính, nồi hơi, thiết bị máy, thiết bị điện được tiến hành lắp và hoànthiện trong buồng máy, cabin cũng như trong các khu vực khác của tàu
- Giai đoạn 9: Thử đường dài
Trang 24Trong quá trình thử đường dài, tất cả chức năng của các hệ thống trên tàu sẽđược kiểm nghiệm và hoạt động như khi đi trên hành trình thật Chủ tàu cùng cơquan đăng kiểm cũng tham gia vào quá trình thử đường dài để xác nhận toàn bộ cáchạng mục theo đúng hợp đồng đóng tàu đã ký và bản vẽ thiết kế tàu.
- Giai đoạn 10: Bàn giao
Sau khi chạy thử đường dài xong sẽ chính thức làm lễ bàn giao cho chủ tàu.Sau khi bàn giao xong, tàu được phép chính thức đi vào vận hành
1.3.2 Khái quát về ngành kinh doanh vận tải biển
1.3.2.1 Ngành kinh doanh vận tải viển Việt Nam
Vận tải hàng hóa giữ vai trò quan trọng và có tác dụng to lớn đối với nềnkinh tế của mỗi quốc gia Trong đó vận tải hàng hóa bằng đường biển về góc độkinh tế là một phương thức vận tải mang lại hiệu quả cao nhất xét cho cả hai đốitượng là người vận chuyển và người thuê vận chuyển
Việt Nam là một quốc gia có vị trí địa lý thuận lợi cho các hoạt động vận tảihàng hóa bằng đường biển Bên cạnh hệ thống cảng dọc theo bờ biển đất nước vàđội tàu của các Công ty đang hoạt động sẵn có Theo định hướng chung, Chính phủcùng các Bộ chủ quản và liên quan đã có chủ trương và kế hoạch cụ thể để pháttriển hệ thống cảng biển và đội tàu vận tải biển nhằm đáp ứng cho việc vận chuyểnhàng hóa phục vụ phát triển kinh tế của đất nước trong những năm tiếp theo của quátrình công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH- HĐH)
Nước ta nằm trong khu vực Đông Nam Á là nơi đang có tốc độ tăng trưởngkinh tế cao trên thế giới và được bao bọc bởi các thị trường xuất khẩu đầy tiềmnăng Vùng biển Đông Nam Á từ thế kỷ thứ III sau công nguyên đã được coi là vịtrí bản lề nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương Ngày nay, vùng biển nàyđược coi là tuyến hàng hải sôi động nhất thế giới, là cửa ngõ thông thương quốc tế
từ các nước Đông Á, Nhật Bản, Hàn Quốc sang Ấn Độ, Châu Âu và Châu Phi.Chính phủ Việt Nam đã xác định mục tiêu và tầm quan trọng của ngành vận tải biển
và ngành công nghiệp tàu thuỷ đối với sự phát triển của đất nước, đặc biệt trongNghị quyết số 03/NQ/TƯ của Bộ Chính trị ngày 06/05/1993 "Về một số nhiệm vụphát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt" đã chỉ rõ "Vị trí và đặc điểm địa
Trang 25lý của nước ta cùng với bối cảnh phức tạp trong vùng vừa tạo điều kiện, vừa đòi hỏichúng ta phải đẩy mạnh phát triển kinh tế biển đi đôi với tăng cường khả năng bảo
vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia, bảo vệ chủ quyền và môi trường sinh thái biển,phấn đấu trở thành một nước vững mạnh về kinh tế biển là mục tiêu chiến lược xuấtphát từ yêu cầu và điều kiện khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốcViệt Nam"
Trong bối cảnh khu vực hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đã trở thànhmột xu thế không thể đảo ngược, nền kinh tế của một quốc gia có quan hệ mật thiếtvới nền kinh tế của các nước trên thế giới thông qua các quan hệ kinh tế đối ngoại,
mà trọng tâm là các hoạt động xuất nhập khẩu
Tháng 12 năm 1987, Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư Nước ngoài mở ramột thời kỳ mới cho phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại Việt Nam Năm 1993,chúng ta đã bình thường hóa quan hệ với Ngân hàng Thế giới và Quỹ tiền tệ Quốc
tế Tháng 7 năm 1995, Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN và cam kết hoànthành việc thực hiện các nghĩa vụ của AFTA vào năm 2006 Tháng 7 năm 1998Việt Nam đã chính thức gia nhập APEC Đến năm 2007, Việt Nam gia nhập WTO,chính thức mở cửa nền kinh tế, hội nhập sâu vào kinh tế thế giới
Những cam kết trong tiến trình hội nhập với khu vực và thế giới mà trước hết
là những cam kết về tự do thương mại, một mặt đã và đang đòi hỏi những đóng gópmang tính chất quyết định, mặt khác cũng tạo ra những cơ hội kinh doanh đầy triểnvọng cho mỗi ngành kinh tế nói chung và các ngành kinh doanh xuất nhập khẩu nóiriêng
Việt Nam có những cam kết về mậu dịch tự do, các hoạt động xuất nhậpkhẩu nói trên sẽ không thể thực hiện có hiệu quả nếu không có sự đóng góp đáng kểmang tính chất quyết định của ngành hàng hải Trong thời gian nhu cầu vận tải bằngđường biển ngày càng trở nên bức xúc vì nó là cầu nối để mở rộng giao lưu và tạonên khả năng tổ chức thực hiện các hoạt động dịch vụ quốc tế lớn, trước hết là vớicác nước láng giềng và trong khu vực Vấn đề đặt ra là làm thế nào để vận tải biểnViệt Nam có thể phát huy được vai trò mũi nhọn của mình trong tiến trình phát triển
và hội nhập kinh tế thế giới
Trang 26Thực tại lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của nước ta năm sau luôn cao hơnnăm trước với khối lượng lên đến vài chục triệu tấn, và chủ yếu do ngành vận tảibiển đảm nhận Thị phần thương mại của nước ta với các nước lân cận thuộc khốiASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc chiếm hơn 50% lượng hàng hóa xuấtnhập khẩu Riêng khối lượng hàng hóa nông sản, hải sản vận chuyển đến các nướctrên dự báo đạt 2,4 triệu tấn năm 2020.
Nhu cầu vận tải biển tại Việt Nam.
Kinh tế thế giới tăng trưởng tốt hơn trong năm 2011 sẽ là điều kiện thuận lớicho hoạt động xuất khẩu; 3 yếu tố lạc quan tác động lên nhu cầu vận tải biển ViệtNam là:
- Hầu hết các mặt hàng xuất khẩu chỉnh của Việt Nam là hàng hóa cơ bản,phục vụ đời sống thiết yếu như: gạo, giầy dép, dệt may, thủy sản mặc dù khôngtránh được suy giảm nhưng sẽ khó bị giảm mạnh trong điều kiện thu nhập vẫn bịthu hẹp và nhanh chóng tăng trở lại khi có tín hiệu khả quan;
- Đồng Việt Nam yếu cũng đang tạo ra lợi thế cạnh tranh cho hàng hóa xuấtkhẩu, đặc biệt là hàng hóa có tỷ lệ nguyên liệu ngoại nhập thấp;
- Việc giải ngân các dự án đầu tư và nâng cao năng lực sản xuất sẽ làm tăngnhu cầu nhập khẩu
Ngoài sự hồi phục của kinh tế, khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc ASEAN và Australia, NewZeland - ASEAN đã chính thức hoạt động trong năm
-2010 cũng sẽ mở ra cơ hội cho rất nhiều ngành Việc ưu tiên cho vay xuất khẩuđược thực hiện cũng sẽ tạo ra rất nhiều thuận lợi Dự báo giá trị xuất khẩu của nước
ta năm nay sẽ tăng lên so với các năm trước
Đến nay, thị phần chuyên chở của các doanh nghiệp trong nước mới chỉ đạtkhoảng 15% lượng hàng hoá XNK Nhận thức được vai trò quan trọng của ngànhhàng hải trong bối cảnh kinh tế mở cửa, Chính phủ đã có kế hoạch đẩy mạnh đầu tưphát triển ngành vận tải biển và các dịch vụ phụ trợ không những chỉ nhằm vào thịtrường trong nước mà còn phục vụ nhu cầu của các nước thuộc hành lang kinh tếĐông Tây vốn không có thuận lợi về giao thông vận tải biển như Campuchia, Lào,Myanmar cũng như vùng Tây Nam Trung Quốc rộng lớn
Trang 27Theo “Quy hoạch phát triển vận tải biển Việt Nam đến năm 2010 và địnhhướng đến năm 2020” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo quyết định số1195/QĐ-TTg ngày 01/11/2003, thì mục tiêu phát triển sẽ của hoạt động vận tảibiển là nâng cao thị phần vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu đến năm 2010 là25%, đến năm 2020 là 35% và vận tải nội địa đạt 100% Thêm vào đó, lĩnh vực vậntải sông biển hiện nay cũng nhận được nhiều sự quan tâm khuyến khích của Chínhphủ trong việc phát triển ngành đóng tàu trong nước (theo quyết định số117/2000/QĐ-TTg) Theo chiến lược phát triển kinh tế biển và vùng biển đến năm
2020 mà Bộ Kế hoạch Đầu tư đã trình Chính phủ thì kinh tế biển và vùng ven biểnphải có mức tăng trưởng chung và chiếm 35% tổng GDP của cả nước năm 2020
Tiêu dùng sẽ vẫn tăng dù chậm cũng vẫn góp phần tạo thêm lực cầu mới.Cùng với đó, các dự án đầu tư nước ngoài đăng ký trong những năm vừa qua sẽđược giải ngân nhiều hơn trong năm 2010 do kinh tế phục hồi, dẫn đến nhu cầunhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu sẽ tăng Các chương trình kích cầu sảnxuất - đầu tư - tiêu dùng phát huy tác dụng sẽ dẫn đến nhu cầu nhập khẩu nguyênvật liệu như: sắt thép, vật liệu xây dựng, xăng dầu, tăng cao Các doanh nghiệp sẽtận dụng cơ hội từ Chương trình hỗ trợ lãi suất của Chính phủ (trung hạn và dàihạn) để mua sắm máy móc, thiết bị nhập khẩu từ nước ngoài, đồng thời tận dụng cơhội giá rẻ từ thị trường thế giới Năng lực sản xuất trong nước được nâng cao thìnhu cầu nhập khẩu nguyên vật liệu phục vụ đầu tư, xây dựng, sản xuất, xuất nhậpkhẩu cũng gia tăng
Từ những yếu tố trên, có thể khẳng định trong năm 2011 ngành vận tải biểnViệt Nam sẽ phục hồi và nhộn nhịp hơn so với năm 2009 và năm 2010
1.3.2.2 Ngành vận tải biển Thế giới
Giá cước vận tải biển được quyết định căn cứ vào tình hình cung - cầu thực
tế, tuy nhiên, diễn biến giá cước thế giới có tác động dẫn dắt đến Việt Nam, do đây
là hoạt động mang tính giao thương quốc tế
Vận tải hàng rời đã có sự hồi phục nhiều hơn mong đợi trong năm 2009 và
năm 2010 sau khi sụt giảm vào cuối năm trước đó Về ngắn hạn, khả năng tăng củagiá cước hiện là tương đối lạc quan đặc biệt khi Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng dự trữ
Trang 28quặng sắt và than Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc Trung Quốc tăng mạnh dự trữquặng sắt trong năm trước cũng có thể khiến nước này giảm bớt phần nào nhậpkhẩu trong năm 2010 trong khi quặng sắt là loại hàng hóa chính trong vận tải hàngrời Việc giá nguyên liệu bắt đầu tăng cũng là một lý do cản trở việc tăng dự trữ ởcác nước nhập khẩu chính.
Tuy nhiên, khi phía cầu mới cho thấy những dấu hiệu hồi phục nhẹ thì sự giatăng nguồn cung lại đang tạo sức ép lên giá cước vận tải Từ năm 2000, đội tàuhàng rời thế giới liên tục phát triển với tốc độ bình quân hơn 6% Sau khi giảmkhoảng 7-8% năm 2009 do nhiều hợp đồng đóng mới tàu bị trì hoãn, năm 2009,tổng trọng tải đội tàu thế giới vẫn tăng thêm 9,4% (đạt gần 460 triệu DWT) Năm
2010, dự kiến số tàu hoạt động sẽ tăng thêm 1.429 tàu tương đương tổng trọng tảikhoảng 60 triệu DWT
Như vậy, giá cước tàu hàng rời có xu hướng dao động trong mức trung bình
và rất khó có thể có đột biến, tuy nhiên, sự bình ổn và gia tăng chắc chắn của giácước có ý nghĩa hơn rất nhiều
Vận tải hàng lỏng (dầu và các sản phẩm dầu) là loại hình vận chuyển mà giá
cước ít bị sụt giảm nhất trong số các loại hình vận tải biển chính Tuy nhiên, khủnghoảng kinh tế đã làm cho nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ và các sản phẩm năng lượnggiảm đi, đặc biệt ở Mỹ và các nền kinh tế EU trong khi đội tàu vẫn tăng thêm vềnăng lực
Từ cuối năm 2010, sự hồi phục của kinh tế thế giới, đặc biệt là các nướcnhập khẩu dầu thô như Bắc Mỹ (30% nhu cầu dầu mỏ thế giới), Đông Âu(24%) sẽ làm tăng nhu cầu Theo OPEC, nhu cầu dầu mỏ thế giới giảm xuống85,78 triệu thùng/ngày trong năm 2010 nhưng dự kiến sẽ tăng lên trung bình 87triệu thùng/ngày trong năm 2011 (trích dẫn www.vinafins.com)
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển chung của ngành, khối lượng hợp đồngđóng mới tàu cũng tăng cao liên tục nhiều năm qua đang tạo sự đe dọa nhất địnhcho cân bằng cung - cầu trong tương lai Mức độ tác động sẽ thấp hơn vận chuyểnhàng rời và container do theo quy định của IMO (tổ chức hàng hải quốc tế), từ năm
2010 các tàu chở dầu vỏ đơn hoặc tàu trên 20 tuổi sẽ không được hoạt động trêntuyến quốc tế Hiện nay khoảng 21% tàu chở dầu là tàu vỏ đơn
Trang 29Doanh nghiệp vận tải dầu Việt Nam sẽ gặp khó khăn hơn khi nhà máy lọchóa dầu Dung Quất đã bắt đầu đi vào hoạt động và khi hoàn thiện sẽ đáp ứng được30% nhu cầu tiêu thụ xăng dầu ở Việt Nam
Vận tải container: trong năm 2009, các hãng tàu lo ngại lượng cung tàu sẽ
tăng quá mức nên cố tình cho tàu nằm chờ hoặc tiêu hủy những tàu cũ, khiến lượngcung tàu bị thắt chặt Tới cuối năm 2009; hàng loạt tàu container tạm ngừng hoạtđộng Trong khi đội tàu container năm 2009 vẫn tăng so với 2008 thì khối lượngchuyên chở trong năm lại giảm đi
Thị trường vận chuyển container phụ thuộc rất lớn vào sức sản xuất và xuấtkhẩu của Trung Quốc, đặc biệt là các loại hàng hóa như quần áo, giày dép, hàngđiện tử, đồ chơi cũng như nhu cầu nhập khẩu của Mỹ và EU - thị trường tiêu thụchính các sản phẩm của Trung Quốc
Năm 2010 và năm 2011 dự kiến sẽ có ít đơn đóng tàu mới do số tàu nằm chờhàng tại cảng vẫn còn khá nhiều nhưng các tàu đóng mới đến hạn giao trong năm
2010 vẫn là 376 tàu với tổng trọng tải hơn 1,7 triệu TEU Như vậy, mặc dù thươngmại quốc tế dự kiến sẽ tăng trưởng khoảng 2,4% thì nguồn cung vẫn vượt hơn cầu
và mức giá cước cho các tàu vận tải container vẫn chưa tới mức hoàn vốn, dù tìnhhình có được cải thiện so với năm trước
1.4 Hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại đối với các doanh nghiệp đóng tàu Việt Nam
1.4.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp đóng tàu
Hiệu quả cho vay là thuật ngữ phản ánh hiệu quả của hoạt động cho vay củacác ngân hàng thương mại Nó được cấu thành bởi hai yếu tố là mức độ an toàn vàkhả năng sinh lời của ngân hàng do hoạt động cho vay mang lại
Hiệu quả hoạt động cho vay doanh nghiệp đóng tàu phản ánh mức sinh lời và
độ an toàn của ngân hàng trong công tác cho vay đối với các doanh nghiệp đóngtàu Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ cho vay, để quyết định bỏ vốn tài trợ chomột phương án kinh doanh, dự án đầu tư nào đó, các ngân hàng phải đứng trước hai
sự lựa chọn là lợi nhuận và rủi ro Mức rủi ro càng lớn thì khả năng sinh lời của vốnđầu tư càng lớn Vì thế trong một quyết định cho vay, ngân hàng có thể theo đuổi
Trang 30mục tiêu lợi nhuận cao hay thấp, song phải xác định được mối liên hệ giữa rủi ro vàsinh lợi để đảm bảo hoạt động cho vay đem lại lợi nhuận cao nhất với độ rủi ro thấpnhất Đối với bất kỳ một ngân hàng nào thì cho vay bao giờ cũng được coi là hoạtđộng chủ yếu, mang lại lợi nhuận cao những cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro đe doạhoạt động kinh doanh của ngân hàng Bên cạnh đó, ngành công nghiệp đóng tàuhiện nay đang là ngành được ưu tiên và chú trọng phát triển trong chiến lược pháttriển kinh tế của đất nước ta Đây là một ngành công nghiệp còn khá non trẻ củanước ta nên việc ngân hàng thương mại cho vay vốn các doanh nghiệp đóng tàu đểtài trợ vốn, bổ sung vốn lưu động còn thiếu, giúp các doanh nghiệp đóng tàu tổ chứcthi công và hoàn thành đúng tiến độ nên nó đóng một vai trò rất quan trọng đối vớicác doanh nghiệp đóng tàu Vì thế, việc nâng cao hiệu quả cho vay trong hoạt độngkinh doanh của ngân hàng thương mại là một yêu cầu bức thiết, đóng một vai trò rấtquan trọng không chỉ riêng đối với hoạt động của bản thân mỗi ngân hàng, làmgiảm thiểu rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh mà còn đối với các doanhnghiệp đóng tàu và đối với toàn bộ nền kinh tế nói chung.
1.4.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay thi công dóng tàu
Trong quá trình đánh giá hiệu quả của hoạt động tín dụng có rất nhiều chỉtiêu khác nhau để đánh giá Tuy nhiên, người ta có thể phân các chỉ tiêu này ra làm
02 loại nhóm chỉ tiêu như sau:
1.4.2.1 Nhóm chỉ tiêu định tính
- Khả năng thu hồi nợ gốc và lãi của tiền cho vay trong khoảng thời gian ghitrên hợp đồng Các hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp đóng tàu phải đảm bảotính an toàn để hạn chế nguy cơ rủi ro từ việc không thu hồi được vốn vay hoặc thuhồi chậm, thu hồi không đủ…và mang lại lợi nhuận cho ngân hàng
- Mức đáp ứng nhu cầu vốn cho doanh nghiệp đóng tàu Điều này có nghĩa làkhả năng ngân hàng đáp ứng được nhu cầu vốn vay của doanh nghiệp đóng tàu đểthực hiện các nhu cầu mua sắm máy móc, vật tư kịp thời và hiệu quả Mặt khác,việc cung cấp vốn phải đầy đủ, nhanh chóng, thuận tiện, tiết kiệm chi phí giao dịch
và thời gian cho doanh nghiệp
- Hiệu quả từ việc sử dụng vốn vay của các doanh nghiệp đóng tàu Khi doanhnghiệp đóng tàu sử dụng vốn vay để thi công mới các con tàu, từ đó có thể bán hoặc
Trang 31hoạt động thương mại, chuyên chở hàng hoá, đạt được những mục tiêu đề ra trong
kế hoạch sản xuất kinh doanh Đó chính là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hoạt độngcho vay của ngân hàng
- Mức độ đóng góp vào sự phát triển kinh tế của địa phương nói riêng và củađất nước nói chung Hoạt động cho vay doanh nghiệp đóng tàu sẽ giúp doanhnghiệp sản xuất hiệu quả hơn, tăng cường vật chất kỹ thuật, tạo việc làm ổn địnhcho người lao động
1.4.2.2 Nhóm chỉ tiêu định lượng
- Nhóm chỉ tiêu dư nợ cho vay:
+ Doanh số cho vay và tốc độ tăng doanh số cho vay:
Doanh số cho vay phản ánh tổng số tiền mà ngân hàng đã cho doanh nghiệpđóng tàu vay, được tính cộng dồn dựa trên giá trị các khoản vay trong hợp đồng tíndụng ở thời gian nhất định Có thể tính tốc độ tăng doanh số cho vay từng thời kỳtheo công thức sau:
Doanh số cho vay kỳ này Tốc độ tăng doanh số cho vay = x 100% Doanh số cho vay kỳ trước
Doanh số cho vay thể hiện quy mô tuyệt đối hoạt động cho vay doanh nghiệpđóng tàu Tốc độ tăng doanh số cho vay phản ánh khả năng mở rộng tín dụng đốivới doanh nghiệp đóng tàu qua từng thời kỳ Tuy nhiên, chỉ tiêu này chưa đủ đểkhẳng định tính hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng
+ Doanh số thu nợ:
Doanh số thu nợ phản ánh số vốn khách hàng trả cho ngân hàng bằng cáchcộng dồn các khoản đã trả trong kỳ nhất định Chỉ tiêu doanh số thu nợ tăng thểhiện hoặc khách hàng hoàn trả vốn vay cho ngân hàng đúng thời hạn hoặc ngânhàng buộc tăng thu hồi nợ sớm vì có dấu hiệu rủi ro trong tình hình tài chính củakhách hàng
+ Doanh số cho vay và tốc độ tăng dư nợ cho vay
Dư nợ cho vay phản ánh số vốn mà doanh nghiệp còn nợ ngân hàng tại mộtthời điểm nhất định Chỉ tiêu này thể hiện khả năng mở rộng quy mô cho vay đốivới doanh nghiệp của ngân hàng
Trang 32Có thể tính tốc độ tăng dư nợ cho vay qua công thức sau:
Dư nợ cho vay kỳ này
Tổng dư nợ đối với DN đóng tàu
tỷ lệ trên 7% được xem là ngân hàng yếu kém
+ Nợ khó đòi và tỷ lệ nợ khó đòi
Trang 33Nợ khó đòi là khoản nợ quá hạn đã quá một kỳ gia hạn nợ hoặc không có tàisản đảm bảo hoặc tài sản không bán được Tỷ lệ nợ khó đòi được tính bằng côngthức sau:
Nhóm chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động cho vay
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng là nguồn thu nhập quan trọng của ngânhàng Chỉ tiêu này giúp chúng ta so sánh được thu nhập từ hoạt động cho vay doanhnghiệp đóng tàu của ngân hàng trong tổng thu nhập Ta có công thức sau:
Thu nhập từ hoạt động cho vay
Tổng doanh thu của ngân hàng
Thu nhập từ hoạt động cho vay doanh nghiệp đóng tàu phải đảm bảo đượclãi suất thực dương, sau khi đã bù đắp chi phí nghiệp vụ và chi phí hoạt động
1.4.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động cho vay thi công đóng tàu
Việc nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng đối với các doanhnghiệp kinh doanh đóng tàu đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế, do đó màviệc nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay các doanh nghiệp đóng tàu là rất cầnthiết Để công việc này đạt kết quả cao nhất thì ta cần xem xét những nhân tố gì ảnhhưởng đến hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Những nhân tốảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động cho vay có thể kể đến như sau:
1.4.3.1 Các nhân tố chủ quan (Các nhân tố bên trong ngân hàng)
Đây là nhóm các nhân tố liên quan đến tổ chức quản lý hoạt động tín dụngcủa các ngân hàng thương mại Nó có vai trò quan trọng, trực tiếp ảnh hưởng đếnhiệu quả hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp đóng tàu
- Chính sách tín dụng
Tín dụng là hoạt động có tầm quan trọng, quy mô giao dịch lớn của ngânhàng thương mại Do đó, mỗi ngân hàng trong hoạt động tín dụng của mình đều
Trang 34phải xây dựng cho mình một hệ thống chính sách tín dụng riêng phù hợp với mụctiêu và thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng mình Chính sách tín dụng luônđược quan tâm xây dựng và hoàn thiện, phản ánh cương lĩnh, tài trợ của mỗi ngân hàng.
Trong quá trình xây dựng chính sách tín dụng, mỗi ngân hàng thương mạiphải căn cứ vào thực lực và quy mô hoạt động của ngân hàng mình (về vốn, khoahọc công nghệ, trình độ cán bộ, thế mạnh trên thị trường cạnh tranh…), căn cứ vàokhách hàng chủ yếu, nhu cầu tín dụng, lãi suất huy động…Từ đó, ngân hàng mới cóthể xác định được các chỉ tiêu tín dụng cho mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ để đề ra cácbiện pháp nâng cao chất lượng tín dụng Việc hoạch định chiến lược kinh doanh,xác định mục tiêu chính sách tín dụng của từng ngân hàng có vai trò quan trọngtrong hoạt động tín dụng Bởi vì nếu mục tiêu, chính sách tín dụng hợp lý, đúngđắn, phù hợp thì mới có thể đem lại hiệu quả cao cho hoạt động tín dụng Và ngượclại, nếu chính sách tín dụng không phù hợp với khả năng của ngân hàng thương mại
và thời kỳ phát triển của nền kinh tế thì sẽ trở thành rào cản cho việc phát triển hoạtđộng tín dụng của ngân hàng thương mại Một chính sách tín dụng được đánh giá làtốt phải vạch ra được cho cán bộ tín dụng phương hướng hoạt động và tạo ra mộtkhung tham chiếu rõ ràng để làm căn cứ xem xét các nhu cầu vay vốn
Trang 35- Công tác thẩm định tín dụng
Thẩm định cho vay là việc đánh giá tổng quan, toàn diện về phương án kinhdoanh, dự án, xem xét tính hiệu quả cũng như tính khả thi của phương án, dự án đểgóp phần đưa ra quyết định cho vay đúng đắn Thẩm định cho vay là một phần rấtquan trọng trong quy trình tín dụng của ngân hàng Công việc này khá phức tạp nênthường không tránh khỏi những sai sót xảy ra trong quá trình thẩm định Nếu khâuthẩm định này được thực hiện tốt thì công tác tín dụng đương nhiên sẽ đạt hiệu quảcao và ngân hàng sẽ giảm thiểu được khá nhiều rủi ro Ngược lại nếu công tác nàythực hiện không tốt thì sẽ gây ra những thiệt hại không nhỏ cho ngân hàng
- Trình độ cán bộ tín dụng nói riêng và cả ngân hàng nói chung
Con người là yếu tố đóng vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển củabất kỳ một tổ chức nào nói chung và ngân hàng nói riêng Trong hoạt động cho vay,cán bộ tín dụng là những người trực tiếp thẩm định, ra quyết định cho vay, giám sátviệc sử dụng vốn vay vả xử lý cho vay Chính vì vậy mà trình độ nghiệp vụ cũngnhư phẩm chất đạo đức của người cán bộ tín dụng chính là yếu tố cực kỳ quan trọnggóp phần tăng cường hiệu quả của hoạt động cho vay Một ngân hàng có đội ngũnhân viên được đào tạo với chất lượng tốt, cán bộ tín dụng nắm chắc các nghiệp vụ,quy trình tín dụng, có sự am hiểu đối với lĩnh vực mà khách hàng vay vốn đangkinh doanh cũng như sự am hiểu về thị trường thì khi xử lý hồ sơ vay vốn và đi vay
sẽ đem lại hiệu quả cao, tránh và giảm thiểu được khá nhiều rủi ro gặp phải trongquá trình quản lý khách hàng vay vốn
- Công nghệ ngân hàng
Trang 36Nếu như ở thập kỷ trước, khi mà khoa học kỹ thuật chưa phát triển thì côngviệc của các cán bộ ngân hàng gặp phải rất nhiều khó khăn và xảy ra khá nhiều saisót Ngày nay, khi khoa học công nghệ đang phát triển như vũ bão thì việc côngnghệ hoá ngành ngân hàng là một cuộc cách mạng lớn Nó giúp ngân hàng hạn chếđược những rủi ro từ việc đa dạng hoá khách hàng Hiện đại hoá công nghệ ngânhàng giúp cho việc quản lý cũng như công tác thu thập và xử lý thông tin đạt hiệuquả để từ đó cán bộ ngân hàng có thể đưa ra những quyết định đúng đắn Bên cạnh
đó, công nghệ ngân hàng giúp cho ngân hàng có thể cung cấp dịch vụ một cáchnhanh chóng, chính xác, đáp ứng tối đa nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của cáckhách hàng
1.4.3.2 Các nhân tố khách quan (Các nhân tố từ phía ngoài ngân hàng)
Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp
Bên cạnh những nhân tố thuộc về nội bộ ngân hàng thì những yếu tố từ phíadoanh nghiệp cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả của hoạt động cho vay.Bởi nếu doanh nghiệp làm ăn sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, trong quá trình thicông đóng tàu có thể gặp phải những rủi ro không lường trước được Có thể doanhnghiệp không hoàn thành tàu đúng như tiến độ thi công, chậm thu hồi được nguồnvốn (vốn tự có và vốn vay ngân hàng) thì việc trả nợ cho ngân hàng sẽ không đúngnhư đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và ngân hàng đương nhiên sẽ gặp phảirủi ro
Những yếu tố về mặt quản lý, chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệpđóng tàu sẽ ảnh hưởng đến khả năng thi công đóng tàu cũng như chất lượng củachính con tàu được đóng ra Điều này có thể làm giảm thu nhập, lợi nhuận màdoanh nghiệp thu được Bên cạnh đó ngân hàng có thể gặp phải những rủi ro đạođức xảy ra từ phía khách hàng Chính vì vậy mà việc thẩm định kỹ về năng lực tàichính, quản lý cũng như kinh nghiệm của doanh nghiệp đối với hoạt động đóng mớitàu là điều quan trọng trước khi ngân hàng đưa ra quyết định cho vay đối với cácdoanh nghiệp này
Các nhân tố khác
- Cơ chế chính sách, hệ thống văn bản, quy định của Nhà nước, Ngân hàngNhà nước ban hành
Trang 37Hành lang pháp lý có ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của ngân hàng, trong
đó có cả nghiệp vụ cho vay của ngân hàng Nếu các chính sách, các quyết định liênquan đến cho vay do Nhà nước ban hành một cách rõ ràng, chặt chẽ, cụ thể sẽ tạo rađiều kiện tốt cho việc thực hiện ở bộ phận tín dụng và ngược lại, nếu nhà nước banhành các quy định, quy chế cho vay lỏng lẻo, kém logic sẽ gây ra sự đối lập, khóhiểu Hậu quả sẽ rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh Sự quản lýcủa Nhà nước thể hiện ở những bộ luật, ở chính sách tiền tệ Những yếu tố này ổnđịnh sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho nghiệp vụ tín dụng phát triển, hạn chế rủi ro
và là cơ sở để bộ phận tín dụng thực hiện tốt nhiệm vụ của mình
- Sự phát triển của nền kinh tế
Một nền kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại mởrộng hoạt động của mình trong đó có hoạt động cho vay Kinh tế phát triển sẽ giúpcho ngân hàng có nhiều cơ hội tiếp cận và áp dụng công nghệ cao vào việc cung cấpsản phẩm dịch vụ của mình Cùng với đội ngũ lao động có chất lượng thì ngân hàng
có thể nâng cao được chất lượng hoạt động của mình Bên cạnh đó, kinh tế pháttriển thì các doanh nghiệp nói chung trong nền kinh tế cũng như các doanh nghiệpđóng tàu sẽ có những cơ hội thuận lợi để làm ăn, sản xuất kinh doanh có hiệu quả,
từ đó mà tạo ra được thu nhập, lợi nhuận cao để có thể hoàn trả vốn vay cho ngânhàng Tuy nhiên, nếu nền kinh tế tăng trưởng quá nóng và không bền vững thì cóthể tiềm ẩn nhiều nguy cơ khủng hoảng và ngân hàng cũng cần phải xem xét khi raquyết định cho vay đối với các khách hàng của mình Ngược lại, khi nền kinh tế suythoái, trì trệ chậm phát triển thì bản thân các ngân hàng và các doanh nghiệp cũng
sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn Điều này sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động củangân hàng
- Môi trường chính trị xã hội
Môi trường chính trị xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển nền kinh
tế và từ đó có những tác động đến những hoạt động của ngân hàng Một quốc gia cómôi trường chính trị xã hội ổn định thì nền kinh tế sẽ có điều kiện thuận lợi để phát
Trang 38triển một cách ổn định, từ đó hoạt động của ngân hàng sẽ được phát triển và có hiệuquả hơn Ngược lại,nếu môi trường chính trị xã hội kém ổn định thì nền kinh tế sẽkhông thể phát triển được Từ đó mà hoạt động của các doanh nghiệp cũng như củangân hàng sẽ giảm sút và kém hiệu quả hơn.
Ngoài những nhân tố đã được đề cập đến ở trên thì còn có những yếu tố khácảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng nói riêng và hoạt độngngân hàng nói chung Đó là sự phát triển của hệ thống tài chính, sự biến động thịtrường tài chính, chỉ số giá tiêu dùng…
Nói tóm lại, hiệu quả hoạt động cho vay đối với các doanh nghiệp đóng tàuchịu tác động của rất nhiều nhân tố có liên quan Do đó, việc nâng cao hiệu quả củahoạt động này đòi hỏi ngân hàng phải xem xét các nhân tố ảnh hưởng để từ đó cóđược những biện pháp cụ thể nhằm ngăn chặn những rủi ro có thể xảy ra và đạtđược hiệu quả tối ưu
Như vậy, thông qua Chương I, chúng ta đã có thể có cái nhìn khái quát vềhoạt động của các Ngân hàng thương mại, về hoạt động cho vay nói chung và hoạtđộng cho vay thi công đóng tàu nói riêng Từ đó, chúng ta có thể xác định được cáctiêu chí để đánh giá hiệu quả của hoạt động này cũng như các nhân tố tác động trựctiếp, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động cho vay thi công đóng tàu của các Ngânhàng thương mại
Trang 39CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY THI CÔNG ĐÓNG TÀU TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT
NAM – CHI NHÁNH BẮC HÀ NỘI2.1 Khái quát về Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc
Năm 1981, Chi nhánh đổi tên thành Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư & Xâydựng khu vực 3 Thành phố Hà Nội thuộc NHNN Việt Nam Với quyết định này,nhiệm vụ mới của Ngân hàng là thu hút và quản lý các nguồn vốn dành cho đầu tư
và xây dựng cơ bản các công trình không do ngân sách nhà nước cấp hoặc không đủvốn tự có, đại lý thanh toán và kiểm soát các công trình thuộc diện ngân sách đầu tư.Theo tinh thần này, Chi điếm 3 đổi tên thành Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Xâydựng khu vực 3 Thành phố Hà Nội thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt nam
Ngày 14/11/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định thành lập Ngânhàng Đầu tư và Phát triển thay thế cho Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng cũ Trongthời gian này, Ngân hàng có chức năng huy động vốn trung và dài hạn trong vàngoài nước và nhận vốn từ Ngân sách nhà nước cho vay các dự án chủ yếu tronglĩnh vực đầu tư và phát triển Do đó, năm 1990 Chi nhánh đổi tên thành Chi nhánhNgân hàng Đầu tư và Phát triển huyện Gia Lâm thuộc Ngân hàng Đầu tư và Pháttriển TP Hà Nội và đến tháng 08 năm 2000 được chuyển sang trực thuộc Sở giaodịch I của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Ngày 15 tháng 10 năm 2002, Chi nhánh Ngân hàng ĐT&PT Gia Lâm chínhthức được tách khỏi Sở Giao dịch 1, trở thành Chi nhánh cấp 1 trực thuộc BIDV và
Trang 40được đổi tên thành Chi nhánh Ngân hàng ĐT&PT Bắc Hà Nội (BIDV Bắc Hà Nội).Trải qua 40 năm hoạt động với bao thăng trầm, sau nhiều lần đổi tên và được bổsung về chức năng, nhiệm vụ song về bản chất thì BIDV Bắc Hà Nội vẫn là mộtNHTM quốc doanh đóng vai trò phục vụ cho sự nghiệp đầu tư và phát triển; côngnghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức
BIDV được xây dựng theo mô hình Tổng công ty Nhà nước - một loại hìnhDoanh nghiệp đặc biệt chuyên hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính ngânhàng và tương lai hướng tới trở thành tập đoàn tài chính - ngân hàng đa năng pháttriển vững mạnh và tăng cường hội nhập quốc tế Cùng nằm trong mô hình chung
đó, BIDV Bắc Hà Nội là một Chi nhánh cấp 1 trực thuộc BIDV
BIDV Bắc Hà Nội hiện nay có trụ sở đóng tại số 137A Nguyễn Văn Cừ,Long Biên, Hà Nội; tính đến 31/12/2007 có 145 cán bộ nhân viên, đến 31/12/2009
có 186 cán bộ nhân viên và đến 31/12/2010, tổng số cán bộ nhân viên là 192 người(trên 85% số cán bộ có trình độ đại học và trên đại học), đứng đầu là Ban giám đốcChi nhánh gồm Giám đốc và 03 Phó Giám đốc
Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh được chia làm 05 khối, gồm 18 phòng như sơ
đồ sau: