•Đề tài luận văn sẽ tập trung nghiên cứu lý luận về cấu trúc đầu tư và tái cấu trúc đầu tư. •Phân tích, đánh giá cấu trúc hoạt động đầu tư của Tổng công ty Phát triển hạ tầng đô thị .•Từ đó đưa ra đề xuất, kiến nghị giải pháp tái cấu trúc đầu tư cho doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, tăng tính cạnh tranh trên thị trường.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tái cấu trúc doanh nghiệp là quá trình khảo sát, đánh giá lại cấu trúchiện tại và đề xuất giải pháp cho mô hình cấu trúc mới nhằm tạo ra “trạngthái” tốt hơn cho doanh nghiệp nhằm thực hiện những mục tiêu đề ra trongnhững điều kiện, hoàn cảnh luôn thay đổi
Mục tiêu chung của tái cấu trúc là đạt được một “thể trạng” tốt hơn chodoanh nghiệp, để doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn dựa trên những nềntảng về sứ mệnh, tầm nhìn, định hướng chiến lược sẵn có của doanh nghiệp Việc tái cấu trúc doanh nghiệp luôn phải được xem xét một cáchthường xuyên liên tục, nếu không tình trạng mất cân bằng của hệ thống cóthể xảy ra bất cứ lúc nào Tuy nhiên, vấn đề tái cấu trúc thường được đặt rabởi các lý do sau:
Tái cấu trúc xuất phát từ áp lực bên ngoài để thích nghi theo môi trườngkinh doanh đã có những biến đổi về cơ bản Ví dụ, chính sách cổ phần hóa –chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế, ra nhập AFTA, WTO
Tái cấu trúc xuất phát từ các áp lực bên trong để phù hợp theo quy môtăng trưởng, phát triển của doanh nghiệp Ví dụ: yêu cầu phân công chuyênmôn hóa sâu hơn hoặc để kịp thời ngăn chặn đà suy thoái của doanh nghiệpđang tiến đến bờ vực phá sản
Tái cấu trúc xuất phát từ cả hai luồng áp lực bên ngoài và bên trong
Việc tái cấu trúc doanh nghiệp có các hoạt động chính sau:
Điều chỉnh cơ cấu các hoạt động: điều chỉnh cơ cấu các mục tiêu chiếnlược, ngành nghề kinh doanh, chủng loại sản phẩm hàng hóa, địa bàn hoạtđộng
Trang 2Điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy: tái bổ từ phân công chức năng, nhiêm
vụ, quyền hạn của các bộ phân, các cấp quản lý, các chức danh
Điều chỉnh cơ cấu thể chế: điều chỉnh các cơ chế, chính sách thông qua
sự rà soát, thay đổi hợp lý hóa từ các quy trình công việc đến các quy chế,quy định
Điều chỉnh cơ cấu nguồn lực: điều chỉnh cơ cấu đầu tư tạo lập các nguồnlực và tái phân bổ sử dụng các nguồn lực
Những nội dung phải giải quyết khi tái cấu trúc doanh nghiệp:
Tái cấu trúc doanh nghiệp cơ bản: Khảo sát, đánh giá mô hình cấu trúchiện tại, thiết lập mô hình cấu trúc công ty mới, xác định trách nhiệm quyềnhạn của từng phòng ban, mô tả công việc cho từng cá nhân, xây dựng hệthống quản lý tổng thể, tập huấn triển khai, vận hành và duy trì vận hành hệthống quản lý mới
Tái cấu trúc doanh nghiệp chuyên sâu: bao gồm công việc của tái cấutrúc doanh nghiệp cơ bản, tái thiết lập chính sách quản trị hành chính, nhân sựchuyên sâu; tái thiết lập chính sách quản trị chiến lược tiếp thị kinh doanh, táithiết lập chính sách quản trị cung ứng, tái thiết lập quản trị sản xuất, kỹ thuật;tái thiết lập chính sách quản trị kế toán; tái thiết lập quản trị sản xuất, kỹthuật; tái thiết lập các chính sách quản trị khác
Tái cấu trúc sẽ mang lại điều gì cho doanh nghiệp và sự cần thiết phải tái cấu trúc doanh nghiệp:
Vấn đề của doanh nghiệp là: Hoạt động sao cho hiệu quả ? Làm sao đểnâng cao tính cạnh tranh theo thời gian ? Làm sao để doanh nghiệp phát triểnbền vững
Trang 3Chủ doanh nghiệp luôn luôn phải quan tâm tới ba vấn đề nói trên kể cảkhi đang phát triển và càng phải quan tâm tới trong bối cảnh suy thoái kinh tế.
Và vấn đề đặt ra cho doanh nghiệp là doanh nghiệp luôn phải tự thay đổi – táicấu trúc để giảm thiểu tổn thất
Như vậy, việc tái cấu trúc là hoạt động cần thiết, nó sẽ đem tới một thểtrạng tốt hơn cho doanh nghiệp, đảm bảo cho doanh nghiệp luôn hoạt độnghiệu quả và có tính cạnh tranh
Vấn đề tái cấu trúc tại Tổng công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên:
-Tại sao trong những năm gần đây, đặc biệt là trong thời gian gần đây thìcụm từ Tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước luôn được nhắc đến và là mộttrong ba nhiệm vụ trọng tâm cấp bách trong quá trình tái cấu trúc tổng thể nềnkinh tế của nước ta Mục tiêu của tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước là nhằmnâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước, tăng cường vaitrò dẫn dắt nền kinh tế của doanh nghiệp nhà nước, hình thành các doanhnghiệp nhà nước vững mạnh đủ sức cạnh tranh trông bối cảnh hội nhập quốc
tế ngày càng diễn ra sâu và rộng như hiện nay Đây là yêu cầu tất yếu, phùhợp với tiến trình chuyển đổi từ phát triển kinh tế theo chiều rộng sang pháttriển theo chiều sâu, để doanh nghiệp nhà nước thực sự khẳng định vai tròthen chốt của khu vực kinh tế nhà nước
Tổng công ty đầu tư phát triển hạ tầng đô thị - Công ty TNHH nhà nướcmột thành viên là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc ủy ban nhân dânThành phố cũng không nằm ngoài xu thế chung đó
Tổng công ty đầu tư phát triển hạ tầng đô thị được phê duyệt đề án thànhlập tổng công ty đầu tư phát triển hạ tầng đô thị thí điểm hoạt động theo môhình công ty mẹ con ngày 23/6/2004 Và tới 13/7/2010 được sự phê duyệt của
Trang 4UBND Thành phố Hà Nội tổng công ty đầu tư phát triển hạ tầng đô thị đãchuyển đổi sang hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Được hình thành trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Công tyđược từng bước được mở rộng và phát triển, vừa được đổi mới,sắp xếp, từngbước chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường Nhìn về mặt tổng thể nóichung, Tổng công ty trong thời gian qua đã thực hiện tốt các nhiệm vụ củaĐảng và nhà nước giao cho, đồng thời đã từng bước đáp ứng được với sự pháttriển kinh tế xã hội của đất nước, đảm bảo sản xuất và cung ứng bất động sảncho nền kinh tế Trong thời kỳ khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tếtoàn cầu, Tổng công ty vẫn duy trì được hoạt động sản xuất kinh doanh vàđóng góp quan trọng cho nền kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội cho thị trườngbất động sản Hà Nội.
Mặc dù doanh nghiệp vẫn hoạt động hiệu quả trong thời gian gần đây.Tuy nhiên với xu hướng phát triển kinh tế thị trường, doanh nghiệp phải bướcvào sân chơi chung với sự cạnh tranh khốc liệt Cùng với khủng hoảng tàichính thế giới và suy giảm kinh tế toàn cầu , đặc biệt là sự lao dốc của thịtrường bất động sản trong những năm gần đây khiến doanh nghiệp bộc lộnhiều yếu kém dẫn đến nhu cầu cấp thiết phải tiến hành cấu trúc lại doanhnghiệp
Bên cạnh vấn đề cấp thiết phải tái cấu trúc xuất phát từ áp lực bên ngoàithì những vấn đề nội tại bên trong doanh nghiệp cũng là một yêu cầu kháchquan đòi hỏi doanh nghiệp phải tái cấu trúc để đảm bảo tính cạnh tranh trênthị trường Bản thân doanh nghiêp vẫn còn rất nhiều yếu kém, trì trệ và bấtcập, và không thể đảm bảo thể trạng tốt để bước vào sân chơi chung với tiêuchí cạnh tranh công bằng, công khai và minh bạch:
Trang 5Một là, hiệu quả hoạt động thấp: Trong thời gian qua, doanh nghiệp vẫn
giữ được thị phần trên thị trường bất động sản và xây dựng Hà Nội, tuy nhiênchưa đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế Tuy có nhiều lợi thế trong việc
sử dụng nguồn lực, nguồn vốn và được ưu đãi trong việc sử dụng đất đai, lãisuất nhưng hiệu quả sử dụng thấp, lãng phí
Hai là, hiệu quả đầu tư đang giảm nhanh: Việc phải sử dụng quá nhiều
đồng vốn để tạo ra một đồng doanh thu đang làm giảm hiệu quả đầu tư củadoanh nghiệp
Ba là, Sức cạnh tranh của doanh nghiệp còn hạn chế: Doanh nghiệp chủ
yếu dựa vào nguồn công việc mang lợi do lợi thế của một doanh nghiệp con
để của UBND Thành phố, năng lực cạnh tranh trong đấu thầu còn hạn chế
Bốn là, Về mặt tài chính: tình hình tài chính tại doanh nghiệp chưa đảm
bảo được các yêu cầu về an toàn tài chính, tiềm tàng nhiều nguy cơ rủi ro và
đổ vỡ một khi kinh doanh không hiệu quả
Năm là, Doanh nghiệp đầu tư dàn trải: Doanh nghiệp tập trung đầu tư
theo diện rộng, đa ngành đa nghề dẫn tới việc các ngành nghề lợi thế mũinhọn phải gồng mình để gánh cho những ngành nghề sản xuất kinh doanh yếukém, không phải là thế mạnh của doanh nghiệp
Trong khi đó, cũng có những vấn đề bất cập trong nội tại của doanhnghiệp:
Thứ nhất, về mâu thuẫn lợi ích: Theo lý thuyết hành vi, bất cứ một cá
nhân nào cũng luôn hành động vì lợi ích của cá nhân mình, đối với doanhnghiệp cũng không ngoài lệ Tại tổng công ty, Nhà nước là người đại diệnnhân dân quản lý phần vốn, phần tài sản và chính vì không có sự tách bạch vềlợi ích giữa chủ sở hữu (nhà nước mà đại diện là toàn dân) với người điềuhành (giám đốc ) nên mục tiêu làm tăng giá trị doanh nghiệp, tối đa hóa lợi
Trang 6nhuận không được doanh nghiệp thực hiện một cách nghiêm túc, dẫn đến làmgiảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
Thứ hai, Yếu kém về công tác nhân sự: Tại doanh nghiệp nhà nước,
người điều hành được toàn quyền tuyển dụng, bổ nhiệm tất cả các vị trí trừcấp phó của họ và một số vị trí quan trọng Thực tế cho thấy tình trang thườngxuyên xảy ra là tuyển dụng dựa vào mối quen biết, quan hệ với những ngườiđóng vai trò là người điều hành, là người đã và đang làm việc tại đơn vị Việctuyển dụng, đề bat, bổ nhiệm lại chịu sự can thiệp từ cơ quan chủ quản Mộtdoanh nghiệp yếu kém về công tác nhân sự thì không thể níu chân được người
ta, tình trạng chảy máu chất xám chắc chắn sẽ diễn ra, dấn đến tính cạnh tranhcủa doanh nghiệp rất kém
Thứ ba, chịu tác động mạnh từ yếu tố khách quan: Đôi khi vì những chỉ
tiêu của địa phương mà doanh nghiệp phải đầu tư vào những dự án, nhữngcông trình, hạng mục không vì mục tiêu phát triển của doanh nghiệp
Từ những bất cập nói trên, việc cải cách doanh nghiệp nhằm tăng cườngtính tự chủ và cạnh tranh là một nhiệm vụ quan trọng trong tư duy quản lýmới Tuy nhiên, Tái cấu trúc theo chiều rộng hay tái cấu trúc theo chiều sâu ?
Và các hình thức Giao, bán, cho thuê, và cổ phần hóa là các chủ trương đangđược thực hiện trong những năm gần đây Phương án nào tốt nhất để tái cấutrúc doanh nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu
tái cấu trúc đầu tư
triển hạ tầng đô thị
Trang 7 Từ đó đưa ra đề xuất, kiến nghị giải pháp tái cấu trúc đầu tư chodoanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, tăng tínhcạnh tranh trên thị trường
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị - Công ty TNHH một thành viên
phát triển hạ tầng đô thị, trong đó tập trung vào công ty mẹ
4 Phương pháp nghiên cứu :
sẽ vận dụng cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trong thuthập và xử lý thông tin, trong đó tập trung chủ yếu vào phương pháp địnhtính, phương pháp thống kê và phân tích nhằm đánh giá, đối chiếu và đưa ranhận xét đối với thực trạng hoạt động tại UDIC Trên cơ sở kết quả báo cáo
và điều tra phác họa được cấu trúc của Tổng công ty đầu tư phát triển hạ tầng
đô thị
+ Nguồn dữ liệu thứ cấp: Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu thu thập từcác tài liệu, báo cáo, thông tin nội bộ của Phòng Kế hoạch tổng hợp, PhòngHành chính, Phòng Tài chính kế toán và các đơn vị có liên quan, ngoài ra cònthu thập các dữ liệu bên ngoài: từ các ngân hàng thương mại nhà nước khác,ngân hàng cổ phần tiêu biểu về việc chất lượng dịch vụ khách hàng, số liệuthu thập từ mạng internet, sách, báo tạp chí,… Các nguồn dữ liệu được tríchdẫn trực tiếp trong luận văn và ghi chú trong phần tài liệu tham khảo
luận văn sẽ sử dụng các phương pháp thống kê mô tả để phân tích các dữ liệunhằm phát hiện những vấn đề, hạn chế cần chú ý liên quan đến thực trạng
Trang 8hoạt động của doanh nghiệp Đồng thời sử dụng phương pháp tổng hợp, phântích, so sánh và phương pháp chuyên gia để đưa ra được phương án hợp lýnhất cho doanh nghiệp.
5 Dự kiến các đóng góp của luận văn
Với định hướng tái cơ cấu nền kinh tế vĩ mô trong thời gian gần đây,Tổng công ty đầu tư phát triển hạ tầng đô thị là một doanh nghiệp nhà nướcnằm trong nhóm các doanh nghiệp sẽ phải tiến hành tái cấu trúc doanhnghiệp Tổng công ty đang tiến hành lập Đề án tái cấu trúc Luận văn hy vọng
sẽ đóng góp được lý luận chung và phương án tái cấu trúc hợp lý cho doanhnghiệp trong lĩnh vực đầu tư Giúp doanh nghiệp xây dựng chiến lược và kếhoạch đầu tư ; cơ cấu lại vốn đầu tư Từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động vànâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường xây dựngtrong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
6 Kết cấu của luận văn.
Luận văn được trình bày theo kết cấu gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về đầu tư trong doanh nghiệp xâylắp và quá trình tái cấu trúc
Chương 2 Những vấn đề lý luận về đầu tư và tái cấu trúc doanh nghiệpChương 3: Thực trạng hoạt động đầu tư Tổng công ty Đầu tư phát triển
hạ tầng đô thị
Chương 4 : Tái cấu trúc đầu tư Tổng công ty đầu tư phát triển hạ tầng đôthị
Trang 9Chương I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Việc tái cấu trúc các doanh nghiệp nhà nước trong các doanh nghiệpquản lý nói chung và chuyên ngành nói riêng là một vấn đề quan tâm của cácNhà nghiên cứu, sinh viên và các nhà quản lý trong và ngoài nước Đây cũng
là một chủ đề được đề cập và quan tâm tại các Hội nghị trong nước và quốc
tế Một số nghiên cứu có liên quan như sau:
1.1 Các nghiên cứu quốc tế có liên quan
Trang 10Theo Cappelli (1995) và nhóm tác giả Morris (1999), hiện nay, tái cấutrúc và cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước đang được xem xét một cáchphổ biến là những công cụ quan trọng trong chính sách của Chính phủ nhằm tạođiều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế và khẳng định vai trò của Nhà nước
Nhằm tìm hiểu vai trò của các thành phần kinh tế khác nhau, sự thamgia của những chiến dịch đa dạng hoá liên quan hoặc không liên quan, vànhững hoạt động kinh doanh có sử dung chiến dịch tái cấu trúc, nhà nghiêncứu Jun Zhao (2009) đã làm rõ chiến dịch tái cấu trúc của các nhóm công ty ởTrung Quốc thông qua việc liên kết các nhân tố như cấu trúc doanh nghiệp,chiến dịch đa dạng hoá và phạm vi kinh doanh của các nhóm doanh nghiệp
trong nền kinh tế chuyển đổi, chẳng hạn như Trung Quốc và Ấn Độ So vớicác hình thức sở hữu khác, các doanh nghiệp nhà nước có xu hướng tăngphạm vi kinh doanh của họ trong quá trình tái cơ cấu tài sản, trong khi cácdoanh nghiệp tư nhân lại có xu hướng giảm phạm vi kinh doanh của họ thôngqua rút vốn và cắt giảm các sản phẩm phụ Theo ông, hiệu suất thấp trước đâycũng được phát hiện có liên quan đến tiêu cực để thay đổi trong phạm vi kinhdoanh Các “cuộc đọ sức” giữa các chiến lược đa dạng hóa liên quan và khôngliên quan của các nhóm kinh doanh dẫn đến tăng phạm vi kinh doanh, trongkhi sự không thống nhất giữa hai chiến lược này lại có xu hướng dẫn đếngiảm phạm vi kinh doanh
Trang 11Trong thập kỷ qua, các cổ đông ở phố Wall đã phát minh ra nhiềuphương pháp khác nhau để chuyển đổi cổ phiếu bị đánh giá thấp của công tythành sự làm giàu nhanh chóng Tuy nhiên, chiến thuật của họ đã để lại nhữnghậu quả tiêu cực to lớn cho một số công ty Trên thực tế, nhiều công ty đã cơcấu lại các khoản nợ khổng lồ và một vài hậu quả trong hoạt động Mục đíchnghiên cứu của Alkhafaji (1992) là để kiểm tra các lý do đằng sau nó đã phát
ra như một sự bùng nổ trong các hoạt động tiếp quản thù địch Nghiên cứuthảo luận về tầm quan trọng và ý nghĩa của chuyển dịch cơ cấu, nguyên nhâncủa sự thâu tóm các tập đoàn và chiến lược quốc phòng nhằm chống lại mộtcách có hiệu quả các hoạt động sáp nhập bên ngoài
Tái cấu trúc doanh nghiệp là hoạt động như tinh giản biên chế nhằmngăn chặn một vòng xoáy đi xuống trong hoạt động kinh doanh của công tyhoặc duy trì vòng xoáy đi xuống đó (Lindsley, Brass và Thomas, 1995) Tinhgiản biên chế cũng đã được phản ánh trong kết quả khác nhau, được tìm thấytrong các tài liệu của nhiều nhà nghiên cứu trước Các nhà nghiên cứu đã nhận
ra bản chất kép của tinh giản biên chế bằng việc phân loại các hoạt động theotình hình tài chính của công ty trước khi công bố thu hẹp quy mô Diana R.Franz, Dean Crawford, Deborah J Dwyer (1998) phát hiện ra các phản ứngtiêu cực của giá cổ phiếu trong các công ty đang còn vững mạnh về tài chínhngay trước khi có thông báo tinh giản biên chế, nhưng một phản ứng nhỏ hơnđược thống kê cho thấy các công ty này đều đang trong tình trạng khủnghoảng tài chính Kết quả được đưa ra ddax khẳng định rằng những quan điểm
về sự cắt giảm biên chế trong thị trường chứng khoán đều phù hợp với lýthuyết được đề xuất bởi Lindsley, Brass và Thomas (1995)
Trang 12E.Dockery và W.E.Herbert (2000) cho rằng quản trị doanh nghiệp của
hệ thống kinh tế chuyển đổi ở Đông Âu có thể khác quản trị doanh nghiệp ởcác nước công nghiệp hóa Các tác giả đã mô tả các hệ thống quản trị ở BaLan, nơi sử dụng các quỹ đầu tư quốc gia thuộc ban giám sát và Bộ Tài chính
để đối phó với việc tái cơ cấu doanh nghiệp được tư nhân hóa Đồng thời vạch
ra môi trường tài chính tại Ba Lan và vai trò của các quỹ đầu tư quốc gia tạiđây; thảo luận về các vấn đề quản trị công ty phát sinh từ mối quan hệ giữacác quỹ đầu tư quốc gia và Ban giám sát; nhận diện các vấn đề liên quannhưng nghi ngờ khả năng áp dụng các hệ thống quản trị doanh nghiệpAnh/Mỹ hoặc Đức vào giải quyết các vấn đề đó Nhóm tác giả hy vọng rằngnghiên cứu của họ sẽ cung cấp lý luận cơ sở cho việc nghiên cứu sâu hơn vềnhững vấn đề này
1.2 Các nghiên cứu trong nước có liên quan
Trang 13Trong tuyên bố kết thúc tại Hội nghị lần thứ 3 của Ủy ban Trung ươngkhoá 11 (Thứ sáu ngày 10 tháng 10, năm 2011), Tổng Bí thư Ban chấp hànhtrung ương Đảng Cộng sản Việt Nam – ông Nguyễn Phú Trọng đã nhấnmạnh: Trong năm 2012 và những năm tới, Việt Nam sẽ ưu tiên hàng đầutrong kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội gắnvới đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tập trung vào balĩnh vực quan trọng bao gồm: tái cơ cấu đầu tư, đặc biệt là đầu tư công; tái cơcấu thị trường tài chính; và tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là cáctập đoàn kinh tế nhà nước,…
Theo ông Nguyễn Minh Phong (2012), trong tái cơ cấu doanh nghiệpnhà nước, đặc biệt là tái cơ cấu các tập đoàn kinh tế nhà nước cần phải ngănchặn tình trạng các tập đoàn kinh tế nhà nước đầu tư rộng khắp ra các lĩnh vực
và ngành kinh doanh chính bên ngoài Hội nghị Ban chấp hành trung ươngĐảng lần thứ ba đã đưa ra yêu cầu buộc các doanh nghiệp này phải hoàn thànhthu hồi vốn đầu tư trong các lĩnh vực ngoài ngành trước năm 2015 và tậptrung vào phát triển doanh nghiệp nhà nước trong các lĩnh vực quan trọng, có
ý nghĩa quan đối với nền kinh tế quốc gia Các ngành quan trọng chủ yếuthuộc về khối chuyên môn kinh tế kỹ thuật, liên quan đến kết cấu hạ tầng kinh
tế xã hội, dịch vụ công, ổn định vĩ mô nền kinh tế Hội nghị đã tiến hànhnghiên cứu, sửa đổi các quy định cho phép doanh nghiệp nhà nước được phépđầu tư tối đa 30% tổng vốn đầu tư trong các lĩnh vực ngoài còn ở mức 20%.Trong các lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, đầu tư của công ty nhànước không vượt quá 20% vốn pháp định của người thụ hưởng (tổ chức nhậngóp vốn); Tuy nhiên, phần vốn góp của công ty và công ty con nắm giữ trongcông ty và nhóm không quá 30% vốn pháp định của người thụ hưởng,…
Trang 14Quản lý và cơ chế hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước đượcchuyển đổi thành hình thức công ty cổ phần và các công ty trách nhiệm hữuhạn cho phù hợp với quy định của Luật kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng trênthị trường (liên quan đến kinh doanh tạo ra lợi nhuận),… Trong ngắn hạn,việc sửa đổi các quy định không phù hợp trong việc xác định giá trị doanhnghiệp, lựa chọn đối tác chiến lược, bán cổ phiếu ưu đãi cho người lao động,
… là cần thiết Hơn thế nữa, việc xác định vai trò của chủ sở hữu hoặc đạidiện chủ sở hữu và quyền quản lý hoạt động sản xuất trong các công ty đượcđầu tư của Chính phủ cho mục đích chung; xác định vai trò, trách nhiệm vàquyền hạn của Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên; đặc biệt, việcphân cấp quản lý liên tục và rõ ràng và xác định các các cá nhân và các tổchức liên quan chịu trách nhiệm về quản lý doanh nghiệp nhà nước; công bốcông khai thông tin, thủ tục, tài liệu, danh mục dự án; tăng cường quản lý,giám sát, thanh tra, kiểm toán các dự án nhà nước cũng đều rất quan trọng.Ngoài ra, cũng cần thiết cho hệ thống giám sát nhà nước được phép thêm cácquy định đầu tư công dưới sự giám sát của cộng đồng; xác định quyền vàtrách nhiệm của cộng đồng trong việc giám sát các hoạt động của doanhnghiệp; nghiên cứu và điều chỉnh một cách rõ ràng các hành động bị cấm vàban hành các chế tài nghiêm ngặt để đối phó với những hành vi vi phạm ở cácmức độ khác nhau, góp phần ngăn chặn các hành động tiêu cực và làm cơ sởpháp lý để giải quyết các sai phạm trong đầu tư của doanh nghiệp nhà nước,…
Để tiếp tục thảo luận về áp lực tái cơ cấu đối với nền kinh tế trong thờigian tới, ông Thắng (2010) cho rằng nếu các dự án tái cấu trúc được thực hiệnbởi một nhóm các cán bộ chuyên trách chỉ bó hẹp trong phạm vi chuyển dịch
cơ cấu, thiếu thông tin, thiếu trách nhiệm và bị ảnh hưởng bởi những lợi íchngắn hạn, thì các dự án đó sẽ không khả thi, không đầy đủ và đồng đều, từ đó
sẽ gây ra thiệt hại chung cho nền kinh tế
Trang 15Nền kinh tế của Việt Nam đã trải qua những giai đoạn tái cơ cấu lớn.
Về cơ bản, nói chung, nền kinh tế Việt Nam vẫn duy trì đặc điểm chung củamột nền kinh tế kém phát triển với cấu trúc khu vực, sản phẩm và công nghệlạc hậu; cơ cấu lao động và khu vực không tương xứng; khả năng cạnh tranhthấp và dễ bị tổn thương cao,… Theo Chỉ thị của Chính phủ, việc thực hiệncác dự án tái cơ cấu là để tận dụng điều kiện thuận lợi nhằm kịp thời bổ sung,thay thế và đổi mới trang bị bằng công nghệ và máy móc hiện đại giúp ổnđịnh và phát triển kinh tế quốc gia Tái cơ cấu bao gồm tái cơ cấu kinh tế, tái
cơ cấu sản xuất, tái cơ cấu đầu tư, sản phẩm và tái cơ cấu ngành, sắp xếp lại
và tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước,…
Mục tiêu chính của quá trình cải cách của Việt Nam là tạo ra một nềnkinh tế thị trường với đặc điểm xã hội chủ nghĩa Theo Viện Nghiên cứu quản
lý kinh tế trung ương (2006), những cải cách doanh nghiệp tại Việt Nam có bathành phần chính Các thành phần đầu tiên bao gồm doanh nghiệp nhà nướcđược cổ phần hóa và tái cơ cấu để giảm bớt những vấn đề được làm suy yếukhả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Thành phần thứ hai là cải thiện hành
vi của doanh nghiệp bằng cách thiết lập các cơ chế quản trị doanh nghiệp cóhiệu quả và tăng cường kỷ luật tài chính Thành phần thứ ba là quy định củacác tổ chức hỗ trợ và cơ sở hạ tầng cần thiết cho một nền kinh tế dựa vào thịtrường doanh nghiệp Chuyển dịch cơ cấu là sự phát triển các chương trìnhphúc lợi xã hội để đối phó với những điều chỉnh của nền kinh tế - hệ quả củacác cuộc cải cách, cho phép các doanh nghiệp tập trung vào các mục tiêuthương mại và chiến lược dài hạn của họ
Trang 16Cổ phần hóa và tái cơ cấu của khu vực doanh nghiệp nhà nước tại ViệtNam là nhằm tập trung quyền sở hữu và quản lý nhà nước trong tay các doanhnghiệp lớn thuộc những ngành công nghiệp chiến lược, đồng thời thu hồiquyền sở hữu nhà nước và hỗ trợ từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ Tái cơ cấudoanh nghiệp nhà nước được gắn liền với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của khuvực doanh nghiệp nói chung và cải cách quản trị doanh nghiệp (CIEM, 2006).
Sự sáng tạo trong chiến lược của các doanh nghiệp nhà nước lớn liên quanđến việc chuyển đổi của họ thành doanh nghiệp hiện đại và sự hình thành củacác nhóm doanh nghiệp lớn có khả năng cạnh tranh với các công ty đa quốcgia lớn Các doanh nghiệp này phải đối mặt với những thách thức quan trọngtrong việc khắc phục các vấn đề hiện tại của doanh nghiệp nhà nước, đồngthời việc duy trì sự hiệu quả và linh hoạt sẽ là cần thiết để cạnh tranh thànhcông trên thị trường quốc tế
Trang 17Cải cách kinh tế ở Việt Nam được hình thành bởi một số đặc điểm khácbiệt, phản ánh những chính sách áp dụng bắt buộc và các đặc điểm đặc biệtkhác của nền kinh tế Đầu tiên, đặc trưng phản ánh sự lựa chọn chính sách cơbản – quyền sở hữu cộng đồng và kiểm soát của ngành công nghiệp – sẽ đượcgiữ lại Lựa chọn này phần nào giải thích lý do tại sao cải cách doanh nghiệp
đã được các doanh nghiệp nhà nước (CIEM, 2006; Thắng & Quang, 2007) tậptrung vào rất nhiều Thứ hai, mặc dù cạnh tranh xảy ra rất mạnh mẽ khôngphải là ở tất cả các ngành công nghiệp, nhưng nó diễn ra ở nhiều ngành Sựđáp ứng lại thị trường bằng các hành vi kinh tế của các doanh nghiệp ngàycàng tăng, như là kết quả của sự cạnh tranh và phát triển của các doanh nghiệpngoài quốc doanh, và cải cách quản lý doanh nghiệp nhà nước Phạm vi quyền
sở hữu công cộng đã được thu hẹp đáng kể trong những năm gần đây, trongkhi phạm vi cho sở hữu tư nhân đã được mở rộng Thứ ba, hầu hết các doanhnghiệp nhà nước có doanh thư ở mức tương đối thấp, và cơ cấu hiện hành đãphần nào phản ánh vấn đề này
Tóm lại, tổng quan về các nghiên cứu trên cho thấy các nhà nghiên cứutrong nước luôn luôn tiếp cận vấn đề theo hướng quản lý nhà nước, ít khi theohướng quản lý doanh nghiệp, đặc biệt là trong các doanh nghiệp thuộc sở hữu
và kiểm soát của Chính phủ trong lĩnh vực xây dựng và bất động sản Trênthực tế, các nghiên cứu về tái cấu trúc cơ cấu quốc tế và quốc gia rất phongphú về nội dung và phương pháp tiếp cận Các nghiên cứu đó đã chỉ rõ cơ sở
lý luận cho việc tái cơ cấu doanh nghiệp và coi đó là một giải pháp chiến lược
để thiết lập lại vị trí, vai trò trong môi trường kinh doanh đầy cạnh tranh Cụthể, một số nghiên cứu đã chỉ ra các giải pháp tái cơ cấu trong các lĩnh vựcchủ yếu là tài chính, ngân hàng,…
Trang 18Ở Việt Nam, tái cơ cấu đã được nghiên cứu ở cấp độ của các tập đoànnhà nước không thuộc sở hữu và kiểm soát nhiều của Chính phủ Hầu hết cácnghiên cứu về các yếu tố quyết định tái cơ cấu này đều được dựa trên mẫu củacông ty Tương đối ít biết về lý do tại sao các công ty nhà nước Việt Nam lạithay đổi cấu trúc của nó Vì vậy, nảy sinh ra một nhu cầu về các cuộc nghiêncứu chuyên sâu về các yếu tố quyết định tái cơ cấu của các doanh nghiệp nhànước Ngoài ra, không có bất kỳ nghiên cứu chính thức nào về tái cơ cấudoanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng và bất động sản của Việt Nam từ quanđiểm của một nhà quản lý Vì vậy, luận án nghiên cứu này không chỉ góp
phần xây dựng quá trình tái cơ cấu cụ thể đối với Tổng công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị - Công ty mẹ, mà còn hệ thống hoá và phát triển lý luận
tái cơ cấu doanh nghiệp nói chung và tái cấu trúc lập luận của các tập đoàn,đặc biệt là ở một nước đang phát triển như Việt Nam Nghiên cứu này đượcthiết kế để kiểm tra sự phù hợp của các lý thuyết quản lý trong tái cơ cấu tổchức trong một bối cảnh cụ thể Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp các tài liệutrong vấn đề tái cấu trúc doanh nghiệp trong bối cảnh Việt Nam, cũng nhưcung cấp cho các học viên cũng như các viện nghiên cứu tài liệu chuyên sâutrên cả hai phương diện lý thuyết và thực tế
Trang 19CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ VÀ TÁI CẤU TRÚC CỦA DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG 2.1 Doanh nghiệp xây dựng trong nền kinh tế quốc dân:
2.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp xây dựng và sản phẩm xây dựng:
Xây dựng là một trong những ngành kinh tế then chốt, chiếm tỷ trọnglớn trong nền kinh tế quốc dân với những đặc điểm riêng biệt như: là ngànhduy nhất tạo ra tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân dưới dạng công trìnhxây dựng, thông qua hoạt động đầu tư và xây dựng cho phép giải quyết mộtcách hài hòa các mối quan hệ trong xã hội, hoạt động trong lĩnh vực xây dựng
là những hoạt động trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội, trực tiếp tạonên tổng sản phẩm quốc dân, tham gia đóng góp vào ngân sách quốc giathông qua các loại thuế và nó có thể gây ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tếnếu quản lý kém hiệu quả
Doanh nghiệp xây dựng là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản ,
có trụ sở giao dịch ổn định được thành lập hoặc đăng ký kinh doanh theo quyđịnh của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vựcxây dựng như xây dựng nhà các loại, xây dựng các công trình kỹ thuật dândụng, xây dựng công trình đường sắt và đường bộ, công trình công ích ( Theo quyết định số 10/2007/QĐ – TTg ngày 23 tháng 1 năm 2007)
Sản phẩm được tạo ra bởi các doanh nghiệp xây dựng rất phong phú và
đa dạng chủ yếu là các sản phẩm dưới dạng hữu hình bao gồm:
+ Sản phẩm đầu tư XD
- Là các công trình, hạng mục công trình xây dựng đã hoàn thành,được bàn giao, nghiệm thu và đưa vào sử dụng
Trang 20- Là thành quả của phát triển khoa học kỹ thuật, công nghệ, kinh tế, tổchức sản xuất ở một thời kỳ nhất định
- Sản phẩm đầu tư xây dựng có tính liên ngành, những lực lượng thamgia vào chế tạo sản phẩm chủ yếu là: Chủ đầu tư, doanh nghiệp nhận thầu xâylắp, doanh nghiệp tư vấn, doanh nghiệp sản xuất các yếu tố đầu vào, doanhnghiệp cung ứng tổ chức dịch vụ tài chính, ngân hàng…
+ Sản phẩm xây dựng của các doanh nghiệp xây dựng
.- Chỉ bao gồm kiến trúc, kết cấu làm chức năng nâng đỡ, bao che, lắpđặt máy móc thiết bị
- Đơn vị đo sản phẩm xây dựng của doanh nghiệp xây dựng: Tính theo hiện vật: m2 hay m3 khối tích xây dựng đã hoàn thành bàn giao
Tính theo giá trị: giá trị dự toán đã hoàn thành bàn giao
+ Sản phẩm xây dựng trung gian: các gói công việc, các giai đoạn hayđợt xây dựng đã hoàn thành bàn giao thanh toán
+ Sản phẩm xây dựng cuối cùng: là công trình hay hạng mục côngtrình xây dựng đã hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng
So với các ngành sản xuất khác, ngành XDCB có những đặc điểm vềkinh tế - kỹ thuật riêng biệt, thể hiện rất rõ nét ở sản phẩm xây lắp và quá trìnhtạo ra sản phẩm của ngành Điều này đã chi phối đến công tác kế toán chi phísản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp
+ Mang tính cố định: các công trình xây dựng gắn liền với địa điểm,đất đai, do đó khi tiến hành thực hiện một công trình cần phải thăm dò, khảosát địa hình có phù hợp, có đủ điều kiện để xây dựng hay không tránh tínhtrạng xây dựng trên địa bàn không phù hợp gây sụt lún, rạn nứt… làm ảnhhưởng đến chất lượng công trình, tốn kém chi phí sửa chữa, khắc phục sự cố
Trang 21Điều này đòi hỏi phải kiểm tra quản lý vốn ngay từ khâu đầu tiên để xác địnhđúng địa điểm và điều kiện địa hình thi công.
Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất(xe máy, thiết bị thi công, người lao động ) phải di chuyển theo địa điểm đặtsản phẩm Đặc điểm này làm cho công tác quản lý sử dụng, hạch toán tài sản,vật tư rất phức tạp do ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, thời tiết và dễ mấtmát hư hỏng
+ Mang tính đơn chiếc, sản xuất theo đơn đặt hàng
Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuậnvới chủ đầu tư (giá đấu thầu), do đó tính chất hàng hóa của sản phẩm xây lắpkhông thể hiện rõ, chủ yếu được sản xuất theo đơn đặt hàng của chủ đầu tư
Mỗi sản phẩm xây lắp được thiết kế riêng theo yêu cầu về kiến trúc,công dụng, tính năng khác nhau và địa bàn khác nhau cũng khác nhau, cáccông trình có thể giống nhau về diện tích, số tầng… nhưng khác nhau về yêucầu đối với vật liệu, mỗi công trình khác nhau tuỳ vào mục đích và yêu cầukhác nhau của chủ đầu tư có thể lựa chọn những loại vật liệu khác nhau hay ởcác địa bàn khác nhau thì giá cả nhân công, nguyên vật liệu khác nhau nênnhững công trình có quy mô tương tự nhau chi phí cũng khác nhau Điều nàyđòi hỏi nhà quản lý phải nắm rõ đặc điểm của từng công trình để có biện phápquản lý vốn hiệu quả
+ Chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện địa phương, mang tính cábiệt cao về công dụng: Việc thi công xây lắp không chỉ được thực hiện ở mộtđịa phương riêng biệt mà còn có thể thực hiện ở nhiều địa phương, liên quanđến nhiều địa phương như xây dựng đường giao thông liên tỉnh, đường sắt,cảng biển…giá cả chi phí phát sinh ở các địa phương là khác nhau cũng như
Trang 22các chính sách, chủ trương về đầu tư ở các địa phương là khác nhau do đó đòihỏi phải cân nhắc cho phù hợp tránh thất thoát, lãng phí
Mỗi sản phẩm mang tính cá biệt cao về công dụng như nhà ở, trườnghọc, cầu cống, bệnh viện… Với mỗi loại sản phẩm yêu cầu định mức chi phívật liệu chính, vật liệu phụ, nhân công, thiết bị là khác nhau, để quản lý tốtvốn cần nắm rõ được điều này tránh tình trạng chi phí bỏ ra không hiệu quảtrong khi không đủ vốn để chi trả cho những chi phí cần thiết
+ Chủ yếu nằm ngoài trời hay trong lòng đất: Các sản phẩm xây dựngchủ yếu là nhà cửa, cầu cống, cảng biển, sân bay, đường xá… là những sảnphẩm nằm ngoài trời hay trong long đất, chịu sự tác động khắc nghiệt củathiên nhiên nhất là các yếu tố thiên tai có thể gây gián đoạn quá trình sản xuất,
từ đó ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm Đặc điểm này đòi hỏi các doanhnghiệp xây dựng khi tiến hành xây dựng các dự án phải lập tiến độ thi côngphù hợp nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực của thời tiết như thời tiếtmưa lớn ảnh hưởng đến chất lượng bê tông công trình, các đơn vị có thể thiếtlập tiến độ để giai đoạn thi công này vào mùa khô còn mùa mưa thì tiến hànhphần hoàn thiện, trát trong nhà…
+ Có quy mô lớn, thời gian hình thành sản phẩm dài
Sản phẩm xây lắp là những công trình xây dựng, vật kiến trúc có quy
mô lớn, kết cấu phức tạp mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất sản phẩmxây lắp lâu dài thời gian xây dựng được tính bằng tháng, quý, năm chứkhông tính được bằng giờ, phút như hoạt động sản xuất sản phẩm hàng hoáthông thường khác Chính vì giá thành sản phẩm xây dựng thường chịu ảnhhưởng rất lớn của yếu tố trượt giá, nếu không được tính toán hợp lý có thểdoanh nghiệp thi công sẽ bị lỗ do giá cả vật liệu, chi phí nhân công leo thang
Trang 23Một công trình xây dựng được thi công theo từng giai đoạn, yếu tốthời gian có thể làm hao hụt, hư hỏng phần sản phẩm đã được thi công dẫnđến tốn kém chi phí khắc phục, sửa chữa.
+ Sản phẩm được tạo thành do sự hợp tác của nhiều đơn vị: Trong nềnkinh tế thị trường hiện nay, cùng với sự phát triển của công nghệ, kỹ thuật,trình độ quản lý… Một công trình xây dựng không chỉ là các công trình xâylắp đơn thuần mà là một hệ thống đồng bộ từ nhà cửa, trang thiết bị, hệ thốngcảnh quan xung quanh, môi trường và các dịch vụ liên kết Ví dụ xây dựngbệnh viện ngoài cấu trúc khung xương bên ngoài cần có các trang thiết bịđồng bộ đi kèm hay như một dự án khu đô thị cần phải có cảnh quan đồng bộ,khu mua sắm, khu vui chơi giải trí, trường học, bệnh viện … đi kèm Với khảnăng của một doanh nghiệp xây lắp là rất khó khăn do đó cần phải có sự liênkết với nhiều đơn vị khác có trình độ, kinh nghiệm trong các vấn đề liên quan
để đảm bảo chất lượng công trình tốt và san sẻ gánh nặng chi phí Tuy nhiênviệc xem xét năng lực và uy tín của đơn vị hợp tác rất quan trọng, doanhnghiệp xây dựng không những cần phải tính toán phần công việc của mìnhnhư thế nào để đảm bảo có lãi mà còn phải lựa chọn đối tác phù hợp tránh bỏ
dở hoặc phá vỡ hợp đồng giữa chừng gây gián đoạn công việc và tốn kém chiphí để tìm đối tác thay thế, cũng như việc xác định rõ các điều khoản cam kếttrong thoả thuận liên doanh tránh thiệt thòi cho đơn vị mình
+ Là sản phẩm tổng hợp liên quan đến cảnh quan, môi trường, ý nghĩacông trình, KT-XH và an ninh quốc phòng
Mỗi sản phẩm của ngành xây dựng đều có liên quan mật thiết, là một
bộ phận trong cấu thành tổng thể cảnh quan, môi trường, văn hoá xã hội, anninh quốc phòng Chính vì thế khi xây dựng công trình cần tuân thủ, đảm bảo
Trang 24trung hoà trong tổng thể đó để tránh những chi phí phát sinh do vi phạm hoặcphải dừng thi công gây tốn kém, lãng phí những chi phí ban đầu bỏ ra.
2.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp xây dựng:
Một là: Xây dựng là một ngành kinh tế thâm dụng vốn
Sản phẩm của ngành xây dựng thường có quy mô lớn, kết cấu phứctạp, mang tính đơn chiếc, thời gian xây dựng kéo dài Những nguyên vật liệuban đầu của nó là những tài sản nặng vốn và chi phí cố định của nó khá cao,chính vì thế vốn đầu tư vào đó là rất lớn trong khi thời gian hoàn thành sảnphẩm để đưa vào sử dụng kéo dài, việc thu hồi vốn không thể diễn ra nhanhchóng trong một thời gian ngắn, điều này lý giải số vốn bị thâm dụng vào cácsản phẩm dở dang của ngành là rất lớn Đây là một trong những đặc điểm gâykhó khăn cho việc quản lý và sử dụng vốn trong các đơn vị xây dựng do chịutác động lớn của yếu tố lãi suất và trượt giá Số vốn mà doanh nghiệp phảiứng trước cho việc đầu tư xây dựng các công trình thường là vốn đi vay, phảichịu chi phí lãi trong thời gian kéo dài, trên thực tế lãi suất vay ngân hàng cómức chênh lệch khá cao so với lãi suất huy động trên thị trường, những gói lãisuất ưu đãi thường không đến tay các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong khi đâylại là những doanh nghiệp cần vốn hơn cả Yếu tố trượt giá cũng dẫn đến việcgiá cả các yếu tố đầu vào như nguyên vật liệu ,nhân công tăng cao trong khigiá thầu một công trình không được chủ đầu tư chấp thuận thay đổi hay đượcchấp thuận điều chỉnh giá nhưng mức điều chỉnh thấp hơn tốc độ trượt giá dẫnđến nguy cơ nhà thầu phải chịu rủi ro vì phải gánh chịu những chi phí phátsinh do yếu tố trượt giá và tăng lãi suất khi đi vay bên cạnh việc vốn của mình
bị ứ đọng trong các công trình
Hai là: Ngành xây dựng rất nhạy cảm với chu kỳ kinh doanh của nền
kinh tế quốc dân
Trang 25Có thể thấy rất rõ việc tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế đượcphản chiếu rất rõ nét qua hoạt động của ngành xây dựng Khi nền kinh tế tăngtrưởng doanh số và lợi nhuận của ngành sẽ tăng cao do nhu cầu xây dựng được
mở rộng, ngược lại khi nền kinh tế suy thoái, các công trình xây dựng sẽ bị đìnhtrệ do thiếu vốn đầu tư bởi người dân sẽ giảm nhu cầu xây dựng và mua bán nhàcửa, Chính phủ cũng không mở rộng đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng nhưcầu cống, sân bay, bến cảng, bệnh viện, các ngân hàng thương mại cũng hạn chếcho vay đầu tư xây dựng điều này làm cho doanh số của ngành xây dựng cũng vìthế mà sụt giảm nghiêm trọng Với các công trình vốn ngân sách nhà nước đangthực hiện, việc giải ngân sẽ rất chậm chạp, tiến độ thực hiện không được thanhtoán kịp thời trong khi số vốn mà doanh nghiệp ứng trước để tiến hành thi côngcông trình là rất lớn, thông thường lớn hơn nhiều so với giá trị được chủ đầu tưtạm ứng hoặc thanh toán Với các công trình ngoài nguồn vốn ngân sách cũnggặp nhiều khó khăn do chủ đầu tư không đủ khả năng chi trả các khoản nợ chonhà thầu do thị trường tiêu thụ sụt giảm, luồng tiền đầu tư mua nhà, bất động sản
từ người dân giảm sút so với kỳ vọng của chủ đầu tư, việc vay vốn từ các ngânhàng thương mại là rất khó khăn do nền kinh tế suy thoái các ngân hàng rất hạnchế cho vay Như vậy các doanh nghiệp xây dựng sẽ gặp rất nhiều khó khăntrong cả việc huy động cũng như thu hồi vốn
Ba là: Vốn cố định trong doanh nghiệp xây dựng chiếm tỷ trọng khá lớn.
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp xây dựng cầnphải đầu tư máy móc trang thiết bị ban đầu rất lớn, thời gian sử dụng của cáctrang thiết bị này thường kéo dài trong nhiều năm, chi phí được phân bổ dướidạng chi phí khấu hao tài sản, vòng quay khấu hao chậm do đó việc thu hồivốn cũng sẽ kéo dài trong nhiều năm Vốn của doanh nghiệp xây dựng bị ứđọng trong các tài sản đầu tư đó cũng vì thế mà rất lớn
Trang 26Bốn là: Hoạt động của các doanh nghiệp xây dựng có mối tương quan
rõ rệt với thị trường bất động sản do thị trường bất động sản phản ánh nhu cầu
về ngành xây dựng Khi thị trường bất động sản khởi sắc đồng nghĩa với việcnhu cầu về nhà ở tăng cao, các doanh nghiệp xây dựng sẽ có thêm nhiều đơnđặt hàng và điều tất yếu là doanh số của doanh nghiệp sẽ tăng Ngược lại khithị trường bất động sản bị đóng băng, nhu cầu về nhà ở bị thu hẹp nhu cầu vềxây dựng cũng sẽ giảm sút kéo theo sự giảm sút về doanh thu cua ngành xâydựng Hơn nữa các doanh nghiệp xây dựng nhất là các doanh nghiệp lớnkhông chỉ đơn thuần là nhận thầu công trình mà còn có quỹ đất riêng để đầu
tư xây dựng chung cư, biệt thự, các căn hộ liền kề để bán và cho thuê, cácdoanh nghiệp vừa bỏ vốn đầu tư xây dựng vừa kinh doanh bất động sản Khithị trường bất động sản chìm lắng, các doanh nghiệp xây dựng này không chỉgặp khó khăn do nguồn vốn ứ đọng vào các công trình xây dựng, khó khăn vềcác yếu tố đầu vào mà còn gặp khó khăn trong cả đầu ra của sản phẩm
Năm là: Một doanh nghiệp xây dựng được đặt trong mối quan hệ
tương quan với nhiều đối tượng khác nhau
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, một doanh nghiệp xâydựng được đặt trong nhiều mối quan hệ tương quan như chính quyền địaphương, chủ đầu tư, các nhà thầu phụ, nhà cung cấp vật tư và khách hàng sửdụng sản phẩm xây dựng cuối cùng…Việc chiếm dụng vốn của một doanhnghiệp xây dựng không chỉ đến từ chủ đầu tư mà còn có thể từ nhà thầu phụhay các nhà cung cấp vật tư với số tiền ứng trước, chính vì thế việc bảo đảmhiệu quả sử dụng vốn và thu hồi vốn của doanh nghiệp cần được lưu ý với tất
cả các đối tượng có liên quan
2.2 Khái quát về hoạt động đầu tư của doanh nghiệp xây dựng
Trang 272.2.1 Khái niệm về đầu tư và đầu tư xây dựng
Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hànhhoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơncác nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả đó Như vậy, mục tiêu của mọicông cuộc đầu tư là đạt kết quả lớn hơn những hy sinh về nguồn lực mà ngườiđầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư
Nguồn lực hy sinh này có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức laođộng hay trí tuệ
Những kết quả sẽ đạt được đó có thể là sự tăng thêm về các tài sản tàichính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường xá, bệnh viện…), là tài sảntrí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn, trình độ quản lý…) và nguồn nhân lực
có đủ điều kiện làm việc với năng suất cao hơn trong nền kinh tế Xã hội
Loại đầu tư đem lại kết quả không chỉ cho người đầu tư mà cả nền kinh
tế xã hội được hưởng thụ trên đây không chỉ trực tiếp làm tăng tài sản của chủđầu tư mà cả nền kinh tế là đầu tư phát triển Còn các loại đầu tư chỉ làm tăngtài sản chính của người chủ đầu tư, tác động gián tiếp làm tăng tài sản của nềnkinh tế thông qua sự đóng góp tài chính tích lũy của các hoạt động đầu tư nàycho đầu tư phát triển, cung cấp vốn cho hoạt động đầu tư phát triển và thúcđẩy quá trình lưu thông phân phối cho sản phẩm do các kết quả của đầu tưphát triển tạo ra, đó là đầu tư tài chính và đầu tư thương mại
Quá trình tiến hành một công cuộc đầu tư kể từ khi bắt đầu chi phí cácnguồn lực cho đến khi thành quả của quá trình đầu tư phát huy tác dụng vàngừng hoạt động có rất nhiều công việc phải làm với tính chất kĩ thuật rất đadạng, đòi hỏi phải sử dụng kiến thức của rất nhiều ngành kinh tế kỹ thuậtkhác nhau vào quá trình thực hiện đầu tư theo từng giai đoạn và toàn bộ côngcuộc đầu tư
Trang 28Nguồn lực cho một công cuộc đầu tư là rất lớn, trong thời gian cần hoạtđộng của các kết quả đầu tư để có thể thu hồi vốn bỏ ra (đối với hoạt độngđầu tư sản xuất kinh doanh), hoặc để các lợi ích thu được tương xứng và lớnhơn những hy sinh về nguồn lực mà nền kinh tế bỏ ra cũng rất lâu (đối với cáchoạt động đầu tư công cộng)
Khái niệm về đầu tư xây dựng: Đầu tư xây dựng được hiểu là cá dự ánđầu tư cho các đối tượng vật chất mà đối tượng vật chất này là các công trìnhxây dựng
2.2.2 Phân loại đầu tư trong doanh nghiệp xây dựng
Để dễ quản lý, đầu tư được phân loại theo các giác độ khác nhau Sauđây là các cách phân loại chính:
1 Phân loại đầu tư theo đối tượng đầu tư:
Theo giác độ này đầu tư bao gồm các loại:
- Đầu tư cho đối tượng vật chất (nhà, xưởng, thiết bị, máy móc, dự trữvật tư… ) Đầu tư loại này có thể phục vụ cho sản xuất kinh doanh và dịch
vụ, hoặc phục vụ cho các mục đích văn hóa và xã hội
- Đầu tư tài chính: bao gồm các hinh thức như mua cổ phiếu, trái phiếu,cho vay lấy lãi, gửi tiết kiệm, góp vốn…
2 Phân loại đầu tư theo chủ đầu tư:
- Chủ đầu tư là nhà nước: ví dụ việc đầu tư để xây dựng các công trình
cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội do vốn cấp từ ngân sách của Nhà nước
- Chủ đầu tư là các doanh nghiệp (quốc doanh, ngoài quốc doanh, độclập và liên kết, trong nước và ngoài nước)
Trang 29- Chủ đầu tư là các tập thể người trong xã hội: ví dụ đầu tư để xây dựngcác công trình do vốn góp của các tập thể dùng để phục vụ trực tiếp cho tậpthể góp vốn
- Chủ đầu tư là các cá nhân và vốn đầu tư ở đây được lấy từ ngân sáchcủa các hộ gia đình
- Các chủ đầu tư khác (đoàn thể chính trị, xã hội, các cơ quan đại sứquán nước ngoài, chủ đầu tư liên quốc gia)
3 Phân loại theo nguồn vốn:
Theo giác độ này bao gồm các loại đầu tư sau đây:
- Đầu tư từ vốn của Nhà nước cho một số đối tượng theo quy định
- Đầu tư từ vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tính dụng đầu tưphát triển của nhà nước
- Đầu tư từ vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước
- Đầu tư từ nguồn vốn nước ngoài gồm FDI và OBA
- Các nguồn đầu tư khác của các tư nhân và tổ chức kinh tế ngoài quốcdoanh, của các cơ quan ngoại giao và tổ chức quốc tế khác ở Việt Nam
4 Phân loại theo cơ cấu đầu tư
5 Phân loại theo giác độ tái sản xuất tài sản cố định
6 Phân loại theo giác độ trình độ tiến bộ khoa học
7 Phân loại theo thời đoạn kế hoạch:
- Đầu tư dài hạn: thường cho các công trình chiến lược để đáp ứng cáclợi ích dài hạn và đón đầu tình thế chiến lược
- Đầu tư trung hạn: thường cho các công trình để đáp ứng lợi ích trung hạn
- Đầu tư ngắn hạn: Cho các công trình đáp ứng lợi ích trước mắt
Trang 308 Phân loại theo tính chất và quy mô của dự án đầu tư:
- Dự án thuộc nhóm A
- Dự án nhóm B
- Dự án nhóm C
2.2.3 Quá trình đầu tư ở các doanh nghiệp xây dựng
1 Quá trình đầu tư theo giác độ quản lý doanh nghiệp tổng thể:
Theo giác độ quản lý kinh doanh tổng thể hoạt động đầu tư của cácdoanh nghiệp phải được quyết định theo các bước sau:
- Điều tra tình hình thị trường nhất là nhu cầu về chủng loại và số lượngsản phẩm
- Xây dựng chiến lược kinh doanh tổng thể của doanh nghiệp, đặc biệt làchiến lược về sản phẩm hay dịch vụ, vì nó có liên quan trực tiếp tới vấn đềđầu tư
- Xác định năng lực chủ quan của doanh nghiệp về mọi mặt, nhất là vềcông suất sản xuất và năng lực dịch vụ cần tăng thêm
- Xây dựng chiến lược tổng thể về đầu tư theo mặt hàng sản phẩm củadoanh nghiệp định sản xuất, cũng như theo các giai đoạn của sản xuất – kinhdoanh đầu tư mua săm và cung ứng vật tư, khâu gia công chế biến và khâutiêu thụ sản phẩm
- Lập dự án đầu tư cho đối tượng sản phẩm hya dịch vụ riêng rẽ nằmtrong chiến lược đầu tư chung của doanh nghiệp
- Tổ chức thực hiện các dự án đầu tư, kèm theo các biện pháp kiểm tra vàđiều chỉnh
- Tổng kết, rút kinh nghiệm đê áp dụng cho chu kì sản xuất tiếp theo
Trang 312 Quá trình đầu tư và quá trình tài chính của doanh nghiệp:
Vì hoạt động đầu tư luôn gắn liền với hoạt dộng tài chính nên quá trìnhđầu tư thường được xem xét gắn liền với quá trình tài chính của doanhnghiệp
Theo giác độ đầu tư người ta coi mọi sự kiện kinh doanh như là các quátrình đầu tư, giải tỏa và thu hồi đầu tư Theo giác độ tài chính, người ta coimọi sự kiện kinh doanh như là các hành động thu chi, đưa vốn vào và đứa vốn
ra khỏi quá trình đầu tư Do đó, giác độ đầu tư bị bao hàm bởi giác độ tàichính
3 Quá trình đầu tư của một dự án đầu tư:
Một dự án đầu tưu thường kéo dài nhiều năm Theo Quy chế quản lýđầu tư và xây dựng hiện hành thì quá trình đầu tư cho một dự án gồm các giaiđoạn sau:
a Giai đoạn chuẩn bị đầu tư:
Giai đoạn này bao gồm một loạt các bước kể từ khâu nghiên cứu, xácđịnh sự cần thiết phải đầu tư, đến các khâu thăm dò, khảo sát thị trường, lập
dự án đầu tư, thẩm định dự án để quyết định đầu tư
b Giai đoạn thực hiện đầu tư:
Giai đoạn này bao gồm một loạt các bước từ các khâu xin giấy chứngnhân quyền sử dụng đất đến các khâu thiết kế, thi công xây dựng công trìnhv.v cho dự án đầu tư Thực chất của khâu này là phải hình thành được hailoại tài sản sản xuất của dự án, đó là tài sản cố định (nhà xưởng máy móc) vàtài sản lưu động (dự trữ vật tư, tiền mặt…) để chuẩn bị đưa công trình vàohoạt động
c Giai đoạn kết thúc xây dựng, đưa dự án vào khai thác sử dụng:
Trang 32Như vậy quá trình đầu tư không phải chỉ đơn giản bao gồm có giai đoạnchuẩn bị đầu tư và thực hiện xây dựng xong công trình, mà còn phải kéo dàiđến hàng chục năm để vận hành khai thác dự án Nếu theo nghĩa rọng giaiđoạn vận hành khai thác công trình của dự án để hoàn vốn và sinh lời cũng cóthể còn thuộc về giai đoạn thực hiện đầu tư Cho nên sự phân chia giai đoạntheo Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng, giai đoạn thực hiện đầu tư đượchiểu theo nghĩa hẹp, và chỉ bao gồm giai đoạn xây dựng công trình của dự án.Đối với một dự án đầu tư tài chính về cơ bản cũng phải gồm các giaiđoạn: lập dự án đầu tư tài chính, bỏ vốn đầu tư tài chính (mua cổ phần, tráiphiếu, cho vay lấy lãi v.v.), thu hồi gốc và lãi kèm theo các biện pháp điềuchỉnh trung gian dựa trên tình hình của thị trường vốn
2.2.4 Hiệu quả hoạt động đầu tư của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
2.2.4.1 Quan điểm của chủ đầu tư
Khi đánh giá dự án đầu tư các chủ đầu tư dĩ nhiên phải xuất phát trướchết từ lợi ích trực tiếp của họ, tuy nhiên lợi ích này phải nằm trong khuôn khổlợi ích chung của quốc gia vào cộng động, mà lợi ích này thể hiện trước hếtđường lối chung phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như ở các luật
có liên quan đén đầu tư, bảo vệ môi trường
2.2.4.2 Quan điểm của nhà nước
Nói chung đánh giá quan điểm hiệu quả đầu tư đứng ở vai trò nhà nướcphải xuất phát từ lợi ích quốc gia và xã hội của dự án , từ đường lối phát triểnchung của đất nước và phải xem xét toàn diện các mặt kinh tế, kỹ thuật, xãhội chính trị, bảo vệ, an ninh quốc phòng toàn dân
Trang 33Đối với dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước ,sự đánh giá củanhà nước phải toàn diện trực tiếp và sâu sắc hơn ở trường hợp này, đánh giá
dự án chủ yêu phân tích dựa trên quản điểm vĩ mô , và phải coi trọng phânphân tích kinh tế , xã hội của dự án
Đối với các dự án đầu tư của doanh nghiệp nhà nước sự đánh giá cũngsâu sắc và toàn diện hơn với dực án cua doanh nghiệp ngoài quốc doanh, nhànước chỉ xem xét chủ yếu về các mặt tôn trọng pháp luật, bảo vệ môi trường,
sự phù hợp với đường lối phát triển của đất nước
2.2.4.3 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư của doanh nghiệp
+ Theo mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của tập hợp Công ty mẹ và cácCông ty con gồm các chỉ tiêu:
- Tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư :
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ lợi nhuận thuần thu được từ một đơn vị vốnđầu tư tính cho từng năm hoạt động, ký hiệu là RR, công thức tính như sau:
V
WRR
I
Trong đó:
W: là tổng lợi nhuận thuần thu được hằng năm của Công ty mẹ và các Công
ty con, công ty liên kết;
Iv: là tổng số vốn đầu tư mà Công ty mẹ và các Công ty con, công ty liên kết
đã thực hiện đầu tư
Trang 34- Chỉ tiêu hiệu số thu chi của dòng tiền (NPV): Chỉ tiêu hiệu số thu
chi được quy về thời điểm hiện tại NPV được gọi là hiện giá của hiệu số thuchị, hiện giá thu nhập ròng Chỉ tiêu này là số thu nhập ròng sau khi đã trừ đimọi chi phí và thiết hại, kể cả chi phí để trải lãi vốn vay ở mức lãi suất tốithiểu (r)
Theo phương án này thỏa mãn NPV>0 thì dự án đó được coi là đáng giá
- Chỉ tiêu suất thu lợi nội tại của dự án :
Suất thu lợi nội tại của dự án IRR là mức thu lợi trung bình của đồngvốn được tính theo các kết số còn lại của vốn đầu tư ở đầu các giai đoạn (năm)của dòng tiền tệ, do nội tại của phương án mà suy ra và với giải thiết là cáckhoản thu được trong quá trình khai thác dự án đều được đem đầu tư lại ngaylập tức cho dự án với suất thu lợi nội tại bằng chính IR R của dự án đang cầntìm
Công thức tính chỉ tiêu suất thu lợi nội tại :
2 1
1 1
2 1
NPV NPV
NPV )
r r r IRR
Trang 35Theo phương án này, mỗi một phương án được coi là đang giá khi trị
số IR R lớn hơn suất thu lợi tối thiểu chấp nhận được (r).Suất thu lợi tối thiểuchấp nhận được thường được lấy là lãi suất tiền gửi của ngân hàng
2.3 Khung lý thuyết về tái cấu trúc doanh nghiệp
Tái cấu trúc doanh nghiệp liên quan đến những thay đổi lớn trong cơcấu tổ chức để nâng cao “năng lực và hiệu quả” của doanh nghiệp (Bowman
& Singh, 1993) Nó liên quan đến định hướng lại việc kinh doanh các đơn vị
để sắp xếp lại các nguồn lực trong một công ty có năng lực tốt hơn TheoGibbs (1993), có 3 loại tái cấu trúc doanh nghiệp gồm: (i) tái cấu trúc tàichính bao gồm tái cơ cấu vốn và những thay đổi trong cơ cấu vốn; (ii) tái cơcấu danh mục đầu tư liên quan đến tập trung vào kinh doanh lĩnh vực cốt lõi,dẫn đến sự thay đổi về tính đa dạng của các doanh nghiệp trong danh mục đầu
tư của doanh nghiệp; và (iii) tái cấu trúc doanh nghiệp bao gồm cả tổ chức lại
và chiến lược thay đổi kinh doanh
Tái cấu trúc doanh nghiệp là nhằm chống lại cuộc khủng hoảng hoặc làmột phần của kế hoạch, khởi đầu cho sự sống còn của doanh nghiệp Quátrình tái cấu trúc doanh nghiệp là một quá trình kéo dài và thận trọng, yêu cầunhiều nhiệm vụ và thách thức, đòi hỏi phân tích các chi phí và lợi ích xã hội.Nhiệm vụ khó khăn nhất là thuyết phục người thiệt hại hiểu được mong muốncủa của sự nỗ lực cải cách (Soon, 2004) Đồng thời, đánh giá chiến lược củachính sách tái cơ cấu, tái cấu trúc và chính sách tinh giảm biên chế được coi là
mô hình quản lý chịu ảnh hưởng Từ đó, các doanh nghiệp có thể tận dụnghoàn toàn vào năng lực cốt lõi của họ trong việc tạo ra khả năng cạnh tranhcao nhất (Tony, 1997)
Trang 36Miller và Friesen (1984) cho rằng sự thay đổi môi trường, thay đổi côngnghệ, phát triển tổ chức và thay đổi lãnh đạo quản lý là những lý do dẫn đếntái cấu trúc Massimo và Delmastro (2002) thấy rằng sự thích nghi của côngnghệ sản xuất tiên tiến và phương thức quản lý nguồn nhân lực mới phù hợpvới thay đổi tổ chức Miles, Covin và Heeley (2000) cho rằng sự năng độngcủa môi trường ảnh hưởng tới chiến lược lựa chọn của doanh nghiệp và ônhoà mối quan hệ giữa cơ cấu tổ chức, chiến lược tổ chức và hoạt động củadoanh nghiệp Moers (2000) cho rằng tái cấu trúc cũng liên quan đến thịtrường cạnh tranh mạnh mẽ Jensen (1986) tin rằng việc tái cơ cấu có thểđược mô tả như việc quay trở về dòng tiền tự do cho chủ sở hữu Nghiên cứucủa Hariison (1991) cho rằng một số lượng đáng kể của tái cấu trúc có liênquan đến chiến lược đa dạng hoá nhiều, trong khi các nghiên cứu củaHoskisson và Turk’s (1990) kết luận rằng tái cấu trúc là nhằm vào khắc phụccác vấn đề kiểm soát có liên quan đến đa dạng hoá và dẫn đến hiệu suất kém.Điều đó được giải thích một phần do dòng tiền tự do bởi vì dòng tiền tự do cóchức năng cơ hội đầu tư, hoạt động lưu chuyển tiền tệ, đa dạng hoá, đòn bẩytài chính và quản trị doanh nghiệp Hill và Snell (1988) cũng đã phát hiện rarằng tập trung quản lý có liên quan đến sự đa dạng hoá trong nghiên cứu vàphát triển chuyên sâu các doanh nghiệp Do đó, sự mở rộng quyền sở hữu liênquan đến sự đa dạng hoá
2.4 Lựa chọn danh mục đầu tư và mô hình lựa chọn danh mục đầu tư
Một doanh nghiệp thường có nhiều loại mục tiêu và vì vậy, cần phải cócác chiến lược cho phép đạt được các mục tiêu khác nhau Để dễ dàng lựachọn chiến lược, doanh nghiệp có thể sử dụng các mô hình hoặc các bảngphân tích danh mục đầu tư
Trang 37Thực vậy, nhiều doanh nghiệp hiện nay có xu hướng đa dạng hóa cáchoạt động sản phẩm và vì vậy, việc phân tích danh mục đầu tư cho phép giảiquyết tốt nhất mối quan hệ giữa các hoạt động, các sản phẩm khác nhau đó.
Có nhiều phương pháp phân tích danh mục đầu tư nhưng chủ yếu là phươngpháp ma trận Đặc biệt là ma trận General Electric-Mc Kinsey
Phương pháp ma trận GE với mục đích xem xét toán diện hơn các nhân
tố theo phương pháp đưa ra « lưới » chiến lược kinh doanh
Phương pháp này cho phép chung ta có được cái nhìn chi tiết hơn và đầy
đủ hơn về thực tế Mô hình này được xây dựng cung trên hai chỉ tiêu, tuy nhiênđây là hai chỉ tiêu tổng hợp : Sức hấp dẫn của thị trường và vị thế canh tranh
Hai chỉ tiêu trên được phân chia làm 3 mức độ : Mạnh -trung bình - yếu.mỗi phương pháp cho phép định vị được toàn vộ các hoạt động trong bảng
Cao
Trung bình
Trang 38Như ở trên, Hoạt động của án sẽ ra vào ba vùng :
+ Vùng 1 vùng thành công : Hoạt động rơi vào vùng này là hoạt độngrất đáng quan tâm, nên được tập trung đầu tư
+ Vùng 2 vùng hoạt động bình thường : Hoạt động rơi vào vùng nàyđược quan tâm ở mức độ bình thường, doanh nghiệp có thể sử dụng chiếnlược vừa tấn công vừa phòng thủ ở giai đoạn này
+ Vùng 3 vùng hoạt động không đáng quan tâm : Hoạt động rơi vàovùng này là hoạt động không đáng được quan tâm xem xét, nên rút lui khỏihoạt động đầu tư
Việc đánh giá hai biên tổng hợp : Mức độ lôi cuốn của thị trường và vịthế cạnh tranh của doanh nghiệp là được đanh giá dựa trên nhiều nhân tố ảnhhưởng khác nhau Các nhân tố tạo nên sự hấp dẫn thị trường hàng côngnghiệp sẽ khác với các nhân tổ trên thị trường hàng tiêu dung thư hai liênquan tới các thước đo của từng biến để đánh giá được giá trị
Cũng như vậy, mức độ ảnh hưởng đến từng biến phụ thuộc vừa tìnhhình và nhận thức của từng lãnh đạo
Phương pháp tiếp cận này vẫn còn có nhiều các khó khăn khác Trênthực tế, các khuyến nghị chiến lược trước đó đã được hình thành một cáchchung chung : tằng cường và tăng trưởng ; đối với các hành động thành công,duy trì và chờ đơi, đối với các hoạt động ở vị thế trung gian ; thu lời và giảmđầu tư, đối với cá hành động thật bại Để đưa ra một định hướng chung, cho
dù có hữu ích thì các chỉ dẫn này cũng không cho phép xác định các hnafhđộng cần thiết để áp dung cho từng trường hợp
Trang 39Một vấn đề khác đã được đề cập là nguy cơ hành động một cách tựđộng trong các quyết định khó khăn trong việc đánh giá chính xác từng khíacạnh có thể đưa ra một số sai sót phát sinh từ hiện tượng bù trừ giữa các biếnthành phần của từng khía canh Chẳng hạn, hai hoạt động có thể dùng sức hấpdẫn mà không thể do lượng một cách tương tự đối với từng biến liên quan tớimỗi khía canh Chẳng hạn, hai hoạt động có thể cùng sức hấp dẫn mà khônthể đo lường một cách tương tự với từng viên liên quan tới mỗi khía cạnh
Trang 40CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TẠI TỔNG CÔNG TY
ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG ĐÔ THỊ UDIC 3.1 Khái quát về Tổng công ty Đầu tư Phát triển Hạ tầng Đô thị UDIC
Tổng công ty đầu tư phát triển hạ tầng đô thị là doanh nghiệp Nhànước được hình thành trên cơ sở tổ chức lại Công ty Đầu tư phát triển hạ tầng
đô thị trực thuộc Sở Xây dựng thành phố Hà Nội
Trụ sở của Tổng công ty được đặt tại số: 27 Huỳnh Thúc Kháng, Quận Đống Đa, Hà Nội.
UDIC có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại
kho bạc nhà nước và các ngân hàng thương mại, trực tiếp thực hiện các hoạtđộng sản xuất kinh doanh và thực hiện quyền,nghĩa vụ của chủ sở hữu đối vớiphần vốn Nhà nước đầu tư vào các công ty con, công ty liên kết
UDIC có trách nhiệm kế thừa các quyền và nghĩa vụ pháp lý của Công
ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị
UDIC chịu sự quản lý Nhà nước của UBND Thành phố Hà Nội và các
cơ quan quản lý khác theo quy định của pháp luật
+ Chức năng của UDIC:
-Đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước của Tổng công ty và chịu tráchnhiệm trước ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội về việc bảo toàn và phát triển
số vốn được giao
- Giữ vai trò chủ đạo tập trung, chi phối và liên kết các hoạt động củacác công ty con, công ty liên kết nhằm đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh củaUDIC và các công ty thành viên