Ngân sách nhà nước giữ vai trò quan trọng, chủ yếu trong huy động và phân phối các nguồn lực của nền kinh tế nhằm đảm bảo hoạt động của nhà nước, đồng thời phân phối nguồn lực hợp lý để
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TS ĐỖ QUANG GIÁM
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận
văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tác giả luận văn
Trần Đại Xuân
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi
đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình, sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể
Trước tiên, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh, Bộ môn Kế toán Quản trị– Kiểm toán Học viện nông nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến TS Đỗ Quang Giám đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện luận văn Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn tập thể và cán bộ UBND huyện Lục Ngạn, Phòng Tài chính – Kế hoạch, Chi cục thuế và các cơ quan, ban ngành, đoàn thể, các doanh nghiệp, hộ dân trên địa bàn huyện Lục Ngạn đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp số liệu, tư liệu khách quan giúp tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Trần Đại Xuân
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục bảng vii
Danh mục sơ đồ viii
Danh mục viết tắt ix
1 MỞ ĐẦU 1
1 1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Một số vấn đề cơ bản về thu ngân sách nhà nước 4
2.1.2 Một số vấn đề chung về quản lý thu ngân sách nhà nước cấp huyện 8
2.1.3 Nội dung quản lý thu Ngân sách nhà nước cấp huyện 15
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu ngân sách nhà nước cấp huyện 19
2.2 Cơ sở thực tiễn 26
2.2.1 Kinh nghiệm trong quản lý thu Ngân sách nhà nước ở một số quốc gia trên thế giới 26
2.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương 29
2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Lục Ngạn 34
3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 36
3.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 36
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 40
Trang 63.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đối với thu
ngân sách nhà nước trên địa bànhuyện 44
3.2 Phương pháp nghiên cứu 46
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 46
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu 47
3.2.3 Phương pháp xử lý và tổng hợp dữ liệu 48
3.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 48
3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 48
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 50
4.1 Tổ chức, phân cấp quản lý thu NSNN trên địa bàn huyện Lục Ngạn 50
4.1.1 Bộ máy quản lý thu Ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện 50
4.1.2 Phân cấp quản lý thu NSNN trên địa bàn huyện Lục Ngạn 56
4.1.3 Phương thức thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 58
4.2 Thực trạng quản lý thu Ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện 60
4.2.1 Quản lý đối tượng thu 60
4.2.2 Tuyên truyền, hỗ trợ đối tượng nộp NSNN 62
4.2.3 Lập dự toán thu NSNN 66
4.2.4 Chấp hành dự toán thu NSNN cấp huyện 69
4.2.5 Quyết toán thu NSNN 78
4.2.6 Thanh tra, kiểm tra thu NSNN trên địa bàn huyện Lục Ngạn 81
4.3 Đánh giá chung về quản lý thu NSNN trên địa bàn huyện Lục Ngạn 86
4.3.1 Những mặt tích cực 86
4.3.2 Những mặt hạn chế và nguyên nhân 87
4.4 Giải pháp hoàn thiện quản lý thu NSNN trên địa bàn huyện Lục Ngạn 90
4.4.1 Hoàn thiện chính sách quản lý thu ngân sách nhà nước 90
4.4.2 Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan quản lý 92
4.4.3 Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý và nâng cao trình độ cán bộ quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện 95
Trang 74.4.4 Hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả thực hiện kế hoạch thu
ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện 98
4.4.5 Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, nâng cao nghĩa vụ, ý thức của đối tượng nộp NSNN và quản lý nợ thuế 101
5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 105
5.1 Kết luận 105
5.2 Kiến nghị 106
5.2.1 Kiến nghị với Chính phủ 106
5.2.2 Kiến nghị với tỉnh Bắc Giang 107
5.2.3 Đối với huyện Lục Ngạn 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Số bảng Tên bảng Trang
3.1 Biểu thống kê các loại đất huyện Lục Ngạn 39
3.2 Kết quả phát triển kinh tế huyện Lục Ngạn giai đoạn 2012-2014 (theo giá cố định năm 2010) 41
3.3 Tình hình dân số - lao động huyện Lục Ngạn giai đoạn 2012-2014 43
3.4 Số lượng và cơ cấu cán bộ phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Lục ngạn 47
3.5 Số lượng mẫu khảo sát 47
4.1 Quản lý đối tượng thu nộp ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Lục Ngạn đến ngày 31/12/2014 60
4.2 Các kênh cán bộ quản lý của doanh nghiệp, hộ SXKD sử dụng để tiếp nhận thông tin khi có sự thay đổi các chính sách về quản lý thu NSNN 64
4.3 Các kênh hỗ trợ các DN, Hộ SXKD khi có vướng mắc đối với các chính sách trong quản lý thu NSNN 65
4.4 Dự toán thu NSNN trên địa bàn huyện Lục Ngạn giai đoạn 2012-2014 68
4.5 Chấp hành dự toán thu NSNN huyện Lục Ngạn 70
4.6 Đánh giá của DN và hộ sản xuất kinh doanh về tình hình quản lý thu NSNN trên địa bàn huyện Lục Ngạn 73
4.7 Kết quả thu NSNN huyện Lục Ngạn theo phân cấp nguồn thu ngân sách 74
4.8 Cơ cấu thu NSNN trên địa bàn huyện Lục Ngạn phân theo nguồn thu giai đoạn 2012-2014 75
4.9 Quyết toán thu NSNN huyện Lục Ngạn giai đoạn 2012-2014 81
4.10 Kết quả kiểm tra thuế tại trụ sở Chi cục Thuế huyện 85
4.11 Kết quả kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế 86
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ STT Tên sơ đồ Trang
2.1 Hệ thống bộ máy quản lý thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam 14
4.1 Phân cấp quản lý thu NSNN trên địa bàn huyện Lục Ngạn 51
4.2: Quy trình chấp hành thu NSĐP trên địa bàn huyện Lục Ngạn 71
4.3: Sơ đồ quyết toán thu ngân sách hàng năm 80
Trang 111 MỞ ĐẦU
1 1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngân sách nhà nước (NSNN) là phạm trù kinh tế, gắn liền với sự ra đời và phát triển của nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường Nhà nước sử dụng quyền lực của mình tham gia vào quá trình phân phối sản phẩm xã hội dưới hình thức tiền tệ như thuế bằng tiền, vay nợ để phục vụ cho hoạt động của mình hình thành nên NSNN Ngân sách nhà nước là một bộ phận cơ bản trong hệ thống tài chính quốc gia, là điều kiện vật chất quan trọng để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước Đồng thời NSNN là công cụ quan trọng của nhà nước để điều chỉnh vĩ mô đối với toàn bộ đời sống kinh tế xã hội đảm bảo an ninh quốc gia Ngân sách nhà nước giữ vai trò quan trọng, chủ yếu trong huy động và phân phối các nguồn lực của nền kinh tế nhằm đảm bảo hoạt động của nhà nước, đồng thời phân phối nguồn lực hợp lý để thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh, ổn định và bền vững; bên cạnh đó còn giải quyết những vấn đề xã hội, đảm bảo thực hiện công bằng, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạt động xã hội
Thu ngân sách là một nguồn tài chính quan trọng của quốc gia nói chung, tỉnh, huyện nói riêng Nhờ có nguồn thu ngân sách mà các hoạt động của bộ máy nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội cũng như thực thi nhiệm vụ của nhà nước đối với nền kinh tế được đảm bảo
Cân đối thu - chi ngân sách luôn là một trong những mục tiêu phấn đấu của Đảng và Nhà nước Nhiều năm qua, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều cố gắng để giảm thiểu chi hành chính, sự nghiệp, tăng cường chi cho đầu tư phát triển và xây dựng cơ bản, chi đúng chỗ, chi hiệu quả, tiết kiệm Bởi đầu tư của Nhà nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế
- xã hội, đặc biệt đối với những nước đang phát triển như Việt Nam, nên tình trạng thâm hụt ngân sách là không tránh khỏi, nhưng thâm hụt mức độ nào là hợp
lý đòi hỏi nhiều nỗ lực Nhằm đảm bảo cho nhu cầu chi rất lớn thì việc tăng thu NSNN là rất cần thiết
Trang 12Lục Ngạn là một huyện miền núi, tăng truởng kinh tế chưa cao, khả năng tích luỹ thấp, điều kiện tự nhiên còn nhiều khó khăn; địa bàn rộng, dân cư sống không tập chung, thời tiết diễn biến không thuận lợi, phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức như thiên tai, dịch bệnh, lũ lụt, đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân, đặc biệt là ảnh hưởng đến nguồn thu, chi ngân sách hàng năm trên địa bàn; giá trị kinh tế của huyện chủ yếu dựa vào cây vải thiều; nguồn thu NSNN hàng năm không cao nhưng phải đáp ứng yêu cầu chi lớn (hằng năm thu ngân sách chỉ ứng đáp ứng gần 10% nhu cầu chi)
Với vị trí và vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính nhà nước, việc nghiên cứu đề xuất quản lý thu ngân sách có ý nghĩa hết sức quan trọng Mặc dù
đã có nhiều đề tài nghiên cứu về ngân sách nói chung và thu ngân sách nói riêng,
tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề “Quản lý thu ngân sách nhà nước cấp huyện trên địa bàn huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang” trên địa
bàn tỉnh Bắc Giang Việc nghiên cứu đề tài này thực sự cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả thu NSNN của địa phương Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài này làm luận văn thạc sỹ
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý thu NSNN, đánh giá thực trạng quản lý thu NSNN cấp huyện trên địa bàn huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thu NSNN trên địa bàn huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang trong thời gian tiếp theo
Trang 131.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của của đề tài là các nội dung quản lý thu NSNN, quy định về quản lý thu NSNN cấp huyện, tình hình quản lý thu NSNN trên địa bàn huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang thông qua các đối tượng sau:
- Tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác quản lý thu NSNN cấp huyện
- Nguồn thu NSNN trên địa bàn huyện Lục Ngạn
- Một số cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh và hộ dân có liên quan
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu công tác quản
lý thu ngân sách nhà nước; nội dung quản lý thu NSNN, Luật NSNN thực trạng công tác quản lý thu NSNN trên địa bàn huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang
+ Phạm vi về không gian: huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang
+ Phạm vi về thời gian: Các số liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài được giới hạn từ năm 2011 đến hết năm 2014 Giải pháp đưa ra hoàn thiện giai đoạn 2015- 2020
Trang 142 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số vấn đề cơ bản về thu ngân sách nhà nước
2.1.1.1 Khái niệm thu ngân sách nhà nước
Hoạt động NSNN là hoạt động tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của nhà nước Trong quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội, nguồn tài chính luôn vận động giữa một bên là nhà nước, một bên là các chủ thể kinh tế xã hội Bản chất của các hoạt động đó là giải quyết lợi ích kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể khác Thông qua việc tạo lập quỹ tiền tệ tập trung, nhà nước bắt buộc các chủ thể
đó phải nộp một phần thu nhập cho mình; việc sử dụng quỹ tiền tệ phù hợp với các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Các khoản thu, chi của nhà nước được thể chế hoá bằng luật pháp
Điều 1 Luật NSNN được Quốc hội khoá XI nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ hai, năm 2002 cũng khẳng định: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đó được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm
thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” (Quốc hội, 2002)
Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp
luật (Quốc hội, 2002)
Như vậy, thu ngân sách nhà nước là quá trình nhà nước sử dụng quyền lực
để huy động một bộ phận giá trị của cải xã hội hình thành quỹ ngân sách nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước Thu ngân sách bao gồm rất nhiều loại, ngoài các khoản thu chính từ thuế, phí, lệ phí, còn có các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước, từ đóng góp của các cá nhân trong và ngoài nước, hay các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
Trang 152.1.1.2 Đặc điểm của thu ngân sách nhà nước
Thu ngân sách Nhà nước là sự động viên nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với các chủ thể trong xã hội dựa trên quyền lực của Nhà nước, nhằm giải quyết hài hòa các lợi ích kinh tế, xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy Nhà nước cũng như yêu cầu thực hiện các chức năng nhiệm vụ kinh
tế xã hội của Nhà nước (Nguyễn Văn Huỳnh, 2014) Từ bản chất của thu NSNN,
có thể rút ra một số đặc điểm của thu NSNN như sau:
Một là, thu NSNN dưới bất cứ xã hội nào cũng đều gắn liền với quyền lực
chính trị và việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Nói một cách
cụ thể hơn, quyền lực của Nhà nước và các chức năng của nó là những nhân tố trực tiếp quyết định mức thu, nội dung và cơ cấu thu của NSNN
Hai là, các hoạt động thu NSNN được tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định Đó là các luật và pháp lệnh thuế, quy trình, thủ tục thu NSNN do Nhà nước ban hành Việc dựa trên cơ sở pháp luật để tổ chức các hoạt động thu của NSNN là một yêu cầu có tính bắt buộc vì thu NSNN tác động tới nhiều ngành, lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội và có liên quan tới lợi ích của nhiều chủ thể trong nền kinh tế
Ba là, nguồn tài chính chủ yếu hình thành nên nguồn thu NSNN- một quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước là từ giá trị sản phẩm thặng dư của xã hội
và được hình thành chủ yếu qua quá trình phân phối lại mà trong đó thuế là hình thức thu phổ biến
Bốn là, thu NSNN gắn chặt với quy mô và trình độ phát triển của nền kinh
tế và sự vận động của các phạm trù giá trị khác như giá cả, thu nhập, lãi suất Kết quả quá trình hoạt động của nền kinh tế và hình thức, phạm vi, mức độ vận động của các phạm trù giá trị khác là tiền đề quan trọng đối với thu NSNN Ngược lại, chính sách thu NSNN khi áp dụng vào thực tế sẽ trở thành nhân tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hoạt động của nền kinh tế cũng như sự vận động của các phạm trù giá trị khác
2.1.1.3 Vai trò của thu ngân sách nhà nước
Để duy trì sự tồn tại và hoạt động, bộ máy nhà nước cần phải có nguồn tài
Trang 16chính đảm bảo cho các nhu cầu chi tiêu Các nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhà nước được đáp ứng chủ yếu bởi các nguồn thu NSNN Vai trò trên được thể hiện
ở việc khai thác, động viên và tập trung các nguồn lực tài chính để đáp ứng đầy
đủ, kịp thời cho các nhu cầu chi tiêu đã được nhà nước dự tính cho từng thời kỳ phát triển Các nguồn lực này có thể được tập trung ở cả trong và ngoài nước, từ mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế, có bắt buộc và tự nguyện, trong đó bắt
buộc là tính đặc trưng
Ngân sách nhà nước nằm trong hệ thống tài chính, có vai trò chi phối hoạt động của nền kinh tế, thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô và gắn liền với vai trò quản lý của nhà nước Thu ngân sách là một công cụ thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, định hướng phát triển kinh tế - xã hội Nhà nước thông qua chính sách thu của mình thể hiện sự ưu đãi với các ngành nghề cần bảo hộ hay khuyến khích phát triển, hoặc tỏ thái độ đối với những ngành nghề gây thiệt hại lợi ích chung của toàn xã hội,… Thông qua công cụ thuế, với các mức thuế suất, chính sách ưu đãi khác nhau, ngân sách nhà nước có vai trò định hướng đầu tư, điều chỉnh cơ cấu của nền kinh tế theo các định hướng phát triển của nhà nước cả về cơ cấu ngành và cơ cấu vùng lãnh thổ kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh theo ngành hoặc theo sản phẩm Hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp cần nâng đỡ, khuyến khích, sẽ góp phần tạo điều kiện sản xuất thuận lợi, hoàn thiện cơ cấu sản xuất, đảm bảo tính cân đối của nền kinh tế, đảm bảo tăng trưởng và phát triển bền vững
Ngoài ra, thu NSNN còn là công cụ góp phần thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của
xã hội
2.1.1.4 Nội dung thu Ngân sách nhà nuớc
(1) Thu từ thuế, lệ phí, phí do các tổ chức, cá nhân nộp theo quy định Bao gồm: Thuế giá trị gia tăng, Thuế tiêu thụ đặc biệt, Thuế xuất khẩu thuế nhập khẩu, Thuế tài nguyên, và khoảng 300 loại phí, khoản phí được phép thu do
Chính phủ quy định
Trang 17(2) Các khoản thu từ các hoạt động kinh tế của Nhà nước Bao gồm tiền
thu hồi vốn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tế; thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (cả gốc và lãi); thu nhập từ vốn góp của Nhà nước vào các cơ sở kinh tế, kể
cả thu từ lợi nhuận sau khi thực hiện nghĩa vụ về thuế của các tổ chức kinh tế có
sự tham gia góp vốn của Nhà nước theo quy định của Chính phủ
(3) Các khoản thu từ việc khai thác tài nguyên thuộc sở hữu Nhà nước dưới
các hình thức như tiền sử dụng đất, thu từ hoa lợi công sản và đất công ích; tiền cho thuê đất, thuê mặt nước; phần nộp ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật từ tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước
(4) Các khoản thu viện trợ, đóng góp ủng hộ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.Bao gồm: Đóng góp của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài
nước như đóng góp cho quỹ phòng chống thiên tai, ủng hộ đồng bào bão lụt, quỹ
an ninh ….Các khoản viện trợ không hoàn lại bằng tiền hoặc bằng hiện vật của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài cho Chính phủ, các cấp chính quyền và các cơ quan, đơn vị của Nhà nước
(5) Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật như các khoản di sản
Nhà nước được hưởng; thu từ tiền phạt, tịch thu, tịch biên tài sản; thu hồi dự trữ
Nhà nước, thu chênh lệch giá, phụ thu … (Quốc hội, 2002)
2.1.1.5 Nguyên tắc thu ngân sách nhà nước
Thiết lập một hệ thống thu ngân sách nhà nước không chỉ nhằm mục đích duy trì và đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước mà còn phải chứa đựng các
mục tiêu kinh tế xã hội khác (Nguyễn Văn Huỳnh, 2014) Những nguyên tắc thiết
lập hệ thống thu ngân sách Nhà nước đó là:
+ Nguyên tắc ổn định và lâu dài: Nguyên tắc này tạo thuận lợi cho công tác
kế hoạch hóa ngân sách và kích thích nộp thuế, cải tiến phương pháp sản xuất kinh doanh
Yêu cầu của nguyên tắc này là phải ổn định mức thu, ổn định các sắc thuế, không được gây xáo trộn trong hệ thống thuế Đồng thời phải lựa chọn đối tượng tính thuế ít biến động
Trang 18+ Nguyên tắc đảm bảo sự công bằng: Nguyên tắc này đòi hỏi không phân biệt địa vị xã hội, thành phần kinh tế, công bằng đối với mọi người chịu thuế + Nguyên tắc rõ ràng và chắc chắn: Nguyên tắc này đòi hỏi các điều luật của các sắc thuế phải rõ ràng cụ thể rành mạch về mức thuế cũng như căn cứ tính thuế
+ Nguyên tắc đơn giản: Mỗi sắc thuế đòi hỏi phải hạn chế số lượng thuế suất, xác định rõ ràng mục tiêu chính Khi thiết lập hệ thống thu nếu đảm bảo các nguyên tắc trên không những tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước mà cần nuôi dưỡng và phát triển được nguồn thu
+ Nguyên tắc phù hợp với thông lệ quốc tế: Trong điều kiện hiện nay, với
xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, việc thiết lập hệ thống thu ngân sách Nhà nước còn phải đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với việc thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
2.1.2 Một số vấn đề chung về quản lý thu ngân sách nhà nước cấp huyện
2.1.2.1 Khái niệm quản lý thu ngân sách nhà nước cấp huyện
Quản lý NSNN là quá trình tác động của chủ thể quản lý NSNN thông qua việc sử dụng có chủ định các phương pháp quản lý và các công cụ quản lý để tác
động và điều khiển hoạt động của NSNN nhằm đạt được mục tiêu đã định.(Phạm Văn Thịnh, 2011)
Quản lý thu NSNN là quá trình nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ chính sách, pháp luật để tiến hành quản lý thu thuế và các khoản thu ngoài thuế vào NSNN nhằm đảm bảo tính công bằng khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển Phần lớn các khoản thu NSNN đều mang tính chất cưỡng bức, do đó đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ để bắt buộc chủ thể kinh tế phải tuân thủ thực hiện theo pháp luật
Quản lý thu NSNN được thực hiện theo pháp luật và dự toán Quá trình thực hiện thu và quản lý thu NSNN là một hệ thống gồm nhiều cơ quan chức năng khác nhau như: cơ quan thuế, cơ quan ban hành chính sách thu, cơ quan quản lý quỹ
Trang 19Hệ thống ngân sách Nhà nước là tổng thể các cấp ngân sách gắn bó hữu
cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu chi ngân sách Nhà nước và được tổ chức theo một cơ cấu nhất định
Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, hệ thống ngân sách Nhà nước được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức bộ máy quản lý hành chính Nhà nước Đối với Việt Nam, trên cơ sở Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và luật ngân sách Nhà nước, ngân sách Nhà nước Việt Nam bao gồm Ngân sách trung ương và Ngân sách địa phương
Ngân sách Nhà nước là một thể thống nhất gồm nhiều cấp ngân sách, mỗi cấp ngân sách chịu sự ràng buộc bởi các chế độ thể lệ chung vừa có tính độc lập
tự chịu trách nhiệm thì phân cấp ngân sách Nhà nước được hiểu là phân định trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ và lợi ích của các cấp chính quyền Nhà nước
trong quản lý ngân sách Nhà nước (Nguyễn Văn Huỳnh, 2014)
Ngân sách cấp huyện là một bộ phận cấu thành của Ngân sách địa phương Việc quản lý NSNN cấp huyện phải tuân thủ theo các nguyên tắc quản lý chung trong quản lý Ngân sách của Nhà nuớc và do các cơ quản quản lý nhà nuớc thực hiện, trong đó các cơ quan quản lý nhà nuớc cấp huyện đống vai trò chủ đạo
Như vậy, có thể đi đến khái niệm chung nhất về quản lý thu NSNN cấp
huyện như sau: Quản lý thu NSNN cấp huyện là chuỗi các hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước có mối quan hệ mật thiết với nhau, tương trợ nhau nhằm làm cho hoạt động quản lý thu NSNN cấp huyện được thực hiện có hiệu quả 2.1.2.2 Mục tiêu quản lý thu ngân sách nhà nước cấp huyện
Quản lý thu NSNN là quá trình nhà nước vận dụng các quy luật khách quan, sử dụng các phương pháp tác động đến các hoạt động thu ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thu của ngân sách nhà nước Mục tiêu của quản lý thu NSNN cấp huyện bao gồm hai mục tiêu cơ bản sau:
- Nhằm điều hành ngân sách nhà nước linh hoạt, đảm bảo nguồn thu để phục vụ chi ngân sách cấp huyện
Trang 20- Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, rõ ràng, minh bạch, dễ thực hiện Đảm bảo tính hệ thống, tính đầy đủ, kịp thời, tính chính xác của các khoản thu vào ngân sách nhà nước
- Quản lý thu NSNN nhằm bảo đảm nguồn vốn để thực hiện các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước cấp huyện, các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước cấp huyện Bên cạnh đó, việc quản lý thu NSNN còn đảm bảo sự họat động
có hiệu quả trong tổ chức thu NSNN, đảm bảo công tác thu NSNN đuợc vận hành theo đúng quy định của Pháp luật, tránh các hiện tượng tiêu cực, đảm bảo thu đúng, thu đủ, tận thu những cũng đem lại lợi ích, sự phát triển cho các đối tượng nộp ngân sách phát triển qua đó nuôi dưỡng nguồn thu
- Thông qua quản lý thu NSNN, Nhà nước thực hiện việc quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội nhằm hạn chế những mặt khuyết tật, phát huy những mặt tích cực của nó và làm cho nó hoạt động ngày càng hiệu quả hơn
- Quản lý Thu NSNN còn đóng vai trò quan trọng trong vấn đề điều tiết thu nhập của các cá nhân trong xã hội Thông qua công cụ thuế, Nhà nước đánh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao hoặc đánh thuế cao đối với các hàng hóa xa xỉ, hàng hóa không khuyến khích tiêu dùng…
2.1.2.3 Yêu cầu trong hoạt động quản lý thu ngân sách Nhà nước
Thứ nhất, ban hành hệ thống thể chế về thu NSNN
Hoạt động quản lý thu NSNN đầu tiên mà mỗi Nhà nước cần thực hiện là tiến hành xây dựng hệ thống thể chế thu NSNN
Thể chế quản lý thu NSNN là những quy định, chuẩn mực làm cơ sở pháp
lý cho việc thu NSNN và quản lý thu NSNN Thể chế quản lý thu NSNN bao gồm Hiến pháp, các bộ luật, các văn bản quy phạm pháp luật và các quy định khác của Nhà nước về thu NSNN Trong đó, các bộ luật điều chỉnh thu NSNN như Luật NSNN, các luật thuế và các luật khác liên quan tới thu NSNN có ý nghĩa rất quan trọng
Trong các thể chế quản lý thu NSNN trước hết là Luật NSNN, các nguồn thu cũng như các nguyên tắc thu, cơ chế, chính sách thu NSNN được quy định
rõ ràng và cụ thể Quốc hội (2002) khoá XI nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Trang 21Nam thông qua tại kỳ họp thứ hai tại Khoản 1 Điều 5 quy định rõ nguyên tắc thu
NSNN phải theo luật định: "Thu NSNN phải được thực hiện theo quy định của Luật NSNN và các quy định khác của pháp luật" và NSNN được quản lý thống
nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm
Thứ hai, phân cấp quản lý thu NSNN
Phân cấp quản lý NSNN là nhu cầu nội tại của hoạt động quản lý NSNN nên Nhà nước nào cũng phải tiến hành phân cấp Trên cơ sở sự phân chia, có địa bàn, có dân cư, Nhà nước thiết lập quyền lực công cộng tác động trong phạm vi đơn vị hành chính lãnh thổ Khi đã có tổ chức bộ máy nhà nước thì có chức năng, nhiệm vụ và kinh phí hoạt động Tại mỗi địa bàn luôn phát sinh các nguồn thu nhập gắn với hoạt động kinh tế trên địa bàn đó Mỗi cấp ngân sách có những nhiệm vụ tương đối độc lập của địa phương mình Sự phân định nhiệm vụ, quyền hạn về ngân sách cho các cấp chính quyền làm nảy sinh hoạt động phân cấp quản
Cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gọi chung là ngân sách cấp tỉnh, nguồn thu bảo đảm chủ động thực hiện những nhiệm vụ phát triển kinh tế-
xã hội, quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội trong phạm vi quản lý
Cấp huyện, quận, thị xã thuộc tỉnh gọi chung là ngân sách cấp huyện, nguồn thu bảo đảm chủ động thực hiện những nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội trong phạm vi quản lý
Cấp xã, phường, thị trấn gọi chung là ngân sách cấp xã Tài chính xã có nhiệm vụ phối hợp với cơ quan thuế giám sát kiểm tra các nguồn thu NSNN đảm bảo thu đúng, thu đủ và kịp thời, chủ động thực hiện những nhiệm vụ phát triển
Trang 22kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội trong phạm vi quản
lý Chủ động thực hiện những nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng
an ninh và trật tự an toàn xã hội trong phạm vi quản lý
Thứ ba, thực hiện điều hành công tác thu NSNN
Các nội dung chủ yếu của công tác điều hành quản lý thu NSNN gồm:
- Căn cứ dự toán NSNN đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, cơ quan thu lập dự toán thu NSNN quý thuộc phạm vi quản lý, chi tiết theo từng nội dung thu gửi cho cơ quan tài chính và KBNN đồng cấp làm căn cứ điều hành và tổ chức công tác thu NSNN
- Căn cứ điều kiện và yêu cầu cụ thể của công tác thu NSNN như: thời gian phát sinh các khoản thu, số lượng đối tượng nộp tiền vào NSNN, số tiền phải thu, khoảng cách tới trụ sở KBNN Cơ quan thu phối hợp với KBNN để tổ chức công tác thu tại trụ sở KBNN và tại các điểm thu ngoài trụ sở KBNN (điểm thu hoạt động thường xuyên trong tháng hoặc theo từng thời điểm) hoặc cơ quan thu trực tiếp thu
Thứ tư, thực hiện kiểm tra, giám sát hoạt động thu NSNN
Đây là hoạt động hết sức cần thiết nhằm phát hiện các sai sót, gian lận trong quá trình thực hiện, qua đó có biện pháp xử lý kịp thời nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của hệ thống pháp luật, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý
Hoạt động thanh tra kiểm tra có thể được thực hiện định kỳ hoặc đột xuất thông qua các công cụ là hệ thống sổ sách, báo cáo của các đối tượng nộp và của
cơ quan quản lý
2.1.3 Tổ chức bộ máy quản lý thu NSNN
Hệ thống bộ máy quản lý thu NSNN ở Việt Nam được hình thành từ Trung ương đến địa phương bao gồm Quốc hội, Chính phủ, các cấp chính quyền, các cơ quan thu chuyên ngành Mỗi cấp quản lý có chức năng, nhiệm vụ riêng được quy định cụ thể tại Luật NSNN Chức năng cơ bản của mỗi bộ phận quản lý này như sau:
Trang 23Quốc hội là cơ quan quyền lực và là cơ quan cao nhất trong bộ máy quản
lý thu NSNN, có các nhiệm vụ, quyền hạn chủ yếu như: Làm luật và sửa đổi luật trong lĩnh vực tài chính - ngân sách; quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia để phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm cân đối thu, chi ngân sách nhà nước, quyết định phân bổ ngân sách, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước
Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất của Việt Nam Chính phủ có các nhiệm vụ và quyền hạn chủ yếu như: Trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác về lĩnh vực tài chính - ngân sách; ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
về lĩnh vực tài chính - ngân sách theo thẩm quyền; quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan khác ở trung ương theo quy định
Bộ Tài chính là cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng quản lý nhà nước
về tài chính Bộ có các chức năng chủ yếu như: Chuẩn bị các dự án luật, pháp lệnh, các dự án khác về lĩnh vực tài chính - ngân sách và xây dựng chiến lược, kế hoạch vay nợ, trả nợ trong nước và ngoài nước trình Chính phủ; ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực tài chính - ngân sách theo thẩm quyền; xây dựng các định mức phân bổ và các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách nhà nước, chế độ kế toán, quyết toán, chế độ báo cáo, công khai tài chính - ngân sách trình Chính phủ quy định hoặc quy định theo phân cấp của Chính phủ
để thi hành thống nhất trong cả nước
Các cơ quan thu (gồm cơ quan thuế, hải quan, các cơ quan khác được uỷ quyền thu) thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thu NSNN và trực tiếp quản
lý đối tượng nộp và thực hiện thu NSNN đối với một số khoản thu theo quy định của pháp luật
Kho bạc Nhà nước là cơ quan trực tiếp thu thực hiện nhiệm vụ quản lý quỹ NSNN nói chung và quản lý thu NSNN nói riêng Tổ chức bộ máy quản lý thu NSNN được thể hiện qua Sơ đồ 2.1
Trang 24Sơ đồ 2.1 Hệ thống bộ máy quản lý thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam
Nguồn: Quốc hội, 2002
Đối với tổ chức quản lý thu NSNN cấp huyện, truớc hết việc quản lý thu NSNN cấp huyện phải tuân thủ theo sự chỉ đạo của các cơ quan quản lý NSNN từ Trung Ương như Bộ Tài chính, Tổng cục thuế, Tổng cục hải quan,… và các cơ quan quản lý Nhà nuớc cấp tỉnh như Sở tài chính, Cục thuế, Cục hải quan,KBNN tỉnh,… Phòng Tài chính – Kế hoạch, Chi Cục thuế, KBNN cấp huyện là ba cơ quan thường trực trong quản lý thu NSNN cấp huyện, thực hiện và điều hành công tác thu NSNN cấp huyện theo sự chỉ đạo của các cơ quan quản lý thu
Quan hệ quản lý Quan hệ phối hợp
Cơ quan được
uỷ quyền thu
Kho bạc nhà nước
Tổng cục Hải quan
Tổng cục Thuế
BỘ TÀI CHÍNH
CHÍNH PHỦ
BỘ, NGÀNH KHÁC
Cục Hải quan
Phòng TC
(huyện )
Chi cục Thuế
KBNN tỉnh, thành phố
KBNN quận, huyện
Trang 25NSNN cấp tỉnh và chịu trách nhiệm truớc UBND, HĐND huyện trong việc tham mưu quản lý thu NSNN cấp huyện
2.1.3 Nội dung quản lý thu Ngân sách nhà nước cấp huyện
2.1.3.1 Lập dự toán thu NSNN cấp huyện
Thu NSNN là một hoạt động quan trọng trong chu trình NSNN Trong đó, khâu lập dự toán thu NSNN phải đảm bảo tính khách quan, trung thực, đảm bảo
có đầy đủ cơ sở pháp lý và thực tiễn; tổng hợp theo từng lĩnh vực thu, chi tiết theo từng khoản thuế; lập đúng biểu mẫu, nội dung và thời hạn quy định; kèm theo báo cáo thuyết minh rõ cơ sở, căn cứ tính toán Để đảm bảo chủ động trong hoạt động của mình, các cơ quan liên quan phải lập dự toán thu NSNN dựa trên các căn cứ sau:
Một là, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng - an
ninh; các chỉ tiêu cụ thể của năm kế hoạch; đặc biệt tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh, tốc độ tăng trưởng của từng ngành và từng lĩnh vực kinh tế - xã hội là căn cứ vừa để xác định yêu cầu và vừa để xác định khả năng về nguồn thu tập trung vào NSNN
Hai là, các chính sách chế độ về thuế và thu NSNN như Luật NSNN, Luật Thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành Các chính sách chế độ về thuế và thu NSNN là căn cứ pháp lý quan trọng nhất trong việc tính toán xác định các chỉ tiêu của dự toán thu NSNN Lập dự toán thu NSNN đòi hỏi phải nắm vững các chính sách chế độ hiện hành về thuế và thu NSNN; đồng thời, phải dự báo được những thay đổi về chính sách có ảnh hưởng đến số thu trong năm kế hoạch
Ba là, các văn bản hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, dự toán NSNN, dự toán thu của cơ quan thuế Đây là căn cứ định hướng cho các cấp, các ngành và các đơn vị liên quan trong lập dự toán thu NSNN năm kế hoạch Lập dự toán thu NSNN cần phải căn cứ vào các văn bản hướng dẫn chủ yếu sau: Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng kế hoạch phát triển kinh
tế, xã hội và dự toán NSNN; văn bản của Uỷ ban nhân dân tỉnh về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội và dự toán ngân sách địa phương; các văn bản về lập dự toán NSNN, dự toán ngân sách địa phương; số kiểm tra dự toán thu
Trang 26NSNN của Bộ Tài chính
Bốn là, tình hình thực hiện dự toán thu NSNN một số năm liền kề, đặc
biệt là năm liền kề trước năm kế hoạch Kết quả phân tích tình hình thực hiện dự toán thu NSNN các năm liền kề đó cho thấy những điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân của nó trong lập dự toán thu NSNN của các năm báo cáo; đây là những thông tin cần thiết không thể thiếu được giúp cho việc lập dự toán thu NSNN năm kế hoạch được tốt hơn
Nguồn thu NSNN cấp huyện đuợc quy định cụ thể tùy theo đặc điểm của từng địa phương, do HĐND tỉnh quy định trong từng giai đoạn Về cơ bản nguồn thu của NSNN cấp huyện bao gồm 3 nguồn thu chính:
+ Các khoản thu ngân sách huyện hưởng 100%
+ Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách cấp tỉnh
và ngân sách huyện
+ Thu bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh
2.1.3.2 Chấp hành dự toán thu NSNN cấp huyện
- Các cơ quan tài chính, thuế, hải quan, kho bạc và cơ quan khác được Chính phủ cho phép, hoặc được Bộ Tài chính ủy quyền (gọi chung là cơ quan thu) được tổ chức thu ngân sách nhà nước Cơ quan thu phải sử dụng chứng từ theo quy định của Bộ Tài chính để thực hiện thu, nộp ngân sách Cơ quan thu các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp ngân sách phải nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản phải nộp vào ngân sách nhà nước
- Toàn bộ các khoản thu ngân sách phải được nộp trực tiếp vào Kho bạc nhà nước Trừ trường hợp đặc biệt như: một số khoản thu phí, lệ phí, thu thuế đối với hộ kinh doanh không cố định, thu ngân sách ở địa bàn xã vì lý do khách quan
mà việc nộp trực tiếp vào Kho bạc nhà nước có khó khăn thì cơ quan thu được phép tổ chức thu trực tiếp, nhưng phải nộp đầy đủ, đúng thời hạn vào Kho bạc nhà nước theo quy định của Bộ Tài chính Nguyên tắc này có ý nghĩa sau:
Trang 27+ Tập trung nhanh, kịp thời các khoản thu về cho NSNN;
+ Nâng cao ý thức trách nhiệm của người có nghĩa vụ thu - nộp;
+ Hạn chế, ngăn ngừa những tiêu cực, có thể xảy ra trong qúa trình thu - nộp NSNN (làm thất thoát tiền đã thu, sử dụng công quỹ vào mục đích cá nhân )
- Mọi khoản thu NSNN được hạch toán bằng đồng Việt Nam, chi tiết theo niên độ ngân sách, cấp ngân sách và mục lục NSNN Các khoản thu NSNN bằng ngoại tệ, bằng hiện vật, bằng ngày công lao động được quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá hạch toán ngoại tệ do Bộ Tài chính quy định, hoặc giá hiện vật, giá ngày công lao động được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định để hạch toán thu ngân sách tại thời điểm phát sinh
- Các khoản thu NSNN được phân chia cho ngân sách các cấp ở địa phương theo đúng tỷ lệ phần trăm (%) phân chia do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định đối với các khoản thu
- Các khoản thu không đúng chế độ phải được hoàn trả cho đối tượng nộp Các khoản thu đã tập trung vào NSNN, nhưng được miễn giảm hoặc hoàn trả, KBNN hoàn trả cho các đối tượng nộp theo đề nghị của cơ quan tài chính Quy trình, thủ tục, các hồ sơ cần thiết khi thu, nộp, miễn, giảm, hoàn trả các khoản thu NSNN phải được thông báo và niêm yết công khai tại cơ quan thu và KBNN nơi giao dịch trực tiếp với đối tượng nộp
- Các trường hợp vi phạm chế độ quy định về thu nộp NSNN như: kê khai, tính thuế sai; che dấu nguồn thu; trì hoãn hoặc không nộp đầy đủ khoản phải nộp NSNN; thu sai chế độ quy định; miễn giảm không đúng thẩm quyền; chiếm dụng, giữ lại nguồn thu của NSNN sai chế độ; hạch toán sai chế độ kế toán thống kê, không đúng mục lục NSNN, phân chia sai nguồn thu và tỷ lệ phân chia giữa ngân sách các cấp; sử dụng hoá đơn, chứng từ không hợp pháp, đều là những hành vi vi phạm pháp luật về ngân sách Căn cứ vào tính chất và mức độ
vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật
Trang 282.1.3.3 Quyết toán thu NSNN cấp huyện
Quyết toán thu NSNN là khâu cuối cùng trong chu trình quản lý thu NSNN Thông qua quyết toán thu NSNN cho thấy bức tranh toàn cảnh về hoạt động kinh
tế - xã hội cũng như kết quả đạt đuợc, các tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại hạn chế trong việc quản lý thu NSNN trên địa bàn huyện trong năm Quyết toán thu NSNN thực hiện các việc sau:
- Soát xét, kiểm tra tình hình thực hiện dự toán thu NSNN thông qua số liệu
kế toán, báo cáo kế toán tài chính của các đơn vị dự toán
- Phê duyệt quyết toán và tổng quyết toán thu NSNN theo báo cáo đã được
cơ quan kiểm toán Nhà nước kiểm toán
Báo cáo, quyết toán thu NSNN: Việc báo cáo định kỳ tình hình thu NSNN, báo cáo kế toán, quyết toán thu NSNN của ngân sách các cấp được lập theo đúng mẫu biểu, mục lục NSNN và thời hạn quy định của Bộ Tài chính
Quyết toán thu NSNN và báo cáo quyết toán thu ngân sách phải bảo đảm các nguyên tắc sau:
+ Số liệu quyết toán thu NSNN: Số quyết toán thu NSNN là số liệu thu đã thực hạch toán thu qua Kho bạc nhà nước
+ Số liệu trong báo cáo quyết toán thu ngân sách phải chính xác, trung thực, đầy đủ
+ Báo cáo quyết toán thu NSNN năm của đơn vị dự toán cấp dưới gửi đơn
vị dự toán cấp trên, đơn vị dự toán cấp I gửi Phòng Tài chính huyện
+ Báo cáo quyết toán năm gửi cấp có thẩm quyền để thẩm định, phê duyệt phải có xác nhận của Kho bạc Nhà nước huyện về tổng số và chi tiết
+ Kho bạc Nhà nước huyện có trách nhiệm tổng hợp số liệu quyết toán gửi Phòng Tài chính huyện để lập báo cáo quyết toán
2.1.3.4 Kiểm tra, đánh giá quản lý thu ngân sách nhà nước
Kiểm tra công tác lập và phân bổ dự toán thu: những căn cứ xây dựng dự toán thu; việc tuân thủ trình tự, thủ tục lập, thẩm tra và phê duyệt dự toán; sự hợp
lý trong các chỉ tiêu dự toán thu ngân sách;
Trang 29Công tác quản lý, điều hành dự toán: việc tổ chức điều hành kế hoạch thu quý, tiến độ thực hiện thu; việc đề ra và tổ chức thực hiện các giải pháp, biện pháp trong quản lý thu, điều chỉnh dự toán thu; việc thực hiện các chỉ đạo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về tổ chức thu ngân sách;
Công tác quản lý các khoản thu ngân sách ở địa phương do Sở Tài chính trực thuộc tỉnh, Phòng tài chính-Kế hoạch trực thuộc huyện, trực tiếp quản lý: thu
sự nghiệp, các khoản thu chuyển nguồn từ năm trước sang, các khoản tạm thu ngân sách, các khoản vay, phát hành công trái, xử lý tạm giữ tài sản, hàng hóa, thanh lý tài sản công; việc điều chỉnh các khoản thu ngân sách trong thời gian chỉnh lý quyết toán, ;
Việc tổ chức công tác hạch toán kế toán ngân sách; hạch toán các tài khoản tạm thu, tạm giữ, tài khoản tiền gửi của các đơn vị dự toán, các khoản thu
do Sở Tài chính (ở tỉnh); Phòng tài chính-Kế hoạch (ở huyện) trực tiếp quản lý; hạch toán các khoản thu và việc điều chỉnh báo cáo thu ngân sách trong thời gian chỉnh lý quyết toán; việc tổng hợp số liệu quyết toán thu ngân sách; Đánh giá bước đầu về tính đúng đắn, trung thực của báo cáo thu ngân sách nhà nước, việc thực hiện tỷ lệ điều tiết giữa các cấp ngân sách do Kho bạc nhà nước lập;
Công tác kế toán và quyết toán: việc tổ chức công tác kế toán, công tác tổng hợp, lập và phê duyệt báo cáo quyết toán thu ngân sách Kiểm tra, đánh giá tính đúng đắn, trung thực của số liệu kế toán
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu ngân sách nhà nước cấp huyện
2.1.4.1 Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
Toàn bộ nền kinh tế quốc dân chính là nguồn thu của NSNN Thu của NSNN được lấy từ nhiều nguồn khác nhau, cả trong và ngoài nước, từ mọi lĩnh vực hoạt động khác nhau, cả sản xuất, lưu thông và phân phối Bởi vậy, thu NSNN luôn gắn chặt với kết quả của hoạt động kinh tế trong nước và sự vận động của các phạm trù giá trị khác như: giá cả, thu nhập, lãi suất, Kết quả của các hoạt động kinh tế trong nước được đánh giá bằng các chỉ tiêu chủ yếu như: mức tăng trưởng GDP, tỷ suất doanh lợi của nền kinh tế Đó là các nhân tố khách quan quyết định mức động viên của NSNN Sự vận động của các phạm trù
Trang 30giá trị khác vừa có tác động đến sự tăng giảm mức động viên của NSNN, vừa đặt
ra yêu cầu sử dụng hợp lý các công cụ thu của NSNN để điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội cho phù hợp với sự biến động của các phạm trù giá trị
Như vậy, trong tổng thu của NSNN phải coi trọng nguồn thu trong nước là chủ yếu, mà quan trọng hơn cả là nguồn của cải mới được sáng tạo ra trong các ngành sản xuất, dịch vụ
Thu nhập của NSNN có thể được huy động từ nền kinh tế bằng nhiều hình thức khác nhau, có bắt buộc, có tự nguyện, có hoàn trả và không hoàn trả, ngang giá và không ngang giá, nhưng nét đặc trưng là luôn gắn liền với quyền lực chính trị của nhà nước, thể hiện tính cưỡng chế bằng hệ thống luật lệ do nhà nước quy định và mang tính không hoàn trả là chủ yếu Mặc dù vậy, do có sự tác động ngược trở lại nền kinh tế của việc thu NSNN, mà sự cưỡng chế thu này phải đặt trong sự phù hợp với tăng trưởng phát triển, nhằm mang lại hiệu quả cao nhất Ý nghĩa thực tiễn của việc nhận thức đầy đủ đặc điểm này là ở chỗ, việc sử dụng các hình thức và phương pháp động viên của NSNN đòi hỏi phải xem xét đến tính chất đặc điểm của các hoạt động kinh tế - xã hội và yêu cầu phát huy vai trò đòn bẩy của các công cụ tài chính trong phân phối lại các nguồn tài chính phù hợp với tình hình, đặc điểm của từng thời kỳ phát triển xã hội
Do đó, để tăng thu cho NSNN, về lâu dài, con đường chủ yếu là phải nâng cao trình độ phát triển, tìm cách mở rộng sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất của nền kinh tế
Đối với công tác thu NSNN của một tỉnh, thành phố, nhân tố quyết định tới nguồn thu NSNN trên địa bàn cơ bản vẫn là thực trạng phát triển của kinh tế trong phạm vi lãnh thổ Tuy nhiên, khác với NSNN, nguồn thu trên địa bàn tỉnh còn chịu sự tác động của phạm vi địa giới, những chính sách, quy định riêng và nhiều đặc điểm khác Chẳng hạn, tuy sự hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp không nằm trên địa bàn, nhưng trụ sở doanh nghiệp nằm trên phạm
vi lãnh thổ tỉnh cũng mang lại nguồn thu theo quy định, và do đó, nguồn thu này không gắn với sự tăng trưởng kinh tế trên địa bàn Vì lý do trên, khi xem xét sự tác động của nhân tố tăng trưởng nền kinh tế trên địa bàn tới nguồn thu NSNN
Trang 31phải loại bỏ các tác nhân đó
Có thể khẳng định, nhân tố tăng trưởng kinh tế vừa là nguồn để thu NSNN lại vừa là đối tượng tác động của các chính sách thu Nhận thức đầy đủ sự ảnh hưởng của nhân tố này, trong công tác thu, phải tránh tình trạng thu theo chủ quan, thu tách rời thực trạng tăng trưởng của nền kinh tế, phải đặt lợi ích kinh tế lên hàng đầu, thực hiện thu phải tạo được điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế
2.1.4.2 Chính sách phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là việc xử lý các mối quan hệ giữa các cấp chính quyền nhà nước từ trung ương đến địa phương trong hoạt động của ngân sách nhà nước, từ đó cho phép hình thành một cơ chế phân chia ranh giới quyền lực
về quản lý ngân sách nhà nước giữa các cấp chính quyền Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi là một nội dung quan trọng trong cơ chế phân cấp quản lý ngân sách nhà nước, nhằm quản lý thống nhất hệ thống NSNN bằng việc phân công trách nhiệm gắn với quyền hạn, phân cấp quản lý giữa các ngành, các cấp trong việc thực hiện thu, chi NSNN phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Chính sách phân cấp quản lý NSNN hợp lý không chỉ đảm bảo phương tiện tài chính cho việc duy trì phát triển hoạt động của các cấp chính quyền nhà nước từ trung ương đến các địa phương mà còn tạo điều kiện phát huy được các lợi thế nhiều mặt của từng vùng từng địa phương trong cả nước Nó cho phép quản lý và kế hoạch hoá ngân sách nhà nước tốt hơn, điều chỉnh mối quan hệ giữa các cấp chính quyền cũng như mối quan hệ giữa các cấp ngân sách để phát huy vai trò là công cụ điều chỉnh vĩ mô ngân sách nhà nước
Cơ chế phân cấp quản lý ngân sách nhà nước có tác động quan trọng đến hoạt động điều hành vĩ mô nền kinh tế của nhà nước thông qua chính sách tài khoá, vì mức độ phân cấp giữa trung ương và địa phương có tác động lớn đối với mục tiêu điều chỉnh kinh tế bằng chính sách tài khoá của nhà nước Chính sách tài khoá là công cụ quan trọng nhất trong tay nhà nước để điều hành kinh tế vĩ mô Chủ trương và định hướng thu, chi ngân sách nhà nước theo hướng “nới lỏng” hay
“thắt chặt” là những biện pháp cốt yếu của chính phủ để ứng phó với những diễn biến của nền kinh tế nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng, ổn định và phát triển
Trang 32bền vững Nếu mức độ phân cấp tập trung về phía trung ương lớn thì quá trình điều chỉnh được thực thi nhanh hơn và ngược lại nếu mức độ phân cấp tập trung về phía địa phương nhiều hơn sẽ dẫn đến thời gian điều chỉnh chậm hơn bởi vì khi địa phương được phân cấp mạnh thì quyền hạn trong thu, chi ngân sách địa phương được mở rộng và linh hoạt hơn Chính vì vậy cần xây dựng một phương án phân cấp hợp lý để vừa đảm bảo thực hiện được mục tiêu của chính sách tài khoá, phát huy tính năng động sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền các cấp, nhằm phục vụ tốt nhất nhiệm vụ phát triển kinh tế
2.1.4.3 Cơ chế chính sách về các khoản thu nộp Ngân sách nhà nước
Thu ngân sách có thể lấy về từ nhiều nguồn, dưới nhiều hình thức, nhưng nét đặc trưng là luôn gắn liền với quyền lực chính trị của nhà nước, thể hiện tính cưỡng chế và mang tính không hoàn trả là chủ yếu Đối tượng thu là mọi lĩnh vực, mọi thành phần trong nền kinh tế Các luật do nhà nước quy định về nguồn thu và tổ chức quản lý thu là căn cứ cho quá trình động viên vào ngân sách Các quy định về nguồn thu bao gồm các luật thuế, các quy định về phí, lệ phí, về bán tài nguyên, tài sản quốc gia, về các doanh nghiệp nhà nước
Yêu cầu đối với các chính sách huy động nguồn thu ngân sách là phải đảm bảo tập trung một bộ phận nguồn lực tài chính quốc gia vào tay nhà nước để trang trải các khoản chi phí cần thiết cho việc vận hành bộ máy cũng như thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Đồng thời đảm bảo khuyến khích, thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo nguồn thu ngày càng lớn Đặc biệt, coi trọng yêu cầu công bằng xã hội, điều tiết thu nhập giữa các thành phần trong nền kinh tế Trước những yêu cầu đó, hệ thống pháp luật trong lĩnh vực thu ngân sách được xây dựng dựa trên những tiêu chí nhất định
Thứ nhất, đó là nhu cầu chi tiêu của chính phủ Tùy thuộc chức năng,
nhiệm vụ mà nhà nước đảm nhận, quy mô của hệ thống bộ máy nhà nước, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển, quan điểm phát triển, mà hình thành nên nhu cầu chi tiêu thường xuyên, chi cho đầu tư phát triển và chi cho các vấn đề xã hội của mỗi quốc gia
Thứ hai, đó là khả năng tạo ra nguồn thu ngân sách của nền kinh tế Khả
Trang 33năng này này thể hiện qua nhiều tiêu chí, ví dụ như: Mức thu nhập GDP bình quân đầu người; tỷ suất doanh lợi của nền kinh tế; khả năng khai thác và xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên; tỷ lệ tiết kiệm của khu vực tư nhân để đầu tư
Việc căn cứ trên nhu cầu chi tiêu và khả năng tạo nguồn thu của nền kinh
tế chính là khắc phục tư tưởng thu đơn thuần, thu thoát ly thực trạng kinh tế Căn
cứ trên hai tiêu chí này, đòi hỏi việc xây dựng hệ thống pháp lý để huy động các nguồn tài chính vào NSNN phải luôn luôn phân tích, đánh giá thực trạng kinh tế, thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh Từ đó để ra các chính sách, chế độ, biện pháp chỉ đạo thu thích hợp Không vì yêu cầu đảm bảo nhu cầu trang trải các khoản chi phí của nhà nước mà gia tăng các khoản thu một cách phi thực tế, gây cản trở cho hoạt động sản xuất kinh doanh, làm hạn chế nguồn thu NSNN trong tương lai Xây dựng hệ thống pháp lý trong lĩnh vực thu ngân sách phải coi mục tiêu bồi dưỡng nguồn thu làm mục tiêu có tích chất quyết định đến sự ổn định và phát triển của thu ngân sách
Thứ ba, đó là căn cứ trên quan điểm của nhà nước về công bằng xã hội Thu
NSNN xét ở một góc độ nào đó là sự phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân
cư thông qua bộ máy quyền lực của nhà nước Sự phân phối đó là cần thiết cả về khía cạnh kinh tế và khía cạnh xã hội Tuy vậy, sự phân phối đó cũng luôn chứa đựng trong nó những mâu thuẫn về mặt lợi ích Một sự động viên thiếu công bằng
sẽ khoét thêm những mâu thuẫn đó Khi mức độ mâu thuẫn đạt đến cực điểm sẽ bùng nổ những cuộc đấu tranh xã hội làm phương hại đến tính ổn định và phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia Chính vì lẽ đó, huy động nguồn tài chính vào ngân sách phải luôn luôn coi trọng khía cạnh công bằng xã hội Nó đòi hỏi việc tổ chức động viên phải bám sát khả năng đóng góp của người dân theo nguyên tắc công bằng ngang và dọc Đối với mỗi quốc gia, quan điểm về sự công bằng xã hội có những khác biệt nhất định, cho nên tùy thuộc những quan điểm riêng đó mà cơ chế, chính sách thu cũng có những nét đặc trưng riêng
Qua những phân tích trên đây, có thể khẳng định kết quả thu NSNN phụ thuộc rất lớn vào hệ thống pháp lý trong lĩnh vực thu Đây là nhân tố vừa mang tính chủ quan vừa mang tính khách quan Mang tính chủ quan là ở chỗ, nhà nước
Trang 34chính là chủ thể ra các quyết định này Còn khách quan là ở chỗ, hệ thống pháp luật được xây dựng trong mối quan hệ chặt chẽ với nhân tố “thực trạng nền kinh tế” đã phân tích ở trên, nhằm xác lập một hệ thống chính sách thu đồng bộ, phù hợp đảm bảo lợi ích lâu dài
Tuy nhiên, trong ngắn hạn, do được nghiên cứu kỹ và xây dựng có hệ thống, có tính chất lâu dài, nên sự tác động của nhân tố này tới thực trạng thu
cũng như những vần đề còn tồn tại trong công tác thu ngân sách là không nhiều
2.1.4.4 Bộ máy tổ chức thu ngân sách
Đây là quá trình thực hiện, cụ thể hoá các cơ chế, chính sách thu đối với nền kinh tế Quá trình này quyết định số thu thực tế mà NSNN huy động được, đồng thời cho phép nhìn nhận lại các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, chính sách thu ngân sách, từ đó đưa ra các điều chỉnh, biện pháp tổ chức thu thích hợp Đây chính là yếu tố quan trọng, tác động lớn tới thực tế kết quả thu ngân sách Thu không đúng tiềm năng, thất thu chủ yếu là do sự tác động của nhân tố này Bao gồm yếu tố: tổ chức bộ máy thu, tổ chức giám sát, thanh tra kiểm tra, phương tiện thông tin, kỹ thuật, và rất quan trọng nữa là yếu tố con người, năng lực và đạo đức cán bộ
Bộ máy quản lý thu ngân sách vừa là chủ thể chi phối công tác thu lại vừa chính là đối tượng của quá trình quản lý Bản thân bộ máy quản lý thu NSNN cũng là đối tượng thụ hưởng, tiêu dùng nguồn tài chính huy động được Vì thế, xác lập, tổ chức bộ máy quản lý thu ngân sách phải vừa đảm bảo đạt kết quả công tác thu vừa phải gọn nhẹ, hợp lý
Việc xây dựng bộ máy quản lý thu NSNN phải căn cứ vào sự hình thành
hệ thống các cấp chính quyền và quá trình thực hiện phân cấp quản lý kinh tế - xã hội các cơ quan nhà nước Quá trình hình thành hệ thống chính quyền các cấp là một tất yếu khách quan của mọi thể chế chính trị, nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trên mọi vùng lãnh thổ Sự ra đời của hệ thống chính quyền nhiều cấp là tiền đề cần thiết xuất hiện hệ thống NSNN nhiều cấp Phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy quản lý nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hệ thống ngân sách nước ta gồm ngân sách trung ương và ngân sách các
Trang 35cấp chính quyền địa phương
Để đảm bảo công tác thu đạt hiệu quả, tổ chức bộ máy phải đảm bảo một số những yêu cầu nhất định Thứ nhất, phải đảm bảo thống nhất, tập trung dân chủ Tức là phải làm sao để vừa phát huy được sức mạnh sáng tạo của mọi cấp vừa đảm bảo thống nhất, tập trung nguồn lực quốc gia Yêu cầu này đòi hỏi việc phân chia trách nhiệm, quyền hạn trong quản lý thu ngân sách phải rõ ràng, mang lại hiệu quả cao nhất Chính quyền các cấp có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, điều chỉnh, đảm bảo thực hiện nghiêm túc các chính sách, chế độ thu ngân sách Thứ hai, tổ chức bộ máy thu ngân sách phải đảm bảo kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ, tức là phải phát huy tính tích cực sáng tạo của địa phương trên cơ sở có tính đến nét đặc trưng của từng ngành Những nét đặc thù của ngành, những điều kiện đặc trưng riêng của từng địa phương đòi hỏi phải có sự khác biệt trong tổ chức nhất định, nhằm đạt hiệu quả thu cao nhất Chuyên môn hóa theo ngành đảm bảo việc quản lý thu theo nguồn hình thành phù hợp đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của từng lĩnh vực Tổ chức quản lý thu theo phân cấp chính quyền đảm bảo phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của từng địa phương, đồng thời nâng cao hiệu quả thu nhờ hiểu biết, sát thực tình hình kinh tế trong phạm vi lãnh thổ của địa phương đó Ngoài ra, tổ chức thu tốt cũng còn thể hiện ở việc nhiệm vụ và quyền hạn được giao phù hợp cho từng bộ phận Điều này sẽ đảm bảo tính khả thi trong công tác thu ngân sách
Một cách thức tổ chức khoa học, sự phân cấp quản lý phù hợp sẽ là tiền đề đảm bảo hiệu quả công tác thu Điều đó cũng đồng nghĩa việc tổ chức quản lý quyết định đến kết quả thu có đúng như mong đợi hay không
2.1.4.5 Phương tiện phục vụ cho công tác thu
Đối với công nghệ, phương tiện thông tin phục vụ cho việc quản lý thu ngân sách nhà nước, giám sát, thanh tra, kiểm tra là yếu tố tác động không nhỏ tới kết quả thu ngân sách ngân sách nhà nước Cơ chế, chính sách thu không, hoặc ít
có những thay đổi, trong khi tình hình kinh tế - xã hội vận động và biến đổi hàng ngày Trong hoàn cảnh đó, kỹ thuật công nghệ đóng vai trò quan trọng giúp việc quản lý thu ngân sách nhà nước theo sát thực tế, thu đúng, thu đủ Trong thời đại
kỹ thuật số ngày nay, các quan hệ kinh tế diễn ra ngày càng phức tạp, trình độ gian
Trang 36lận thuế, các thủ thuật trốn thuế cũng ngày càng tinh vi, yếu tố thông tin, kỹ thuật rất cần được chú trọng Hiệu quả của công tác thu ngân sách nhà nước, kết quả của việc chống trốn và gian lận thuế bị tác động nhiều ở yếu tố này
2.1.4.6 Năng lực của đội ngũ cán bộ
Hoạt động quản lý, hoạt động kinh tế nói chung và công tác thu ngân sách nói riêng nhân tố con người có ý nghĩa quyết định Nhân tố con người được xem xét trên hai khía cạnh: năng lực và đạo đức Dù có cơ chế chính sách tốt, có cách thức tổ chức phù hợp, nhưng nếu cán bộ không hội đủ chuyên môn, công tác thu cũng không thể hoàn thành tốt được Những hành vi trốn thuế, gian lận thuế là những hành động ở thế chủ động, trong khi công việc phòng chống lại luôn ở thế bị động Do vậy, để thực hiện tốt công việc của mình, các cán bộ chuyên trách rất cần có năng lực cao Tuy nhiên, trên thực tế, gây tác hại nhiều hơn tới kết quả thu ngân sách lại không phải chủ yếu do năng lực cán bộ yếu Vấn đề bức xúc từ xưa đến nay vẫn là đạo đức cán bộ Việc quản lý một khối lượng lớn nguồn tài chính quốc gia đã tạo cơ hội cho những cán bộ tha hóa, biến chất vi phạm pháp luật Lợi ích cá nhân luôn là động cơ thúc đẩy các hành vi vi phạm pháp luật, để các cán bộ thu ngân sách bắt tay với đối tượng thu, gây phương hại đến lợi ích quốc gia Bởi vậy, nhân tố con người có tác động lớn tới kết quả thu ngân sách
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm trong quản lý thu Ngân sách nhà nước ở một số quốc gia trên thế giới
2.2.1.1 Kinh nghiệm của Thái Lan
Thái Lan là một nước trong khu vực Đông Nam Á, diện tích 513.115 km2 ; dân số khoảng 63 triệu người Thái Lan tổ chức quản lý đất nước theo mô hình
‘Tam quyền phân lập‘ Hệ thống chính quyền được tổ chức như sau: Cấp trung ương (gồm văn phòng nội các, 20 bộ chuyên ngành; quỹ trung ương; các đơn vị theo quy định của Hiến Pháp ); cấp địa phương: cấp tỉnh (Băng kok và Patrayjia hưởng quy chế riêng); cấp đô thị, cấp xã
Ngân sách địa phương ở Thái Lan do hội đồng dân cư địa phương quyết định trên cơ sở các chính sách kinh tế tài chính của trung ương và phù hợp với kế
Trang 37hoạch tài chính trung hạn Mô hình ngân sách của Thái Lan là mô hình ‘không lồng ghép’ Nghĩa là ngân sách của một cấp không tổng hợp từ ngân sách cấp dưới ; về kết cấu ngân sách địa phương gồm 2 phần: phần 1 – được sử dụng theo chế độ, chính sách của địa phương; phần 2 – được sử dụng không theo các quy định của địa phương Hội đồng dâ cư địa phương thông qua các khoản thu, chi trong từng liên độ thuộc thẩm quyền quyết định của địa phương Đến nay có khoảng 35% nguồn thu ngân sách đã được giao cho địa phương Ở Thái Lan còn
áp dụng nhiều hình thức trợ cấp ngân sách cho các địa phương; trợ cấp không mục tiêu; trợ cấp chung; trợ cấp đặc biệt
Ở trung ương quá trình dự toán ngân sách được bắt đầu từ tháng 11 Quá trình lập, phân bổ ngân sách ở Thái Lan bao gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị
và xây dựng dự toán ngân sách (từ tháng 11 hàng năm đến tháng 6 năm sau); giai đoạn thảo luận và thông qua dự toán ngân sách (tháng 6 đến tháng 9 trong năm); Giai đoạn điều chỉnh ngân sách (trong tháng 9)
Quy trình và lập bổ sung ngân sách địa phương cũng được tiến hành tương
tự như ở Trung ương và được tiến hành song song với Trung ương (Dương Đăng Ninh, 2007)
2.2.1.2 Kinh nghiệm của Malaysia
Malaysia là nước đang phát triển trong cùng khu vực và có nhiều đặc điểm kinh tế, tự nhiên tương đồng với Việt Nam và là nhà nước Liên Bang Hệ thống ngân sách nhà nước của Malaysia bao gồm 3 cấp là:
- Ngân sách liên bang
- Ngân sách bang
- Ngân sách của chính quyền địa phương
Ngân sách liên bang, ngân sách bang do Quốc hội xem xét; quyết định và quyết định phần trợ cấp cho ngân sách địa phương Trong quá trình thực hiện, phát sinh các nhu cầu về khả năng thu, chi có ảnh hưởng tới dự toán đều phải được đưa ra xin ý kiến Quốc hội, do đó ngân sách được xây dựng chặt chẽ và điều hành rất nghiêm ngặt Ngân sách các cấp chính quyền địa phương do chính quyền địa phương đó quyết định, phải đảm bảo nguyên tắc cân đối thu, chi
Trang 38Việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách cho địa phương được thực hiện thông qua hệ thống pháp luật liên bang và bang
Nguồn thu ngân sách liên bang bao gồm các khoản thuế trực thu (thuế thu nhập dân cư, thuế thu nhập công ty, thuế thu nhập từ dầu lửa, thuế phát triển); thuế gián thu (thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu, thuế VAT, thuế hàng hóa đặc biệt) các khoản thu có tính chất thuế như thuế tài nguyên, phí cấp phép, thu dịch vụ
Nguồn thu của các bang và các cấp trực thuộc bang không giống nhau, mỗi bang có một nguồn thu riêng Các bang căn cứ vào Hiến pháp của bang được
tự quyết định một số loại thuế và các khoản thu của cấp trực thuộc bang Nhìn chung nguồn thu của bang và cấp trực thuộc bang là các nguồn thu nhỏ, hạn hẹp
Theo quy định của Hiến pháp liên bang, không có khoản thu phân chia
giữa liên bang, bang và các cấp trực thuộc bang (Dương Đăng Ninh, 2007) 2.2.1.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Hệ thống ngân sách nhà nước của Trung Quốc được chia thành ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương Ngân sách các cấp ở địa phương bao gồm:
- Ngân sách tỉnh (khu tự trị, thành phố trực thuộc)
- Ngân sách thành phố trực thuộc tỉnh (Châu tự trị)
- Ngân sách huyện (huyện tự trị)
- Ngân sách xã (thị trấn)
Về ngân sách: theo quy định của Hiến pháp, mỗi cấp chính quyền là một
cấp ngân sách các cấp ngân sách ở Trung Quốc được thống nhất chỉ đạo và phân cấp quản lý trên cơ sở thống nhất về chính sách, chế độ và kế hoạch dự toán của trung ương, cho phép ngân sách các cấp ở địa phương được thực hiện quyền điều chỉnh dự toán, quyền sử dụng linh hoạt các nguồn lực tài chính, quyền thi hành
những biện pháp tài chính cụ thể phù hợp với tình hình của địa phương
Về phân cấp nguồn thu:
+ Các khoản thu 100% của ngân sách trung ương bao gồm: thuế thu nhập doanh nghiệp trung ương quản lý, thuế thu nhập của các ngân hàng, thuế doanh thu của ngành đường sắt, bảo hiểm, thuế tiêu thụ đặc biệt
Trang 39+ Các khoản thu 100% của ngân sách địa phương bao gồm thuế thu nhập doanh nghiệp của đia phương quản lý, thuế thu nhập cá nhân, thuế sử dụng đất, thuế giao dịch chứng khoán, thuế đặc sản nông nghiệp, thuế sát sinh, thuế hợp đồng
+ Các khoản phần chia giữa trung ương và địa phương bao gồm thuế VAT – trung ương 75%, địa phương 25%; thuế tài nguyên
Với phương pháp phân định này, Trung Quốc thực hiện theo nguyên tắc
‘4/6’ có nghĩa là ngân sách trung ương kiểm soát ít nhất 60% tổng thu ngân sách nhà nước, 40% (trong số 60% ngân sách trung ương được hưởng) được chi ở cấp trung ương, còn lại 20% phần bổ cho ngân sách địa phương theo hình thức trợ cấp
Trung Quốc lập quỹ hỗ trợ ngân sách trung ương đối với các địa phương Nguồn hình thành quỹ này được trích một phần trong số thu về ngân sách trung ương Ngân sách trung ương hỗ trợ cho ngân sách địa phương bằng nhiều hình thức như hỗ trợ chung, hỗ trợ có mục tiêu, bổ sung cho ngân sách địa phương Hình thức bổ sung (trợ cấp) nhằm giúp cho các địa phương không có khả năng cân đối được thu, chi Hỗ trợ có mục tiêu nhằm khuyến khích các địa phương phát triển những lĩnh vực chung của đất nước
Trong trường hợp bị mất khả năng cân đối thu, chi, ngân sách địa phương chủ yếu thực hiệ điều chỉnh lại các khoản thu chi thuộc cấp mình quản lý Nếu trong phạm vi điều chỉnh vẫn không có khả năng cân đối được thì sẽ nhận được trợ cấp từ ngân sách cấp trên Ngân sách trung ương khi mất khả năng cân đối thu, chi có thể thực hiện bằng các hình thức vay nợ trong nước và ngoài nước
(Dương Đăng Ninh, 2007)
2.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương
2.2.2.1 Kinh nghiệm của huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
Tổng thu NSNN trên địa bàn Tiền Hải năm 2013 ước đạt 847.388 triệu đồng, bằng 195% dự toán tỉnh giao và bằng 134% dự toán HÐND huyện giao, tăng 7% so với năm 2012 Trong đó, thu ngân sách huyện đạt 555.817 triệu đồng, đạt 156% dự toán của huyện Nếu loại trừ các khoản thu chuyển nguồn, thu bổ sung từ ngân sách cấp trên, thu kết dư và thu ghi thu, ghi chi tiền thuê đất, thì số thu thực tại trên địa bàn có tiến bộ và kết quả vượt trội
Trang 40Năm 2013 cũng là năm toàn huyện Tiền Hải đẩy nhanh tiến độ xây dựng
cơ bản nông thôn mới nên trên địa bàn một số xã có từ 2 - 3 công trình xây dựng
Ðể thu được thuế xây dựng cơ bản vãng lai, ngành Tài chính, ngành Thuế, Phòng Kinh tế và Hạ tầng, Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới cùng các ngành liên quan khác đã phối hợp nhịp nhàng, do vậy số thuế ở lĩnh vực này thu về NSNN cũng đạt cao nhất từ trước tới nay
Kết quả thu thuế ngoài quốc doanh cũng mang lại con số cao nhất từ trước tới nay (46.208 triệu đồng), đạt 131% dự toán của huyện Các loại thu NSNN từ trước bạ chuyển nhượng, phí lệ phí, tiền thuê đất, thu biện pháp tài chính, ngay từ đầu năm huyện đã tập trung chỉ đạo nên số thu cao, tỷ lệ vượt dự toán khá Góp phần vào tổng thu NSNN cấp huyện, 35 xã, thị trấn năm 2013 đạt hơn 291 tỷ đồng Trừ nguồn thu lớn nhất là trợ cấp ngân sách từ trên đưa về, các xã đều cố gắng tạo nguồn, quản lý và khai thác triệt để nguồn thu, nên cũng đạt ở mức cao
Nguyên nhân thu NSNN năm 2013 có kết quả nêu trên được huyện Tiền Hải rút ra: Căn cứ dự toán thu NSNN tỉnh giao, năm 2013 là năm huyện đã chủ động xây dựng dự toán và giao sớm hơn so với các năm trước đây để các ngành
và các địa phương xây dựng dự toán và các chương trình hành động Từ công tác đôn đốc, kiểm soát chi cũng được tăng cường qua nhiều khâu
Phòng Tài chính huyện, một mặt tăng cường cán bộ giám sát, mặt khác thường xuyên bồi dưỡng kiến thức cho xã có cán bộ tài chính còn yếu nghiệp vụ, đạt 100% cán bộ tài chính ở cấp xã, thị trấn qua đào tạo Huyện còn cung cấp phần mềm để cán bộ tài chính xã thực hiện công tác kế toán, hạch toán ngân sách Ngành Thuế cũng thông qua nghiệp vụ quản lý thuế để bồi dưỡng kiến thức thu, chi ngân sách xã Kho bạc thông qua vai trò giám sát chi ngân sách xã và kiểm soát vốn xây dựng cơ bản nâng cao trình độ cho cán bộ tài chính các xã
Ðể hoàn thành dự toán thu NSNN, Tiền Hải đã xây dựng nhiều giải pháp thực hiện: tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về các lĩnh vực thuế,
kế toán, quản lý sản xuất - kinh doanh Trong thời gian chuẩn bị giao thuế môn bài, ngành Thuế cùng các địa phương tăng cường rà soát lại các nguồn thu