1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu sự tham gia của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng tại huyện kiến xương tỉnh thái bình

129 712 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 5,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC BẢNG 4.1 Hiện trạng phát triển cơ sở hạ tầng trên địa bàn huyện Kiến Xương 38 4.2 Cơ cấu vốn đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn 3 xã 4.3 Cơ cấu vốn đầu tư cho xây dự

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

ĐÀM QUANG TRIỂN

NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN

TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG TẠI HUYỆN KIẾN XƯƠNG - TỈNH THÁI BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, NĂM 2015

Trang 2

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

ĐÀM QUANG TRIỂN

NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN

TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG

TẠI HUYỆN KIẾN XƯƠNG - TỈNH THÁI BÌNH

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Đàm Quang Triển

Trang 4

và Phát triển nông thôn đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo và cán bộ UBND huyện Kiến Xương, UBND các xã Nam Cao, Bình Minh và Thượng Hiền cùng bà con nông dân, trên địa bàn các xã đã tạo điều kiện và hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập số liệu

Cuối cùng, tôi xin trân trọng cảm ơn những người thân trong gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả

Đàm Quang Triển

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ THAM GIA CỦA

2.1.2 Vai trò của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn 5 2.1.3 Nội dung sự tham gia của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng

2.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong xây

Trang 6

2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước về sự tham gia của người dân trong

2.2.2 Những kết quả bước đầu về xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn ở

2.2.3 Điển hình một mô hình xây dựng cơ sở hạ tầng có sự tham gia của

3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin 35

4.1 Thực trạng sự tham gia của người dân trong chương trình xây dựng

4.1.4 Tổ chức thực hiện trong xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn huyện 42 4.1.5 Các hình thức đóng góp và huy động đóng góp trong xây dựng cơ

Trang 7

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong chương

người dân trong chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng 76

Trang 8

MTQG : Mục tiêu Quốc gia

NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn

QĐ-TTg : Quyết định của thủ tướng chính phủ

QĐ/TW : Quyết định của Trung ương

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

4.1 Hiện trạng phát triển cơ sở hạ tầng trên địa bàn huyện Kiến Xương 38 4.2 Cơ cấu vốn đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn 3 xã

4.3 Cơ cấu vốn đầu tư cho xây dựng nhà văn hóa trên địa bàn xã Nam

4.4 Sự tham gia của người dân vào giai đoạn trước khi xây dựng 45 4.5 Sự tham gia của người dân vào giai đoạn thi công xây dựng 47 4.6 Các hình thức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng 48

4.8 Ý kiến của người dân về sự tham gia của mình vào giai đoạn quản

4.9 Mức độ sẵn lòng tham gia quản lý, duy tu, sửa chữa cơ sở hạ tầng 53 4.10 Ý kiến của người dân về tác động sự tham gia của người dân trong

xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn huyện Kiến Xương 56 4.11 Quan điểm của người dân về xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn

4.16 Quan điểm của cán bộ các cấp chính quyền về sự tham gia của

người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn 68 4.17 Quan điểm của người dân về sự tham gia của mình trong xây dựng

4.18 Những khó khăn trong việc tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn 75

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ

Sơ đồ 2.1 Nội dung tham gia của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng

Sơ đồ 4.1 Mô hình tổ chức thực hiện trong giai đoạn trước khi xây dựng

Đồ thị 4.1 Khó khăn thu hút doanh nghiệp xây dựng cơ sở hạ tầng 67

Trang 11

DANH MỤC HỘP

4.1 Giảm chi phí xây dựng khi có sự tham gia của người dân 55

4.3 Ý kiến của người dân về ích lợi của việc xây dựng cơ sở hạ tầng 564.4 Khó khăn về thu hút nguồn vốn xây dựng cơ sở hạ tầng 59 4.5 Khó khăn về các khoản đóng góp của người dân 764.6 Công tác tuyên truyền trong xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn 814.7 Tác động của công tác tuyên truyền trong xây dựng cơ sở hạ tầng

NTM 49 4.4 Cán bộ, nhân viên Ban Chỉ huy Quân sự huyện, lực lượng dân quân

tự vệ xã Bình Minh tham gia làm đường giao thông 72

Trang 12

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực trạng kết cấu hạ tầng nông thôn trên cả nước (điện, đường, trường, trạm, chợ, thủy lợi) nhìn chung còn nhiều yếu kém, vừa thiếu, vừa không đồng bộ; nhiều hạng mục công trình đã xuống cấp, tỷ lệ giao thông nông thôn được cứng hoá thấp; giao thông nội đồng ít được quan tâm đầu tư; hệ thống thuỷ lợi cần được đầu tư nâng cấp; chất lượng lưới điện nông thôn chưa thực sự an toàn; cơ sở vật chất về giáo dục, y tế, văn hoá còn rất hạn chế, mạng lưới chợ nông thôn chưa được đầu tư đồng bộ, trụ sở xã nhiều nơi xuống cấp Mặt bằng để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn đạt chuẩn quốc gia rất khó khăn

Nhu cầu vốn để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng là rất lớn Khả năng huy động vốn trong dân rất khó khăn, phần lớn hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng

ở các địa phương vẫn dựa chủ yếu vào nguồn vốn Nhà nước, chưa tạo được một động lực đầu tư của nhân dân, toàn xã hội Để tạo điều kiện thuận lợi trong xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng nông thôn cũng như thúc đẩy quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn huyện cần có chính sách thu hút đầu

tư nhằm mang lại hiệu quả cao

Kiến Xương là một huyện nông thôn của tỉnh Thái Bình, những năm qua hưởng ứng phong trào xây dựng (NTM), các công trình kỹ thuật, các công trình văn hóa, phúc lợi công cộng được quan tâm, đầu tư xây dựng Tuy nhiên, một số công trình xây dựng chưa đáp ứng được theo quy hoạch, tiến độ xây dựng các công trình chưa đảm bảo, cảnh quan nông thôn chưa thật sự khang trang, sự tham gia đóng góp của người dân còn nhiều hạn chế đã gây không ít khó khăn cho quá trình triển khai xây dựng trên địa bàn huyện Vấn đề tham gia của người dân và các tổ chức, tập thể vẫn chưa được cụ thể hoá một cách chi tiết, chưa mô phỏng nó thành phương pháp để thực hiện có tính đồng bộ, thống nhất, phù hợp với tình hình thực tế

Nghiên cứu sự tham gia của người dân trong chương trình xây dựng cơ sở hạ

Trang 13

tầng ở nông thôn là một vấn đề hết sức cần thiết Vì vậy tôi quyết định chọn nghiên

cứu đề tài “Nghiên cứu sự tham gia của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình ” làm đề tài nghiên cứu của mình

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đề xuất các giải pháp để thúc đẩy sự tham gia của người dân trong việc xây

dựng cơ sở hạ tầng tại huyện Kiến Xương

1.3 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

- Nghiên cứu các nội dung về sự tham gia của người dân trong việc xây dựng Cơ sở hạ tầng trên địa bàn huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình:

+ Mức độ tham gia của người dân vào các giai đoạn thi công công trình (trước thi công, trong quá trình thi công và sau khi thi công công trình)

+ Nguồn đóng góp của người dân vào xây dựng cơ sở hạ tầng

+ Ý kiến của người dân về ích lợi của việc xây dựng cơ sở hạ tầng

+ Những bất cập, hạn chế trong quá trình huy động sự tham gia của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng

+ Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng

- Đối tượng khảo sát là người dân, cán bộ nhà nước, các doanh nghiệp có liên quan trên địa bàn có cơ sở hạ tầng được xây dựng trên cơ sở có sự tham gia của các đối tượng đó trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng

Trang 14

1.4 Phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Phạm vi về nội dung

Đề tài đi sâu nghiên cứu sự tham gia của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng tập trung vào một số vấn đề cơ bản: (1) thực trạng sự tham gia của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; (2) Giải pháp thúc đẩy người dân tích cực tham gia trong xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn tại huyện Kiến Xương

1.4.2 Phạm vi về không gian

Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình

1.4.3 Phạm vi về thời gian

Số liệu thu thập được từ các tài liệu đã công bố trong khoảng thời gian

từ năm 2011 đến năm 2014; số liệu khảo sát thực trạng được điều tra từ năm

2013 đến năm 2015

Trang 15

PHẦN II

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI

DÂN TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Các khái niệm có liên quan

* Cơ sở hạ tầng nông thôn

Cơ sở hạ tầng nông thôn là một bộ phận của tổng thể cơ sở hạ tầng vật chất -

kỹ thuật nền kinh tế quốc dân Đó là những hệ thống thiết bị và công trình vật chất -

kỹ thuật được tạo lập phân bố, phát triển trong các vùng nông thôn và trong các hệ thống sản xuất nông nghiệp, tạo thành cơ sở, điều kiện chung cho phát triển kinh tế,

xã hội ở khu vực này và trong lĩnh vực nông nghiệp (Mai Thanh Cúc và cs., 2005)

Cơ sở hạ tầng nông thôn có thể bao gồm những hệ thống cấu trúc, thiết bị và công trình chủ yếu sau:

- Hệ thống và các công trình thuỷ lợi, thuỷ nông, phòng chống thiên tai, bảo vệ

và cải tạo đất đai, tài nguyên, môi trường trong nông nghiệp nông thôn như: đê điều, kè đập, cầu cống và kênh mương thuỷ lợi, các trạm bơm…

- Các hệ thống và công trình giao thông vận tải trong nông thôn: cầu cống, đường xá, kho tầng bến bãi phục vụ trực tiếp cho việc vận chuyển hàng hoá, giao lưu đi lại của dân cư

- Mạng lưới và thiết bị phân phối, cung cấp điện, mạng lưới thông tin liên lạc…

- Những công trình xử lý, khai thác và cung cấp nước sạch sinh hoạt cho dân

cư nông thôn

- Mạng lưới và cơ sở thương nghiệp, dịch vụ cung ứng vât tư, nguyên vật liệu,

mà chủ yếu là những công trình chợ búa và tụ điểm giao lưu buôn bán

- Cơ sở nghiên cứu khoa học, thực hiện và chuyển giao công nghệ kỹ thuật; trạm trại sản xuất và cung ứng giao giống vật nuôi cây trồng

- Nội dung của cơ sở hạ tầng trong nông thôn cũng như sự phân bố, cấu trúc trình độ phát triển của nó có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực, quốc gia cũng

Trang 16

như giữa các địa phương, vùng lãnh thổ của đất nước Tại các nước phát triển , cơ

sở hạ tầng nông thôn còn bao gồm cả các hệ thống, công trình cung cấp gas, khí đốt,

xử lý và làm sạch nguồn nước tưới tiêu nông nghiệp, cung cấp cho nông dân nghiệp

vụ khuyến nông

- Rõ ràng cơ sở hạ tầng nông thôn rất đa dạng, vì vậy trong nội dung nghiên cứu của đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu về đường giao thông nông thôn của các vùng nghiên cứu

* Mô hình cơ sở hạ tầng

Ngày 16/4/2009, Thủ tướng Chính phủ đã k ý Quyết định số 491/QĐ-TTg, ban hành ”Bộ tiêu chí quốc gia về cơ sở hạ tầng” bao gồm 19 tiêu chí và được chia thành 5 nhóm: Nhóm tiêu chí về quy hoạch; về hạ tầng kinh tế - xã hội; kinh tế và tổ chức sản xuất; văn hóa – xã hội – môi trường và hệ thống chính trị

* Nông thôn và đặc điểm của nông thôn

Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác (Mai Thanh Cúc và cs., 2005)

Nông thôn là vùng khác với đô thị là ở đó có một cộng đồng chủ yếu là nông dân, làm nghề chính là nông nghiệp; có mật độ dân cư thấp hơn, có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có mức độ phúc lợi xã hội thua kém hơn, có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp hơn (Mai Thanh Cúc và cs., 2005)

Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam chúng ta có thể hiểu:

“Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác” (Mai Thanh Cúc và cs., 2005)

2.1.2 Vai trò của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn

Người dân tại cộng đồng nông thôn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong các hoạt động của quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Họ là người có nhu

Trang 17

cầu nhưng không có điều kiện đáp ứng nhu cầu, là người phản ánh nhu cầu cần có

sự hỗ trợ nhưng lại là người thực hiện, đánh giá, hưởng lợi… Do đó, cần thay đổi tư duy về cơ sở hạ tầng từ trong nhận thức, cách nghĩ và hoạt động của cơ sở hạ tầng trong tư tưởng người dân, hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng được bắt đầu từ nhu cầu thực tiễn của người dân, do dân đề xuất, thực hiện, nhân tố bên ngoài chỉ đóng vai trò hỗ trợ, tư vấn khi cần thiết để việc xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mang lại hiệu quả thiết thực và bền vững (Vũ Trọng và cs., 2004)

Trong toàn bộ quá trình phát triển nông nghiệp và nông thôn hiện nay, người dân nói chung và người nông dân nói riêng giữ vị trí là "chủ thể", đây là sự khẳng định đúng đắn, cần thiết nhằm khơi dậy và phát huy mọi tiềm năng của người dân trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; đồng thời nhằm bảo đảm những quyền lợi chính đáng của người dân Vai trò của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn được thể hiện ở chỗ: Chủ thể tích cực tham gia vào quá trình xây dựng quy hoạch và thực hiện quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Trực tiếp trong phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn (Vũ Trọng và cs., 2004)

Để phát huy vai trò của người dân hiện nay, Nghị quyết đại hội XI của đảng nêu rõ: "Nâng cao trình độ giác ngộ của giai cấp nông dân, tạo điều kiện để nông dân tham gia đóng góp và hưởng lợi nhiều hơn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hỗ trợ, khuyến khích nông dân học nghề, chuyển dịch cơ cấu lao động, tiếp nhận và áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi để nông dân chuyển sang làm công nghiệp và dịch vụ Nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn; thực hiện có hiệu quả bền vững công cuộc xóa đói, giảm nghèo, làm giàu hợp pháp" Quan điểm đó của đảng, thực sự là những giải pháp quan trọng để khơi dậy và phát huy vai trò chủ thể của người dân trong phát triển đất nước nói chung, trong xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn nói riêng ở nước ta (Tạp chí Cộng sản,2011)

2.1.3 Nội dung sự tham gia của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn

Khi áp dụng vào thực tế, sự tham gia dường như thể hiện ở nhiều dạng khác nhau Sự tham gia là một khái niệm khó nắm bắt mà sự phân biệt giữa các dạng khác

Trang 18

nhau là không dễ dàng Tuy nhiên, trong bản tóm tắt của các dự án phát triển của các quốc gia và các tổ chức phi chính phủ có gợi ý rằng ba dạng khác nhau của sự tham gia trong thực tế là: đóng góp, tổ chức và trao quyền (Trương Văn Tuyển, 2007)

Tham gia là đóng góp: Theo cách hiểu này, sự tham gia nhấn mạnh đến sự

tự nguyện hay các dạng khác của sự đóng góp của người dân nông thôn để quyết định trước các chương trình và dự án Ví dụ như các dự án về y tế, cấp nước, lâm nghiệp, cơ sở hạ tầng và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên chủ yếu nhằm vào sự đóng góp của người dân nông thôn ẩn trong sự tham gia và thực sự là cơ sở

để thành công (Trương Văn Tuyển, 2007)

Tham gia là tổ chức: Đã có các cuộc tranh luận rất lâu về phạm vi của lý

thuyết và thực tế phát triển rằng sự tổ chức là công cụ cơ bản của sự tham gia Rất ít người tranh luận về luận điểm này nhưng sẽ không đồng ý về bản chất và phát triển của sự tổ chức Sự phân biệt giữa nguồn gốc của dạng tổ chức mà sẽ dùng như là phương tiện cho sự tham gia, hoặc các tổ chức này được giới thiệu và hình thành bên ngoài như hợp tác xã, hội nông dân, ban y tế…, hay các tổ chức này xuất hiện

và tự cơ cấu mình như là kết quả của quá trình có sự tham gia Cán bộ phát triển nhìn nhận có nhu cầu lớn về hỗ trợ hình thành các tổ chức thích hợp của người nông dân, tuy vậy chỉ khuyến khích để người dân nông thôn tự quyết định bản chất và

cấu trúc của tổ chức (Trương Văn Tuyển, 2007)

Tham gia là trao quyền: Khái niệm về sự tham gia như là sự áp dụng trao

quyền cho người dân đã được ủng hộ rộng rãi hơn trong những năm gần đây Tuy nhiên, đó là một khái niệm khó định nghĩa và gây ra nhiều cách giải thích khác nhau Một số coi trao quyền là sự phát triển các kỹ năng và khả năng giúp người dân nông thôn quản lý tốt hơn, có tiếng nói và đàm phán với hệ thống tổ chức, dịch

vụ phát triển hiện có, một số khác lại coi đó là cơ bản và cần thiết liên quan đến cho phép người dân quyết định và tự thực hiện những việc mà họ cho rằng cần thiết cho

sự phát triển của mình (Trương Văn Tuyển, 2007)

Một yếu tố chủ yếu trong chiến lược phát triển cộng đồng là “sự tham gia của quần chúng” Nó đã chứng tỏ là một trong những thành tố chính của phát triển

Trang 19

trong thời gian gần đây vì nhiều lý do Một là, sự tham gia của quần chúng là phương tiện hữu hiệu để huy động tài nguyên địa phương, tổ chức và tận dụng năng lực, sự khôn ngoan, tính sáng tạo của quần chúng vào các hoạt động phát triển Hai

là, nó giúp xác định nhu cầu tiên khởi của cộng đồng và giúp tiến hành những hoạt động phát triển để đáp ứng những nhu cầu này Quan trọng hơn cả là sự tham gia của quần chúng cho dự án hay hoạt động được công nhận, khuyến khích người dân tham gia thực hiện và đảm bảo khả năng bền vững Kinh nghiệm gần đây cho những hoạt động phát triển cho thấy rằng có một mối liên hệ quan trọng giữa mức

độ và cường độ tham gia của người dân với sự thành công của những hoạt động phát triển

Sự tham gia tích cực của người dân mặc dù được xem là một thành tố chủ yếu trong phát triển, vẫn bị chi phối bởi những điều kiện của bối cảnh diễn ra hoạt động phát triển Hơn nữa, mức độ tham gia khác nhau tùy theo tính chất của dự án phát triển

Ở hầu hết các nước, sự tham gia của người dân vào phát triển diễn ra vào mức độ cao cho tới chỗ chỉ tham gia một cách hình thức Mức độ tham gia khác nhau tùy thuộc vào nhiều yếu tố như mô hình phát triển, phong cách quản lý, mức độ nâng cao quyền lực

và bối cảnh văn hóa xã hội của đất nước hay cộng đồng Khả năng vận động người dân tham gia và năng lực để tham gia của nhóm đối tượng cũng là những yếu tố quyết định Khuyến khích sự tham gia của người dân nhiều hơn vào các giai đoạn khác nhau của chương trình, dự án phát triển nhờ vậy các kết quả đạt được phù hợp với nhù cầu địa phương, kết quả đạt được cũng có tính bền vững

Người dân và cán bộ cơ sở có trách nhiệm và nhiệt tình hơn với sự minh bạch và được làm chủ quản lý quá trình phát triển Người dân có điều kiện giám sát việc thực hiện, giảm thiểu việc sử dụng sai mục đích ở các cấp khác nhau Mặt khác trong điều kiện nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước cho phát triển nông thôn là rất hạn chế, hướng tới triển vọng một chương trình xây dựng nông thôn mới trên phạm vi cả nước, có thể thấy phát triển dựa vào nội lực và do người dân làm chủ là cách tiếp cận đúng Theo cách tiếp cận này sẽ đảm bảo đồng thời phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn mà không làm gia tăng gánh nặng cho ngân sách nhà nước

Trang 20

Sự tham gia của người dân vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn được coi như nhân tố quan trọng, làm giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước, quyết định sự thành bại của việc áp dụng phương pháp tiếp cận phát triển dựa vào nội lực

và do cộng đồng làm chủ Khi tham gia vào quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, với sự hỗ trợ của Nhà nước, người dân tại các cộng đồng dân cư nông thôn sẽ từng bước được tăng cường kỹ năng, năng lực về quản lý nhằm tận dụng triệt để các nguồn lực tại chỗ và bên ngoài Khi xem xét quá trình tham gia của người dân trong các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, vai trò của người dân ở đây được thể hiện: “Dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý và dân hưởng lợi” Như vậy, vai trò của người dân vẫn theo một trật tự nhất định, các trật tự ở đây hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Đảng ta “lấy dân làm gốc” Các nội dung trong vai trò của người dân vào việc tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn được hiểu là:

- Dân biết: là quyền lợi, nghĩa vụ và sự hiểu biết của người nông dân về

những kiến thức bản địa có thể đóng góp vào quá trình quy hoạch xây dựng cơ

sở hạ tầng nông thôn, quá trình khảo sát thiết kế các công trình xây dựng cơ sở

hạ tầng nông thôn Mặt khác, người dân có điều kiện tham gia hiệu quả hơn vào các giai đoạn sau của quá trình xây dựng công trình; người dân nắm được thông tin đầy đủ về công trình mà họ tham gia như mục đích xây dựng công trình, các yêu cầu đóng góp từ cộng đồng, trách nhiệm và quyền lợi của cộng đồng người dân được hưởng lợi

- Dân bàn: bao gồm sự tham gia ý kiến của người dân trong quá trình thiết

kế, xây dựng các công trình, phương thức khai thác công trình, tổ chức quản lý công trình, các mức đóng góp và các định mức chi tiêu từ các nguồn thu, phương thức quản lý tài chính,… trong nội bộ cộng đồng dân cư hưởng lợi

- Dân đóng góp: là một yếu tố không chỉ ở phạm trù vật chất, tiền bạc mà

còn ở cả phạm trù nhận thức về quyền sở hữu và tính trách nhiệm, tăng tính tự giác của từng người dân trong cộng đồng Hình thức đóng góp có thể bằng tiền, sức lao động, vật tư tại chỗ hoặc đóng góp bằng trí tuệ

Trang 21

- Dân làm: chính là sự tham gia lao động trực tiếp từ người dân vào các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn như đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các hoạt động của các nhóm khuyến nông, khuyến lâm, nhóm tín dụng tiết kiệm và những công việc liên quan đến tổ chức tiếp nhận, quản lý và sử dụng công trình Người dân trực tiếp tham gia vào quá trình cụ thể trong việc lập kế hoạch có sự tham gia cho từng hoạt động thi công, quản lý và duy tu bảo dưỡng, từ những việc tham gia

đó đã tạo cơ hội cho người dân có việc làm, tăng thu nhập cho người dân

- Dân kiểm tra: có nghĩa là thông qua các chương trình, hoạt động có sự

giám sát và đánh giá của người dân, để thực hiện các quy chế dân chủ cơ sở của Đảng và Nhà nước nói chung và nâng cao hiệu quả chất lượng công trình Ở những công trình có nhiều bên tham gia, sự kiểm tra, giám sát của cộng đồng hưởng lợi có tác động tích cực trực tiếp đến chất lượng công trình và tính minh bạch trong việc sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và của người dân vào xây dựng, quản lý và vận hành công trình Việc kiểm tra có thể được tiến hành ở tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư trên các khía cạnh kỹ thuật cũng như tài chính

- Dân quản lý: đó là các thành quả của các hoạt động mà người dân đã tham

gia; các công trình sau khi xây dựng xong cần được quản lý trực tiếp của một tổ chức

do nông dân hưởng lợi lập ra để tránh tình trạng không rõ ràng về chủ sở hữu công trình Việc tổ chức của người dân tham gia duy tu, bảo dưỡng công trình nhằm nâng cao tuổi thọ và phát huy tối đa hiệu quả trong việc sử dụng công trình

- Dân hưởng lợi: chính là lợi ích mà các cơ sở hạ tầng mang lại, tuy nhiên cần

chia ra các nhóm hưởng lợi ích trực tiếp và nhóm hưởng lợi gián tiếp Nhóm hưởng lợi trực tiếp là nhóm thụ hưởng các lợi ích từ các công trình mới như thu nhập tăng thêm từ việc giao thông thuận lợi, đường điện ổn định Nhóm hưởng lợi gián tiếp

là nhóm thụ hưởng thành quả của các hoạt động đó, để hưởng lợi từ mức độ cải thiện môi trường sinh thái, học hỏi nhóm hưởng lợi trực tiếp từ các mô hình nhân rộng, mức độ tham gia vào thị trường để tăng thu nhập,…

Trang 22

Sơ đồ 2.1: Nội dung tham gia của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng

Trang 23

hiện tăng năng lực, quyền lực của người dân Mang tính bền vững vì người dân thể hiện vai trò làm chủ với trách nhiệm cao của mình

2.1.3.2 Mức độ tham gia

Có nhiều hình thức để người dân tham gia như:

- Không có sự tham gia

+ Cán bộ điều khiển: người dân làm và thực hiện theo ý của cán bộ, không được hiểu rõ như người dân bị gọi đi làm công ích, đóng góp tiền cho một hoạt động nào đó mà không được biết, không được thảo luận

+ Tham gia mang tính hình thức: cán bộ cũng có gọi dân đến, cho dân phát biểu ý kiến nhưng chỉ có lệ , mọi việc cán bộ quyết theo ý mình

- Tham gia ít

+ Người dân được thông báo và giao nhiệm vụ, hiểu rõ những việc cán bộ muốn họ tham gia, sau đó người dân đóng góp công sức hay tiền của theo khả năng của mình

+ Người dân được hỏi ý kiến: kế hoạch công tác do cán bộ thiết kế và quản

lý, người dân được mời tham gia thảo luận, hỏi lấy ý kiến, cán bộ lắng nghe nghiêm túc, sau đó cán bộ điều chỉnh kế hoạch (nếu cần thiết) cho phù hợp với dân rồi cùng thực hiện

- Tham gia thực sự

+ Cán bộ khởi xướng, người dân cùng tham gia lấy quyết định: cán bộ là người khởi xướng, có ý tưởng Người dân chủ động tham gia cùng cán bộ trong các khâu lập

kế hoạch, quyết định chọn các phương án và tổ chức thực hiện

+ Người dân khởi xướng và cùng cán bộ ra quyết định: người dân khởi xướng, lập kế hoạch, cán bộ cùng dân quyết định chọn các phương án và tổ chức thực hiện

+ Người dân khởi xướng quyết định chọn các phương án và có sự hỗ trợ của cán bộ: người dân khởi xướng, lập kế hoạch, quyết định chọn các phương án và tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát Cán bộ đóng vai trò khi người dân cần

+ Người dân tự lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, cán bộ hỗ trợ khi cần thiết Các mức độ tham gia này có thể minh họa phương thức “Nhà nước và nhân

Trang 24

dân cùng làm” với các bước dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý và dân hưởng lợi

* Các mức độ tham gia của người dân có thể được coi như một tiến trình liên tục và chia thành 5 cấp độ khác nhau:

+ Tham gia thụ động: người dân thụ động tham gia vào các hoạt động phát triển làng, xã, bảo gì làm đấy, không tham dự vào quá trình ra quyết định

+ Tham gia thông qua việc cung cấp thông tin: thông qua việc trả lời các câu hỏi điều tra của các nhà nghiên cứu Người dân không tham gia vào quá trình phân tích và sử dụng thông tin

+ Tham gia bởi nghĩa vụ hay bị bắt buộc: thông qua việc đóng góp lao động, tiền hay một số nguồn lực khác Người dân cho rằng đây là nghĩa vụ họ phải đóng góp Các hoạt động thường do các tổ chức quần chúng, cán bộ dự án khởi xướng, định hướng và hướng dẫn

+ Tham gia bởi định hướng từ bên ngoài: người dân tự nguyện tham gia vào các tổ, nhóm do dự án hoặc các chương trình khởi xướng Bên ngoài hỗ trợ và người dân tự chịu trách nhiệm trong việc ra quyết định

+ Tự nguyện: người dân tự khởi xướng về việc xác định, lập kế hoạch, thực hiện

và đánh giá các hoạt động phát triển không có sự định hướng từ bên ngoài

2.1.3.3 Các hình thức đóng góp và huy động đóng góp trong xây dựng cơ sở hạ tầng

Ngày 13/8/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Văn bản KTN về việc huy động vốn đóng góp của dân để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, trong đó yêu cầu “Việc huy động, đóng góp của người dân phải tùy thuộc vào khả năng, hoàn cảnh cụ thể của từng vùng, từng địa phương, không quy định cứng nhắc tỷ lệ chi của Nhà nước và đóng góp của nhân dân Việc huy động đóng góp của người dân phải được bàn bạc dân chủ và phải được sự đồng tình của người dân Tuyệt đối không được yêu cầu người dân đóng góp bắt buộc và huy động quá sức dân; không được yêu cầu những hộ dân nghèo, người già, người tàn tật không nơi nương tựa, hộ khó khăn, gia đình chính sách phải đóng góp Đồng thời phải tăng cường tuyên truyền đến người dân hiểu và tự nguyện tham gia” Theo đó, các hình thức đóng góp và huy động đóng góp trong xây dựng

Trang 25

số1447/TTg-cơ sở hạ tầng cũng khá là đa dạng:

Với những tuyến đường bộ, đường điện, trường học, trạm y tế và kênh mương cấp xã, huyện việc đóng góp của người dân là rất ít và hầu như không có vì không có hợp tác với người dân trong dự án Cộng đồng không được tham gia, chỉ một số ít công trình thì người dân được thông báo tuy nhiên trách nhiệm đối với những công trình này rất ít

Ngược lại việc huy động đóng góp trong xây dựng đường giao thông thôn xóm, hệ thống kênh mương nội đồng, đường điện liên thôn, nhà văn hóa thôn tại các xã của huyện được tiến hành với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, phù hợp với điều kiện thực tế ở từng địa phương Từng địa bàn dân cư đã phát huy mạnh mẽ quy chế dân chủ ở cơ sở trong triển khai thực hiện Các địa phương thực hiện nghiêm túc nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát” và tổ chức công khai, minh bạch trong tất cả các khâu từ tổ chức họp dân để bàn chủ trương, lựa chọn công trình, công khai mức huy động đóng góp Qua đó, tạo điều kiện để nhân dân tham gia giám sát thi công, nghiệm thu đến khâu quản lý bảo vệ, duy tu, bảo dưỡng công trình… đều được nhân dân bàn bạc, thống nhất, đồng thuận cao Kể cả việc miễn giảm đối với các đối tượng chính sách, những hộ nghèo cũng được nhân dân bàn bạc, xem xét cụ thể

Việc huy động nguồn lực tại các xã có nhiều hình thức phong phú, đa dạng Tuy nhiên đối với mỗi xã, thôn lại có từng cách riêng phù hợp thực tế của mỗi địa phương, như huy động bằng ngày công lao động, huy động nhân dân đóng góp vật liệu xây dựng (đất, cát, sỏi ), đóng góp bằng tiền mặt Đóng góp của người dân trên địa bàn các xã cho xây dựng đường giao thông đã mang lại những lợi ích to lớn Đóng góp của các hộ chủ yếu là từ nguồn thu nhập của gia đình Điều này giải thích tại sao một số hộ khó khăn không thể tham gia vào đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng thôn, xóm Với những hộ khó khăn này việc tham gia công lao động là ưu tiên tuy nhiên họ cũng không tham gia nhiệt tình ủng hộ như những hộ khác Những hộ này

có thể được thuê lao động và được tra công theo thỏa thuận

Bên cạnh sự đóng góp của người dân, địa phương còn vận động các tổ chức, doanh nghiệp, các nhà hảo tâm, con em xa quê đóng góp tiền, phương tiện vận chuyển, hiến đất để xây dựng cơ sở hạ tầng

Trang 26

2.1.3.4 Cơ chế giám sát và quản lý sau khi kết thúc xây dựng công trình

Các tuyến đường bộ, các tuyến đường điện, hệ thống kênh mương, nhà văn hóa… cấp huyện và xã sau khi công trình hoàn thành được bàn giao cho UBND huyện, xã quản lý Hàng năm cơ quan quản lý kiểm tra báo cáo tình hình sử dụng, hiện trạng của công trình, việc duy tu sửa chữa được triển khai sau khi kiểm tra Các cấp quản lí dự toán và thuê các đơn vị tư vấn bên ngoài Do đang còn thiếu cơ chế chính sách, chưa giao cho các doanh nghiệp, cộng đồng quản lý, bão dưỡng trong khi đó ngân sách của huyện lại có hạn vì vậy việc bão dưỡng không thường xuyên gây nên tình trạng xuống cấp cơ sở hạ tầng đầu năm nhưng gần cuối năm bắt đầu bão dưỡng

Những công trình được xây dựng theo hình thức hợp tác Nhà nước Nhân dân sau khi hoàn thiện và đưa vào sử dụng được UBND xã giao cho thôn trực tiếp quản lý, duy tu bảo dưỡng toàn bộ, nguồn kinh phí do nhân dân của thôn tự đóng góp Người dân đã có ý thức được đây là tài sản của họ, được xây dựng từ một phần tiền của, công sức của họ nên

họ có quyền được sử dụng đồng thời có phải trách nhiệm quản lý Một số hình thức họ đã làm ngay trong quá trình xây dựng để quản lý công trình như cắm cột mốc giới hạn trọng tải khi xe đi vào từng cung đường, phát cây bụi, xử lí những chỗ hư hỏng…

Tuy mức độ tham gia quản lý giám sát thấp hơn giai đoạn tổ chức thực hiện nhưng đã có sự tham gia của người dân trong đó người đi đầu là trưởng thôn và một

số người nằm trong ban xây dựng của thôn Thông qua những người này người dân được huy động và tham gia đóng góp khá đầy đủ Với công tác quản lý và giám sát được thực hiện thường xuyên vì đây chính là nơi họ sinh sống, đi lại, sử dụng thường xuyên, do vậy chất lượng của công trình được bảo đảm, tuổi thọ được nâng cao Đối với chi phí để quản lý thì do nhân dân đóng góp bằng công lao động là chủ yếu, tuy chi phí quản lý rất thấp nhưng lại có hiệu quả

Đối với việc bàn giao cho cộng đồng nhân dân quản lý: mặc dù đã bàn giao cho cộng đồng thôn quản lý tuy nhiên cũng đang còn rất nhiều bất cập tại các công trình thôn, do người dân còn thờ ơ với những công trình này, vì một thực tế đó là họ luôn nghĩ công trình là của chung nên không quan tâm bão dưỡng Có những công trình hư hỏng rất nặng vẫn không được duy tu, sữa chữa Việc huy động nhân dân

Trang 27

tham gia duy tu đang còn hạn chế, chưa khuyến khích được cộng đồng tham gia Rõ ràng cần một cơ chế khuyến khích giao cho cộng đồng kết hợp với việc tuyên truyền vận động là điều kiện cần thiết để các công trình này được tuổi thọ cao hơn Người dân rất có ý thức trong việc quản lý các công trình mà họ cùng chung hưởng lợi Cơ chế giám sát của người dân là một phần giai đoạn của sự tham gia của người dân, người dân cũng như những tổ chức tư nhân khác nếu xét trên một phạm vi rộng họ đang thực hiện một công việc đó là duy tu sữa chữa các cơ sở hạ tầng mà Nhà nước không phải mất chi phí bỏ tiền thuê các đơn vị khác

2.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong xây dựng

cơ sở hạ tầng nông thôn

2.1.4.1 Các yếu tố khách quan

* Chủ trương, chính sách, văn bản pháp lý

Xây dựng cơ sở hạ tầng trong xây dựng nông thôn mới là một nhiệm vụ quan trọng, là một việc làm có tính chiến lược đi đầu để phát triển kinh tế nông thôn Với tầm quan trọng đó Đảng và Nhà nước đã cụ thể hóa triển khai nhiều chương trình nhằm thu hút nguồn lực, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng đó là:

Để sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng thực sự

có hiệu quả, cũng cần có những cơ chế hỗ trợ các doanh nghiệp bằng nhiều hình thức như giảm thuế, trong nhiều hợp đồng, có thể đàm phán, chính quyền địa phương có thể bảo lãnh doanh thu cho các nhà đầu tư Thì những hợp đồng, dự án các công trình lớn mới sẽ thu hút được các nhà đầu tư nhiều hơn (Nguyễn Văn Hùng, 2013)

*Tổ chức triển khai

Xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn là một trong những việc làm cần thiết để phát triển kinh tế xã hội nông thôn, là chương trình mang tính toàn dân, do đó trong quá trình triển khai thực hiện cần huy động đa dạng các nguồn lực đầu tư thực hiện; tổ chức lồng ghép các chương trình, dự án đã có trên địa bàn với việc huy động nội lực của cộng đồng và ngân sách hàng năm của các cấp bố trí đầu tư trực tiếp cho chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Ngoài ra, các địa phương cần có giải pháp vận động các doanh nghiệp chung sức xây dựng cơ sở hạ tầng

Trang 28

nông thôn Ưu tiên nguồn thu từ cấp quyền sử dụng đất, từ ngân sách của các huyện, thị xã để đầu tư thực hiện chương xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Tiếp tục tổ chức chương trình truyền thông tuyên truyền, cổ động các nội dung, mục tiêu

cơ bản của Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới đến tận cộng đồng cư dân nông thôn; phát động phong trào thi đua xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn trong toàn dân; chỉ đạo tăng cường vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và các tổ chức, đoàn thể ở cơ sở tham gia tuyên truyền vận động phong trào toàn dân tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn ở địa phương mình (Nguyễn Văn Hùng, 2013)

*Nhận thức của cán bộ các cấp

Trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, có sự tham gia của người dân, nhận thức của đội ngũ cán bộ các cấp đóng vai trò hết sức quan trọng góp phần tạo nên hiệu quả của chương trình Cán bộ cần nhận thức, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn là một khâu quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn với mục đích nâng cao cuộc sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn; hiểu rõ vai trò của cộng đồng là chủ thể trong xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn tại địa bàn, lấy nội lực là căn bản, hiểu kỹ nội dung, phương pháp, cách làm và tự tin đứng lên làm chủ, tự giác tham gia và sáng tạo trong tổ chức thực hiện

Hiện nay, nhận thức của một số cán bộ cấp xã về sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn chưa thực sự đầy đủ Một số người cho rằng, sự tham gia của người dân là sự đóng góp thụ động, nhà nước và các cấp chính quyền ra quyết định, yêu cầu đóng góp để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, người dân thực hiện, đó là sự tham gia của người dân Chính vì suy nghĩ chưa đầy đủ này mà tính tích cực, chủ động của người dân chưa được phát huy, nhiều người dân còn cảm thấy bị ép buộc, thụ động tiếp nhận thông tin Bên cạnh đó, khi nói về vấn đề sự tham gia của các doanh nghiệp trong xây dựng trong xây dựng cơ sở hạ tầng theo hình thức hợp đồng với các công ty, doanh nghiệp thì chỉ có các cán bộ huyện và một số cán bộ xã đã biết về vấn đề này (Nguyễn Văn Hùng, 2013)

Trang 29

*Công tác tuyên truyền về xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn

Công tác tuyên truyền giúp nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của Chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động, sự đồng thuận trong xã hội, phát huy tính năng động, sáng tạo, chủ động khắc phục khó khăn, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng nông thôn cơ sở hạ tầng nông thôn Xóa bỏ tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào Nhà nước trong xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Trong tuyên truyền, phải làm rõ được yêu cầu cấp thiết của việc xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; phương pháp huy động vốn, các cơ chế chính sách trong xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn

Thành công trong quy hoạch xây dựng nông thôn không thể thiếu sự đồng thuận, quyết tâm, sự hợp tác của Chính quyền người dân và doanh nghiệp Địa phương nào làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục thuyết phục, đội ngũ cán bộ năng động, nhiệt tình, dám nghĩ, dám làm, nêu gương trước nhân dân thì nơi

đó công tác quy hoạch xây dựng nông thôn mới được triển khai sớm, đạt kết quả cao Đặc biệt quy chế: "dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra và dân hưởng lợi"

đã được phát huy đồng bộ tại từng làng xã đến các thôn xóm Chính nhân tố này bảo đảm để huy động được nhiều nguồn nhân lực, vật lực trong nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn (Nguyễn Văn Hùng, 2013)

2.1.4.2 Các yếu tố chủ quan

*Nhận thức của người dân về xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn

Xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn là việc làm hết sức cần thiết, giúp nâng cao đời sống sinh hoạt và sản xuất cho người dân, nhưng hiện nay, trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn vẫn đang thiếu vắng sự vào cuộc của người dân Qua tìm hiểu cho thấy một bộ phận người dân tại địa phương nhận thức về xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn rất hạn chế, mơ hồ, thậm chí họ cho rằng xây dựng

cơ sở hạ tầng nông thôn là làm cho chính quyền nhà nước, là làm dự án chứ không phải làm cho chính mình, họ sợ phải đóng góp công sức, tiền bạc để xây dựng cơ

sở hạ tầng nông thôn

Hiện nay tại nhiều địa phương, huyện, xã hô hào xây dựng cơ sở hạ tầng

Trang 30

nông thôn nhưng người dân không hiểu phải xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn để làm gì Trong khi đó, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn ở một số vùng có rất nhiều khó khăn mà không giải quyết một sớm một chiều được, như các hạng mục công trình điện, đường giao thông, chợ, nhà văn hóa…

Như vậy thực tế đặt ra trước mắt đó là cần phải làm tốt công tác tuyên truyền, vận động để người dân trong xã thấu hiểu và đồng lòng thống nhất phát huy nội lực của mình, tự mình làm chủ, lúc đó quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn sẽ

nhẹ nhàng hơn rất nhiều

*Điều kiện về kinh tế của người dân

Mục tiêu xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn chính là xây dựng các hạng mục công trình điện, đường, trường, trạm…, giúp nâng cao đời sống sinh hoạt và phát triển kinh tế, xã hội cho người dân Mọi việc làm đều phải hướng vào mục tiêu này, trong

đó nông dân phải là chủ thể Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, điều kiện kinh tế - xã hội ở địa phương đóng vai trò hết sức quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự tham gia của người dân vào xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn

Khó khăn lớn nhất hiện nay là nguồn vốn cho xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, bên cạnh sự hỗ trợ của Nhà nước, các địa phương phải tìm nguồn Cơ sở chủ yếu là từ nguồn của địa phương như quỹ đất, cơ sở vật chất, nội lực của người dân, nhưng không phải địa phương nào cũng có nhiều điều kiện thuận lợi Hiện nay, kiến trúc ở nông thôn rất lộn xộn, chắp vá, một số xã thiếu quỹ đất để xây dựng các công trình công cộng Cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn còn nhiều khó khăn Hệ thống kênh mương, đê điều, thủy lợi xuống cấp không đáp ứng được nhu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp Trong khi đó, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế gặp nhiều khó khăn Thu nhập bình quân đầu người thấp

Như vậy, để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn cần khắc phục những khó khăn về nguồn vốn hỗ trợ, huy động sức dân làm các công trình hạ tầng đây là tiêu chí đòi hỏi phải đầu tư kinh phí rất cao, mỗi công trình ước đến hàng tỷ đồng Do

đó, Ban quản lý xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn xã cần có sự phối hợp với các thôn có công trình xây mới kiên trì vận động, đả thông tư tưởng để người dân thấy

rõ lợi ích đi đôi với nghĩa vụ khi xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Việc đóng góp

Trang 31

và sử dụng nguồn vốn phải được công khai, thông báo trên loa truyền thanh để người dân thấy rõ hiệu quả và trực tiếp giám sát

2.2.1.1 Hàn Quốc phát triển nông thôn nhờ việc tăng cường sự tham gia của người dân thông qua mô hình “làng mới” (Saemaul Undong)

Vào những năm 1960, nông thôn Hàn Quốc còn hết sức lạc hậu, đời sống nhân dân còn gặp vô vàn khó khăn Trong cả nước có 34% dân số thuộc vào nhóm nghèo đói và chỉ có 20% dân số có thể tiếp cận với điện Dù đã đình chiến những hai miền Nam - Bắc vẫn đang còn căng thẳng, không có đủ kinh phí để đầu tư phát triển nông thôn Trước hoàn cảnh đó, bước vào những năm 1970, Chính phủ Hàn Quốc bắt đầu thực hiện mô hình “Nông thôn mới” để thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa công nghiệp - nông thôn Chính phủ Hàn Quốc thực hiện

mô hình “Nông thôn mới” (Saemaul Undong SMU) với mục tiêu công nghiệp hóa

và hiện đại hóa nông thôn Mô hình này thực hiện 16 dự án với mục tiêu là cải thiện môi trường sống cho người dân ở nông thôn: Mở rộng đường giao thông, hoàn thiên

hệ thống nước thải sinh hoạt, xây dựng nhà sinh hoạt công cộng và trồng thêm nhiều cây xanh, xây dựng sân chơi cho trẻ em… Cải thiện môi trường sống cho nông thôn được coi là nền tảng cho quá trình phát triển nông thôn

Để thực hiện có hiệu quả quá trình hỗ trợ cho các làng, dự án xây dựng Nông thôn chú trọng đến nhân tố con người - Con người là nhân tố quyết định Trình độ văn hóa của người dân nông thôn rất thấp cho nên việc phổ biến gặp rất nhiều khó khăn Để khắc phục hạn chế này, dự án chú trọng vào việc phát triển đội ngũ cán bộ cấp làng, cán bộ chính quyền địa phương

Trang 32

Trước khi tiến hành hỗ trợ cho các làng, cán bộ dự án tiến hành các điều tra xã hội học đối với ba nhóm đối tượng là : Cán bộ địa phương, cán bộ làng và người dân Các điều tra này cho biết được đích xác nhu cầu hiện tại của người dân trong các làng, suy nghĩ và trình độ nhận thức của lãnh đạo làng

Dự án tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo cán bộ cấp làng và chính quyền cấp địa phương Tại các lớp tập huấn, sẽ có các buổi thảo luận nhóm về vấn đề: “Làm thế nào để người dân hiểu và thực hiện các chính sách của nhà nước?” Với chủ đề này, lãnh đạo làng và các chính quyền địa phương đã đưa ra những ý kiến, giải pháp cho hoàn cảnh cụ thể ở làng mình

Để sự tham gia của người dân chủ động và hiệu quả, các cán bộ làng sẽ thực hiện quá trình trao đổi ý kiến với dân làng, tiếp thu ý kiến của nhân dân để điều chỉnh và phát triển dự án

Nâng cao chất lượng cán bộ, lãnh đạo và tiếp thu ý kiến từ trong nhân dân là hai biện pháp mang lại hiệu quả cao Kết quả của việc huy động sự tham gia của người dân vào xây dựng nông thôn được thể hiện rất nhanh chóng tại các làng mà các dự án được triển khai:

Thứ nhất, phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng nông

thôn phương châm là nhân dân quyết định và làm mọi việc “Nhà nước bỏ ra 1 vật

tư, nhân dân bỏ ra 5 – 10 công sức và tiền của” Dân quyết định loại công trình, dự án

nào cần ưu tiên làm trước, công khai bàn bạc, quyết định thiết kế và chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình Năm 1971, Chính phủ chỉ hỗ trợ cho 33.267 làng, mỗi làng 335 bao xi măng Năm 1972 lựa chọn 1.600 làng làm tốt được hỗ trợ thêm 500 bao xi măng

và 1 tấn sắt thép Sự trợ giúp này chính là chất xúc tác thúc đẩy phong trào nông thôn mới, dân làng tự quyết định mức đóng góp đất, ngày công cho các dự án

Thứ hai, phát huy dân chủ để phát triển nông thôn Hàn Quốc thành lập hội

đồng phát triển xã, quyết định sử dụng trợ giúp của Chính phủ trên cơ sở công khai, dân chủ, bàn bạc để triển khai các dự án theo mức độ cần thiết của địa phương Thành công ở Hàn Quốc là xã hội hóa các nguồn hỗ trợ để dân tự quyết định lựa chọn dự án, phương thức đóng góp, giám sát công trình

Phong trào “Làng mới” của Hàn Quốc là một trong các phong trào điển hình

Trang 33

thực hiện phát triển nông thôn cấp cơ sở Nguyên tắc thực hiện của phong trào về thực chất là phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng Việc thực hiện phong trào được đánh giá là rất thành công khi có đóng góp đáng kể vào sự phát triển của Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu trong những năm 1960 trở thành một nước công nghiệp hiện đại vào những năm 1990 trở lại đây Các kinh nghiệm

và bài học từ chương trình làng mới có thể đóng góp đáng kể cho việc nghiên cứu xây dựng chương trình MTQG về xây dựng NTM của Việt Nam, trong đó việc xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn là một khâu quan trọng trong chương trình đó, góp phần thực hiện thành công quá trình công nghệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn (Tạp chí nông nghiệp, 2011)

Tuy vậy, dù với rất nhiều cố gắng, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn tại Trung Quốc cũng chưa đạt được các mục tiêu đề ra để thúc đẩy phát triển khu vực nông thôn (Báo lao động, 2012)

2.2.2 Những kết quả bước đầu về xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn ở Việt Nam

Theo báo cáo tổng hợp đề tài khoa học của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (2009)

Xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn là một khâu quan trọng trong chiến lược Quốc gia về xây dựng Nông thôn mới, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn gắn liền với sự phát triển của nền nông nghiệp nước nhà:

2.2.2.1 Phát triển nông nghiệp, nông thôn từ năm 1954 đến nay

Theo Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp - Bộ NN & PTNT (2009):

- Từ năm 1954 - 1959, ruộng đất được giao cho người dân với mục tiêu

Trang 34

“người cày có ruộng” Giai đoạn này quan hệ sản xuất chuyển từ địa chủ phong kiến sang quan hệ sản xuất mới: nông dân làm chủ ruộng đất và sản xuất độc lập trên ruộng đất của mình

- Từ 1960 - 1985: chia làm 2 giai đoạn nhỏ: Mô hình tổ chức sản xuất dưới dạng hợp tác xã nông nghiệp

- Từ 1960 - 1975: mô hình hợp tác xã hóa nông nghiệp được triển khai trên toàn miền Bắc Trong thời kỳ này Nhà nước đã tăng cường đầu tư cho nông thôn về

cơ sở hạ tầng kỹ thuật chủ yếu để phát triển HTX: phát triển các công trình kỹ thuật (nhà kho, sân phơi, các trại giống,…) đẩy mạnh việc chuyển giao khoa học kỹ thuật

về trồng trọt, chăn nuôi… đã có những tác động tích cực đến sản xuất nông nghiệp

- Từ 1976 - 1980: mô hình tổ chức hợp tác xã nông nghiệp được triển khai trên phạm vi cả nước Trong đó vai trò của cấp huyện được coi trọng, là cấp quản lý kinh tế chủ yếu đối với việc thực hiện các chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn Hình ảnh của người nông dân lúc này là hình ảnh của người xã viên HTX

Giai đoạn này người dân tham HTX với vai trò là “xã viên” tham gia lao động phát triển sản xuất để lấy điểm, sản phẩm cuối năm sẽ được chia đều Tất

cả các phương án, kế hoạch sản xuất, tiêu thu sản phẩm đều do HTX quyết định, người dân không được tham gia Điều này đã làm ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế của đất nước

Mô hình khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động (1981 - 1985):

Chỉ thị 100 CT-TW (13/01/1981) về “khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động”, cho phép người lao động được HTX giao đất và thu hồi một phần sản phẩm theo một mức “khoán” nhất định

Chỉ thị chỉ nói đến việc khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động chứ chưa nhắc đến khoán hộ; gia đình mới chỉ được làm 3 khâu là cấy, chăm sóc và thu hoạch còn tập thể đảm nhiệm 5 khâu trong quá trình sản xuất cây lúa Chỉ thị đã tạo

ra một không khí mới trong nông thôn: nông dân đã phấn khởi sản xuất, năng suất tăng lên rõ rệt Tuy nhiên, người dân vẫn còn nhiều băn khoăn, không chịu bó buộc

ở “5 khâu” do tập thể đảm nhiệm (Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, 2009 Giai đoạn này, mục tiêu sản xuất vẫn bị áp đặt bởi kế hoạch từ trên xuống,

Trang 35

nông dân vẫn chưa có quyền làm chủ thực sự

Từ 1986 - 1991: cơ chế khoán cho nhóm và người lao động:

Nghị quyết 10 (Bộ chính trị ngày 05/08/1988) trong nông nghiệp đã khắc phục được những tồn tại của chỉ thị 100

Nét đổi mới của Nghị quyết 10 so với chỉ thị 100 là “một chủ, bốn tự”

“Một chủ” là xác định hộ là đơn vị kinh tế tự chủ Đó chính là sự đột phá rất quan trọng của Nghị quyết 10

“Bốn tự”, nghĩa là hợp tác xã tự xác định phương hướng, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh; tự xác định hình thức, quy mô sản xuất; tự xác định hình thức phân phối, tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm để xã viên tự vào ra hợp tác xã

Điều đáng nói ở đây là: Đảm bảo tự xác định hình thức, quy mô sản xuất có nghĩa là xóa bỏ việc chỉ đạo nhất loạt lên hợp tác xã cấp cao, lên quy mô xã to Đảm bảo tự xác định hình thức quản lý nghĩa là không nhất thiết “năm khâu, ba khâu” như Chỉ thị 100 mà khoán theo mức, đơn giá, gia đình làm được khâu nào thì cứ tính theo đơn giá mà hưởng Trong vấn đề tiêu thụ sản phẩm, tư tưởng chính sách

“thuận mua vừa bán” trong nghị quyết là xóa cách bắt buộc bán theo nghĩa vụ đang thực hiện Chính sách này chỉ có thể thực hiện được khi đổi mới đồng bộ khâu lưu thông, phân phối mà trong Chỉ thị 100 đã chưa đề cập đến

- Mô hình sản xuất nông nghiệp bằng việc giao đất cho nông hộ:

Từ 1991 đến nay, đất đai được giao toàn quyền sử dụng cho các nông hộ, người nông dân được hoàn toàn chủ động sản xuất trên mảnh đất được giao

Giai đoạn này, mỗi hộ dân là một đơn vị sản xuất cơ bản Người nông dân đã chủ động chú trọng đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho phát triển sản xuất và đóng góp nhiều cho phát triển cơ sở hạ tầng, làm cho bộ mặt nông thôn có những thay đổi đáng kể

Mô hình này có tác dụng làm cho cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch mạnh theo hướng tích cực Đời sống của người dân nông thôn đã ngày càng nâng cao, đẩy mạnh tiến trình phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, 2009)

Trang 36

2.2.2.2 Tình hình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn ở Việt Nam

Ngày 30/12/2008, Ban Bí thư đã ban hành Quyết định số 205-QĐ/TW thành lập Ban Chỉ đạo thí điểm chương trình xây dựng nông thôn mới Trong 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới thì có đến 9 tiêu chí về xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, như vậy, lại một lần nữa có thể khẳng định, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn là một khâu quan trọng trong chiến lược xây dựng nông thôn mới của đất nước Ban Chỉ đạo đã xây dựng đề án 11 xã được chọn thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới, trong đó chủ yếu bước đầu là xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn gồm: Thanh Chăn (huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên), Tân Thịnh (Lạng Giang - Bắc Giang), Hải Đường (Hải Hậu - Nam Định), Gia Phổ (Hương Khê - Hà Tĩnh), Tam Phước (Phú Ninh - Quảng Nam), Tân Hội (Đức Trọng - Lâm Đồng), Tân Lập (Đồng Phú - Bình Phước), Định Hòa (Gò Quao - Kiên Giang), Mỹ Long Nam (Cầu Ngang - Trà Vinh), Tân Thông Hội (Củ Chi - TP Hồ Chí Minh) và Thụy Hương (Chương Mỹ -

Hà Nội)

Sau hơn 2 năm thực hiện, chương trình thí điểm mô hình nông thôn mới đã thành công bước đầu và đạt được một số kết quả quan trọng Trong đó, việc xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn là những tiêu chí cán đích đầu tiên

Qua nghiên cứu, tìm hiểu phương pháp tiến hành, cách thức thực hiện và kết quả đã đạt được của các địa phương nêu trên, chúng ta nhận thấy, một bài học quý báu được đúc kết ra là quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng nói chung và quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn nói riêng, ngoài sự chỉ đạo, giám sát, hỗ trợ mạnh mẽ của nhà nước, các ngành, các cấp chính quyền, địa phương, sự tham gia trực tiếp và gián tiếp của người dân cũng đóng một vai trò vô cùng quan trọng, góp phần vào sự thành công của các công trình Như vậy, muốn thành công trong quá trình xây dựng

cơ sở hạ tầng nông thôn thì việc huy động sức dân, sự tham gia tích cực chủ động của người dân là một việc làm cần thiết

* Những hạn chế và bất cập

Theo Tạp chí Cộng Sản (2009) Xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn là việc làm khó khăn, tốn kém, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, đặc biệt là có sự tham gia của người dân nên quá trình tổ chức thực hiện thí điểm đã xuất hiện nhiều vấn đề mới,

Trang 37

những hạn chế và bất cập thể hiện trên một số mặt sau:

Thứ nhất, nội dung của chương trình vẫn còn chưa được đề ra rõ ràng, tính

khả thi không cao Nếu mục tiêu chỉ để thí điểm thì chương trình này có ý nghĩa rất

ít, vì không mang tính công bằng, nhưng nếu để nhân rộng ra tất cả các xã trong cả nước thì việc việc xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn gặp rất nhiều khó khăn do kinh

tế của người dân còn nghèo ở nhiều vùng trên cả nước

Thứ hai, bất cập về vốn Chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn cần

nguồn vốn rất lớn, bình quân 50 tỷ - 100 tỷ đồng/1 xã, trong khi nguồn lực của Nhà nước và các doanh nghiệp, nhân dân có hạn nên tiến độ triển khai các dự án rất chậm Điều đó thể hiện ngay tại 11 xã thí điểm của Trung ương, tổng số vốn đến tháng 12-2010 lũy kế là 940,1 tỷ đồng, bình quân 1 xã chỉ là 85,4 tỷ đồng Các công trình xây dựng nông thôn mới điểm phần lớn nhờ nguồn lực của Trung ương hỗ trợ (40%), ngân sách địa phương và của dân cư không đáng kể (12,4%), vốn doanh nghiệp còn quá ít (8,9%) Ở những xã thuần nông, phần vốn của dân cư rất thấp, như: Tân Hội - Lâm Đồng là 1,22%; Tân Lập - Bình Phước là 2,5%; Hải Đường - Nam Định là 4,50% Nếu tình hình này không được khắc phục sẽ phát sinh tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào Nhà nước, đó là sự không lành mạnh, không công bằng với các xã ngoài thí điểm Ngoài ra, tại các xã điểm do địa phương chỉ đạo, tỷ trọng vốn do doanh nghiệp hỗ trợ và vốn dân đóng góp cũng rất thấp nên tốc độ triển khai các công trình xây dựng nông thôn mới của các xã rất chậm và không đều, chủ yếu chỉ tập trung vào xây dựng mới, ít quan tâm đến tu sửa, nâng cấp, quản lý và vận hành những công trình đã có và các công trình văn hóa

Thứ ba, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới chỉ chú trọng nhiều đến xây

dựng những công trình cấp xã mà chưa quan tâm thích đáng tới các công trình ở các thôn hoặc ở hộ nông dân, mà các công trình cấp xã thì có ít, hoặc không có sự tham gia của người dân nên chưa thực sự phát huy được tính tích cực, chủ động của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn

Thứ sáu, nhận thức của các ngành các cấp về việc xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn chưa đúng, chưa đầy đủ Một số bộ, ngành chưa có kế hoạch triển khai

các nhiệm vụ được giao, chưa bố trí đủ cán bộ có năng lực phụ trách các xã điểm

Trang 38

Trong chỉ đạo chưa quan tâm đầy đủ đến việc huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, chưa lồng ghép các chương trình, dự án hiện có để tăng năng lực cho các xã thí điểm Vì vậy, hiệu quả của một số mô hình xã điểm còn chưa cao, chưa đồng bộ

và chưa vững

2.2.3 Điển hình một mô hình xây dựng cơ sở hạ tầng có sự tham gia của người dân

Theo báo cáo của UBND xã Tân Thông Hội, (2011): trong 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới thì có tới 9 tiêu chí chú trọng đến việc việc xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, những địa phương tham gia mô hình xây dựng nông thôn mới luôn hoàn thành tốt và vượt kế hoạch các tiêu chí về xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Điển hình như:

Xã Tân Thông Hội (Củ Chi - TP Hồ Chí Minh) là một trong những địa phương đầu tiên trên cả nước thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới trong thời

kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Thực hiện Chương trình số 43-CTr/TU ngày 20/10/2008 của Thành uỷ TP

Hồ Chí Minh về thực hiện nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Quyết định số 10/2009/QĐ-UBND ngày 22/01/2009 của UBND TP Hồ Chí Minh về ban hành Kế hoạch của Ủy ban nhân dân thành phố thực hiện Chương trình hành động của Thành

ủy về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Chương trình thí điểm xây dựng mô hình

xã nông thôn mới tại xã Tân Thông Hội trên các tư tưởng chỉ đạo trên và xuất phát

từ thực tiễn đã đạt được kết quả đáng khích lệ (UBND xã Tân Thông Hội, 2011) Sau 2 năm triển khai thực hiện thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới, xã Tân Thông Hội có 15 trong số 19 tiêu chí hoàn thành Trong đó, các tiêu chí về quy hoạch, giao thông, thủy lợi, điện, nhà ở, xóa hộ nghèo… đều cơ bản đạt và vượt so với yêu cầu Toàn xã có 125 con đường lớn, nhỏ với tổng chiều dài 81km, trong đó 13km đường trục xã, liên xã đã được nhựa hóa; 58km đường trục ấp, liên ấp được nhựa hóa và trải cấp phối Hệ thống trường học của Tân Thông Hội khá hoàn chỉnh

ở tất cả các cấp từ Mầm non, Tiểu học, THCS đến THPT Xã có một trạm y tế đạt chuẩn quốc gia với 10 giường bệnh và 7 y - bác sĩ Hàng năm, tổ chức khám và cấp thuốc cho khoảng 18.000 lượt người Xã có bưu điện văn hóa đạt chuẩn Bình quân

Trang 39

cứ ba hộ dân thì có một hộ có điện thoại cố định Cả xã có 645 bộ máy vi tính, trong

đó 160 máy có kết nối internet Từ năm 2008 đến nay, trên địa bàn xã không xảy ra trọng án, khiếu kiện đông người Các hộ dân đều dùng nước giếng khoan ở tầng nước đạt chuẩn vệ sinh Một nửa số hộ xây dựng đủ ba công trình nhà tắm, nhà vệ sinh, bể nước đạt chuẩn Các hộ chăn nuôi đã xây dựng hầm biogas và có cách xử lý rác thải hợp vệ sinh Các cơ sở sản xuất không có rác thải nguy hại cho môi trường

Đó là những kết quả đạt được từ chương trình xây dựng nông thôn mới mà Tân Thông Hội được chọn thí điểm triển khai

Theo Ban chỉ đạo Trung ương, để đạt được những kết quả đó, một trong những yếu tố tạo nên thành công ban đầu của chương trình là đã huy động được sự tham gia đóng góp của người dân Điều này thể hiện rất rõ trong việc xây dựng hạ tầng Thứ trưởng Bộ NN & PTNT Hồ Xuân Hùng cho biết, hầu hết các xã đã huy động được nguồn lực và lồng ghép các nguồn vốn để triển khai thực hiện các dự án xây dựng hệ thống hạ tầng trên địa bàn Bước đầu tạo sự chuyển biến rõ rệt và cải thiện điều kiện sản xuất, văn hóa, sinh hoạt cho bà con, tạo niềm tin, động lực cho người dân tham gia xây dựng nông thôn mới

Trang 40

PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm huyện kiến xương, tỉnh thái bình

3.1.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội

Kiến Xương là một huyện nằm ở phía nam của tỉnh Thái Bình, dân số khoảng 240.000 người, tập trung ở 37 xã, thị trấn

* Vị trí địa lý tự nhiên của huyện khá thuận lợi nằm ở trên tỉnh lộ 39b, cách thành phố Thái Bình 13km

Phía tây giáp huyện Vũ Thư và Thành phố Thái Bình

Phía tây bắc giáp huyện Đông Hưng, đông bắc giáp huyện Thái Thụy

Phía đông giáp huyện Tiền Hải

Phía nam giáp tỉnh Nam Định (ranh giới là sông Hồng).

Bảng 3.1: Phân bố sử dụng đất tự nhiên của huyện Kiến Xương

(Nguồn : Chi cục thống kê huyện Kiến Xương,2013)

* Diện tích: Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Kiến Xương là 19.920,73ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 14.316 ha chiếm 71,86%, đất chuyên dùng 3.150

Ngày đăng: 28/05/2016, 15:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: Nội dung tham gia của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng - nghiên cứu sự tham gia của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng tại huyện kiến xương   tỉnh thái bình
Sơ đồ 2.1 Nội dung tham gia của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng (Trang 22)
Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động huyện Kiến Xương - nghiên cứu sự tham gia của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng tại huyện kiến xương   tỉnh thái bình
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động huyện Kiến Xương (Trang 42)
Bảng 4.1: Hiện trạng phát triển cơ sở hạ tầng trên địa bàn huyện Kiến Xương - nghiên cứu sự tham gia của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng tại huyện kiến xương   tỉnh thái bình
Bảng 4.1 Hiện trạng phát triển cơ sở hạ tầng trên địa bàn huyện Kiến Xương (Trang 49)
Bảng 4.3 Cơ cấu vốn đầu tư cho xây dựng nhà văn hóa - nghiên cứu sự tham gia của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng tại huyện kiến xương   tỉnh thái bình
Bảng 4.3 Cơ cấu vốn đầu tư cho xây dựng nhà văn hóa (Trang 51)
Hình 4.1. Hệ thống kênh mương trên địa bàn xã Thượng Hiền, - nghiên cứu sự tham gia của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng tại huyện kiến xương   tỉnh thái bình
Hình 4.1. Hệ thống kênh mương trên địa bàn xã Thượng Hiền, (Trang 55)
Bảng 4.4: Sự tham gia của người dân vào giai đoạn trước khi xây dựng - nghiên cứu sự tham gia của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng tại huyện kiến xương   tỉnh thái bình
Bảng 4.4 Sự tham gia của người dân vào giai đoạn trước khi xây dựng (Trang 56)
Bảng 4.5: Sự tham gia của người dân vào giai đoạn thi công xây dựng - nghiên cứu sự tham gia của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng tại huyện kiến xương   tỉnh thái bình
Bảng 4.5 Sự tham gia của người dân vào giai đoạn thi công xây dựng (Trang 58)
Bảng 4.6: Các hình thức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng - nghiên cứu sự tham gia của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng tại huyện kiến xương   tỉnh thái bình
Bảng 4.6 Các hình thức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng (Trang 59)
Bảng 4.9: Mức độ sẵn lòng tham gia quản lý, duy tu, sửa chữa cơ sở hạ tầng - nghiên cứu sự tham gia của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng tại huyện kiến xương   tỉnh thái bình
Bảng 4.9 Mức độ sẵn lòng tham gia quản lý, duy tu, sửa chữa cơ sở hạ tầng (Trang 64)
Bảng 4.13: Ý kiến đóng góp của người dân nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng - nghiên cứu sự tham gia của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng tại huyện kiến xương   tỉnh thái bình
Bảng 4.13 Ý kiến đóng góp của người dân nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng (Trang 71)
Bảng 4.15: Lý do tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng - nghiên cứu sự tham gia của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng tại huyện kiến xương   tỉnh thái bình
Bảng 4.15 Lý do tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng (Trang 76)
Đồ thị 4.1: Khó khăn thu hút doanh nghiệp xây dựng cơ sở hạ tầng - nghiên cứu sự tham gia của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng tại huyện kiến xương   tỉnh thái bình
th ị 4.1: Khó khăn thu hút doanh nghiệp xây dựng cơ sở hạ tầng (Trang 78)
Bảng 4.16: Quan điểm của cán bộ các cấp chính quyền về sự tham gia của - nghiên cứu sự tham gia của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng tại huyện kiến xương   tỉnh thái bình
Bảng 4.16 Quan điểm của cán bộ các cấp chính quyền về sự tham gia của (Trang 79)
Hình 4.4 Cán bộ, nhân viên Ban Chỉ huy Quân sự huyện, lực lượng dân - nghiên cứu sự tham gia của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng tại huyện kiến xương   tỉnh thái bình
Hình 4.4 Cán bộ, nhân viên Ban Chỉ huy Quân sự huyện, lực lượng dân (Trang 83)
Bảng 4.18: Những khó khăn trong việc tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng - nghiên cứu sự tham gia của người dân trong xây dựng cơ sở hạ tầng tại huyện kiến xương   tỉnh thái bình
Bảng 4.18 Những khó khăn trong việc tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng (Trang 86)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm