BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VN VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VN --- BÙI VĂN KIÊN NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ SINH THÁI ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN BIẾN MẬT ĐỘ RẦY LƯNG
Trang 1BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VN VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VN
-
BÙI VĂN KIÊN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ SINH THÁI ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN BIẾN MẬT ĐỘ RẦY LƯNG TRẮNG
Sogatella furcifera Horvath (Homoptera: Delphacidae) HẠI
LÚA TẠI VỤ BẢN, NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Trang 2BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VN VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VN
-
BÙI VĂN KIÊN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ SINH THÁI ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN BIẾN MẬT ĐỘ RẦY LƯNG TRẮNG
Sogatella furcifera Horvath (Homoptera: Delphacidae) HẠI
LÚA TẠI VỤ BẢN, NAM ĐỊNH
Chuyên ngành : Bảo vệ thực vật
Mã số : 60.62.01.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:
TS Nguyễn Văn Liêm
Trang 3
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô trong Ban Đào tạo sau Đại học - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành học tập chương trình cao học cũng như hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với sự quan tâm của thầy giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ nhiệt tình và động viên của lãnh đạo Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Nam Định cũng như tập thể Trạm Bảo vệ thực vật huyện
Vụ Bản.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn
Bùi Văn Kiên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, chưa được sử dụng và công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Bùi Văn Kiên
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa……….i
Lời cảm ơn……… ……….ii
Lời cam đoan……… ….iii
Mục lục……… iv
Danh mục ký hiệu và chữ viết tắt……… … vii
Danh mục bảng……… …viii
Danh mục hình……… ix
MỞ ĐẦU……… ….… 1
1 Tính cấp thiết của đề tài……….1
2 Mục tiêu và yêu cầu……… 3
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn……… ………3
3.1 Ý nghĩa khoa học………3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn……… …….3
4 Đối tượng, địa điểm và phạm vi nghiên cứu của đề tài……….3
4.1 Đối tượng nghiên cứu……….4
4.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu……… …… 4
4.3 Phạm vi nghiên cứu……… ….4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI……… …… 5
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài……… 5
1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới……… … 6
1.2.1 Vị trí phân loại RLT………6
1.2.2 Phân bố RLT……… 7
2.2.3 Ký chủ của rầy lưng trắng……….…… 8
2.2.4 Triệu chứng gây hại của rầy lưng trắng……… …8
Trang 61.2.5 Đặc điểm sinh học của rầy lưng trắng……… … ……9
1.2.6 Sinh thái của rầy lưng trắng……… ………….11
1.2.6.1.Biến động quần thể rầy lưng trắng……… … 11
1.2.6.2 Di chuyển của rầy lưng trắng……… … 13
1.2.6.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến biến động quần thể rầy lưng trắng … 14
1.2.6.4 Ảnh hưởng của giống lúa tới sinh trưởng và phát triển của rầy lưng trắng……….17
1.2.6.5 Thiên địch của RLT………19
1.3 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam……… 21
1.3.1 Đặc điểm sinh học của rầy lưng trắng……… ….21
1.3.2 Sinh thái của rầy lưng trắng……… 23
1.3.2.1 Biến động số lượng quần thể và các nhân tố ảnh hưởng đến biến động số lượng quần thể rầy lưng trắng……….23
1.3.2.2 Ảnh hưởng của giống lúa tới sự phát sinh, phát triển của rầy lưng trắng (giống nhiễm và giống kháng rầy lưng trắng)………24
1.3.2.3 Thiên địch của RLT………25
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… …….27
2.1 Vật liệu nghiên cứu……… … 27
2.2 Nội dung nghiên cứu……… ….27
2.3 Phương pháp nghiên cứu……… … 27
2.3.1 Phương pháp điều tra……….27
2.3.2 Theo dõi biến động số lượng rầy lưng trắng vào đèn……… 29
2.3.3 Theo dõi diễn biến mật độ rầy lưng trắng dưới ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái……… ….29
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu……… 30
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN……… 31
Trang 73.1.Thành phần nhóm rầy hại thân lúa và thiên địch phổ biến của chúng vụ
mùa 2013, vụ xuân 214 tại Vụ Bản, Nam Định……… … 31
3.1.1.Thành phần nhóm rầy hại thân lúa……… … 31
3.1.2 Thành phần thiên địch của nhóm rầy hại thân lúa……….…… 36
3.2 Diễn biến mật độ nhóm rầy hại thân trên lúa tại Vụ Bản, Nam Định……… 41
3.3 Biến động số lượng rầy lưng trắng vào đèn tại Vụ Bản, Nam Định……… …….46
3.4 Cơ cấu giống lúa và thời vụ trong vụ mùa 2013 và vụ xuân 2014 tại Vụ Bản, Nam Định ……… 49
3.5 Ảnh hưởng của một số yếu tố đến diễn biến mật độ rầy lưng trắng Sogatella furcifera Horvath trên lúa tại Vụ Bản, Nam Định…….……….…51
3.5.1 Ảnh hưởng của giống lúa đến diễn biến mật độ rầy lưng trắng Sogatella furcifera Horvath trên lúa tại Vụ Bản, Nam Định…….……… …51
3.5.2 Ảnh hưởng của chân đất và chế độ nước đến diễn biến mật độ rầy lưng trắng Sogatella furcifera Horvath trên lúa tại Vụ Bản, Nam Định…… … 54
3.5.3 Ảnh hưởng của thời vụ đến diễn biến mật độ rầy lưng trắng Sogatella furcifera Horvath trên đồng ruộng……… 61
3.5.4 Ảnh hưởng của chế độ thâm canh đến diễn biến mật độ rầy lưng trắng Sogatella furcifera Horvath trên đồng ruộng……… 64
3.6 Diễn biến một số loài thiên địch phổ biến của RLT Sogatella furcifera Horvath trên lúa tại Vụ Bản, Nam Định ……….69
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ……… 73
1 Kết luận……… 73
2 Đề nghị……… 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ….75
PHỤ LỤC……… 81
Trang 8DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC BẢNG
TT
3.1 Thành phần nhóm rầy hại thân lúa thuộc Bộ cánh đều
Homoptera vụ mùa năm 2013, vụ xuân 2014 tại Vụ Bản,
Nam Định 24 3.2 Thành phần thiên địch của nhóm rầy hại thân lúa vụ mùa
năm 2013, vụ xuân 2014 tại Vụ Bản, Nam Định 28 3.3 Cơ cấu giống lúa và thời vụ trong trong vụ mùa
năm 2013, vụ xuân 2014 tại Vụ Bản, Nam Định 40 3.4 Mật độ rầy lưng trắng ở các chân ruộng khác nhau trên
giống BT7 vụ mùa năm 2013 tại Vụ Bản, Nam
3.5 Mật độ rầy lưng trắng ở các chân ruộng khác nhau trên
giống BT7 vụ xuân năm 2014 tại Vụ Bản, Nam
3.6 Diễn biến mật độ RLT Sogatella furcifera Horvath trên một
số giống lúa khác nhau trong vụ mùa 2013 tại Vụ Bản, Nam
Định 62 3.7 Diễn biến mật độ RLT Sogatella furcifera Horvath trên một
số giống lúa khác nhau trong vụ xuân 2014 tại Vụ Bản,
Nam Định 63 3.8 Mật độ RLT ở các nền thâm khác nhau vụ mùa năm 2013
3.9 Mật độ RLT ở các nền thâm khác nhau vụ xuân năm 2014
Trang 103.2 Các loài thiên địch của nhóm rầy hại thân lúa vụ mùa 2013, vụ
xuân 2014 tại Vụ Bản, Nam Định……… 40 3.3 Diễn biến mật độ nhóm rầy hại thân lúa trên giống Bắc thơm 7,
vụ mùa 2013 tại vụ Bản, Nam Định……… 42 3.4 Diễn biến mật độ nhóm rầy hại thân lúa trên giống Bắc thơm 7,
vụ xuân 2014 tại vụ Bản, Nam Định……… 43 3.5 Hình ảnh quần thể nhóm rầy hại thân lúa vụ mùa 2013 tại Vụ
Bản, Nam Định 44 3.6 Hình ảnh quần thể nhóm rầy hại thân lúa vụ mùa 2013 tại Vụ
Bản, Nam Định 45 3.7 Diễn biến mật độ rầy lưng trắng vào đèn vụ mùa 2013 tại Vụ
3.8 Diễn biến mật độ rầy lưng trắng vào đèn vụ xuân 2014 tại Vụ
3.9 Hình ảnh bẫy đèn theo dõi biến động rầy lưng trắng tại Tân
Hòa, Hiển Khánh, Vụ Bản, Nam Định……… 48
3.10 Diễn biến mật độ RLT Sogatella furcifera Horvath trên một số
giống lúa khác nhau trong vụ mùa 2013 tại Vụ Bản, Nam Định 52
3.11 Diễn biến mật độ RLT Sogatella furcifera Horvath trên một số
giống lúa khác nhau trong vụ mùa 2013 tại Vụ Bản, Nam Định 54 3.12 Mật độ rầy lưng trắng ở các chân ruộng khác nhau vụ mùa năm
Trang 112013 tại Vụ Bản, Nam Định……… 58 3.13 Mật độ rầy lưng trắng ở các chân ruộng khác nhau vụ xuân năm
3.14 Quần thể rầy lưng trắng ở chân ruộng cao vụ mùa năm 2013 tại
Liên Minh, Vụ Bản, Nam Định……… 59 3.15 Quần thể rầy lưng trắng ở chân ruộng trũng vụ mùa năm 2013
tại Liên Minh, Vụ Bản, Nam Định……… 60 3.16 Mật độ RLT ở các thời vụ khác nhau vụ mùa năm 2013 tại Vụ
2014 tại Vụ Bản, Nam Định……… 68
3.20 Diễn biến mật độ thiên địch của RLT Sogatella furcifera
Horvath vụ mùa 2013 tại Vụ Bản, Nam Định……… 70
3.21 Diễn biến mật độ thiên địch của RLT Sogatella furcifera
Horvath vụ xuân 2014 tại Vụ Bản, Nam Định 71
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lúa được coi là một trong ba cây lương thực chủ yếu trên thế giới: Lúa
mì, lúa và ngô Trong đó có khoảng 40% dân số coi lúa gạo là nguồn lương thực chính, 25% dân số sử dụng lúa gạo trên ½ khẩu phần lương thực hàng ngày Như vậy, lúa gạo có ảnh hưởng tới đời sống ít nhất 65% dân số trên thế giới [3] Năng suất, phẩm chất lúa chịu tác động của nhiều yếu tố như giống, kỹ thuật canh tác, điều kiện thời tiết khí hậu và các loại dịch hại Dịch hại lúa là một yếu tố hết sức quan trọng, nó là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, phẩm chất và sản lượng lúa Để đảm bảo tính ổn định và nâng cao năng suất lúa thì việc phòng trừ có hiệu quả các loại dịch hại lúa giữ vai trò hết sức quan trọng Cũng giống như các cây trồng khác, cây lúa bị rất nhiều loài sinh vật gây hại trong suốt quá tình sinh trưởng và phát triển Các dịch hại quan trong có thể kể đến gồm sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân, rầy nâu, rầy lưng trắng
(RLT), chuột… Trong đó, RLT Sogatella furcifera Horvath là một trong
những đối tượng vừa gây hại trực tiếp vừa gây hại giám tiếp thông qua vai trò vectơ truyền bệnh virus lúa lùn sọc đen phương Nam của chúng
Rầy lưng trắng Sogatella furcifera Horvath là một loài côn trùng gây
hại phổ biến trên cây lúa ở nhiều nước châu Á cũng như Việt Nam Rầy lưng trắng (cả rầy trưởng thành và rầy non) đều hút nhựa cây từ phần thân cây lúa Rầy lưng trắng phát triển mạnh ở điều kiện thời tiết có nhiệt độ cao, mưa nắng xen kẽ, gây hại nặng cho cây lúa, có thể làm giảm 30 - 40% năng suất hoặc hơn Trước đây, rầy lưng trắng được coi như là loài sâu hại thứ yếu, trong một vài thập niên gần đây rầy lưng trắng có xu hướng phát sinh ngày càng gia tăng Từ sau những năm 2000, sự gia tăng mật độ của rầy lưng trắng đã ghi nhận ở nhiều vùng trồng lúa nước ta Nghiên cứu gần đây cho thấy, rầy lưng trắng đang có xu hướng ra tăng và chiếm ưu thế hơn so với rầy nâu
Trang 13Đặc biệt trong vụ mùa năm 2009, đã xuất hiện một bệnh virus mới gây hại cho lúa tại nhiều tỉnh thuộc khu 4 cũ và đồng bằng sông Hồng Ở Nam Định, trong vụ mùa năm 2009 có nhiều ruộng lúa bị hại từ 30 đến 100% do bệnh virus mới này Bệnh virus mới này được xác định là bệnh virus lúa lùn sọc đen phương Nam do rầy lưng trắng là môi giới truyền bệnh
Vụ Bản là huyện chuyên canh lúa của tỉnh Nam Định và là một trong những huyện có diện tích trồng lúa cao trong tỉnh Nam Định, khoảng gần 20.000 ha/năm Trong nhiều năm trở lại đây, năng suất lúa của huyện đã được tăng lên cùng với việc bố trí cơ cấu giống có tiềm năng năng suất cao, đồng thời cũng là những giống có nguy cơ bị các đối tượng dịch hại gây hại mạnh, đặc biệt là rầy nâu và RLT Vụ mùa năm 2009, ở Vụ Bản có nhiều ruộng lúa
bị hại nặng do bệnh virus LSĐ phương Nam gây ra Chính vì vậy, việc tìm
ra biện pháp quản lý RLT- môi giới truyền bệnh virus LSĐ phương Nam có hiệu quả để hạn chế thiệt hại do bệnh virus lúa lùn sọc đen phương Nam gây ra là vấn đề cấp thiết của các cấp chính quyền đại phương
Mặc dù ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về RLT được thực hiện, tuy nhiên việc đi sâu nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới phát sinh gây hại và diễn biến gây hại của RLT ở Vụ Bản làm cơ sở cho công tác dự tính dự báo và biện pháp phòng chống rầy lưng trắng một cách thích hợp, cụ thể và có hiệu quả cho địa phương là điều hết sức cần thiết Vì vậy, chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số yếu tố sinh thái ảnh hưởng
đến diễn biến mật độ rầy lưng trắng Sogatella furcifera Horvath
(Homoptera: Delphacidae) hại lúa tại Vụ Bản, Nam Định”
Các kết quả của đề tài sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phòng chống RLT, đồng thời đưa ra được những khuyến cáo trong công việc bố trí cơ cấu giống cây lúa hợp lý, các giải pháp bảo tồn và khuyến kích vai trò của thiên
Trang 14địch trong quản lý RLT, sử dụng thuốc trừ rầy hợp lý để giảm số lần phun thuốc bảo vệ thực vật và lượng thuốc độc hại trên đơn vị diện tích
2 Mục tiêu và yêu cầu
- Mục tiêu:
Xác định được các yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến mức độ phát sinh gây hại và diễn biến mật độ của RLT hại lúa tại Vụ Bản, Nam Định và đề xuất hướng quản lý chúng một cách có hiệu quả và thân thiện với môi trường
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung thêm những dữ liệu khoa học
mới về các yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến diễn biến mật độ RLT Sogatella
furcifera Horvath trong điều kiện sinh thái và hệ thống canh tác lúa ở Vụ Bản,
Nam Định
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Từ các kết quả nghiên cứu của đề tài về các yếu tố sinh thái, đề xuất
hướng quản lý bền vững đối với RLT Sogatella furcifera Horvath, chỉ đạo ứng
dụng vào sản xuất lúa ở Vụ Bản, Nam Định nhằm trực tiếp hạn chế RLT
Sogatella furcifera Horvath và bệnh lùn sọc đen phương Nam gây ra góp phần
ổn định sản xuất lúa cho Vụ Bản, Nam Định
Trang 154 Đối tượng, địa điểm và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
+ Cây trồng: cây lúa
+ Sâu hại: RLT Sogatella furcifera Horvath và các loài rầy hại thân lúa + Các loài thiên địch của RLT và các loài rầy hại thân lúa
4.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu:
+ Tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
+ Viện Bảo vệ Thực vật, Đức Thắng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu: Đề tài được tiến hành từ vụ Mùa năm 2013 đến vụ Xuân năm 2014
4.3 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu diễn biến mật độ RLT Sogatella furcifera Horvaths ở một
số hình thức canh tác lúa khác nhau tại Vụ Bản, Nam Định
- Nghiên cứu thành phần và diễn biến của các loài thiên địch quan trọng trong hạn chế số lượng RLT trên đồng ruộng
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Trong những năm gần đây, thế giới đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong đó có hai vấn đề đó là sự tăng nhanh dân số và biến đổi khí hậu toàn cầu Cả hai vấn đề đều liên quan đến sản xuất Nông nghiệp nói chung và sản xuất lương thực nói riêng Vấn đề ở đây là làm sao để giải quyết an ninh lương thực toàn cầu trong điều kiện diện tích đất sản xuất lúa đang giảm đi nhanh chóng và sự bất thuận về thời tiết đang có diễn biến ngày càng tăng lên một cách rõ rệt Không những thế, Việt Nam được xác định là một trong 7 nước chịu ảnh hưởng nhiều nhất của biến đổi khí hậu toàn cầu Đối với sản xuất lúa gạo, để giải bài toán dân số - an ninh lương thực - biến đổi khí hậu không có con đường nào khác là phải thâm canh lúa Quá trình thâm canh lúa
về thực chất là làm thay đổi hệ sinh thái đồng lúa dẫn đến hàng loạt vấn đề thay đổi theo trong đó có sự thay đổi vị trí tác hại của một số sâu hại như RLT, nhện gié Đặc biệt từ vụ mùa năm 2009 bệnh virus “lúa lùn sọc đen phương Nam” do RLT làm môi giới truyền bệnh lần đầu tiên xuất hiện trên diện rộng gây hoang mang cho người sản xuất, đe dọa trực tiếp đến sự bền vững của sản xuất lúa các tỉnh đồng bằng sông Hồng trong đó có tỉnh Nam Định
Xuất phát từ yêu cầu bức xúc của sản xuất như đã nêu, việc sớm hoàn chỉnh quy trình quản lý tổng hợp để ứng dụng cho sản xuất nhằm ngăn chặn tác hại của rầy lưng trắng, giảm đến mức thấp nhất khả năng truyền bệnh virus “lúa lùn sọc đen phương Nam” của RLT là việc rất cần thiết
Trong hệ sinh thái ruộng lúa, mối quan hệ tay ba cây trồng (lúa), sâu hại (RLT) và điều kiện ngoại cảnh luôn tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau Mức độ phát sinh gây hại của RLT tùy thuộc vào giống lúa, chế độ canh
Trang 17tác (mùa vụ, phân bón, nước tưới, ), chân đất và các loài thiên địch của chúng
Chính vì vậy, việc xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ phát sinh gây hại và diễn biến mật độ của RLT trên lúa sẽ là cơ sở khoa học cho việc xây dựng các biện pháp thâm canh, bảo vệ được cho những vùng trồng lúa, tránh được những mất mát do dịch hại gây ra, để đảm bảo năng suất, bảo vệ môi trường góp phần giữ cân bằng sinh thái
Kết quả của đề tài là cơ sở cho công tác bảo vệ thực vật dự tính dự báo
RLT Sogatella furcifera Horvath hại lúa góp phần xây dựng biện pháp phòng
trừ tổng hợp sâu hại lúa gây ra
1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.2.1 Vị trí phân loại
Rầy lưng trắng lần đầu tiên được Horvath mô tả và đặt tên là Delphax
furcifera vào năm 1899 trên cơ sở mẫu thu thập tại Nhật Bản, và sau đó được đổi
là Sogatella furcifera
Ngoài ra rầy lưng trắng còn có các tên khác đồng danh đã được sử dụng như:
• Năm 1899: Delphax furcifera Horvath
• Năm 1899: Liburnia furcifera Horvath
• Năm 1899: Calligypona furcifera Horvath
• Năm 1912: Sogata distincta Distant
• Năm 1912: Sogata furcifera Distancta
• Năm 1912: Sogata pallescens Distant
• Năm 1917: Megamelus furcifera Muir
• Năm 1917: Sogata kyusyunensis Masumura & Ishihara
• Năm 1917: Sogata tandojamensis Qadri & Mirza
• Năm 1924: Sogata furcifera Muir & Giffard
Trang 18• Năm 1924: Megamelus furcifer
• Năm 1924: Megamelus furciferus
• Năm 1929: Liburnia furcifera capensis Muir
• Năm 1931: Delphacodes furcifera Esaki & Ishihara
• Năm 1956: Chloriona furcifera Fennah
Theo hệ thống phân loại quốc tế thì vị trí phân loại của rầy lưng trắng như sau:
Lớp (Class): Côn trùng Insecta
• Bộ (Order): Cánh đều Homoptera
♦ Bộ phụ (suborder): Auchenorrhyncha
Tổng họ (Superfamily): Fulgoroidae
Họ (family): Delphacidae
• Giống (Genus): Sogatella
♦ Loài (Species): Sogatella furcifera
1.2.2 Phân bố
Asche và Wilson (1990) cho biết, rầy lưng trắng có phân bố rộng rãi ở các vùng cận Đông, Đông và Tây Thái Bình dương và Australia Tác giả này cũng
cho rằng các giới hạn phân bố phía tây của Sogatella furcifera vẫn chưa rõ ràng:
tất cả các mẫu vật từ châu Phi, châu Âu và thế giới mới mà trước đây được xác
định là Sogatella furcifera đã được chứng minh là các loài khác
Các nước đã được ghi nhận có RLT phân bố là:
- Châu Á: Là châu lục mà rầy lưng trắng có mặt ở nhiều nước nhất như: Afganistan, Ấn Độ, Banglades, Butan, Brunei, Campuchia, Trung Quốc, Iran, Indonesia, Nhật Bản, Triều Tiên, Lào, Malaysia, Mông Cổ, Myanma, Nepal, New Guinea, Pakistan, Philippines, Ả Rập Saudi, Srilanca, Thái Lan, Việt Nam
- Châu Âu: Liên bang Nga và các vùng thuộc Liên Xô (cũ), Siberi
- Tây bán cầu: Cuba, Guana, Surimane
Trang 19- Khu vực Thái Bình Dương: Australia, Đảo Caroline, Fiji, Guam, Đảo Marshall, Micronesia, New Caledonia, Bắc Mariana, Papa New Guinea, Solomon và Vanuatu
2.2.3 Ký chủ của rầy lưng trắng
Ký chủ chính của RLT là cây lúa (Oryza sativa) ngoài ra nó cũng có
một sô cây ký chủ phụ Theo Catindig (1993) [Dẫn theo 11], RLT vẫn có thể
hoàn thành vòng đời trên ngô (Zea mays), cỏ đuôi phượng (Leptochloa
chinensis ), cỏ lồng vực cạn (Echinochloa cololum), cỏ lồng vực nước (Echinochloa glabrescens)
Misra (1980) phát hiện RLT còn có trên lúa mì, mía và lúa mạch nhưng không có thông tin nào cho thấy RLT có khả năng hoàn thành chu kỳ phát dục trên các cây trồng này
Theo Kisimoto (1977) [19], tại Nhật Bản, RLT có 39 loài ký chủ thuộc
2 họ thực vật, trong đó có lúa miêu Zizania latifolia, cỏ Leersia japonica và
mía được cho là cây ký chủ qua đông của RLT và cây lúa là cây ký chủ chính
2.2.4 Triệu chứng gây hại của rầy lưng trắng
RLT đều có thể gây hại trong toàn bộ các giai đoạn phát triển của cây lúa Chúng phát triển và gây hại mạnh ở giai đoạn mạ Khi bị RLT tấn công nặng, cây mạ có hiện tượng bị còi cọc, héo, và cuối cùng chết (Dale, 1994)[12]
Rầy non và rầy trưởng thành hút trực tiếp dịch tế bào cơ sở của cây lúa
và làm cho cây lúa chuyển sang màu vàng và sau đó có màu gỉ sắt, lan rộng từ đầu lá đến phần còn lại của cây (Atwal và cộng sự, 1967; Dale, 1994)[12]
RLT phát sinh với mật độ cao sẽ gây hiện tượng “cháy rầy”, cây lúa
bị vàng đỏ, héo khô và chuyển sang màu nâu do cây mất quá nhiều nhựa (Reissig và cộng sự, 1986)[37]
Trang 20Rầy cái mang trứng gây thiệt hại bổ sung bằng cách chọc lỗ đẻ trứng trên bẹ lá Dịch ngọt được tiết ra bởi rầy cái kích thích sự phát triển của nấm mốc, chính nó làm gieo rắc muội đen trên đồng ruộng (Dale, 1994)[12]
Trong thời kỳ trỗ bông nếu cây bị hại vỏ trấu trở nên có màu nâu, một
số hạt bị lép (Noda, 1986)[31]
Nếu cây lúa bị RLT hại vào thời kỳ chín thì hạt sẽ không nảy mầm và thời kỳ chín bị kéo dài ra (Dale, 1994)[12]
1.2.5 Đặc điểm sinh học của rầy lưng trắng
Cũng như một số loài khác trong họ Delphacidae, rầy lưng trắng là loài côn trùng biến thái không hoàn toàn, toàn bộ vòng đời của loài này trải qua ba giai đoạn phát dục: Trứng, rầy non (5 tuổi) và rầy trưởng thành
*Trứng:
Trứng của rầy lưng trắng thường được đẻ thành từng ổ ở phần mô bẹ lá hoặc gân chính của lá lúa Pathak (1973) [34] kết luận rằng số trứng trên một
ổ và số trứng trung bình của một con cái RLT cũng thay đổi rất nhiều tuỳ năm
và tuỳ từng thế hệ Rầy nâu và rầy lưng trắng có khoảng 1728 đến 1984 noãn bào có thể chín trên một cá thể cái (Mochida, 1964b) [30]
*Rầy non:
Ngay sau khi nở ra rầy lưng trắng non đã bắt đầu gây hại Chúng rất hoạt động và nhảy khi bị khua động nhẹ nhất Theo Suenaga (1963) [45] thì rầy non của RLT trải qua 5 tuổi trong 14 ngày, thời gian phát dục trung bình của pha rầy non là 17 ngày ở 200C, 13 ngày ở 25oC và 12 ngày ở 28 - 30oC Theo Singh (1989) [41] lại kết luận thời gian rầy non ở Ấn Độ là 16 ngày (điều kiện trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng)
Theo Mochida (1964b) [30] thì nhiệt độ và giai đoạn sinh trưởng của cây lúa trong giai đoạn rầy non đã ảnh hưởng nhiều đến khả năng sinh sản của rầy lưng trắng, loại hình cánh ngắn chịu ảnh hưởng của môi trường và thay
Trang 21ở Nhật Bản (Sugenaga, 1963) và 240 trứng ở Philippines (Cantindig, 1993), còn ở Trung Quốc RLT cánh dài đẻ trung bình ở thế hệ đầu tiên đến thế hệ thứ 3 là 118; 70 và 37 trứng (Liu và cộng sự, 1982) [Dẫn theo 11]
Theo Pathak (1973) [34] thời kỳ tiền đẻ trứng của RLT thay đổi từ 3 -
10 ngày ở điều kiện đồng ruộng Theo Suenaga (1963) [45] nêu lên thời kỳ trước đẻ trứng thay đổi từ 3 - 8 ngày ở nhiệt độ trong phòng Denno và cộng
sự (1994) [13] kết luận thời gian tiền đẻ trứng của rầy cái cánh ngắn là 3 ngày
và rầy cái cánh dài là 4 ngày, số trứng đẻ của cái cánh dài trung bình là 400 trứng, cái cánh ngắn là 500 trứng Rầy cái cánh ngắn sống càng lâu đẻ càng nhiều, giữa sống lâu và đẻ nhiều có tương quan dương, một cá thể rầy cái lưng trắng có thể sống tới trên 30 ngày đẻ tới hơn 600 trứng
Theo Denno và cộng sự (1994) [13] tỷ lệ cá thể rầy lưng trắng hoàn thành phát dục (từ tuổi 1 đến trưởng thành) tỷ lệ nghịch với mật độ nuôi
Thời gian sống của trưởng thành rầy lưng trắng phụ thuộc nhiều vào điều kiện nhiệt độ môi trường Theo Suenaga (1963) [45] ở 200C trưởng thành rầy lưng trắng sống trung bình 20 ngày, ở 250C là 16 ngày và 28 - 300C là 9
Trang 22ngày Trong khi đó, Singh (1989) [41] lại cho biết ở Ấn Độ thời gian sống trung bình của rầy đực là 4,1 ngày và cái là 3,6 ngày (điều kiện ngoài đồng), 9
và 8 ngày tương ứng (điều kiện phòng thí nghiệm) Catindig (1993)[ Dẫn theo 11] kết luận về thời gian sống của con đực là 6 ngày con cái là 6,5 ngày
1.2.6 Sinh thái của rầy lưng trắng
1.2.6.1.Biến động quần thể rầy lưng trắng
Theo Samsul (1969) [42], RLT thường phát sinh và phát triển quần thể ở giai đoạn đầu vụ, quần thể rầy đạt cao nhất vào cuối thời kỳ lúa đẻ nhánh (trước phân hóa đòng), tương ứng với thời gian xung quanh 8 tuần sau khi cấy Loại côn trùng này thích hợp với cây lúa non nhưng nó cũng bị ảnh hưởng lớn bởi sự thay đổi nhiệt độ
Quần thể RLT ở vụ mưa cao hơn 6 lần so với vụ khô và nó có nhiều nhất
là 3 thế hệ trong một vụ, còn ở Hirosima (Nhật Bản) trong một năm RLT có hai thế hệ trên lúa và 3 thế hệ trên cỏ hòa thảo (Graminaceous) [Dẫn theo 11]
Tuy nhiên, biến động số lượng của rầy lưng trắng còn phụ thuộc vào nhịêt độ, độ ẩm làm ảnh hưởng đến hoạt động của rầy lưng trắng (Hokyo và ctv., 1975 [17]; Liu, 1995 [23])
Theo Samsul (1969) [42], nhiệt độ vừa phải trong suốt mùa mưa là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển quần thể rầy lưng trắng
Theo Kittur (1967), cho rằng ảnh hưởng của thời tiết mát mẻ là kéo dài vòng đời xà sự phát triển của RLT là thấp Miryke (1996), giải thích nguyên nhân của sự ưa thích giai đoạn đầu của cây lúa của rầy lưng trắng là do sự có mặt của một số aminoaxit có trong cây lúa, vì vậy, sự phát triển của rầy lưng trắng ở mùa khô lại thích hợp hơn với giai đoạn làm đòng, điều này cho thấy rằng tính
ưa thích giai đoạn đầu của cây lúa có thể bị thay đổi bởi những nhân tố khác [Dẫn theo 11]
Theo Zhu (1985) [49], ở vùng Yiang của Trung Quốc rầy lưng trắng có
Trang 235 thế hệ một năm, đỉnh cao của mật độ quần thể từ giữa đến cuối tháng 7 Ở Hiroshima (Nhật Bản) trong một năm rầy lưng trắng có hai thế hệ trên lúa và
ba thế hệ trên cỏ hòa thảo Graminaceous Quần thể rầy lưng trắng đạt đỉnh
cao vào thế hệ thứ 2 khi trưởng thành di chuyển khỏi đồng lúa Theo Reddy
và cộng sự (1983) [38], ở Andra Prades (Ấn Độ) rầy lưng trắng có số lượng cao trong suốt thời kỳ đầu vụ trong khi rầy nâu xuất hiện muộn hơn, giữa nhiệt độ cực đại trung bình và mật độ quần thể có tương quan dương, giữa ẩm
độ và mật độ quần thể có tương quan âm
Kisimoto (1977) [19] cho rằng rầy lưng trắng không có khả năng gây hại như rầy nâu mặc dù mật độ nhập cư ban đầu cao hơn rầy nâu vì trưởng thành sinh ra từ thế hệ nhập cư ban đầu phần lớn có dạng hình cánh dài cho nên phân tán đi sang các ruộng lúa khác mà không gây hại tập trung tại ruộng nhập cư ban đầu
Theo Misra và cộng sự (1991) [26], ở Praden (Ấn Độ) quần thể rầy lưng trắng có số lượng cao nhất vào cuối tháng 10 Giữa mật độ quần thể RLT
và thời gian chiếu sáng có mối tương quan chặt chẽ
Ở Nhật Bản, quần thể rầy lưng trắng đạt đỉnh cao vào thế hệ thứ nhất sau khi nhập cư và giảm đi vào thế hệ thứ 2 khi trưởng thành chuyển đi khỏi ruộng lúa (Kisimoto, 1977) [19], còn theo Perfect và cộng sự (1994) [35] cho rằng mật độ nhập cư ban đầu của rầy lưng trắng cao hơn nhiều so với rầy nâu nhưng số lượng quần thể rầy lưng trắng chỉ tăng được 4 lần trong 3 thế hệ trong khi đó quần thể rầy nâu tăng 8 lần ở mỗi thế hệ Rầy lưng trắng có tốc
độ tăng trưởng quần thể thấp hơn và hiếm khi đạt tới số lượng cao trên đồng ruộng để gây thiệt hại kinh tế Mặt khác việc dự báo mật độ đỉnh cao đối với rầy lưng trắng là rất khó chính xác vì tốc độ sinh sản thấp hơn và dễ thay đổi hơn
Theo Sogawa và cộng sự (2008) [44], ở Trung Quốc rầy lưng trắng
Trang 24trong những năm của thập kỷ 1970 chỉ là dịch hại thứ yếu, chúng đã trở nên nổi trội nhất và thay thế vị trí gây hại của rầy nâu ở những vùng gieo trồng lúa lai Indica vào những năm của thập kỷ 1980 Rầy lưng trắng cũng đã trở thành dịch hại kinh tế quan trọng trên lúa Japonica ở miền Trung Trung Quốc do thay thế ồ ạt bằng diện tích lúa lai ở miền Nam Trung Quốc Sự bùng phát dịch hại của rầy lưng trắng và rầy nâu ở Trung Quốc vào những năm 1987 và
1991 khi lúa lai được gieo tròng bằng khoảng một nửa tổng diện tích gieo trồng lúa
1.2.6.2 Di chuyển của rầy lưng trắng
Di chuyển là một đặc điểm rất quan trọng của rầy lưng trắng vì vậy nó
đã được nhiều tác giả tập trung nghiên cứu
Kisimoto và cộng sự (1994) [20] cho rằng cường độ ánh sáng đèn về ban đêm là nhân tố quyết định đối với việc cất cánh, ngoài ra nhiệt độ cũng là yếu tố quan trọng
Perfect và Cook (1994) [35] kết luận rằng rầy thường cất cánh (bốc bay) nhiều nhất vào buổi tối và cất cánh theo chu kỳ Theo Jeffry và Dyck (1983) đã kết luận rằng ở vùng nhiệt đới các hoạt động bay được tăng cường
ở những đêm trăng rằm, hơn nữa việc di chuyển hàng loạt có thể phản ánh một thời kỳ sinh sản mà thời kỳ này có liên quan đến tuần trăng
Sự phát triển buồng trứng của con cái cánh dài chậm hơn so với cánh ngắn, con cái cánh ngắn thuần thục sinh học sớm hơn và tiến hành giao phối ngay trong ngày hóa trưởng thành (Kisimoto, 1965; Ohkubo, 1967; Mochida, 1970) Johnson (1969) đã miêu tả sự di cư như là một “Hội chứng bay sinh trứng” (oogenesis fligh syndrom) của quá trình tiền sinh sản của rầy di cư [Dẫn theo 11]
Kisimoto và cộng sự (1994) [20] và Noda (1986) [31] đã nhận xét rằng những cá thể rầy cánh dài bắt được trên biển Đông Trung Quốc di cư vào
Trang 25Nhật Bản là chưa thuần thục về sinh học
Kết quả nghiên cứu của Sogawa và cộng sự (1994) [43] cho thấy thời
gian bay trung bình của con đực và con cái thay đổi từ 8 - 10 giờ và thời gian bay dài nhất được ghi nhận là 32 giờ Việc bay của chúng chịu ảnh hưởng của điều kiện áp suất khí quyển, nhiệt độ và ẩm độ Điều này liên quan đến việc di chuyển của rầy nâu và rầy lưng trắng qua biển đông đến Nhật Bản và Triều Tiên, Hàn Quốc Ngoài ra tốc độ gió còn quyết định việc hạ cánh của rầy lưng trắng
Theo Kisimoto (1994) [20] cho rằng việc hạ cánh của rầy di cư có tính chất định hướng đồng lúa nhưng cũng phụ thuộc vào tốt độ gió vì số lượng rầy nâu và RLT bắt được trên biển Đông Trung Quốc có tương quan âm với tốc độ gió xấp xỉ 500m trong suốt thời kỳ di cư hàng loạt
Otuka và cộng sự (2008) [33] đã tiến hành phân tích số liệu bẫy đèn trong tháng 4 và tháng 5 của miền Bắc Việt Nam và kết luận rằng: Vào thời điểm cuối vụ Đông Xuân hàng năm rầy nâu và RLT ở miền Bắc Việt Nam đã
di chuyển sang các tỉnh ở phía Nam của Trung Quốc như tỉnh Giang Tây, Quảng Tây, Quảng Đông, Hồ Nam và tỉnh Phúc Kiến Sau khi đến miền Nam Trung Quốc, rầy lưng trắng nhân lên một vài thế hệ rồi tiếp tục di cư đến Nhật Bản vào mùa mưa (cuối tháng 6, đầu tháng 7) khi gió mùa Tây Nam thổi mạnh qua biển Đông Trung Quốc
1.2.6.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến biến động quần thể rầy lưng trắng
Thông qua thí nghiệm trên đồng ruộng Kushwaha (1982) [22] đã nhận xét rằng, thời vụ gieo cấy càng muộn thì mật độ rầy lưng trắng càng cao và mật độ quần thể rầy lưng trắng có tương quan thuận với mức độ bón phân đạm
Saha (1986) [40] và Ram (1986) [39] cho rằng, các nhân tố ảnh hưởng đến sự bùng phát số lượng rầy lưng trắng là mưa kéo dài kéo theo thời tiết ẩm
Trang 26ướt, sử dụng một lượng phân đạm cao từ 175 - 250 kg N/ha và phòng trừ rầy lưng trắng bằng thuốc hoá học cho kết quả không cao
Yein và Das (1988); Bhathas và Dhaliwal (1991) đã kết luận những nhân tố đóng góp vào sự bùng phát rầy lưng trắng là sử dụng quá nhiều phân đạm, cấy dầy, được tưới nước thường xuyên và mật độ ký sinh thấp do sử dụng bừa bãi thuốc trừ sâu [Dẫn theo 11]
Hu và cộng sự (1986) kết luận ở Trung Quốc thiệt hại năng suất lúa tỷ
lệ thuân với mức độ bón phân đạm và quần thể rầy lưng trắng thích hợp ở nhiệt độ cao Mật độ RLT thấp khi thời tiết lạnh và âm u, trung bình khi trời
ấm có mưa và cao khi ấm và khô (Zhu và cộng sự, 1990) [Dẫn theo 11]
Kajimura và cộng sự (1995) [18] đã so sánh khả năng sinh sản của rầy lưng trắng trên ruộng bón phân hóa học và phân hữu cơ thấy rằng ở ruộng có bón phân hữu cơ mật độ rầy nhập cư là cao hơn có ý nghĩa trong khi đó tỷ lệ định cư của trưởng thành cái và tỷ lệ sống sót của các giai đoạn rầy non của các thế hệ sinh sau nó là thấp hơn, số trứng đẻ của con cái thế hệ sau là thấp hơn, tỷ lệ rầy cánh ngắn thấp hơn và tỷ lệ nở của trứng cũng thấp hơn, do vậy mật độ quần thể rầy giảm đi
Theo Gao và cộng sự (1994) [15], tại Trung Quốc RLT trưởng thành di chuyển vào đỉnh cao cuối tháng 6 đầu tháng 7, đỉnh cao mật độ quần thể là giữa đến cuối tháng 7 chủ yếu trên lúa 1 vụ Chỉ số sinh sản của thế hệ thứ 4
là cao và tương quan thuận với nhiệt độ và lượng mưa 10 ngày đỉnh cao trưởng thành di chuyển Có hệ số tương quan chặt chẽ giữa quần thể RLT di chuyển và lượng mưa 10 ngày đầu tháng 7 Mật độ quần thể RLT ở ruộng lúa lai gấp 1,67- 7,5 lần so với giống lúa địa phương Ngoài ra, cấy dày, gieo vãi,
sử dụng quá nhiều phân đạm, mật độ ký sinh thấp do sử dụng thuốc hoá học bừa bãi và nước đầy đủ cũng là nguyên nhân làm bùng phát số lượng rầy lưng trắng
Trang 27Zhang (1991) [48] có kết luận rằng, rút hết nước ở giai đoạn giữa tháng
7 (vụ 1), giữa tháng 8 đến đầu tháng 9 (vụ 2) ở Triết Giang, Trung Quốc thì sinh trưởng của cây lúa được cải thiện, quần thể thiên địch phát triển tốt hơn
và quần thể RLT bị hạn chế
Koyama (1992) [21] đã kết luận rằng, không có một axit đơn lẻ nào có ảnh hưởng chủ yếu đối với sự sinh trưởng của rầy non rầy lưng trắng Sự sinh trưởng chỉ bị chậm lại nếu thức ăn thiếu Cystein hoặc Methionin
Theo Matsumura (1996) [24] cho rằng, số lượng rầy lưng trắng nhập cư
là cao nhất trên cây lúa ở thời gian từ 17 đến 30 ngày sau cấy (trùng với giai đoạn lúa đẻ nhánh) Tốc độ phát triển quần thể từ khi nhập cư đến thế hệ thứ nhất giảm đi theo tuổi của cây lúa Tốc độ phát triển quần thể từ thế hệ thứ nhất đến thế hệ thứ hai là không chịu ảnh hưởng của tuổi cây và có tương quan âm với mật độ Tỷ lệ cánh dài có có tương quan dương với giai đoạn sinh trưởng của cây lúa khi cây ở giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng hoặc ở giai đoạn đầu của quá trình sinh trưởng sinh thực và đạt tới 100% ở 10 ngày trước khi trỗ
Theo Matsumura và cộng sự (2003) [25] nghiên cứu mối tương tác giữa các loài không đối xứng về hình dạng cánh dài của rầy lưng trắng và rầy nâu cho thấy nếu số lượng rầy non nuôi trong một ống nghiệm là bằng nhau thì tỷ
lệ rầy nâu cánh dài là cao hơn nếu quần thể trong ống nghiệm là hỗn hợp giữa hai loại rầy Điều này chứng tỏ ảnh hưởng giữa các loài khác nhau lên hình dạng cánh của rầy nâu mạnh hơn ảnh hưởng cùng loài Ngược lại, đối với rầy lưng trắng ảnh hưởng giữa các loài lại yếu hơn những ảnh hưởng cùng loài
Tỷ lệ phần trăm cánh dài của cả hai loài đều cao hơn trên mạ đã bị phá hại trước đó bởi rầy lưng trắng so với mạ trước đó đã bị phá hại bởi rầy nâu Hiện tượng này cũng được quan sát trên lúa đẻ nhánh Do vậy, mối tương tác giữa các loài ảnh hưởng đến hình dạng cánh giữa rầy nâu và rầy lưng trắng xảy ra
Trang 28không trực tiếp mà gián tiếp thông qua việc chích hút cây lúa Những kết quả này cho thấy những thay đổi do sự phát triển của rầy lưng trắng lên chức năng sinh lý của cây lúa cao hơn rầy nâu mặc dù rầy lưng trắng chích hút cây lúa
ít hơn rầy nâu một cách đáng kể Mối tương tác âm đáng kể giữa mật độ rầy lưng trắng lứa 1 và tỷ lệ phát triển quần thể rầy nâu từ lứa 1 đến lứa 2 đã được nghiên cứu và phân tích bằng bẫy đèn và số liệu thống kê đồng ruộng Kết quả này cho thấy rầy lưng trắng ảnh hưởng âm đến hình dạng cánh dài và phát triển quần thể rầy nâu
Theo Watanabe và cộng sự (2008) [47] đã tiến hành phân tích các yếu
tố hình thành dịch rầy nâu ở quần đảo Kyushu (phía Nam Nhật Bản) và đã cho nhận xét là: Mật độ rầy nhập cư là cao, điều kiện thời tiết khí hậu thuận lợi cho di chuyển của rầy ở thời gian đầu đến giữa tháng 7 Nhiệt độ cao trong suốt mùa hè đến đầu mùa thu, tỷ lệ rầy cái cánh ngắn cao và tỷ số RLT/rầy nâu thấp có thể ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của quần thể từ thế hệ nhập
cư ban đầu đến thế hệ tiếp theo của rầy nâu
1.2.6.4 Ảnh hưởng của giống lúa tới sinh trưởng và phát triển của rầy lưng trắng
Các công trình nghiên cứu giữa thập kỷ 80 của thế kỷ trước đã nêu rằng nuồn gen kháng rầy lưng trắng là rất khác nhau ở cả lúa trồng và lúa dại Các thí nghiệm đánh giá tính kháng của giống với rầy lưng trắng đã được Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) tiến hành từ năm 1970 [dẫn theo 11] Đã
có khoảng 5000 giống lúa trồng (Oryza sativa) đã được đánh giá với rầy lưng
trắng và khoảng 50% trong tổng số 437 giống lúa dại được đánh giá là kháng
rầy lưng trắng (đặc biệt là các giống còn ở dạng nguyên thủy như Oryza
minuta, Oryza nivara, Oryza officinalis)
Theo Ramaraju (1990) [36], thì ở Ấn Độ đã có 48 giống được công nhận là kháng rầy lưng trắng ở trong nhà lưới (5 giống kháng cao, 24 giống
Trang 29kháng vừa) Theo như ghi nhận của Ramaraju thì rầy non sống trên các giống kháng cao và kháng vừa này bị kéo dài thời gian phát dục (thời gian pha rầy non trên các giống kháng cao và kháng vừa là từ 12,6 - 13,0 ngày; trong khi trên giống nhiễm chỉ là 11,6 ngày ) và lượng ăn của rầy non trên các giống kháng cao và kháng vừa cũng ít hơn trên giống nhiễm Tỷ lệ sống sót của rầy non trên giống và giống nhiễm cũng khác nhau có ý nghĩa
Cơ chế tính kháng với rầy lưng trắng bao gồm kháng sinh đối với sự đẻ trứng, kháng sinh với sự gây hại, sống sót và phát triển Rầy sống trên giống kháng đẻ ít hơn, cơ thể nhỏ hơn, tỷ lệ sống sót của rầy non thấp và thời gian rầy non dài hơn, tốc độ phát triển quần thể chậm hơn và rầy tiết ra ít dịch ngọt hơn (Liu và cộng sự, 1995) [23]
Theo Mishra và Missra (1991)[27] thì rầy lưng trắng có định hướng di chuyển về phía giống TN1 (giống nhiễm) hơn các giống kháng Pundia trong vòng 24 giờ sau khi thả và số lượng rầy non tăng đột biến ở các giống nhiễm trong khoảng 24 - 72 giờ sau khi thả, ngược lại trên các giống kháng thì có sự giảm đột biến
Theo như Mishra (1992) [28] thì silic có vai trò quan trọng trong tính kháng của các giống lúa với rầy lưng trắng, giống lúa nào có hàm lượng silic cao thì sẽ kháng rầy lưng trắng tốt hơn các giống có hàm lượng silic thấp (giống lúa Pundia có hàm lượng silic gấp đôi lúa TN1, do đó giống Pundia là giống kháng còn giống TN1 là giống nhiễm rầy lưng trắng)
Các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm những năm trước đó của nhóm tác giả còn cho thấy các giống kháng như Pundia và Landisarakanti có hàm lượng aminoacid, phenol, đồng và diệp lục tố thấp hơn so với giống nhiễm TN1 Ở khía cạnh gây hại, hàm lượng aminoacid, phenol tăng lên ở các giống kháng và giảm đi ở các giống nhiễm Nhưng hàm lượng đường ở các giống nhiễm lại bị thải nhiều hơn ở các giống kháng và hàm lượng tinh bột tăng lên
Trang 30Sự phá hủy quá mức của diệp lục tố kết hợp với các nhân tố trên lý giải tại sao đồng tăng dữ dội và cuối cùng cây héo ở giống niễm (Mishra et al, 1991)[27]
Theo Liu và cộng sự (1995) [23], lượng thức ăn của rầy giảm đi cùng với sự tăng lên của tuổi cây cả ở giống kháng Rathu - heenati (RHT) và giống nhiễm Taichung - Native-1 (TN1) Với giống nhiễm đường tổng số trong dịch cây tăng lên cùng với sự tăng lên của tuổi cây Phân tích dịch bài tiết của RLT bằng kỹ thuật đa hình cho thấy số lượng sacharose và fructose ở dịch bài tiết khi rầy sống trên giống kháng Rathu - heenati (RHT) là ít hơn có ý nghĩa là so với khi sống trên giống nhiễm Taichung - Native-1 (TN1), tức là khi sống trên giống kháng RLT ăn ít hơn nhưng sử dụng tốt dịch thứ cấp Hoạt động của Glucosa sau khi ăn trên giống kháng rầy lưng trắng là thấp hơn có ý nghĩa so với ăn trên Taichung-Native-1 (TN1) và có tương quan thuận với sự thay đổi trọng lượng cơ thể côn trùng
Singh (1989) [41] đã nghiên cứu và cho rằng giống lúa lai kháng rầy lưng trắng chủ yếu có thể là do tính chịu đựng Ở một số giống cho thấy có thể có tính chịu đựng vào giai đoạn và tính kháng ở giai đoạn lúa già hơn Khi nghiên cứu di truyền tính kháng rầy lưng trắng sử dụng giống chuẩn nhiễm là TN1, tác giả Singh đã phát hiện ra việc điều khiển tính kháng ở Ptb19 và IET6288 là một gen trội, điều khiển tính kháng ở một loạt các giống khác như ARC5838, ARC6579, ARC6624, ARC10464, ARC11320, ARC11321, ARC11324, Bamawee, IR2415-90-4-3 là một gen lăn
1.2.6.5 Thiên địch của RLT
Trong tự nhiên, thiên địch là một yếu tố hạn chế số lượng quần thể rầy lưng trắng một cách đáng kể Khan và Saxena (1985) đã tập hợp và hiệu đính lại toàn bộ danh mục các loài thiên địch tự nhiên đã được công bố với RLT trong giai đoạn 1900 - 1984 Sau đó Reissig và cộng sự (1986) [37] đã minh họa bằng danh sách thiên địch tự nhiên phân bố ở các nước Á nhiệt đới như
Trang 31sau:
Có 8 loài ký sinh trên RLT trong đó có 4 loài ký sinh trứng, 4 loài ký sinh rầy non và trưởng thành có phân bố ở Nhật Bản, Ấn Độ, Srilanka, Tây Malaysia, Thailand, New Guinea, Philippines, Trung Quốc, Đài Loan, Triều Tiên, Fiji, Pakistan, Quần đảo Solomon, Indonesia và Australia Các nghiên cứu còn cho biết thiên địch của rầy lưng trắng gồm 9 loài côn trùng và 1 loài tác nhân gây bệnh [Dẫn theo 11]
Trong số các loài bắt mồi thì bọ xít và các loài nhện lớn bắt mồi ăn thịt được coi là những thiên địch quan trọng đối với 12 loải rầy trong đó có RLT (Swezey, 1936; Napompeth, 1973; Waloff, 1980; Kenmore, 1980; Ooi, 1982;
Cook và Perfec, 1985) Cyrtorhinus và Tytthus đặc biệt thích ứng với rầy non
tuổi nhỏ của 2 họ Delphacidae và Cicadellidae (Hinckley, 1963) [16]
Theo Benrey và cộng sự (1994) trong số các loài bọ rùa bắt mồi ăn thịt
thì loài Coccinella arcuta là quan trọng nhất và là thiên địch phổ biến nhất
của rầy nâu và RLT ở Ấn Độ, Fiji, Australia và Papua New Guinea Trong
các loài ong ký sinh trứng thì loài Anagrus flaveolus được ghi nhận là loài
ong ký sinh quan trọng nhất
Theo Otake và cộng sự (1976) [32] cho biết, tỷ lệ ký sinh ở loài ong này lên đến gần 100% với trứng RLT vào tháng 7 ở Kagawa (Nhật Bản) Ở Srilanka, Otake và cộng sự (1976) [27] đã thu được các loài ký sinh thuộc họ
Elenchidae (Strepsiptera), Dryinidae (Hymenoptera) và Pipunculidae (Diptera) Có trường hợp tỷ lệ ký sinh của 2 họ Elenchidae và Dryinidae lên
tới gần 40%, ở một vài tỉnh phía Bắc Thailand cũng có tình trạng tỷ lệ ký sinh trên rầy tương tự như ở Srilanka
Theo Watanabe và cộng sự (1992) [46], tỷ lệ ký sinh của trứng rầy lưng trắng ở vùng Muda (Malaysia) có thể thay đổi từ 11 - 90% Hai loại ký sinh
trứng Anagrus và Oligosita vũ hóa từ cả hai loại trứng rầy nâu và rầy lưng
Trang 32trắng, với trứng rầy lưng trắng thì Anagrus spp chiếm ưu thế suốt vụ và tỷ lệ
ký sinh cao nhất của loài này có thể đạt tới 69%
1.3 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Trong số các loài sâu hại trên lúa ở nước ta, loài RLT là một trong các đối tượng đã được nghiên cứu khá chi tiết về đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng trừ Dưới đây là một số kết quả nghiên cứu chính về RLT ở trong nước
1.3.1 Đặc điểm sinh học của rầy lưng trắng
Theo Ngô Đình Ngoan và Chia-hwa (1968) [6] thì rầy trưởng thành chủ yếu hoạt động vào buổi sáng, trưởng thành đực thành thục và hoạt động sớm hơn trưởng thành cái từ 1 - 2 ngày và trưởng thành cánh ngắn thì hoạt động chậm chạp hơn so với trưởng thành cánh dài Thời gian tiền đẻ trứng là
từ 3 - 4 ngày Rầy non mới nở màu xám sống quanh vỏ trứng 3 - 5 phút Rầy non gây hại nặng hơn so với rầy trưởng thành
Cũng theo Ngô Đình Ngoan và Chia-hwa (1968) [6] đã nghiên cứu sinh học RLT từ tháng 1 đến tháng 12 trong nhà lưới của Sở Bảo vệ mùa màng, cho kết quả: Trong điều kiện nhà lưới luôn đủ thức ăn thì RLT có thể phát sinh 16 thế hệ trong 1 năm và thời gian mỗi thế hệ là không giống nhau Giai đoạn trứng kéo dài 5,2 - 10,5 ngày (ngoại trừ thế hệ thứ nhất có thời gian dài nhất); giai đoạn rầy non của mỗi thế hệ kéo dài từ 9,6 - 15,4 ngày trừ thế hệ thứ 10 ngắn hơn Thời gian sống trung bình của rầy cái từ 2,3 - 16,0 ngày, của rầy đực từ 1,9 - 10,7 ngày Các thế hệ nuôi rầy trong phòng có tỷ lệ cánh dài thay đổi từ 7,6 - 49,1 %, cái cánh ngắn từ 0,0 - 47,9 %, rầy đực cánh dài từ 40,1 - 63,6 %
Nguyễn Đức Khiêm (1995) [5] đã tiến hành theo dõi các đặc tính sinh học và thu được kết quả như sau:
Ở điều kiện nhiệt độ là 23,8 - 29,8 0C và ẩm độ là 93- 94% thì thời gian
Trang 33phát dục của rầy lưng trắng là 16,4 - 16,7 ngày Còn ở điều kiện nhiệt độ là 26,1- 29,80C và ẩm độ 93- 93,9 % thì thời gian phát dục của rầy non là 12,5 - 12,9 ngày Vòng đời của rầy lưng trắng ở nhiệt độ 25,0 - 26,60C và ẩm độ 92 - 93,8% là 22 ngày Trong điều nhiệt độ là 24,9 - 26,40C và ẩm độ là 93 - 94% thì tỷ lệ trứng nở là 47,8%
Hồ Thị Thu Giang và cộng sự (2011) [4] cũng đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của RLT tại Hà Nội cho nhận xét:
Thời gian phát dục các pha của rầy lưng trắng giảm cùng với sự tăng của nhiệt độ từ 20 - 300C, ẩm độ từ 73,4 - 86,7% thời gian phát dục của trứng
là 5,49 - 9,10 ngày, rầy non là 12,48 - 15,08 ngày, vòng đời 20,86 - 29,88 ngày
Thời gian sống của trưởng thành RLT giảm đi khi nhiệt độ tăng từ
20-300c Thời gian sống kéo dài 19,50 ngày ở nhiệt độ 200c giảm xuống còn 15,29 ngày khi nhiệt độ tăng lên 300c Ở nhiệt độ 250c, RLT có số trứng đẻ cao nhất (174,20 quả/cái)
Tiến hành nuôi RLT trên mạ và lúa ở 15, 30 và 60 ngày tuổi cho thấy không có sự sai khác có ý nghĩa với một số chỉ tiêu sinh học như vòng đời, thời gian sống và sức sinh sản, tuy nhiên ở giai đoạn lúa 30 ngày tuổi thì tỷ lệ rầy non chết là thấp nhất (12,0%), số trứng đẻ là cao nhất đạt 193,60 quả Khi cây lúa già hơn thì số trứng đẻ cũng giảm dần
Đinh Văn Thành (2008) [9] đã mô tả đặc điểm của các pha phát dục của rầy lưng trắng như sau:
Ở nhiệt độ bình quân từ 20 - 300C, ẩm độ 74,3 - 85,5% , thời gian trứng là 5,5 - 8,6 ngày, thời gian trước đẻ là 3,8 - 5,6 ngày; Thời gian sống của rầy trưởng thành từ 7,4 - 14,0 ngày, vòng đời 21,2 - 29,4 ngày Khả năng sinh sản của một rầy cái từ 150 - 250 trứng (với các giống lúa Trung Quốc: Bắc Thơm 7, Khang Dân 18, Nhị Ưu 838…) và thấp hơn (dưới 80 trứng với
Trang 34các giống lúa IRRI: C70, Xi23…), diễn biến đẻ trứng có xu hướng tập trung ở những ngày đầu sau đó giảm dần
Vị trí đẻ trứng của RLT phụ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng của lúa: Khi lúa còn non, rầy đẻ chủ yếu vào mô bẹ của lá (99,28%) còn khi cây lúa già hơn rầy đẻ chủ yếu trên gân chính của lá lúa (77,0%) Đối với RLT, khả năng sinh sản của rầy cái cánh dài và rầy cánh ngắn là khác nhau không nhiều, một số chỉ tiêu sinh học như thời gian sống trung bình của rầy trưởng thành, thời gian tiền đẻ trứng, số trứng đẻ trung bình và tỷ lệ trứng nở giữa rầy mang bệnh và rầy không mang bệnh virus “lùn sọc đen phương Nam” là sai khác không có ý nghĩa
1.3.2 Sinh thái của rầy lưng trắng
1.3.2.1 Biến động số lượng quần thể và các nhân tố ảnh hưởng đến biến động số lượng quần thể rầy lưng trắng
Nguyễn Đức Khiêm (1995) [5] đã tiến hành theo dõi tình hình phát sinh của RLT trên đồng ruộng và khảo nghiệm mức nhiễm RLT của 14 giống lúa tại Trường Đại học Nông Nghiệp I-Hà Nội và có nhận xét:
- Về xu thế phát triển của RLT trên đồng ruộng: Mật độ RLT có xu hướng tăng dần từ lúc lúa hồi xanh đến làm đòng sau đó giảm dần RLT có 4 lứa trong vụ mùa, đỉnh cao mật độ vào lứa 3 ngày 6/8/1989 đạt 429 con/m2
- Trong 6 giống lúa được điều tra ngoài đồng ở khu vực Trường Đại học Nông Nghiệp I vụ mùa năm 1989 xếp thứ tự từ cao đến thấp là: Nếp 415, Mộc Tuyền, U17, Ch, KV, CR203 Tác giả này cũng cho biết theo kết quả điều tra thì mật độ rầy lưng trắng trong một vụ lúa cao nhất là vào lúc lúa đứng cái, làm đòng
- Trong tập đoàn 14 giống lúa của Bộ môn giống khoa Trồng trọt thì giống Nếp lai dòng bố nhiễm RLT, giống CR203 kháng cả rầy xanh, rầy nâu
và RLT
Trang 35- Trong thời điểm từ 23/09 - 01/11/1989 thì tỷ lệ RLT trưởng thành cánh ngắn so với cánh dìa là 3,2
Đinh Văn Thành (1998) [8] đã điều tra tình hình phát sinh rầy lưng trắng trên đồng ruộng tại Đông Anh - Hà Nội đã thu được kết quả như sau: Ngoài đồng ruộng một năm rầy lưng trắng phát sinh 7 đợt trong đó có 3 đợt đầu ở vụ chiêm xuân và 4 vụ sau ở vụ mùa Ở vụ chiêm xuân, mật độ quần thể có xu hướng tăng dần từ đầu vụ đến cuối vụ Còn vụ mùa, mật độ quần thể thường đạt đỉnh cao vào tháng 8 sau đó giảm dần về cuối vụ Ngoài đồng ruộng thì mật độ rầy lưng trắng tăng dần từ lúc lúa hồi xanh đến giai đoạn làm đòng sau đó giảm dần
1.3.2.2 Ảnh hưởng của giống lúa tới sự phát sinh, phát triển của rầy lưng trắng (giống nhiễm và giống kháng rầy lưng trắng)
Lê Thị Sen (1994)[7] đã nghiên cứu di truyền tính kháng rầy lưng trắng trên 6 giống lúa kháng địa phương của đồng bằng Sông Cửu Long bao gồm: Xoài cát, Base, Keo cha A, Ronglem, La và BR46 Tiến hành lai lần lượt từng giống với giống chuẩn nhiễm TN1 để có các thế hệ con lai F1, F2 và F3, sau
đó cho nhiễm nhân tạo bằng thả rầy lưng trắng tuổi 2-3 và tiến hành đánh giá, kết quả cho thấy: Thế hệ F1 ở tất cả các cặp lai là kháng tức là kháng là tính trội ở tất cả 6 giống Quần thể F2 từ các cặp lai của TN1 với Base, Keo cha A, Ronglem và La được phân ly với tỷ lệ 3:1 (3 kháng/1 nhiễm) cho thấy có một gen đơn trội điều khiển tính kháng Quần thể F2 của cặp lai TN1 với BR46 và với Xoài cát tương ứng với tỷ lệ phân ly 13:3 tức là tính kháng ở 2 giống được điều khiển bởi 1 gen lặn và 1 gen trội
Kết quả ở quần thể F3 đã khẳng định kết luận rút ra từ quần thể F2: Tất
cả các tổ hợp lai trừ TN1 x Xoài cát và TN1 x BR46 đều có tỷ lệ kháng, phân
ly, nhiễm là 1:2 và tính kháng là do gen đơn điều khiển còn các tổ hợp lai TN1 x Xoài cát có tỷ lệ kháng, phân ly và nhiễm là 7:8:1 và tính kháng cũng
Trang 36do gen đơn điều khiển
Tác giả này cho biết, trong số 953 giống được thí nghiệm tại vùng đồng bằng Sông Cửu Long có 7 giống phản ứng rất kháng (2 giống có tính kháng cao nhất là giống BR46 và giống Xoài Cát), 247 giống có phản ứng kháng,
411 giống có phản ứng trung bình và 288 giống có phản ứng nhiễm
Theo điều tra của Đinh Văn Thành (1998) [8], ở Vụ Xuân năm 1996 tại khu vực trồng lúa ở ngoại thành Hà Nội thì các giống lúa được gieo trồng trên đồng ruộng đều nhiễm rầy lưng trắng nhưng các giống Nếp, Ải 32 và CR203 nhiễm rầy cao hơn các giống khác
1.3.2.3 Thiên địch của RLT
Trong tự nhiên, RLT có nhiều loại thiên địch Thiên địch của RLT là một trong những yếu tố quan trọng nhất giúp điều tiết mật độ quần thể rầy trong hệ sinh thái đồng ruộng và là yếu tố ngày càng được quan tâm đến trong công tác phòng trừ RLT nói riêng cũng như các loại sâu hại trên đồng ruộng nói chung
Theo Ngô Đình Ngoan và Chia-hwa (1968) [6] trứng RLT bị 2 loại ong
ký sinh (một loài cánh màu xanh đen rộng hơn được cho là loài Eulophid, loài còn lại có màu nâu vàng được định danh là Anagrus sp.) Theo kết quả điều tra thì có trên 72% trứng RLT bị 2 loài này ký sinh và loài Eulophid quan
trọng hơn trong việc làm giảm tỷ lệ trứng nở của RLT
Theo Đinh Văn Thành (1998) [8] tại vùng trồng lúa ở Hà Nội có 18 loài thiên địch của rầy lưng trắng, chúng được chia làm hai nhóm: ký sinh và bắt mồi Nhóm bắt mồi gồm có 5 loài nhện lớn bắt mồi ăn thịt, 3 loài bọ rùa, 2 loài bọ xít, 1 loài bọ ba khoang và 1 loài bọ cánh ngắn; nhóm ký sinh thì chủ yếu là ong ký sinh (5 loài trong đó 4 loài là ký sinh trứng và 1 loài ký sinh rầy non ) và một loài là bọ cánh cuốn
Đinh Văn Thành và cộng sự (2008) [9] cho biết, trong một vụ lúa mật
Trang 37độ các loài thiên địch RLT có xu hướng tăng dần từ đầu vụ đến cuối vụ, mật
độ các loài thiên địch thường đạt đỉnh cao sau khi có đợt đỉnh cao về mật độ của rầy Trong 5 loài thiên địch thì mật độ quần thể của các loài này được xếp
từ cao xuống thấp là nhện bắt mồi, bọ xít mù xanh, bọ cánh cứng cánh ngắn,
bọ rùa đỏ và bọ ba khoang
Như vậy, cả trên thế giới và ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về tình hình phân bố, phát sinh gây hại, các đặc điểm sinh học sinh thái của RLT và các giải pháp phòng trừ chúng Tuy nhiên, các nghiên cứu chi tiết
về các yếu tố ảnh hưởng tới phát sinh gây hại và diễn biến mật độ của RLT ở các điều kiện sinh thái và canh tác cụ thể vẫn là điều hết sức cần thiết Các nghiên cứu này sẽ giúp cho việc xây dựng các giải pháp phòng trừ chúng một cách có hiệu quả cho từng địa phương cụ thể
Trang 38CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
- Dụng cụ nghiên cứu: khay điều tra rầy kích thước 20 x 20 x 5 cm
- Ống hút côn trùng
- Ống nghiệm thuỷ tinh
- Vợt côn trùng đường kính 30 cm, cán dài 1 m
- Lọ đựng mẫu
- Giá đựng ống nghiệm
- Kính lúp cầm tay
- Bút lông, pince, foocmon môn, cồn, sổ ghi chép, bút chì, thước
- Bẫy đèn được thiết kế theo tiêu chuẩn Việt Nam 10 TCVN 224: 2003 về phương pháp điều tra phát hiện sinh vật hại cây trồng
- Các giống lúa trồng phổ biến tại Vụ Bản, Nam Định: Tạp giao, Bắc thơm số 7, Khang dân 18, BC15
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra thành phần nhóm rầy hại lúa và thiên địch của chúng trên lúa tại Vụ Bản, Nam Định
- Điều tra diễn biến mật độ RLT, ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái (giống lúa, chân đất, chế độ phân bón, thời vụ, thiên địch) đến mật độ RLT trên đồng ruộng
- Theo dõi biến động số lượng RLT vào đèn
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp điều tra
- Phương pháp điều tra và giám định thành phần nhóm rầy hại lúa và thiên địch trên lúa (Kết hợp điều tra khi điều tra diễn biến mật độ rầy lưng
Trang 39trắng và thiên địch của chúng): được thực hiện theo Phương pháp Nghiên cứu Bảo vệ thực vật (Viện Bảo vệ thực vật, 1997) Cụ thể như sau:
+ Chọn ruộng điều tra: Mỗi giống, trà lúa, loại chân đất, chế độ thâm canh khác nhau chọn 2 - 3 ruộng điển hình để điều tra
+ Thời gian bắt đầu điều tra: 7 ngày sau cấy, điều tra định kỳ 7 ngày/lần cho tới khi thu hoạch lúa
+ Dùng bẫy dính vàng, đặt và thu bẫy định kỳ 7 ngày/lần, bẫy được đem về đếm rầy các tuổi và ký sinh thiên địch
+ Mỗi ruộng điều tra 5 điểm chéo góc, mỗi điểm điều tra 6 khóm không liên tiếp bằng khay tráng dầu có kích thước (20 x 20 x 5cm) để xác định mật
độ RLT và thiên địch của chúng Nghiêng khay sát thân cây lúa một góc 45°, đập 2 đập Thu bắt và đếm toàn bộ số RLT và số cá thể của các loài thiên địch
+ Độ bắt gặp nhóm rầy hại thân và thiên địch chính
Số điểm có rầy/thiên địch
Độ bắt gặp (%) = x100 Tổng số điểm điều tra
Trang 40* Tỷ lệ số lượng từng loài (%):
Na
Tỷ lệ loài (%) = - x 100
N Trong đó:
Na: số lượng cá thể từng loài (theo giai đoạn sinh trưởng của cây lúa) N: Tổng số cá thể rầy hại thân đã điều tra được
2.3.2 Theo dõi biến động số lượng rầy lưng trắng vào đèn
- Địa điểm đặt bẫy đèn: Hiển Khánh, Vụ Bản, Nam Định
- Thời gian đặt đèn: Từ 19 đến 22 giờ, đốt đèn liên tục trong 2 vụ Mùa năm 2013 và Xuân 2014
- Mẫu bẫy đèn: theo qui định của Tiêu chuẩn ngành 10 TCN 224: 2003
về phương pháp điều tra phát hiện sinh vật hại cây trồng
- Tiến hành phân loại và ghi chép vào mỗi buổi sáng
- Chỉ tiêu theo dõi:
+ Số lượng rầy lưng trắng con/đèn/đêm
+ Xác định thời điểm trưởng thành ra rộ
2.3.3 Theo dõi diễn biến mật độ rầy lưng trắng dưới ảnh hưởng của một
số yếu tố sinh thái